Nội dung của đề tài được kết cấu gồm ba phần: phần một nêu lên các cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài; phần hai trình bày các kết quả khảo sát và nghiên cứu; phần ba tổng
Trang 1KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
CẤP TRƯỜNG NĂM 20 1
Tên công trình:
NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ VỀ TRUNG QUỐC CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
Sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm: Huỳnh Tâm Sáng, lớp QH6-08, khóa 2008-2012
Thành viên: Hồ Thị Mỹ Hạnh, lớp QH6-08, khóa 2008-2012
Nguyễn Thị Tố Uyên, lớp QH6-08, khóa 2008-2012
Nguyễn Long Tuyết Xinh, lớp QH6-08, khóa 2008-2012
Người hướng dẫn: Tiến sĩ Đào Minh Hồng, Trưởng khoa Quan hệ Quốc tế
Thạc sĩ Lê Hồng Hiệp, Giảng viên khoa Quan hệ Quốc tế
Thuộc nhóm ngành: KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2ĐHQG TP.HCM Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
ĐH KHXH&NV Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
ĐH KHTN Đại học Khoa học tự nhiên
ĐH CNTT Đại học Công nghệ thông tin
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 13
1.1 Các lý thuyết làm cơ sở lý luận cho đề tài 13
1.1.1 Thuyết hành động xã hội của Max Weber (1864 – 1920) 13
1.1.2 Thuyết tổng quát về hệ thống hành động của Talcott Parsons (1902 – 1979) 14
1.1.3 Thuyết lựa chọn hợp lý của James Samuel Coleman (1926 – 1995) 15
1.1.4 Học thuyết kiến tạo 15
1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 16
1.2.1 Nhận thức 16
1.2.2 Thái độ 17
1.2.3 Sinh viên 18
1.2.4 Tri thức 19
1.2.5 Hành động xã hội 20
1.3 Mô tả địa bàn nghiên cứu 21
1.3.1 Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 21
1.3.2 Trường đại học Bách Khoa 23
1.3.3 Trường Đại học Khoa học tự nhiên 24
1.3.4 Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn 25
1.3.5 Trường đại học Công nghệ thông tin 25
1.3.6 Trường đại học Quốc tế 26
1.3.7 Trường đại học Kinh tế - Luật 27
1.4 Phương pháp nghiên cứu 29
1.5 Mô hình khung lý thuyết đề tài 31
1.6 Giả thuyết nghiên cứu 32
CHƯƠNG II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
2.1 Tổng quan về quan hệ Việt - Trung 37
2.2 Nhận thức và thái độ của sinh viên ĐHQG TP.HCM về Trung Quốc 39
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ KHUYẾN NGHỊ 67
3.1 Kết quả 67
3.2 Khuyến nghị 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 89
Trang 4TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Trong bối cảnh hiện nay, Trung Quốc – một quốc gia láng giềng lớn, có mối liên hệ gắn bó lâu dài với Việt Nam trong tiến trình lịch sử đang ngày càng khẳng định vị trí của mình trên bản đồ thế giới với sự trỗi dậy mạnh mẽ trên trường quốc tế Tuy nhiên, hiện nay chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Trung Quốc chưa được tuyên truyền thường xuyên, hiệu quả Đồng thời, nhận thức về Trung Quốc của người dân Việt Nam vẫn còn mang nặng về cảm tính
Xuất phát từ thực tế trên, nhóm nghiên cứu đã thực hiện đề tài “Nhận thức và
thái độ về Trung Quốc của sinh viên ĐHQG TP.HCM” với mong muốn tìm
hiểu nhận thức của sinh viên ĐHQG TP.HCM về Trung Quốc Nội dung của đề tài được kết cấu gồm ba phần: phần một nêu lên các cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài; phần hai trình bày các kết quả khảo sát và nghiên cứu; phần ba tổng kết và đề xuất những kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện nhận thức và thái độ của sinh viên về Trung Quốc, trước tiên là sinh viên các trường ĐHQG TP.HCM Các đề xuất và kiến nghị hướng đến việc học tập và hoạt động của sinh viên, việc giảng dạy của giảng viên và việc hoạch định chiến lược gắn với công tác quản lý của bộ phận đào tạo và các cấp quản lý có liên quan
Từ các kết quả nghiên cứu và kiến nghị, đề tài cho thấy thực trạng nhận thức và thái độ của sinh viên ĐHQG TP.HCM về Trung Quốc vẫn còn chưa hoàn thiện và do đó đòi hỏi nhiều công sức cũng như nỗ lực để hoàn thiện vấn
đề nêu trên Các giải pháp phải có phương pháp và hệ thống gắn với những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của sinh viên, giảng viên, nhà trường và các cấp quản lý cao hơn
Nhóm nghiên cứu đề tài cũng thể hiện mong muốn được tiếp tục nghiên cứu
và mở rộng quy mô cũng như tính chất của đề tài trong thời gian tới
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỉ XXI đánh dấu một giai đoạn mới với những bước chuyển biến vượt bậc về hội nhập quốc tế, kỷ nguyên toàn cầu hóa, nền kinh tế tri thức nở rộ Các quốc gia không thể tách biệt nhau mà càng có những mối liên hệ gắn kết hơn nữa vì những mục tiêu chung: hòa bình, ổn định, hợp tác cùng phát triển Đồng thời, khi xích lại gần nhau, các quốc gia cũng tăng cường tính bền vững
và khả thi trong việc giải quyết những vấn đề toàn cầu và những mâu thuẫn, bất đồng gây trở ngại trong việc thúc đẩy quan hệ quốc tế
Song song đó, thế kỉ XXI cũng mở ra một trang mới với sự trỗi dậy mạnh
mẽ của Trung Quốc Sự trỗi dậy này đang góp phần làm thay đổi cục diện thế giới Có thể khẳng định vị thế của Trung Quốc trên trường quốc tế ngày càng được củng cố và đạt được những thành tựu đáng kể Vì vậy, Việt Nam – một
quốc gia láng giềng “núi sông liền một dải”, có mối quan hệ lâu đời với Trung
Quốc phải có nhận thức và hành động tích cực để củng cố độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ đồng thời thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị với Trung Quốc trên cơ sở hòa bình, hợp tác cùng phát triển Thế giới với những vận hội mới đòi hỏi quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc phải có những bước chuyển biến tích cực và hợp lý
Với yêu cầu trên, là sinh viên ĐHQG TP.HCM - trung tâm đào tạo và giảng dạy hàng đầu ở miền Nam, mỗi sinh viên phải có trách nhiệm nâng cao nhận thức của bản thân và có thái độ đúng đắn về Trung Quốc nói chung cũng như mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc nói riêng Việc nâng cao tri thức để
có những nhận thức đúng đắn về Trung Quốc và thái độ phù hợp, tiến bộ theo kịp xu thế vận động của thế giới, khu vực và mối quan hệ giữa hai quốc gia là yêu cầu bức thiết đối với sinh viên trong giai đoạn hiện nay
Trang 6Tìm hiểu xem sinh viên ĐHQG TP.HCM có nhận thức và thái độ như thế nào về Trung Quốc là nhu cầu hết sức cấp thiết góp phần thúc đẩy quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc Bởi vốn dĩ mối quan hệ này vẫn được Đảng và Nhà nước Việt Nam, các cơ quan đối ngoại, các tổ chức phi chính phủ,… quan tâm nghiên cứu và đặt lên thành một trong những nhiệm vụ chiến lược hàng đầu Việc nghiên cứu và tìm hiểu về nhận thức và thái độ của sinh viên có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng, tham khảo, nhìn nhận cũng như tiếp cận vấn
đề một cách thật gần gũi, thực tế Đây là nguồn thông tin hữu ích bước đầu hỗ trợ đắc lực cho công tác nghiên cứu, giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng
và trung cấp chuyên nghiệp tại Việt Nam và cho các cơ quan đối ngoại hay ban ngành có liên quan Xa hơn nữa, các cơ quan về phía Trung Quốc cũng có thể xem đây là nguồn tài liệu khá hữu ích giúp nhìn nhận đúng đắn thực tế vấn đề nhận thức và thái độ của sinh viên Việt Nam về Trung Quốc, qua đó bước đầu
có những chính sách và cơ chế phù hợp với lĩnh vực mình quan tâm hoặc đang làm việc
Chính vì những lý do đó, việc tìm hiểu “Nhận thức và thái độ về Trung Quốc của sinh viên ĐHQG TP.HCM” thực sự trở thành một vấn đề mang
tính cấp thiết
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Với các nguồn tài liệu đã thu thập và tham khảo, hiện nay vẫn chưa có một tài liệu hay công trình nghiên cứu khoa học nào liên quan mật thiết với vấn đề
“Nhận thức và thái độ về Trung Quốc của sinh viên ĐHQG TP.HCM” Thực
tế, hầu như chưa có nhiều cơ quan, học viện hay cá nhân nghiên cứu về đề tài này Có chăng là một số rất ít ỏi các bài báo hay các đánh giá riêng lẻ của một
số cá nhân thuộc khối ngành quan hệ quốc tế, các nhà văn hóa, chính trị… Nhưng thực tế là những nguồn tài liệu trên còn hết sức nhỏ lẻ, phân tán, chưa thuyết phục, chưa hệ thống và chưa bao quát được vấn đề Các tài liệu thu thập được chủ yếu là các phiếu khảo sát, các phiếu thăm dò ý kiến về mức độ yêu
Trang 7thích đối với Trung Quốc và Trung Quốc trong mối liên hệ với các quốc gia khác
Trong khi tham khảo các nguồn tài liệu, chúng tôi lưu tâm chú ý đến một tài liệu tham khảo đặc biệt từ Thông tấn xã Việt Nam, số 268 phát hành vào thứ
ba, ngày 5/10/2010 với tiêu đề “Thái độ của người Việt Nam đối với Trung
Quốc hiện nay” Tài liệu kể trên là bài viết tóm tắt lại bài viết dưới tiêu đề “Yêu ghét đan xen: Ấn tượng về Trung Quốc của người Việt Nam hiện nay” đăng
trên tờ “Quốc tế tiên khu đạo báo” của Trung Quốc ra ngày 27/8/2010 của nhà nghiên cứu Vu Thắng Nam Qua khảo sát thực tế và tham khảo ý kiến của các học giả, người viết cho rằng vẫn còn khá nhiều người Việt Nam vẫn còn tâm lý cảnh giác và thái độ không thiện chí đối với người Trung Quốc và quốc gia này Người viết cũng cho rằng những nguyên nhân chính dẫn đến thái độ bất
an, thậm chí thù ghét Trung Quốc là do những nhân tố về ý thức hệ tư tưởng, những phương pháp giáo dục từ lâu đời vẫn xem Trung Quốc là kẻ thù nguy hiểm Đồng thời qua đó nhà nghiên cứu Vu Thắng Nam nhấn mạnh nhu cầu cần phải giao lưu, trao đổi, tiếp xúc trực tiếp nhiều hơn giữa người dân hai nước để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, góp phần nhìn nhận về người Trung Quốc và quốc gia này được khách quan và toàn diện
Tuy nhiên, bài viết trên chỉ ở mức độ thăm dò và đánh giá còn mang tính cá nhân, chưa mang tính rộng khắp và trên quy mô toàn diện Mức độ bao quát vấn đề dựa trên các số liệu cụ thể và đa diện vẫn chưa thể hiện đầy đủ
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích
Giai đoạn hiện nay là giai đoạn hội nhập và toàn cầu hóa với những biến chuyển mạnh mẽ và đa chiều với nhận thức của sinh viên về các quốc gia trên thế giới Đặc biệt, sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, một quốc gia có những mối liên hệ vô cùng mật thiết với ta về các phương diện địa lí, tự nhiên,
Trang 8văn hóa… cũng đã và đang đặt ra những thách thức và nhiệm vụ chiến lược trong việc nhìn nhận lại một cách nghiêm túc về Trung Quốc Đến nay, quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc đã trải qua hơn 60 năm với nhiều thăng trầm, biến chuyển Bên cạnh những thành tựu thể hiện nỗ lực đáng ghi nhận từ hai phía, quan hệ giữa hai nước hiện vẫn còn tồn tại một số vấn đề nhạy cảm Trong đó, vấn đề biển đảo hiện nay (chủ yếu là vấn đề chủ quyền ở Biển Đông với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trong đó Việt Nam và Trung Quốc đóng vai trò quan trọng) đã và đang đặt ra nhiều thách thức cho những triển vọng của mối quan hệ song phương này
Chính vì lý do đó, chúng tôi muốn cung cấp một cái nhìn toàn cảnh của việc nhận thức về Trung Quốc trong sinh viên ĐHQG TP.HCM Vì rằng, bất kì quốc gia nào muốn quan hệ với nhau dù về phương diện hay mức độ nào cũng không thể không có những kiến thức nền tảng về nhau Qua đó, nhóm nghiên cứu bước đầu tìm hiểu về nhận thức và thái độ của sinh viên ĐHQG TP.HCM
về Trung Quốc trong mối liên hệ tác động của các nhân tố khách quan và chủ quan Từ đó, nhóm nghiên cứu thể hiện những ý kiến của mình đồng thời góp phần đề xuất những kiến nghị và giải pháp về phía nhà trường, các đơn vị giáo dục và sinh viên nhằm củng cố, nâng cao nhận thức và thái độ của sinh viên ĐHQG TP.HCM về Trung Quốc Đặc biệt, trọng tâm của nghiên cứu này hướng đến sinh viên ĐHQG TP.HCM - những trí thức trẻ, năng động, nhiệt huyết và có nhiều triển vọng đóng góp tích cực cho mối quan hệ hợp tác quốc
tế của Việt Nam trong tương lai Do đó, hướng nghiên cứu này cũng góp phần đáng kể tạo nên cơ sở vững chắc cho việc hướng đến những chính sách hợp lý, tiến bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc trong giai đoạn hội nhập và toàn cầu hóa
Trang 93.2 Nhiệm vụ
Với đề tài trên, nhóm nghiên cứu tập trung giải quyết 3 nhiệm vụ trọng tâm:
- Thứ nhất, qua điều tra xã hội học, nhóm nghiên cứu sẽ cung cấp một cái nhìn khách quan về nhận thức và thái độ về Trung Quốc trong sinh viên ĐHQG TP.HCM nói riêng cũng như sinh viên các trường đại học phía Nam nói chung
- Thứ hai, qua các biểu đồ, số liệu cụ thể phản ánh nhận thức và thái độ của sinh viên ĐHQG TP.HCM về Trung Quốc, nhóm sẽ đi vào tìm hiểu cũng như lý giải các nguyên nhân chủ quan và khách quan đã và đang tác động đến nhận thức và thái độ của sinh viên ĐHQG TP.HCM
- Cuối cùng, sau hai bước quan trọng trên, nhóm đưa ra các kiến nghị và
đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện nhận thức và thái độ của sinh viên ĐHQG TP.HCM về Trung Quốc
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Đề tài nghiên cứu góp phần cung cấp một cái nhìn cụ thể, khách quan và trung thực nhất về nhận thức và thái độ của sinh viên ĐHQG TP.HCM về Trung Quốc Đồng thời, đây cũng là nguồn thông tin khá đầy đủ, bổ ích và đáng tin cậy cho các cơ quan quản lý, cá nhân hay các tập thể có nhu cầu tìm hiểu về Trung Quốc qua nhận thức của sinh viên ĐHQG TP.HCM và các cơ quan đối ngoại nhằm mục đích tham khảo, hoạch định chính sách hoặc phát triển ở tầm xa hơn
Trọng tâm của đề tài nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi quan trọng: “Liệu nhận thức và thái độ của sinh viên ĐHQG TP.HCM về Trung Quốc đã thật sự đầy đủ và đúng đắn?”
Trang 10Với những mục tiêu đã đề ra và để trả lời câu hỏi trên, nhóm tập trung vào giải quyết các vấn đề chính:
- Nhận thức và thái độ của sinh viên ĐHQG TP.HCM về Trung Quốc dưới cái nhìn tổng quan ra sao?
- Nhận thức và thái độ của sinh viên ĐHQG TP.HCM về Trung Quốc trong mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc ra sao?
- Triển vọng giải quyết các vấn đề còn tồn tại giữa Việt Nam - Trung Quốc và khả năng thúc đẩy mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước trong tương lai
ra sao?
- Tầm quan trọng của sinh viên trong việc góp phần giải quyết các vấn đề còn tồn tại giữa Việt Nam - Trung Quốc và thúc đẩy mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước trong tương lai ra sao?
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành nghiên cứu khoa học này, nhóm áp dụng hai phương pháp chính Thứ nhất, áp dụng phương pháp định tính thông qua tham khảo các nguồn tài liệu và dựa trên những hệ thống lý thuyết về xã hội học và quan hệ quốc tế để đánh giá các quốc gia như lý thuyết hành động xã hội, chủ nghĩa kiến tạo,… nhằm phân tích các cấp độ ảnh hưởng, tác động giữa các quốc gia trong quan hệ quốc tế và định hướng lựa chọn của sinh viên Thứ hai, áp dụng phương pháp định lượng thông qua các bảng khảo sát, các số liệu thống kê, điều tra xã hội học… một cách hệ thống và toàn diện nhất Thêm nữa, việc kết hợp hai phương pháp luận trên và những phương pháp khác như tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, logic,… càng góp phần tăng tính thuyết phục và ý nghĩa thiết thực cho đề tài
Trang 114.2.1 Thiết kế bảng hỏi
Bảng hỏi được thiết kế rõ ràng, mạch lạc Các câu hỏi đều có yêu cầu và hướng dẫn cụ thể Kết cấu câu hỏi và câu trả lời cũng được sắp xếp thật khoa học theo từng chủ đề cụ thể nhằm tránh gây ra những nhầm lẫn cho người trả lời Hình thức trả lời và các câu hỏi linh hoạt giúp người được khảo sát không nhàm chán và phản ánh vấn đề chính xác hơn Nội dung của bảng hỏi bao gồm hai phần chính: Phần thứ nhất nhằm khai thác các thông tin cá nhân về người được khảo sát Phần thứ hai nhằm ghi nhận các ý kiến của người được khảo sát
về nhận thức và thái độ của Trung Quốc dựa trên ba mảng chính: (1) Thông tin chung về Trung Quốc; (2) Thông tin về Trung Quốc trên các lĩnh vực cụ thể như địa lý, văn hóa và con người, lịch sử, kinh tế, chính trị; (3) Quan hệ Việt Nam và Trung Quốc Đặc biệt, trong mảng quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc có lồng ghép những câu hỏi khảo sát sâu hơn của sinh viên về mối quan
hệ hai nước Với một ý nghĩa nhất định, có thể xem các câu hỏi phỏng vấn sâu
đã được cụ thể hóa và dưới dạng bảng hỏi
Bảng hỏi được phát thử nghiệm mẫu 1 lần vào cuối tháng 11/2009 Bảng hỏi này tập trung vào sinh viên trường ĐH KHXH&NV, ĐH KHTN và ĐH KT-L thuộc ĐHQG TP.HCM Bảng hỏi lần thứ nhất được phát ngẫu nhiên cho sinh viên từ năm nhất đến năm tư Bảng hỏi chính thức được phát cho sinh viên năm III và năm IV của tất cả các trường đại học là thành viên của ĐHQG TP.HCM vào thời gian từ 21/02/2011 đến 06/03/2011
4.2.2 Tiến hành khảo sát và phỏng vấn sâu
Việc khảo sát được tiến hành linh động vào đầu giờ học, giờ giải lao, sau buổi học và thời gian sinh viên rảnh rỗi hoặc ở lại trường học nhóm Bảng hỏi cũng được phát tại kí túc xá ĐHQG TP.HCM và thư viện trung tâm quận Thủ Đức Việc khảo sát đảm bảo các sinh viên là năm III và năm IV cho đến thời điểm khảo sát và trực thuộc các trường đại học là thành viên của ĐHQG
Trang 12TP.HCM Bảng hỏi được phát và thu lại có kiểm soát chặt chẽ nhằm tránh các trường hợp thất lạc, mất mát, bảng hỏi không đạt chất lượng hoặc không đúng đối tượng cần khảo sát
Các số liệu thu thập qua khảo sát được xử lý bằng phần mềm SPSS, là phần mềm được sử dụng nhằm phục vụ cho việc phân tích và thống kê số liệu Sau khi xử lý bằng phần mềm SPSS, nhóm nghiên cứu phân tích cụ thể và khái quát các kết quả nghiên cứu dưới dạng số liệu, biểu đồ,… có so sánh, đối chiếu nhằm trả lời các câu hỏi của phần cơ sở lý luận Việc phân tích có kết hợp với nghiên cứu các cơ sở lý luận và hệ thống lý thuyết làm nền cho đề tài
Tuy nhiên, trong quá trình khảo sát nhóm nghiên cứu cũng gặp phải một số khó khăn như tìm kiếm các sinh viên năm III và năm IV - đặc biệt là sinh viên năm IV một số trường hiện đang đi thực tập ngoài trường, bận hoàn thành đề tài hoặc đồ án tốt nghiệp, sinh viên từ chối điền phiếu, điền phiếu không hợp lệ, điền phiếu còn qua loa, đại khái và công tác thu phiếu cũng có xảy ra trường hợp thất lạc một số phiếu nhưng số lượng này không nhiều Song, nhìn chung việc khảo sát diễn ra khá thuận lợi, đúng tiến độ thực hiện, phù hợp với các tiêu chí đặt ra và lượng phiếu chuẩn tiến hành phân tích đủ số lượng yêu cầu và cơ
sở để kết luận
Ngoài việc tiến hành khảo sát thông qua bảng hỏi, nhóm còn tiến hành phỏng vấn sâu với 2 sinh viên/ trường Trong đó, sinh viên được phỏng vấn là năm III hoặc năm IV vào thời điểm phỏng vấn và gồm 1 sinh viên nam, 1 sinh viên nữ Các câu hỏi phỏng vấn sâu tập trung vào việc làm rõ những vấn đề nghiên cứu, thu thập ý kiến cụ thể và rút kinh nghiệm, đóng góp cho đề tài và bảng hỏi
5 Giới hạn của đề tài
Đề tài chỉ tập trung vào khảo sát nhận thức và thái độ về Trung Quốc của sinh viên ĐHQG TP.HCM Đối tượng được khảo sát cụ thể là các sinh viên
Trang 13năm III và năm IV của các trường đại học là thành viên của khối ĐHQG TP.HCM từ thời điểm bắt đầu thực hiện đến khi hoàn thành đề tài nghiên cứu cấp trường
6 Đóng góp mới của đề tài
Đề tài cung cấp một cái nhìn tổng quát trên hai phương diện nhận thức và thái độ về Trung Quốc của sinh viên ĐHQG TP.HCM thông qua các số liệu thống kê cụ thể, chi tiết có đối chiếu và phân tích làm rõ Xa hơn nữa, đề tài hướng đến các mục tiêu đóng góp mới như sau:
- Đề tài cung cấp những số liệu đầu tiên làm cơ sở cho những công trình nghiên cứu ở bậc cao hơn, cho các nhà hoạch định chính sách đối ngoại
và cho công tác tuyên truyền về ý thức công dân trong quan hệ quốc tế
- Đề tài góp phần làm phong phú, giúp sinh viên có những kiến thức, kỹ năng và phương pháp để làm những đề tài mang tính chất điều tra xã hội học
- Đề tài cung cấp những nhận định, đánh giá tương đối chính xác về sinh viên ĐHQG TP.HCM khi đề cập đến thái độ và nhận thức về quan hệ Việt – Trung
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
7.1 Về lý luận
Đề tài nghiên cứu nhằm cung cấp một cái nhìn tổng quan về nhận thức và thái độ về Trung Quốc của sinh viên ĐHQG TP.HCM Đề tài cũng mang tính chất gợi mở, là nền tảng và cơ sở quan trọng cho những công trình nghiên cứu khoa học mang tính chất quy mô và chuyên sâu hơn nữa
Đề tài chủ yếu dựa trên các lý thuyết về xã hội học và quan hệ quốc tế để làm nền tảng và cơ sở lý giải vấn đề Do đó, với một chừng mực nhất định, đề tài góp phần làm phong phú hơn những lý thuyết xã hội học và quan hệ quốc tế
Trang 14Vì thế, các cơ sở cho việc lý luận và lý giải vấn đề được vận dụng để giải quyết trong thực tế và mang tính ứng dụng cao
7.2 Về thực tiễn
Với những số liệu thống kê rõ ràng và các phân tích cụ thể, đề tài góp phần
đề xuất các kiến nghị và giải pháp phù hợp với sinh viên các trường đại học phía Nam, trước mắt là các trường trong khối ĐHQG TP.HCM nhằm góp phần cải thiện và nâng cao nhận thức của sinh viên về Trung Quốc từ đó có thái độ đúng đắn và tiến bộ khi nhìn nhận vấn đề Đây cũng là nguồn tài liệu khá quý báu cho các cá nhân, đơn vị có nhu cầu tìm hiểu về nhận thức và thái độ về Trung Quốc của sinh viên ĐHQG TP.HCM hay với mục tiêu nghiên cứu, giảng dạy, đối ngoại Song song đó, việc rút kinh nghiệm từ những hạn chế của đề tài cũng là cơ sở cho các công trình nghiên cứu sau này được hoàn thiện hơn
8 Kết cấu của đề tài
Đề tài được phân chia theo bố cục chính như sau:
Phần mở đầu bước đầu giới thiệu về tính cấp thiết của đề tài, tình hình nghiên
cứu, mục đích và nhiệm vụ của đề tài, cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu, giới hạn, đóng góp mới, ý nghĩa lý luận và thực tiễn cùng kết cấu của đề tài Đây là phần giới thiệu cung cấp những cái nhìn tổng quát nhất giúp người đọc bước đầu tiếp cận đề tài được dễ dàng, có những cái nhìn đầu tiên và nhận biết hướng nghiên cứu của đề tài
Chương I “Cơ sở lý luận và phương pháp luận của đề tài” nhằm cung cấp
các lý thuyết làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu, các khái niệm liên quan đến đề tài, mô tả địa bàn nghiên cứu, giới thiệu phương pháp nghiên cứu cũng như xây dựng mô hình khung lý thuyết và giả thuyết cho việc nghiên cứu Đây
là nền tảng vô cùng quan trọng cho việc đánh giá, xử lý các số liệu thống kê một cách khoa học, gắn với các cơ sở lý luận phù hợp
Trang 15Chương II “Kết quả nghiên cứu” nhằm đưa đến một bức tranh tổng quát về
nhận thức và thái độ về Trung Quốc của sinh viên ĐHQG TP.HCM Sau đó, đi vào phân tích những kết quả thu được từ bảng khảo sát đã được hệ thống thành các sơ đồ cụ thể, góp phần lý giải và đánh giá về nhận thức cũng như thái độ của sinh viên ĐHQG TP.HCM về Trung Quốc
Chương III “Tổng kết và khuyến nghị” nhằm tổng kết lại tất cả những nội
dung chính của đề tài Đồng thời, nhóm cũng cung cấp các giải pháp đề xuất góp phần củng cố, nâng cao nhận thức và thái độ của sinh viên ĐHQG TP.HCM về Trung Quốc và những kiến nghị hữu hiệu, mang tính khả thi cao đối với các đơn vị, cấp, ban, ngành có liên quan
Trang 16CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Ở chương I, nhóm nghiên cứu giới thiệu những nội dung cơ bản làm cơ sở
lý luận và phương pháp luận cho đề tài như sau: (1) Các hệ thống lý thuyết xã hội học và quan hệ quốc tế làm cơ sở lý luận cho đề tài; (2) Một số khái niệm
cơ bản liên quan đến đề tài nhằm giúp cho việc tiếp cận đề tài dễ dàng hơn; (3)
Mô tả địa bàn nghiên cứu, bao gồm ĐHQG TP.HCM và các trường đại học là thành viên của ĐHQG TP.HCM đã được khảo sát; (4) Giới thiệu các phương pháp nghiên cứu, gồm phương pháp chung và các phương pháp cụ thể; (5) Mô hình khái quát khung lý thuyết của đề tài; (6) Giả thuyết cho việc nghiên cứu nhằm làm tiền đề định hướng và giải quyết các câu hỏi nghiên cứu
1.1 Các lý thuyết làm cơ sở lý luận cho đề tài
Các lý thuyết làm cơ sở lý luận cho đề tài được nhóm nghiên cứu quan tâm chủ yếu là các lý thuyết về xã hội học và quan hệ quốc tế Các lý thuyết này góp phần lý giải các động cơ, quan niệm tác động lên các nhóm xã hội và cá nhân; từ đó có ảnh hưởng, chi phối đến nhận thức, thái độ của sinh viên ĐHQG TP.HCM trong việc tiếp cận và quan tâm đến Trung Quốc cũng như khi tham gia thực hiện phiếu điều tra khảo sát
1.1.1 Thuyết hành động xã hội của Max Weber (1864 – 1920)
Nhà xã hội học nổi tiếng người Đức quan niệm khoa học xã hội, ngoài phạm vi quan sát thì còn phải giải thích, lý giải các động cơ, quan niệm và thái
độ của các cá nhân Đặc biệt, giải thích xem những chuẩn mực văn hóa, hệ giá trị và những hiểu biết của cá nhân ảnh hưởng như thế nào đến hành động của
Trang 17Thuyết hành động xã hội của Max Weber là cơ sở lý luận cho việc tìm hiểu
về thực chất những động cơ thúc đẩy, chi phối, dẫn dắt cá nhân (hay nhóm xã hội) hành động; ý nghĩa của hành động xã hội và xem xét trên bình diện tổng quát về nguyên nhân, điều kiện, hệ quả của hành động ấy Theo đó, muốn hiểu được động cơ của con người và lý giải chúng không những đòi hỏi cá nhân phải đặt bản thân mình vào hoàn cảnh đối tượng mà còn phải thâm nhập sâu vào thế giới nội tâm của họ
Nói cách khác, Max Weber nhấn mạnh rằng cốt lõi của mọi hành động xã hội là ý nghĩa, do đó để hiểu được hành động phải hiểu được ý nghĩa gắn với hành động đó Vì vậy, nhóm nghiên cứu áp dụng thuyết hành động xã hội nhằm
lý giải hiệu quả những nguyên nhân đã chi phối sinh viên ĐHQG TP.HCM khi tiếp cận thông tin, nhận thức và có những tư tưởng, tình cảm cụ thể đối với Trung Quốc
1.1.2 Thuyết tổng quát về hệ thống hành động của Talcott Parsons (1902 – 1979)
Parsons cho rằng thành phần cơ bản của hành động được định hướng mang tính chuẩn mực của con người hướng vào các định hướng niềm tin, giá trị, chuẩn mực
Lý thuyết của Talcott Parsons thực chất là lý thuyết phát triển và làm rõ hơn
cho lý thuyết của Max Weber Vận dụng lý thuyết tổng quát về các hệ thống hành động, nhóm chúng tôi muốn tìm hiểu xem những định hướng cụ thể nào
đã chi phối quan điểm và sự lựa chọn của sinh viên Đồng thời, những định hướng là cơ sở cho việc lựa chọn và các thái độ cụ thể sẽ giống và khác nhau như thế nào giữa những sinh viên các trường đại học trực thuộc ĐHQG TP.HCM
Trang 181.1.3 Thuyết lựa chọn hợp lý của James Samuel Coleman (1926 – 1995)
Nhà xã hội học người Mỹ cho rằng ứng xử của con người hoạt động theo cơ chế như sau: Cá nhân sẽ xem xét và phân tích những kích thích, theo đó sẽ lựa chọn những kích thích mà mình cho là phù hợp, có ích và loại bỏ những kích thích không phù hợp hoặc không có ích
Lý thuyết lựa chọn hợp lý của CoLeman là cơ sở để nhóm nghiên cứu giải thích về nhận thức và thái độ của sinh viên ĐHQG TP.HCM về Trung Quốc Tại sao sinh viên lại có những lựa chọn thế này mà không phải là thế kia hay sự lựa chọn và thái độ của họ nói lên điều gì? Liệu sự lựa chọn ấy có phù hợp hay
có ích? Đó là những câu hỏi mà nhóm thực hiện đề tài quan tâm tìm hiểu
1.1.4 Học thuyết kiến tạo
Xuất hiện vào những năm 80, chủ nghĩa kiến tạo dần dần trở nên đáng chú
ý, nhất là trong quan hệ quốc tế Bắc Mỹ Những nhà tư tưởng tiền chủ nghĩa kiến tạo đáng chú ý là Immanuel Kant (1724 – 1804) và Max Webber (1864 – 1920) Max Weber nhấn mạnh rằng thế giới xã hội về cơ bản khác với thế giới
tự nhiên ở chỗ những hiện tượng vật lý Ông kết luận: “Sự hiểu biết chủ quan là một đặc trưng riêng của kiến thức xã hội học” Chủ nghĩa kiến tạo cũng chỉ ra rằng các cá nhân trong tập thể hình thành, định dạng và thay đổi văn hóa thông qua các ý tưởng và thực tiễn 2
Như vậy, “chủ nghĩa kiến tạo là những tư tưởng hệ thống ý thức mang tính chất phi vật chất tác động lên một xã hội Từ đó sẽ quyết định hành vi và tạo nên ý thức hệ trong mỗi chủ thể” 3
Theo chủ nghĩa kiến tạo, những quan điểm, thái độ và định kiến xã hội cũng góp phần quan trọng trong việc quyết định hành vi của con người Chủ nghĩa
2
Khoa QHQT, Đại học KHXH&NV TP.HCM, Tập bài đọc Lý luận quan hệ quốc tế, tập 1, 2009, tr.52
Trang 19kiến tạo quan niệm rằng: Để lý giải các hành vi và tương tác xã hội cần lưu ý đến những giả định và thiên kiến có sẵn trong nhận thức của con người Nhóm chúng tôi quan tâm đến liệu những định kiến xã hội, bản sắc hay tư tưởng đã tồn tại từ lâu đời tác động đến sinh viên ĐHQG TP.HCM như thế nào? Mức độ tác động ra sao và sinh viên phản ứng lại các quan điểm trên như thế nào? Việc lựa chọn của sinh viên qua bảng hỏi thể hiện nhận thức và thái độ của sinh viên đối với Trung Quốc cho thấy ảnh hưởng của chủ nghĩa kiến tạo như thế nào? Sinh viên của các trường có nhận thức và thái độ giống hay khác nhau cơ bản
ra sao - liệu chủ nghĩa kiến tạo góp phần lý giải như thế nào, có hợp lý không?
1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
Những khái niệm mà nhóm tập trung làm rõ là cơ sở cho việc nhìn nhận vấn
đề nghiên cứu được toàn diện Nhóm xem xét những khái niệm cơ bản, gắn chặt với quá trình nghiên cứu và thể hiện giá trị cốt lõi nhất cần thiết cho việc hiểu sâu sát các đối tượng, lĩnh vực và nội dung nghiên cứu
1.2.1 Nhận thức
Theo Giáo sư Nguyễn Lân, nhận thức là “sự hiểu biết thấu đáo bản chất của
sự vật”.4 Về ý nghĩa triết học, nhận thức là “quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách quan thông qua vốn kinh nghiệm hiểu biết và các giác quan của con người”.5 Trong quyển “Từ điển tiếng Việt”, giáo sư Hoàng Phê định nghĩa nhận thức là “quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy, quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan, hoặc kết quả của quá trình đó”.6
Trang 20Như vậy, có thể hiểu nhận thức là quá trình hoặc kết quả mà theo đó con người nhận ra và hiểu biết hiện thực khách quan thông qua vốn hiểu biết, kinh nghiệm và các giác quan của mình Nhận thức về Trung Quốc của sinh viên ĐHQG TP.HCM về Trung Quốc là kết quả phản ánh những kiến thức, hiểu biết của sinh viên ĐHQG TP.HCM về đối tượng cụ thể được đề cập đến trong nghiên cứu là Trung Quốc
1.2.2 Thái độ
Cũng trong “Từ điển từ và ngữ Việt - Nam”, giáo sư Nguyễn Lân định
nghĩa “thái độ (thái: tình trạng bề ngoài; độ: mức) là cách biểu lộ ra bề ngoài
những tư tưởng, tình cảm của mình bằng ngôn ngữ, cử chỉ, hành vi”.7 Giáo sư Hoàng Phê mang lại hai định nghĩa cụ thể hơn: (1) Thái độ là “tổng thể nói chung những biểu hiện ra bên ngoài (bằng nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động) của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hoặc đối với sự việc nào đó” (2) Thái độ là
“cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn
đề, một tình hình”.8 “Từ điển xã hội học” phân tích thái độ chi tiết hơn bằng cách phân chia 4 nhân tố qua đó có thể hiểu được về thái độ rõ nét hơn:
- Đó là một biến số được suy ra mà người ta xây dựng lại sau khi đã phân
tích cả một hệ thống ý kiến và xử sự
- Vì đó là một tâm lý ổn định, nên nó nói lên đặc trưng của con người
hoặc nhóm
- Các thái độ thường thiên về cực này hay cực kia: Thái độ tán thành
hoặc thái độ chống đối
- Thái độ của con người chịu ảnh hưởng của xã hội 9
Trang 21Đặc biệt, đứng trên quan điểm của xã hội học, thái độ là những biểu hiện cơ bản tồn tại trong các mối quan hệ ứng xử của con người với nhau Qua đó, những biểu hiện cho thấy thái độ và tình cảm của một người đối với con người hoặc sự việc nào đấy (nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động,…) Gurvitch nghiên cứu về thái độ trong tập thể, ông cho rằng thái độ tập thể là những biểu hiện mang tính xã hội dùng để lý giải trạng thái tâm lý hay những hành vi mang tính chất khái quát thiên về tán thành hoặc phản đối
Thái độ của sinh viên ĐHQG TP.HCM về Trung Quốc được nhìn nhận là những đánh giá, nhận xét, ý kiến hay quan điểm của sinh viên về các sự kiện, nhận định hay mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc,… Chúng tôi sử dụng thang đo theo mức độ tăng dần từ 1 đến 5 và câu hỏi dạng “có - không”
để thể hiện mức độ quan tâm, yêu thích, tán thành,… cho các câu hỏi liên quan đến thái độ của sinh viên Đồng thời, một tiêu chí nữa được quan tâm để đánh giá thái độ của sinh viên về Trung Quốc là mức độ quan tâm, thái độ, cảm xúc, mức độ hợp tác, những hành động cụ thể,… mà sinh viên thể hiện đối với người khảo sát và bảng hỏi khi được khảo sát và tiếp cận vấn đề
Những phản ứng trên chi phối và có mối quan hệ mật thiết với nhau Vì thế, nhóm chúng tôi nhìn nhận trên phương diện tổng quát vấn đề để có thể đưa ra những kết luận mang tính khách quan và mức độ chính xác cao nhất
1.2.3 Sinh viên
Qua nghiên cứu các tài liệu, nhóm cho rằng định nghĩa của tác giả “Từ điển
từ và ngữ Việt - Nam” là khá hoàn chỉnh Theo ông, “sinh viên (sinh: người học, viên: người làm việc) là học sinh các trường cao đẳng và đại học”.10 Đại
đa số các từ điển tiếng Việt hiện đại khác cũng cho rằng sinh viên là khái niệm dùng để nói đến những người đang theo học ở bậc cao đẳng và đại học Lê Ngọc Hùng, tác giả của quyển “Lịch sử và Lý thuyết xã hội học” chú giải:
10
Nguyễn Lân – Tlđd, tr 1580
Trang 22“Sinh viên” được hiểu là người chuyên học tập, nghiên cứu khoa học, trừ những trường hợp cụ thể được nêu rõ.11
Độ tuổi của sinh viên thường từ 18 - 25 tuổi Tuy nhiên, sự ước lượng này chỉ mang tính tương đối và mức độ dao động là khá cao do ngày nay bậc học cao đẳng và đại học không quy định tuổi tác cụ thể miễn là học sinh đã thi đỗ kì thi đầu vào hoặc phù hợp với các tiêu chuẩn cụ thể để học bậc cao đẳng và đại học Sinh viên là những người có điều kiện tiếp cận đối với khoa học kỹ thuật hiện đại nhiều nhất và có vốn tri thức khá dồi dào Họ cũng là những người có những định hướng về lối sống, quan niệm chuẩn mực, nguyện vọng khá đa dạng và có những bước chuyển biến quan trọng do quá trình toàn cầu hóa cũng như những bước phát triển đáng kể về điều kiện kinh tế - xã hội
Có thể mượn lời của Lênin (1870 - 1924) để khái quát về sinh viên: “Sinh
viên là một bộ phận nhạy cảm nhất của giới tri thức, là tầng lớp có độ trí thức tiên tiến nhất trong hàng ngũ thanh niên”
1.2.4 Tri thức
Giáo sư Nguyễn Lân định nghĩa tri thức “là điều hiểu biết do học tập, nghiên cứu mà có”.12 Giáo sư Hoàng Phê xem tri thức “là những hiểu biết có hệ thống về sự vật, hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội (nói khái quát)”.13 Tổng hợp hai ý kiến trên cho ta một định nghĩa về tri thức như sau: “Tri thức là vốn hiểu biết có hệ thống của con người về sự vật, hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội,… do trải qua quá trình học tập, nghiên cứu, lao động mà có được”
Như vậy, kiến thức của sinh viên về Trung Quốc là vốn hiểu biết của họ do quá trình học tập, nghiên cứu hay qua sự quan sát, lắng nghe từ các phương tiện
Trang 23truyền thông,… mà có được Vốn tri thức này có thể đến từ nhiều nguồn khác
nhau Chúng tôi tiếp cận đề tài về “Nhận thức và thái độ về Trung Quốc của sinh viên ĐHQG TP.HCM” với định hướng sinh viên sẽ trả lời bảng hỏi hoặc
có phản ứng đối với Trung Quốc, người khảo sát và vấn đề mà nhóm đang nghiên cứu theo sơ đồ sau:
Tri thức Sinh viên Nhận thức Thái độ Hành vi
1.2.5 Hành động xã hội
“Hành động xã hội (social action) là sự trao đổi trực tiếp giữa các cá nhân cũng như các khuôn mẫu quan hệ được cấu trúc hóa bên trên các nhóm, tổ chức, thiết chế và xã hội”.14 Đây là định nghĩa khái quát chung nhất vẫn được những nhà nghiên cứu về “hành động xã hội” thống nhất với nhau và sử dụng rộng rãi trong xã hội học
Nói đến hành động là nói đến việc chủ thể gắn cho nó một ý nghĩa chủ quan nào đó Tuy nhiên, không phải hành động nào cũng có tính xã hội Tóm lại, theo Max Weber, “hành động xã hội là hành động được chủ thể gắn cho nó một
ý nghĩa chủ quan nào đó, là hành động có tính đến hành vi của người khác, và
vì vậy được định hướng tới người khác, trong đường lối, quá trình của nó”.15
Do đó, hành động không phải là kết quả của quá trình suy nghĩ có ý thức thì không phải là hành động xã hội Hành động không tính đến sự tồn tại và những phản ứng có thể có từ những người khác thì cũng không phải là hành động xã hội
Hệ lý thuyết cơ sở về hành động xã hội góp phần lý giải những câu hỏi như: Tại sao sinh viên tiếp cận thông tin về Trung Quốc với những mức độ khác
14 Bùi Thế Cường – Tlđd
15 Max Weber The Theory of Social and Economic Organization New York, Oxford University Press,
1947, Tr 88
Trang 24nhau? Tại sao sinh viên từ chối trả lời/ quan tâm đến bảng khảo sát hay các vấn
đề liên quan đến Trung Quốc? Tại sao sinh viên trường này nhận thức khá đầy
đủ về Trung Quốc trong khi sinh viên trường khác nhận thức lại không như vậy?
1.3 Mô tả địa bàn nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu được mô tả là ĐHQG TP.HCM và các trường đại học là thành viên gắn với diện đối tượng khảo sát là sinh viên năm III và năm IV cho đến thời điểm hoàn thành đề tài cấp trường Khi mô tả địa bàn nghiên cứu ở mỗi trường đại học là thành viên của ĐHQG TP.HCM, chúng tôi tập trung vào các lĩnh vực chính trên diện rộng nhằm cung cấp một cái nhìn bao quát, cụ thể nhất về trường đại học ấy Các lĩnh vực đó là: (1) Giới thiệu tổng quan; (2) Sứ mạng và mục tiêu; (3) Quy mô hiện nay
Các thông tin sử dụng cho công tác thu thập dữ liệu, nghiên cứu về địa bàn chủ yếu từ website chính thức của trường, các tập san, kỷ yếu và báo cáo hàng năm cùng những thông tin từ các đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan đến ĐHQG TP.HCM Đồng thời thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng giới thiệu về trường và thông tin hữu ích từ cẩm nang tuyển sinh và tư vấn hướng nghiệp cho sinh viên năm 2011 cũng được nhóm nghiên cứu đặc biệt chú ý
1.3.1 Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Giới thiệu về ĐHQG TP.HCM, có thể nêu ngắn gọn như sau: “Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học và công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực chất lượng cao, đạt trình độ tiên tiến, làm nòng cốt trong hệ thống giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội”.16
16
Quyết định số 16/2001/QĐ – TTg về thành lập ĐHQG TP.HCM
Trang 25ĐHQG TP.HCM được thành lập vào ngày 27/01/1995 theo Nghị định 97/CP trên cơ sở sắp xếp 9 trường Đại học lại thành 8 trường Đại học thành viên và chính thức ra mắt ngày 6/2/1996
ĐHQG TP.HCM là trung tâm đào tạo đồng thời là một hệ thống các trường đại học mạnh ở phía Nam nói riêng và của Việt Nam nói chung Đây là một mô hình đại học hiện đại với sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và những tiêu chuẩn đánh giá hiện đại đang từng bước phấn đấu để chuẩn hóa với các tiêu chí khu vực và quốc tế, đang từng bước đẩy mạnh hội nhập quốc tế.17 Đồng thời, ĐHQG TP.HCM cũng bao gồm các trường đại học với những đặc thù và thế mạnh nghiên cứu, học tập về các ngành khoa học cơ bản, tự nhiên, xã hội - nhân văn, kỹ thuật và quản lý đến sức khỏe ĐHQG TP.HCM bao gồm đội ngũ những nhà khoa học, những giáo sư, giảng viên uy tín và đầu ngành, các sinh viên giỏi thuộc những khối ngành nghề đặc thù
ĐHQG TP.HCM lãnh sứ mạng trở thành một trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, gắn kết cộng đồng, đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, làm nòng cốt trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, hội nhập quốc tế và có đẳng cấp trong khu vực và thế giới
ĐHQG TP.HCM cũng nhận trách nhiệm tiên phong trong công cuộc cải cách giáo dục đại học Việt Nam và là một minh chứng về chất lượng và tính hiệu quả, hệ quả của quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm xã hội cao ĐHQG TP.HCM phải trở thành một trong số đại học hàng đầu trong khu vực Đông Nam Á, Châu Á và phấn đấu để có trường đại học thành viên là một trong những trường đại học có thứ hạng cao trên thế giới
Trang 26Hiện nay, ĐHQG TP.HCM có 4.302 cán bộ, trong đó có 2.403 cán bộ giảng dạy bao gồm 169 giáo sư và phó giáo sư, 640 tiến sĩ và 1.259 thạc sĩ, nhiều người là những nhà khoa học đầu ngành
ĐHQG TP.HCM có quy mô đào tạo lớn, với khoảng 50.000 sinh viên hệ đại học chính quy theo học 125 ngành đào tạo bậc đại học, 8000 học viên cao học theo học 95 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ và 600 nghiên cứu sinh theo học 91 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ
ĐHQG TP.HCM hiện có 6 trường đại học, 1 viện nghiên cứu thành viên (Trường Đại học Bách khoa, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Quốc tế, Trường Đại học Công nghệ thông tin, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Viện Môi Trường – Tài nguyên), Khoa Y và 21 đơn vị trực thuộc
1.3.2 Trường đại học Bách Khoa
Trường ĐH BK thuộc ĐHQG TP.HCM là một trung tâm đào tạo cán bộ kỹ thuật công nghệ và các nhà quản lý có trình độ ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực Đông Nam Á, đáp ứng nguồn nhân lực có chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước cũng như khu vực phía Nam Trường cũng là trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ có vai trò chủ đạo trong việc thông tin và ứng dụng công nghệ mới của các nước tiên tiến trên thế giới và trong khu vực, chuyển giao công nghệ cho các ngành công nghiệp thuộc khu vực phía Nam
Nhiều sinh viên tốt nghiệp của trường hiện nay đang giữ những cương vị quản lý, chuyên gia đầu ngành của các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các thành phần kinh tế ở thành phố
Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam – đây là nguồn nhân lực góp phần đáng kể cho công cuộc phát triển đất nước
Trang 27Tính đến tháng 5 năm 2005, trường đã có 11 khoa chuyên ngành, 10 trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, 4 trung tâm đào tạo, 10 phòng ban chức năng và một công ty trách nhiệm hữu hạn Hiện tại, trường có 1.300 cán bộ, trong đó có 1.000 cán bộ giảng dạy (CBGD) Trong số CBGD có
10 giáo sư, 47 phó giáo sư, 186 tiến sĩ, 315 thạc sĩ, 172 giảng viên chính, 657 giảng viên, 2 nhà giáo nhân dân, 25 nhà giáo ưu tú
1.3.3 Trường Đại học Khoa học tự nhiên
Trường ĐH KHTN – ĐHQG TP.HCM là cơ sở đào tạo đại học, sau đại học
và nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ có nhiệm vụ đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, nghiên cứu và triển khai ứng dụng khoa học cơ bản và công nghệ về những ngành khoa học công nghệ có liên quan 18 Trường ngày càng khẳng định vị thế của mình, là trường đại học đào tạo các ngành khoa học
cơ bản hàng đầu ở miền Nam, góp phần đào tạo những sinh viên có kiến thức chuyên môn cao phục vụ cho công cuộc kiến thiết đất nước
Trường ĐH KHTN có nhiệm vụ đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, đóng vai trò nòng cốt trong ĐHQG TP.HCM, tạo ra những sản phẩm tinh hoa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ngày càng cao của đất nước và phù hợp với
xu thế phát triển quốc tế, hội nhập với nền giáo dục đại học tiên tiến của khu
vực và trên thế giới
Trường hiện đang có trên 1.200 cán bộ - viên chức, trong đó có 10 giáo sư,
47 phó giáo sư, 186 tiến sĩ, 315 thạc sĩ, 172 giảng viên chính, 657 giảng viên, 2 nhà giáo nhân dân, 25 nhà giáo ưu tú Trường có 9 khoa, đào tạo 15 ngành và
14 trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ Trong 5
18
Quy chế về tổ chức và hoạt động của Trường đại học KHTN – ĐHQG TP.HCM (Chương I, điều 1) -
Ban hành kèm theo Quyết định số 925 /QĐ-ĐHQG-TCCB, ngày 12/10/2006 của Giám đốc ĐHQG TP.HCM
Trang 28năm (2005 – 2010), ở bậc đại học trường đã đào tạo 42 tiến sĩ và 1.064 thạc sĩ Quy mô đào tạo hiện nay của trường gần 16.000 sinh viên đại học
1.3.4 Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
Là thành viên của ĐHQG TP.HCM, trung tâm đào tạo đại học, sau đại học
và NCKH đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, nòng cốt của giáo dục đại học Việt Nam, trường ĐH KHXH&NV cam kết phấn đấu trở thành một trong những cơ sở đào tạo và NCKH hàng đầu của Việt Nam về các lĩnh vực KHXH&NV; cung cấp các dịch vụ khoa học và giáo dục chất lượng cao cho nền kinh tế quốc dân; góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc
Trường qui tụ một đội ngũ gồm trên 630 cán bộ công nhân viên; trong đó có
450 cán bộ giảng dạy và nghiên cứu gồm: 28 giáo sư và phó giáo sư; 93 tiến sĩ khoa học và tiến sĩ; 282 thạc sĩ, được đào tạo trong nước và nước ngoài như: Nga, Ba Lan, Bulgarie, Đức, Mỹ, Anh, Pháp, Úc, Áo, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Philippines, Singapore v.v… Nhiều giảng viên đã tu nghiệp và thỉnh giảng tại các trường đại học trên thế giới
Hàng năm, trường còn mời hàng trăm các giáo sư, nhà khoa học đầu ngành trong nước và nước ngoài đến giảng dạy và nghiên cứu tại trường nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Qui mô đào tạo của trường là trên 31.000 sinh viên, học viên thuộc các loại hình đào tạo khác nhau; trong đó 12.000 sinh viên chính qui và 1.500 học viên sau đại học
1.3.5 Trường đại học Công nghệ thông tin
Trường ĐH CNTT là một trường Đại học công lập chuyên ngành CNTT, thành viên của ĐHQG TP.HCM Trường ĐH CNTT có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao góp phần tích cực vào sự phát triển của nền công nghiệp công nghệ thông tin Việt Nam, đồng thời tiến hành nghiên
Trang 29cứu khoa học và chuyển giao công nghệ thông tin tiên tiến, đặc biệt là hướng vào các ứng dụng nhằm góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trong phạm vi ĐHQG TP.HCM, trường ĐH CNTT đóng vai trò là một bộ phận phát triển nhanh lên phía trước, đạt chuẩn khu vực và quốc tế trong lĩnh vực CNTT Đây sẽ là nhân tố tích cực tác động trở lại và hỗ trợ các đơn vị cùng
đi lên, tiến tới sự phát triển toàn cục của ĐHQG TP.HCM
Trường quá trình tổ chức đào tạo, thay đổi nội dung, phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại và bám sát các yêu cầu của thực tiễn, đồng thời tăng cường khả năng sử dụng tiếng Anh cho sinh viên ĐH CNTT hướng đến mục tiêu lâu dài là đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp cho công nghiệp CNTT thông qua các chương trình đào tạo tiên tiến về CNTT ở bậc đại học
Tính đến nay tháng 9/2008 quy mô đào tạo chính quy (bao gồm đại học và sau đại học) của trường trên 2.000 sinh viên đang theo học các ngành đào tạo bậc đại học, thạc sĩ và tiến sĩ thuộc các lĩnh vực khoa học CNTT
Về đội ngũ, trường có tổng cộng hơn 200 cán bộ - công chức bao gồm hơn
120 cán bộ giảng dạy
1.3.6 Trường đại học Quốc tế
Trường ĐH QT là đại học quốc tế đầu tiên của Việt Nam và là đại học công lập đa ngành, đa lĩnh vực, thành viên của ĐHQG TP.HCM Tính quốc tế thể hiện ở môi trường học thuật đạt trình độ quốc tế về mọi mặt bao gồm các chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, ngôn ngữ giảng dạy, cơ sở vật chất Tính công lập thể hiện ở sự hỗ trợ đầu tư về cơ sở vật chất và tài chính của nhà nước nói chung, và ĐHQG TP.HCM nói riêng, cũng như các tổ chức khác trong và ngoài nước
Trang 30ĐH QT TP.HCM là trường đại học đầu tiên của Việt Nam áp dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ chính thức cho toàn bộ hoạt động giảng dạy và nghiên cứu tại trường ngay vừa khi thành lập
Hiện nay trường đã thực hiện các chương trình đào tạo bậc đại học với các hình thức: đào tạo trong nước và cấp bằng do chính trường công nhận, đào tạo liên kết và cấp bằng do trường đối tác công nhận, đào tạo liên kết và cấp bằng
do chính trường và trường đối tác cùng công nhận
Trường ĐH QT có sứ mạng phấn đấu trở thành một trung tâm đào tạo học thuật mạnh, mang tính quốc tế cao và là trường đại học tiên tiến về chất lượng
và quy mô trong nước cũng như trong khu vực trong thời gian tới Trường đang trong giai đoạn hội nhập với nền giáo dục của các nước trong khu vực và quốc
tế, tạo mạng lưới liên kết với các trường đại học, cao đẳng uy tín trên thế giới
để cải tiến và nâng cao chất lượng đào tạo
Trường đặc biệt chú trọng đến việc nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ cho xã hội ở TP.HCM và trên quy mô cả nước, dần hoàn thiện mô hình quản lý Đại học mang tính quốc tế được các tổ chức kiểm định quốc tế công nhận
Trường cũng đã và đang hướng đến đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, khả năng hội nhập và trình độ ngoại ngữ giỏi đáp ứng tốt các nhu cầu ngày càng cao của xã hội
Trường hiện có trên 80 cán bộ là chuyên viên các phòng ban cùng đội ngũ cán bộ giảng dạy là các giảng viên người nước ngoài và các giảng viên thỉnh giảng Trường hiện đang trong giai đoạn hệ thống lại quy mô giảng viên chính thức và giảng viên thỉnh giảng
1.3.7 Trường đại học Kinh tế - Luật
Trường Đại học Kinh tế - Luật là cơ sở giáo dục bậc đại học trực thuộc ĐHQG TP.HCM có nhiệm vụ đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu khoa
Trang 31học và chuyển giao công nghệ chất lượng cao, đạt trình độ tiên tiến trong lĩnh vực Kinh tế - Luật, cụ thể là các lĩnh vực: kinh tế, tài chính – ngân hàng, luật, kinh doanh và quản lý, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong tiến
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế
Trường Đại học Kinh tế - Luật lãnh sứ mạng trở thành trường đại học tiên tiến trong nước, có uy tín trong khu vực và quốc tế trong lĩnh vực: kinh tế, tài chính – ngân hàng, luật, kinh doanh và quản lý
Mục tiêu của trường là trở thành cơ sở đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ chất lượng cao, đạt trình độ tiên tiến trong lĩnh vực: kinh tế, tài chính – ngân hàng, luật, kinh doanh và quản lý; sánh vai với các trường đại học tiên tiến trong khu vực và quốc tế
Trường cũng hướng đến việc đào tạo và cung cấp cho xã hội các chuyên gia kinh tế, tài chính – ngân hàng, luật, kinh doanh và quản lý có tầm chiến lược và khả năng thích ứng cao, phục vụ thiết thực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Hiện nay, với tư cách là một đơn vị thành viên, trường đang nỗ lực phát huy mạnh mẽ sức mạnh hệ thống của ĐHQG TP.HCM, chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo của những ngành học có nhu cầu cao của xã hội, đồng thời tăng cường các nguồn lực, gắn kết chặt chẽ với cộng đồng doanh nghiệp, cựu sinh viên,… để có những bước đột phá đưa nhà trường ngày càng phát triển
Từ 12 cán bộ (CB), giảng viên (GV) ban đầu, đến nay Trường Đại học Kinh
tế - Luật có gần 215 CB, GV, viên chức cơ hữu Trong đó cán bộ giảng dạy (CBGD) là 145 người, (trên 95% CBGD có trình độ trên đại học với 1 giáo sư,
4 phó giáo sư, 1 tiến sĩ khoa học, 32 tiến sĩ) Nhiều cán bộ, giảng viên của trường hiện đang được đào tạo tại các cơ sở đào tạo sau đại học trong và ngoài nước
Trang 32Trải qua 10 khóa tuyển sinh, đến nay trường có hơn 6.800 sinh viên, trên
400 học viên cao học và nghiên cứu sinh
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp chung
Do đây là đề tài thực nghiệm xã hội học gắn với quan hệ quốc tế nên nhóm
áp dụng các phương pháp đặc trưng của hai ngành học trên Song song đó, nhóm chú trọng đến hai phương pháp luận khoa học vẫn được sử dụng đối với loại đề tài này là phương pháp suy luận diễn dịch và phương pháp suy luận quy nạp Hai phương pháp trên được áp dụng linh hoạt, lồng ghép vào nhau nhằm góp phần lý giải kết quả khảo sát đạt được và tổng hợp vấn đề thật logic Đồng thời, hai phương pháp trên áp dụng đan xen nhau nhằm tạo tính phong phú và mạch lạc cho đề tài Nhóm nghiên cứu cũng áp dụng các phương pháp cụ thể như sau:
1.4.2 Phương pháp cụ thể
Thu thập thông tin qua tư liệu sẵn có
Nhóm nghiên cứu thu thập thông tin từ các bài báo, các tạp chí, các văn bản báo cáo, các bài viết,… có liên quan đến Trung Quốc để xem mức độ quan tâm của dư luận nói chung về Trung Quốc và ảnh hưởng của quốc gia này trên chính trường quốc tế cũng như về các lĩnh vực khác như kinh tế, văn hóa, xã hội,… ra sao Mặt khác, chúng tôi cũng xem xét mức độ đề cập của các phương tiện truyền thông về Trung Quốc và tác động của nó đến sinh viên bước đầu như thế nào Đó là cơ sở và những bước quan tâm đầu tiên cho việc lựa chọn và
xây dựng đề tài nghiên cứu “Nhận thức và thái độ về Trung Quốc của sinh viên ĐHQG TP.HCM”
Trang 33Thu thập thông tin định lượng
Đây là phương pháp thu thập thông tin chính được áp dụng Bảng hỏi được thiết kế dựa trên phiếu thu thập ý kiến về nhận thức và thái độ về Trung Quốc của sinh viên ĐHQG TP.HCM Bảng hỏi bao gồm tất cả 30 câu khảo sát, gồm
cả câu hỏi mở và đóng với mức độ quan tâm tăng dần từ 1 đến 5 hoặc dạng câu hỏi lựa chọn Trong đó có những “câu hỏi lồng ghép”, bao gồm cả câu hỏi về nhận thức và thái độ (nếu lĩnh vực bao gồm nhận thức và thái độ)
Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo xác suất được mô tả trong bảng sau:
Số lượng
- Tổng số phiếu phát ra là 1200 phiếu, 200 phiếu mỗi trường
- Tổng số phiếu thu lại là 1000 phiếu
Trang 34Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi còn tham khảo các ý kiến đóng góp từ các giảng viên, thầy cô, bạn bè nhằm củng cố những nhận định của mình và góp phần tăng tính phong phú, là nguồn thông tin hữu ích để tham khảo cho công tác nghiên cứu
1.5 Mô hình khung lý thuyết đề tài
Mô hình khung lý thuyết đề tài
Ngoại cảnh Môi trường văn hóa xã hội
Môi trường giáo dục gia đình
Môi trường giáo dục
Đại học
Viễn cảnh nghề nghiệp
Sinh viên
Nhận thức
Trang 351.6 Giả thuyết nghiên cứu
Những giả thuyết và nhận định bước đầu là cơ sở cho việc định hướng, xem xét, so sánh đối chiếu và rút ra những kết luận quan trọng, hữu ích khi đề tài nghiên cứu hoàn thiện Chúng tôi đặt ra những giả thuyết cơ bản sau:
1.6.1 Giả thuyết 1: Phần lớn sinh viên ĐHQG TP.HCM có kiến thức nền tảng tốt về Trung Quốc
Theo nhóm nghiên cứu, sinh viên có hiểu biết nền tảng về Trung Quốc bởi những yếu tố sau:
Thứ nhất, Trung Quốc là một quốc gia láng giềng, có mối quan hệ gắn bó với Việt Nam Đồng thời, lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam cũng có quan
hệ gắn bó lâu đời với Trung Quốc
Thứ hai, sinh viên đã được học lịch sử Trung Quốc từ các cấp học dưới, có điều kiện cập nhật thông tin thời sự quốc tế nổi bật qua nhiều phương tiện Các yếu tố như văn hóa, phim ảnh, ca nhạc,… về Trung Quốc cũng có tác động đáng kể đến sinh viên Đồng thời, sinh viên còn là những người trẻ và ham tìm hiểu, học hỏi cái mới
1.6.2 Giả thuyết 2: Đa số sinh viên ĐHQG TP.HCM không thích Trung Quốc
Nhóm nghiên cứu đưa ra giả thuyết “Đa số sinh viên Việt Nam không thích
Trung Quốc” trên cơ sở xem xét mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc
trong tiến trình lịch sử Trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc, lịch sử Việt Nam ghi nhận những cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc xuống bờ cõi phía Nam qua công cuộc “Nam tiến” Các triều đại phong kiến trong lịch sử Trung Quốc đã thi hành chính sách nước lớn trong quan hệ ngoại giao đối với Việt Nam nên thái độ né tránh, đề phòng, cảnh giác của nhân dân ta là điều hoàn toàn có cơ sở Những bài học lịch sử trong các sách giáo khoa lịch sử từ hệ
Trang 36thống giáo dục tiểu học của Việt Nam đều ghi nhận những sự kiện đấu tranh, gìn và giữ nước có liên quan mật thiết đến Trung Quốc Qua đó, Trung Quốc hiện lên như một kẻ thù xâm lược nguy hiểm trong lịch sử và tiềm ẩn nhiều mối đe dọa đối với Việt Nam ở thời điểm hiện tại và trong tương lai Vì thế, tâm lý cảnh giác trước Trung Quốc vẫn còn rất mạnh mẽ trong lòng nhân dân, đặc biệt là sinh viên – những trí thức có điều kiện tiếp thu nhiều nguồn kiến thức, thông tin thời sự trong nước và quốc tế
Nhà nghiên cứu Irwin Jay Bobinson cũng cho rằng nguyên nhân sâu xa của tâm lý đề phòng, cảnh giác bắt nguồn từ “Lịch sử chiếm đóng và thống trị của người nước ngoài đối với Việt Nam”.19 Nhóm cũng xem xét giả thuyết dưới cái nhìn của chủ nghĩa kiến tạo về ý thức hệ kèm theo những tư tưởng từ thế hệ trước được truyền đạt lại qua các câu chuyện kể, những bài học từ ông bà, cha
mẹ và thực tế một số vấn đề còn tồn tại như chất lượng hàng hóa Trung Quốc, vấn đề nhân quyền,… cũng góp phần đáng kể trong việc hình thành, củng cố tư tưởng và thái độ của sinh viên Việt Nam về Trung Quốc
Vấn đề phân chia biên giới trên bộ, vấn đề vịnh Bắc Bộ cũng tác động quan trọng đến thái độ của sinh viên Việt Nam đối với Trung Quốc Đặc biệt, vấn đề Biển Đông với tính chất nhạy cảm mà Trung Quốc và Việt Nam đóng vai trò hết sức quan trọng đã góp phần gia tăng tư tưởng không mấy thiện cảm của sinh viên với Trung Quốc
Do đó, có thể kết luận cảm tính do ấn tượng không tốt của lịch sử để lại
và một số vấn đề thời sự hiện nay đã tác động mạnh mẽ đến sinh viên Việt Nam; là cơ sở cho giả thuyết “Đa số sinh viên Việt Nam không thích Trung
19
Châu Thị Hải, “Người Hoa Việt Nam và Đông Nam Á: hình ảnh hôm qua và vị thế hôm nay”,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006, tr 312
Trang 37Quốc” Nhóm nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng “Trung Quốc” ở đây được
hiểu về cả hai phương diện “quốc gia” và “con người”
1.6.3 Giả thuyết 3: Mức độ tin tưởng về tầm quan trọng của sinh viên trong việc thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Trung Quốc là thấp
Nhóm nghiên cứu cho rằng sinh viên vẫn đánh giá thấp tầm quan trọng của
họ trong việc thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Trung Quốc bởi một số lý do chính như sau:
Thứ nhất, sinh viên Việt Nam mặc dù là lượng trí thức đông đảo có kiến thức và nhiệt huyết nhưng vẫn chưa có tiếng nói đáng kể, chưa có vai trò quan trọng trong các ban ngành, đoàn thể gắn chặt với Đảng và Nhà nước
Thứ hai, về chính trị, sinh viên chỉ đạt về trình độ lý luận cơ bản Thêm nữa, mức độ nhận thức và thái độ vẫn còn chưa hoàn thiện nên sự tự tin vào khả năng của mình vẫn chưa cao, dễ dẫn đến tâm lý thờ ơ hoặc đánh giá thấp vai trò của mình trong triển vọng thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Trung Quốc
Thứ ba, việc học tập ở trường Đại học và việc nghiên cứu cũng như bổ sung thêm kiến thức nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học,… ; tham gia vào các phong trào, câu lạc bộ; làm thêm để nâng cao kinh nghiệm và đóng góp cho chi tiêu cá nhân đã chiếm lượng thời gian khá lớn của sinh viên Đó cũng là lý do sinh viên chưa quan tâm đến vai trò của mình trong việc tham gia vào các vấn đề thúc đẩy quan hệ đối ngoại của đất nước
Tóm lại, với nhận thức còn hạn chế, thái độ chưa thật sự hợp lý cùng với một số yếu tố khách quan tác động nên mức độ tin tưởng về tầm quan trọng của sinh viên trong việc thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Trung Quốc còn thấp
1.6.4 Giả thuyết 4: Công tác tuyên truyền của Nhà nước về quan hệ Việt Trung (trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội và vấn đề biển đảo) hiện nay là hiệu quả
Nhóm cho rằng hoạt động tuyên truyền của Nhà nước về vấn đề biển đảo trong quan hệ Việt Trung hiện nay là hiệu quả qua việc xem xét những chính sách sau:
Trang 38Thứ nhất, việc cung cấp kiến thức về vấn đề biển đảo qua các buổi học chính trị đầu năm ở các trường Đại học hiện nay được duy trì đều đặn Các buổi học đều có thông tin đầy đủ và tổ chức đánh giá sinh viên, cho sinh viên viết bài thu hoạch sau mỗi đợt học tập lý luận chính trị
Thứ hai, nguồn thông tin đó được cung cấp trên các phương tiện truyền thông như báo đài, các website đại diện cho cơ quan ngôn luận Nhà nước,… thực sự phong phú và hiệu quả Về lĩnh vực báo chí, những thông tin về Trung Quốc, quan hệ Việt Trung trên báo Tuổi trẻ, Thanh niên,… vẫn cập nhật và thông tin đến người dân kịp thời Về lĩnh vực truyền hình, thông qua các chương trình thời sự, điểm tin trong nước, quốc tế, tin tức 24h, sự kiện trong tuần,… các thông tin về quan hệ Việt Trung cũng nhanh chóng được thông tin đến người xem và nghe đài Về mạng Internet, các trang báo mạng như tuoitreonline, vietnamnet, tapchicongsan,… cũng góp phần tích cực trong công tác tuyên truyền
Thứ ba, việc tổ chức những buổi gặp gỡ, hội thảo chuyên đề về quan hệ Việt -Trung, vấn đề biển đảo,… tại ĐHQG TP.HCM và một số cơ quan khác cũng thu hút đông đảo sự quan tâm của sinh viên
Những công tác tuyên truyền như giáo dục tư tưởng chính trị, các buổi học chính trị đầu năm cho sinh viên, thông tin của Đảng và Nhà nước trên các phương tiện truyền thông và những buổi hội thảo, gặp gỡ của các chuyên gia với sinh viên là cơ sở kết luận về tính hiệu quả của Nhà nước trong công tác tuyên truyền về vấn đề biển đảo
1.6.5 Giả thuyết 5: Sinh viên nhận định rằng Trung Quốc là đối tác toàn diện, lâu dài và đáng tin cậy của Việt Nam
Nhận định của sinh viên về đối tác Trung Quốc được xác lập dựa vào những hiểu biết căn bản của sinh viên về Trung Quốc, thể hiện qua những luận điểm sau:
Thứ nhất, trải qua chiều dài lịch sử, hai nước đã có những mối quan hệ gắn
bó dẫn đến sự giao thoa văn hóa, tương đồng về lịch sử Mối quan hệ gắn bó
Trang 39này góp phần làm nảy sinh những ý niệm tốt đẹp, tin tưởng rằng Trung Quốc rất thích hợp với vai trò là đối tác lâu dài, toàn diện của Việt Nam
Thứ hai, Việt Nam và Trung Quốc là hai bộ phận của hệ thống xã hội chủ nghĩa trên toàn thế giới, có cùng một hệ thống lý luận xây dựng chế độ quốc gia Mức độ hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc được duy trì trong mối quan hệ anh em xã hội chủ nghĩa, đặc biệt trong thời kỳ Liên Xô sụp đổ Đây là minh chứng rõ ràng cho khả năng Trung Quốc sẽ là đối tác tin cậy lâu dài của Việt Nam
Thứ ba, hai nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao khá sớm từ ngày 18/01/1950, tính đến nay đã hơn 60 năm Hai nước cũng hợp tác toàn diện trên nhiều lĩnh vực Qua đó, Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết nhiều cam kết, thỏa thuận Mối quan hệ cũng thường xuyên được củng cố, đặc biệt là qua các cuộc gặp gỡ và trao đổi thường kì Đây là lý do khá thuyết phục để tin tưởng rằng Trung Quốc thực sự là đối tác tin cậy và lâu dài của Việt Nam
Trang 40CHƯƠNG II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan về quan hệ Việt - Trung
Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, hai đất nước “núi liền núi, sông liền sông” từ khi bắt đầu thiết lập quan hệ (18/1/1950) cho đến nay đã được hơn 60 năm Mối quan hệ này khi trầm khi bổng, khi nóng khi lạnh nhưng nhìn chung vẫn tồn tại bền vững và không ngừng phát triển hơn nữa Đặc biệt là từ khi bình thường hóa quan hệ năm 1991 đến thời điểm hiện tại, mối quan hệ láng giềng hợp tác hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc đang trên đà phát triển nhanh chóng, sâu rộng trên nhiều lĩnh vực và đã gặt hái được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho hai quốc gia, hai dân tộc
2.1.1 Quan hệ chính trị
Hai nước nhất trí xây dựng khuôn khổ mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện theo phương châm 16 chữ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần 4 tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”
Lãnh đạo cấp cao hai nước duy trì đều đặn các chuyến thăm chính thức và gặp gỡ bên lề các hội nghị quốc tế. 20
Hai nước tích cực đẩy mạnh và tăng cường các hoạt động hợp tác, giao lưu, trao đổi giữa hai Đảng, các tỉnh biên giới cũng như thắt chặt tình hữu nghị giữa thế hệ trẻ hai bên
Hai bên tích cực trao đổi, phối hợp lập trường trên nhiều vấn đề quốc tế và khu vực, đặc biệt là kể từ khi Việt Nam trở thành Ủy viên không thường trực Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc.21