1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc ở sài gòn trong cuộc kháng chiến chống mỹ 1965 – 1973

112 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 11,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sài Gòn và văn hóa dân tộc chịu tác động của “văn hóa” thực dân mới và lối sống Mỹ.. Lịch sử đã đặt lên vai nhân dân đấu tranh chống lại những thứ văn hóa nô dịch, phản dân tộc, những lố

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỀ TÀI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

TPHỒ CHÍ MINH – 2008

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỀ TÀI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I :VĂN HÓA DÂN TỘC Ở SÀI GÒN KHI ĐẾ QUỐC MỸ XÂM LƯỢC MIỀN NAM 7

1.1 Đế quốc Mỹ đổ quân xâm lược miền Nam: 7

1.2 Đế quốc Mỹ đem vào miền Nam văn hóa nô dịch và lối sống Mỹ: 10 1.3 Sài Gòn và văn hóa dân tộc chịu tác động của “văn hóa” thực dân mới và lối sống Mỹ. 16

CHƯƠNG II: PHONG TRÀO BẢO VỆ VĂN HÓA DÂN TỘC 35

Ở SÀI GÒN (1965 – 1968) 35

2.1 Các tổ chức bảo vệ văn hóa dân tộc xuất hiện: 35

2.2 Các hoạt động bảo vệ văn hóa 43

2.2.1 Hoạt động sáng tác, lý luận và phê bình văn học. 43

2.2.2 Hoạt động sáng tác và biểu diễn văn nghệ: 46

2.2.3 Hoạt động của báo chí tiến bộ. 48

2.2.4 Hoạt động hướng đến một nền giáo dục dân tộc: 51

2.2.5 Hoạt động bảo vệ nhân phẩm phụ nữ: 53

2.2.6 Hoạt động bảo vệ văn hóa dân tộc của tầng lớp lao động bình dân: 55

2.3 Các nhân vật tiêu biểu trong phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc ở Sài Gòn: 57

CHƯƠNG III: PHONG TRÀO BẢO VỆ VĂN HOÁ DÂN TỘC Ở SÀI GÒN TRONG GIAI ĐOẠN (1969-1973) 68

3.1 Các phong trào đấu tranh của thanh niên, học sinh – sinh viên chống văn hóa nô dịch, bảo vệ văn hóa dân tộc: 68

3.1.1 Phong trào “hát cho đồng bào tôi nghe” : 68

3.1.2 Phong trào báo chí của thanh niên, học sinh – sinh viên: 72

3.1.3 Các hoạt động biểu tình, bãi khoá của sinh viên - học sinh, thanh niên ủng hộ các phong trào văn hoá khác: 75

3.1.4 Phong trào “Tìm về dân tộc” 77

3.2 Hoạt động phát triển văn hóa của các tầng lớp nhân dân lao động Sài Gòn: 83

3.3 Kết quả của quá trình đấu tranh bảo vệ văn hóa dân tộc, chống văn hóa nô dịch ở sài Gòn trong chiến tranh: 88

PHẦN KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

PHỤ LỤC 105

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do và mục đích nghiên cứu

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh là địa phương nằm trong vùng tạm chiếm của Mỹ - ngụy, là “thủ đô” của ngụy quyền, Tập trung đông nhất tướng tá, sĩ quan, nhân viên kĩ thuật, lính Mỹ … Với vị trí này Sài Gòn ít phải hứng chịu những cuộc hành quân tàn sát đẫm máu của Mỹ - ngụy Song, Sài Gòn lại gánh chịu một cách nặng

nề và trực tiếp nhất chính sách nô dịch văn hóa và lối sống Mỹ Lịch sử đã đặt lên vai nhân dân đấu tranh chống lại những thứ văn hóa nô dịch, phản dân tộc, những lối sống trụy lạc đi ngược với thuần phong mỹ tục của nhân dân ta, bảo vệ những giá trị văn hóa của dân tộc đã có hàng ngàn năm lịch

Những thành quả mà nhân dân Sài Gòn đã đạt được trên mặt trận chống văn hóa nô dịch, lối sống Mỹ, bảo vệ văn hóa dân tọcc đã đóng góp

to lớn vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống mỹ ở Sài Gòn nói riêng và

cả nước nói chung Mặt khác, những thành quả trên còn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong bối cảnh hội nhập của nước ta hiện nay

Tuy nhiên, những sách báo, tài liệu viết về cuộc đấu tranh chống văn hóa nô dịch, lối sống Mỹ, bảo vệ văn hóa dân tộc của nhân dân Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn ít và nói chung chung

Trang 5

Chính vì thế, chúng tôi chọn đề tài “Phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc ở Sài Gòn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1965 – 1973)” nhằm dựng lại một cách có hệ thống và toàn diện về phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc

ở Sài Gòn trong kháng chiến chống Mỹ Đề tài cũng bước đầu cố gắng tìm

ra những bài học kinh nghiêm về công tác tổ chức, vận động trí thức, văn nghệ sĩ, học sinh – sinh viên… tham gia vào mặt trận văn hóa trong những giai đoạn lịch sử cụ thể

Chúng tôi cũng mong muốn đề tài nghiên cứu này sẽ là tài liệu để nghiên cứu, giáo dục lịch sử truyền thống, đặc biệt là cho thế hệ trẻ thành phố Hồ Chí Minh

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài:

Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cúu, những bài báo khoa học về phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc ở Sài Gòn trong kháng chiến chống mỹ như: “Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh” xuất bản năm 1987, “Lịch sử phụ nữ Nam bộ kháng chiến” xuất bản năm 2006, “Trui rèn trong lửa đỏ” xuất bản năm 1985, “Tri thức Sài Gòn – Gia Định (1945 – 1975)” xuất bản năm 2001, “Văn hóa, văn nghệ … Nam Việt Nam (1954 – 1975)” xuất bản năm 1990, “Văn hóa – văn nghệ một thời hai trận tuyến” xuất bản năm 2001…Và nhiều bài báo khoa học đăng trên các tạp chí: Diễn đàn văn nghệ, Văn nghệ quân đội, Văn học… cùng với các luận án, luận văn về đề tài đấu tranh văn hóa thời kì 1954 – 1975 như: “Trí thức Nam Bộ trong kháng chiến chống xâm lược (1954-1975)…

Tuy nhiên, nó chỉ mới đề cập một cách khái quát chung chung và tản mạn về sự kiện Và cho đến nay vẫn chưa có công trình lịch sử nào nghiên cứu “Phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc ở Sài Gòn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1965 – 1973)”

Kế thừa những thành quả khoa học trên, chúng tôi sẽ cố gắng nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc của nhân dân Sài Gòn trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Trang 6

3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài và nguồn tư liệu:

Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra, đề tài còn kết hợp những phương pháp khác như: phương pháp so sánh (lịch đại, đồng đại); phương pháp thống kê; phương pháp phỏng vấn…

Đề tài nghiên cứu sử dụng nguồn tài liệu:

 Văn bản, nghị quyết báo cáo tình hình, tài liệu tổng kết về phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc ở Sài Gòn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1965 – 1973) được lưu giữ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia II

 Hồi kí, lời kể của nhân chứng

 Các công trình lịch sử đã xuất bản ở trong ương và địa phương

4 Giới hạn đề tài:

Đề tài nghiên cứu về phong trào đấu tranh của nhân dân Sài Gòn trên lĩnh vực văn hóa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ giai đoạn 1965 – 1973 Nội hàm khái niệm văn hóa mà chúng tôi nghiên cứu trong đề tài là một khái niêm rộng với các lĩnh vực: giáo dục, đạo đức, truyền thống lối sống, văn học, nghệ thuật, báo chí truyền thông Qua nghiên cứu, đề tài sẽ là nổi

rõ đặc điểm của phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc ở Sài Gòn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ

Phạm vi thời gian nghiên cứu của đề tài là giai đoạn 1965 – 1973, đây là giai đoạn đấu tranh mạnh mẽ nhất của phong trào

Phạm vi không gian nghiên cứu của đề tài là đô thành Sài Gòn trong những năm kháng chiến chống Mỹ

5 Đóng góp mới của đề tài:

Lần đầu tiên, trình bày một cách có hệ thống và toàn diện phong trào bảo vệ dân tộc ở Sài Gòn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1965 – 1973)

Trang 7

Làm rõ hơn đặc điểm, vị trí, vai trò của phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc ở sài Gòn Từ đó cung cấp một số luận cứ khoa học cho việc nghiên cứu tổ chức, vận động nhân dân Sài Gòn nói riêng và cả nước nói chung phát huy thế mạnh của mình trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc

6 Ý nghĩa thực tiễn:

Nước ta đang trong thời kì hội nhập sâu rộng với thế giới cũng chính

vì thế mà những luồng văn hóa thông tin ở nước ngoài nhanh chóng và dễ dàng xâm nhập vào nước ta hơn Trong đó, không ít những thế lực phản động, thù địch đang âm mưu thực hiện những mưu đồ văn hóa mới nhằm chống phá nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc của nước ta Ngày nay, chúng ta cũng dễ dàng bắt gặp những hiện tượng văn hóa ngoại lai tiêu cực đang dần dần bám rễ vào thế hệ trẻ Đó là chưa kể tới xu hướng toàn cầu hóa văn hóa cũng đang nảy nở trên thế giới đe dọa đến bản sắc văn hóa của từng quốc gia dân tộc

Nói như vậy để thấy rằng văn hóa ngày càng có nguy cơ mai một ở một số không ít quốc gia nếu không có những biện pháp phù hợp để đối phó Mặt khác, văn hóa cũng ngày càng đóng vai trò to lớn trong nội bộ mỗi đất nước, xa rời văn hóa sẽ khiến cho sự phát triển kinh tế trở nên mất thăng bằng và hậu quả sẽ vô cùng nghiêm trọng

Không phải ngẫu nhiên mà trong một ngàn năm Bắc thuộc các thế lực phong kiến phương Bắc ra sức đồng hóa văn hóa nhân dân ta Rồi đến thời Pháp thộc, những kẻ xâm lược cũng ra sức thực hiên âm mưu văn hóa

Và đến thời kì kháng chiến chống Mỹ thì âm mưu văn hóa lại được những

kẻ đi xâm lược ráo riết thực hiện hơn

Cũng chính vì vậy, Đảng và nhà nước ta luôn có những chủ trương

và chính sách để phát triển văn hóa ngày một tiên tiến nhưng vẫn đậm đà bản sắc dân tộc

Trang 8

Tình hình chung là vậy, quy chiếu với thành phố Hồ Chí Minh với vị trí là một thành phố lớn nhất nước ta, năng động và đi đầu trong phát triển kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh là nơi giao lưu, hội tụ của nhiều luồng văn hóa ngoại lai không chỉ tron gquá khứ mà cả hiện tai và tương lai Cho nên, vấn đề giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh hội nhập mạnh

mẽ như hiên nay là một vấn đề cấp bách của thành phố Hồ Chí Minh

Vì thế, đề tài nghiên cứu sẽ góp phần làm phong phú thêm nguồn sử liệu về phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc ở Sài Gòn trong kháng chiến chống Mỹ Những bài học kinh nghiêm mà đề tài rút ra được sẽ giúp cho công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiên những chủ trương, chính sách về xây dựng và bỏa tồn nền văn hóa dân tộc thêm hiệu quả hơn

Và đề tài còn là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhân dân Sài Gòn trên mặt trận văn hóa thời kì chống Mỹ

Đề tài nghiên cứu sẽ góp phần làm tăng thêm niềm tự hào cho thế hệ trẻ thành phố Hồ Chí Minh hiện nay về tinh thần bảo tồn những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta trước sự xâm lăng văn hóa của kẻ thù ở thế hệ đi trước Chính niềm tự hào đó sẽ giúp thế hệ trẻ có thêm những động lực để giữ gìn và phát triển văn hóa dân tộc trong bối cảnh hội nhập của thành phố

Mặt khác, chính đề tài nghiên cứu này sẽ làm tài liêu giáo dục truyền thống lịch sử, giúp cho thế hệ trẻ thành phố Hồ Chí Minh cũng như cả nước hiểu hơn về lịch sử hào hùng của thế hệ đi trước trong cuộc đấu tranh chống lại “văn hóa” thực dân mới của đế quốc Mỹ Từ đó họ sẽ có một hành trang vững vàng hơn khi bước vào hội nhập với thế giới và tỉnh táo hơn trước những luồng văn hóa ngoại nhập

7 Kết cấu của đề tài:

Đề tài nghiên cứu gồm 3 phần: Mở đầu, Nội dung và Kết luận Ngaòi

ra, đề tài còn có thêm phần Phụ lục, hình ảnh …

Nội dung của đề tài gồm:

Trang 9

Chương I: Văn hóa dân tộc ở Sài Gòn khi quân đội Mỹ xâm lược miền Nam

Chương II: Phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc ở Sài Gòn (1965 – 1968)

Chương III: Phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc ở Sài Gòn (1969 – 1973)

Trang 10

CHƯƠNG I :VĂN HÓA DÂN TỘC Ở SÀI GÒN KHI ĐẾ QUỐC MỸ

XÂM LƯỢC MIỀN NAM

1.1 Đế quốc Mỹ đổ quân xâm lược miền Nam:

Sau hơn 10 năm anh dũng chống Mỹ (1954 – 1965), quân và dân miền Nam đã đạt được những thắng lợi to lớn như các trận Ấp Bắc, Bình Giã, Ba Gia, Phước Long – Đồng Xoài… với những thắng lợi lớn ấy, tình hình ở chiến trường miền Nam chuyển biến ngày càng bất lợi cho Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn

Tình hình bất lợi trên được miêu tả rất rõ trong những báo cáo của tướng tá Mỹ Cụ thể, báo cáo của phái đoàn Mc Namara và Max well Taylor tháng 4/1965 gửi về Mỹ cho biết: “Tình hình Việt Nam nghiêm trọng và sẽ nghiêm trọng hơn nữa quân đội Việt Nam cộng hòa không đủ sức đương đầu với Việt cộng, tương quan lực lượng ở mức báo động, quyền chủ động đã về tay cộng sản”, còn báo cáo của Westmoreland thì tình hình còn nghiêm trọng hơn: “Hà Nội khuynh đào ½ nam miền Nam, chính phủ Sài Gòn sắp sụp đổ, hành quân cấp quân đoàn của cộng sản có thể mở rộng

ở cả bốn vùng chiến thuật, hành quân cấp tiểu đoàn mở ở khắp các tỉnh ở nam miền Nam, rối loạn về chính trị yếu hèn về chính quyền, sa sút về quân đội”

Tình hình trên là ảnh hưởng rất mạnh mẽ đối với nước Mỹ Cùng với

đó là phong trào đấu tranh đã nổi lên Vào ngày 16/4/1965 20 000 sinh viên

ở Hoa Thịnh Đốn và sinh viên ở nhiều thành phố khác đã biểu tình chống việc tiếp tục chiến tranh ở Việt Nam

Trong khi đó nội bộ chính quyền Mỹ đã bắt đầu có phân hóa thành hai phe, phe đòi chấm dứt chiến tranh đứng đầu là thứ trưởng ngoại giao Geroge ball Còn, phe tiếp tục cuộc chiến là bộ trưởng quốc phòng Mc Namara và tướng Max well Taylor, nhưng họ không tán thành việc đưa quân lớn sang Việt Nam Về quan điểm này, tổng thống Johnson cũng

Trang 11

muốn sử dụng lực lượng chiến đấu Mỹ khi thật cần thiết Đầu năm 1965 trong một thông điệp của mình tổng thống Johnson đã nói: “Mỹ phải có mặt

ở nam Việt Nam vì nước bạn yêu cầu, vì phải cam kết hết 10 năm trước đây, vì an ninh của bản thân nước Mỹ và hoà bình châu âu”

Tình hình thế giới cũng không có lợi cho nước Mỹ, tại Mỹ La Tinh, cách mạng nổi lên ở các nước Dominicana, Vênzuela…tại Châu Âu Pháp rút khỏi khối quân sự Đông Nam Á và cả khối quân sự bắc Đại Tây Dương,

và Pháp cũng muốn trung lập hóa đông nam á

Trong lúc đó, tình hình ở Đông Nam Á càng làm cho Mỹ đau đầu hơn khi mà Campuchia đang dần thoát ra khỏi sự ảnh hưởng của Mỹ, với sự kiện tháng 11/ 1964 Chính phủ Sihanouk từ bỏ viện trợ của Mỹ đến tháng 5/1965 cắt đứt quan hệ ngoại giao với Mỹ để đi theo đường lối trung lập Ở Indonesia và Phi Luật Tân đang dấy lên phong trào du kích và phong trào của các lực lượng tiến bộ Nói chung tình hình thế giới, ở Mỹ và ở Việt Nam không có lợi chút nào cho Mỹ Và tổng thống Johnson phải chua xót kết luận: “Trục Hà Nội – Bắc Kinh – Bình Nhưỡng – Jakarta đã hình thành,

có lẽ Campuchia sẽ trở thành một thành viên loại thấp, còn Lào thì thực sự

bị Bắc Kinh và Hà Nội nuốt chửng, toàn bộ vùng này đã đến lúc chín muồi

để cộng sản hái”

Tình hình trên rõ ràng là bất lợi cho Mỹ, xong với dã tâm của một tên đế quốc đầu sỏ, chúng không đễ dàng để cuộc chiến kết thúc mà chẳng thu được cái gì cả! Với mục đích đối phó với một thất bại đang lơ lửng ở trên chiến trường miền Nam, cộng với giải quyết tình hình trong nước cũng như thế giới lúc bấy giờ Từ đầu năm 1965, Mỹ đã tính toán và từng bước chuyển sang chiến lược chiến tranh mới nhằm thực hiện leo thang mở rộng chiến tranh xâm lược ở Việt Nam

Cùng với việc dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc Ngày 8/3/1965, Mỹ đưa hai tiểu đoàn thủy quân đánh bộ thuộc lữ đoàn hải quân số 9 vào Đà Nẵng, chính thức bắt đầu cho quá trình ồ ạt đổ quân chiến

Trang 12

đấu Mỹ vào chiến trường miền Nam Các số liệu cụ thể của việc đổ quân

Mỹ năm 1965 là:

Ngày 8/4/1965: 32 000 quân Ngày 8/6/1965: 51 000 quân Ngày 23/8/1965: 88 000 quân Ngày 6/10/1965: 131 700 quân Ngày 29/12/1965: 186 000 quân1Mục tiêu của Mỹ khi ồ ạt đổ quân vào miền Nam là muốn chứng minh cho thế giới, đặc biệt là các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc biết rằng: Mỹ là vô địch, với sức mạnh quân sự của mình, Mỹ có thể đảo ngược được mọi tình thế Đến cuối năm 1965 ở miền Nam đã có gần 730 000 quân Mỹ và chư hầu

Sự có mặt của đông đảo lính Mỹ và chư hầu ở miền Nam gây nên một sự xáo trộn nghiêm trọng trong đời sống kinh tế – xã hội… của nhân dân

Nghiêm trọng hơn sự có mặt đông đảo quân lính Mỹ ở miền Nam Việt Nam không chỉ phục vụ cho những chiến dịch “tìm diệt” đẫm máu

ở chiến trường mà còn là “sứ giả” cho lối sống Mỹ, cho chính sách nô dịch văn hoá tinh vi và nham hiểm của đế quốc Mỹ Theo thời gian quân

Mỹ ngày càng tăng cường thêm lực lượng, đến năm 1968 số lượng quân

Mỹ là 537 000 quân Và số lượng vẫn tiếp tục tăng cho đến khi phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”

Có thể thấy rằng với số lượng đông đảo như vậy thì không thể nói đến sự ổn định cho các đô thị ở miền Nam Việt Nam, mà đặc biệt là Sài Gòn nơi tập trung đông lính Mỹ nhất

Cùng với sự du nhập lối sống Mỹ cộng với những thủ đoạn nô dịch văn hóa của đế quốc Mỹ, Sài Gòn gần như có một sự xáo trộn chưa

1

Theo lịch sử Việt Nam cận hiên đại ( 1858 – 1975 ) tr 195

Trang 13

từng có trong lịch sử đặt ra những thách thức tôn giáo lớn cho văn hóa dân tộc

1.2 Đế quốc Mỹ đem vào miền Nam văn hóa nô dịch và lối sống Mỹ:

Như một đặc tính của chủ nghĩa thực dân bất kể là mới hay cũ thì cùng với xâm lăng về mặt quân sự, chính trị, kinh tế là xâm lăng về văn hóa Đối với đế quốc Mỹ thì việc áp đặt vào nước ta văn hóa thực dân mới của chúng là điều hết sức quan trọng và Mỹ đã tốn không ít tiền của cho mưu đồ này

Văn hóa thực dân miền Nam mới là phương tiện xâm lược của đế quốc Mỹ, là âm mưu mà Mỹ đang tiến hành trong cuộc chiến tranh ở miền Nam Âm mưu này được thực hiện dựa trên sự viện trợ về kinh tế một cách

ồ ạt và du nhập vào miền Nam lối sống Mỹ, mà đại diện là hơn nửa triệu lính Mỹ được điều động sang nước ta

Mục đích cụ thể của âm mưu về văn hóa và tư tưởng của Mỹ là làm cho nhân dân ta mất ý thức dân tộc, thậm chí mất cả ý thức về cả bản thân mình

Có thể thấy, “văn hóa” thực dân mới mà Mỹ đưa sang nước ta lấy ý thức hệ tư sản phản động hiện đại làm cơ sở, nền tảng Chính thức là ý thức

hệ tư sản ở thới kỳ mà chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Văn hóa thực dân mới là sự nhào trộn của tất cả những yếu tố phản động nhất, lạc hậu nhất của giai cấp tư sản, phong kiến, thậm chí những yếu tố tiêu cực và phản bội trong phe xã hội chủ nghĩa Ngoài ra,

“văn hóa” thực dân mới còn hết sức lợi dụng thành tựu của sự phát triển khoa học – kỹ thuật trong thời đại hiện nay

Nói một cách cụ thể hơn, văn hóa thực dân mới “là một công cụ xâm lược, đồng thời là sự phản ánh (theo điều kiện mỗi nước, đối tượng của chủ nghĩa thực dân mới) những tiêu cực nhất của nền văn hóa tư sản trong thời

Trang 14

kỳ thoái hóa vào xã hội những nước bị đế quốc chinh phục hoặc nằm trong

âm mưu chinh phục của chúng” 2

Trước hết, với chức năng là một công cụ xâm lược, “văn hóa” thực dân mới đánh vào truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vào sức mạnh đoàn kết, thống nhất, tình cảm đồng bào của nhân dân ta, nhằm gây tâm lý tự ty dân tộc, sùng Mỹ, sợ Mỹ Hòng kéo nhân dân ta ra khỏi con đường đấu tranh giải phóng dân tộc, âm mưu phá vỡ sự gắn bó tất yếu của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội Tư tưởng cốt yếu của văn hóa thực dân mới là chủ nghĩa chống cộng – đó là một sản phẩm công về hệ tư tưởng của giai cấp tư sản chống lại giai cấp công nhân và nhân dân lao động

Một hình thức khác của “văn hóa” thực dân mới là chiến tranh tâm

lý Đây là một thủ đoạn rất tinh vi nhằm đánh vào tâm lý những mặt tiêu cực nhất của tâm lý xã hội để truyền bá những tư tưởng, ý thức phản động trong nhân dân Mỹ đã lợi dụng triệt để những phương tiện hiện đại, thông tin đại chúng… nhằm tạo nên tâm lý phục Mỹ và thù ghét cộng sản Với một đội ngũ tay sai khổng lồ luôn tìm mọi cách đánh lộn trắng đen, chính

tà, tư sản – vô sản, cách mạng – phản cách mạng… làm lu mờ quan điểm giai cấp Đồng thời chúng truyền bá những tư tưởng phản động trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, triết học và nhiều ngành khoa học xã hội khác… hòng lôi kéo những người còn chao đảo giữa hai lựa chọn cách mạng và phản cách mạng

Tinh vi hơn, Mỹ còn du nhập cái gọi là lối sống Mỹ vào miền Nam Dựa trên nền tảng của sự xâm lược về quân sự và kinh tế, “lối sống Mỹ” nhằm tạo nên những mẫu người mà Mỹ muốn, nhằm thực hiện mục tiêu nhằm xóa bỏ và thủ tiêu tính chất dân tộc và tâm hồn Việt Nam

“Lối sống Mỹ” xóa bỏ mọi ý thức dân tộc, xóa bỏ mọi ý thức về giai cấp và ý thức về nhân bản, và về bản thân của từng con người trên tất cả các mặt: chính trị, nhân sinh quan, lối sống, nhận thức, thẩm mỹ trong đời sống, nhằm tạo nên “người nô lệ tự nguyện” Trong tạp chí “đối diện” tháng 3-

2

Theo văn hóa văn nghệ miền Nam dưới chế độ Mỹ – Ngụy tr 33

Trang 15

1972, bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ ở Việt Nam đã đưa ra ý kiến: “Phải dùng mọi thủ đoạn ồ ạt và tinh vi để tạo nên những đứa con hoang câm và điếc của chiến tranh, phải xúi giục và đôn đốc, hướng dẫn và khích lệ những đứa con hoang đó để tạo ra vô số những đứa con hoang chó đẻ khác, nghèo đói của chiến tranh để chúng nó chiến đấu và chết cho chiến thắng của chúng ta (chúng ta ở đây là Mỹ) Phải làm thế nào để chúng nó hăm hở, bền bỉ chiến đấu cho quyền lợi xứ sở chúng ta mà vẫn nuôi ảo tưởng chiến đấu và chết cho quê hương chúng nó”

Đây có lẽ là bản chất của cái gọi là “lối sống Mỹ” Và những đặc điểm cần có của “những đứa con hoang” mà Mỹ muốn có đó là:

Thứ nhất là những người hoài nghi và mất hết trách nhiệm với chính bản thân mình, đối với xã hội và tất nhiên là đối với dân tộc mình, cụ thể hơn đó là một loại người không còn lòng tin và không có lý tưởng

Thứ hai là những người ích kỷ, chủ nghĩa cá nhân theo hướng cực đoan, ích kỷ cực độ và chỉ biết sống vì bản thân mình và mặc kệ người khác

Thứ ba, là những người mơ hồ, không cần phần biệt phải trái, trắng đen, cho cuộc đời chỉ là sự phi lý và sống với thái độ bất cần

Thứ tư, là những người khinh lao động ngại sản xuất, thích ăn bám, thích hưởng thụ một cách dễ dãi những thành quả không phải do mình tạo nên

Để tiến hành những âm mưu thâm độc về văn hóa trên, Mỹ đã chọn những phương thức xâm lược văn hóa vô cùng xảo quyệt, tinh vi mà nhiều nhà nghiên cứu gọi là “ném đá giấu tay” đó là sự trói buộc bằng những sợi dây vô hình đã được Mỹ thực hiện khá kỹ, ở các vùng tạm chiếm ở miền Nam

Ngay khi đặt chân vào miền Nam, Mỹ đã đặt ra những chính sách văn hóa thâm độc dưới hình thức “hiến pháp của ngụy quyền cụ thể : trong điều 11 của cái gọi là “hiến pháp” Việt Nam cộng hòa cho rằng việc đặt nền

Trang 16

văn hóa, giáo dục phục vụ cho chế độ thực dân mới “vào hàng quốc sách”

và phải chi cho nền văn hóa giáo dục ấy “một ngân sách thích đáng” “và quốc gia khuyến khích và nâng đỡ các công dân trong việc nghiên cứu và sáng tác khoa học, văn học nghệ thuật” trong điều 10 của hiến pháp Việt Nam cộng hòa

Với phương châm dùng súng đạn để giết chết thể xác con người và dùng văn hóa để giết chết tinh thần con người Mỹ đã thể hiện điều đó trong bài phát biểu trong buổi lễ trao giải thưởng “văn học nghệ thuật 1970” của Nguyễn Văn Thiệu: “Thông thường muốn đối phó với một tình thế đặc biệt của lịch sử thì quân sự với chính trị mới chính là địa hạt then chốt Tuy nhiên, bằng quân sự và chính trị chúng ta chỉ có thể giải quyết vấn đề một cách cấp thời mà thôi, trái lại muốn cho chiến thắng được toàn vẹn và lâu bền, chúng ta phải nghĩ đến một nền tảng kiên cố hớn, đó là lĩnh vực văn hóa Bởi thế nên dù phải đương đầu với bao nhiêu khó khăn do cộng sản gây ra về quân sự, chính trị, kinh tế… chúng ta cũng không thể không nghĩ đến những hoạt động văn học nghệ thuật vốn là những hoạt động vô cùng cần thiết để xây dựng nền tảng văn hóa nước nhà… Lĩnh vực văn hóa sẽ đóng vai trò quyết định trong công cuộc chiến thắng cộng sản”

Như đã nói ở trên âm mưu văn hóa của Mỹ có đặc điểm là “ném đá giấu tay” nên để lừa mị dân chúng, Mỹ đưa ra đường lối văn hóa văn nghệ

mà chúng đặt ra nhằm thực hiện những âm mưu cũng khá tinh vi Hai đường lối mà chúng song song kết hợp nhằm nô dịch văn hóa văn nghệ miền Nam là : “văn hóa, văn nghệ chỉ huy và “văn hóa, văn nghệ tự phát” hoàn toàn do Ngụy quyền và quần chúng lập nên”

Thứ nhất, “văn hóa văn nghệ chỉ huy” là loại văn hóa, văn nghệ do các cơ quan, tổ chức và các cá nhân trong bộ máy ngụy quân, ngụy quyền hay của Mỹ đưa ra, nhằm phục vụ trực tiếp cho những yêu cầu chính trị, quân sự, kinh tế của chúng, hình thức biểu hiện của đường lối văn hóa này cũng đa dạng, có khi bày tỏ công khai như một số nguyệt san khi ấn hành

Trang 17

có ghi rõ tên cơ quan đỡ đầu của ngụy quyền… Cũng có khi mập mờ thiếu

rõ ràng khi chúng núp dưới danh nghĩa những tổ chức chống cộng

Tóm lại, đường lối “văn hóa, văn nghệ chỉ huy” được dùng để chuyển tình hình chính trị tư tưởng theo phương hướng mà Mỹ – ngụy đặt

ra một cách mau chóng và nhờ đường lối này đã tạo ra một đội ngũ tay sai văn hóa, văn nghệ đông đảo

Khác với “văn hóa, văn nghệ chỉ huy” văn hóa, văn nghệ tự phát dường như không có sự điều khiển của chính quyền Sài Gòn giống như nó hoàn toàn tự do, tự phát Còn thực chất sự tự do tự phát này đã có định hướng từ xa của Mỹ Hình thức của đường lối văn hóa này là tự do in sách,

ra báo, lập nhà xuất bản cũng như muốn lập các hội, đoàn, nhóm phái văn hóa thì cứ lập…… ai có tiền cứ xây nhà hát, rạp chiếu phim thậm chí lập cả phim trường… chính quyền không những không ngăn cản mà còn tạo điều kiện như nhập từ nước ngoài băng đĩa nhạc, sách báo, phim ảnh…… Đến

cả những trường phái văn hóa, văn học, xu hướng triết học, mỹ học… cũng được nhập ồ ạt vào nước ta Còn như người hoạt động văn hóa, văn nghệ cũng dường như tự do ngôn luận hơn trong các sản phẩm nghệ thuật, văn hóa của mình Ai muốn nói về đạo đức cứ nói, muốn khuyến khích dâm

ô trụy lạc cứ lạc, muốn tán dương Thiên Chúa, đả kích Phật giáo, hay muốn

đả kích chiến tranh, ủng hộ đánh đấm cứ việc làm theo ý mình Miễn sao các sản phẩm mình tạo ra thu được tiền của công chúng là được

Quả thật, chưa bao giờ làn sóng văn hóa, văn nghệ lại mạnh mẽ như vậy ở Sài Gòn Người ta không thể hiểu được tại sao lại dễ dàng in ra một quyển sách, sản xuất một bộ phim…… song, tất cả những cái tự do, tự phát

ấy đều nằm trong tầm khống chế của điều 4 trong hiến pháp ngụy quyền

“chống lại chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thức” và mọi hành vi nhằm mục đích tuyên truyền hay thực hiện chủ nghĩa cộng sản đều bị cấm chỉ” Không chỉ có vậy chính quyền Sài Gòn còn khống chế tự do tự phát về văn hóa văn nghệ bằng cách nắm chắc các khâu xuất bản, phát hành… khi sự

Trang 18

“tự phát” vượt ra ngoài sự khống chế của chính quyền thì lập tức bị phá sản hay cả bị tù tội và chết chóc

Hậu quả của đường lối văn hóa văn nghệ tự phát của Mỹ là rất nghiêm trọng không chỉ tạo ra những thứ văn hóa vong bản, nô dịch mà còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến những truyền thống văn hóa, văn học nghệ thuật của dân tộc ta

Trong toàn bộ âm mưu xâm lấn văn hóa của Mỹ thì giáo dục có một

vị trí rất quan trọng Nó đứng hàng thứ hai trong “kế hoạch hậu chiến” của

Mỹ Văn hóa thực dân mới mà Mỹ áp đặt trong nền giáo dục miền Nam nhằm đạt được mục đích đẩy các thế hệ trẻ ra khỏi sự ôm ấp, đùm bộc của quê hương, dân tộc và biến những thế hệ trẻ thành những con người dễ dàng chấp nhận trật tự của xã hội tư bản và từ từ chuẩn bị để thế hệ trẻ trở thành công dân của cái gọi là “quốc gia độc lập” giả hiệu mà Mỹ lập ra Không chỉ dừng lại ở mức độ thích nghi với xã hội tư bản chủ nghĩa mà nghiêm trọng hơn thế hệ trẻ còn góp phần xây dựng cái xã hội ấy

Âm mưu trong giáo dục được Mỹ tiến hành theo các phương thức sau:

Thứ nhất tuyên truyền ý thức hệ của giai cấp tư sản phản động, làm cho thế hệ trẻ viêm nhiễm tư tưởng quốc gia giả hiệu, ý thức ngụy dân tộc, xuyên tạc chủ nghĩa cộng sản và kích động tinh thần chống cộng

Thứ hai, hình thành ở thế hệ trẻ thế giới quan duy tâm thần bí phản khoa học, phương pháp tư tưởng siêu hình, nhân sinh quan cá nhân chủ nghĩa cực đoan

Thứ ba, luyện cho thế hệ trẻ quen lối sống ích kỷ, cạnh tranh, hoàn toàn lệ thuộc vào những tiện nghi vật chất, lười biếng, ăn bám, ươn hèn, lưu manh, đồi trụy

Và hậu quả của âm mưu văn hóa thể hiện trong lĩnh vực giáo dục được phơi bày rất rõ trong bài viết của Nguyễn Tử Lộc: “Thực chất giáo dục miền Nam Việt Nam” trong tạp chí văn học số 69 “Giáo dục Việt Nam

Trang 19

vẫn ca tụng những lý tưởng nhân bản, dân tộc, khoa học, khai phóng, còn gì quý hơn, cao cả hơn Nhưng nhân bản ở chỗ nào khi một nữa số trẻ em trai gái không được đi học tiểu học: khi 50% dân chúng còn mù chữ, nhân bản chỗ nào khi nó chỉ phục vụ cho một thiểu số trưởng giả thành thị, khi đại đa

số nhân dân nông dân và thành thị nghèo hèn bị lãng quên và khinh bỉ Dân tộc chỗ nào khi tiếng quốc ngữ bị các nhà đại trí thức khinh bỉ, chà đạp Khi giai cấp thượng lưu của xã hội cho con cái học trường tây, trường Mỹ? Khoa học ở chỗ nào khi có cái học từ chương buôn bằng bán chữ, khi tổng

số học sinh, sinh viên kỹ thuật chỉ là 0 5% tổng số học sinh sinh viên Khi

sự mê tín dị đoan còn ngự trị trong khắp miền thôn quê 80% dân số ? Khi khai phóng ở đâu khi chung quanh toàn những cảnh ngông cuồng, ăn cướp,

ăn cắp… Đưa lên làm mẫu mực, khi ổ điếm bao vây trường học, khi duy vật chủ nghĩa đê hèn nhất là lý tưởng của một xã hội; khi những bộ mặt to lớn trường ra đầy dơ bẩn và độc hại, khi xã hội dành cho đại đa số thế hệ đang lên số phận bi đát của bần cùng, nhục nhã, lầm than, tuyệt vọng”

Có thế thấy, âm mưu của Mỹ về giáo dục thật là vô cùng nham hiểm

và tinh vi, nó thể hiện đầy đủ bản chất xảo quyệt, tinh vi và vô nhân đạo của tên đế quốc đầu sỏ

Cuộc đấu tranh trên mặt trận văn hóa nhân dân miền Nam chống lại

sự xâm lăng văn hóa của Mỹ thật sự vô cùng gian khổ, cam go và khốc liệt không thua kém bất cứ mặt trận đấu tranh nào Với bản lĩnh của một dân tộc

có ngàn năm văn hiến nhân dân miền Nam đã không ngừng đấu tranh chống lại thứ “văn hóa” thực dân mới cùng cái gọi là “lối sống Mỹ” phản dân tộc, đồi trụy Và dù có nhiều gian khổ, hy sinh nhất định nhân dân ta có được thắng lợi

1.3 Sài Gòn và văn hóa dân tộc chịu tác động của “văn hóa” thực

dân mới và lối sống Mỹ

Trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ, Sài Gòn chịu tác động rất lớn của chính sách “văn hóa” thực dân mới và lối sống Mỹ nhất là giai đoạn (1965 - 1973) Văn hóa dân tộc luôn là tâm điểm tấn công của sự nọc độc

Trang 20

văn hóa Mỹ Tấn công trực diện vào văn hóa dân tộc ta là tấn công vào những giá trị tinh thần, vật chất mà nhân dân ta cố công gây dựng trong suốt tiến trình lịch sử dân tộc Văn hóa dân tộc là hơi thở, sức sống của một dân tộc, mất đi văn hóa dân tộc thì dân tộc ấy cũng tiêu vong

Và, những kẻ xâm lược từ ngàn đời nay luôn ý thức được rõ chân lý này Bất kỳ, kẻ xâm lược nào, cũng ra sức tiến hành âm mưu xâm lăng về văn hóa đối với những nơi chúng đến Trong số những kẻ xâm lược ấy, đế quốc Mỹ thật sự là một tên xâm lược ranh ma nhất trong lĩnh vực xâm lăng văn hóa Chúng không từ một thủ đoạn nào để đạt được ý đồ mình đặt ra

Và, Sài Gòn là nơi chúng thi thố những âm mưu nô dịch văn hóa, truyền bá lối sống Mỹ Với tham vọng dùng đô la để nhân dân Sài Gòn quỳ gối, biến nhân dân Sài Gòn thành những kể nô lệ cho những đồng đô la của

Mỹ Và, xương sống của chính sách trên là viện trợ ồ ạt của Mỹ, trong 21 năm chiến tranh Mỹ đã viện trợ cho Sài Gòn 29 tỷ đô la trong đó 18 tỷ viện trợ quân sự, 7 tỷ viện trợ kinh tế và 4 tỷ lấy tiền Sài Gòn để chi phí tại chỗ cho cơ quan quân sự và dân sự Mỹ Từ đổi đô la lấy tiền Sài Gòn, đặc biệt

từ năm 1965 trở về sau, hàng năm chính quyền Sài Gòn có thể nhập cảng

700 triệu đô la hàng hóa tiêu dùng và thêm đó từ khoảng 200 đến 300 triệu

đô la được bán ra từ các của hàng cung cấp đặc biệt Mỹ gọi là cửa hàng P

X3

“Lối sống tiêu dùng” đang bắt đầu hình thành ở Sài Gòn khi mà sự viện trợ của Mỹ về hàng hóa ngày càng ồ ạt Từ hạt gạo đến lít xăng của ngụy quân, công chức cảnh sát và gia đình họ cả những người là ở các sở

Mỹ hay sống bằng các dịch vụ cho Mỹ đều do Mỹ mang lại Và, dù muốn hay không tâm lý ngại làm nhưng muốn ăn đã bắt đầu nảy sinh và rất nhiều người dân Sài Gòn cứ muốn được Mỹ “nuôi sống” như vậy Thật sự có nhiều lớp người đã trở nên xa lạ với sản xuất, chiến đấu với tính cần cù khó chịu của dân tộc Và, có tác giả đã viết như sau trên báo chính luận số 14 ngày 16/3/1972 để phản ánh thực trạng lối sống tiêu dùng mà Mỹ đã bày đặt

3 Theo văn hóa, văn nghệ miền Nam dưới chế độ Mỹ – ngụy tập 2, tr71

Trang 21

ra ở Sài Gòn: “Từ nhiều năm nay, máy truyền hình, xe gắn máy, tủ lạnh và những tiên nghi khác tràn ngập đã đánh lùi giáo điều Mác – Lênin vào sâu trong đêm tối…thì ra ở chân trời nào cũng vậy, khi giới cần lao đã có đời sống vật chất no đủ rồi, thì ý thức hệ chỉ là một chuyên phiếm xa vời… cộng sản ở miền Nam muốn du nhập một viễn cảnh do Mao phác họa, là thúc đẩy khối nông dân đói khổ đứng lên bao vây thành thị để đòi ruộng đất, cơm áo Viễn cảnh ấy ngày càng mờ nhạt”

Thật sự mà nói, nhân dân miền Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng

ở những mức độ khác nhau đều chống lại sự xâm lược về quân sự của Mỹ Nhưng với sự xâm lăng của “đô la và hàng hóa Mỹ” thì không phải ai cũng

đủ bản lĩnh để vượt qua

Với sự xâm lăng bằng “đô la và hàng hóa Mỹ” đã hình thành ở Sài Gòn cái gọi là “chủ nghĩa duy tiền” và rất nhiều cai người dân Sài Gòn bị cuốn theo cái nguy hiểm này Và, họ sống theo công thức đô la không có mùi, làm cách nào có đô la, cách đó là đúng” Chính cách nghĩ và cách là

ấy đã hủy diệt ý thức về nhiệm vụ với dân tộc, nghĩa tình với đồng bào, lòng thủy chung vợ chồng, quan hệ thầy trò, cha con, anh em, ban bè Nó làm cho Sài Gòn lúc bấy giờ thành một xã hội mà lòng tin là ngờ nghệch, trong sạch là tội lỗi, lừa bịp, xảo trá, thú tính là lẽ sống bình thường Đấy là những nguyên nhân làm cho nhân phẩm bị coi rẻ, tội ác lộng hành

Cùng với sự viện trợ ồ ạt về hành hóa tiêu dùng, Mỹ còn du nhập vào Sài Gòn những hình thức phản văn hóa như các phong trào hip-pi đến các cánh tả sinh viên, việc bỏ chủ nghĩa trí thức trong truyền thống duy lý phương Tây và thay vào đó là trở về các huyền thoại thần bí, với chủ nghĩa kinh nghiệm phương Đông…và xem đó như là biện pháp tâm lý lý tưởng để giải thoát khỏi sự bế tắc của nền văn minh công nghiệp Cực đoan hơn là, trở về với tử vi, tướng số kiểu mới, chủ nghĩa phi lý mới, từ các cuộc “cách mạng y phục” cho đến việc hút cần sa, chích ma túy… và kéo theo đó là hàng loạt sách báo tử vi, tướng số bày bán công khai, dân chúng rất nhiều trở nên mê tín dị đoan, học sinh 14 - 15 tuổi ngang nhiên chích hút ma túy,

Trang 22

các đại nhạc hội trẻ, rồi “các cuộc thi hoa hậu” phô trương thân thể cùng diễn ra rầm rộ

Nghiêm trọng hơn, là sự du nhập cái gọi là “cách mạng tình dục” một hiện tượng phản văn hóa vô cùng nguy hại mà Mỹ đang tiến hành ở Sài Gòn Mục đích cao nhất mà Mỹ muốn đạt được khi dùng thủ đoạn này, đó

là muốn giải trừ nhân tính ở con người “thú tính hóa” con người Đây thực

sự là sự hô hào cho lối sống buông thả trong tình dục, “tự nhiên hóa” hoạt động này… trên cái đà đó, “cách mạng tình dục” cho rằng mối liên hệ thủy chung chồng vợ là sự nhàn chán, hôn nhân là tù đày Tệ hại hơn nó không mong muốn về chất lượng mà về số lượng, và phải có những người chúng kiến hoạt động này…và hậu quả là các hiện tượng bề hội đồng ngày càng phổ biến…

Sự buông lỏng tình dục kiểu Mỹ đã gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng đối với Sài Gòn nó là “bà đỡ” cho những phong trào hip-pi, đại nhạc hội trẻ, gia tăng nạn du đãng, đĩ điếm… nó là công cụ làm thui chột những hoài bão của thanh niên, đầu độc và biến họ thành những người không biết chính mình Mà, nạn nhân trược tiếp là nhũng nữ thanh niên họ không những bị trà đạp về nhân phẩm mà còn bị bóc lột cả về thể xác

Như đã đề cập, cuộc xâm lăng văn hóa của Mỹ là sự huy động tất cả những phương tiện để nhằm đạt được mục đích Và, báo chí văn học, điện ảnh, hội họa, điêu khắc…tất nhiên không để đứng ngoài cuộc, nếu không muốn nói là công cụ đắc lực của “văn hóa “thực dân mới

Thứ nhất, về lĩnh vực báo chí, sách vở Trong suốt 21 năm tiến hành xâm lược ở nước ta, đế quốc Mỹ và tay sai của chúng chú trọng đặc biệt tới báo chí và xuất bản

Báo chí, sách vở và công cụ tuyên truyền “chống cộng” hiệu quả nhưng núp dưới nhiều danh nghĩa, hình thức mị dân theo kiểu tự do ngôn luận, tự do báo chí

Trang 23

Những luận điệu mà báo chí, sách vở của Mỹ tuyên truyền trong suốt cuộc chiến tranh, và đặc biệt đẩy mạnh trong giai đoạn (1965 - 1973) ở Sài Gòn là chấp nhận thực tế dù ghét Mỹ nhưng nhân dân phải sợ Mỹ, phục

Mỹ, chấp nhận sự lệ thuộc Mỹ và nếu có cố gắng cũng chỉ cải thiện cái số phận lệ thuộc đó Hoặc là, phải thù ghét chiến tranh nhưng thù ghét cả kẻ xâm lược và nạn nhân của kẻ xâm lược Nguy hiểm hơn, Mỹ tuyên truyền nguồn gốc đang diễn ra là kết quả của sự sụp đổ của một nền văn minh phương Tây và theo chúng để chấm dứt cuộc chiến tranh là trở về với nguồn cội của nền văn hóa phương Đông chứ không phải là cầm súng đánh đuổi quân xâm lược Báo chí sách vở có thể kêu gọi phản chiến song không phải là kêu gọi những người bị ép buộc cầm súng trong quân đội ngụy trở

về với dân tộc, và thực chất đó chính là công cụ của chính sách “chiêu hồi” Nghiêm trọng hơn, báo chí, sách vở phải thể hiện được khát vọng hòa bình, tuy nhiên điều kiện để có được hoà bình không phải là việc đế quốc

Mỹ từ bỏ mưu đồ xâm lược mà là miền Nam phải có tiềm lực mạnh để làm

“cách mạng xã hội” để ngang bằng về lực lượng với miền Bắc

Để phát triển hệ thống tuyên truyền trên, không chỉ có sách báo đủ loại theo gót quân xâm lược ồ ạt vào miền Nam, mà còn thể hiện bằng nhũng hình tượng nghệ thuật, phim ảnh sân khấu… qua những cuộc ăn chơi của những kẻ “nổi loạn” …khi Mỹ đổ quân ồ ạt vào miền Nam, chúng đã mang theo nhiều phương tiện máy móc phục vụ cho xuất bản báo chí và cả một khối lượng khổng lồ sách báo đồi trụy Với những máy móc, và những thiết bị của những kẻ xâm lược đem qua đã làm cho xuất bản ở Sài Gòn trở nên sôi động

Một mặt, Mỹ – ngụy ngăn cản sự hoạt động của báo chí ủng hộ cộng sản như luật 019 - 69 ngày 30/12/1969 Mặt khác, lại ra sức dùng đô la mua chuộc, đào tạo ra những tên “bồi bút” hám lợi Mỹ – Ngụy đã làm cho những người viết báo lẫn công chúng có một ảo tưởng về tự do báo chí

Trang 24

Và, trên thực tế ở Sài Gòn những năm 1969 có khoản 150 nhà xuất bản nhưng thực ra chỉ là “vệ tinh” của một số nhà xuất bản lớn như: khai trí, sống mới, đồng nai, hiện đại…

Sách ngoại nhập cũng vào nước ta dễ dàng hơn nhất là những loại sách đồi trụy, truyện chưởng của Kim Dung…đã đầu độc một số lượng khá lớn thanh thiếu niên Nhất là ở thể loại truyện “chưởng” của Kim Dung Nó không đơn thuần là một loại sách giải trí, mà thực sự là sản phẩm “chống cộng” Nó làm người ta không phân rõ trắng đen, quên trách nhiệm với cộng đồng, ưa thích chém giết bạo lực trả thù quá độ thậm chí là có thái độ sai lệch trong tình yêu đôi lứa, quê hương Những cái tên như: Lệnh Hồ Xung, Quách Tĩnh…một thời là “thần tượng” của tuổi trẻ Sài Gòn, mà thật

sự nhũng nhân vật ấy là “con bài” chống cộng mà đế quốc Mỹ đang lợi dụng

Có thể nói, với những thủ đoạn tinh vi trong việc dùng báo chí, sách

vở tuyên truyền “chống cộng” đế quốc Mỹ đã có được những kết quả bước đầu Đó là sự ra đời của hàng loạt báo, tạp chí “chống cộng” do một số người dân không giữ được phẩm giá trước sự cám dỗ của đô la, của lợi nhuận Và một số đông độc giả không thể phân biệt được thật - giả, trắng - đen

Song, chính báo chí, sách vở là nhũng phương tiện để những người bảo vệ văn hóa dân tộc công khai vạch mặt sự lừa bịp của Mỹ – ngụy

Thứ hai, về lĩnh vực nghệ thuật tạo hình, trong suốt 21 năm bị nô dịch Sài Gòn đã bị tác động khá mạnh mẽ chính sách văn hóa vủa Mỹ, và nghệ thuật tạo hình cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó

Khuynh hướng chung của nghệ thuật tạo hình ở Sài Gòn trong kháng chiến chống Mỹ thể hiện qua các tranh, tượng ở các phòng triển lãm Cũng như các xưởng vẽ tư nhân đó là sự bắt chước các trường phái, khuynh hướng nghệ thuật tư sản suy đồi phản nghệ thuật, phản dân tộc, phản nhân dân Tất nhiên cũng có khá nhiều người hoạt động trong lĩnh vực này có khuynh hướng dân tộc, ủng hộ cách mạng…song dưới sự đè nén của chế độ

Trang 25

Mỹ – ngụy những nghệ sỹ chân chính này khó có cơ hội phát triển và thể hiện

Các trường phái của nghê thuật tạo hình mà những nghệ sỹ ở Sài Gòn trước đây theo đuổi rất đa dạng như: An tượng, biểu hiện, siêu thực, siêu hình, trừu tượng

Đa dạng về trường phái thể hiện, xong tựu chung lại là sự trốn tránh,

vô cảm với hiên thực Ở mức độ nghiêm trọng hơn nghệ thuật tạo hình là công cụ đắc lực của đế quốc Mỹ nhằm nô dịch nhân dân

Chẳng hạn, những họa sỹ theo trường phái ấn tượng thường có khuynh hướng “vị nghệ thuật”, không ủng hộ cũng không cách mạng Họ

vẽ vì họ thích hơn là vẽ cho một lý tưởng nào Những tác phẩm theo trường phái này như: chân dung của Trịnh Cung, chân dung Thanh nữ của Nghiêu

Đề, Phũ phàng của Nguyễn Tăng, Vào cuộc của Hoàng Lam… khái quát những tác phẩm trên là sự chán chường, vô vọng chơi vơi giữa thời cuộc

Nó khiến cho người xem tranh thiếu tin tưởng lạc quan vào cuộc sống

Một ví dụ khác, những họa sỹ theo đường lối biểu hiện lại thể hiện một trạng thai hoảng loạn điên cuồng Như bức tranh “Lao động” vẽ những người lao động mệt mỏi, vẻ khổ đau, ẩn ý của bức tranh là niềm tin đến sự giải thoát khỏi khổ đau, áp bức bằng cách đến với chúa

Bên cạnh những tác phẩm tranh vẽ, Mỹ – ngụy còn xuất bản những tác phẩm phê bình mỹ thuật, phỏng vấn các họa sỹ phản động… để cổ vũ cho hoạt động mỹ thuật suy đồi của chúng

Điêu khắc ở Sài Gòn lúc bấy giờ tuy không nhiều bằng hội họa, nhưng tính chất phản động cũng không kém phần, chủ yếu những tác phẩm điêu khắc có mặt ở một số quảng trường, công viên…những tay điêu khắc như Nguyễn Văn Thế, Lê Văn Huệ, được Mỹ – ngụy nâng đỡ, nên những tác phẩm điêu khắc của họ phục vụ đắc lực cho Mỹ – ngụy Có thể kể một

số tác phẩm của Nguyễn Văn Thế như: Nữ thánh, Mùa xuân, Mùa thu, Trâu

Trang 26

cổ… tư tưởng xuyên suốt tác phẩm của Nguyễn Văn Thế là sự sợ hãi trước trước cuộc sống và tìm lối thoát ở tôn giáo

Tựu chung lại những hoạt động điêu khắc và hội họa ở Sài Gòn trước đây chịu ảnh hưởng khá nặng nề của chính sách nô dịch văn hóa của đế quốc Mỹ Có thể thấy, những tác phẩm tạo hình lúc này bấy giờ chịu nhiều

ý tưởng đầu độc nhân dân Sài Gòn nói riêng và nhân dân miền Nam nói chung Và mục đích cao nhất là Mỹ muốn biến những họa sỹ, nhà điêu khắc

và người xem tranh, tượng thành những tay sai chống phá cách mạng hoặc tạo ra những con người lầm tưởng mình có “tổ quốc”, có một nghệ thuật tạo hình dân tộc Trên thực tế đã có một ít người đã trở thành tay sai của Mỹ Còn hầu hết những người khác cũng chỉ là nạn nhân mà thôi!

Thứ ba, về lĩnh vực văn học, đây là lĩnh vực văn hóa mà Mỹ – ngụy khai thác gần như triệt để nhất và thành công nhất Có thể nói, văn học dưới chế độ Mỹ – ngụy chịu tác động nặng nề của chính sách nô dịch văn hóa Trong những sáng tác văn chương dưới chế độ Mỹ – ngụy đảm nhiệm khá nhiều vai trò từ “chống cộng” đến cổ vũ cho “lối sống Mỹ “hay làm mất niềm tin của quần chúng vào những giá trị truyền thống dân tộc, gây nhầm lẫn địch - ta

Mỹ – ngụy chia văn học ra nhiều hình thức khai thác những nội dung phản động tương ứng như: văn học lãng mạn tiêu cực, văn chương đồi trụy, văn chương ca ngợi “lính cộng hòa”, thơ “tự do”, tiểu thuyết mới…và, mỗi thể loại đã tập trung một bồi bút tay sai từ già đến trẻ, nam có nữ có, quân nhân và những người có vai trò tôn giáo lớn trong chính quyền

Trước hết là văn học lãng mạn tiêu cực, thứ văn học này thực sự phát triển khi ồ ạt đổ quân vào miền Nam kéo theo là việc làm ăn với Mỹ ngày càng nhiều khiến cho một số lượng người Sài Gòn giàu lên Họ cũng tiêu khiển bằng đọc sách, nhưng đó là thứ văn học tiêu cực lãng mạn - thứ văn học làm cho người ta thoát ly hiện thực đau thương của một đất nước đang rên xiết dưới gót giầy quân xâm lược Một lớp độc giả nữa của loại văn chương này là thanh niên Sài Gòn thiếu lý tưởng bơ vơ trong thời cuộc

Trang 27

Khuynh hướng chung của những người sáng tác văn học là tách mình ra khỏi những vấn đề nóng hổi, cấp thiết trong xã hội Họ cho phép mình bàn đến những kỷ niệm mơ ảo thuộc về quá khứ xa xưa của họ

Văn học lãng mạn tiêu cực vẫn còn ảnh hưởng của tư tưởng chống cộng, ngày càng pha trộn thêm chất đồi trụy và đầu độc quần chúng và hướng họ đến thị hiếu dễ dãi

Các nhân vật thường thấy trong văn học lãng mạn tiêu cực là: học sinh vũ nữ, gái bán “bar”, thanh niên không có nghề nghiệp sống bám vào

bố mẹ, những người làm nghề tự do

Những tác phẩm văn học dưới chế độ Mỹ – ngụy luôn được chính quyền “ưu ái” nên xuất bản ngày càng nhiều như: Mây hoàng hôn của Nhật Tiến, Chồng con tôi của Duy Lam, Nử khua của Duy Năng, Thi sĩ của Kim Tuấn, Ta úp mặt của Quang Thoại, Bơ vơ của An Khê

Văn học lãng mạn tuy không chứa đựng nhiều yếu tố chính trị phản động của văn nghệ “chống cộng”, cũng không tệ hại như văn nghệ đồi trụy Song, chính việc truyền bá trước thái độ bàng quan trước nhũng vấn đề nóng bóng của cuộc sống, trước vận mệnh dân tộc, trước những giá trị truyền thống của văn hóa dân tộc, gieo rắc những tư tưởng chán chường, bi lụy đã trực tiếp hoặc gián tiếp làm lợi cho những kẻ xâm lược và bè lũ tay sai bán nước

Chưa kể văn học lãng mạn tiêu cực còn gây tác hai trực tiếp đến nhận thức của thanh niên khiến họ dễ buông tay, đầu hàng trước cuộc sống

Nó góp phần vào hiên tượng “dịch chết vì tình lan rộng” và thống kê của báo “tiền tuyến” ngày 21/3/1970 có khoảng 13 976 người tự tử ở trong các

đô thị miền Nam và đông nhất là Sài Gòn Tuy tất cả lý do dẫn đến hiện tượng trên không hoàn toàn do văn học lãng mạn tiêu cực gây ra Nhưng không thể phủ nhận tác hại của những bài thơ ca ngợi cái chết vì tình

Cùng với văn học lãng mạn tiêu cực thì văn học đồi trụy đã ra sức chống phá cách mạng, phá hoại truyền thống dân tộc một cách nghiêm

Trang 28

trọng Tiểu thuyết đồi trụy làm sói mòn ý chí chiến đấu của thanh niên, vi phạm luân lý truyền thống, đạo đức xã hội, khơi gợi bản năng sinh vật của con người Nó là công cụ chống phá cách mạng Các “đảng rằn ri”, “đảng bụi đời”, các tổ chức C T Y (cần tình yêu - cho tình yêu - cướp tình yêu) ra đời là biểu hiện rõ tác hại của văn học đồi trụy

Hiện thực Sài Gòn dưới chế độ Mỹ – ngụy là một xã hội mà đồng tiền ngự trị tất cả, vì đồng tiền và lương tâm thể xác có thể bán, đồi trụy gắn với sự tha hóa của con người

Đội ngũ những cây bút tay sai không ngần ngại khai thác tất cả những đề tài khiêu dâm, trụy lạc bất chấp luân thường đạo lý dân tộc chỉ để kiếm tiền, để vừa lòng những kẻ xâm lược hay chỉ để thỏa mãn những quan điểm nghệ thuật bệnh hoạn của họ

Nếu nghề dạy học luôn được coi trọng ở mọi xã hội, thì ở Sài Gòn chế độ Mỹ – ngụy nhà giáo và nhà trường lại là đề tài của văn học đồi trụy Trong thứ văn học này nhà giáo cũng là kẻ gieo rắc nọc độc cho lứa tuổi thiếu niên để đưa các em vào con đường trác táng Có tác phẩm cô giáo mất trinh tiết, có tác phẩm giáo viên là cò mồi dắt nữ sinh vào con đường mại dâm, hay thầy giáo nhìn lén phụ nữ tắm…những loại tác phẩm như vậy đã gây ra hậu quả nghiêm trọng đến tinh thần và ý thức của học sinh Như nhà văn Lữ Phương đã phê phán trên tờ Tin văn: “Dù cố biện bạch như thế nào

đi nữa thì những tác động xấu xa của loại nhân vật tiểu thuyết (nhà giáo) đó đối với tâm hồn con trẻ, cũng là một sự kiện hiển nhiên khó bề chối cãi”

Ngoài ra, còn hàng loạt những sáng tác dâm ô, đồi trụy dưới hình thức “dành riêng cho học sinh và thiếu nhi” đăng nhan nhản trên các tờ báo

ở Sài Gòn Những người viết ra những tác phẩm đồi trụy này có thể đã không ý thức hết những tác phẩm mà họ đã đầu độc thế hệ tương lai của đất nước Họ chỉ nghĩ đến đồng tiền và những kẻ xâm lược dâng trước mắt họ

Một mảng khác của văn học đồi trụy là đề tài gia đình đồi trụy Trong mắt họ gia đình không còn là tổ ấm, không còn mối dây của tình ruột thịt, nghĩa vợ chồng, chẳng còn kỷ cương …tất cả đều hỗn loạn theo cái

Trang 29

loạn ly của xã hội Những tay viết văn kiểu này luôn đứng trên quan điểm, loạn luân, tình dục có thể diễn ra với cha con, mẹ con Tiêu biểu cho thứ sáng tác này là Túy Hồng với sáng tác “Vết thương dậy thì” Phải nghiêm khắc phê phán rằng những sáng tác trên quan điểm loạn luân ấy đã vi phạm nghiêm trọng nền luân lý mà cha ông đã gìn giữ hun đúc

Đến khi Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam thì văn học đồi trụy càng được tiếp thêm sức sống Họ xây dựng những nhân vật nữ được Mỹ nuôi nấng rồi hiến thân cho Mỹ Điều tệ hại là những nhân vật nữ đó hoàn toàn tình nguyện hiến thân dù có người đã có chồng con…những sáng tác kiểu này còn ca ngợi nếp sống quá buông thả trong tình dục của lính Mỹ

Với những sáng tác như: Lao vào lửa của Nguyễn Thị Thụy Vũ, Đêm dài muôn thủa của Hoàng Trúc Lý, Vùng biển động của Vũ Duy, Mãnh lực đồng đô la của Đông Tâm, Sau lũy tre xanh của Biển Hồ…là toàn

bộ lối sống nhố nhăng, thú tính mà lính Mỹ đã du nhập vào miền Nam Những tên lính Mỹ ở Sài Gòn cần phụ nữ như một công cụ tình dục không quan tâm đến nhân phẩm, đến những nguyên tắc đạo đức của xã hội mà chúng đến xâm lược

Không chỉ vậy, những sáng tác đồi trụy còn chạm tới tôn giáo, tới chính sách kiêng kỵ của Phật giáo, Thiên Chúa giáo…với những tác phẩm như vậy nhà văn cho rằng con người luôn gắn liền với đồi trụy kể cả giới tu hành và tác phẩm tiêu biểu là: Hồi chuông tắt lửa của Thế Nguyên

Tóm lại, văn học đồi trụy đã phát triển khá mạnh trong xã hội Sài Gòn trước đây Dưới sự nâng đỡ của Mỹ – ngụy thì thứ văn học này đã nhanh chóng xâm nhập vào mọi giới của Sài Gòn Với chủ nghĩa tự nhiên là mục đích hướng tới, con người chỉ cần thỏa mãn nhu cầu của mình về tình dục, còn dư luận, truyền thống đạo đức là không đáng quan tâm

Cũng phát triển không thua kém văn học đồi trụy và văn học lãn mạng tiêu cực là văn xuôi ca ngợi hình tượng “người lính cộng hòa” Loại văn học này do cục tâm lý chiến điều khiển Mỹ – ngụy đã tập hợp một đội ngũ tay sai viết văn nhằm biến người lính ngụy thành mẫu người “lý tưởng”

Trang 30

của thanh niên miền Nam Chúng còn ra sức quảng cáo cho những tác phẩm loại này để nó mau chóng đến với độc giả

Những tay viết văn ca ngợi lính cộng hòa rất đa dạng có thể là báo giới, quân nhân…đó là những người mang sẵn dòng máu chống cộng, hay chống cộng vì tiền, vì học thói a dua…

Ngoài ra, văn học dưới thời Mỹ – ngụy còn khai thác đề tài hiện sinh nhưng đã bóp méo rất nhiều Không chỉ văn học, bao chí, nhà trường đề cập đến nhiều chủ nghĩa hiện sinh, mà nó xâm nhập vào đời sống đô thị Sài Gòn

Sở dĩ, chủ nghĩa hiện sinh phát triển mạnh ở đô thị Sài Gòn là do thực trạng xã hội khi Diệm Nhu bị đảo chính Nhiều nhà văn tỏ ra chán chường khi nhận ra đế quốc Mỹ là kẻ xâm lược hung hãn, không còn tin vào Mỹ là kẻ hào hiệp Nhưng cũng không dám theo cách mạng Mặt khác, nguyên nhân còn do bệnh sùng bái phương Tây của nhiều nhà văn ở Sài Gòn trước đây

Nội dung của tiểu thuyết hiện sinh ở Sài Gòn trước đây là những người luôn bất mãn với chính mình, với bạn bè gia đình, với cuộc sống… cũng khát khao vươn tới điều cao đẹp nhưng rồi lại chẳng muốn gì nữa! Vì cuộc đời là hư vô, không định nghĩa được Những tác phẩm thuộc loại này thường chẳng phản ánh cuộc sống đầy bất công Những sáng tác thuộc loại này như : Theo chân mây của Trùng Dương Vòng tay học trò của Nguyễn Thị Hoàng, Cái hố của Thảo Trường, Nhận định của Nguyễn Văn Trung, Cát lầy của Thanh Tâm Truyền… đều là thứ văn học lai căng, mất gốc, gieo rắc đồi trụy, phá hoại đạo đức

Một xu hướng văn học cũng khá thịnh hành ở Sài Gòn trước đây là phong trào thơ “tự do” mà nguyên nhân là do một số nhà văn, nhà thơ ở Sài Gòn trước đây vốn có quan niệm mơ hồ về “lý tưởng quốc gia”, về “sức mạnh Hòa Kỳ”, về “thế giới tự do”, lại luôn bị nhồi nhét những luận điệu tuyên truyền của Mỹ ngụy nên họ hiểu sai về cách mạng Cộng với thực trạng Sài Gòn đầy cảnh lố lăng, trụy lạc do “lối sống Mỹ” gây ra Họ bế tắc

Trang 31

trong quan niệm sống, bế tắc trong sáng tác nên đành nhắm mắt chạy theo phương pháp sáng tác của phương Tây dù biết nó sẽ đi ngược lại thi ca của dân tộc

Các bài thơ của phong trào thơ “tự do” như một làn khói đen làm vẫn đục bầu không khí văn học vốn u ám của Sài Gòn trước đây Các sáng tác như: Tôi không còn cô độc, Mặt trời tìm thấy của Thanh Tâm Tuyền… Như một sự lầm lạc trong sáng tác thi ca nhưng lại thật sự có lợi cho những

kẻ xâm lược

Thơ “tự do” vốn đã làm một sự lầm lạc giữa một nền nghệ thuật dân tộc Thì ở Sài Gòn trước đây lại sản sinh ra tiểu thuyết mới Đây là thứ văn học phản lại con người, phản lại sự tiến bộ của xã hội nhà văn học lẫn tránh hoặc lẩn trốn trước những vấn đề sống còn trong xã hội để rơi vào những lý giải ngược đời Có thể nói tiểu thuyết “mới” là sự chống lại văn chương truyền thống dân tộc, với sắc thái tâm hồn Việt Nam Những sáng tác loại này như: Tiếng súng ngoài xa của Nguyễn Quang Hiện, Về đêm của Nguyễn Đình Toàn, Cát lầy của Thanh Tâm Tuyền, Nhạc tím của Nguyễn Thị Hoàng… là sự biểu hiện đa dạng của thứ nghệ thuật “loạn xạ”

Thứ tư, về lĩnh vực điện ảnh Đây cũng là công cụ đắc lực Mỹ – ngụy ra sức sử dụng nhằm truyền bá mạnh mẽ tư tưởng chống cộng, lối sống Mỹ và phá hoại những giá trị nhân văn của dân tộc

Khi Mỹ đổ quân ổ ạt vào miền Nam, do tình hình chiến sự căng thẳng, cũng như muốn trấn an, lôi kéo quần chúng về phía chúng, cũng như chấp nhận lối sống trụy lạc của lính Mỹ nhiều bộ phim đã ra đời như: Sóng

đỏ, Trở về đường sáng, Hận cố đô, Tìm tự do, Anh hùng diệt cộng, Người cày có ruộng, ngoài những bộ phim của cục tâm lý chiến chỉ đạo trung tâm điện ảnh sản xuất Thì một số hãng phim tư nhân cũng bị nhà nước ép phải sản xuất như; chuyện Năm dần của Alpha phim, từ Sài Gòn đến Điện Biên Phủ của Mỹ Vân Phim

Vì phim ảnh là công cụ sống động và đắc lực để thực hiện mưu đồ văn hóa nên Mỹ ra sức phát triển hoạt động này Thanh niên là lực lượng bị

Trang 32

ảnh hưởng tiêu cực nhất của những phim đồi trụy Khi mà ở Sài Gòn cứ nhan nhản những áp phích với những cô gái lõa lồ đầy khêu gợi

Để tăng tính “chân thật” cho những bộ phim phản động số lượng phim thời sự đã nhanh chóng phát triển, 1970 đã có 7000 bản phát hành với

107 bộ Các phim đó là Chân trời tím, Giã từ bóng tối, Xin nhận nơi này làm quê hương… Các hãng phim tư nhân thì ra sức sản xuất các bộ phim thoát ly hiện thực như Hè muộn, Chiều kỷ niệm, Hè 72, Mùa thu cuối cùng…

Cùng những bộ phim ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cá nhân, gây hận thù như Loan mắt nhung, Vết thù trên lưng ngựa hoang… Mỹ – ngụy còn

ra sức mở các rạp chiếu bóng ở khắp Sài Gòn nhiều những chiết xe chiếu bóng lưu động lùng sục ở mọi vùng nông thôn ở Sài Gòn để chiếu phim chống cộng Ngoài ra, Mỹ – ngụy còn cho phép mở một số trường đại học

mở khoa điện ảnh riêng như: trường Đại học Minh Đức, Đại học Vạn Hạnh, cho ấn hành thêm nhiều tạp chí điện ảnh sân khấu: kịch ảnh, màn ảnh và điện ảnh, cùng với đó, là một số tổ chức đoàn thể được thành lập như; hội sản xuất phim, ảnh Việt Nam – nghiệp đoàn điện ảnh Việt Nam

Thứ năm, về lĩnh vực sân khấu cùng với trào lưu tiểu thuyết “mới” là kịch, “phi lý” đó là loại kịch phủ nhận hiện thực, phủ nhận con người, phủ nhận mọi giá trị làm cho cuộc đời làm nên tốt đẹp, mà nguyên nhân là do xuất phát từ quan niện sự đau khổ của con người do lòng dục vọng gây ra

và sinh ra sự hoài nghi về chân lý, đạo đức Kịch “phi lý” là sự rập khuôn, bắt chước phương Tây, sự tiếp thu bừa bãi như vậy đã làm cho Kịch “phi lý” ở Sài Gòn trước đây trở nên kệch cỡm, lạc điệu với sân khấu kịch dân tộc

Rất nhiều kịch “phi lý” mượn đề tài giả sử để thực hiện mưu đồ đánh đồng kẻ đi xâm lược và người chống xâm lược, cũng như sự thỏa mãn khác vọng cá nhân mà không quan tâm tới cộng động điều này rất khác biệt với văn hóa nước ta

Trang 33

Những vở kịch như: Thành Cát Tư Hãn của Vũ Khắc Khoan, Người viễn khách thứ mười của Ngiêm Xuân Hồng, Tiếng hú tâm linh của Đoàn Quốc Sĩ… đều là những tác phẩm hết sức phản động vừa chống cộng lại vừa đi ngược lại với kịch nói dân tộc

Mỗi biểu hiện dễ nhận thấy là nhiều văn nghệ sĩ ở Sài Gòn trước đi rất thích bắt chước những khuynh hướng nghệ thuật của phương Tây Có những khuynh hướng khi họ bắt chước đã làm méo mó một cách nghiêm trọng cái ban đầu Và kịch “phi lý” là sự bắt chước táo tợn đó Tuy vậy giữa nền kịch nói dân tộc thì thứ kịch phi lý ấy như cung đàn lạc điệu

Thứ sáu về lĩnh vực âm nhạc, âm nhạc có sức truyền cảm, lay động lòng người hơn một số loại hình nghệ thuật khác và cũng vì lý do này, mà

Mỹ Ngụy ra sức đầu tư khai thác lĩnh vực này Nhằm biến âm nhạc thành công cụ để nô dịchh văn hóa nước ta, làm xói mòn ý chí chiến đấu của nhân dân

Quân Mỹ ồ ạt vào Việt Nam kéo theo những hệ thống hậu cần phục

vụ chúng và âm nhạc là thứ không thể thiếu được Hệ thống FM Sài Gòn được xây dựng để thỏa mãn nhu cầu âm nhạc cho lính Mỹ và ngụy kèm theo đó là rựou và phụ nữ làm gái nhảy… Các phòng trà, sàn nhảy mọc lên như nấm Lúc đầu chỉ phục vụ binh lính, nhưng khi “lối sống Mỹ” được truyền bá thì thanh niên bản xứ, những đại gia cũng tham gia Cùng với sự phát triển của nhu cầu thưởng thức cũng như truyền bá âm nhạc Mỹ “biệt đoàn văn nghệ tâm lý” ra đời Nó tập hợp những thứ âm nhạc và người hát nhạc quái thai chống phá quyết liệt nền âm nhạc dân tộc Họ hát nhạc Việt như người ngoại quốc phát âm tiếng Việt họ những người bản xứ nhưng lạ thích lấy tên Mỹ ghép vào tên của mình như Kathy Hiệu, Komnie Kim…… giàn nhạc cũng đặt theo tên Mỹ

Nhằm ru ngủ mê hoặc những tên ngụy chiến đấu và hi sinh cho Mỹ,

đế quốc Mỹ đã phát triển phong trào âm nhạc tâm lý chiến lôi kéo một lực lượng ca sĩ và nhạc sĩ vào tổ chức này để sáng tác và phục vụ công cuộc tàn

Trang 34

sát nhân dân cách mạng, chống phá âm nhạc dân tộc… Với những ca khúc cực kỳ phản động như: lính dù lên điểm, lính mà em, M16…

Không chỉ ru ngủ lính ngụy, đế quốc Mỹ còn có mưu đồ đầu độc thanh niên Sài Gòn với những tình ca ủy mị, đồi trụy, những bài hát “ca ngợi lính cộng hòa” … những bài hát ốm yếu, bệnh hoạn liên tục ra đời dưới dạng tình ca, đạo ca, tục ca, vỉa hè ca…

Ghê gớm hơn Mỹ - ngụy còn tổ chức nhiều đại nhạc hội trẻ Tiêu biểu là “đại nhạc hội trẻ quốc tế” ngoài trời được tổ chức ở sân Hoa Lư dưới sự bảo trở của vợ chồng Nguyễn Văn Thiệu với sự cổ vũ hàng ngàn thiếu niên choai choai lố lăng mất gốc

Bên cạnh đó, Mỹ - ngụy còn đẻ ra thứ nhạc sở thú mà mức độ lố lăng, điên loạn ngày càng cao độ đó là các ban nhạc có tên “Psichedelie” nghĩa là nhạc tâm hoặc làm cho nhiều thanh niên Sài Gòn xa đọa hơn và trở thành nạn nhân của phong trào hippi, khiến họ càng xa rời với truyền thống dân tộc

Cùng chung số phận với các lĩnh vực khác văn hóa dân tộc, giáo dục Sài Gòn cũng không thể tránh khỏi bóng đêm của văn hóa thực dân mới Nếu ở thời Pháp thuộc Sài Gòn đã chịu một nền văn hóa ngoại lai thì đến chế độ Mỹ - ngụy Sài Gòn lại có nền giáo dục nô dịch Đế quốc Mỹ đã triển khai rất nhiều tổ chức giáo dục hòng kiểm soát nền giáo dục Sài Gòn như:

USAID: phụ trách cố vấn, quản lý giáo dục, cấp học bổng, đào tạo sinh viên, theo dõi hoạt động của bộ văn hóa giáo dục và thanh niên chính quyền Sài Gòn

AID: lo việc đào tạo trí thức và cán bộ giáo dục

SIU: phụ trách đào tạo giáo viên tiểu học

OU: phụ trách đào tạo giáo viên đệ nhất cấp và đệ nhị cấp

AFS : lo việc học sinh cấp hai sang Mỹ đào tạo

USIA: công tác tuyên truyền tư tưởng

Trang 35

Mỹ - ngụy còn lập ra nhiều tổ chức chính trị, văn hóa xã hội để tác động đến giáo dục như: Đoan thanh, Công, sinh, hội thanh niên thiện chí Việt Nam Còn giáo chức thì cưỡng bức vào quân đội Sài Gòn gán cho những danh hiệu “sĩ quan biệt phái… “

Mỹ - ngụy đầu tư rất lớn vào giáo dục từ cấp tiểu học cho đến đại học Nội dung giáo dục cũng rất đa dạng nhưng mấu chốt là tạo ra những thế hệ học sinh, sinh viên xa rời dân tộc, tạo ra những lực lượng phô trương thanh thế cho Mỹ Nói chung là không phục vụ cho dân tộc ta Chương trình giáo dục của Mỹ - ngụy vẫn còn nhiều sơ sót, nhược điểm về hệ thống kiến thức lại vừa nô dịch phản động, ngoại lai đi ngược với nền giáo dục dân tộc

Mặc dù, những số liệu về giáo dục liên tục tăng về số lượng học sinh

- sinh viên, nhưng nạn thất học vẫn tràn lan Sinh viên không được học bằng chữ quốc ngữ, nội dung giáo trình không làm cho người học có chút gì

về lý tưởng, về dân tộc

Tất cả những sự o ép, mua chuộc của Mỹ - ngụy có thể làm cho một

số giáo viên quay lưng với nền giáo dục dân tộc, có thể làm cho một số học sinh – sinh viên trở thành tay sai trong nhà trường Nhưng một dân tộc trọng việc học như dân tộc ta quyết không thể chấp nhận một nền giáo dục phi dân tộc như vậy

Có thể nói, thực trạng văn hóa dân tộc ở Sài Gòn bị tác động tiêu cực như trên là rất nhiều nguyên nhân đem lại Phân tích những nguyên nhân ấy chúng ta càng hiểu thêm về sự phát triển của phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc, nó như mồ chôn những thứ “văn hóa” thực dân mới làm trong sạch nền văn hóa dân tộc Những nguyên nhân đó là:

Một là, Sài Gòn vốn là nơi tập trung các cơ quan đầu não của ngụy quân, ngụy quyền, nơi chỉ huy của dinh “toàn quyền” Mỹ với một hệ thống tình báo dày đặc khắp nơi Và, Sài Gòn cũng chính là nơi tập trung nhiều

Trang 36

nhất mọi thứ “văn hóa” thực dân mới của Mỹ Một thành phố hàng mấy triệu dân bị nô dịch trong một thời gian dài thì không thể tránh khỏi bị ảnh hưởng Vì bên cạnh những đồng bào có tinh thần yêu nước đấu tranh chống lại sự nô dịch văn hóa của Mỹ Thì vẫn còn không ít những người lầm đường lạc lối trở thành tay sai văn hóa của đế quốc Mỹ

Mặt khác, trải qua hai cuộc kháng chiến Sài Gòn là vùng tạm chiến của địch Ở nơi đó, những hoạt động tuyên truyền của cán bộ cách mạng rất khó khăn trong khi những kẻ xâm lược thì ra sức tung ra những luận điệu xuyên tạc đầu độc nhân dân

Hơn nữa, khi xâm lược miền Nam đế quốc Mỹ đã viện trợ ồ ạt đô la và hàng hóa nhằm lung lạc ý chí của nhân dân Sài Gòn Không thể nói người dân yêu tiền hơn yêu nước, nhưng thật sự có một bộ phận không nhỏ người dân đã

bị ma lực của đồng đô la, nên đành nhắm mắt làm tay sai cho chúng

Mặt khác, bên cạnh chính sách dụ dỗ thì sự đe dọa, trừng phạt những người không làm theo ý đồ của chúng cũng rất tàn bạo không phải ai cũng kiên cường không sợ Mỹ

Hai là, do phần lớn thanh niên khi lớn lên không hiểu đúng về cộng sản lại bị những luận điệu nhồi sọ của đế quốc Mỹ nên không ít người đã trở thành những tay sai văn hóa cho chúng mà cứ ngỡ là đang cống hiến cho quê hương đất nước Và chính những con người ấy khi hiểu ra chân lý đã trở thành những chiến sỹ kiên cường trên mặt trận văn hóa

Ba là, do một số nhà văn nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hóa, họa sỹ…

đã không đặt ra cho mình một khuynh hướng sáng tác vì cách mạng mà lại chon con đường sáng tác vô thưởng vô phạt cũng là ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc đấu tranh trên mặt trận văn hóa

Bốn là, đế quốc Mỹ đã thật sự đổ rất nhiều tiền của vào âm mưu văn hóa của chúng Với những phương tiện nghe nhìn sách báo tràn lan như vậy Dù muốn dù không thì những ảnh hưởng của nó là không thể tránh khỏi

Trang 37

Trên đây chỉ là một vài nguyên nhân sơ lược của thực trạng văn hóa dân tộc ở Sài Gòn dưới chế độ Mỹ - ngụy Dù chưa thật sự đầy đủ nhưng cũng phần nào phản ánh được nguyên nhân của thực trạng ấy

Với những ảnh hưởng tiêu cực từ “văn hóa thực dân mới” mà đế quốc Mỹ áp đặt vào nước ta Quả thực, đế quốc Mỹ có những lúc tưởng rằng văn hóa dân tộc chúng ta có thể bị mai một, người dân Sài Gòn có thể quên đi con người Việt Nam nhưng chúng đã nhầm Khi mà những phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc ngày càng phát triển theo sự thắng thế của quân

sự và ngoại giao Đặc biệt, là dưới sự lãnh đạo sát sao của Đảng ủy văn hóa

ở Sài Gòn

Đó là những nhân tố tạo nên sự thắng lợi của phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc ở Sài Gòn

Trang 38

CHƯƠNG II: PHONG TRÀO BẢO VỆ VĂN HÓA DÂN TỘC

Ở SÀI GÒN (1965 – 1968) 2.1 Các tổ chức bảo vệ văn hóa dân tộc xuất hiện:

Từ năm 1965, khi Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam cùng với súng đạn, phương tiện đấu tranh là nọc độc văn hóa nô dịch, “lối sống Mỹ” …

Sự có mặt của một số lượng lớn lính Mỹ ở Sài Gòn đã gây ra sự xáo trộn nghiêm trọng đời sống văn hóa, xã hội ở Sài Gòn Bộ mặt xảo quyệt của đế quốc Mỹ ngày càng thể hiện rõ trên lĩnh vực văn hóa

Nhiều trí thức, văn nghệ sỹ trước đây giữ thái độ trung lập, bây giờ cũng chuyển sang phản đối Mỹ Họ kiên quyết bảo vệ những truyền thống văn hóa dân tộc, phẩm giá con người Việt Nam

Trước sự tàn bạo của chính sách “văn hóa thực dân mới” cộng với ý thức tự hào về truyền thống văn hóa mấy nghìn năm của dân tộc cũng như bản lĩnh con người Việt Nam, những tổ chức bảo vệ văn hóa dân tộc lần lượt ra đời Với mục đích giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, chống lại sự nô dịch của văn hóa Mỹ

Ngày 7/8/1966, dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy văn hóa một mặt trận tập hợp đông đảo dưới ngọn cờ bảo vệ văn hóa dân tộc với khẩu hiệu hành động chống văn hóa đồi trụy, ngoại lai Quả thật, khi Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam thì văn hóa đồi trụy ngoại lai trở thành nội dung của văn hóa thống trị Mặt trận tập họp hàng ngàn người từ giới văn hóa văn nghệ, báo chí tri thức các hội đoàn tôn giáo… với tên gọi là “lực lượng bảo vệ văn hóa dân tộc” tỏ chức ngay tại đô chính Sài Gòn

Danh sách ban chấp hành trung ương lực lượng bảo vệ văn hóa dân

tộc gồm:

Chủ tịch danh dự:

 Giáo sư Dương Minh Thới

Trang 39

 Á Nam Trần Tuấn Khải, nhà thơ, Chủ tịch Hiệp hội Văn học nghệ thuật

Ban chủ tịch

 Chủ tịch ban chủ tịch : giáo sư Lê Văn Gíap

 Vi Đắc Huyền, nhà văn, phó chủ tịch hội văn bút Việt Nam

 Nghiêm Thẩm, giáo sư đại học, tổng thư ký Hội Nghiên cứu liên lạc

 Trần Trúc Linh, luật sư, Hội phụ huynh trường Petrus Ký

 Lê Ngọc Diệp, giáo sư, Hội phụ huynh học sinh trường Gia Long

 Lương Lê Đồng, giáo sư, Chủ tịch Hội liên hiệp giáo chức và nghiệp đoàn giáo dục tư thục Việt Nam

 Nguyễn Hữu Ba, giáo sư quốc gia âm nhạc, Đại học Van Hạnh, ủy viên văn - mỹ - nghệ, giáo sư Hội Phật giáo Việt Nam thống nhất

 Bữu Cẩm, giáo sư đại học Văn khoa, Vạn Hạnh

 Nguyễn Văn Trung, giáo sư đại học Văn Khoa

 Thuần Phong, giáo sư, cố vấn Liên hiệp giáo chức Việt Nam

 Vũ Đức Trinh, linh mục, nhà thơ, Hội bảo vệ luân lý

 Thích Giác Nguyên, Đại đức, giảng sư phật giáo

 Nguyễn Phụng, giáo sư, Hội bạn trẻ Việt Nam

 Thiên Quang, nhà văn, Hội bạn trẻ Việt Nam

 Bình Nguyên Lộc, nhà văn

Trang 40

 Ba Vân, kịch sỹ, Hội Ái hữu nghệ sỹ

 Thu An, soạn giả, Giám đốc đoàn Hương Mùa Thu

 Nguyễn Thị Nhỏ, Giám đốc đoàn thanh Minh Thanh Nga

 Phan Thị Của, giáo sư, Chủ tịch Hội bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi phụ nữ

 Phan Đình Đàm, Phó chủ tịch, Hội bảo vệ nhân phẩm và phụ nữ

 Ký Minh, ký giả, tổng thư ký nghiệp đoàn ký giả Việt Nam

Ban cố vấn

 Đông Hồ, nhà thơ

 Thiếu Sơn, nhà văn

 Nguyễn Văn Ba, bác sỹ

 Ngô Gia Hy, thạc sỹ

 Nam Đình, chủ báo

 Vũ Ngọc Các, chủ báo, Chủ tịch Hội chủ báo Việt Nam

 Đặng Văn Nhân, chủ báo, tổng thư ký Hội chủ báo Việt Nam

 Nguyễn Đăng Thục, giáo sư đại học Văn Khoa Vạn Hạnh, Chủ tịch Hội Nghiên cứu liên lạc văn hóa Á Châu

 Trần Ngọc Gíap, giáo sư, hội đức trí, thể dục

 Thích Thiện Ân, giáo sư đại học, Khoa trưởng phân khoa khoa học nhân văn, Đại học Vạn Hạnh

 Đào Đăng Vỹ, giáo sư văn hóa, vụ trưởng giáo hội phật giáo Việt Nam thống nhất

 Lê Văn Hảo, giáo sư đại học, tiến sỹ dân tộc học

 Nguyễn Đắc Kham, giáo sư

 Nguyễn Bá Lăng, kiến trúc sư Viện khảo cổ học

Ngày đăng: 07/05/2021, 22:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w