Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi muốn đi sâu tìm hiểu nghề làm lồng đèn truyền thống ở Hội An, đồng thời đưa ra những kiến nghị nhằm bảo tồn và phát triển nghề, đặc biệt trong mối quan h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
NGHỀ LÀM LỒNG ĐÈN Ở HỘI AN
VỚI SỰ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
CỦA ĐỊA PHƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
Mã số: 60.31.60 Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
Trang 2Mã số: 60.31.60
Cán bộ hướng dẫn khoa học:
TS TRẦN THỊ MAI NHÂN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
Trang 3DẪN NHẬP 1
• Lý do chọn đề tài 1
• Mục đích nghiên cứu 3
• Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
• Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
• Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6
• Phương pháp nghiên cứu 7
• Cơ sở lý luận 7
• Bố cục của luận văn 10
Chương 1: Khái quát về phố cổ Hội An và nghề làm lồng đèn ở Việt Nam 12
1.1 Phố cổ Hội An- điểm đến của khách du lịch Việt Nam và thế giới 12
1.1.1Vài nét về lịch sử hình thành và phát triển của phố cổ Hội An 12
1.1.2Một số di tích lịch sử- văn hóa nổi tiếng của Hội An 17
1.1.3Những nghề thủ công truyền thống ở Hội An 21
1.2 Khái quát về lồng đèn ở Việt Nam 23
1.2.1 Định nghĩa lồng đèn 23
1.2.2 Ý nghĩa của lồng đèn 24
1.2.3 Nguồn gốc và lịch sử phát triển của lồng đèn ở Việt Nam 27
Chương 2:Nghề làm lồng đèn ở Hội An 35
2.1 Nguồn gốc và đặc điểm của nghề làm lồng đèn ở Hội An 35
2.1.1 Nguồn gốc của nghề làm lồng đèn ở Hội An 35
2.1.2Đặc điểm của nghề làm lồng đèn ở Hội An 39
2.2 Những đặc trưng của chiếc lồng đèn Hội An 43
2.2.1 Nguyên liệu chính 43
2.2.2 Hình dạng, hoa văn và màu sắc trang trí 45
2.2.3Quy trình sản xuất/Kỹ thuật chế tác 47
2.3 Sự đa dạng các kiểu lồng đèn ở Hội An 48
2.3.1 Lồng đèn tre 48
2.3.2 Lồng đèn sắt 56
2.3.3 Lồng đèn gỗ 62
2.3.4 Lồng đèn mây đan và lồng đèn gốm 66
Chương 3: Sự phát triển của nghề làm lồng đèn ở Hội An trong tương quan với du lịch
Trang 4nghề làm lồng đèn 69
3.1.2Lồng đèn Hội An- món quà lưu niệm hấp dẫn đối với khách du lịch 74
3.1.3Lồng đèn Hội An- yếu tố kiến tạo không gian đậm chất văn hóa- du lịch 77
3.2 Những sản phẩm du lịch độc đáo ở Hội An - nỗ lực duy trì và phát triển nghề làm lồng đèn của địa phương 80
3.2.1 "Đêm phố cổ" 82
3.2.2 Chương trình " Tái hiện không gian văn hóa - kiến trúc khu phố cổ Hội An xưa85 3.2.3"Lễ hội lồng đèn" 89
3.2.4"Phố lồng đèn" 93
3.3 Một vài kiến nghị cho việc phát triển nghề làm lồng đèn ở Hội An trong tương lai 95
3.3.1Chính sách nghệ nhân và vấn đề truyền nghề 95
3.3.2Kế hoạch phát triển thành làng nghề 98
3.3.3Vấn đề quảng bá sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ 101
KẾT LUẬN 104 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1 Biên bản phỏng vấn
2 Các văn bản chính sách hỗ trợ nghề làm lồng đèn của chính quyền Hội An
3 Những bài thơ về lồng đèn
Trang 5
DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Với những đặc trưng riêng về điều kiện tự nhiên cũng như kinh tế, xã hội và tập quán, nông thôn Việt Nam xưa và nay đã tồn tại nhiều làng nghề truyền thống với với nhiều loại sản phẩm nổi tiếng về mẫu mã cũng như độ tinh xảo Trong suốt
bề dày lịch sử của đất nước, những làng nghề truyền thống có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế của nông thôn
Trong những năm tháng chiến tranh, các làng nghề truyền thống ít được quan tâm và không có điều kiện phát triển Đến khi đất nước được giải phóng, nhiều làng nghề vẫn không có điều kiện phát triển, phải chuyển dần sang sản xuất thuần nông hay một nghề hoàn toàn mới Sau năm 1986, nhiều làng nghề truyền thống mới được khôi phục và phát triển, góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế nông thôn nói riêng và kinh tế đất nước nói chung
Trong quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa, vai trò của các làng nghề truyền thống càng được khẳng định và phát huy Đó là sự đóng góp vào việc giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân; đồng thời đa dạng hóa kinh tế nông thôn và thúc đẩy quá trình đô thị hóa Đặc biệt, làng nghề truyền thống chính là nơi bảo tồn các giá trị văn hóa của dân tộc Vì vậy, việc bảo tồn, mở rộng và phát triển các làng nghề truyền thống là một trong những vấn đề quan trọng trong kế hoạch công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước hiện nay
Quảng Nam là một tỉnh có nhiều làng nghề truyền thống, trong đó có những nghề khá phát triển Với gần 61 làng nghề đa dạng về quy mô và các ngành nghề truyền thống, tỉnh Quảng Nam có nhiều điều kiện và cơ hội để phát triển kinh tế địa phương Trong đó, có nhiều làng nghề được phát huy và mở rộng gắn liền với việc phát triển du lịch của tỉnh nhà Có thể nói, việc phát triển làng nghề truyền thống nhằm mục đích phục vụ cho việc phát triển du lịch đã được tỉnh Quảng Nam đặc biệt quan tâm, trong đó có việc phát triển nghề - làng nghề truyền thống ở Hội An
Trang 6Vì phố cổ Hội An là một di sản văn hóa thế giới, được UNESCO công nhận tại thành phố Marrakech- Marocco vào ngày 4/12/ 1999 Vẻ đẹp của phố cổ này không chỉ gói gọn trong khu vực quốc gia mà còn vươn ra quốc tế, thu hút rất nhiều du khách đến từ mọi miền trên thế giới Năm 2011, phố cổ Hội An được xếp vào danh sách 10 điểm du lịch thu hút nhiều khách du lịch nhất trên thế giới
Đến với Hội An, du khách được sống trong không gian văn hóa của quá khứ Điểm thu hút của Hội An chính là vẻ đẹp cổ kính, rêu phong của những ngôi nhà cổ; những con đường yên bình không có khói động cơ hay những công trình kiến trúc đặc biệt mang dấu ấn của Nhật Bản và Trung Quốc Nhưng một trong những điểm đặc biệt nhất của phố cổ có lẽ là vẻ đẹp ấn tượng của những chiếc đèn lồng tỏa
ra thứ ánh sáng lung linh, huyền ảo Khó tìm thấy ở đâu lồng đèn có vẻ đẹp ấn tượng như ở phố cổ Hội An Có thể nói, lồng đèn đã tạo cho phố cổ một không gian văn hóa độc đáo
Những năm gần đây, du lịch ở Hội An phát triển rất mạnh mẽ Và như một
sự tương hỗ, các làng nghề truyền thống cũng hồi sinh và vươn lên với tốc độ khác nhau, trong đó có nghề làm lồng đèn Nghề làm lồng đèn đã mang đến cho người dân cuộc sống khả giả hơn trước, thu hút được nhiều nhân lực không chỉ ở Hội An
mà còn ở những địa phương khác Không những vậy, nghề làm lồng đèn còn thổi
“hồn” vào những ngôi nhà cổ kính ở phố cổ Đêm xuống, khi ánh đèn trong những ngôi nhà cổ đã tắt cũng là lúc vẻ đẹp của những chiếc đèn lồng được thể hiện Ánh sáng của những chiếc lồng đèn đã đem lại cho phố cổ vẻ đẹp rất thơ mộng, huyền
ảo và cũng rất riêng Hầu như du khách nào đến thăm phố cổ cũng mua cho mình vài chiếc đèn lồng để làm quà cho người thân
Lồng đèn ở Hội An đã được Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa năm 2006 Tuy nhiên, hiện nay có nhiều nơi làm lồng đèn giả thương hiệu Hội An, làm ảnh hưởng rất lớn đến uy tín cũng như quyền lợi của những nghệ nhân làm ra sản phẩm du lịch độc đáo này ở đô thị cổ Hội An Ngoài ra, nghề làm lồng đèn truyền thống cũng gặp phải nhiều khó khăn như thiếu những mẫu mã mới, vấn đề truyền nghề, việc quảng bá hình ảnh của sản phẩm Vì
Trang 7vậy, điều chúng tôi băn khoăn là tại sao ở Hội An, nghề làm lồng đèn nổi tiếng như vậy lại phát triển nhỏ lẻ, không tập trung với quy mô lớn để trở thành làng nghề?
Đó là lý do khiến chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Nghề làm lồng đèn ở Hội An với sự phát triển du lịch địa phương” Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi muốn đi sâu tìm hiểu nghề làm lồng đèn truyền thống ở Hội An, đồng thời đưa ra những kiến nghị nhằm bảo tồn và phát triển nghề, đặc biệt trong mối quan hệ với du lịch địa phương
b Đi sâu nghiên cứu những đặc trưng cơ bản của nghề làm lồng đèn ở Hội
An như nguyên liệu, kỹ thuật chế tác, phong cách trang trí…
c Tìm hiểu mối quan hệ tương hỗ giữa nghề làm lồng đèn và việc phát triển
du lịch ở Hội An
d Tìm hiểu nguyên nhân nghề làm lồng đèn ở Hội An chưa trở thành làng nghề mà chỉ phát triển với quy mô nhỏ lẻ, từ đó đề xuất một số phương hướng nhằm bảo tồn và phát triển nghề trong quá trình hội nhập hiện nay
Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: “Phố cổ Hội An và việc giao lưu văn hóa với nước ngoài” (Nguyễn Quốc Hùng, Nxb Đà Nẵng - 2005), “Văn hóa dân
Trang 8gian Hội An - Quảng Nam trong giao lưu văn hóa hiện nay” [55], “Văn hóa phi vật thể ở Hội An” [42] Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu hầu như chỉ xoay quanh các công trình kiến trúc cổ ở Hội An, lịch sử hình thành Hội An hay việc giao lưu văn hóa, kinh tế của Hội An với nước ngoài Những công trình nghiên cứu về nghề làm lồng đèn Hội An chiếm tỉ lệ rất ít Trong khi đó, lồng đèn là sản phẩm du lịch đặc trưng nhất ở Hội An Không ở đâu lồng đèn có vẻ đẹp thơ mộng và quyến rũ như ở Hội An, nhất là khi chúng được treo trên những ngôi nhà cổ Ánh sáng huyền ảo và lung linh của chiếc đèn lồng góp phần làm phố cổ có hồn hơn Có thể nói, Hội An thu hút du khách trong và ngoài nước không chỉ vì những ngôi nhà cổ kính đầy rêu phong hay những con đường yên ả không khói động cơ, những quần thể kiến trúc
cổ lưu dấu quá trình giao lưu văn hoá giữa Việt Nam với Trung Quốc, Nhật Bản mà còn bởi thứ ánh sáng đầy thơ mộng và huyền ảo tỏa ra từ những chiếc lồng đèn đầy màu sắc ấy
Nghề làm lồng đèn truyền thống ở Hội An mỗi năm mang lại lợi ích không nhỏ cho người dân nơi đây Nghề đã góp phần giải quyết được số lượng lao động lớn cho toàn tỉnh Không chỉ vậy, nghề làm lồng đèn còn góp phần quảng bá hình ảnh phố cổ Hội An đến du khách khắp nơi, thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch Trong cuốn: Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn đã từng đề cập đến lồng đèn Hội An như sau “Hàng mang đến thì sa, đoạn, gấm vóc, vải, các vị thuốc, giấy vàng bạc, hương vòng, các thứ đồ giấy, kim tuyến, ngân tuyến, các thứ phẩm, y phục, giấy tốt, nhung, đơ-ra, kính, pha lê, quạt giấy, bút mực, kim, cúc áo, các thứ bàn ghế, các thứ đèn lồng, các thứ đồ đồng, các thứ đồ sứ, đồ sành” [dẫn theo 10, tr.216] Trước đây, nghề làm lồng đèn ở Hội An chỉ được giới thiệu như một sản phẩm du lịch đặc biệt được đăng trên các tạp chí trong và ngoài nước hay trên mạng Internet Chẳng hạn, bài Đến với những sản phẩm du lịch đặc biệt: Gặp gỡ đêm rằm phố cổ Hội
An của tác giả Thiện Vân đăng trên Báo Sài Gòn giải phóng (03/9/2001), bài Đèn lồng phố Hội của Ngọc Diễm đăng trên báo Khoa học và Đời sống (18/11/2006); hay Nghề làm lồng đèn ở Hội An của Tưởng Văn Cân đăng trên báo Quân đội Nhân dân (20/3/2007); bài Nghề làm lồng đèn là một trong những nét đặc trưng
Trang 9của văn hóa Hội An của Minh Trang trên trang web http://www.nguoihoian.info; Người giữ lại nghề làm lồng đèn truyền thống của Phương Linh trên trang
http://www.dongnai.gov.vn v.v
Năm 2012, nhận thấy vai trò quan trọng của nghề làm lồng đèn trong các nghề truyền thống ở Hội An, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam đã xuất bản công trình Nghề truyền thống ở Hội An do Trần Văn An làm chủ nhiệm Trong tác phẩm này, nghề làm lồng đèn Hội An được tác giả đặc biệt quan tâm Tuy nhiên, công trình chưa nghiên cứu tất cả các loại lồng đèn ở phố cổ mà chỉ đề cập đến lồng đèn tre
Ngoài ra, nghề làm lồng đèn Hội An cũng trở thành đối tượng nghiên cứu trong công trình Nghề và làng nghề truyền thống đất Quảng do Võ Văn Hòe, Hoàng Hương Việt và Bùi Văn Tiếng chủ biên [18] Trong công trình này, các tác giả nhận định: “Nghề làm lồng đèn Hội An là một nghề dân gian có từ lâu đời dưới thời Chúa Nguyễn Các nguồn tư liệu cổ có từ niên đại thế kỷ XVIII đã cho biết các loại lồng đèn đã được sử dụng rộng rãi ở cảng thị Hội An” Thực ra, vấn đề này cũng đã được đề cập trong cuốn Nghề truyền thống ở Hội An
Năm 2012, trong cuốn Di sản thế giới tại Việt Nam (tập 1), Bùi Đẹp cũng dành bốn trang để nói về lồng đèn Hội An: “Lồng đèn Hội An hiện nay rất nhiều kiểu dáng: lồng đèn gỗ, lồng đèn tre, lồng đèn quả bóng, lồng đèn lồng bàn, lồng đèn hộp nhựa, rỗ nhựa Không chỉ các loại bắt chước gần như nguyên mẫu lồng đèn Trung Quốc mà còn có nhiều loại khá ngộ nghĩnh, dễ thương do người dân Hội
An biến chế ra Tuy vậy, loại lồng đèn tre bọc vải mới là sản phẩm chính của nghề lồng đèn đã định hình ở Hội An trong mấy năm trở lại đây” [10, 217]
Nghề làm lồng đèn ở Hội An hiện nay đã thực sự trở thành nghề thủ công tiêu biểu và độc đáo nhất ở Hội An Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu về nghề làm lồng đèn ở Hội An Phần lớn, các công trình nghiên cứu chỉ mới đề cập đến một vài phương diện liên quan đến nghề Chính vì vậy, chúng tôi mong muốn luận văn sẽ cung cấp một cái nhìn khá đầy đủ
về nghề làm lồng đèn ở Hội An, từ nguồn gốc, lịch sử, quá trình phát triển đến kỹ thuật chế tác và những kiểu lồng đèn tiêu biểu
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghề làm lồng đèn ở Hội An Chúng tôi tập trung khảo sát các cơ sở sản xuất lồng đèn, các hộ gia đình làm lồng đèn ở thành phố Hội An từ năm 1986 đến nay Sở dĩ chúng tôi chọn thời điểm này
là vì năm 1986 là năm có ý nghĩa rất quan trọng đối với đất nước ta Đảng và chính phủ ta đã thực hiện chính sách mở cửa, giao lưu với thế giới, đất nước có sự chuyển mình, trong đó có sự phát triển của ngành du lịch và các làng nghề thủ công truyền thống ở Hội An
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1 Ý nghĩa lý luận:
Trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu về nghề làm lồng đèn truyền thống ở đô thị
cổ Hội An, luận văn đóng góp một phần nhỏ trong việc tìm hiểu về nghề thủ công truyền thống Luận văn cũng cho thấy mối quan hệ tương hỗ giữa nghề thủ công truyền thống với sự phát triển của ngành du lịch trong bối cảnh hiện nay
5.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Trên cở sở đánh giá thực trạng và những vấn đề mà nghề làm lồng đèn gặp phải, luận văn đưa ra một số kiến nghị, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nghề làm lồng đèn ở Hội An, nâng cao giá trị văn hóa của sản phẩm du lịch đặc biệt này
Từ đó, luận văn cũng đề xuất phương hướng bảo tồn và phát triển nghề làm lồng đèn trong xu thế hội nhập hiện nay, qua đó, quảng bá sản phẩm du lịch này và hình ảnh phổ cổ đến khắp nơi trên thế giới
Ngoài ra, luận văn cũng đóng góp những ý tưởng nhằm phát triển nghề làm lồng đèn truyền thống ở Hội An, gắn liền với việc phát triển du lịch của địa phương Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho các nhà nghiên cứu, sinh viên các khoa Du lịch, Văn hóa học, Nhân học trong việc nghiên cứu về nghề truyền thống cũng như tìm hiểu về phố cổ Hội An
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp sau :
6.1 Phương pháp điền dã và phương pháp quan sát tham dự:
Trang 11Chúng tôi đã đến đô thị cổ Hội An, trực tiếp tìm hiểu tình hình hiện nay của nghề làm lồng đèn, và đã thu thập thông tin cụ thể về nghề bằng cách thâm nhập, quan sát quá trình làm việc của những nghệ nhân làm lồng đèn, cũng như đã trực tiếp làm thử chiếc lồng đèn tre dưới sự hướng dẫn của những người thợ làm lồng đèn
6.2 Phương pháp phỏng vấn sâu:
Chúng tôi đã thu thập thông tin cụ thể về nghề làm lồng đèn qua những cuộc phỏng vấn những nghệ nhân làm lồng đèn Ngoài ra, chúng tôi còn phỏng vấn những cán bộ địa phương về những giá trị văn hóa và kinh tế mà nghề làm đèn lồng mang lại Du khách đến thăm phố cổ cũng là đối tượng được chúng tôi phỏng vấn
để hiểu thêm mức độ yêu thích của họ đối với sản phẩm du lịch này
6.3 Phương pháp so sánh:
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng chủ yếu ở chương 2, nhằm so sánh nghề làm lồng đèn ở Hội An, chiếc lồng đèn Hội An với những làng nghề làm lồng đèn và chiếc lồng đèn ở những địa phương khác Từ đó, tìm ra những đặc điểm riêng của nghề làm lồng đèn Hội An, lý giải tại sao sự phục hồi của nghề lại gắn bó mật thiết với sự phát triển du lịch của địa phương
Ngoài những phương pháp trên, chúng tôi còn sử dụng một số thao tác như: phân tích tổng hợp, thu thập và xử lý tài liệu…
7 Cơ sở lý luận:
7.1 Nghề thủ công truyền thống:
Tác giả Tôn Nữ Quỳnh Trân trong cuốn “ Làng nghề thủ công truyền thống tại TP
Hồ Chí Minh” [45, 7] cho rằng “ Nghề thủ công truyền thống là các hoạt động sản xuất chủ yếu bằng tay với công cụ giản đơn, đã được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời tại Việt Nam, đã từng có nhiều thế hệ nghệ nhân hay đội ngũ thợ lành nghề với kỹ thuật khá ổn định và nguyên liệu chủ yếu tại chỗ”
Trong cuốn “ Làng nghề, phố nghề Thăng Long- Hà Nội” [48, 9] của Vũ Quốc Tuấn và nhóm tác giả, các tác giả đã cho rằng “ nghề thủ công truyền thống thường được coi là ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, chuyên sản xuất, chế tác các loại sản phẩm chủ yếu bằng tay và công cụ giản đơn, sử dụng sức người là chính, với kinh nghiệm sáng tạo của các nghệ nhân, thợ chuyên nghề”
Trang 12Như vậy, có rất nhiều khái niệm về nghề thủ công được các nhà nghiên cứu đưa ra, những khái niệm đó dù có nội dung khác nhau như thế nào đi nữa thì cũng có chung một quan điểm về tiêu chí để công nhận một nghề nào đó là nghề thủ công truyền thống GS Bùi Văn Vượng đã đưa ra bảy tiêu chí để công nhận một nghề là nghề thủ công truyền thống:
1 Đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta
2 Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề
3 Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề
4 Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt Nam
5 Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước hoàn toàn, hoặc chủ yếu nhất
6 Sản phẩm tiêu biểu của Việt Nam, có giá trị và chất lượng cao, vừa là hàng hóa vừa là sản phẩm văn hóa nghệ thuật, thậm chí trở thành các di sản văn hóa của dân tộc, mang bản sắc văn hóa Việt Nam
7 Là nghề nghiệp nuôi sống một bộ phận dân cư của cộng đồng, có đóng góp đáng
kê về kinh tế vào ngân sách Nhà nước
có giá trị kinh tế, tư tưởng và thẩm mỹ cao, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người tiêu dùng trong và ngoài nước” Đây có lẽ là định nghĩa đầy đủ nhất về làng nghề truyền thống
Tác giả Bùi Xuân Đính [11, 7] cũng có cách nhìn nhận về làng nghề truyền thống tương tự như tác giả Vũ Quốc Tuấn Ông cho rằng “ làng nghề truyền thống là trung tâm sản xuất, chế tác và kinh doanh hàng thủ công, nơi hội tụ nghệ nhân, thợ giỏi trong các gia đình, dòng họ chuyên nghề gọi chung là hộ nghề, tộc nghề, đã tồn tại, phát triển lâu đời và trở nên nổi tiếng Ở đó có sự liên kết, hỗ trợ của những người thợ trong sản xuất,
Trang 13kinh doanh, buôn bán sản phẩm, với những quy luật chặt chẽ mà mỗi hộ nghề, mỗi người thợ phải tuân thủ Ở đó, người ta hoạt động nghề nghiệp theo kiểu phường hội, nhiều nơi cùng thờ Tổ nghề chung.”
GS Bùi Văn Vượng [60, 11-12] cũng có định nghĩa về làng nghề như sau “ làng nghề thủ công truyền thống là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân
và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, có cùng Tổ nghề và các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ước chế xã hội.”
Như vậy, có rất nhiều định nghĩa về làng nghề thủ công truyền thống của nhiều nhà nghiên cứu được đưa ra Các định nghĩa ấy tuy có những cách lập luận khác nhau nhưng vẫn có điểm chung về các yếu tố cấu thành một làng nghề Theo tác giả, làng nghề được xác định qua bốn yến tố: cộng đồng người dân cùng tham gia làm nghề, nghề được truyền nối qua nhiều thế hệ, có cùng Tổ nghề và kỹ thuật sản xuất chủ yếu bằng tay
7.3 Du lịch:
Pháp lệnh Việt Nam lại quy định “ Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” – “ khách du lịch là những người đi du lịch hoặc kết hợp
đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi khác đến” [16, 3]
Nhìn nhận du lịch như là một hoạt động kinh tế tổng hợp, các chuyên gia đã đưa ra khái niệm về du lịch tại hội nghị Liên Hiệp Quốc về Du lịch và Lữ Hành Quốc tế tổ chức tại Roma- Italy (21/8- 5/9/1963) như sau : “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”
Những quan điểm trên chỉ xem du lịch như là một hoạt động nghỉ ngơi, giải trí ở những khu vực cách xa nơi ở của mình nên chúng chưa thực sự bao hàm hết ý nghĩa của khái niệm du lịch Trong thời hiện đại, du lịch còn là hoạt động tìm hiểu, khám phá văn hóa, lễ hội, phong tục tập quán của điểm đến du lịch Loại hình du lịch này được các nhà nghiên cứu gọi là du lịch văn hóa Có thể hiểu du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà du khách muốn được tìm hiểu và tiếp cận bề dày văn hóa của một nước, một vùng thông qua các di tích lịch sử, văn hóa, những phong tục tập quán
Trang 14Tóm lại, dựa trên các cách tiếp cận khác nhau về góc độ du lịch mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra những khái niệm khác nhau về nội dung của thuật ngữ du lịch Những quan điểm ấy tuy khác nhau về cách diễn đạt nhưng nhìn chung cũng đã nêu lên được những tiêu chí cơ bản để hình thành hoạt động du lịch Theo quan điểm của người viết, hiểu một cách đơn giản nhất, du lịch là một hoạt động cần có của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất ( nghỉ ngơi, mua sắm, chữa bệnh ) và nhu cầu tinh thần ( tìm hiểu, khám phá văn hóa của điểm đến du lịch
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Dẫn nhập (08 trang) trình bày những vấn đề chung như: Lý do chọn đề tài, Mục đích nghiên cứu, Lịch sử nghiên cứu vấn đề, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, Phương pháp nghiên cứu, Kết luận (02 trang) và Tài liệu tham khảo (06 trang), Nội dung chính của luận văn gồm có 92 trang, được phân bố thành 3 chương như sau:
Chương 1: Khái quát về phố cổ Hội An và nghề làm lồng đèn ở Việt Nam (23 trang) Chương này trình bày khái quát về Hội An (lịch sử hình thành, một số di tích
- văn hóa tiêu biểu, những nghề thủ công truyền thống) và khái quát về nghề làm lồng đèn ở Việt Nam
Chương 2: Nghề làm lồng đèn ở Hội An (34 trang)
Chương này tập trung tìm hiểu về nghề làm lồng đèn ở Hội An (nguồn gốc
và đặc điểm của nghề, đặc trưng của chiếc lồng đèn Hội An) và giới thiệu một số loại lồng đèn tiêu biểu ở Hội An
Chương 3: Sự phát triển của nghề làm lồng đèn ở Hội An trong mối tương quan với du lịch (35 trang)
Trong chương này, luận văn đi sâu vào tìm hiểu mối quan hệ giữa nghề làm lồng đèn và sự phát triển du lịch của Hội An Mối quan hệ đó thể hiện qua việc ảnh hưởng của du lịch đối với sự phục hồi và phát triển của nghề làm lồng đèn ở Hội
An, cũng như những tác động của nghề đến việc phát triển du lịch của địa phương (qua các “sản phẩm du lịch” độc đáo như “đêm phố cổ”, “lễ hội lồng đèn”, “phố lồng đèn” ) Chương 3 của luận văn còn nêu lên một vài kiến nghị cho việc phát triển nghề làm lồng đèn ở Hội An trong tương lai
Trang 15Ngoài ra, luận văn còn có phần Phụ lục (37 trang), giới thiệu các Biên bản phỏng vấn, một số văn bản về chính sách hỗ trợ nghề làm lồng đèn của chính quyền Hội
An, một số bài thơ viết về lồng đèn Hội An
Trang 16CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ PHỐ CỔ HỘI AN VÀ NGHỀ
LÀM LỒNG ĐÈN Ở VIỆT NAM
1.1 Phố cổ Hội An - điểm đến của du khách du lịch Việt Nam và thế giới
1.1.1 Vài nét về lịch sử hình thành và phát triển của phố cổ Hội An
Ngày 04/12/1999 tại thành phố Marrakech Morcco, Hội nghị lần thứ 23 của
Ủy ban Di sản Thế giới (thuộc UNESCO) đã chính thức ghi tên đô thị cổ Hội An vào danh mục Di sản văn hóa Thế giới Sự kiện trọng đại này đã góp phần lan tỏa
sự hấp dẫn vốn có của phố cổ Hội An tới nhiều nơi trên thế giới Theo Nghị định số 10/2008/NĐ - CP của Chính Phủ, phố cổ Hội An trở thành thành phố - đô thị loại III, trực thuộc tỉnh Quảng Nam
Hội An nằm cách thành phố Tam Kỳ - tỉnh lỵ của Quảng Nam 60km về phía Đông Bắc, cách thành phố Đà Nẵng 30km về phía Đông Nam Thành phố Hội An hiện nay có 9 phường: Minh An, Sơn Phong, Cẩm Phô, Thanh Hà, Tân An, Cửa Đại, Cẩm Châu, Cẩm An, Cẩm Nam và 4 xã: Cẩm Thanh, Cẩm Hà, Cẩm Kim và xã đảo Tân Hiệp - Cù Lao Chàm cách đất liền 18km Dân số Hội An khoảng 90.265 người (tính đến năm 2010)
Trong Hội nghị khoa học về khu phố cổ Hội An ngày 23-24/7/1985, nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng đã phát biểu: “Hội An có tính độc đáo và phức tạp” Theo ông, Hội An “độc đáo” ở những điểm sau: thứ nhất, đây là một thương cảng ở cửa sông, ven biển; thứ hai, đây là một trung tâm ngoại thương của xứ Quảng nói riêng và của Việt Nam, Đông Nam Á nói chung; thứ ba, đây là một quần thể di tích kiến trúc nghệ thuật duy nhất ở nước ta còn tồn tại và được bảo tồn khá nguyên vẹn cho đến ngày nay Còn tính phức tạp của Hội An thể hiện ở quá trình hình thành và phát triển của nó [56]
Trong các bài nghiên cứu khảo cổ và liên ngành gần đây, các nhà nghiên cứu
đã thống nhất đặt Hội An trong một tiến trình lịch sử là: Tiền Sơ sử - Chămpa – Đại
Trang 17Việt - Đại Nam - Việt Nam [46, 38] Tương ứng với mỗi thời kỳ là các lớp cư dân kế tục nhau sinh sống ở Hội An
a Thời kỳ Tiền sơ sử:
Cách đây 3000 năm, cư dân Hội An đã sinh sống ở Bãi Ông thuộc Hòn Lao,
Cù Lao Chàm Di chỉ Bãi Ông là di chỉ có niên đại sớm nhất được biết cho đến nay Các nhà khảo cổ học đã phát hiện khá nhiều hiện vật gốm thô (đất nung), công cụ mài như rìu tứ giác, rìu có vai, lưỡi ghè, dụng cụ miết gốm, chì lưới Điều này chứng minh, người cổ ở Bãi Ông đã biết sử dụng rìu đá khá sắc bén và những nồi gốm có kiểu dáng, hoa văn thể hiện sự khéo léo Trên đất liền, một hệ thống gồm nhiều di tích, di chỉ văn hóa Sa Huỳnh có niên đại trên dưới 2000 năm đã lần lượt được phát hiện Đó là những hiện vật thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, trang sức làm bằng gốm, đồng, sắt, đá Đặc biệt là những đồng tiền Trung Quốc, Ngũ Thù, Vương Mãng
Trong Hội thảo khoa học về văn hóa Sa Huỳnh ở Hội An năm 1995, Trần Quốc Vượng đã nhận định: “Những hiện vật thu thập được chứng tỏ người Sa Huỳnh cổ đã có cuộc sống rất phát triển, thạo nghề nông, nghề biển và có quan hệ giao lưu với các vùng khác trong khu vực Giai đoạn này, Hội An đã là một tiền cảng thị hay một cảng thị sơ khai đặt tiền đề cho sự hình thành tiểu vương quốc Chămpa vào những thế kỷ đầu công nguyên” [57, 26]
b Thời kỳ Chămpa:
Từ thế kỷ II đến thế kỷ XV, khu vực xứ Quảng nói chung và Hội An nói riêng là một vùng quần cư của người Chăm, vốn có bề dày lịch sử tiếp nối từ cư dân văn hóa Sa Huỳnh chuyển tiếp liên tục đến cư dân văn hóa Chămpa Khi thuộc Chămpa, Hội An có tên gọi là Lâm Ấp Phố - là một vị trí yết hầu quan trọng, điểm giao lưu kinh tế - văn hóa bậc nhất của vương quốc Chăm Người Chăm với cái nhìn rộng lớn về biển đã biết khai thác vị trí thuận lợi này để xây dựng và phát triển kinh tế - văn hóa Nơi đây được thư tịch cổ nhiều nước nhắc đến như là một địa điểm để tàu thuyền các nước trên con đường tơ lụa, con đường hương liệu và gốm
sứ đi qua biển Đông ghé lại Lâm Ấp Phố của Chămpa để trao đổi, buôn bán Tác
Trang 18giả Nguyễn Thế Anh, trong cuốn Lịch sử các quốc gia Đông Nam Á, đã viết: “Đất đai Chiêm thành không phì nhiêu nhưng dân Chiêm sống về nghề nông và thu hoạch các sản phẩm quý trong miền núi Dân Chiêm thành hoạt động nhiều nhất về thương mại và nghề thông thương hàng hải” [4, 105] Những dấu tích giếng nước Chăm, những pho tượng Chăm, đền tháp Chăm cùng những hiện vật gốm sứ thời Đường của Trung Hoa, đồ gốm Thái Lan, đồ thủy tinh có nguồn gốc Trung Cận Đông… đã minh chứng cho giả thuyết đã từng có một Lâm Ấp Phố phát triển rất phồn thịnh thời Chămpa Như vậy, Lâm Ấp Phố (Hội An ngày nay) đã có một vai trò rất quan trọng đối với vương quốc Chămpa với tư cách là một đô thị thương cảng, một điểm giao lưu kinh tế - văn hóa tiêu biểu của vùng và cũng là nền tảng quan trọng cho sự hình thành, phát triển thịnh vượng của thương cảng Hội An trong thời kỳ Đại Việt sau này
c Thời kỳ Đại Việt:
Thời kỳ Đại Việt bắt đầu từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XIX Nhưng thực ra,
từ cuối thế kỷ XIV, một bộ phận người Việt ở vùng châu thổ Bắc bộ đã lìa bỏ quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn của mình để đến vùng “Ô châu ác địa” của người Chămpa để sinh sống Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự ra đi này như nghèo khó,
tù đày hay quân thứ… Trong thời kỳ này, người Việt đã có nhiều đợt di dân lớn để
kế tiếp người Chăm trở thành chủ nhân của vùng đất bị tranh chấp trong thời gian dài này Sau khi các đợt di dân kết thúc ở Đàng Trong nói chung và Hội An nói riêng, người Việt có nguồn gốc ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ đã trở thành cư dân chính của khối cộng đồng cư dân Hội An Người Việt cùng với người Chăm đã sinh sống với nhau trên một vùng đất, cùng khai hoang lập làng Cư dân ở đây chủ yếu sống bằng nông nghiệp và ngư nghiệp Các làng xã ở Hội An phát triển theo hướng chuyên ngành, chuyên nghề, đáng chú ý nhất là các hình thức sản xuất thủ công và giao thương buôn bán giữa các làng, tạo tiền đề cho việc giao lưu buôn bán với nước ngoài Trong giai đoạn từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII, Hội An là trung tâm mậu dịch quốc tế trên hành trình thương mại Đông - Tây, là một thương cảng phồn thịnh nhất của xứ Đàng Trong vào thời Chúa Nguyễn Các thương thuyền từ
Trang 19Nhật Bản, Trung Hoa, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan… thường đến đây để trao đổi và mua bán hàng hóa Thời kỳ này, Hội An được biết đến với cái tên Faifo
và được chia thành hai khu phố: một khu phố của người Nhật - hay còn gọi là phố Nhật và một khu phố của người Trung Hoa – hay phố Khách Trong Xứ Đàng Trong năm 1621, Cristophoro Bori viết: “Vì cho tiện việc hội chợ, chúa Nguyễn đã cho phép người Trung Quốc và Nhật Bản làm nhà cửa theo tỷ lệ với số người của
họ để dựng lên một đô thị Đô thị này gọi là Faifo và nó khá lớn Chúng ta có thể nói có hai thành phố, một của Trung Quốc, một của Nhật Bản Họ sống riêng biệt đặt quan cai trị riêng và theo phong tục tập quán của mỗi nước” [6, 54] Đây là giai đoạn phát triển cực thịnh của thương cảng này Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ XVIII, do
có sự thay đổi chính trị trong nước và cả khu vực, cùng với sự bồi lấp của bến cảng Hội An nên phố cảng này dần dần nhường vị trí cảng thị cho Đà Nẵng - bắt đầu một thời kỳ suy thoái
d Thời kỳ Đại Nam:
Thời kỳ Đại Nam bắt đầu từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 Giai đoạn này đánh dấu quá trình suy thoái của đô thị cổ Hội An Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua lấy hiệu là Gia Long lập nên triều Nguyễn Nhà Nguyễn xây dựng kinh thành tại Huế - phía Bắc của Hội An Trong thời Nguyễn, Hội An không còn là nơi giao thương buôn bán sầm uất như thời hưng thịnh vào thế kỷ XVI-XVIII nữa Có nhiều nguyên nhân gây nên sự suy thoái này nhưng nổi bật nhất có lẽ là hai lý do sau: Thứ nhất, từ thế kỷ XIX, cảng Hội An đã bị phù sa bồi lấp, cửa sông Cửa Đại càng ngày càng bị thu hẹp và con sông Cổ Cò cũng bị phù sa bồi lấp làm cho các thương thuyền từ các nơi khó có thể cập cảng Hội An Vì thế, Hội An mất dần vị trí cảng thị quan trọng nhất của Việt Nam, nhường chỗ cho cảng thị Đà Nẵng Thứ hai,
do chính sách “bế quan tỏa cảng” của các vị vua triều Nguyễn Vua Gia Long cảm nhận được mưu đồ xâm lược và bành trướng của các thế lực phương Tây đối với các nước Đông Nam Á (Philippin bị Tây Ban Nha cai trị từ năm 1565, Indonesia bị
Hà Lan xâm lược từ năm 1799, Mianma bị Anh chinh phục từ năm 1826…) Do đó,
từ thời Gia Long cho đến các triều đại Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, các chính
Trang 20sách đóng cửa không quan hệ với bên ngoài đặc biệt là các nước phương Tây (trừ Trung Hoa) đã được thực hiện nghiêm ngặt Từ năm 1887 đến năm 1945, người Pháp đã kiểm soát được Đông Dương, trong đó có Việt Nam Từ đó, Hội An trở thành thuộc địa của Pháp Trong giai đoạn này, Hội An không còn là cửa ngõ thông thương với các nơi khác trong và cả ngoài nước
e Thời kỳ Việt Nam:
Thời kỳ Việt Nam kéo dài từ năm 1945 cho đến nay Trong thời kỳ này, Hội
An đã chiến đấu kiên cường để chống lại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ nên đã được nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” Sau khi đất nước được giải phóng, Hội An lại trở thành một khu đô thị yên bình, cổ kính Vào những năm cuối thập niên 80, nhờ có những nét văn hóa đặc trưng của người Việt hòa lẫn với nét văn hóa đặc trưng của người Hoa, người Nhật và cả người Pháp nên Hội An đã đón một lượng du khách đáng kể đến tham quan Điều này đã ít nhiều làm thay đổi kinh tế và dân số của khu
đô thị cổ này Bước ngoặt đánh dấu sự phát triển không ngừng của khu đô thị cổ này là sự kiện Hội An đã được tổ chức UNESCO công nhận là Di sản văn hóa Thế giới vào năm 1999 Sự kiện này đã giúp Hội An có được những cơ hội quý giá để phát triển kinh tế theo hướng phát triển tiềm năng du lịch văn hóa
Như vậy, Hội An là một trong những khu đô thị cổ nhất Việt Nam có chiều dài lịch sử khoảng năm trăm năm Nhiều tài liệu cổ đã cho thấy trước năm 1640 đã xuất hiện một thương cảng trên sông Hoài mang tên Hội An Thương cảng này đã
có quan hệ buôn bán trao đổi với hàng hải thế giới phát triển cực thịnh vào cuối thế
kỷ XVII và bắt đầu suy thoái vào cuối thế kỷ XVIII Hội An đã trải qua nhiều biến động của lịch sử đặc biệt là hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ nhưng may mắn đã tránh được sự tàn phá và hủy diệt của chiến tranh Cho đến nay, Hội
An vẫn còn lưu giữ được những di tích lịch sử mang đậm nét văn hóa của Việt Nam, Trung Hoa và Nhật Bản - kết quả của sự hội tụ văn hóa của các nước Đông Nam Á nói riêng và phương Đông nói chung Chính quyền và nhân dân nơi đây đã
ý thức được và quyết tâm giữ gìn những vốn quý của cha ông để lại từ bao đời nay
Trang 211.1.2 Một số di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng của Hội An
Phố cổ Hội An là một quần thể kiến trúc cổ chiếm một khoảng không gian khoảng hai cây số vuông, thật nhỏ bé so với đô thị cổ Sài Gòn - Gia Định, càng nhỏ gấp nhiều lần so với Đông Đô - Thăng Long - Hà Nội, cũng không có nhiều di tích lịch sử như cố đô Huế Thế nhưng, chỉ với lịch sử hơn 500 năm hình thành và phát triển, Hội An lại có sức hút kỳ lạ đối với người dân trên khắp đất nước Việt Nam và
cả du khách hay các nhà nghiên cứu ở khắp thế giới Du khách đã một lần đến đây đều mong có dịp trở lại, thậm chí không ít người tới tham quan du lịch nhưng đã ở lại và trở thành cư dân của phố cổ nhỏ bé này
Điểm khác biệt của Hội An so với các đô thị cổ trong nước chính là ở sự tồn tại một tổng thể với hàng ngàn di tích văn hóa lịch sử mang những nét đặc thù của nghệ thuật kiến trúc đô thị Việt Nam Đô thị cổ Hội An là một tập hợp các loại hình kiến trúc đô thị cổ với một cơ cấu dân cư đô thị vẫn còn nguyên vẹn Hầu như toàn
bộ các công trình lịch sử đó đều có chủ nhân của chúng và đều được sử dụng trong cuộc sống hiện tại “Qua các cuộc điều tra, nghiên cứu của các cơ quan thuộc các ngành văn hóa, sử học, khảo cổ học, các nhà khoa học đã khảo sát được bảy trăm
di tích lịch sử ở Hội An và nhận thấy trong đó có hai trăm sáu mươi công trình đáp ứng được các chuẩn mực giá trị kiến trúc từ các bộ phận đến toàn bộ mà điển hình
là Chùa Cầu, Miếu Quan Công, Hội Quán Phước Kiến, Chùa Quan Âm, Nhà cổ số
101 Nguyễn Thái Học ”[49, 38]
a Chùa Cầu:
Từ lâu, Chùa Cầu đã trở thành biểu tượng của phố cổ Hội An Mấy trăm năm qua, Chùa Cầu hiện hữu vững bền giữa lòng đô thị cổ, trở thành một công trình kiến trúc độc đáo vào loại bậc nhất của địa phương Tên gọi chính thức của Chùa Cầu là
“Lai Viễn Kiều” do Chúa Nguyễn Phúc Chu đề danh từ năm 1719, nhân một lần tuần du vào Hội An Ngoài ra, Chùa Cầu còn được gọi bằng một tên gọi khác là
“Cầu Nhật Bản” để tri ân các thương nhân Nhật Bản đã có công tạo dựng đầu tiên Quốc Sử quán Triều Nguyễn- Đại Nam nhất thống chí ghi rõ: “Cầu ở xã Cẩm Phô về phía Tây Hội An, huyện Diên Phước, nước khe chảy về phía Nam đổ vào
Trang 22sông Cái, cầu bắc ở trên Tương truyền cầu này do người khách buôn Nhật Bản bắc, dưới cầu xây đá, trên lát ván, gác mái gồm bảy gian lợp ngói” [dẫn theo 49, tr.39] Lai Viễn kiều được các thương nhân Nhật Bản đầu tư xây dựng trong khoảng vài thập niên đầu của thế kỷ XVII, khi họ nắm giữ vai trò chủ đạo ở đô thị này (khi Phố Nhật phát triển thịnh đạt hơn cả Phố Khách của người Hoa và Phố An Nam của người Việt) Ban đầu, cây cầu được xây dựng chủ yếu để đáp ứng công năng giao thông, gắn với phần nào tín ngưỡng nên kiến trúc nhỏ bé, đơn giản hơn nhiều so với hiện nay Năm 1653, sau khi người Nhật Bản rời khỏi Hội An do chính sách đối ngoại có nhiều thay đổi của Nhật Hoàng, người Hoa Minh Hương đã tiến hành trùng tạo công trình với quy mô lớn Họ xây thêm gian giữa nhô ra, gắn với cầu, tạo nên mặt bằng tổng thể hình chữ đinh, tôn tạo hệ thống mái ngói âm dương che phủ toàn bộ di tích, làm đa dạng hóa công năng và thay đổi tên gọi của công trình Từ đó đến nay, dù đã trải qua nhiều lần trùng tu nhưng quy mô, kiểu dáng, diện mạo của Chùa Cầu cơ bản vẫn được bảo tồn nguyên vẹn Chùa Cầu đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia vào ngày 19/3/19851 Lãnh đạo địa phương đã tổ chức sáng tác và chính thức chọn hình ảnh Chùa Cầu cách điệu làm logo của Hội An từ tháng 12 năm 2004 - nhân kỷ niệm 5 năm ngày phố cổ Hội An được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới Ngày 17/5/2006, Chùa Cầu được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam in trên tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng Đây cũng là niềm tự hào của người dân Hội An nói riêng và những người con xứ Quảng nói chung
b Hội Quán Phước Kiến:
Vào thế kỷ XVII, nhà Minh bị nhà Thanh lật đổ Một số gia đình Trung Hoa không thuần phục triều đình nhà Thanh chạy sang lánh nạn và ở lại Hội An (có tới
6000 người Trung Hoa từ năm tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, Hải Nam, Triều Châu
và Gia Ứng) [10,202] Hội quán Phước Kiến nằm ở 46 đường Trần Phú - là một trong năm loại hình kiến trúc điển hình của mô hình hội quán của địa phương, góp phần làm phong phú thêm cho nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, và tạc tượng của Việt
1
Chùa Cầu cùng với Hội quán Phúc Kiến và Nhà cổ Tấn Ký được Bộ văn hóa công nhận là Di tích lịch sử- Văn hóa cấp quốc gia đợt đầu tiên của Hội An vào ngày 19/3/1985
Trang 23Nam “Hội quán là nơi sinh hoạt của cộng đồng các thương nhân quê Phúc Kiến và
ở đó người ta thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu- vị nữ thần cứu hộ các thuyền buôn của người Hoa gặp nạn giữa biển khơi” [50,226] Cho đến bây giờ, người Hội An vẫn còn sinh hoạt và thờ tự ở Hội quán Hàng năm, ở Hội Quán Phước Kiến, cộng đồng người Hoa thường tổ chức lễ vía Thiên Hậu Thánh Mẫu thật linh đình vào ngày 23 tháng 3 âm lịch, thu hút đông đảo người dân địa phương và các nơi khác về tham gia với ước nguyện cầu phúc, mong đợi sự che chở, ban phước lành của bà Thiên Hậu Trong lễ vía Bà Thiên Hậu ở Hội An, người ta thường tổ chức các hoạt động khác như múa lân, đốt pháo hoa, xin lộc hay biểu diễn văn nghệ vui chơi, giải trí
Nghiên cứu Hội Quán Phước Kiến giúp các nhà khoa học nắm vững thêm diện mạo của nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc và tạo hình trong tổng thể các di tích lịch sử giao lưu giữa nền văn hóa truyền thống của Việt Nam với nền văn hóa Trung Hoa
c Miếu Quan Công:
Ở Việt Nam hay nhiều nước Châu Á khác thường có tục thờ các Nhân Thần - những vị anh hùng hào kiệt có công với đất nước Một “Nhân thần” của Trung Hoa được nhiều nước Đông Nam Á thờ tự đó là Quan Vân Trường, thường được gọi là Quan Công Ngài là hiện thân của lòng dũng cảm, sự trung hiếu tiết nghĩa
Miếu Quan Công ở phố cổ là ngôi miếu uy nghi và cổ xưa, thường được nhân dân gọi là Chùa Ông Miếu tọa lạc tại số 24 đường Trần Phú - đối diện chợ Hội An, ở khu trung tâm phố cổ đông dân cư Miếu được người Minh Hương xây dựng năm 1653 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648- 1687), cách đây hơn 350 năm với sự giúp sức của người Việt Miếu có mặt bằng hình tứ giác, gồm nhiều nếp nhà họp lại, có ba phần: tiền sảnh, sân trời và hậu sảnh Mái của miếu được lợp bằng ngói ống men màu, bờ nóc nhô lên hình rồng được ghép bằng các mảnh sành
sứ nhiều màu Chùa Ông là một di tích lịch sử và tín ngưỡng nổi tiếng Hằng ngày, nhất là vào mùng một hàng tháng, nhiều người đến đây thắp hương cầu phúc Cứ vào ngày 24 tháng 6 âm lịch mỗi năm, lễ hội Chùa Ông lại được tổ chức để nhân dân cả nước hành hương về viếng chùa
Trang 24d Nhà cổ số 101 Nguyễn Thái Học:
Thực ra, nhà cổ số 101 Nguyễn Thái Học không phải là ngôi nhà cổ nhất mà
là ngôi nhà tiêu biểu cho kiểu nhà phố của đô thị cổ Hội An Ngôi nhà được xây dựng vào những năm 1800-1820 và cho đến nay, bảy thế hệ đã và đang sống dưới mái nhà này Tộc của họ thuộc cộng đồng người Minh Hương
Ngôi nhà cổ này thuộc loại hình nhà ống hay nhà ruột ngựa, dài ba mươi mét
- là loại kiến trúc dân dụng với bốn nếp nhà nối tiếp nhau Nhà cổ số 101 được biết đến với tên gọi nhà cổ Tấn Ký bởi trong những thế kỷ trước, đây là hiệu buôn các mặt hàng quế, tơ lụa với tên gọi “Tấn Ký” Nội thất của nhà cổ được chia thành nhiều gian, mỗi gian có chức năng riêng Mặt tiền nhà là nơi để mở cửa hiệu buôn bán Mặt sau thông với bến sông để làm nơi xuất nhập hàng hóa Vật liệu trang trí nội thất của ngôi nhà chủ yếu là các loại gỗ quý và được chạm trổ, điêu khắc rất tinh xảo những hình ảnh về giao long, hoa quả, bát bửu Ngày 17/2/1990, nhà cổ số
101 được Nhà nước cấp bằng Di tích Lịch sử - Văn hóa Quốc gia
Trên đây chỉ là một vài di tích văn hóa - lịch sử của Hội An Phố cổ còn rất nhiều di tích đặc biệt khác với sức thu hút lớn đối với các nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử cũng như những du khách yêu thích vẻ đẹp cổ xưa
1.1.3 Những nghề thủ công truyền thống ở Hội An
Từ khi con người xuất hiện thì những nhu cầu về ăn, mặc, ở và những vật dụng phục vụ cho cuộc sống hằng ngày cũng nảy sinh Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hàng ngàn năm trước đây, nhiều nghề thủ công cũng
đã ra đời tại các vùng nông thôn, nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt tự cung tự cấp của người dân Những ngành nghề thủ công ấy về cơ bản, đều được khai sinh từ nông nghiệp, người thợ cũng vốn là người nông dân
Việc hình thành các làng nghề thủ công khởi nguồn từ việc các cư dân tranh thủ lúc nông nhàn nhằm cải thiện bữa ăn và đáp ứng những nhu cầu thiết yếu hằng ngày Chẳng hạn, họ làm ra các đồ dùng bằng sắt, đồng phục vụ cho sản xuất hay những đồ mây, tre, lụa phục vụ sinh hoạt Theo thời gian, nhiều nghề từ chỗ để phục vụ nhu cầu sinh hoạt riêng của cư dân đã trở thành hàng hóa để trao đổi, mang
Trang 25lại lợi ích kinh tế không nhỏ cho người nông dân - những người vốn chỉ biết trông chờ vào các vụ lúa Từ chỗ một vài nhà làm đến chỗ nhiều gia đình khác cũng học theo; từ đó mà nghề lan rộng và phát triển trong phạm vi cả làng hay mở rộng ra các làng xung quanh Nghề thủ công trong mỗi làng cũng bắt đầu có sự phân hóa do lợi ích khác nhau của mỗi nghề mang lại Nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát triển ngày càng mạnh, ngược lại, những nghề có hiệu quả kinh tế thấp hay không phù hợp với làng thì dần bị mai một Chính vì thế mà có hiện tượng một làng chuyên sâu vào một nghề nào đó như làng làm đồ đồng, làng làm gốm, làng dệt lụa Quá trình hình thành nghề thủ công ở Quảng Nam nói chung và Hội An nói riêng cũng không nằm ngoài quá trình chung ấy
Đàng Trong nói chung, xứ Quảng (trong đó có Hội An) nói riêng là một vùng đất trù phú, giàu có về các loại nông lâm thủy hải sản Các ngành nghề thủ công truyền thống ở Hội An ít có nguồn gốc thuần túy bản địa Đa số nghề thủ công
ở đây du nhập theo con đường di dân của những lưu dân gốc Thanh Hóa - Nghệ An
- Hà Tĩnh Do đó, cộng đồng cư dân Hội An một mặt kế thừa những gì vốn có ở quê cha đất tổ trước đây, mặt khác tiếp thu và điều chỉnh một số nghề thủ công địa phương nơi họ đến sinh sống nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống của họ Đáng chú ý
là nghề đóng ghe bầu ở làng mộc Kim Bồng hay nghề dệt chiếu ở Cẩm Nê
Ngoài ra, Hội An còn là một thương cảng lớn, một trung tâm trung chuyển mậu dịch giao thương trong nước và cả khu vực vào thế kỷ XVII- XVIII Đây cũng chính là điều kiện để phát triển các ngành nghề thủ công địa phương
1.1.3.1 Một số nghề thủ công ở Hội An:
a Nghề thau - thiếc: tập trung ở làng Mậu Tài - nay ở phường Sơn Phong,
TP Hội An Những người thợ của nghề chủ yếu sản xuất ra những vật dụng bằng thau hoặc thiết như xô, chậu, nồi, mâm, muỗng Đây là những vật dụng sinh hoạt hằng ngày cần thiết cho cuộc sống con người Chính vì vậy, nghề làm thau- thiếc vẫn còn tồn tại ở Hội An cho đến ngày nay
b Nghề rèn: nằm rải rác khắp nơi ở Hội An Những thợ rèn của phố cổ chuyên chế tạo ra những công cụ sản xuất phục vụ cho ngành nông nghiệp hay vật
Trang 26dụng sinh hoạt hằng ngày như dao, rựa, cuốc, xẻng Hiện nay, nghề rèn vẫn tồn tại
và phát triển ở Hội An
c Nghề dệt vải, dệt chiếu, thêu: tập trung ở các phường Cẩm Phô, Kim Bồng, Thanh Châu Người dân Hội An rất khéo tay và sáng tạo, những sản phẩm
họ làm ra đều là những sản phẩm có chất lượng, độ tinh xảo cao, đẹp mắt Những sản phẩm vải hoặc chiếu thêu, dép thêu là hàng lưu niệm được yêu thích của du khách khi đến với phố cổ
d Nghề đan lát, làm lồng đèn, làm liễn đối : tập trung ở các phường An Mỹ, Sơn Phô, Thanh Hà
e Nghề nung vôi, làm gốm: tập trung ở các làng Thanh Hà, Sơn Phô Nghề gốm là một nghề thủ công truyền thống lâu đời ở Hội An Gốm Thanh Hà là một thương hiệu gốm nổi tiếng trong và ngoài khu vực Hiện nay, gốm Thanh Hà là mô hình làng nghề phát triển gắn với du lịch thành công nhất của Hội An
f Nghề làm vàng mã, làm kim hoàn: ở các phường Minh Hương, An Hội Phố cổ Hội An là nơi giao lưu văn hóa của Trung Hoa và Việt Nam nên nhiều nghề thủ công có nguồn gốc phương Bắc cũng được du nhập vào Trước đây, nghề làm vàng mã hay kim hoàn phát triển cực thịnh, nhưng hiện nay những ngành nghề này dần bị thu hẹp do nhiều yếu tố khách quan
g Nghề chế biến – đóng gói thực phẩm: nhiều nhất ở các phường Minh Hương, An Hội, Cẩm Phô Ngành chế biến - đóng gói thực phẩm của Hội An đang rất phát triển, chủ yếu cung cấp những đặc sản của địa phương cho khách du lịch trong và ngoài nước
Hiện nay, khi Hội An trở thành một điểm du lịch đầy hấp dẫn của du khách bốn phương, các nghề thủ công phục vụ nhu cầu mua sắm của khách du lịch càng phát triển đa dạng, đặc biệt là những nghề như may đo quần áo, làm lồng đèn, chế biến đặc sản của địa phương
1.1.3.2.Những làng nghề ở Hội An:
Hội An cũng có nhiều làng nghề rất “thích nghi” trong điều kiện môi trường mới Những làng nghề tại đây nổi tiếng khắp cả nước với những sản phẩm đã trở
Trang 27thành hàng hóa, hơn thế nữa là những hàng hóa “có thương hiệu” Những làng nghề
ở đây thu hút số lượng lao động lớn của địa phương, có quy mô khai thác lớn và sản phẩm có giá trị cao Trong đó, có 4 làng nghề nổi tiếng nhất là làng mộc Kim Bồng, làng yến Thanh Châu, làng rau Trà Quế, làng gốm Thanh Hà
a Làng mộc Kim Bồng: Vốn là một làng nghề có nhiều thế hệ nghệ nhân đã từng tạo dựng nên đô thị Hội An từ cuối thế kỷ XVI Những nghệ nhân của làng cũng đã góp phần xây dựng cung điện, lăng tẩm Huế, tôn tạo di tích kiến trúc cổ, đóng sửa tàu thuyền và làm hàng mỹ nghệ cho đến ngày nay
b Làng yến Thanh Châu: Làng đã có 4 thế kỷ khai thác và bảo dưỡng yến sào - một loại đặc sản được thiên nhiên ban tặng, có giá trị dinh dưỡng rất cao
c Làng rau Trà Quế: Làng này quanh năm cung cấp nguồn rau xanh, thơm ngon nổi tiếng cho cả vùng
d Làng gốm Thanh Hà: Là nơi sản xuất ra những sản phẩm gạch ngói và đồ dùng phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của nhân dân chén, dĩa, tô, bình Hiện nay, làng gốm Thanh Hà là nơi cung cấp chính những vật dụng bằng sứ cho người dân Hội An và cả những vùng lân cận
Tóm lại, hoạt động các ngành nghề thủ công ở Hội An nói riêng và cả nước nói chung đều tồn tại với tư cách hỗ trợ nông nghiệp, nhằm đáp ứng nhu cầu của người nông dân trong sinh hoạt hàng ngày Hội An lại là một vùng đất có điều kiện địa lý đặc thù; có nguồn gốc cư dân hỗn tạp (từ người dân xứ Thanh – Nghệ - Tĩnh của nước Đại Việt di cư vào cho đến người bản địa của xứ Chămpa cùng với những thương gia Nhật Bản, Trung Hoa ); có những yếu tố lịch sử xã hội khác nhau nên
đã hình thành những nghề thủ công truyền thống đa dạng và phong phú Ở đây, vừa
có sự chuyên ngành chuyên nghề lại vừa có sự đan xen đa ngành đa nghề Đây cũng
là một đặc trưng của nghề truyền thống ở phố cổ Hội An
1.2 Khái quát về nghề làm lồng đèn ở Việt Nam
1.2.1 Định nghĩa lồng đèn
Có rất nhiều định nghĩa về khái niệm “lồng đèn” hay “đèn lồng” được đề cập đến trong các cuốn từ điển Tiếng Việt từ xưa đến nay
Trang 28Theo Phan Canh trong cuốn Từ điển Tiếng Việt, “lồng đèn” có nghĩa là “đèn giấy xếp hoặc đèn bọc ngoài bằng cái lồng” [7,707] Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Lân, “đèn lồng” được định nghĩa là: “khung lồng căng lụa hay phết giấy màu, trong có thắp đèn, dùng trang trí ở cửa nhà trong dịp khánh tiết” [20,tr 373] Cũng theo tác giả này, “lồng đèn là thứ đèn hình hộp có mặt kính xung quanh và có quai để xách” [21,1083]
Từ điển tiếng Việt phổ thông của Chu Bích Thu cũng định nghĩa: “đèn lồng
là loại đèn có khung bọc ngoài như một cái lồng, căng lụa màu hoặc dán giấy màu, dùng để trang trí” [44,274]
Trong cuốn Từ điển thông dụng của Hoàng Phê, “đèn lồng” được định nghĩa là “đèn có khung bọc ngoài như một cái lồng, có dán giấy hoặc lụa màu, dùng để trang trí” [32,226]
Như vậy, khái niệm “lồng đèn” hay “đèn lồng” được đề cập rất nhiều trong các cuốn Từ điển Tiếng Việt Đó là loại đèn có khung bọc bằng giấy màu hoặc vải, thắp nến hoặc đèn điện bên trong, có công dụng thắp sáng và trang trí Ngày nay, ngoài nguyên liệu giấy truyền thống, lồng đèn còn được làm bằng nhiều nguyên liệu khác như sắt, vải, mây, gốm với đa dạng mẫu mã và màu sắc, mang đậm nét truyền thống và hiện đại
1.2.2 Ý nghĩa của chiếc lồng đèn
Lồng đèn là sản phẩm thủ công truyền thống của văn hóa Việt, cũng là sản phẩm của quá trình giao lưu văn hóa với Trung Hoa Trải qua thời gian dài tiếp xúc văn hóa, lồng đèn Việt Nam và lồng đèn Trung Quốc đã có những điểm tương đồng
cả về hình dáng lẫn ý nghĩa Thời phong kiến, lồng đèn chỉ xuất hiện ở cung đình, trong các gia đình quan lại chứ không phổ biến trong dân gian Ban đầu, lồng đèn chủ yếu được sử dụng để thắp sáng hay để trang trí Về sau, việc sử dụng lồng đèn nhuốm màu sắc tâm linh khi chúng được treo trong các nghi lễ hay vào dịp lễ tết Vậy, lồng đèn có ý nghĩa như thế nào trong đời sống con người từ xưa đến nay?
a Trước hết, lồng đèn có ý nghĩa lớn đối với đời sống xã hội loài người Từ
xa xưa, đèn là một vật dụng rất thực tế, được dùng để thắp sáng Đèn được làm có
Trang 29ống chụp (hay còn gọi là cái lồng) bên ngoài để chống gió Trải qua một thời gian dài, ống chụp bên ngoài của lồng đèn ngày càng được cải tiến, từ chỗ được làm bằng giấy, mây tre, đến chỗ được làm bằng lụa, nhựa Như vậy, con người sáng tạo ra lồng đèn là một cách để thích nghi với môi trường sống Khi con người chưa phát minh ra điện, chúng là dụng cụ chính để thắp sáng, phục vụ nhu cầu sinh hoạt của con người từ thời cổ đại đến thời phong kiến
Ngoài ra, lồng đèn còn được dùng để trang trí Từ xưa, lồng đèn đã được treo trong cung vua chúa, phủ của các quan; được dùng để trang trí vào những ngày
lễ tết, hội hè Ngày nay, vào những dịp lễ lớn, tại các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội An , trên các con đường dẫn vào trung tâm thành phố, người ta thường trang trí những dãy lồng đèn đủ màu sắc
b Lồng đèn còn mang ý nghĩa tâm linh Lồng đèn thường được treo trong các chùa miếu, hội quán , nhất là những ngôi chùa, miếu của người Hoa Ở Hội
An, không có ngôi chùa hay Hội quán nào không treo lồng đèn Người ta tin rằng,
“đèn tượng trưng cho con người, ánh sáng tỏa ra từ những chiếc lồng đèn giúp xua đuổi tà ma, quỷ dữ hay những điều không tốt lành” [54, 210]
Đặc biệt, theo tập tục xưa của người Trung Quốc, lồng đèn đỏ thường được treo vào ngày hỷ sự (màu đỏ mang ý nghĩa tốt lành, may mắn), còn lồng đèn trắng được treo vào ngày có tang ma (vì màu trắng mang đến sự xui rủi, chết chóc) [26, 54]
Về mặt tâm linh, lồng đèn còn được xem là công cụ dẫn đường cho những linh hồn đã khuất tìm đường đến thiên đường Có lẽ vì vậy mà tập tục thả đèn hoa trong những lễ hội hoa đăng xuất hiện ở nhiều nước phương Đông như Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản [12, 90] Hay ở Trung Quốc, Đài Loan, người ta còn có tục “thả đèn trời” để mong điều ước của mình đến được với các vị thần tiên
c Lồng đèn còn có ý nghĩa trong phong thủy học Trong cuốn Phong thủy cổ đại Trung Quốc - Lý luận và thực tiễn, tác giả Vu Hy Hiền [15,56] đã đề cập đến ý nghĩa của lồng đèn trong phong thủy như sau:
Trang 30Thứ nhất, lồng đèn mang lại năng lượng tích cực: Trong phong thủy, nếu được sử dụng đúng chỗ, lồng đèn sẽ có tác dụng thúc đẩy sự hài hòa, tăng cường năng lượng và tạo sự cân bằng về sức khỏe Trong không gian phòng ngủ, ánh sáng phát ra từ lồng đèn có tác dụng tạo ra năng lượng dương, đồng thời giúp cân bằng các luồng khí Điểm đặt lồng đèn tốt nhất là ở hai bên giường
Thứ hai, lồng đèn giúp hôn nhân hạnh phúc: Trong phong thủy có sự phân chia hai thái cực, nên việc sử dụng các vật thể thành đôi thành cặp đạt hiệu quả rất cao và rất phổ biến Nếu chúng ta đặt hai chiếc lồng đèn có ánh sáng đỏ ở hai bên đầu giường thì chúng sẽ có tác dụng giữ hôn nhân hạnh phúc Điều đáng chú ý là đèn phải được thắp sáng cùng lúc và tắt cùng lúc Hai chiếc đèn sẽ giúp gia tăng sự hòa hợp giữa nam và nữ Vì vậy, điều tối kỵ là chỉ thắp sáng một chiếc đèn (sẽ không tạo ra dòng năng lượng có ích cho cặp vợ chồng) Không phải ngẫu nhiên mà thời phong kiến ở Trung Quốc, người con gái khi đi lấy chồng hoặc khi đã có thai thường được mẹ tặng cho cặp lồng đèn để cầu hạnh phúc, bình yên
Thứ ba, lồng đèn giúp tăng khả năng sinh sản: Không ít cặp vợ chồng hiếm muộn, ngoài việc đến khám tại các bệnh viện phụ sản, họ còn treo lồng đèn theo phong thủy Vì họ tin rằng chúng có thể đem lại may mắn, tạo nên sự hài hòa cho ngôi nhà, làm cho các bà mẹ thoải mái, giảm stress và sẽ dễ dàng có con hơn
Lồng đèn là sản phẩm thủ công ra đời từ hàng ngàn năm trước Đến nay, lồng đèn đã được sử dụng ở khắp nơi trên thế giới, phổ biến nhất là các nước ở Châu Á, đặc biệt là ở Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Thái Lan Ngày nay, ở nhiều nơi vẫn còn phong tục rước lồng đèn trong những ngày lễ hội mang đậm ý nghĩa tôn giáo, đặc biệt là lễ hội của người Hoa Chẳng hạn như lễ hội Chùa Bà ở Thủ Dầu Một, Bình Dương vẫn còn tập tục đấu giá và rước lồng đèn Theo Lương Văn Lựu “Được lồng đèn là đón rước lấy ánh linh của phước đức và bổn mạng, vào gia đình, phù trợ cho công cuộc làm ăn trong năm sẽ sinh lợi bằng năm bằng mười
số vốn Người Trung Quốc chơi đèn lồng không phải chỉ để tiêu khiển mà còn trang trí nội thất vào các ngày lễ hội trong năm” [25, 48] Dù được sử dụng ở quốc gia nào, lồng đèn vẫn mang những ý nghĩa tương tự Ngoài tác dụng đối với đời sống
Trang 31xã hội của con người, nó còn mang ý nghĩa tâm linh và ý nghĩa trong phong thủy Chắc chắn, những ý nghĩa ấy sẽ còn hiện hữu trong chiếc lồng đèn dù năm tháng có qua đi
1.2.3 Nguồn gốc và lịch sử phát triển của nghề làm lồng đèn ở Việt Nam
Có thể nói, nghề làm lồng đèn ở Việt Nam gắn liền với Tết Trung Thu (Rằm tháng 8 âm lịch) Trong văn hóa lúa nước của người Việt cổ, Trăng có một ý nghĩa rất quan trọng, gắn liền với mùa màng và mọi hoạt động của con người Rằm tháng Tám âm lịch là thời khắc trăng sáng nhất và đẹp nhất trong năm, lại là thời điểm nông nhàn Chính vì lẽ đó, một dân tộc có nhiều lễ hội như nước ta đã tổ chức mừng Trung Thu Theo các nhà khảo cổ học, Tết Trung Thu ở Việt Nam đã xuất hiện từ
xa xưa, cách đây mấy ngàn năm Những hoạt động vào ngày rằm tháng tám được khắc lên trống đồng Ngọc Lũ Theo phong tục của người Việt, vào dịp Trung Thu, cha mẹ bày cỗ, mua dụng cụ về làm lồng đèn giấy thắp nến treo trong nhà và để trẻ con rước đèn mừng Trung Thu Cỗ mừng Trung Thu gồm bánh Trung Thu, kẹo và các loại hoa quả Đây là dịp để cha mẹ thể hiện tình yêu thương của mình đối với con trẻ, giúp tình cảm gia đình ngày càng khắng khít Chính vì lẽ đó, Tết Trung Thu cũng là Tết của tình thân, là ngày đoàn viên gia đình Hoạt động phổ biến nhất của ngày Tết Trung Thu là bày cỗ, múa lân và rước đèn Đèn trung thu thường là loại đèn được làm bằng khung tre, bọc giấy kính có hình ông sao, ông trăng, cá chép, chú thỏ hoặc loại đèn giấy xếp, thắp nến Ngày nay, trẻ em Việt Nam thường sử dụng loại đèn nhựa dùng pin của Trung Quốc vì loại đèn nhựa này có mẫu mã “bắt mắt”, lại có nhiều tính năng như phát nhạc, phun hạt cườm , giá thành lại rẻ Đây chính
là nguyên nhân khiến cho nghề làm lồng đèn Trung Thu Việt Nam bị mai mọt dần
Như vậy, nghề làm lồng đèn ở Việt Nam xuất hiện từ rất lâu, khi những hoạt động của ngày tết Trung Thu ra đời và phổ biến Tập tục rước đèn trong ngày rằm tháng Tám đã làm xuất hiện những chiếc lồng đèn đầu tiên ở nước ta Những chiếc đèn Trung Thu ấy gắn liền với tuổi thơ của nhiều thế hệ trẻ em Việt Nam Vấn đề đặt ra là ngày tết Trung Thu ở Việt Nam có phải xuất phát từ văn hóa của người Trung Hoa hay không Có rất nhiều ý kiến cho rằng tết Trung Thu của người Việt
Trang 32có nguồn gốc từ Trung Hoa Nhưng điều này không hoàn toàn đúng, bởi vì tết Trung Thu người Việt hoàn toàn khác với người Hoa, đèn Trung Thu của người Việt cũng khác hẳn với người Hoa Sau một thời gian dài tiếp xúc văn hóa với người Trung Hoa, người Việt đã tiếp thu một số hoạt động văn hóa ngày tết Trung Thu của họ để làm phong phú thêm tập tục của mình Vì vậy, ngày tết Trung Thu của nước ta có những nét tương đồng với người Hoa
Lồng đèn truyền thống của nước ta chính là những chiếc đèn Trung Thu được trẻ em rước vào đêm rằm tháng Tám âm lịch Ngày nay, những làng nghề làm lồng đèn ở Việt Nam không còn thịnh vượng như những thập niên trước Do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan mà những làng nghề làm lồng đèn càng ngày càng thu nhỏ Hiện nay, Hội An là một trong những địa phương còn duy trì và phát triển nghề Tuy nhiên, lồng đèn Hội An không phải là loại lồng đèn Trung Thu truyền thống của Việt Nam mà nó là sản phẩm của sự giao lưu văn hóa với Trung Hoa và Nhật Bản Ở nước ta có 3 làng nghề làm lồng đèn truyền thống nổi tiếng còn lưu danh đến tận ngày nay, đó là làng nghề Báo Đáp (Nam Định), phố nghề lồng đèn ở Hội An (Quảng Nam) và làng nghề làm lồng đèn Phú Bình (TPHCM)
Trang 33ra những chiếc đèn ông sao đẹp, người ta phải ngâm tre từ rất sớm để nan có đủ độ dẻo, chiếc đèn sẽ căng phồng, không bị gãy
Đèn ông sao được chia làm 3 loại: Loại lớn có đường kính 50cm, loại vừa 40cm và loại nhỏ 30cm Do kích cỡ khác nhau nên khi chẻ nan, người thợ phải phân loại rõ ràng Làng Báo Đáp có nghề nhuộm nên người dân mua giấy bóng kính màu trắng, rồi tự tay ngâm, nhuộm giấy thành màu xanh, đỏ, vàng Nan tre dùng để tạo vòng tròn quanh ngôi sao cũng được quấn tua rua giấy nhuộm các màu tươi sáng, rực rỡ Giấy bóng màu được cắt thành những cánh sao đều tăm tắp để sẵn thành từng bó Người thợ chỉ cần quệt hồ dán lên bộ khung tre thật cẩn thận sao cho cánh không bị bong Đèn sau khi dán, viền cánh xong, người ta dùng một thanh tre chống căng mặt đèn rồi dựng ở sân phơi cho khô, sau đó mới tháo ra bó thành từng cọc
100 chiếc mang đi bán ở khắp nơi trong cả nước
Sản phẩm hoàn thành nghe có vẻ đơn giản nhưng trong đó chứa đựng những
bí quyết mà người làng nghề truyền nhau, từ cách chọn cây nứa (phải là những cây nứa già) đến cách phơi nguyên liệu (để có thể chống được ẩm mốc)… Làng Báo Đáp có 7 thôn, thôn nào cũng có gia đình làm đèn ông sao Đến gia đình nào ở Báo Đáp vào dịp Trung Thu, chúng ta cũng thấy lỉnh kỉnh nào giấy màu, những bó cọc đay được sơn cẩn thận, những dây kim tuyến đủ màu, dây sợi, hồ bột, những chiếc đèn ông sao thành phẩm hoặc đang được hoàn thành Từ cụ già, thanh niên cho đến trẻ em, hầu như ai cũng làm lồng đèn Có nhiều gia đình ở làng đã gắn bó với nghề làm đèn ông sao gần 30 năm Những ngày rằm tháng Tám, các gia đình trong làng Báo Đáp bận rộn làm đèn Họ chỉ mong thời tiết thuận lợi, trời đừng mưa để trẻ em vui Trung thu và những mẻ sản phẩm của dân làng xuất đi được thuận lợi
Trang 34Xưởng làm lồng đèn ở làng Báo ĐápNguồn: http:// vietnamexpress
Nghề làm đèn tuy không nặng nhọc nhưng đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên trì, khéo léo Gia đình anh Nguyễn Văn Hòa xóm 4 vốn “có tiếng” trong làng bởi số lượng sản xuất đèn nhiều cho biết: “Đến thời điểm hiện tại, gia đình đã làm được khoảng 3 vạn chiếc đèn Trong điều kiện hiện nay, do thị hiếu của trẻ em cũng có sự thay đổi, thích những đồ chơi hiện đại nên việc tiêu thụ đèn ông sao cũng khó khăn Bởi vậy, chúng tôi không dám làm nhiều” Đây là tâm lý chung của những gia đình làm đèn ông sao Giá đèn ông sao tùy loại lớn, nhỏ dao động trong khoảng từ 10.000- 20.000 đồng/chiếc [17]
Hiện nay, việc sản xuất lồng đèn không còn nhộn nhịp như những năm trước Nhiều người làm đèn trong làng cho rằng bây giờ ai cũng sản xuất cầm chừng, gọi
là có làm cho vui chân vui tay, cho khỏi mất nghề truyền thống của cha ông để lại,
vì không những giá thành đèn ông sao thấp, mà hình như bây giờ trẻ con cũng không còn thích thú với những chiếc đèn xanh đỏ này nữa Nhiều hộ gia đình chuyển hẳn sang nghề làm hoa nhựa, có thu nhập cao hơn, làm đèn ông sao chỉ
“mang tính thời vụ” Nguyên nhân là do mặt hàng đèn trung thu “cổ truyền” bị cạnh tranh bởi nhiều đồ chơi trung thu mới do Trung Quốc sản xuất với nhiều điều hấp dẫn, vừa có nhạc vừa có đèn, thu hút được sự quan tâm của trẻ em Mặt khác, trong làng chưa có cơ sở hay đại lý nào đứng ra thu mua, tiêu thụ sản phẩm mà chủ yếu
Trang 35do các hộ gia đình “tự sản tự tiêu” Cơ chế để “bảo hộ sản xuất” không có, đèn ông sao lại không bảo quản được trong thời gian dài Nếu đèn làm ra không bán được thì chỉ có thể bỏ đi Tuy vậy, các hộ làm nghề trong làng vẫn khẳng định sẽ tiếp tục sản xuất, quyết không bỏ nghề Còn người chơi đèn, thì còn làm để giữ lấy nghề của cha ông Quan điểm đó thể hiện sức sống bền bỉ của văn hoá dân tộc trong giai đoạn giao thoa văn hoá thời kỳ mở cửa, hội nhập hiện nay Chúng ta tin rằng nghề làm lồng đèn ông sao ở Báo Đáp cũng như bản sắc văn hoá dân tộc sẽ trường tồn với thời gian
b Phố nghề lồng đèn Hội An:
Xưa nay, nói đến nghề thủ công truyền thống ở Hội An, người ta thường nhắc đến gốm Thanh Hà, mộc Kim Bồng, ít ai nghĩ đến nghề làm lồng đèn Thế nhưng, từ năm 1990 trở lại đây, nghề làm lồng đèn ở Hội An rất phát triển và thu hút nhiều lao động của địa phương Người Hội An luôn tự hào về những chiếc lồng đèn do chính tay mình làm ra Lồng đèn được xem là một sản phẩm văn hóa du lịch đặc trưng nhất của phố cổ Ðèn lồng ở Hội An có nhiều kích cỡ, nhiều hình thù, từ hình tròn, bát giác, lục giác, hình trái bí, củ tỏi giản đơn đến những chiếc đèn kéo quân, hình rồng, hình con cá với đủ sắc màu Đèn lồng Hội An từ lâu không chỉ đem lại cho phố cổ một nét riêng độc đáo mà còn là một mặt hàng lưu niệm hấp dẫn đối với du khách
Người Hội An rất tự hào về sản phẩm du lịch độc đáo này bởi chúng không chỉ thắp sáng phố phường mà còn tạo một không gian văn hóa độc đáo gắn liền với những con đường “cong cong một cánh cung đầy” này Chúng tôi sẽ trình bày kỹ hơn nghề làm lồng đèn Hội An ở chương 2 của luận văn
Trang 36Cửa hàng bán lồng đèn Phước Hàng- tại Phố lồng đèn
Ảnh: Nguyễn Thị Phương Thảo
và quận 11 Nhưng việc chia cắt hành chính này không ảnh hưởng gì đến tên gọi của xóm nghề
Từ thập niên 50 của thế kỷ trước, theo bước chân di cư của những nghệ nhân làng Báo Đáp - Nam Định, nghề làm lồng đèn đã đến Sài Gòn và phát triển thịnh vượng nơi đây Nghề theo người, rồi người trước truyền nghề cho người sau Theo Tôn Nữ Quỳnh Trân trong cuốn Làng nghề thủ công truyền thống tại thành phố
Hồ Chí Minh, “Ban đầu, chỉ có 7 hộ gia đình với khoảng hơn 30 người tham gia nghề Sau đó, lồng đèn bán chạy, những người làm lồng đèn có thu nhập khá hơn nên nhiều gia đình khác đã học làm lồng đèn theo Đến những năm đầu thập niên
Trang 3770, ở Phú Bình có gần 40 hộ gia đình
làm lồng đèn”[45,149] Sau năm 1975,
xóm nghề hầu như ngưng hoạt động vì
lồng đèn không còn được tiêu thụ như
trước Đến năm 1980, các cơ sở tiêu thụ
lồng đèn ở Chợ Lớn bắt đầu đặt hàng với
số lượng lớn Xóm nghề có dấu hiệu
phục hồi Chỉ trong vài năm, số gia đình
và số nhân công trong xóm nghề đã tăng
lên, còn cao hơn so với những năm thịnh
Xóm lồng đèn Phú Bình- quận 11
Ảnh: N.T.P.T
nhất của thập niên 70 Mẫu mã của lồng đèn Phú Bình cũng có nhiều thay đổi, không còn đơn điệu như trước Những mẫu lồng đèn do xóm nghề Phú Bình sản xuất còn được tham dự các hội thi lồng đèn trong cả nước Đầu những năm 90, xóm lồng đèn Phú Bình được nhiều công ty đến đặt làm những loại lồng đèn đặc biệt để trang trí cho các lễ hội Công viên văn hóa Đầm Sen hàng năm thường đặt những chiếc đèn lồng lớn để trang trí vào những mùa lễ hội
Tuy nhiên, những năm gần đây, khi lồng đèn Trung thu của Trung Quốc tràn ngập thị trường, nghề làm lồng đèn ở Phú Bình cũng gặp nhiều khó khăn Cứ qua mỗi mùa Trung Thu, người làm lồng đèn ở đây lại ít đi Những người cố gắng bám trụ với nghề truyền thống của cha ông cũng xem đây là nghề phụ Người dân ở đây cho rằng thời hoàng kim của nghề làm lồng đèn đã qua Nhiều người thợ có tâm huyết với nghề cứ trăn trở mãi một câu hỏi: “Liệu mai này có còn ai bám trụ lại với nghề nữa không?” Đây cũng là một bài toán khó giải quyết của các cấp chính quyền ở địa phương
Tiểu kết
Lồng đèn là một sản phẩm thủ công truyền thống không chỉ xuất hiện ở Việt Nam mà nó còn là mặt hàng thủ công của các nước khác như Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Pháp, Hàn Quốc Lồng đèn không chỉ là công cụ dùng để thắp sáng
Trang 38mà còn là sản phẩm phản ánh sâu sắc tư tưởng, văn hoá, tình cảm cũng như quan niệm thẩm mỹ của mỗi quốc gia
Nghề làm lồng đèn là một nghề thủ công truyền thống của Việt Nam, xuất hiện từ rất lâu Sự xuất hiện của nghề gắn liền với Tết Trung Thu Lồng đèn ở Việt Nam hầu như là loại lồng đèn trung thu bằng khung tre, dán giấy kính với hình dáng ngôi sao, cá chép, ông trăng Hiện nay, ở nước ta còn tồn tại 3 làng nghề làm lồng đèn nổi tiếng đó là làng Báo Đáp - Nam Định, phố nghề lồng đèn Hội An - Quảng Nam và xóm lồng đèn Phú Bình- TP Hồ Chí Minh Sự hưng thịnh, phát triển và suy thoái của mỗi làng nghề mỗi khác Nhiệm vụ của các nhà nghiên cứu xã hội là phải tìm hiểu, nghiên cứu kỹ từng làng nghề để tìm ra cách phục hồi làng nghề, giúp các nghệ nhân giữ gìn nghề truyền thống của cha ông
Trang 39CHƯƠNG 2 NGHỀ LÀM LỒNG ĐÈN Ở HỘI AN
2.1 Nguồn gốc và đặc điểm của nghề làm lồng đèn ở Hội An
2.1.1 Nguồn gốc của nghề làm lồng đèn ở Hội An
Từ khi Hội An được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới, ngành dịch vụ và du lịch ở phố cổ phát triển mạnh mẽ Như một sự tương hỗ, các ngành nghề thủ công truyền thống cũng theo đà phát triển của du lịch mà hồi sinh và vươn lên với tốc độ khác nhau Những nghề thủ công sản xuất ra các sản phẩm mỹ nghệ mang đậm bản sắc văn hóa cũng như tâm hồn người Hội An thực sự phát triển Trong đó, nghề làm đèn lồng cũng phát triển mạnh và nhanh chóng thu hút nhiều khách hàng - chủ yếu là khách du lịch đến thăm phố cổ Du khách đến Hội An thực
sự thích thú và lạ lẫm trước những chiếc lồng đèn vải nhỏ, xinh xắn, đủ màu sắc được treo trước cửa những ngôi nhà cổ, hay vô số lồng đèn với đủ kích cỡ, màu sắc, kiểu dáng được trưng bày trong những gian hàng chuyên bán lồng đèn ở đường Nguyễn Hoàng, Trần Phú, Nguyễn Thái Học Về đêm, khi ánh đèn điện đã tắt, ánh sáng rực rỡ của những chiếc lồng đèn khiến cho cảnh đêm ở phố cổ thêm huyền ảo, lung linh
Cho đến nay, vẫn chưa có nhà nghiên cứu nào đưa ra chính xác thời điểm ra đời của chiếc lồng đèn ở Hội An và ai là người đầu tiên làm ra chiếc đèn lồng phố Hội Hiện có hai quan điểm về nguồn gốc của chiếc lồng đèn ở Hội An
Quan điểm thứ nhất được lưu truyền trong dân gian qua lời kể của các cụ già người Hội An “Theo truyền thuyết thì ông tổ làm đèn lồng ở Hội An có tên là Xã Đường - một thợ chuyên làm đầu lân, lồng đèn cho những ngày hội hay các cuộc thi trong làng” [18, 680] Vài trăm năm trước, vào những ngày lễ tết, hội đám, người giàu có ở Hội An thường sắm những chiếc lồng đèn có kích thước lớn, bên ngoài viết những chữ Hán hay vẽ tranh thủy mặc Trải qua nhiều thế hệ, lồng đèn mới được treo ở mọi nhà trong phố cổ với những hình ảnh trang trí mộc mạc nhưng vẫn
Trang 40giữ được vẻ đẹp rực rỡ, sang trọng vốn có Lúc đầu, lồng đèn Hội An chỉ được làm khi có hội đám hay những ngày lễ tết, để trang trí trong nhà Nhưng về sau, khi du lịch phát triển, người Hội An mới bắt đầu làm lồng đèn để bán “Ngày nay, vào đêm rằm âm lịch hàng tháng, trên bàn thờ mỗi nhà ở Hội An đều có treo hai chiếc lồng đèn lớn, bên ngoài được viết chữ Tàu rất đẹp tên của dòng họ mỗi tộc [18,680]
Quan điểm thứ hai cho rằng chiếc lồng đèn có nguồn gốc từ Trung Hoa Hơn
ba trăm năm trước, người Hội An chỉ dùng đèn dầu lạc, đến khi thương cảng Hội
An được hình thành, những thương nhân Trung Hoa, Nhật Bản, Ấn Độ đến đây buôn bán, nơi đây mới xuất hiện những chiếc lồng đèn Từ thế kỷ XVI, khi chúa Nguyễn ban hành chính sách thông thương với bên ngoài, người Trung Hoa và người Nhật Bản đã đến xây dựng nhà cửa ở đây để sinh sống và buôn bán Theo ghi chép của Cristophoro Bori trong cuốn Xứ Đàng Trong năm 1621, “vì cho tiện việc hội chợ, chúa Nguyễn đã cho phép người Trung Quốc và Nhật Bản làm nhà cửa theo tỷ lệ với số người của họ để dựng lên một đô thị Đô thị này gọi là Faifo và nó khá lớn Chúng ta có thể nói có hai thành phố, một của Trung Quốc, một của Nhật Bản Họ sống riêng biệt đặt quan cai trị riêng và theo phong tục tập quán của mỗi nước” [6, 143] Những người mang họ Châu, họ La, họ Thái tận Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông ở Trung Hoa đã mang theo chiếc đèn lồng và treo chúng trước cửa nhà mình
Theo đó, chiếc lồng đèn ở Hội An đã có từ vài trăm năm trước, từ thuở nơi đây là một thương cảng nổi tiếng có tên Faifo (Hải Phố) Xưa kia, lồng đèn chỉ được thắp sáng mỗi khi có lễ Tết, hay vào những lúc gia chủ có chuyện trọng đại
Và cũng chỉ có những nhà giàu có mới có thú chơi lồng đèn vì lồng đèn lúc đó thường rất lớn (thường là lồng đèn kéo quân), người nghèo khó có tiền mua nổi Sau
đó, người Việt ở Hội An đã khéo léo bắt chước kiểu mẫu của lồng đèn Trung Hoa
và tạo ra những chiếc lồng đèn dùng để trang trí trong nhà Như vậy, sản phẩm thủ công - lồng đèn Hội An bây giờ là do chính bàn tay khéo léo của người dân tạo ra trên cái gốc lồng đèn của Trung Hoa Trải qua nhiều thế hệ, lồng đèn mới được treo trong phố cổ, ở mọi nhà, từ tầng lớp bình dân cho đến những người giàu có, với