Có thể nói, đề tài “Quá trình xác lập và khai thác chủ quyền của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trên vùng biển Tây Nam bộ từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX ” đi đúng với yêu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3PHẦN DẪN LUẬN 03
1 Lý do chọn đề tài 03
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 07
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
4 Phương pháp nghiên cứu 12
5 Đóng góp của đề tài 13
6 Bố cục của đề tài 14
PHẦN NỘI DUNG 16
Chương 1: Khái quát chung về vùng biển Tây Nam bộ 16
1.1 Vị trí địa lý vùng biển Tây Nam bộ 16
1.2 Địa hình, đặc điểm khí hậu hải văn 22
1.2.1 Địa hình 22
1.2.2 Đặc điểm khí hậu và hải văn 24
1.2.2.1 Đặc điểm khí hậu 24
1.2.2.2 Đặc điểm hải văn 25
1.3 Tài nguyên vùng biển Tây Nam bộ 27
1.4 Tầm quan trọng của vùng biển Tây Nam bộ đối với việc đảm bảo an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế xã hội Việt Nam 34
Chương 2: Quá trình xác lập chủ quyền của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trên vùng biển Tây Nam bộ (từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX) 40 2.1 Nhận thức của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn đối với việc xác lập chủ quyền trên vùng biển Tây Nam bộ 40
2.2 Các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn xác lập chủ quyền của Việt Nam trên vùng biển Tây Nam bộ (từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX) 43
2.2.1 Dưới thời các chúa Nguyễn (thế kỷ XVIII) 43
2.2.1.1 Họ Mạc và công cuộc khai phá vùng Hà Tiên 43
2.2.1.2 Chúa Nguyễn thụ đắc vùng biển Hà Tiên từ họ Mạc 47
2.2.1.3 Chúa Nguyễn tổ chức, bảo vệ lãnh thổ - lãnh hải Tây Nam bộ 50
2.2.2 Dưới thời các vua Nguyễn (nửa đầu thế kỷ XIX) 63
2.2.2.1 Tiếp tục xác lập và củng cố đơn vị hành chính nhằm quản lý vùng biển Tây Nam bộ 63
2.2.2.2 Hoạt động bảo vệ chủ quyền vùng biển Tây Nam bộ của các vua nhà Nguyễn 73
Chương 3: Tổ chức khai thác vùng biển Tây Nam bộ dưới thời các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn 94
3.1 Hoạt động khai thác vùng biển Tây Nam bộ dưới thời các chúa Nguyễn 94
Trang 43.1.1 Khai thác nguồn lợi sinh vật vùng biển Tây Nam bộ 94
3.1.2 Khai thác nguồn tài nguyên trên các đảo 96
3.1.3 Các thương cảng và hoạt động thương mại đường biển 99
3.1.4 Khai thác nguồn tài nguyên ven biển 110
3.2 Hoạt động khai thác vùng biển Tây Nam bộ dưới thời các vua nhà Nguyễn (1802-1858) 111
3.2.1 Chính sách của nhà Nguyễn đối với việc khai thác tài nguyên biển đảo Tây Nam bộ 111
3.2.2 Các hoạt động khai thác tài nguyên vùng biển Tây Nam bộ 116
3.2.2.1 Khai thác nguồn lợi sinh vật vùng biển Tây Nam bộ 116
3.2.2.2 Khai thác nguồn tài nguyên trên các đảo 119
3.2.2.3 Các thương cảng và hoạt động thương mại đường biển 124
3.2.2.4 Khai thác nguồn tài nguyên vùng ven biển 130
Kết luận 135
Chú giải 142
Tài liệu tham khảo 155
Phụ lục 163
Phụ lục 1: Các bảng số liệu 164
Phụ lục 2: Hình ảnh phần dẫn luận 168
Phụ lục 3: Hình ảnh chương 1 170
Phục lục 4: Hình ảnh chương 2 173
Phục lục 5: Hình ảnh chương 3 176
Trang 5lồ góp phần bảo vệ không khí trong lành Vì vậy, trong lịch sử hình thành và phát triển của loài người, việc chiếm lĩnh sức mạnh biển cả luôn là mục tiêu hàng đầu của nhiều cường quốc trên thế giới như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Nga, Mỹ
và gần đây là Trung Quốc
biển đảo khá đa dạng Vùng biển Việt Nam có hơn 3.000 đảo lớn nhỏ với diện tích
những đảo nổi tiếng về tài nguyên giàu, đẹp và có vị trí chiến lược như Bạch Long
Vĩ, Phú Quốc, Thổ Chu (Châu), Côn Sơn, Cồn Cỏ, Phú Quý, Cát Bà, Trường Sa và Hoàng Sa Đường bờ biển Việt Nam dài với 90 cảng biển, 48 vũng vịnh và trên 112 cửa sông, cửa lạch đổ ra biển [67] Thêm vào đó, vùng biển và ven biển nước ta nằm án ngữ trên các tuyến hàng hải huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương
và Thái Bình Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực [xem hình 1] Điều này có ý nghĩa đặc biệt cho sự phát triển kinh tế-xã hội quốc gia trong thế kỷ XXI – thế kỷ của biển và đại dương - khi tất cả các nước muốn phát triển đều hướng về biển cả
Kinh tế biển và vùng ven biển ngày càng chiếm một tỷ trọng lớn trong GDP các nước trên thế giới Riêng Việt Nam, những năm qua, kinh tế biển có nhiều đóng góp cho sự phát triển của đất nước Tại Hội nghị lần thứ 4 diễn ra ngày 09/02/2007, Ban chấp hành Trung ương khóa X ban hành Nghị định số 09-NQ/TW về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, Đảng và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam xác định rõ mục tiêu tổng quát đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta trở
Trang 6thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cho đất nước giàu mạnh Kinh tế trên biển và ven biển nước ta đến năm 2020 sẽ đóng góp khoảng 53-55% tổng GDP của cả nước
Vì tầm quan trọng của biển đảo đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, việc nghiên cứu khoa học về biển và hải đảo càng trở nên cấp thiết Những nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn, nhất là nghiên cứu lịch sử xác lập chủ quyền và khai thác những vùng biển đảo Việt Nam, hiện nay, thiếu và chưa được quan tâm đúng mức (ngoại trừ hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa) Có thể nói, đề tài “Quá trình xác lập và khai thác chủ quyền của các
chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trên vùng biển Tây Nam bộ (từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX )” đi đúng với yêu cầu thực tiễn, đáp ứng những mảng thiếu
của lịch sử dân tộc, hướng đến việc cung cấp tri thức, phục vụ nhu cầu tìm hiểu của
xã hội về lĩnh vực này Đây là lý do thứ nhất tôi quyết định chọn đề tài này làm luận văn tốt nghiệp cao học
Vùng Nam bộ được sáp nhập vào Việt Nam hơn 300 năm trước Năm 1623, chúa Nguyễn cho thành lập hai trạm thu thuế Prey Nokor và Kas Kobey trên vùng đất Thủy Chân Lạp (thuộc Nam bộ ngày nay) Năm 1698, chúa Nguyễn sai Nguyễn
Hữu Cảnh vào Nam kinh lược Nguyễn Hữu Cảnh “lấy đất Nông Nại làm phủ Gia
Định, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, mỗi dinh đặt chức Lưu thủ, Cai bộ
và Ký lục để cai trị” [19, tr 77] Năm 1708, Mạc Cửu dâng vùng đất và biển đảo Hà
Tiên (từ mũi Cà Mau đến Hà Tiên) cho chúa Nguyễn Chúa Nguyễn chấp nhận và cho Mạc Cửu làm Tổng trấn Hà Tiên Đó là một chính sách khôn ngoan của cả Mạc Cửu và chính quyền Đàng Trong Năm 1757, chúa Nguyễn cho lập các đạo Đông Khẩu, Tân Châu, Châu Đốc, Kiên Giang và Long Xuyên (Cà Mau) Thời điểm này, trên danh nghĩa, toàn vùng đất Nam bộ ngày nay đặt dưới sự quản lý của chúa Nguyễn Công cuộc tiến về phía Nam của dân tộc Việt hàng trăm năm cơ bản hoàn thành về mặt chính trị Cùng thời điểm với từng vùng đất liền được sáp nhập vào
Trang 7lãnh thổ Việt Nam, các vùng biển, đảo gần và xa bờ cũng được nhân dân và quân đội các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn vươn ra chiếm lĩnh, xác lập, khai thác
và bảo vệ chủ quyền
Lịch sử hàng trăm năm xác lập và khai thác vùng Nam bộ đã được nghiên cứu nhiều trên vùng lục địa Những nghiên cứu sâu, rộng về vùng biển đảo còn hạn chế về số lượng và chất lượng Ít người biết tại thời điểm xác lập chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, các chúa Nguyễn thành lập đội Bắc Hải, xây dựng đồn trú ở đảo Phú Quốc nhằm khẳng định chủ quyền của chính quyền Đàng Trong Trong tác phẩm Phủ biên tạp lục (gồm 6 quyển), tác giả Lê Quý Đôn (1726 -
1784) viết: “Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải,…cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc
Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản” [17, tr 154-155]
Lê Quý Đôn cung cấp thêm đội Bắc Hải “không định bao nhiêu suất, hoặc người
thôn Tư Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò” [17, tr 154] Đại Nam thực lục
có những ghi chép tương tự
Từ chúa Nguyễn đến vương triều Nguyễn, việc thành lập đơn vị hành chính quản lý, chống giặc ngoại xâm và trấn áp cướp biển trên vùng biển đảo Tây Nam được chú trọng và tiến hành liên tục Sách Đại Nam thực lục ghi sự kiện năm 1820:
“Tháng 1, lấy Cai đội Lê Văn Ý làm Thủ ngự sở Phú Quốc Sai mộ lính lập 10 đội ở
thủ sở, mỗi đội 50 người, cho mỗi đội đều làm thuyền lớn thuyền nhỏ 3 chiếc, nhà nước cấp cho khí giới, miễn cho thuế thân và tạp dịch để sai đi tuần biển” [53, tr
39] Theo Đại Nam thực lục, tháng 6/1822, Minh Mạng sai đội trưởng đội Phú Cường Ngô Văn Đức và Nguyễn Văn Sương đem binh đi tuần bắt giặc Chà Và (Java, Gia Va) gây rối ở vùng biển Hà Tiên
Ngoài biển Hà Tiên thường có giặc biển Chà Và cướp bóc người buôn Trấn thần nhiều lần phái biền binh dò bắt, ít khi bắt được Vừa viên thủ ngự ở Phú Quốc, nghe nói giặc đóng ở biển, sai bọn thứ đội trưởng đội Phú Cường Ngô Văn Đức và Nguyễn Văn Sương đem binh đi tuần bắt Đức thác bệnh, Sương đi một mình, gặp giặc giao chiến chém được 3 đầu, lấy được một chiếc thuyền Người đánh cá là Đặng Văn Từ cũng
Trang 8đem thuyền đánh cá ra tiếp ứng, chém được 4 đầu, bắt sống được 5 tên
Dư đảng giặc chạy đến bờ biển nước Chân Lạp, lại bị phiên dân bắt nộp Thành thần Gia Định đem việc tâu lên, và xin đặc cách thưởng phạt để tỏ khuyên răn Vua đặc cách cho Nguyễn Văn Sương chức cai đội; đội binh
là Nguyễn Hiếu và Hoàng Minh xông lên giết giặc, được chức đội trưởng Thưởng cho Đặng Văn Từ 200 quan tiền, cho phiên dân 50 quan Ngô Văn Đức dùng dằng rụt sợ phải chém để nêu gương [54, tr 216] Trong suốt một thế kỷ rưỡi (từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX), bên cạnh hoạt động của triều đình thì nhân dân vùng Tây Nam bộ đã khai thác nguồn tài nguyên biển đảo Gắn liền với đời sống vật chất, theo độ dày thời gian, biển đảo đi vào đời sống tinh thần con người, hình thành những nét độc đáo trong văn hóa của cộng đồng ngư dân Tiếc thay, những năm tháng khó khăn mà hào hùng của ông cha lại chưa có một công trình khoa học nào chọn làm đề tài nghiên cứu chính Lý do
thứ hai để tôi chọn đề tài “Quá trình xác lập và khai thác chủ quyền của chúa
Nguyễn và vương triều Nguyễn trên vùng biển Tây Nam bộ (từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX)” là nhằm tái dựng lại bức tranh sống động, bổ khuyết cho những
vấn đề nghiên cứu về Nam bộ Thiết nghĩ, đó cũng là hành động “ôn cố tri tân” của
một người theo học chuyên ngành lịch sử Việt Nam
Nhắc tới Nam bộ là phải nhắc tới các chúa Nguyễn và vua Nguyễn bởi sợi dây liên kết giữa vùng đất này với việc khôi phục vương quyền của họ Nguyễn Đây là những vấn đề lịch sử luôn nhận được nhiều ý kiến trái chiều của các học giả, nhà
nghiên cứu Năm 1802, Gia Long“nghĩ Gia Định là đất dấy nghiệp, từ khi dấy quân
tới nay, binh lương đều lấy ở đấy, một phương các ngươi riêng chịu nặng nề đã lâu Vậy cho tha giảm thuế lệ theo thứ bậc khác nhau [53, tr 537] Vùng đất, vùng biển
Nam bộ vừa là nơi cung cấp nhân vật lực vừa là nơi ẩn trốn an toàn trong quá trình phục hưng vương quyền cho dòng họ của Nguyễn Ánh
Khác với nhiều ý kiến trước đây rằng người Việt Nam nhạt với biển hay thậm chí là quay lưng lại với biển, thực tế vấn đề an ninh các vùng biển đảo luôn được tầng lớp cầm quyền và nhân dân thời này quan tâm Minh Mạng là vị vua tiêu
biểu luôn xem trọng các vùng biển nước ta Ông nói với bộ Binh: “…những nơi ven
biển xung yếu như Thuận An, Tư Dung…không nơi nào không xây pháo đài, lợi
Trang 9dụng địa thế hiểm trở của sông núi để xây đắp công sự và sắm sửa hỏa pháp Tây dương để phòng bất trắc, quả thật là trong thời bình phải nghĩ đến thời loạn, việc
đó không thể lơ là được” [18, tr 4] Vua Minh Mệnh cũng khẳng định: “…nay trẫm đóng tàu bọc đồng, muốn lợi dụng những nơi xung yếu ven biển để xây dựng nhà máy, cất giữ những con tàu đó hầu lợi cho việc sử dụng khi cần” [18, tr 4]
Trong suốt thời kỳ trị vì, vua Minh Mạng thiết lập nhiều đồn trú để trấn giữ, trấn áp cướp biển nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia trên vùng biển Tây Nam bộ Năm 1823, khi nhận được tin của quan Khâm sứ từ Xiêm tâu về việc giặc Bồ Đà thường lén lút ra vào biển Hà Tiên, quấy rối dân trên đảo, đón cướp thuyền buôn
qua lại, Minh Mạng ban chỉ “…cho quan Tổng trấn Gia Định, chọn phái một viên
Chánh phó Vệ úy hoặc quản cơ làm việc giỏi, liệu cấp cho 1,2 trăm tên biền binh của Gia Định đến hải phận Hà Tiên, đi tuần thám dẹp giặc, cốt khiến cho bọn man
di ở ngoài biển phải lặng im” [61, tr 680] Vào năm 1828, “giặc biển Chà Và nổi lên ở hải phận Hà Tiên Cai đội cai quản các đội Phú Cường sở Phú Quốc là Nguyễn Văn Sương đem binh dân đuổi bắt, giết hết cả bọn Việc tâu lên, vua rất khen thưởng cho Sương hai thứ ký lục và 10 lạng bạc, binh dân đều được thưởng tiền theo thứ bậc” [54, tr 784] Vì vậy, đề tài “Quá trình xác lập và khai thác chủ quyền của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trên vùng biển Tây Nam bộ (từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX)” sẽ giúp mọi người hiểu rõ hơn về tư duy và
những biện pháp mà các chúa Nguyễn, vua Nguyễn đã áp dụng nhằm đảm bảo an ninh vùng biển đảo phía Tây Nam Đây là lý do thứ ba để tác giả chọn đề tài này làm luận văn tốt nghiệp cao học
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Đề tài “Quá trình xác lập và khai thác chủ quyền của các chúa Nguyễn và
vương triều Nguyễn trên vùng biển Tây Nam bộ (từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX )” là đề tài thuộc mảng lịch sử nhưng có tính liên ngành với nhiều lĩnh vực
khác như địa lý, văn hóa và kinh tế Trong khi tài liệu về lĩnh vực địa lý, văn hóa khá phong phú thì phần nghiên cứu lịch sử vùng biển này còn khiêm tốn
Trang 10Ở lĩnh vực nghiên cứu địa lý tự nhiên, Lê Bá Thảo có những nghiên cứu giá
trị cao Tác giả viết tác phẩm Việt Nam - Lãnh thổ và các vùng địa lý (2002) cung cấp những thông tin cơ bản nhất về không gian địa lý vùng nghiên cứu Gần đây
nhất là bộ nghiên cứu về biển Đông gồm 4 tập do Viện Khoa học và Công nghệ tiến
hành, cụ thể: Lê Đức Tố (chủ biên (cb), 2009), tập I: Khái quát về biển Đông, Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội; Phạm Văn Ninh (cb, 2009), tập II: Khí
tượng thủy văn động lực biển; Mai Thanh Tân (cb), tập III: Địa chất - Địa vật lý biển; Đặng Ngọc Thanh (cb, 2009), tập IV: Sinh vật và sinh thái biển và Trần Đức
Thạnh (cb, 2008), Vũng vịnh ven bờ biển Việt Nam và tiềm năng sử dụng, Nxb
Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội Trong bộ sách này, nhóm tác giả cung cấp những tri thức khoa học có giá trị cao về vùng biển Tây Nam bộ Nhà nghiên
cứu Nguyễn Thanh Lợi có bài viết Hải đảo vùng Tây Nam bộ đăng trên tạp chí
Nghiên cứu và Phát triển số 4/2009 Bài viết mô tả cụ thể từng cụm đảo thuộc tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau Địa chí của các tỉnh ven biển Tây Nam bộ như Địa chí Minh Hải, Kiên Giang, Địa chí Cà Mau…có phần viết riêng về vùng biển của mỗi
tỉnh Năm 2012, Trần Đức Thạnh chủ biên quyển Biển đảo Việt Nam - Tài nguyên,
vị thế và những kỳ quan địa chất, sinh thái tiêu biểu (Nxb Khoa học Tự nhiên và
Công nghệ) với những phân tích sâu sắc về vị thế tài nguyên các vùng biển Việt Nam nói chung và Tây Nam bộ (trong vịnh Thái Lan) nói riêng
Ở mảng lịch sử, Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn là quyển sách đầu tiên của
Việt Nam còn giữ được đến nay có những ghi chép về những hoạt động nhằm xác lập và bảo vệ chủ quyền của các chúa Nguyễn đối với vùng biển Tây Nam bộ Bước
sang thời nhà Nguyễn, các sách như Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam thực lục
chính biên, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Quốc triều chính biên toát yếu, Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam liệt truyện…có ít nhiều sự kiện liên quan đến vùng
biển đảo này
Tác phẩm Gia Định thành thông chí (1820) của tác giả Trịnh Hoài Đức là tác
phẩm có nhiều ghi chép về vùng biển Tây Nam bộ: nguồn tài nguyên và hoạt động khai thác của ngư dân vùng ven biển Một số người nước ngoài trong thời kỳ này
Trang 11cũng đã viết về vùng Nam bộ và biển Tây Nam bộ như Hamilton Alexander (1930),
A new account of the East Indies, 2 volumes, London, the Argonau Press, Báo cáo
của J.Crawfurd năm 1822 trong A.lamb The mandarin wad to old Hue, Edinburh năm 1970; Nam phiêu ký 1794 của Kondo Morishéga, B.E.F.E.O xuất bản năm 1933; Chaigneau với tác phẩm Ghi chép về xứ Nam Kỳ viết năm 1820…Một số
được giới thiệu tại Việt Nam nhưng hầu hết là chưa xuất bản tại nước ta
Dưới thời Pháp thuộc, vùng Tây Nam bộ nhận được nhiều sự quan tâm của
các nhà nghiên cứu Tác phẩm Tiểu giáo trình địa lý Nam kỳ của Trương Vĩnh Ký
(1997, Nguyễn Đình Đầu dịch, Nxb Trẻ) cung cấp nhiều thông tin quan trọng về hệ thống hải khẩu Nam bộ Một số tác phẩm khác như Publications De Societé des
Étudies Indo - Chinoises, Géographie: Physique Économique et Historique,
Monographie de la province D’Hà-tiên, SaiGon Imprimerie L.Ménard, 1901;
J.Boualt, Géographie de L’indochine (Tonkin – Annam - Cochinchine - Cambodge
& Laos, III, La Cochinchine, Imprimie d’extréme orient – Hanoi - Haiphong
E1diteur, 1930,…Điều đặt biệt, những bản đồ trong các tác phẩm này có giá trị lớn
về mặt tư liệu lịch sử [xem hình 2 và hình 3]
Năm 1970, tạp san Sử Địa số 19 - 20 có loạt bài về Hà Tiên của Hãn Nguyên, Sơn Nam,…với nhiều góc nhìn và tư liệu quý Sau ngày đất nước được thống nhất, vùng đất và vùng biển Nam bộ thu hút sự quan tâm lớn của các nhà
nghiên cứu, nhà sử học Tiêu biểu trong số đó là Sơn Nam với tác phẩm như Lịch sử
khẩn hoang miền Nam (1997), Nxb Trẻ, Tp.Hồ Chí Minh; Huỳnh Lứa (1987), Lịch
sử khai phá vùng đất Nam Bộ, Nxb Tp Hồ Chí Minh; Trương Minh Đạt (2001), Nhận thức mới về đất Hà Tiên: khảo luận, đính chính, tư liệu, Nxb Trẻ & Tạp chí
Xưa và Nay, Tp.HCM; Thái Văn Long (cb) (2001), Lịch sử và địa lý Cà Mau, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Đình Tư (2008), Từ điển địa danh hành chính
Nam bộ, Nxb Chính trị Quốc gia; Trần Thanh Phương (1985), Minh Hải địa chí,
Nxb Mũi Cà Mau; Nguyễn Đình Đầu (1994), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn Hà
Tiên (Kiên Giang, Minh Hải), NXb Thành phố Hồ Chí Minh…
Trang 12Về hoạt động khai thác vùng biển Tây Nam bộ của người Việt, chủ đề có khá nhiều công trình nghiên cứu Trong những công trình nghiên cứu về triều Nguyễn, nhiều nghiên cứu đã phát hiện nhiều vấn đề như việc xây dựng cảng biển, hoạt động thương mại, khai thác nguồn tài nguyên biển đảo như nghiên cứu của Đỗ Bang,
Thành Thế Vỹ,…Tác giả Đỗ Bang với Thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn
(Nxb Thuận Hóa, 1997) thể hiện một cách nhìn mới về chính sách ngoại thương của nhà Nguyễn thời bấy giờ Theo tác giả, nhà Nguyễn chỉ hạn chế chứ không hoàn toàn đóng cửa nền kinh tế ngoại thương như những nhận định trước đó Tác giả
Thành Thế Vỹ với Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII, XVIII và đầu XIX (Nxb
Sử học, Hà Nội, 1961) tái dựng lại hoạt động ngoại thương Việt Nam trong hơn hai thế kỷ nhưng chưa có những nghiên cứu về vùng Tây Nam bộ PGS.TS Nguyễn
Thừa Hỷ, PGS.TS Đỗ Bang, Nguyễn Văn Đăng với Đô thị Việt Nam dưới thời
Nguyễn (Nxb Thuận Hóa, 2000)
Nhiều bài nghiên cứu hay như Nguyễn Văn Kim với Hệ thống buôn bán ở
biển Đông thế kỷ XVI- XVIII và vị trí của một số thương cảng Việt Nam (một cái nhìn từ điều kiện đia – nhân văn), tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1/2002, tr 45-52); Nam Bộ Việt Nam – Môi trường kinh tế biển và mối quan hệ với các quốc gia khu vực thế kỷ XVII – XVIII, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1/2006, tr 34-44); Đỗ Bang, Lịch sử ngoại thương của triều Nguyễn, Thực chất và hậu quả, số 6(289)/1996;
Dương Văn Huy, Quản lý ngoại thương của chính quyền Đàng Trong thế kỷ XVII -
XVIII, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 12/2007; Dương Văn Huy, Tiền tệ trong
hoạt động thương mại ở Đàng Trong Việt Nam thời kỳ các chúa Nguyễn, tạp chí
Nghiên cứu Đông Nam Á số 7-2008; Đặng Hoàng Giang (2008), Theo dấu đô thị cổ
Hà Tiên, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 10….Nghiên cứu về vùng đất, vùng
biển đảo này không thể thiếu nhà Hà Tiên học Trương Minh Đạt với Nhận thức mới
về đất Hà Tiên: khảo luận, đính chính, tư liệu (2001), Nxb Trẻ và Tạp chí Xưa và
Nay, Tp.HCM và Nghiên cứu Hà Tiên (2008), Nxb Trẻ
Các nhà nghiên cứu nước ngoài có nhiều công trình giá trị về vùng này, tiêu
biểu là Li Tana, Xứ Đàng Trong - Lịch sử kinh tế, xã hội Việt Nam thế kỷ XVII và
Trang 13XVIII (Nxb Trẻ, 1999) Đây là một học giả nước ngoài nổi tiếng có nhiều nghiên
cứu về kinh tế Việt Nam Tác phẩm giúp người nghiên cứu có cái nhìn mới hơn về kinh tế Đàng Trong thời bấy giờ Tại hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ nhất
(Hà Nội, 2002), Li Tana có bài viết Ngoại thương của Việt Nam thế kỷ XIX: Quan
hệ với Singapore Bài viết cung cấp rất nhiều số liệu quý về mối quan hệ ngoại
thương giữa Việt Nam và Singapore Đặc biệt, Li Tana and Paul A.Van Dyke
(2007) viết chung bài Canton, Cancao, and Cochinchina: New Data and New Light
on Eighteenth - Century Canton and the Nanyang trên tạp chí Chinese Southern
Diaspora Studies, Volume 1, 2007 cấp những tư liệu mới về thương mại ở cảng Hà Tiên suốt gần hai thế kỷ GS.TS Choi Byung Wook (người Hàn Quốc, trường Đại học Inha) viết 4 tác phẩm có liên quan trực tiếp đến thương mại Nam bộ: “Sự thay đổi của xã hội Việt Nam trong thế kỷ thứ XIX”: “Hoạt động ngoại thương của những thuyền quan Việt Nam ở Đông Nam Á vào nửa đầu thế kỷ XIX (1823- 1847)” (Journal of Asian Historical Studies No.70, 2000); Sự trỗi dậy của thương nhân ngoại thương Việt ở Miền Nam trong giai đoạn giữa thế kỷ XIX” (Journal of
Asian Historical Studies No.78, 2000); “Sự “phóng túng” của phụ nữ miền Nam
Việt Nam ở thế kỷ XIX và những hàm ý của nó” (The Southeast Asian Review Vol.13 No.1, 2003); “Hoạt động kinh tế của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử: từ làng
này là nguồn tài liệu tham khảo rất hữu ích cho việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam
Tác phẩm “Vùng đất Nam bộ dưới triều Minh Mạng” của ông đã được nhà xuất bản
Thế giới dịch và phát hành năm 2011 Công trình đem đến cho người đọc nhiều thông tin thú vị về vùng đất Nam bộ nói chung và Tây Nam bộ nói riêng
Có thể nói, số lượng các sách, bài viết, nghiên cứu lấy vùng biển Tây Nam
bộ với các lĩnh vực khác nhau làm đối tượng chính chưa nhiều Thêm vào đó các sách, bài nghiên cứu, bài viết vẫn tập trung chủ yếu vào quá trình khai mở ở khu vực nội địa mà chưa lấy vùng biển đảo Tây Nam bộ làm trọng tâm Nhưng chắc chắn, các tác phẩm trên là những nguồn sử liệu quý giúp cho tôi hoàn thành luận
Trang 14văn “Quá trình xác lập và khai thác chủ quyền của các chúa Nguyễn và vương triều
Nguyễn trên vùng biển Tây Nam bộ (từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX)”
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: đề tài lấy việc xác lập chủ quyền của các chúa Nguyễn và vương
triều Nguyễn; hoạt động khai thác tài nguyên vùng biển Tây Nam bộ của nhân dân
và chính quyền này từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX làm đối tượng nghiên cứu
Về không gian: không gian của đề tài sẽ là vùng biển đảo mà 2 tỉnh đồng
bằng sông Cửu Long là Kiên Giang, Cà Mau - một phần của vịnh Thái Lan - thuộc chủ quyền Việt Nam theo Hiệp định biển của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam - Vương quốc Thái Lan (ngày 26/7/1997) và Hiệp định về vùng nước lịch sử
Không gian vùng biển đảo Tây Nam bộ, hiện nay, còn có nhiều định nghĩa khác nhau Trong luận văn của mình, vùng biển Tây Nam bộ - một phần biển Đông-trước đây thường được gọi là biển Tây - vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam trong vịnh Thái Lan [xem hình 4]
Về thời gian: chọn mốc thời gian từ thế kỷ XVIII (tức khi Mạc Cửu dâng
đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn Phúc Chu) đến nửa đầu thế kỷ XIX (tức năm 1858 - khi liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng xâm lược nước ta) làm giới hạn thời gian của đề tài này
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài sử dụng hai phương pháp chính, đó là phương pháp lịch sử và phương pháp logic
Phương pháp lịch sử được dùng để tái hiện, phục dựng lại một mảng lịch sử Việt Nam trên một vùng lãnh thổ, vùng biển Tây Nam trong vịnh Thái Lan suốt chiều dài một thế kỷ rưỡi Tác giả sử dụng phương pháp logic để trên cơ sở phân tích những sự kiện, hoạt động trên tìm ra tầm quan trọng, sự khác biệt của quá trình xác lập và khai thác vùng biển này so với các khu vực khác thuộc Nam bộ
Trang 15Đây là đề tài khá mới Thêm vào đó, việc nghiên cứu các chủ đề xác lập chủ quyền và khai thác tài nguyên biển đảo Tây Nam bộ chưa nhiều nên tác giả sẽ dùng phương pháp điền dã để thu thập thêm các tài liệu có thể còn được giữ lại trong nhân dân Là một đề tài thuộc mảng lịch sử cổ trung, phải phân tích nhiều thông tin được ghi chép từ nhiều thế kỷ trước, tác giả sử dụng thêm các phương pháp so sánh, đối chiếu, tổng hợp ghi chép giữa các sách cổ để tìm ra thông tin chính xác nhất
5 Đóng góp của đề tài
Về mặt khoa học
Thu thập, tổng hợp và xây dựng hoàn chỉnh một tài liệu về quá trình xác lập chủ quyền và khai thác tài nguyên vùng biển đảo Tây Nam bộ trong một thế kỷ rưỡi Từ đó, tác giả xác định được:
- Tầm quan trọng của vùng biển Tây Nam bộ đối với công cuộc xác lập, khẳng định chủ quyền lãnh thổ - lãnh hải Việt Nam;
- Tác động của quá trình xác lập chủ quyền và khai thác tài nguyên vùng biển đảo Tây Nam bộ đối với vùng đất Nam bộ về mặt văn hóa, xã hội;
- Đặc điểm của quá trình xác lập chủ quyền và khai thác tài nguyên vùng biển đảo Tây Nam bộ
Đồng thời, đề tài hoàn thành sẽ góp phần đưa ra những luận điểm chứng minh rằng trong hơn một thế kỷ rưỡi này, chính quyền và người dân Việt Nam không thụ động trước biển mà ngược lại là luôn xem trọng biển Những điều này sẽ phần nào khỏa lấp một mảng trống trong nghiên cứu lịch sử vùng Nam bộ
Về mặt thực tiễn
Như đã khẳng định ngay trong phần lý do chọn đề tài, đề tài “Quá trình xác lập và khai thác chủ quyền của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trên vùng biển Tây Nam bộ (từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX)” đáp ứng nhu cầu tìm hiểu tri thức khoa học về biển đảo đang thiếu Đồng thời, đề tài cũng đi đúng vào hướng ưu tiên trong Kế hoạch Chiến lược KHCN ĐHQG - HCM 2011-2015 về hướng nghiên cứu biển đảo Đề tài được hoàn thành có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai yêu thích lĩnh vực này
Trang 166 Bố cục của đề tài
Đề tài ngoài phần Mở đầu và Kết luận gồm có 3 chương
Chương 1: Khái quát chung về vùng biển Tây Nam bộ
1.1 Vị trí địa lý vùng biển Tây Nam bộ
1.2 Địa hình, đặc điểm khí tượng hải văn
1.2.1 Địa hình
1.2.2 Đặc điểm khí hậu và hải văn
1.2.2.1 Đặc điểm khí hậu 1.2.2.2 Đặc điểm hải văn 1.3 Tài nguyên vùng biển Tây Nam bộ
1.4 Tầm quan trọng của vùng biển Tây Nam bộ đối với việc đảm bảo an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam
Chương 2: Quá trình xác lập chủ quyền của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trên vùng biển Tây Nam bộ (từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX)
2.1 Nhận thức của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn đối với việc xác lập chủ quyền trên vùng biển Tây Nam bộ
2.2 Các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn xác lập chủ quyền của Việt Nam trên vùng biển Tây Nam bộ (từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX)
2.2.1 Dưới thời các chúa Nguyễn (thế kỷ XVIII)
2.2.1.1 Họ Mạc và công cuộc khai phá vùng Hà Tiên 2.2.1.2 Chúa Nguyễn thụ đắc vùng biển Hà Tiên từ họ Mạc 2.2.1.3 Chúa Nguyễn tổ chức, bảo vệ lãnh thổ - lãnh hải Tây Nam bộ 2.2.2 Dưới thời các vua Nguyễn (nửa đầu thế kỷ XIX)
2.2.2.1 Tiếp tục xác lập và củng cố đơn vị hành chính nhằm quản lý vùng biển Tây Nam bộ
2.2.2.2 Hoạt động bảo vệ chủ quyền vùng biển Tây Nam bộ của các vua nhà Nguyễn
Trang 17Chương 3: Tổ chức khai thác vùng biển Tây Nam bộ dưới thời các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn
3.1 Hoạt động khai thác vùng biển Tây Nam bộ dưới thời các chúa Nguyễn 3.1.1 Khai thác nguồn lợi sinh vật vùng biển Tây Nam bộ
3.1.2 Khai thác nguồn tài nguyên trên các đảo
3.1.3 Các thương cảng và hoạt động thương mại đường biển
3.1.4 Khai thác nguồn tài nguyên ven biển
3.2 Hoạt động khai thác vùng biển Tây Nam bộ dưới thời các vua nhà Nguyễn (1802-1858)
3.2.1 Chính sách của nhà Nguyễn đối với việc khai thác tài nguyên biển đảo Tây Nam bộ
3.2.2 Các hoạt động khai thác tài nguyên vùng biển Tây Nam bộ
3.2.2.1 Khai thác nguồn lợi sinh vật vùng biển Tây Nam bộ 3.2.2.2 Khai thác nguồn tài nguyên trên các đảo
3.2.2.3 Các thương cảng và hoạt động thương mại đường biển 3.2.2.4 Khai thác nguồn tài nguyên vùng ven biển
Trang 18Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VÙNG BIỂN TÂY NAM BỘ 1.1 Vị trí địa lý vùng biển Tây Nam bộ
Vùng biển đảo Tây Nam thuộc chủ quyền Việt Nam gồm vùng biển tỉnh Kiên Giang và một phần vùng biển phía Tây của tỉnh Cà Mau, là một phần của vịnh
Thái Lan (The gulf of Thailand), nằm về phía đông nam của vịnh và phía Tây của đồng bằng sông Cửu Long (Mekong delta) Trong nhiều bản đồ cổ của phương Tây, vùng biển này được ghi bằng tiếng Anh với tên The gulf of Siam (vịnh Xiêm La)
Vịnh Thái Lan là vịnh nửa kín, bao quanh bởi bốn nước Việt Nam, Campuchia, Thái Lan và Malaysia Vịnh kéo dài từ mũi Cà Mau (tỉnh Cà Mau, Việt Nam) đến thành phố Kota Baru (Malsaysia) và thông ra biển Đông về phía đông
trung bình khoảng 60 và nơi sâu nhất là 80m [42, viii], [xem hình 1.1]
Hình 1.1 : Vịnh Thái Lan trong biển Đông (Nguồn: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, http://www.pvn.vn/)
Trang 19Bắc (cửa sông Ménam), cực Nam ở vào vĩ độ 5030 Bắc (Khota Baru) Vịnh có hình dáng như một hình thoi khá đều cạnh Đỉnh phía Bắc của vịnh là vùng lõm Bangkok
ở cửa sông Chao Phraya, gần Bangkok [22] Khu vực đề tài nghiên cứu có vị trí cụ thể như sau:
- Phía bắc đông bắc đến đông nam giáp hai tỉnh Kiên Giang và Cà Mau;
- Phía bắc đông bắc đến bắc tây bắc giáp hai tỉnh KamPot và Kam Pongthom của Campuchia;
- Phía bắc tây bắc, tây bắc, tây, tây nam, nam đến đông nam giáp vùng ngoài khơi vịnh Thái Lan
Hai tỉnh ven biển tiếp giáp với biển tây nam trong vịnh Thái Lan là tỉnh Kiên Giang và Cà Mau
bằng 13,1% diện tích vùng đồng bằng sông Cửu Long và bằng 1,58% diện tích cả nước [69] Tỉnh có 8 huyện và một thành phố (gồm thành phố Cà Mau, các huyện Thới Bình, U Minh, Trần Văn Thời, Cái Nước, Đầm Dơi, Ngọc Hiển, Năm Căn và Phú Tân) Dân số tỉnh là 1.200.000 người (2005) Mật độ dân số trung bình 230
người Hoa và một số dân tộc ít người khác [62] [xem hình 1.2] Vị trí địa lý tỉnh cụ thể như sau:
- Phía Bắc giáp tỉnh Kiên Giang
- Phía đông bắc giáp tỉnh Bạc Liêu
- Phía đông và đông nam giáp biển Đông
- Phía Tây giáp vịnh Thái Lan
Tỉnh Cà Mau có đường bờ biển dài 254km chiếm 7,8% chiều dài bờ biển cả nước Trong đó, vùng biển nằm trong vịnh Thái Lan có chiều dài 147km, vùng thềm
đảo gần bờ) Theo quy hoạch phát triển kinh tế của Việt Nam, biển đảo Cà Mau thuộc trọng tâm của vùng biển Mũi Dinh - Cà Mau và Cà Mau - Hà Tiên [15, tr
Trang 20124] Đây là cơ hội cho tỉnh phát triển trong tương lai Cà Mau có các đảo hòn
gọi là Giáng Hương, hòn Độc Lập, Poulo Obi (thời Pháp thuộc), hòn Vu (Đại Nam thực lục) Vị trí hòn cách mũi Cà Mau khoảng 15 km, nằm về phía tây nam thị trấn Năm Căn thuộc huyện Ngọc Hiển Đây thực chất là một quần đảo gồm 5 đảo nhỏ: hòn Khoai, hòn Sao, hòn Đồi Mồi, hòn Đá Lẻ, hòn Tương Trong đó, hòn Khoai cao nhất (318 m) trải dài theo hướng đông bắc - tây nam
Về địa hình, quần đảo này là đảo đá, đồi có nguồn tài nguyên rừng nguyên sinh phong phú với các loại gỗ quý, giá trị kinh tế cao Nhiều loại thảo dược được phát hiện Đặc biệt, hang Chùa (phía Tây đảo) có khe suối nước ngọt quanh năm Chính vì điều kiện thiên nhiên tốt, có khả năng sinh sống nên từ rất sớm, những cư dân ven bờ biển Hà Tiên - Cà Mau và thuyền buôn các nước thường đến đảo lấy nước ngọt và khai thác hải sản
Hòn Chuối (nhiều người giải thích rằng vì trên đảo có nhiều chuối sứ nên
gọi tên như vậy) nằm cách cửa biển sông Đốc 17 hải lý về phía tây, độ cao gần 170
m so với mặt nước biển Năm 2007, số dân trên đảo khoảng 200 người Đảo có nguồn tài nguyên rừng nguyên sinh
Hòn Bương hay còn gọi là hòn Buông Thực chất, đây là những khối đá
chồng lên nhau Hòn có nhiều cây bần biển
Hòn Đá Bạc thuộc huyện Trần Văn Thời, cách thành phố Cà Mau 50km
đường thủy, có diện tích khoảng 6,4 ha Cụm đảo gồm hòn Ngộ, hòn Trội và hòn
Đá Bạc, nằm chếch về phía tây nam bán đảo Cà Mau
Tỉnh Kiên Giang nằm ở phía tây nam Việt Nam [xem hình 1.3] Dân số tỉnh
Chăm và Khmer Tỉnh Kiên Giang có 14 đơn vị hành chính: thành phố Rạch Giá, thị xã Hà Tiên, huyện Phú Quốc, huyện Kiên Hải, huyện Kiên Lương, huyện Hòn
Trang 21Đất, huyện Tân Hiệp, huyện Châu Thành, huyện Gò Quao, huyện Giồng Riềng, huyện An Biên, huyện An Minh, huyện U Minh Thượng, huyện Vĩnh Thuận Vị trí địa lý tỉnh như sau:
- Phía Tây giáp vịnh Thái Lan (đường bờ biển dài 200km)
- Phía Nam giáp tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu;
- Phía Đông và đông nam giáp tỉnh Cần Thơ và tỉnh An Giang
- Phía Bắc giáp Campuchia (đường biên giới đất liền 56,8km)
Vùng biển của tỉnh rộng hơn 63.200 km², đường bờ biển dài 200km với hơn
100 hòn đảo lớn nhỏ Các đảo thuộc tỉnh Kiên Giang có thể chia thành 5 nhóm đảo chính là quần đảo Hải Tặc (còn gọi là quần đảo Hà Tiên), quần đảo Bà Lụa, quần đảo An Thới, quần đảo Nam Du, quần đảo Thổ Chu (Châu)
Quần đảo Hải Tặc (thuộc xã Tiên Hải, thị xã Hà Tiên) gồm 16 hòn đảo cách
bờ biển Hà Tiên 11 hải lý (1 hải lý =1,852 km) và cách đảo Phú Quốc 16 hải lý Tên gọi đảo xuất phát từ việc các nhóm hải tặc Triều Châu, Hải Nam (Trung Quốc) thường trú tại đảo để cướp thuyền buôn đi qua khu vực này Hòn lớn nhất quần đảo
là hòn Đốc, trên hòn có nhiều tre nên trong các sách cổ sử gọi là hòn Tre lớn Nguồn tài nguyên trên đảo gồm rừng, các loại gỗ quý và đất (có thể trồng trọt) Vùng nước xung quanh đảo có nhiều hải sản như cá, tôm, vích,…
lớn như Dê Lớn, Đội Trưởng, Sơn Tế, Nhum Tròn, Nhum Bà, Nhum Ông và nhiều đảo nhỏ như đảo Một, Lô Cốc, Đá Lửa, Heo, Dê, Nứa (Ngoa), Bơi Trương (Ngang),
Rễ Nhỏ, Rễ Lớn, Nhum Một, Nhum Hai, Nhum Ba, Bờ Đập, Ông Tiều, Nhum Giếng, Nhum Hà, Mâm Xôi, Sơ Rơ, Đầm, Vong, Chen, Lam (Ba Hòn Lò), Sơn Tế Nhỏ, Dừa, Dựng, Dứa…Trên quần đảo Bà Lụa có nhiều loại cây gỗ quý như gỗ huỳnh, lau táu, kiền kiền, bằng lăng,… Cây sơn được trồng trên nhiều đảo Nông sản có cà phê, dừa, chuối [22]
Quần đảo An Thới gồm khoảng 15 hòn đảo, nằm dọc theo hướng bắc nam,
gồm các hòn: Dâm, Dừa, Rọi, Thơm, Đụng (Vang), Buồm (Móng Tay), Gầm Ghì (Vông Ngang), Mây Rút Trong (Vông), Mây Rút Ngoài (Mây Rút), Dơi (Trang),
Trang 22Kim Quy, Tây, Tranh (Đá Bàn), Dãi Đá (Khô) (và hai đảo rất nhỏ nữa cùng có tên
là hòn Khô) Các đảo có người ở là hòn Thơm, hòn Rọi, hòn May Rút Ngoài Tổng
Thơm
Quần đảo Nam Du (hay còn gọi là Poulo Dama, Củ Tron – tên hòn đảo lớn
nhất) gồm 21 đảo, hòn: Củ Tron, Ngang, Mấu, Ông, Bờ Đập Lớn, Bờ Đập Nhỏ, Nồm Trong, Nồm Ngoài, Nồm Giữa, Lò Lớn, Lò Nhỏ, Bỏ Áo, Tre, Dâm, Đụng Lớn, Đụng Nhỏ, Nhàng, Hàn, Mốc, Dầu, Khô (4) Quần đảo thuộc địa bàn 2 xã An Sơn và Nam Du, huyện Kiên Hải Đây là nơi Gia Long từng ra ở trong thời gian xảy
ra cuộc chiến với nhà Tây Sơn
Quần đảo Thổ Chu (Châu): thuộc xã đảo Thổ Châu, thuộc huyện đảo Phú
Quốc tỉnh Kiên Giang, khoảng 8 đảo lớn nhỏ của quần đảo là các hòn: Thổ Chu, Hàng (Nhạn), Khô, Kèo Ngựa (Ile de Pie), Từ, Cao Cát, Mõ Quần đảo nằm cách mũi Cà Mau khoảng 157 km, cách đảo Phú Quốc 100 km về phía tây nam Trong
đó, Thổ Chu là đảo lớn nhất Quần đảo có tên gọi Mã Lai là Poulo Panjang nghĩa
là cù lao dài Quần đảo có nguồn tài nguyên lâm sản (rừng nguyên sinh với các loại
gỗ lớn và dược liệu), hải sản (là ngư trường lớn của tỉnh Cà Mau), có nguồn nước ngọt quanh năm và đa dạng sinh học cao (hệ thực vật trên bờ có ít nhất 200 loài và
99 loài san hô biển đã được xác định) Khoảng thế kỷ XVIII, theo những ghi chép trong Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, đảo đã có người sinh sống và khai thác nguồn tài nguyên Đây cũng chính là nơi Nguyễn Ánh trú ngụ đến 3 lần trong cuộc “tẩu quốc” Hòn Nhạn của quần đảo đã được chọn làm điểm chuẩn A1 của đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam
Số lượng đảo trong vùng biển này ít so với các vùng biển miền Trung và đặc
diện tích lớn, đủ điều kiện tự nhiên để con người sinh sống Hai huyện đảo trong vùng là Phú Quốc và Kiên Hải Huyện đảo Phú Quốc là huyện đảo thuộc nhóm đảo tiền tiêu biên giới Kiên Hải là huyện đảo thuộc nhóm các huyện đảo tiền tiêu
Trang 23Huyện đảo Phú Quốc gồm các đảo như Phú Quốc, Thổ Chu, quần đảo An
nhất ở phía Bắc là 27km, chỗ hẹp nhất ở phía Nam là 3km Phú Quốc cách thị xã Hà Tiên 46 km, cách Rạch Giá 115 km [25, tr 305]
Nam Du, hòn Tre, hòn Rái phân bố khá phân tán Địa hình các đảo khá nhỏ, tổng
nằm sát bờ biển và cửa sông thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở quân sự và quân cảng biển Địa hình bằng phẳng ở nửa phía Nam và Tây của đảo thuận lợi cho việc xây dựng sân bay” [25, tr 309]
Những ghi chép về vùng biển đảo Hà Tiên - Kiên Giang - Cà Mau trong Gia Định thành thông chí, Đại Nam thực lục đều ghi rõ vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
và nguồn tài nguyên thiên nhiên tương đồng với hiện trạng của vùng biển đảo này ngày hôm nay Điều này cho thấy, sự biến đổi về mặt điều kiện tự nhiên của vùng nghiên cứu, sau gần 300 năm, là không đáng kể
Đảo Trúc: ở huyện Kiên Giang, làm ngoại án hải cảng, chu vi 20 dặm,
hang động thâm u, sản xuất yến sào Nguyên xưa có dân ở, nay đã đi nơi khác…
Đảo Thổ Chu: đảo này làm một viễn án cho 2 huyện Kiên Giang và Long
Xuyên, có một tên nữa gọi là đảo Sạn Trục; chu vi độ 100 dặm, cây cối rườm rà, hang động u ảo, sản xuất yến sào, đồi mồi, ba ba, hải sâm, cũng
có nhân dân đấy…
Đảo Vu: ở trong biển thuộc huyện Long Xuyên, có tên nữa gọi là Ba tiêu
viên (vườn chuối); rộng ước vài mươi dặm, có suối treo, nước ngọt, 4 mùa không khô cạn, thuyền buôn các nước qua lại phải đậu ở đấy để lấy củi nước;…
Đảo Cổ Công: ở phía Tây huyện Hà Châu, phía Đông cảng Hương Úc,
chu vi 16 dặm; đá núi cao chọn, cây cối rập rợp, dưới có vùng sâu, ngoài
có bình chướng, ghe thuyền qua lại thường phải đậu nghỉ ở đấy…
Trang 24Đảo Cổ Cốt: ở phía Tây đảo Cổ Công, chu vi 50 dặm, cách đảo Giang
Khảm trong biển Đại đồng, thuộc địa đầu nước Xiêm,…
Biển: Đất Hà Tiên ở phía Tây tỉnh An Giang, long mạch địa thế chạy ra
giữa biển, lần qua hướng Nam có đảo Tiểu Thự đứng ngoài biển ngăn che sóng lớn mà bồi thành doi cát, có các đảo nhỏ đứng dăng la liệt Từ phía Tây lên phía Bắc qua phía Nam cửa biển Xiêm Trung gian chỗ biển
ấy có vùng rộng làm thành trì hiểm yếu cho tỉnh Hà Tiên Lại có cồn vực sâu khác nhau, có nhiều cá lớn, hải sâm, đồi mồi, hàu sò, tôm, cá cơm, hải cảnh và ốc tai voi….[41, tr 62-63]
1.2 Địa hình, đặc điểm khí hậu - hải văn
sò ốc rong rêu, tùy nơi mà có màu ôliu hay màu xanh, màu đỏ (màu đỏ chủ yếu do đất feralit ở trên bờ mang xuống) [48, tr 283-284], [xem hình 1.4 và hình 1.5 (phụ lục)]
Hình 1.4: Sơ đồ các bậc địa hình ở biển Đông [3, tr 45]
Trang 25hát triển thương mại [xem hình 1.6]
Đảo lớn nhất trong vùng là Phú Quốc Xét về mặt hình thái địa hình, đảo Phú Quốc có thể phân thành 3 vùng: vùng núi trung tâm gồm toàn bộ dãy núi Hàm Ninh
từ đường đẳng cao 50 m tới cao độ 552 m, chiếm 26,3% diện tích toàn đảo; vùng đồi núi ven biển chiếm 71,2% diện tích toàn đảo; vùng đồng bằng ven biển với độ cao từ 0-50 m, chiếm 2,5% diện tích toàn đảo [47, tr 89]
Bờ biển vùng Cà Mau - Rạch Giá - Hà Tiên bằng phẳng và không cao, có nhiều vụng được cấu tạo giữa những khối núi nhô ra vịnh [48, tr 283] Vùng đất ven biển không màu mỡ, có độ axit cao Vì vậy, những lớp cư dân người Việt đến đây không sống hoàn toàn bằng nông nghiệp mà kết hợp với khai thác tài nguyên lâm sản, đặc biệt là thủy hải sản và sử dụng điều kiện thuận lợi về mặt địa lý để xây dựng cảng biển và p
Hình 1.6: Đồng bằng Trung và Tây Nam bộ (không kể các đảo) [48, tr 256]
Vùng biển đảo Tây Nam thực chất là một trũng nội lục Kainozoi, chồng lên phía đông bắc là cấu trúc rìa lục địa tích cực MZ muộn Đà Lạt, phía Tây là đai tạo núi Indonoisini Mekong Srepok-Tây Nam Địa chất khu vực bán đảo Cà Mau, khu vực Hà Tiên, quần đảo Nam Du, đảo Phú Quốc (cùng quần đảo An Thới) có giá trị
kỳ quan, di sản chất [47, tr 87] [xem bảng 1.1]
Trong đó, Phú Quốc là đảo lớn nhất, được cấu tạo từ lục nguyên Mesozoi của hệ tầng Phú Quốc, các trầm tích Đệ Tứ của hệ tầng Long Toàn, hệ tầng Long
Trang 26Mỹ, hệ tầng Hậu Giang và trầm tích biển hiện đại [47, tr 87] Đảo có đa dạng chất cao về vật chất cấu tạo (đặc biệt có mặt đầy đủ trầm tích Đệ Tứ nguồn gốc biển), khoáng sản đi kèm (kaolin, larerit, sét gạch ngói, cát thủy tinh, cát xây dựng và cát kết), cấu tạo hình thái bờ đảo tạo nên các vũng vịnh nhỏ, với các dạng địa hình mài mòn (mũi nhô, đá sót, bãi tảng) và tích tụ (đặc biệt là bãi cát) độc đáo
1.2.2 Đặc điểm khí hậu và hải văn
1.2.2.1 Đặc điểm khí hậu
Vùng biển Tây Nam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình Hai loại gió chính là Đông Bắc và Tây Nam, có hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Mùa khô kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 hoặc 4 Tính chất gió mùa ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của vùng biển đảo Hà Tiên Bởi, dù là các cuộc chiến tranh hay hoạt động thương mại biển diễn ra tại vùng này đều chịu sự chi phối của gió mùa
Nhiệt độ trung bình của vùng biển Tây Nam tương đối cao hơn so với các vùng khác [xem bảng 1.2] Độ chênh lệch nhiệt giữa tháng cao nhất và thấp nhất là khá nhỏ Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các nghề như sản xuất muối, chế biến các sản phẩm từ thủy hải sản (làm nước mắm, tôm khô, cá khô),…
STT Khu vực ven biển Nhiệt độ TB Thấp nhất Cao nhất
Bảng 1.2: Nhiệt độ không khí các khu vực ven biển Việt Nam [63, tr 32] Theo
bảng 1.2, nhiệt độ trung bình của vùng biển từ Cà Mau đến Hà Tiên là 27,1% cao
Trang 271.2.2.2 Đặc điểm hải văn
- Về độ muối
Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Âu, độ muối trung bình của vịnh Thái Lan trong khoảng 31,5 ‰ đến 32,5‰ Chế độ muối trong năm của vịnh Thái Lan cũng giống như biển Đông thay đổi theo chu kỳ năm, gồm hai thời kỳ: độ muối của nước biển tăng cao gọi là mùa mặn; độ muối của nước biển thấp, gọi là mùa nhạt Độ mặn tại vùng biển Tây Nam thường kéo dài khoảng 6 tháng vào mùa khô (từ tháng
Trang 28Hình 1.8: Sơ đồ nhiệt độ trung bình nước biển tầng mặt [3, tr 99]
Tại các đảo trong vùng biển nghiên cứu, nhiệt độ cực đại tại Phú Quốc tương
Thổ Chu lại là nhật triều đều với tỷ số đặc trưng là 8,0 [3, tr 134]
So với các vùng biển khác, biên độ triều vùng biển này trong vịnh Thái Lan tương đối nhỏ, dao động từ 0,5 đến 1,0m; tại Cà Mau là 0,76m, Hà Tiên là 0,76m và
hòn Rái là 0,91m [3, tr 134] Chiều cao sóng của vùng ven bờ vịnh vào khoảng
2,5m đến 3m [xem bảng 1.3 và bảng 1.4]
- Về hải lưu
Đặc trưng hải lưu chủ yếu của vùng biển này là hải lưu nhỏ theo mùa và chịu tác động lớn bởi nước ngọt chảy từ các sông của các nước bao quanh vịnh Các con sông chính trong vịnh là Chao Phraya, sông Mekong và sông Tapi Riêng vùng biển
Trang 29thuộc chủ quyền của Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi hệ thống sông ngòi chằng chịt thuộc hai tỉnh Kiên Giang và Cà Mau như sông Ông Đốc, sông Bảy Hạp, sông Cửu Lớn, sông Bồ Đề, sông Gành Hào,… [47, tr 65], [xem hình 1.9 và 1.10]
Mặt khác, chế độ hải lưu của vùng biển Tây Nam bộ chịu ảnh hưởng bởi một trung tâm nước trồi nhỏ ở phía Tây Nam vịnh Khối nước này khá nóng và nhạt
1.11]
Hình 1.11: Sơ đồ các vùng nước trồi ở biển Đông [3, tr 153]
Đặc trưng thủy văn của lưu vực biển Đông khá phong phú, trong đó có các đại dương, song đặc biệt là sông ngòi [3, tr 62] Mũi Cà Mau giữ một vai trò đặc biệt, nó phân cách rõ rệt các đặc điểm thủy triều ở ven biển phía Tây và phía Đông của Nam bộ [ 49, tr 86]
1.3 Tài nguyên vùng biển Tây Nam bộ
Vùng biển, ven biển và hải đảo Tây Nam Việt Nam nằm trong vùng nghiên
một số loại như tài nguyên thủy hải sản, tài nguyên dầu khí, tài nguyên du lịch, vận tải biển và quan trọng nhất là nguồn tài nguyên vị thế
Cách đây hơn hai trăm năm, nguồn lợi thủy hải sản của vùng biển đảo này được ghi chép rõ ràng trong tài liệu, sách trong và ngoài nước Gia Định thành thông chí liệt kê những loại cá lớn, cá nhỏ, hải sâm, đồi mồi, các loại tôm,…Đại
Trang 30Nam nhất thống chí và Đại Nam thực lục cung cấp những thông tin tương tự Những ghi chép mang tính miêu tả và ước lượng trong các sách cổ được bổ sung đầy đủ bằng những công trình khoa học sau này
Cá biển là loại hải sản có trữ lượng lớn và giá trị cao So với các vùng biển như Đông Nam bộ, trữ lượng cá và khả năng khai thác của vùng biển Tây Nam thấp hơn nhiều [xem bảng 1.5] Vùng biển Kiên Giang với trữ lượng hơn 460.000 tấn thủy sản các loại, hằng năm cho phép khai thác trên 200.000 tấn [44]
Khu vực biển Trữ lượng (tấn) Khả năng khai thác (tấn)
478.689
510.000
256.092 289.998 425.952
223.075
230.000
Bảng 1.5: Trữ lượng và khả năng khai thác cá biển Việt Nam [46, tr 118] Theo
bảng 1.5, trữ lượng cá vùng biển Tây Nam bộ thấp nhất so với các vùng còn lại trong cả nước Vùng biển Đông Nam bộ là vùng có trữ lượng và khả năng khai thác
Khu vực biển Trữ lượng Tỷ lệ % Khả năng khai thác Tỷ lệ %
Trang 31Miền Trung 500.000 28,7 250.000 29,0
Bảng 1.6: Trữ lượng và khả năng khai thác cá nổi nhỏ ở vùng biển Việt Nam (tấn)
[46, tr 115] Bảng 1.6 cho thấy trữ lượng cá nổi của vùng biển Tây Nam bộ thấp nhất nước, chiếm 18,3% tổng trữ lượng cá nổi nhỏ ở Việt Nam
Khu vực biển Trữ lượng Tỷ lệ % Khả năng khai thác Tỷ lệ %
Bảng 1.7: Trữ lượng và khả năng khai thác cá đáy ở vùng biển Việt Nam (tấn) [Dẫn
lại 46, tr 116] Bảng 1.7 cho thấy trữ lượng và khả năng khai thác của vùng Tây Nam bộ cao thứ nhì so với các vùng biển còn lại của Việt Nam Trữ lượng cá đáy cao nhất là vùng biển Đông Nam bộ (384.819 tấn), thấp nhất là khu vực biển miền Trung (122.494 tấn)
Tôm biển là loài hải sản có giá trị cao và trữ lượng lớn tại vùng biển này Ngư trường đánh bắt tôm có thể chia thành hai vùng nhỏ, một phần của Đông Nam
bộ ở đồng bằng sông Cửu Long [xem bảng 1.8]
17.700 4.076
14.679 3.651
10.135 4.326
14.350 3.028
14.360 3.023
14.670 5.210
17.000 7.862
Bảng 1.8: Sản lượng tôm ở Minh Hải và Kiên Giang từ 1977-1984 (tấn) [46, tr 141]
Trang 32Vùng biển đảo Tây Nam bộ có khoảng 50 loài tôm, trong đó có 8 loài chỉ có tại đây; có chung với vịnh Bắc bộ 4 loài, với biển miền Trung 7 loài và với các vùng biển khác trong cả nước là 31 loài [46, tr 141] Vùng biển nghiên cứu có nhiều bãi tôm quan trọng Hai bãi tôm chính là bãi tôm Ông Đốc - hòn Chuối và bãi tôm Anh Đông - Nam Du [42] Bãi tôm Ông Đốc - hòn Chuối chạy suốt từ cửa Ông Trang đến cửa sông Đốc và từ tây nam - tây bắc hòn Chuối, tạo ra một khu vực khai thác rộng lớn cho vùng biển phía Tây tỉnh Cà Mau (một phần của tỉnh Minh Hải trước đây) Bãi tôm Anh Đông - Nam Du chạy từ tây nam quần đảo Nam Du đến đông nam An Thới và về phía tây bắc hòn Sơn Rái [46, tr 143] Khu vực đông nam mũi Cà Mau là ngư trường đánh bắt tôm của tỉnh Cà Mau Từ rất sớm, đây là nơi khai thác và chế biến tôm khô Đến nay, tôm khô Ông Đốc trở thành một thương hiệu quên thuộc đối với khách du lịch
Vùng biển này còn có 507 loài, 12 dạng rong biển Một số loại động vật quý như hải sâm, ba ba, đồi mồi, từng được khai thác dưới triều nhà Nguyễn và trở thành những đặc sản quan trọng của địa phương Tiềm năng khai thác diện tích mặt nước biển để nuôi trồng hải sản khá lớn Hệ thống rừng ven biển và trên các đảo có tài nguyên lâm sản và đa dạng sinh học độc đáo Đặc biệt, mật ong các rừng ven biển đã trở thành một thứ hàng hóa xuất khẩu có giá trị từ thế kỷ XVIII
Nguồn tài nguyên dầu khí đóng vai trò quan trọng trong việc vận hành và duy trì tốc độ phát triển kinh tế đối với một nước đang phát triển như Việt Nam Các bãi trầm tích quan trọng như bãi sông Hồng, bãi Cửu Long, bãi Nam Côn Sơn
và bãi Malay - Thổ Chu đang được khai thác [xem hình 1 12] Khu vực xung quanh hai quần đảo xa bờ thuộc chủ quyền Việt Nam cũng phát hiện tiềm năng khai thác dầu khí lớn là bãi Hoàng Sa và bãi Trường Sa Bể trầm tích Malay - Thổ Chủ trong vịnh Thái Lan phát hiện dầu và khí với trữ lượng lớn Về vị trí địa lý, phía Đông bãi
là vùng biển tây nam Việt Nam, phía đông bắc là vùng biển Campuchia, phía tây tắc
và Tây là vùng biển Thái Lan và phía tây nam là vùng biển Malaysia Thềm lục địa tây nam Việt Nam là vùng rìa đông bắc của bể Malay - Thổ Chu, kéo dài theo
Trang 33tổng diện tích vùng biển chung, bao gồm các lô từ 37 đến 46 và các lô 48/95, 50,
51, B, 52/97 Theo các số liệu đánh giá tiềm năng của đề án VITRA và các số liệu cập nhật gần đây, con số trữ lượng đã phát hiện và tiềm năng thu hồi dầu khí của vùng thềm lục địa này vào khoảng 380 triệu tấn quy dầu [67]
Trên và xung quanh các quần đảo trong vùng biển này có tài nguyên lâm sản
và thủy hải sản phong phú mà tiêu biểu nhất là vườn quốc gia Phú Quốc Nguồn tài nguyên này được ghi chép từ rất sớm Năm 1720, Hamilton Alexander - một người Tây đã từng đi vào vùng biển này - ghi nhận cụ thể
Có một vài hòn đảo nằm ngoài bờ biển Cambodia nhưng không có dân
cư sinh sống, bởi cướp biển….Chỉ có một hòn đảo duy nhất khoảng 3 dặm nằm phía Tây Hà Tiên, được gọi là Quadrol có điều kiện tốt cho dân
cư sinh sống Nó khoảng 3 dặm dài và 1 dặm ngang Gỗ và nước sạch rất nhiều, độ cao của đảo vừa phải với đất đen và màu mỡ, ngoại trừ dọc theo bờ biển phía Đông, đối mặt với Phonteamass (Hà Tiên) không có đất tốt Nó có những bãi cát đẹp và những thương cảng rất an toàn vào mùa mưa và mùa gió…
Khoảng 30 dặm theo phía Đông - đông nam Hà Tiên là nhánh phía Tây lối vào con sông Cambodia, thường được gọi là Bocca de Carangera Nơi nông nhất ở kênh trên đường đi vào chỉ sâu khoảng 4 sải Đường vào phía Bắc thì rộng hơn…
Ở giữa Hà Tiên và con sông (đường sông đi vào Cambodia) có một vài hòn đảo nhỏ không có dân cư sinh sống Pullo Panjing (Thổ Chu) là đảo lớn nhất, nó là một nhóm gồm tám đảo nhỏ với một cảng biển rất tốt…Pullo Ubi (Pollo Obi, Hòn Khoai) nằm ở cực Đông, cung cấp những cột buồm tốt cho ngành hàng hải…
Pullo - Condore (Côn Đảo) là đảo lớn nhất và rộng nhất, tạo thành từ bốn đến 5 hòn đảo Nó cách 15 dặm về phía Nam của nhánh sông phía Bắc của Cambodia [70, p204]
Đến thời Nguyễn, các sách Đại Nam thực lục, Gia Định thành thông chí có những ghi chép cụ thể về nguồn tài nguyên tại các đảo thuộc vùng Tây Nam bộ [xem bảng 1.9]
TT Tên đảo Nguồn lợi tự nhiên
Trang 343 Đảo Vu (hòn Khoai) Suối trong, nước ngọt
củi
than củi
Heo rừng, trâu rừng, nai hươu, yến sào, mây to, gỗ tốt, đồi mồi, hải sâm, quế, mắm, huyền phách
mắm
sâm, cá tôm, trai, sò
cá lớn, đồi mồi, hải sâm
Bảng 1.9 : Nguồn tài nguyên các đảo từ Cà Mau đến vịnh Thái Lan
(Tổng hợp từ Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Gia Định thành thông chí)
Du lịch có thể xem là một trong những thế mạnh của vùng Nhiều đảo và quần đảo đã được đưa vào khai thác du lịch Tài nguyên du lịch biển đảo Tây Nam
bộ gồm tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn Trong đó, nổi tiếng nhất là Phú Quốc - được mệnh danh là đảo Ngọc Vẻ đẹp hoang sơ cùng nét văn hóa độc đáo, nhiều di tích lịch sử gắn liền với những sự kiện lịch sử của đất nước, tạo nên sức hút đặt biệt đối với du khách trong và ngoài nước Thêm vào đó, đây cũng là
Trang 35khu vực có nhiều Vườn quốc gia (VQG) và Khu dự trữ sinh quyển thế giới (KSTSQ) như VQG Mũi Cà Mau (41.089 ha), VQG U Minh Thượng (8.038 ha), VQG U Minh Hạ (7.926 ha), VQG Phú Quốc (29.136 ha); KSTSQ Mũi Cà Mau (371.506 ha), ven biển - biển đảo Kiên Giang (1,1 triệu ha) [47, tr 66] Vùng cũng
mở ra khả năng liên kết du lịch biển đảo và đất liền
Những đảo và quần đảo trong hai tỉnh này đang được đầu tư xây dựng với nhiều loại hình du lịch nhân văn, du lịch sinh thái, homestay, du lịch Mice, nghỉ dưỡng…sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế tỉnh Cà Mau và tỉnh Kiên Giang phát triển
Trong Đề án “Phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển đến năm 2020”, vùng
biển Hà Tiên - Phú Quốc là một trong những vùng trọng điểm cần đầu tư, xây dựng
và phát triển (7) Vấn đề quan trọng để đảm bảo cho sự phát triển bền vững vùng biển đảo Tây Nam là nguồn nhân lực có chất lượng, chính sách phù hợp và một kế
hoạch hoạch định không gian biển đảo từng tỉnh và toàn vùng (Marine Spatial
Planning) có tầm nhìn chiến lược
Tiềm năng vị thế của biển đảo Tây Nam trong vịnh Thái Lan mở ra khả năng hợp tác khu vực, trước hết là Thái Lan và Campuchia Một vành đai kinh tế ven biển quanh vịnh Thái Lan nối bốn nước Việt Nam, Campuchia, Thái Lan và Malaysia [47, tr 69] , khôi phục lại một thời kỳ thương mại thuyền buồm nhộn nhịp từng tồn tại trong khu vực vịnh Lĩnh vực hợp tác bao gồm cả công nghiệp, ngư nghiệp và dịch vụ - du lịch Vùng biển đảo này nằm gần với các tuyến hàng hải quốc tế quan trọng Đây có thể xem là cơ sở cho việc thiết lập đầu cầu và trung chuyển của đới bờ và triển khai các hoạt động dịch vụ [47, tr 65] Khu vực Đông Nam Á hải đảo, từ thế kỷ đầu tiên của công nguyên, đã là một trong những tuyến đường biển nhộn nhịp của khu vực [xem hình 1.13]
Trong thời kỳ thịnh vượng của thời đại Angkor (Campuchia, từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV) [96] từ thời đại Aduhya (Thái Lan, từ thế XV đến nửa 1767) [77], hoạt động thương mại diễn ra sầm uất tại vùng biển giữa Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo Đặc biệt, từ thế kỷ thứ I đến VI, Phù Nam là một trung tâm liên thế giới, kết nối Đông - Tây [xem hình 1.14 và 1.15 ]
Trang 36Hình 1.13: Mạng lưới thương mại vùng Melayu (Melayu circle) [65, tr 42] 1.4 Tầm quan trọng của vùng biển Tây Nam bộ đối với việc đảm bảo an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế xã hội Việt Nam
Alfred Thyer Mahan, cha để của học thuyết Sức mạnh trên biển (Sea power theory), đã chứng minh một cách thuyết phục về ưu điểm và thách thức đối với một quốc gia có đường bờ biển dài Theo đó,S đường bờ biển dài sẽ góp phần tạo thuận lợi trong việc xây dựng lực lượng hải quân và các thương cảng Tuy nhiên, chính chiều dài đường bờ biển với nhiều vũng vịnh là thách thức lớn trong việc phòng thủ
và ngặn chặn sự tấn công của các thế lực nước ngoài [86]
Theo học thuyết này, Việt Nam với tỷ lệ chiều dài đường biển thuộc nhóm cao của thế giới có đầy đủ những thuận lợi và thách thức kể trên Vùng biển Tây Nam trong vịnh Thái Lan có một ý nghĩa chiến lược đối với việc đảm bảo an ninh -
quốc phòng từ phía Nam Tổ quốc Đây là vùng “đất mới” cả theo nghĩa địa chất và
cả theo nghĩa lịch sử, là vùng tiền tiêu trên con đường mở mang bờ cõi của người Việt [47, tr 65] Nhìn lại lịch sử dân tộc, vị thế của vùng biển này có ý nghĩa đặc biệt đối với công cuộc xác lập chủ quyền, bảo vệ chủ quyền và khai thác tài nguyên vùng biển và đồng bằng sông Cửu Long Nếu đặt vùng biển đảo và đất liền khu vực này trong tương quan lực lượng giữa chính quyền Đàng Trong - Chân Lạp - Xiêm trong giai đoạn từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX sẽ thấy rõ vị thế địa chính trị nó Năm 1708, vùng đất liền cùng biển đảo Hà Tiên được sáp nhập vào lãnh thổ Đàng Trong Từ đó, dù quản lý gián tiếp hay trực tiếp, dù thời chúa Nguyễn hay vua Nguyễn, những người đứng đầu lãnh thổ Đàng Trong và Việt Nam đều có những
Trang 37chính sách nhằm khẳng định và khai thác chủ quyền vùng biển đảo giàu đẹp phía Nam Sau khi Ayudhya (Ayutthaya) sụp đổ và sự vươn lên của thương cảng Hà Tiên, vùng biển và hải đảo Hà Tiên suốt thế kỷ XVIII (từ Cà Mau đến đảo Phú Quốc) là vùng đất, vùng biển chiến lược, có vai trò địa chính trị và địa kinh tế đối với quan hệ và tương quan thế lực Xiêm - Chân Lạp và Đàng Trong bấy giờ
Đại Nam nhất thống chí ghi rõ địa thế của vùng đất, vùng ven biển và hải đảo thuộc tỉnh Hà Tiên: Tỉnh hạt này đông nam giáp tỉnh An Giang, tây nam dọc theo biển, Bắc đến Cao Man Núi to thì có núi Tô Châu, núi Ngũ Hổ; sông lớn thì có sông Đông Hồ Thành; lấy các dải núi làm ngoại quách, lấy ba mặt giáp biển làm hào sâu; trọng hiểm thì trong có trường lũy Mỹ Anh, ngoài có trường lũy Thị Vạn, đường sau có đồn đất Giang Thành đủ để ngăn chặn yếu hiểm; hải tấn có pháo đài Kim Dự (Dữ), đủ
để khống chế sự xung đột
Lại bên tả pháo đài có Đồng Nai, bên hữu có Suối Lồ, nương dựa hình thế làm chỗ yết hầu quan yếu Đường sông thì có sông Vĩnh Tế để ghe thuyền đi thông thương, ngoài biển có đảo Phú Quốc làm bình chướng ở mặt tiền, ấy là một cửa ngõ hệ trọng cho xứ Nam kỳ Còn đô hội duy ở tỉnh lỵ ở Kiên Giang, Giá Đa đều được khả quan [60, tr 51]
Vùng biển này là cửa ngõ quan trọng cho hoạt động giao thương với các nước như Trung Quốc, Nhật Bản và cả phương Tây Chính nguồn lợi nhuận khổng
lồ từ hoạt động thương mại và thu thuế các thuyền buôn đi qua khu vực đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của Phù Nam trước đó rồi Angkor, Ayudhya và cả Hà Tiên, Đàng Trong bấy giờ
Vùng biển Tây Nam bộ cùng với vùng hạ lưu sông Mêkong là một chuỗi những mắc xích quan trọng trong kiểu kinh tế nguồn mà Andrew Hady trong bài
viết “Nguồn” trong kinh tế hàng hóa Đàng Trong đã đề cập [24], [xem hình 1.16]
Ai kiểm soát được vùng đất liền Hà Tiên sẽ có điều kiện tiếp cận nguồn hàng hóa từ Lào và Campuchia và cả Thái Lan (trước thế kỷ XIX, có thể là các các thế lực địa phương trong lãnh thổ và vùng ven lãnh thổ của ba nước kể trên) Nhưng chỉ thế lực nào kiểm soát được các thương cảng trong vịnh mới xuất hàng hóa nội địa sang khu vực khác, rồi nhập và tái phân phối hàng hóa đến từ biển trở lại lục địa
Trang 38Hình 1.16 : Các “kíp” tham gia buôn bán theo hướng Đông - Tây giai đoạn chúa
Nguyễn [24, tr 58]
Tầm quan trọng của vùng biển đảo này, xét về mặt thương mại, đến nay, không còn được như cách đây vài thế kỷ nhưng tầm quan trọng về mặt an ninh - chính trị lại nổi bật Hai đảo Phú Quốc và Thổ Chu là những thành trì vững chắc
để bảo vệ đất nước từ phía tây nam Nhóm đảo Phú Quốc - Thổ Chu được xác định
là tuyến đảo tiền tiên biên giới, từ Thổ Chu đến Hòn Khoai là tuyến đảo tiền tiêu Ngoài ra, các đảo như quần đảo Bà Lụa, Hòn Rái, quần đảo Nam Du là nhóm tuyến trong,… [xem hình 1.17]
Đây là nhóm đảo cửa ngỏ của vùng Tây Nam bộ Quan trọng nhất, các hòn
phía Bắc đảo Phú Quốc quyết định hình hài của đường biên giới biển hình thành trong tương lai và độ rộng của hành lang biển bao quanh phía Bắc Trong khi đó, đảo Thổ Chu lại có lợi ích quan trọng trong việc hoạch định đường biên giới biển
và xác định, phân chia vùng chồng lấn với các nước láng giềng [1,tr 79-84]
Những năm gần đây, kinh tế biển và vùng ven biển, hải đảo đóng góp 47% trong tổng GDP cả nước Tỉnh Kiên Giang, kinh tế biển chiếm 58% trong tổng GDP toàn tỉnh Theo Nghị quyết của tỉnh, mục tiêu phát triển kinh tế biển trong tổng GDP của tỉnh đến năm 2010 là 75%, năm 2015 là 78% và đến năm 2020 phải đạt 80% Hiện nay, tỉnh có 7.322 tàu đánh cá công suất lớn, 41 cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá, trên 1000 cơ sở cơ khí; diện tích nuôi trồng đạt 92.230 ha với sản lượng 66.768 tấn Vì vậy, Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Kiên Giang lần thứ VIII xác định, kinh
Trang 39tế biển sẽ là ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển của Kiên Giang đến năm 2020 [50]
Hình 1.17 : Sơ đồ tài nguyên vị thế các đảo ven bờ Tây Nam [1, tr 80]
Hình 1.18: Bản đồ nguy cơ ngập lụt vùng đồng bằng sông Cửu Long
(Nguồn: http://www.monre.gov.vn)
Thêm vào đó, quyết định của Thủ tướng chính phủ, vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc vịnh Thái Lan đến năm 2020 là khu vực kinh tế năng động, góp phần tạo thịnh vượng chung của khu vực biển và ven biển Tây Nam, đồng thời kết nối với các khu vực ven biển khác trong cả nước tạo thành một vành đai kinh tế dọc ven biển từ Móng Cái đến Hà Tiên phát triển nhanh, thúc đẩy và lôi kéo các khu vực phía trong cùng phát triển Đóng góp của vùng chiếm khoảng 5,0 - 5,5% vào GDP; khoảng 18 - 19% vào sản lượng thủy sản và 22 - 23% vào kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước Trong tương lai, Phú Quốc trở thành khu vực phát triển
Trang 40năng động, một trung tâm kinh tế biển lớn và hiện đại (trước mắt là Khu du lịch sinh thái biển - đảo cao cấp), một “điểm sáng” về kinh tế của cả nước và khu vực Đông Nam Á [67]
Khu vực này cũng chứa đựng nhiều thách thức Nếu nhìn vùng đất liền và vùng biển đảo Tây Nam trong vịnh Thái Lan theo chiều dọc và chiều ngang, đây cũng là khu vực dễ bị “tổn thương” về mặt an ninh - chính trị Bởi hai mặt phía
Đông và phía Tây “không có hậu phương hỗ trợ trong trường hợp chiến tranh bị
tấn công cả hai mặt biển; trong khi đó các tỉnh nội địa lại có biên giới với nước láng giềng Đó là một yếu thế của vị trí địa lý cần nhận diện và để thấy rằng việc đảm bảo gắn kết chặt chẽ giữa Đông và Tây Nam bộ, đặc biệt trong thời chiến luôn
là nhiệm vụ tối quan trọng - tầm quan trọng sống còn của cả đồng bằng sông Cửu Long” [47, tr 70]
Một vấn đề quan trọng khác đối với sự phát triển bền vững của vùng biển, ven biển và hải đảo Tây Nam bộ là tình hình biến đổi khí hậu và nước biển dâng, hiện tượng xâm nhập mặn diễn ra ngày càng nhanh và phức tạp Giải pháp thích ứng với các những vấn đề này và sinh kế cho cộng đồng cư dân ven biển và hải đảo đang là một thử thách lớn cho chính quyền và người dân hai tỉnh Những nghiên cứu khoa học gần đây chỉ ra rằng khu vực ven biển Tây Nam trong vịnh Thái Lan bị nhiễm mặn nặng; nếu nước biển dâng 1m, khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ngập úng, với việc 35% dân số đồng bằng sông Cửu Long bị ảnh hưởng nghiêm trọng [7], [xem hình 1.18] Mặt khác, các tỉnh ven biển Nam bộ đang đối mặt với tình trạng xói lở bờ biển Nếu trước đây mũi Cà Mau bồi ra biển hàng năm vài chục mét thì hiện nay Cà Mau lại là tỉnh có tỷ lệ bờ đê và mức độ xói mòn vùng bờ biển nghiêm trọng nhất [xem bảng 1.10]
STT Tỉnh Chiều dài
đê bị lở (km)
Mức độ năm (m/năm)
Điạ điểm
Phước, Tân Điền