Pushkin, Lermontov… thì thế kỷ XX cũng là một thời kỳ để lại nhiều dấu ấn đặc sắc, quan trọng trên văn đàn Nga với các nhà thơ tiêu biểu như Aleksandr Blok, Anna Akhmatova, Vladimir Maya
Trang 1ĐỀ TÀI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CẤP TRƯỜNG – 2008
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂUVIỆC NGHIÊN CỨU, GIỚI
THIỆU THƠ CA NGA THẾ KỶ XX
Trang 2TỔNG QUAN TÌNH HÌNH DỊCH THUẬT THƠ CA NGA THẾ KỈ XX 5
Ở VIỆT NAM 5
1.1 Tình hình dịch thuật thơ ca Nga thế kỉ XX ở Việt Nam 5
1.2 Chân dung các nhà thơ tiêu biểu 12
1.3 Tiểu kết 35
CHƯƠNG 2 37
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THƠ CA NGA THẾ KỈ XX 37
Ở VIỆT NAM 37
2.1 Tình hình nghiên cứu thơ ca Nga thế kỉ XX ở Việt Nam 37
2.2 Nhận định 42
CHƯƠNG3 43
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH DỊCH THUẬT VÀ NGHIÊN CỨU THƠ 43
CA NGA THẾ KỈ XX Ở VIỆT NAM QUA MỘT SỐ PHƯƠNG TIỆN KHÁC 43
3.1 Thơ ca Nga thế kỉ XX ở Việt Nam qua con đường tiếp cận bằng âm nhạc và điện ảnh 43
3.2 Việc giới thiệu thơ ca Nga thế kỉ XX trên các websites ở Việt Nam 57
KẾT LUẬN 61
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC 67
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn học Nga là một văn học lớn với nhiều thành tựu đặc sắc, tiêu biểu, gần gũi
và có nhiều tác động giao lưu – ảnh hưởng tích cực đến nền văn học Việt Nam Nhắc đến nền văn học ấy, chúng ta không thể quên tên tuổi những nhà văn, nhà thơ nổi bật từ lâu đã trở nên rất quen thuộc, gần gũi với bao thế hệ độc giả Việt Nam như A S Pushkin, L Toltoys, N V Gogol, F M Dostoievski v.v… Bên cạnh các thể loại như tiểu thuyết, kịch, truyện ngắn, thơ ca cũng là một trong những thành tựu nổi bật của nền văn học Nga Nếu như ta biết đến thơ ca Nga thế kỷ XIX, thế
kỷ được mệnh danh là “thế kỷ vàng” của thơ ca, với tên tuổi nhà thơ vĩ đại bậc thầy
A S Pushkin, Lermontov… thì thế kỷ XX cũng là một thời kỳ để lại nhiều dấu ấn đặc sắc, quan trọng trên văn đàn Nga với các nhà thơ tiêu biểu như Aleksandr Blok, Anna Akhmatova, Vladimir Mayakovsky, Sergey Esenin, Marina Tsvetaeva, Boris Pasternak, Bella Akhmadulina, Olga Berggoltz… Thơ ca Nga thế kỷ XX đã được phổ biến rộng rãi trong nhiều thế hệ độc giả ở Việt Nam; nhiều tác giả, tác phẩm tiêu biểu đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình đào tạo chính quy của các bậc học từ phổ thông đến đại học, cao học, nghiên cứu sinh Có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, luận án, khóa luận tốt nghiệp, bài chuyên đề, tiểu luận viết về thơ ca Nga thế kỷ XX nói chung cũng như là nghiên cứu các tác gia, tác phẩm tiêu biểu của thời kỳ này nói riêng Mức phổ quát của thơ ca Nga thế kỷ XX đối với đời sống văn học nói riêng và đời sống văn hóa – tinh thần của dân tộc Việt Nam nói chung là rất rộng lớn và sâu sắc
Từ những lý do trên, chúng tôi thấy rằng vấn đề bước đầu tìm hiểu việc nghiên cứu, giới thiệu thơ ca Nga thế kỷ XX ở Việt Nam là rất cần thiết
Trang 42 Lịch sử vấn đề
Từ trước đến nay, đã có rất nhiều đề tài, công trình khoa học tìm hiểu, giới thiệu về thơ ca Nga thế kỷ XX với các trào lưu, tác giả, tác phẩm tiêu biểu dưới góc độ dịch thuật, nghiên cứu nhưng chưa có đề tài nào đi vào nghiên cứu về việc
tiếp nhận thơ ca Nga, nghiên cứu về tình hình dịch và giới thiệu thơ ca Nga thế kỉ
4 Phương pháp nghiên cứu
Đây là một đề tài liên quan đến vấn đề tiếp nhận văn học, vì vậy khi thực hiện
nó, chúng tôi chú ý tiếp thu và vận dụng các quan điểm của nghiên cứu văn học macxít cũng như một số lý thuyết tiếp nhận hiện đại
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: phương pháp lịch sử (tìm hiểu nguồn gốc, ảnh hưởng), phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích
Trang 55 Giới hạn của đề tài
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các công trình nghiên cứu, dịch thuật thơ ca Nga thế kỷ XX nhưng do một số điều kiện khách quan và chủ quan, chúng tôi chỉ giới hạn việc tìm hiểu với các trào lưu, hiện tượng và tác giả tiêu biểu
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài lần đầu tiên làm công việc tổng thuật việc nghiên cứu và giới thiệu thơ ca Nga thế kỷ XX ở Việt Nam, từ đó có thể cung cấp tư liệu nền để tham khảo, tra cứu cho các công trình sau
7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
7.1 Ý nghĩa khoa học
- Khẳng định lại giá trị của thơ ca Nga thế kỷ XX trên bình diện văn học
- Giúp độc giả hệ thống và có cái nhìn tổng quan về các công trình nghiên cứu, giới thiệu Thơ ca Nga thế kỷ XX ở Việt Nam
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp nguồn tư liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu về thơ ca Nga thế kỷ XX
- Tìm hiểu, đánh giá quá trình tiếp nhận thơ ca Nga thế kỷ XX ở Việt Nam
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm có ba chương chính:
Chương 1: Tổng quan tình hình dịch thuật thơ ca Nga thế kỷ XX ở Việt Nam Chương này chúng tôi tiến hành việc tổng thuật, thống kê, tìm hiểu các công trình
Trang 6dịch thuật thơ Nga thế kỷ XX để rút ra các xu hướng văn học chính, các nhà văn tiêu biểu được dịch nhiều
Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu thơ ca Nga thế kỷ XX ở Việt Nam Chương này chúng tôi tiến hành tổng thuật các công trình nghiên cứu thơ Nga thế
kỉ XX để tìm ra các xu hướng chính trong nghiên cứu và tiếp nhận
Chương 3: Tổng quan tình hình dịch thuật và nghiên cứu thơ ca Nga thế kỷ XX
ở Việt Nam qua một số phương tiện khác Ở chương này, chúng tôi sẽ tìm hiểu việc nghiên cứu, giới thiệu thơ Nga thế kỷ XX qua nhiều bình diện và phương tiện khác của đời sống ngoài văn học như âm nhạc, điện ảnh, báo chí, internet; qua đó
có thể rút ra các xu hướng tiếp nhận thơ Nga của độc giả cũng như của các nhà nghiên cứu Việt Nam khắp nơi, không bó hẹp trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Trang 7CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH DỊCH THUẬT THƠ CA NGA THẾ KỈ XX
Ở VIỆT NAM
1.1 Tình hình dịch thuật thơ ca Nga thế kỉ XX ở Việt Nam
Thơ ca Nga thế kỷ XX – thời kỳ “thế kỷ bạc” của thơ ca Nga - đã để lại nhiều dấu ấn rất mạnh mẽ, nổi bật và đạt nhiều thành tựu tiêu biểu với sự ra đời, hình thành, phát triển đến đỉnh cao của nhiều trường phái, trào lưu, chủ nghĩa mới như chủ nghĩa vị lai, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa đỉnh cao; song song đó là sự khẳng định tài năng và tên tuổi của nhiều nhà thơ như: Aleksandr Blok, Valerij Brjussov, Nikolaj Gumilev, Anna Axmatova, Osip Mandelstam, Vladimir Mayakovsky, Sergey Esenin, Marina Cvetaeva, Boris Pasternak, Adrej Voznesenskij, Evgenij Evtusenko, Bella Axmadulina, Olgar Bergon… Thơ ca Nga thế kỷ XX ở Nga có thể chia thành ba giai đoạn chính như sau: Thơ Nga những năm giữa thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX (thời kỳ này được mệnh danh là giai đoạn
“gối đầu” trong thơ ca Nga, lúc này nền thơ ca Nga đã chuyển mình từ thời đại vàng kim sang thời đại “thế kỷ bạc” Đây cũng là một thời kỳ phản ánh nhiều tìm
tòi, đổi mới của thơ ca Nga với sự xuất hiện của nhiều khuynh hướng mới như Tượng trưng, Đỉnh cao cùng với nhiều tên tuổi lớn như Akhmatova,
Mayakovsky…); Thơ ca Nga thời kỳ Xô Viết (thơ ca thời kì này nằm trong dòng văn học chủ lưu – văn học Xô Viết, kéo dài suốt những năm tháng của chế độ Xô Viết từ những năm 1917 đến năm 1991; đây cũng là thời kì thơ ca Nga thế kỉ XX đạt nhiều thành tựu rực rỡ với tên tuổi các nhà thơ lớn như Aleksandr Blok, Vladimir Mayakovsky, Sergey Esenin, Marina Tsvetaeva, Boris Pasternak, Evgeny Evtushenko, Bella Akhmadulina, Olga Berggoltz, Kostanchin Simonov…); bên cạnh đó, thơ ca Nga hải ngoại (do những nhà thơ sống và làm việc ở nước ngoài sáng tác) cũng song song phát triển với thơ ca Cách mạng và Xô Viết; giai đoạn thứ ba của thơ ca Nga thế kỉ XX là thời kỳ Thơ ca mới (thời kỳ đổi mới) Đó là một
số nét chính về đặc điểm tình hình thơ Nga thế kỉ XX
Trang 8Thơ ca Nga nói chung và thơ Nga thế kỉ XX nói riêng được dịch và giới thiệu ở Việt Nam từ rất sớm với đội ngũ dịch giả là các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu nổi tiếng trên văn đàn Việt Nam thời bấy giờ như Xuân Diệu (dịch và giới thiệu thơ của Pushkin, Mayakovsky), Hoàng Trung Thông (dịch và giới thiệu thơ của Mayakovsky, Olgar Berggoltz ), Bằng Việt (dịch và giới thiệu tác phẩm của Olga Berggoltz, Evgeny Evtushenko và nhiều nhà thơ khác), Tố Hữu (dịch và giới thiệu thơ của Kostanchin Simonov cùng nhiều nhà thơ Xô Viết khác), dịch giả Thúy Toàn (người dày công sưu tầm và dịch thuật nhiều tác phẩm nổi tiếng của các nhà thơ Nga trong thế kỷ XIX và XX), nhà lý luận phê bình Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Hải Hà…
Trong quá trình nghiên cứu việc giới thiệu thơ ca Nga thế kỉ XX ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy giai đoạn thơ ca thời kì Xô Viết cùng với các nhà văn như Aleksandr Blok, Vladimir Mayakovsky, Sergey Esenin, Boris Pasternak, Olga Berggoltz, Kostanchin Simonov và các chủ đề về tình yêu (con người, Tổ quốc), ca ngợi cuộc chiến tranh Vệ Quốc, ca ngợi chế độ xã hội chủ nghĩa và nước Nga Xô Viết và thơ ca trữ tình về tình yêu, cuộc sống và thiên nhiên Nga là những vấn đề chính được các dịch giả quan tâm, lưu ý và giới thiệu nhiều nhất Điều này cũng đã phản ánh một đặc điểm quan trọng trong quá trình tiếp nhận thơ ca Nga thế kỉ XX với điều kiện lịch sử - xã hội ở Việt Nam thời kì bấy giờ Như chúng ta đã biết, đất nước Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX lâm vào tình trạng vô cùng trì trệ, đời sống của nhân dân đói nghèo, khốn khổ dưới ách cai trị tàn bạo, độc ác của bọn thực dân phương Tây và bọn phong kiến tay sai Trước tình thế nguy nan của nước nhà, Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ Cách mạng vĩ đại, vị Cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam đã ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân khỏi cảnh nước mất nhà tan Sau bao năm bôn ba ở xứ người, cuối cùng Bác Hồ cũng đã bắt gặp được chân lý Cách mạng Dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa
Trang 9Mác-Lênin, Người đã tiếp thu chân lý Cách mạng trong bản Luận cương các vấn
đề dân tộc và thuộc địa của lãnh tụ Lênin và học hỏi những kinh nghiệm từ cuộc
chiến tranh thần thánh vĩ đại của nhân dân Nga – Cách mạng tháng 10/ 1917, Bác
Hồ đã chỉ ra rằng: “Muốn giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác ngoài con đường Cách mạng vô sản” Trong suốt những năm tháng đấu tranh đánh đuổi
giặc ngoại xâm, toàn dân ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Bác Hồ và Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra sức chiến đấu và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, tiến hành hai cuộc kháng chiến vĩ đại đánh đuổi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ cùng các thế lực phản động, tay sai; giành lại nền độc lập, tự do cho dân tộc Văn học Việt Nam trong suốt thời kì kháng chiến cũng đạt được nhiều thành tựu nổi bật với các thế hệ nhà văn, nhà thơ có tên tuổi Trong không khí chung của toàn thời đại, dân tộc, việc tiếp nhận văn học Xô Viết, đặc biệt là thơ ca Nga với các chủ đề ca ngợi tinh thần đấu tranh vì lợi ích dân tộc, tinh thần cộng sản chủ nghĩa, ca ngợi Tổ Quốc, lòng yêu nước, tình yêu nhân dân đồng bào là tất yếu Độc giả và dịch giả đều có thể dễ dàng tìm được tiếng nói chung đồng cảm, sẻ chia với suy nghĩ, tình cảm chân thành của các nhà thơ Nga Xô Viết Việc tiếp nhận ấy cũng có tác dụng lớn lao, sâu sắc trong việc bồi đắp tình cảm đối với Tổ quốc, đồng bào; bồi dưỡng thêm tinh thần quốc tế tương thân tương ái của nhân dân ta Hiện nay, ở Việt Nam
có khoảng trên 20 tác phẩm dịch thuật về các sáng tác của các nhà thơ Nga Xô Viết, chủ yếu tập trung vào các tác giả tiêu biểu như Aleksandr Blok, Vladimir Mayakovskyj, Sergey Esenin, Boris Pasternak; còn các tác giả tiêu biểu khác như Anna Akhmatova, Evgeny Evtushenko, Bella Akhmadulina, Olga Berggoltz, Kostanchin Simonov, Marina Tsvetaeva thì được dịch rải rác trong các tuyển tập thơ Nga Bên cạnh các dịch thuật về các nhà thơ Nga Xô Viết thì cũng có một số
tác phẩm về các nhà thơ khác như tập Những ngôi sao băng (thơ Nika Turbia, Vladimir Vysockij, Nikolai Rubtxov…), Thúy Toàn tuyển dịch, 2004; Tập thơ
Trang 10Liên Xô, Xuân Diệu viết lời giới thiệu, NXB Văn học, 1962; Vôznêxenxky, Chân dung Plixétxcaia (Thơ), Tế Hanh tuyển dịch và giới thiệu, NXB Tác phẩm mới,
1983; Mêgiêlaitix E, Gamzatov, Con người và những ngôi sao xa (Thơ), Giải
thưởng Lênin 62-63, Thái Bá Tân dịch từ tiếng Nga, NXB Lao động, 1983;
Eptusenkô E, Lọ lem – Thơ, Bằng Việt dịch, Vũ Quần Phương giới thiệu, NXB Tác phẩm mới, 1982; Bài thơ Bạch Dương – Thơ chọn lọc các tác giả Nga và Xô
Viết, Thái Bá Tân dịch, NXB Lao động, 1987; Raxul Gamzatov và thơ, Thúy
Toàn dịch, NXB Văn hóa dân tộc, NXB Trung tâm ngôn ngữ văn hóa Đông Tây,
2003; Acve, 100 bài thơ tình thế giới chọn lọc, Mã Giang Lân tuyển chọn và giới thiệu, NXB Giáo dục, 2004 (giới thiệu thơ Bella Akhmadulina); Puskin, Thế giới
thơ tình, (giới thiệu thơ Puskin, Môrit Carem, A Blốc ), Trần Minh Thắng tuyển
chọn, NXB Văn học, 2002; Arve, Thơ tình thế giới đặc sắc, Lữ Huy Nguyên
tuyển chọn, Đông Hoài cộng tác, NXB Văn học, 1998 (giới thiệu thơ Olgar
Bergol); Akhmatova, Anna, Trăm áng thơ tình thế giới: Thơ tình, (giới thiệu thơ
của Anna Akhmatova), Nhiều người dịch, NXB Văn học, NXB Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2000
Như vậy, với việc tìm hiểu tình hình dịch thuật thơ ca Nga thế kỷ XX, nhóm nghiên cứu đề tài nhận thấy rằng, thơ ca Nga đã đến với độc giả Việt Nam từ rất sớm (đặc biệt là qua con đường âm nhạc với ca khúc nổi tiếng Cachiusa được nhạc
sĩ M Blanter phổ nhạc từ bài thơ cùng tên của nhà thơ M Isakovski – đây có thể được xem là tác phẩm đầu tiên của thơ ca Nga đến với Việt Nam) Giới trí thức, văn nghệ sĩ, nhất là các nhà thơ Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ XX đã ít nhiều được tiếp xúc với thơ ca Nga qua các tác phẩm, sách báo nước ngoài bằng các thứ tiếng Anh, Pháp, Hán Nhưng phải đến thời điểm những năm từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, rồi đến những năm tháng của cuộc kháng chiến chống Pháp, thơ ca
Trang 11Nga mới được bắt đầu dịch lẻ tẻ sang tiếng Việt và rồi sau đó mới phổ biến rộng rãi trong công chúng
Bài thơ “Đợi anh về” của nhà văn Nga Xô Viết Konstantin Simonov (do nhà thơ Tố Hữu dịch từ bản tiếng Pháp của P Lugael, được đăng lần đầu tiên trên tạp chí Văn nghệ, số 2, tháng 5 năm 1948) là bài thơ Nga đầu tiên được dịch sang tiếng Việt Ngay khi bản dịch vừa được công bố, nó đã tạo ra hiệu ứng mạnh mẽ trong lòng công chúng, nó được chào đón nồng nhiệt ở khắp mọi nơi, người ta chuyền tay nhau đọc, ghi chéo vào sổ tay trao cho bạn bè người thân, mang theo trên con đường hành quân ra mặt trận Và cho đến tận hôm nay, sau hơn nửa thế kỉ được giới thiệu ở Việt Nam, bài thơ vẫn được hâm mộ và lưu truyền rộng rãi trong độc giả yêu thơ Tiếp theo sau đó, Tố Hữu tiếp tục giới thiệu đến bạn đọc hai tác phẩm
“Aliôsa nhớ chăng” và “Những con đường Smolensina” của K Simonov trên tạp chí Văn nghệ, số 22 ra vào tháng 4 năm 1950 Vào năm 1951, Chiến Tâm cũng công bố bản dịch “Aliôsa nhớ chăng” với tên là “Trên những nẻo đường Ximêlen” trong tập sách “Văn mới Trung Đông Âu” do Phân hội Văn nghệ Đặc biệt Liên khu
V xuất bản Những bản dịch thơ Nga đầu tiên ở Việt nam đều là dựa trên những bản tiếng Pháp
Trong những năm tháng cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Pháp, khi
mà cuộc chiến đấu anh hùng của nhân dân ta đang tiến dần đến ngày thắng lợi, khi lực lượng văn nghệ kháng chiến đã phát triển mạnh mẽ, vào năm 1953, nhà thơ Hoàng Trung Thông đã dịch và giới thiệu “Sáu bài thơ của Maiakovski” dựa trên việc tuyển dịch từ các bản tiếng Hán của Qua Bảo Nguyên, Chi Phàn, Vạn Đề Tư
và Tiêu Tam, bản tiếng Pháp của Elsa Triolet
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1954 đã mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc nói chung và lịch sử tiếp cận thơ ca Nga thế kỉ XX nói riêng Con đường thơ ca Nga thế kỉ XX đến với Việt Nam từ sau cột mốc lịch sử
Trang 12này đã bước sang một giao đoạn mới với nhiều thành tựu phong phú, đa dạng hơn Miền Bắc nước ta thời kỳ đó đang tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhà nước và chính phủ không chỉ chủ trương khôi phục, phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa
mà bên cạnh đó còn chú trọng phát triển mạnh mẽ lĩnh vực văn hóa, đời sống xã hội – tinh thần với phương châm tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, học tập kinh nghiệm của các nước tiên tiến như Liên Xô, Trung Quốc và các nước Đông
Âu Tiếng Nga cũng được đưa vào giảng dạy rộng rãi trong nhà trường Các nhà văn, nhà thơ, dịch giả vốn thông thạo tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc thời kỳ này vẫn tiếp tục công việc dịch tác phẩm (có thể kể đến một vài tên tuổi như Trần Mai Ninh, Trần Dần, Nguyễn Xuân Sanh, Tố Hữu, Hoàng Xuân Nhị, Phùng Quán, Hoàng Ngọc Hiến ) Các tác phẩm thơ ca ngày càng được công chúng biết đến nhiều hơn Năm 1957, nhà thơ Trần Dần và nhà thơ Hoàng Trung Thông giới thiệu thêm nhiều bản dịch thơ Mayakovsky Thơ Mayakovsky được dịch ngày càng nhiều, đặc biệt sáng tác của Mayakovsky dành riêng cho thiếu nhi cũng được chú ý giới thiệu như truyện thơ“Lớn lên em sẽ làm gì?” (do nhà thơ Phùng Quán và dịch giả Doãn Trung dịch), “Điều gì tốt, điều gì xấu” (do nhà thơ Phạm Hổ dịch), các tác phẩm trên đều do nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành năm 1957 Cũng trong năm
đó, Nguyễn Xuân Sanh giới thiệu và dịch bài thơ “Gnat” của M Svetlov Trong tuyển tập thơ “Gửi người mai sau” do nhà văn Huy Phương chủ biên, nhà thơ Hoàng Cầm dịch ba bài thơ “Người yêu”, “Con và mẹ”, “Không đề” của nhà thơ Nga A Blok, nhà thơ Lê Đạt dịch bài thơ “Đêm cuối cùng” của Eduard Bagritski, nhà thơ Phạm Hổ dịch bài thơ “Bài thơ những chiếc đinh” của Nikolai Tikhonov Bên cạnh đó còn có chùm thơ của M Gorki được một số nhà văn lão thành, trong
đó có Nguyễn Tuân dịch và giới thiệu trong tập “Tuyển truyện Maksim Gorki” do nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành trong năm 1957
Trang 13Nhân dịp chào mừng kỉ niệm 45 năm Cách mạng tháng Mười Nga, Hội Nhà văn Việt Nam đã xuất bản tập “Thơ Liên Xô” (trong đó giới thiệu 54 tác phẩm của
34 nhà thơ Xô Viết), công trình này do 16 nhà thơ Việt Nam dịch chủ yếu từ nguyên bản tiếng Nga
Từ những năm 60 của thế kỷ XX trở đi, các nhà thơ chuyên nghiệp đã dần dần nhường công việc dịch thơ ca Nga cho lớp các dịch giả trẻ được đào tạo tiếng Nga, nghiên cứu văn học Nga ở các trường Liên Xô và đại học trong nước đang dần một trưởng thành và lớn mạnh Những năm 1960 có các tên tuổi dịch giả như Thúy Toàn, Bằng Việt, Minh Đức, Vũ Thế Khôi, Lê Sơn; (trong số những dịch giả này có những người ngay từ đầu đã tỏ ra thiên hướng chuyên sâu, am tường văn học Nga, đã có những định hướng nghiên cứu riêng biệt về thơ ca Nga như Thúy Toàn, Thái Bá Tân, Hoàng Ngọc Hiến… Giữa những năm 60, dịch giả Hoàng Ngọc Hiến đã hoàn thành và giới thiệu nhiều bản dịch về thơ Mayakovsky như: Trường ca “Tốt lắm!” – 1967, truyện thơ “Chuyện Pêtô béo ị béo tròn và Xim mảnh dẻ dáng thon thon” – 1974, truyện thơ “Lớn lên em sẽ làm gì?” – 1976,
“Tuyển tập thơ Maiakovski” – 1979, “Trường ca Maiakovski” – 1987… Các dịch giả Thúy Toàn, Việt Thương và sau này là Thái Bá Tân đã có nhiều đóng góp trong việc dịch và giới thiệu thơ của các nhà thơ Xô Viết); những năm 80 có các tên tuổi dịch giả như Thái Bá Tân, Phạm Quốc Ca, Nghiêm Huyền Lữ….; trong số các dịch giả cũng người đi học ở Nga về như Thúy Toàn, Thái Bá Tân, Nghiêm Huyền Lữ, Nguyễn Đức Dương, Bằng Việt, Trần Đăng Khoa và bên cạnh đó cũng có một số nhà thơ tự học tiếng Nga hoặc biết tiếng Nga cũng tham gia dịch thơ Nga và dịch khá thành công như các nhà thơ Hoàng Minh Châu, Anh Ngọc, Thanh Thảo, Hoàng Hưng
Bức tranh dịch thuật thơ ca Nga thế kỉ XX vô cùng phong phú, đa dạng; bên cạnh những dịch giả được đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực văn chương như trên,
Trang 14còn có một lực lượng dịch giả là các nhà giáo tiếng Nga, những người được đào tạo
ở Xô Viết trong các lĩnh vực khoa học khác cũng tham gia dịch thơ Nga bởi tấm lòng say mê văn học Nga và có khiếu văn thơ, sáng tạo, có thể kể tên như kỹ sư cơ khí Đăng Bảy tham gia dịch thơ A Blok, Sergei, nhiều nhà thơ Xô Viết khác; nhà giáo Nguyễn Xuân Hòa dịch và giới thiệu thơ A Blok, kỹ sư vô tuyến điện quân sự Hồng Thanh Quang với các tập thơ dịch của Simonov và “Một góc thơ Nga”, rồi nhà giáo, nhà địa chất Triệu Lam Châu với nhiều bản dịch thơ Nga đăng trên báo chí vào những năm 90 Những công trình này cũng góp một phần không nhỏ vào quá trình phổ biến thơ ca Nga ở Việt Nam
1.2 Chân dung các nhà thơ tiêu biểu
1.2.1 Aleksandr Blok (Alếchxanđrơ Blốc) (1880 - 1921)
Alếchxanđrơ Alếchxanđrơvivh Blốc (Alexandr Blok) là nhà thơ vĩ đại của Nga trước Cách Mạng, sinh ngày 28/11/1880, ông xuất thân từ giới thượng lưu trí thức trong xã hội Nga và lớn lên ở thành phố St Peterburg Từ bé ông đã có nǎng khiếu về thơ Ông học về luật, ngữ vǎn và lịch sử
Các tác phẩm chính của ông là: Thơ ca ngợi giai nhân, Bài ca số phận,
Tập thơ về nước Nga… Thơ ông thể hiện lòng cǎm ghét thế giới tư bản và niềm
tin ở Nga, tin ở lao động, bình đẳng xã hội Nhiều bài thơ trữ tình của ông được coi
là tuyệt tác trong thơ ca Nga Trong lịch sử vǎn học Nga, ông là một nhà thơ lớn cách tân thuộc tầm cỡ thế giới
Thơ trữ tình là mảng thơ lớn nhất thể hiện tài năng của A Blok Thơ trữ tình của ông không đi vào thế giới mộng ảo mà gắn liền với thực tại, không khí thực tại, tràn đầy tinh thần khỏe khoắn, nhiệt tình Thơ viết về đề tài Tổ quốc, đặc biệt là về hình tượng nước Nga – “Mẹ hiền” – in dấu ấn đậm nét trong các sáng tác của ông
A Blok luôn tự coi mình là một người con của nước Nga, một phần tử nhỏ bé
Trang 15trong nước Nga rộng lớn, ngòi bút của ông luôn tập trung hướng về Tổ quốc thân
yêu ngay từ khi còn rất trẻ với tác phẩm Gamaiun, Chim tiên đoán, và sau này ông còn tiếp tục sáng rất nhiều bài thơ đặc sắc về chủ đề này như Ý chí mùa thu, Trên
bãi chiến trường Kulikovo, Trường ca Mười hai… Bài thơ dài tuyệt tác trong thơ
trữ tình yêu nước của A Blok là bài thơ Trên bãi chiến trường Kulikovo gồm năm
chùm thơ, 120 câu thơ Trong tác phẩm này, nhà thơ muốn tái hiện trang sử của cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của nhân dân Nga vào cuối thế kỷ XIV, bài thơ ghi lại toàn cảnh của trận chiến đấu quyết liệt của nhân dân Nga với Liên minh bộ lạc Tarta - Mông Cổ do tên tướng Mamai cầm quyền Bài thơ vang lên tiếng lòng yêu thương, đau xót trước cảnh tan hoang vì chiến tranh của nước Nga Trường ca
Mười hai là đỉnh cao trong sáng tác của A Blok, đây là trường ca đầu tiên viết về cách mạng vô sản ở nước Nga, miêu tả hình tượng nước Nga trong những ngày sôi động ở Petrograd, về cuộc xung đột giữa thế giới cũ và thế giới mới, sự tất yếu sụp
đổ thế giới cũ và sự bắt đầu một kỷ nguyên mới ở nước Nga
Nhà thơ A Blok với sự nghiệp sáng tác của mình, đặc biệt là mảng thơ về
về đề tài Tổ quốc là những vần thơ đằm thắm được viết nên với ý thức trách nhiệm cao của một nhà thơ - công dân Với tài năng và tình cảm chân thành, tha thiết của mình với nước Nga, với nhân dân, A Blok thực sự là một nhà thơ vĩ đại, người con
ưu tú của Tổ quốc Nga, ông đã dung hòa cái trữ tình, mơ mộng cá nhân hòa chung với hơi thở, không khí của cả thời đại để sáng tác nên những vần thơ chan chứa tình cảm mãi làm rung động bao thế hệ độc giả
Ở Việt Nam, độc giả đã khá quen thuộc với những vần thơ trữ tình của A
Blok qua các tác phẩm dịch như Thơ A Blốk/A.A Blốk, Thúy Toàn dịch, NXB Đồng Nai, 2001; Blốk A – Exênin X – Thơ, Tế Hanh dịch, Thúy Toàn tuyển chọn, NXB Văn học, 1983; Thơ tình thế giới chọn lọc, Kiều Văn tuyển chọn,
Trang 16NXB Đồng Nai, 2004; 100 bài thơ tình, Thúy Toàn dịch, NXB Văn hóa thông
tin, 2006
1.2.2 Vladimir Mayakovsky (Maiacốpxki V.) (1893-1930)
Vladimir Mayakovsky sinh ngày 19 tháng 7 năm 1893 Ông là một trong số những nhà thơ Cách mạng vĩ đại nhất của nước Nga V Mayakovsky trưởng thành trong khói lửa của cuộc cách mạng tháng Mười, cuộc đời và sự nghiệp văn chương của ông gắn liền với sự nghiệp cách mạng của dân tộc và nhân dân, thơ ông luôn hướng về phục vụ Tổ quốc, phục vụ Cách mạng, suốt cuộc đời ông luôn cống hiến hết mình vì công cuộc đấu tranh giành thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Với tất cả sự tận tâm của mình, Mayakovsky đã trở thành lá cờ đầu của Cách mạng, ông xứng đáng là “nhà thơ lớn nhất của Liên Xô và chủ nghĩa xã hội”
Sự nghiệp văn chương của V Mayakovsky rất phong phú và đa dạng trên nhiều thể loại như thơ (thơ trữ tình và thơ trào phúng) với nhiều bài thơ tiêu biểu
như Hành khúc Trái! Trái!, Lớn lên em sẽ làm gì, Đoàn vệ binh trẻ tuổi, Thơ kỷ niệm, Đen và trắng, Trở về, Gửi Xécgây Exênin, Đứa hèn nhát, Thơ khẩu hiệu, Về những con người ở Kudơnét… trường ca (Vlađimia Ilít Lênin, Tốt lắm ), kịch (Nhà tắm), các tiểu luận, bài báo…
Thời còn trẻ, khi mới bước chân vào con đường nghệ thuật, V Mayakovsky
đã có khoảng thời gian đi theo tinh thần của chủ nghĩa vị lai với tác phẩm đánh dấu
là trường ca Đám mây mặc quần Nhưng không lâu sau đó, dưới ánh sáng soi đường và lý tưởng cao đẹp của cuộc cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, ông đã sớm trưởng thành, rũ bỏ những mặt không tích cực của chủ nghĩa vị lai để trở thành một nhà thơ Cách mạng chân chính
Nhà thơ V Mayakovsky có ảnh hưởng rất lớn đối với độc giả Việt Nam, ông đã trở thành người bạn lớn gần gũi, thân tình, người đồng chí Cách mạng trong
Trang 17lòng công chúng yêu thơ Có biết bao thế hệ độc giả Việt Nam say sưa đọc thơ Maia, say sưa làm thơ “chia sẻ, trò chuyện” với nhà thơ, say sưa làm đề tài, luận văn, tiểu luận về ông… Có thể khẳng định một điều, V Mayakovsky là nhà thơ Nga thế kỉ XX được dịch và giới thiệu nhiều nhất, rộng rãi nhất ở Việt Nam trong suốt nhiều thập kỉ qua Các tác phẩm dịch thuật về tác phẩm của ông rất đa dạng và
phong phú như: Mai-a-cốp-ski, Lớn lên em sẽ làm gì?, Phùng Quán, Doãn Trung phỏng dịch, NXB Kim Đồng, 1957; Mai-a-cốp-ski, Sáu bài thơ, Hoàng Trung Thông dịch và giới thiệu, NXB Văn nghệ, 1954; Mai-a-cốp-ski, Thơ, Hoàng Trung Thông, Trần Dần dịch, NXB Văn nghệ, 1957; Maiakôpxki V, Tốt lắm! -
Trường ca tháng Mười, Hoàng Ngọc Hiến dịch, NXB Văn học, 1967;
Maiakôpxki V, Vlađimia Ilích Lênin – Trường ca, Xuân Diệu dịch, NXB Văn học, 1967; Maiacốpxki, Trường ca, Hoàng Ngọc Hiến dịch và giới thiệu, NXB
Văn học 1987
Trong tuyển tập Maiacốpxki – con người, cuộc đời và thơ, Hoàng Ngọc
Hiến đã sưu tầm, tuyển chọn và dịch giới thiệu nhiều bài thơ trữ tình và thơ trào phúng, trường ca, kịch và nhiều bài báo, tiểu luận của nhà thơ V Mayakovsky Trong đó, có nhiều bài thơ có nhiều bản dịch khác nhau của Hoàng Ngọc Hiến và
Hoàng Trung Thông như: Nhật lệnh cho đội quân nghệ thuật, Hành khúc Trái!
Trái!, Một cuộc kỳ ngộ của Vlađimia Maiacốpxki ở thôn quê mùa hè, Những người loạn họp, Trở về, Quyển hộ chiếu Liên Xô, Về những con người ở Kudơnét
Các vần thơ trữ tình của V Mayakovsky da diết, chân thành, gợi nhiều suy
tư, cảm xúc trong lòng người đọc, chẳng hạn như trong bài thơ Gửi Xécgây
Exênin, nhà thơ viết khúc tâm tình để tưởng nhớ người bạn thơ của mình với nhiều
tâm sự sâu sắc, chân thành, gửi gắm nhiều suy tư, trăn trở về số phận con người nghệ sĩ, xã hội, thời đại, văn chương; bài thơ cũng tiêu biểu cho phong cách nghệ
Trang 18thuật của nhà thơ Bản dịch của Hoàng Ngọc Hiến cũng thể hiện trọn vẹn và giữ nguyên được cách cấu tứ, nội dung của bài thơ:
GỬI XÉCGÂY EXÊNIN
Bạn đã đi
như người ta nói
sang thế giới bên kia Không gian trống trải…
Trang 19Mấy lão phê bình lẩm bẩm:
- Gây sự việc này tại cà riềng…
cà tỏi chủ yếu lỏng tay giai cấp kết quả là rượu chè nghiện ngập –
………
bạn được giáo dục
đâu đến nỗi ẩu đả lu bù
Xin hỏi, thế giai cấp
chỉ biết tu nước vối?
………
Theo ý tôi,
làm như lời
Trang 20mấy tên nói sảng,
Trang 21tên của bạn
lẫn với mũi sỉ vào khăn tay,
và hắn ê a
bên cây phong non thối –
“Không một tiếng than
bạn lòng ơi
không tiếng thở dài” Gớm cái tay này
Lêônnít Lôengrinứt nói chuyện với y
bạn huýt còi ầm ĩ, chúng hoảng hồn, động bố mẹ tổ tiên!
Lũ ngợm bất tài
chạy thất điên bát đảo,
Trang 22Công việc thì nhiều –
miễn kịp thời loại chúng Phải cải tạo
trước tiên
cuộc sống
Cải tạo rồi –
mới ca ngợi, hoan hô
Thời buổi này
viết lách quả gay go, nhưng tôi xin hỏi
các ông què bà quặt
Trang 23Để sau lưng thời gian nổ tung trời dữ dội
Phải cướp niềm vui
giành giật
ở tương lai!
Trên đời này
Trang 24chết
chẳng có gì là khó, xây dựng cuộc đời
còn gian khổ hơn nhiều
(1926)
(Hoàng Ngọc Hiến dịch – trích trong Maiacôpxki, con người, thơ và cuộc đời,
Hoàng Ngọc Hiến, NXB ĐHTHCN, trang 281 trang 287)
1.2.3 Sergey Esenin (Xécgây Exênin) (1895-1925)
Sergey Esenin, sinh tại Riadan nước Nga ngày 04-10-1895, mất ngày
27-12-1925, vốn xuất thân từ gia đình nông dân, nên những gì thuộc về nông thôn, thiên nhiên với những tình cảm thân quen là những đề tài chính gợi cảm hứng trong các sáng tác của ông
Ông là nhà thơ nổi tiếng theo trường phái lãng mạn của Văn học Nga thế kỷ
XX Ông đã từng lang thang khắp các vùng của đất nước Nga và đi du lịch tới nhiều nước trên thế giới Trong thời kỳ đầu, các sáng tác thơ của ông thể hiện rõ tình yêu say đắm thiên nhiên, đời sống nông thôn Nga, chịu ảnh hưởng của truyền thống dân gian Nga Sau đó là thời kỳ ông chịu ảnh hưởng của tôn giáo, của chủ nghĩa biểu tượng, chủ nghĩa hình ảnh, các sáng tác thơ lúc này trở nên nặng nề và trừu tượng Thời kỳ tiếp sau đó cho tới trước khi ông tự vẫn là thời kỳ ông sáng tác thành công nhất Trong các sáng tác của ông, người ta thấy được sự bình tĩnh, giản
dị, súc tích, cân đối trong hình tượng, cách biểu cảm và hình thức thể hiện; với âm điệu tha thiết, uyển chuyển làm rung động tâm hồn người đọc với những câu thơ đẹp đến mức cổ điển, ngôn ngữ tinh tế, lột tả được nội tâm, và diễn tả trong cảnh trí
Trang 25thiên nhiên Nga tươi đẹp Các sáng tác của Esenin được coi như tài sản tinh thần quý giá trong nền Văn học Nga
Các tác phẩm tiêu biểu trong sự nghiệp sáng tác của ông có thể kể đến là:
Trở về Tổ quốc (1924), Nước Nga Xô Viết (1924), Nước Nga cũ đã qua đi (1924), Thư gửi một người phụ nữ (1924), Trả lời (1924), Bài ca về cuộc trường chinh
vĩ đại (1924), Anna Xnêghina (1925), Những mô típ Ba Tư (1924-25), Con người tăm tối (1925), Thư gửi mẹ (1924)………
Ông cũng là một tác giả được giới thiệu phổ biến ở Việt Nam Thơ của ông chiếm một vị trí quen thuộc trong lòng độc giả Nhiều tác phẩm của ông đã được đưa vào chương trình giảng dạy môn văn học ở nhà trường phổ thông Các tác
phẩm dịch thuật về sáng tác của S Esenin ở Việt Nam gồm có: Thơ và trường ca,
Nguyễn Viết Thắng dịch, NXB Hội nhà văn, NXB Trung tâm văn hóa ngôn ngữ
Đông Tây, 2004; Blốk A – Exênin X – Thơ, Tế Hanh dịch, Thúy Toàn tuyển chọn, NXB Văn học, 1983; Thơ tình thế giới chọn lọc, Kiều Văn tuyển chọn, NXB Đồng Nai, 2004; 100 bài thơ tình, Thúy Toàn dịch, NXB Văn hóa thông
tin, 2006
Bên cạnh Thư gửi mẹ, bài thơ Nước Nga của Esenin cũng là một trong
những bài thơ tiêu biểu của ông, được đón nhận và có nhiều tác động tích cực đến suy nghĩ, tâm hồn, lòng yêu nước, tự hào dân tộc của nhiều thế hệ độc giả Việt Nam
Trang 26Như một kẻ hành hương từ xa đến Tôi ngắm nhìn mãi đồng ruộng của Người Bên lối vào le te bên thôn xóm
Những cây phong gầy guộc lá reo vui
Ngày lễ thánh nhà thờ trên mỗi nẻo Hương mật ong, táo chín toả ngất ngây Sau điệu nhảy cầm tay trên cỏ thảo
Là rộn ràng đến điệu vũ xuân tươi
Theo lối mòn nát nhàu tôi tất cả
Ra bao la đồng ruộng trải ngát xanh Tiếng cười vang của các cô thôn nữ Đến gặp tôi như những tiếng khuyên vàng
Ôi nếu như thiên thần nên tiếng gọi
Bỏ nước Nga lên sống ở thiên đường ! Tôi sẽ đáp:" Thiên đường xin để đấy Cho tôi xin ở cùng Tổ quốc yêu thương"
(Thuý Toàn dịch)
1.2.4 Boris Pasternak (1890-1960)
Boris Pasternak sinh ngày 10 tháng 2 năm 1890 ở Moskva Cha ông là một họa sĩ có tên tuổi và là một viện sĩ uy tín Ông từng tốt nghiệp khoa lịch sử và ngôn
Trang 27ngữ ở trường Đại học Tổng hợp Moskva, sau đó học Triết tại Đại học Marburg (Đức), ông có một thời gian theo học âm nhạc, cuối cùng ông mới đến với con
đường sáng tác văn chương Tập thơ đầu tay Chị tôi – Cuộc sống được đánh giá
cao và góp phần tạo nên tên tuổi cho ông trên văn đàn Nga vào thời ấy
Sau cách mạng tháng Mười, ông công tác bên giáo dục, tham gia nhóm LEF
do Mayakovsky sáng lập Về sau, trong cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại 1941 –
1945, ông tham gia chiến tranh với vai trò thông tín viên mặt trận
B Pasternak vừa là nhà thơ, dịch giả nổi tiếng (người có công dịch các tác phẩm của Shakespeare, Goethe, thơ của các nhà thơ Gruzia sang tiếng Nga), vừa là nhà văn lớn Các truyện ngắn của ông gây được nhiều tiếng vang lớn trong công chúng và được xếp vào loại hay nhất thế giới Sau này, ông sáng tác tiểu thuyết
Bác sĩ Zhivago và hoàn thành vào năm 1955 Tiểu thuyết này ban đầu bị cấm in ở
Liên Xô Nhưng sau đó lại được xuất bản ở Ý Năm 1958, ông được trao giải thưởng Nobel văn học cho những đóng góp trong cả hai lĩnh vực thơ ca và văn xuôi Vì sự kiện này, bọn phản động đã tìm cách hãm hại và khai trừ ông ra khỏi Hội nhà văn Liên Xô B Pasternak đã phải sống những tháng ngày lưu vong tủi cực, đau khổ Nhưng không vì thế mà tên tuổi và các sáng tác của ông bị lu mờ và lãng quên theo năm tháng mà ngược lại, hàng ngàn, hàng triệu trái tim yêu văn chương nói riêng và văn hóa Nga nói chung ở khắp năm châu vẫn luôn ngưỡng mộ một tài năng lớn
Sau này, trong phong trào dân chủ và cải tổ hóa ở Liên Xô, danh dự và các tác phẩm của ông đã được phục hồi
Năm 1990, toàn thế giới và nhân dân Liên Xô đã long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà thơ B Pasternak thiên tài
Trang 28Sự nghiệp văn chương của ông rất phong phú trên nhiều thể loại: Thơ (Tập
thơ Chị tôi – Cuộc sống, Năm 1905, Trung úy Smith, Tháng hai, Khu vườn mơ
ngủ, Giấc mơ, Đêm ngột ngạt, Bão biển, Xuân, Đêm đông, Hamlet, Đất, Sương băng …), tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago
Công chúng yêu văn chương ở Việt Nam từ lâu đã quen thuộc với tên tuổi
B Pasternak qua tiểu thuyết nổi tiếng Bác sĩ Zhivago của ông, còn về mảng thơ ca
của nhà thơ, hầu như vẫn còn hơi khiêm tốn, chỉ có khoảng vài tác phẩm dịch và
giới thiệu về thơ của B Pasternak như: Pasternak B., Thơ, Nhiều người dịch, NXB
Sở văn hóa thông tin, 1987; Boris Pasternak – con người và tác phẩm, Nhiều
người dịch, NXB Tp Hồ Chí Minh, 1988 Trong sách này, các dịch giả tập trung giới thiệu về cuộc đời B Pasternak, dịch và giới thiệu 16 bài thơ tiêu biểu của ông
và tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago
THÁNG HAI
Tháng hai Chấm mực, khóc than, Viết về tháng hai trong cơn nức nở Khi ngoài kia bùn lầy gầm réo Cháy lên đen thẫm sắc xuân
Thuê cỗ xe Trả sáu hào Qua tiếng chuông nguyện, tiếng bánh xe, lao vút Đến nơi nào mực đen và nước mắt
Chìm đi trong vang dội mưa rào
Trang 29Đến nơi nào, như những trái lê đen cháy Ngàn con quạ rụng từ trên cây
Xuống vũng nước, giáng nỗi buồn khô khốc Vào sâu đáy mắt ai
Tuyết tan, đất lộ màu đen Những tiếng kêu nát nhừ ngọn gió Càng tình cờ lại càng chân thật Những câu thơ nức nở thành hình
1912
Hoàng Hưng dịch (trang 197)
KHU VƯỜN MƠ NGỦ
Khu vườn mơ ngủ tràn ngập những con cánh cam
Như tro màu đồng đỏ của những chiếc hỏa lò
Những thế giới mãn khai, treo lơ lửng
Cùng tôi, cùng đôi chân mày bay vút lên của tôi
Và, như bước sang một niềm tin chưa từng nghe thấy
Tôi, trong đêm ấy, bước sang
Nơi một cây phong xám tả tơi
Treo ánh sáng ngoại vi của trăng
Trang 30Nơi có một vuông ao, như một điều bí ẩn công nhiên
Nơi sóng vỗ bờ thì thầm với một gốc táo
Nơi khu vườn treo lơ lửng như một túp nhà sàn trên cọc chống
Giữ vững bầu trời từ phía dưới
những bài thơ đầu của ông đã được đăng năm 1936 ở hai tạp chí “Người chiến sĩ”
và “Tháng Mười” Sau đó ông theo học đại học tại trường đại học Triết Văn Sử,
tiếp đó là trường viết văn Macxim Gorki Ông tốt nghiệp năm 1938, sau khi tốt nghiệp ông làm nghiên cứu sinh tại trường ĐH Triết Văn Sử Tuy nhiên sau đó, vào năm 1939 ông được cử đi làm phóng viên quân sự tại Mông Cổ và từ đấy ông không quay lại trường nữa
Konstanchin Simonov đã phục vụ trong quân đội ngay từ những ngày đầu của chiến tranh Vệ quốc vĩ đại với vai trò là phóng viên chiến trường của nhiều tờ báo danh tiếng Trong những năm làm báo, ông có mặt tại nhiều chiến trường như
Trang 31Rumania, Bungaria, Nam Tư, Ba Lan, Đức nên ông được chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử Sau chiến tranh trong vòng 3 năm ông đi công tác nước ngoài tại Nhật, Mỹ,
Trung Quốc Năm 1946 -1950, ông là biên tập viên chính tạp chí Thế giới mới Năm 1950- 1954 là biên tập viên của Báo Văn học, sau đó, năm 1954 – 1958, lại về làm biên tập viên cho tạp chí Thế giới mới Những năm 1958 -1960 ông sống tại Tasken và là phóng viên báo Sự thật, phụ trách khu vực Trung Á Ông mất vào
ngày 28/8/1979 tại Moskva
Cả cuộc đời ông cống hiến cho thơ ca nghệ thuật Tuy nhiên, cuộc sống riêng tư của ông khá buồn, cô đơn mặc dù sống bên người vợ xinh đẹp Tuy bà là người không chung tình nhưng bà lại là nguồn cảm hứng để ông viết lên những trang thơ hay cho nhân loại Sau đó, vào những năm 50 của thế kỷ XX, ông đã chia tay người vợ không chung thủy Sự ra đi của ông làm người đàn bà đa tình này sốc
và bà đã bị dằn vặt mãi cho đến tận lúc mất Ngoài bài thơ Đợi anh về nổi tiếng
được công chúng biết rộng rãi và đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình môn văn học ở bậc phổ thông, ông còn nổi tiếng với rất nhiều bài thơ tình viết riêng tặng vợ
Cùng thời với K Simonov có nhiều nhà thơ tiêu biểu và được yêu thích nhiều ở Nga Thế nhưng, ở Việt Nam, tên tuổi của Simonov đã trở nên rất quen thuộc và gần gũi với công chúng yêu thơ Điều này đã phần nào phản ánh tâm lí tiếp nhận của độc giả Việt Nam trong hoàn cảnh kháng chiến của đất nước
Simonov nổi tiếng ở Việt Nam với bài thơ Đợi anh về phần nào cũng là do tài dịch
thơ của Tố Hữu, với sự đồng cảm của một người chiến sĩ Cách mạng với những
tình cảm chân thành thiết tha, nhà thơ Tố Hữu đã dịch rất thành công tác phẩm Đợi
anh về, dư âm của bài thơ đến ngày nay vẫn làm xúc động bao tâm hồn yêu văn
chương, nghệ thuật, đồng điệu với những tâm hồn yêu cái đẹp chân chính của con người và cuộc sống
Trang 32ĐỢI ANH VỀ
Em đợi anh về
Đợi anh hoài em nhé Mưa có rơi dầm dề Ngày có dài lê thê
Em ơi em cứ đợi
Dù tuyết rơi gió nổi
Dù nắng cháy em ơi Bạn cũ có quên rồi Đợi anh về em nhé !
Tin anh dù vắng vẻ
Lòng ai dù tái tê Chẳng mong chi người về Thì em ơi cứ đợi !
Em ơi em cứ đợi
Dù ai nhớ thương ai Chẳng mong có ngày mai
Dù mẹ già con dại Hết mong anh trở lại
Dù bạn viếng hồn anh
Trang 33Yên nghỉ nấm mồ xanh Nâng chén tình dốc cạn Thì em ơi mặc bạn Đợi anh hoài em nghe Tin rằng anh sắp về !
Đợi anh anh lại về
Trông chết cười ngạo nghễ
Ai ngày xưa rơi lệ Hẳn cho sự tình cờ
Nào có biết bao giờ
Bởi vì em ước vọng Bởi vì em trông ngóng Tan giặc bước đường quê Anh của em lại về
Vì sao anh chẳng chết?
Nào bao giờ ai biết
Có gì đâu em ơi Chỉ vì không ai người Biết như em chờ đợi
Trang 34(Tố Hữu dịch)
1.2.6 Olga Berggoltz (1910-1975)
Olga Berggoltz (1910-1975) là nhà thơ Xô Viết nổi tiếng Bà được độc giả
yêu thích ngay từ các tác phẩm đầu tay như Thơ (1924); Sách hát (1936) Trong
cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, khi thành phố Lêningrát bị phát xít Đức bao vây,
bà đã ở lại thành phố, làm phóng viên cho Đài phát thanh Lêningrát và cộng tác với nhiều tờ báo Thời gian này bà viết những tác phẩm hay nhất, ca ngợi chủ nghĩa
anh hùng của nhân dân và quân đội Xô Viết: Trường ca Lêningrát (1942), Con
đường của anh (1945) Đề t ài Lêningrát còn thể hiện trong các vở kịch Họ đã
sống ở Lêningrát (1944), Trên đất chúng tôi (1947), sau đó bà còn viết kịch bản
phim Bản giao hưởng Lêningrát cùng với Ma-cô-gô-nhen-cô
Mảng thơ thành công nhất của bà là thơ viết về tình yêu, nhưng bên cạnh đó
bà còn có thơ viết về chiến tranh và những vấn đề khác, nhưng đối với độc giả Việt Nam, công chúng yêu thơ vẫn chuộng thơ tình yêu của bà hơn cả, đặc biệt là hai bài thơ Mùa lá rụng và Câu chuyện mười năm do nhà thơ Bằng Việt dịch Đó là những vần thơ trữ tình, đằm thắm, thể hiện sự nhạy cảm và tâm hồn rất phụ nữ nhưng cũng rất mực chân thành của bà
Câu chuyện mười năm
Chỉ có một lần thôi
Em hỏi, anh im lặng Thế mà em hờn giận
Để chúng mình xa nhau
Biết đi đâu về đâu
Con đò không bến đợi