1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện chứng giữa phát triển xã hội và bảo vệ môi trường ở thành phố hồ chí minh hiện nay

136 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 899,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy không để lại những tác phẩm trọn vẹn chuyên bàn về chủ đề này, song trong nhiều tác phẩm: Bản thảo kinh tế - triết học, Bộ Tư bản, Hệ tư tưởng Đức, Biện chứng của tự nhiên và những

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

PHẠM THỊ PHƯƠNG THOAN

BIỆN CHỨNG GIỮA PHÁT TRIỂN

XÃ HỘI VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

PHẠM THỊ PHƯƠNG THOAN

BIỆN CHỨNG GIỮA PHÁT TRIỂN

XÃ HỘI VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

Chuyên ngành: TRIẾT HỌC

Mã số: 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS VŨ VĂN GẦU

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là kết quả công trình nghiên cứu của tôi Những kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Tác giả

Phạm Thị Phương Thoan

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 6

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 7

7 Kết cấu của luận văn 7

Chương 1 : LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 8

1.1 KHÁI NIỆM PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ KHÁI NIỆM MÔI TRƯỜNG 8

1.1.1 Khái niệm phát triển xã hội 8

1.1.2 Khái niệm môi trường 15

1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NHÌN TỪ QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC MÁC 19

1.2.1 Quan niệm của triết học Mác về mối quan hệ giữa tự nhiên –con người - xã hội 19

1.2.2 Mối quan hệ giữa phát triển xã hội và bảo vệ môi trường 27

1.2.3 Bảo vệ môi trường – nhân tố đảm bảo cho sự phát triển xã hội bền vững 37

Kết luận chương 1 51

Chương 2: MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 52

2.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ – TÀI NGUYÊN, KINH TẾ - VĂN HÓA, XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 52

Trang 5

2.1.1 Khái quát về điều kiện địa lý và tài nguyên của Thành phố Hồ

Chí Minh 52

2.1.2 Khái quát về điều kiện kinh tế - văn hóa, xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh 59

2.2 THỰC TRẠNG VỀ QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 67

2.2.1 Những thành tựu về quan hệ giữa phát triển xã hội và bảo vệ môi trường ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 68

2.2.2 Những tồn tại và hạn chế giữa phát triển xã hội và bảo vệ môi trường ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 84

2.3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM THỰC HIỆN TỐT CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 105

2.3.1 Phương hướng 108

2.3.2 Những giải pháp chủ yếu để tăng cường công tác bảo vệ và phát triển môi trường ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 110

Kết luận chương 2 119

KẾT LUẬN 120

TÀI LIỆU THAM KHẢO 123

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Môi trường đóng vai trò đặc biệt quan trọng và không thể thay thế đối với sự tồn tại, phát triển của con người cũng như xã hội loài người Tuy nhiên, môi trường mà chúng ta đang sống đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng Các vấn đề môi trường toàn cầu như: khí hậu thay đổi theo hướng nóng lên, tầng ôzôn suy giảm, mực nước biển dâng cao, mưa axít, bão lũ, mưa lớn, hạn hán; các sự cố tràn dầu trên biển, sự cố môi trường ở các cơ sở sản xuất ngày càng gia tăng đã và đang gây ra hàng loạt ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống ở nhiều vùng Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các cuộc Cách mạng công nghiệp, Cách mạng khoa học cùng với quá trình công nghiệp hoá trong hơn 3 thế kỷ qua đã và đang làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc không chỉ bộ mặt của xã hội loài người mà cả tự nhiên Những biến đổi đó một mặt đã thúc đẩy nền văn minh nhân loại tiến nhanh hơn bất kỳ một giai đoạn nào trước đây, song mặt khác, cũng đang bộc lộ tất

cả những mâu thuẫn gay gắt chưa thể điều hoà được giữa sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật với việc bảo vệ những điều kiện tự nhiên cần cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Đó không còn là vấn đề của riêng một quốc gia nào mà giờ đây ô nhiễm môi trường, suy thoái sinh thái đã trở thành mối quan tâm, lo lắng của toàn nhân loại

Việt Nam tuy mới bước vào con đường phát triển kinh tế nhưng đã phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng Gần hai thập kỉ trở lại đây, dưới tác động của công cuộc đổi mới, đất nước ta đã có sự phát triển vượt bậc về mọi mặt Tuy vậy, nó cũng tồn tại hạn chế đó là gây áp lực đối với môi trường nhất là môi trường đô thị hiện nay Cùng với đà phát triển của đô thị và công nghiệp, ô nhiễm môi trường đô thị cũng tăng nhanh có nơi đã vượt quá tiêu chuẩn cho phép gây ảnh hưởng không tốt, nhất là với

Trang 7

sức khỏe con người Do đó, ở Việt Nam, muốn phát triển bền vững, đòi hỏi tất yếu phải bảo vệ môi trường, phải gìn giữ và phát triển tốt môi trường sinh thái

Điều đó cũng trở thành cấp thiết đối với Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, bởi lẽ TPHCM là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học lớn của khu vực phía Nam, có vị trí, vai trò quan trọng đối với

cả nước Nhưng Thành phố Hồ Chí Minh cũng là nơi tập trung đông dân cư nhất Việt Nam, nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp, cùng lưu lượng phương tiện giao thông khổng lồ, cơ sở hạ tầng chưa kịp quy hoạch nâng cấp tổng thể,

ý thức một số người dân lại quá kém trong nhận thức và bảo vệ môi trường chung… vì vậy, thành phố Hồ Chí Minh đang là một trong những thành phố phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Hệ quả của sự phát triển kinh tế, xã hội sẽ kéo theo những tác động xấu đến môi trường nếu thiếu sự cân nhắc, tính toán để giảm thiểu những mặt trái của sự phát triển theo cơ chế mới Vì vậy, kết hợp và đảm bảo mối quan hệ thống nhất giữa đẩy nhanh tốc độ phát triển xã hội với thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường là một yêu cầu bức thiết đối với thành phố Hồ Chí Minh khi đi vào hoạch định các chiến lược phát triển, nhất là trong thời

kỳ tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Biện chứng giữa phát triển xã hội và bảo vệ môi trường ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”

làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Không phải đến bây giờ mà ngay từ thời kỳ xa xưa vấn đề về phát triển xã hội và bảo vệ môi trường luôn luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều học giả ở nhiều lĩnh vực khác nhau

Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã có những luận điểm quan trọng

Trang 8

đặt nền tảng cho việc nghiên cứu và giải quyết vấn đề môi trường hiện nay Tuy không để lại những tác phẩm trọn vẹn chuyên bàn về chủ đề này, song

trong nhiều tác phẩm: Bản thảo kinh tế - triết học, Bộ Tư bản, Hệ tư tưởng

Đức, Biện chứng của tự nhiên và những thư từ ghi chép khác, C.Mác và

Ph.Ăng-ghen đã phân tích và luận giải sâu sắc mối quan hệ giữa con người

và tự nhiên, dự báo về tình hình môi trường sống trong xã hội hiện tại, về sự biến đổi của môi trường cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, từ đó đúc rút thành những nguyên lý, lý luận mang tính triết lý cao ở tầm triết học

Ở Việt Nam, nghiên cứu về mối quan hệ giữa phát triển xã hội và bảo

vệ môi trường có thể kể đến những công trình tiêu biểu như:

- Đề tài khoa học – công nghệ cấp bộ “Mối quan hệ giữa con người

và tự nhiên trong sự phát triển xã hội” năm 2002 do TS Hồ Sỹ Quý chủ

nhiệm đã phân tích về mặt lý luận và thực tiễn của vấn đề mối quan hệ giữa con người và môi trường Trên cơ sở đó, nêu ra những suy nghĩ bước đầu cho triết lý về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự phát triển của xã hội Việt Nam ngày nay

- Công trình “Một số vấn đề về bảo vệ môi trường với phát triển kinh

tế ở nước ta hiện nay” năm 2004 của TS Nguyễn Văn Ngừng đã nêu bật

thực trạng môi trường nước ta qua các giai đoạn; đề xuất những giải pháp bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay

- TS Phạm Thị Ngọc Trầm với công trình “Môi trường sinh thái, vấn

đề và giải pháp”, năm 1997, xác định vấn đề môi trường là một trong những

vấn đề toàn cầu của thời đại, trình bày một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của vấn đề môi trường sinh thái hiện nay, gợi mở những phương hướng giải quyết vấn đề trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Công trình “Ý thức sinh thái và vấn đề phát triển lâu bền” năm

2002 của TS Phạm Văn Boong dựa trên phương pháp luận của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng

ta về vấn đề môi trường đã khẳng định: Một trong những bước đi đầu tiên

Trang 9

nhưng có tính chất quyết định trong việc giải quyết vấn đề môi trường sống hiện nay là trước hết phải thay đổi nhận thức và quan niệm của con người về

tự nhiên, về quan hệ giữa con người và tự nhiên, về vị trí của con người hoạt động trong giới tự nhiên - đó chính là việc xây dựng ý thức sinh thái

- Bài viết của tác giả Bùi Văn Dũng “Cơ sở triết học nghiên cứu về

mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường”, Tạp chí Triết

học, Số 4, 2005 Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra các cơ sở lý luận và thực tiễn để luận giải cho mối quan hệ thống nhất biện chứng của các yếu tố con người - xã hội - tự nhiên Khẳng định các yếu tố trong quan hệ này biểu hiện thành các mâu thuẫn giữa một bên là yêu cầu của sự phát triển kinh tế

xã hội với một bên là yêu cầu bảo vệ môi trường Giải quyết tốt mối quan hệ này sẽ thúc đẩy sự phát triển đi lên của xã hội đồng thời làm cho môi trường được duy trì, bảo vệ

Nghiên cứu về vấn đề phát triển xã hội và bảo vệ môi trường ở Thành phố Hồ Chí Minh có thể kể đến các công trình như:

- Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Gia Trân“Tác động của quá trình

đô thị hóa đến biến đổi môi trường và bệnh tật của cộng đồng dân cư tại TPHCM”(Luận án tiến sĩ Môi trường, Khoa Môi trường, Trường ĐHKHXH

&NV – ĐHQG TPHCM, 2010) Trong luận án, tác giả đã tập trung phân tích những đặc điểm cơ bản của Thành phố Hồ Chí Minh trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đánh giá những tác động của quá trình đô thị hóa đối với môi trường (môi trường tự nhiên và xã hội)

- Báo cáo nghiên cứu của Võ Hưng “Đánh giá tác động của công

nghiệp hóa đến điều kiện môi trường và đời sống của cư dân tại một số địa bàn đô thị hóa ở TPHCM”, Sở Khoa học công nghệ TPHCM, 2011 Trong

báo cáo này, tác giả đã phân tích thực trạng đời sống của dân cư một số quận nội thành ở Thành phố Hồ Chí Minh; chỉ ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp cơ bản để kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường

ở Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 10

- Báo cáo tổng hợp “Nghiên cứu xây dựng quy hoạch môi trường

phục vụ phát triển bền vững vùng Đông Nam Bộ” do viện Môi trường và tài

nguyên – Đại học Quốc gia TPHCM chủ trì, năm 2004 Nội dung của báo cáo tập trung trình bày về phương pháp luận của qui hoạch môi trường vùng lãnh thổ; hiện trạng tài nguyên và môi trường vùng Đông Nam Bộ; dự báo diễn biến tài nguyên môi trường trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Nam Bộ; xây dựng cơ sở khoa học đề xuất một số giải pháp qui hoạch vùng Đông Nam Bộ, đặc biệt là ở Thành phố Hồ Chí Minh

Mặc dù vấn đề bảo vệ môi trường gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội đã được nhận thức sớm và đã có những hành động thực tiễn để bảo vệ môi trường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, song các chủ trương, kế hoạch, hoạt động thực tiễn ấy hầu hết cũng chỉ bắt đầu từ những nhu cầu bức xúc của môi trường do quá trình phát triển kinh tế xã hội đặt ra mà chưa dựa trên một cơ sở lý luận mang tính hệ thống, khoa học để xây dựng chiến lược phát triển xã hội bền vững trong tương lai hoặc là mới chỉ dừng lại ở nhận thức mà chưa trở thành hành động thiết thực

Trên cơ sở kế thừa hợp lý những thành tựu của các công trình nghiên cứu trước, trong khuôn khổ của một luận văn cao học, tác giả xin được tiếp tục tìm hiểu, góp phần vào việc làm sáng tỏ hơn nữa vai trò quan trọng của vấn đề bảo vệ môi trường đối với sự phát triển của xã hội nói chung trong giai đoạn hiện nay Từ đó nhận thức đúng đắn hơn về vấn đề bảo vệ môi trường ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay và góp phần định hướng về mặt

lý luận trong việc xây dựng các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của thành phố trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Mục đích của luận văn là tập trung làm rõ mối quan hệ biện chứng

Trang 11

giữa phát triển xã hội và vấn đề bảo vệ môi trường trên lập trường duy vật biên chứng Liên hệ với thực tiễn ở thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đưa ra phương hướng và một số giải pháp góp phần vào công tác bảo vệ môi trường ở thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau đây:

Thứ nhất, trình bày quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng về

vấn đề mối quan hệ giữa phát triển xã hội với bảo vệ môi trường

Thứ hai, liên hệ thực tiễn công tác bảo vệ môi trường trong mối quan

hệ với đẩy nhanh tốc độ phát triển xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh

Thứ ba, đề xuất một số giải pháp để thực hiện tốt hơn việc đẩy nhanh

tốc độ phát triển xã hội kết hợp với công tác bảo vệ môi trường ở thành phố

Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tập trung nghiên cứu quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng về vấn đề mối quan hệ biện chứng giữa phát triển xã hội với bảo vệ môi trường mà chủ yếu là môi trường tự nhiên

và môi trường xã hội

Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung làm rõ thực trạng vấn đề phát triển xã hội và vấn đề bảo vệ môi trường ở thành Phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận, luận văn được thực hiện trên cơ sở thế giới quan và

phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin Ngoài ra, tác giả còn kế thừa có chọn lọc những công trình nghiên

cứu có liên quan đến đề tài của các tác giả đi trước

Trang 12

Về phương pháp nghiên cứu, để nghiên cứu và trình bày vấn đề, tác

giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích

và tổng hợp, so sánh và đối chiếu, lịch sử và logic vv…và một số phương pháp nghiên cứu khác

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Về mặt khoa học, ở một mức độ nhất định, luận văn góp phần làm rõ

cơ sở lý luận của mối quan hệ giữa phát triển xã hội và bảo vệ môi trường trên lập trường duy vật biện chứng

Về mặt thực tiễn, Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc

giảng dạy và học tập một số nội dung về vấn đề môi trường và phát triển xã hội, cũng như làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm

02 chương, 05 tiết

Trang 13

Chương 1

LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 1.1 KHÁI NIỆM PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ KHÁI NIỆM MÔI TRƯỜNG 1.1.1 Khái niệm phát triển xã hội

Theo từ điển tiếng Việt : “Xã hội là hình thức sinh hoạt chung có tổ chức của loài người ở một trình độ phát triển nhất định của lịch sử, xây dựng trên cơ sở một phương thức sản xuất nhất định” [97, 1140]

Theo quan niệm của Triết học Mác, vận động xã hội là hình thái vận động cao nhất của vật chất Hình thái vận động này lấy mối quan hệ của con người và sự tác động lẫn nhau giữa người với người làm nền tảng “Xã hội không phải gồm các cá nhân mà xã hội biểu hiện tổng số những mối liên hệ

và những quan hệ của các cá nhân đối với nhau Theo C.Mác, “xã hội cho

dù nó có hình thức gì đi nữa - là cái gì? Là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người” [44, 398] Con người là sản phẩm cao nhất của tự nhiên, bằng hoạt động của mình, con người đã làm nên lịch sử, tạo ra xã hội

Do đó, xã hội không thể là cái gì khác mà chính là một bộ phận đặc biệt được tách ra một cách hợp quy luật của tự nhiên, là hình thức tổ chức vật chất cao nhất của vật chất trong quá trình tiến hóa liên tục, lâu dài và phức tạp của tự nhiên

Như vậy, xã hội là một bộ phận đặc thù của tự nhiên Song, đồng thời với quá trình tiến hóa tiếp tục của tự nhiên, xã hội cũng có một quá trình phát triển lịch sử của mình thể hiện bằng sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng trong cơ cấu của xã hội Ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, có một dạng cơ cấu xã hội cơ bản, đặc thù, được C.Mác gọi là hình thái kinh tế - xã hội Nền tảng chung của các cơ cấu xã hội cụ thể này là những mối quan hệ sản xuất vật chất, những mối quan hệ kinh tế giữa người và người, trên đó sẽ

Trang 14

hình thành nên một kiến trúc thượng tầng phù hợp C.Mác viết: “Tổng hợp lại thì những quan hệ sản xuất hợp thành cái mà người ta gọi là những quan

hệ xã hội, là xã hội, và hơn nữa hợp thành một xã hội ở vào một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, một xã hội có tính chất độc đáo riêng biệt Xã hội

Cổ đại, Phong kiến, xã hội Tư sản đều là những tổng thể quan hệ sản xuất, như vậy, mỗi tổng thể đó đồng thời lại đại biểu cho một giai đoạn phát triển đặc thù trong lịch sử nhân loại” [44, 399-400] Nghĩa là, mỗi giai đoạn phát triển đặc thù của lịch sử nhân loại hay mỗi xã hội đều được đặc trưng bởi một tổng thể quan hệ sản xuất Song quan hệ sản xuất chỉ là cái hình thức bên ngoài, là hình thức xã hội của một phương thức sản xuất nhất định, còn cái quyết định nội dung của nó lại chính là lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất biểu hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người,

là thước đo năng lực thực tiễn của con người trong quá trình cải biến tự nhiên nhằm đảm bảo sự sinh tồn và phát triển của con người và xã hội

Xã hội với tư cách là một chỉnh thể vật chất toàn vẹn luôn vận động, biến đổi và phát triển Theo nghĩa chung nhất, phát triển là thuộc tính bản chất, phổ biến, vốn có của thế giới vật chất, là xu hướng chung của tự nhiên,

xã hội, tư duy Theo quan niệm biện chứng, phát triển là sự biến đổi không thuận nghịch về mặt chất lượng của sự vật từ thấp lên cao, sự biến đổi do sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập ở bên trong sự vật tạo ra, tất yếu dẫn tới sự nhảy vọt về chất, là quá trình phủ định cái cũ, khẳng định cái mới, tạo ra khuynh hướng tiến lên của sự vật

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với sự phát triển xã hội Vào nửa đầu thế kỷ XX, nhất là sau chiến tranh thế giới thứ hai, trong bối cảnh công nghiệp hóa theo mô hình của Mỹ, người ta thường đồng nhất khái niệm phát triển xã hội với phát triển về kinh tế hay cụ thể hơn là tăng trưởng kinh tế

Trang 15

Tuy nhiên, tư tưởng phát triển xã hội lấy tăng trưởng kinh tế làm nền tảng ấy cũng gặp phải những bất cập, nhất là đối với các nước thế giới thứ ba, các nước đang phát triển Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các nước tư bản chủ nghĩa ở Châu Âu thế kỷ XVII – XIX đều dựa trên một nguồn lực đó

là bóc lột các nước thuộc địa Châu Á, Châu Phi, Mỹ La – Tinh Với các quan niệm và chính sách phát triển này dẫn đến tình trạng cùng với sự giàu lên nhanh chóng của các nước công nghiệp phát triển, lại là sự nghèo đói và

sự phụ thuộc của các nước được coi là kém phát triển vào các nước công nghiệp phát triển Ranh giới ngăn cách giữa các nước giàu và nghèo trên thế giới không những bị thu hẹp mà càng bị khoét sâu thêm

Sự thất bại và kém hiệu quả của quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa dựa trên tư tưởng “tăng trưởng kinh tế” thuần túy theo mô hình Âu –

Mỹ khiến người ta phải nhìn nhận lại chủ kiến này

Ngày nay, đã và đang xuất hiện nhiều quan niệm, mô hình khác nhau

về sự phát triển xã hội, chúng phụ thuộc vào điểm xuất phát về kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ của các quốc gia, khu vực và sự chi phối của các quan điểm chính trị - xã hội Đặc trưng chung của nhiều quan điểm, nhiều

mô hình phát triển xã hội trong thời gian qua là đã quá đề cao và tập trung chủ yếu vào các yếu tố kinh tế, yếu tố kỹ thuật - công nghệ, tuyệt đối hóa các yếu tố đó, coi chúng như những tiêu chí quyết định sự phát triển xã hội

Từ đó đã dẫn tới sự đồng nhất phát triển xã hội với tổng thu nhập quốc dân, thu nhập quốc dân tính theo đầu người, tỷ trọng nông nghiệp, tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế, coi văn hóa phương Tây là mô hình phát triển chung, tối ưu của xã hội Chính quan điểm coi sự phát triển xã hội dựa vào các quan điểm, mô hình trên với những tiêu chí phát triển cực đoan, lệch hẳn

về mục tiêu kinh tế đã dẫn đến tai họa cho môi trường sống như nạn cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường sống, sự phân cực sâu

Trang 16

sắc giữa các nước giàu và các nước nghèo, giữa người giàu và người nghèo; chạy đua vũ trang và chiến tranh hạt nhân Nền văn minh công nghiệp đã tồn tại trên thế giới hơn 300 năm, thế nhưng, cho đến nay, một bộ phận đáng

kể loài người vẫn đứng trước nguy cơ nghèo đói, bệnh tật, khủng hoảng môi trường sống Đó là những vấn đề đang đe dọa sự sống của hành tinh chúng

ta Mọi tai họa đều có thể xảy ra nếu như con người và xã hội loài người không thay đổi chiến lược phát triển của mình Quan niệm về sự phát triển lâu bền (bền vững) đã xuất hiện thể hiện yêu cầu mới về nội dung phát triển của xã hội hiện đại

Vậy phát triển bền vững là gì? Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển họp ở Rio de Janeiro (Braxin) vào tháng 6/1992 đã làm rõ nội dung khái niệm “phát triển lâu bền” là “sự phát triển kinh tế - xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ con người hiện nay và không gấy bất lợi đối với các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn những nhu cầu của họ” [xem 5, 20] Điều 3 - Luật bảo vệ môi trường của nước Việt Nam năm 2005 ghi rõ: Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường

Kinh tế học cũng đã xác định: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển lành mạnh, trong đó sự phát triển của cộng đồng người này không làm thiệt hại đến lợi ích của cộng đồng người khác, sự phát triển của thế hệ hôm nay không xâm phạm đến lợi ích của các thế hệ mai sau và sự phát triển của loài người không đe dọa sự sống còn hoặc làm suy giảm nơi sinh sống của các loài khác trên hành tinh” [88, 73]

Trang 17

Tuy nhiên, lấy gì để đo được sự phát triển bền vững? Và có thể đưa ra khái niệm “Phát triển bền vững ở mức chấp nhận được”? Đây là vấn đề không đơn giản, hiện đang được nghiên cứu Đã có nhiều hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu được đề xuất, nhưng được thừa nhận ngày càng rộng rãi là 4 mức độ

đo sau:

Thứ nhất, phát triển bền vững được tính trên giá trị GDP hoặc GNP

Tuy nhiên với cách tính này, để phát triển kinh tế phải tiêu tốn tài nguyên và tạo ra các chất thải độc hại Do vậy, cần phải tính đến việc hạn chế tối đa nhu cầu tiêu thụ tài nguyên không tái tạo và mức độ tái sinh tài nguyên, vật liệu từ các chất thải Bên cạnh các giá trị bình quân GDP, GNP, sự chênh lệch các giá trị này ở các tầng lớp dân cư khác nhau cũng được tính như một giá trị đo kinh tế của sự phát triển bền vững Tuy nhiên, trên thực tế không phải bao giờ sự tăng trưởng kinh tế cũng tương ứng với việc cải thiện điều kiện sống của toàn thể cộng đồng xã hội Thậm chí ở nhiều nơi, khi của cải

xã hội tăng lên, người ta còn cảm thấy mình nghèo hơn trước và bị thải loại

về mặt xã hội, khi tình trạng bất công gia tăng Trong khi mức sống của phần lớn người dân thành thị đã tăng lên đáng kể thì vẫn có những bộ phận không nhỏ ở vùng sâu, vùng xa còn chưa được tiếp cận những điều kiện tối thiểu về y tế, giáo dục; còn thiếu thốn lương thực, nước sạch cũng như các nhu cầu sống cơ bản của con người Khoảng cách giàu nghèo, phân tầng xã hội có xu hướng gia tăng nhanh chóng trong nền kinh tế thị trường Như vậy, các chính sách tăng trưởng, thậm chí bền vững về kinh tế, cũng có thể gây ra những hậu quả xã hội nghiêm trọng Sự mất cân đối về mặt xã hội dẫn đến những căng thẳng, các mối quan hệ xã hội gắn bó bị phá vỡ, bạo lực gia tăng Hậu quả là làm giảm, thậm chí triệt tiêu hoàn toàn mọi cố gắng của tăng trưởng, phát triển Đó là tính không bền vững trong sự phát triển xã hội

Trang 18

Thứ hai, phát triển bền vững có thể đánh giá thông qua chất lượng các

thành phần môi trường không khí, nước, đất, sinh thái; mức độ duy trì các nguồn tài nguyên không tái tạo; việc khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên không tái tạo; nguồn vốn của xã hội dành cho các hoạt động bảo

vệ môi trường; khả năng kiểm soát của chính quyền đối với các hoạt động kinh tế xã hội, tiềm ẩn các tác động tiêu cực đối với môi trường, ý thức bảo

vệ môi trường của người dân

Thứ ba, phát triển bền vững đòi hỏi sự tự do thực sự của các công

dân, về các thông tin về kế hoạch phát triển của Chính phủ và chất lượng môi trường nơi họ đang sống; Phát triển bền vững đòi hỏi sự công bằng về các quyền lợi xã hội, như: có công ăn việc làm, đảm bảo các quyền lợi kinh

tế và xã hội khác, giảm bớt hố ngăn cách giữa người giàu và nghèo trong xã hội, … Ở đây, vị trí trung tâm của con người nổi lên với tư cách là mục tiêu cao nhất của sự phát triển xã hội Mục tiêu của phát triển bền vững chủ yếu không phải là tạo ra nhiều hàng hóa, của cải mà nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống con người, không phân biệt tầng lớp, chủng tộc, giới tính, vùng miền Khi con người còn chưa được đáp ứng những nhu cầu trước mắt, họ sống trong nghèo đói, đó là nguy cơ lớn đe dọa môi trường tự nhiên Cạm bẫy đói nghèo lại tạo ra cái vòng luẩn quẩn cho cả con em họ- các thế hệ tương lai Khi mà đói nghèo vẫn còn hiện diện thì cuộc đấu tranh chống đói nghèo là mục tiêu trọng tâm của phát triển bền vững về xã hội Quan điểm toàn diện đòi hỏi phải có sự quan tâm đầy đủ cũng như phải có các thể chế chính sách cụ thể nhằm điều tiết bất công, một yếu tố quan trọng nhằm xoá đói giảm nghèo, đảm bảo cho phát triển bền vững Phát triển bền vững đòi hỏi phải thay đổi chính sách xã hội cho phù hợp như chính sách trợ cấp, chính sách thuế để loại trừ xu hướng già hoá ở các xã hội phát triển

Trang 19

Thứ tư, Phát triển bền vững đòi hỏi phải thay đổi các thói quen và

phong cách sống có hại cho môi trường chung của trái đất như các thói quen sinh nhiều con ở các nước đang phát triển theo triết lý trời sinh voi, trời sinh cỏ; thói quen tiêu dùng lãng phí của công dân các nước công nghiệp phát triển; Phát triển bền vững đòi hỏi phải thiết lập các tập tục tiến bộ mới thay cho các tập tục lạc hậu cũ và xác lập các tập tục phù hợp với điều kiện sống đang thay đổi của con người Thí dụ, để phù hợp với quá trình đô thị hoá đang diễn ra trên trái đất, con người cần phải thay đổi các thói quen lành mạnh của nền văn minh đô thị; Độ đo văn hoá của phát triển bền vững còn

là “văn hoá xanh” Văn hoá xanh là nền văn hoá phù hợp với sự phát triển bền vững, đó là toàn bộ các hoạt động văn hoá của con người dựa trên đạo đức thế giới về cuộc sống cộng đồng Văn hoá xanh thể hiện trong: việc xây dựng cơ sở hạ tầng như nhà ở, giao thông đô thị…, các quan hệ xã hội của con người và thái độ của con người đối với thiên nhiên Văn hoá xanh thể hiện trong thái độ và hành vi của con người hướng tới sự giảm nghèo đói, nâng cao chất lượng cuộc sống của mình ở đây, sự vượt lên nghèo đói không phải bằng bất cứ cách nào mà chỉ bằng các phương thức phù hợp với đạo đức thế giới về cuộc sống cộng đồng Trong văn hoá xanh có cả thái độ đúng đắn của con người đối với các hiện tượng tiêu cực trong môi trường xã hội như: chống tham nhũng và các tệ nạn xã hội đang làm mai một cuộc sống tốt đẹp của nền văn minh nhân loại Để có được các thay đổi phù hợp với quan điểm về phát triển bền vững, mọi người trên trái đất cần phải thay đổi các quan điểm về đạo đức sống Trước hết là trách nhiệm của con người đối với thiên nhiên và thế hệ tương lai bao gồm: trách nhiệm sống hoà hợp với thiên nhiên, sự tồn tại bình đẳng của loài người và các dạng sống khác trên trái đất, ý thức tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sống chung của hành tinh

Trang 20

Để phát triển xã hội bền vững, trước hết cần phát triển con người một cách bền vững, hay làm tăng năng lực và phạm vi lựa chọn của con người để

họ có một cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc Vì vậy, cần phải có sự đầu tư thường xuyên, lâu dài bằng các thể chế chính sách vừa dài hạn vừa rõ ràng,

cụ thể Cần có sự phân chia phù hợp với các nhóm đối tượng có các đặc trưng khác nhau về vùng miền, giới tính, nghề nghiệp, tầng lớp xã hội, thậm chí cả sự khác biệt về tôn giáo hay truyền thống văn hoá Chiến lược phát triển con người cần được xem xét trên nhiều phương diện, vừa nâng cao năng lực mọi mặt của con người, vừa tạo điều kiện phát huy tối đa các năng lực đó nhằm vươn tới mục đích cuối cùng mang lại cuộc sống tốt đẹp, mang lại tự do, giải phóng con người

Như vậy, trong xu hướng phát triển của xã hội, trước những thành tựu

đã đạt được cũng như những nguy cơ con người đang và sẽ đối mặt, nhân loại đang hướng đến một quan điểm phát triển bền vững Trong đó, sự phát triển

về kinh tế không phải là tiêu chuẩn duy nhất của xã hội mà còn phải đảm bảo các yếu tố khác cho con người mà môi trường là nhân tố không thể thiếu

1.1.2 Khái niệm môi trường

Môi trường, theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1988: 1 Là nơi xảy ra một hiện tượng hoặc diễn ra một quá trình, trong mối quan hệ với hiện tượng quá trình ấy 2 Toàn bộ nói chung những điều kiện

tự nhiên, xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người, với sinh vật đó

Luật bảo vệ môi trường của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều 3, mục 1 định rõ: “môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [67, 46] Quan điểm triết học Mác - Lênin cho rằng: “môi trường là nơi sinh

Trang 21

sống và hoạt động của con người, là nơi tồn tại của xã hội Đó là môi trường sinh địa - hóa học, hay sinh quyển Sinh quyển là vùng lưu hành sự sống trên trái đất, là một hệ thống mở về nhiệt động học, bao gồm toàn bộ các cơ thể sống (sinh thể), các sản phẩm và các chất thải trong quá trình hoạt động sống của chúng, đồng thời bao gồm cả phần khí quyển (không khí), thủy quyển (nước), thạch quyển (đất đá) và năng lượng mặt trời, nơi đã và đang

có sự sống” [44, 425]

Có rất nhiều kiểu dạng môi trường khác nhau (ví dụ như môi trường địa

lý, môi trường đô thị, môi trường kinh tế, môi trường giáo dục, môi trường chính trị…) nhưng tổng quát lại, môi trường bao gồm hai lĩnh vực chủ yếu

là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Từ đó, con người hình thành nên môi trường văn hóa

Môi trường tự nhiên hay môi trường xã hội đều bao chứa trong nó nhiều loại hình môi trường được đặc trưng bởi cơ cấu vật chất và các quan hệ khác nhau Tuy vậy, bản chất của chúng lại liên hệ với nhau thông qua các hoạt động người Con người vừa là sản phẩm trực tiếp của tự nhiên, vừa là chủ thể sáng tạo của tự nhiên Con người cũng vừa là một sinh thể xã hội, vừa là chủ thể của các môi trường xã hội Vì vậy, môi trường tự nhiên và môi trường xã hội có các mối liên hệ không chia cắt trong toàn bộ sự tồn tại và phát triển của con người Tuy nhiên, giữa môi trường tự nhiên và môi trường xã hội cũng có những nét đặc trưng riêng của nó tạo thành đối tượng nghiên cứu của các khoa học tự nhiên, các khoa học xã hội và khoa học nhân văn

Để hiểu được môi trường tự nhiên trước hết cần hiểu tự nhiên là gì? Có thể nói, môi trường tự nhiên là sự tổng hợp toàn bộ những gì tồn tại khách quan, là cái đương nhiên tồn tại, không phải do ý muốn, hiểu biết và sáng tạo của con người Theo nghĩa này, môi trường tự nhiên được hiểu là bao gồm toàn bộ vũ trụ, thiên hà, thế giới vật lý, sinh học Đó là đất, nước, biển,

Trang 22

ao, hồ… và tất cả sinh vật, kể cả con người Các yếu tố của môi trường tự nhiên tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều tác động của con người Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng trọt, chăn nuôi, cung cấp cho con người những loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú

Con người là một bộ phận của tự nhiên, là kết quả của quá trình phát triển và tiến hóa lâu dài của môi trường tự nhiên Cũng như các dạng động vật khác con người vẫn phải sử dụng các tư liệu sinh hoạt từ tự nhiên như đất đai, không khí, cây cối, thú rừng…Nhưng khác với các loài động vật khác, con người biết trồng, cấy, thuần dưỡng, chăn nuôi gia súc, cải tạo đất đai, khai thác tài nguyên trên bề mặt và trong lòng đất… “con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên” [58, 137]

Những hoạt động cải tạo tự nhiên của con người làm cho tự nhiên có nhiều biến đổi Trên ý nghĩa này, C Mác đã chia tự nhiên làm hai bộ phận hợp thành: tự nhiên thứ nhất – tự nhiên tinh khiết, tự nhiên thuần túy và tự nhiên thứ hai – tự nhiên có sự tác động của con người và do con người tạo

ra một bản sao từ tự nhiên thứ nhất, làm thành một tự nhiên mới, gắn với toàn bộ các thích nghi, ứng xử, các biến đổi tự nhiên thông qua các hoạt động của con người

Trong quá trình con người cải biến giới tự nhiên phục vụ cho sự tồn tại của mình, tất yếu nảy sinh những sinh hoạt cộng đồng như lao động, giao tiếp, con người dần tách mình ra khỏi thế giới động vật, và cùng với môi trường tự nhiên vốn có, con người còn tạo ra cho mình một môi trường thứ hai – môi trường xã hội hay môi trường tự nhiên đã được “người hóa”

Trang 23

Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, qui định, qui ước… ở các cấp khác nhau như: quốc gia, tỉnh thành, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho

sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác

Như vậy, sự tồn tại của con người không chỉ gắn bó với môi trường tự nhiên mà còn gắn bó không tách rời môi trường xã hội, vì chỉ có trong môi trường xã hội con người mới trở thành con người đích thực Trong môi trường xã hội con người là nhân tố trung tâm, tham gia và chi phối Các yếu

tố như chính trị, kinh tế, văn hóa, thể thao, lịch sử… đều xoay quanh con người và lấy con người làm mục tiêu cho mình Môi trường xã hội tốt thì các thành tố cấu thành môi trường xã hội sẽ bổ trợ cho nhau, con người sẽ được hưởng đầy đủ các quyền: sống, làm việc, cống hiến và hưởng thụ Tuy nhiên, mặt trái của môi trường xã hội là các tệ nạn xã hội

Dưới góc độ tiếp cận này có thể khẳng định rằng, vấn đề môi trường có

vị trí quan trọng trong quá trình tồn tại và phát triển của con người Sự xáo trộn về môi trường tự nhiên cũng như môi trường xã hội sẽ tác động trực tiếp đến cuộc sống của con người Một khi môi trường tự nhiên bị tàn phá và ô nhiễm, con người sẽ luôn phải sống trong nổi lo âu về thiên tai như lụt lội, mất mùa, bệnh tật… Nếu môi trường xã hội bị phá vỡ, tệ nạn xã hội sẽ gia tăng làm phá vỡ cấu trúc gia đình – làng xã, hậu quả là cả một cộng đồng người rơi vào trạng thái bất an Sự phản ánh trên cho thấy, môi trường có liên quan trực tiếp đến cuộc sống con người Để xử lý mối tương tác đó, con người phải vận dụng vốn tri thức và kinh nghiệm của mình để tìm được

“tiếng nói chung” với môi trường

Trang 24

1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VỚI BẢO

VỆ MÔI TRƯỜNG NHÌN TỪ QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC

1.2.1 Quan niệm của triết học Mác về mối quan hệ giữa tự nhiên – con người – xã hội

Vấn đề về mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội với các nhu cầu xã hội

đã được quan tâm, bàn đến từ rất sớm Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn lại có một cách nhìn nhận và giải quyết khác nhau

Thái độ hòa hợp với tự nhiên được hình thành từ lâu trên cơ sở những quan niệm về con người trong các học thuyết phương Đông Theo nhiều tác giả, con người trong quan niệm của các tôn giáo phương Đông và trong hầu hết các học thuyết triết học phương Đông truyền thống đều không đối lập với môi trường sống của mình mà trước hết là môi trường tự nhiên Con người luôn được coi là một thành tố, một bộ phận của giới tự nhiên Trong quan niệm của Nho giáo, tự nhiên, vũ trụ (Thiên, thiên đạo, thiên tính, thái

hư, thiên mệnh ) bao giờ cũng là cái nằm ngoài ý chí của con người, sinh ra họa phúc, thiện ác ở trần gian Các nhà Nho đều thừa nhận “thiên mệnh”

và cho rằng, không một ai có thể cải tạo được “thiên mệnh” mà cần phải thích nghi với nó Trong học thuyết Nho giáo, mối quan hệ giữa con người

và tự nhiên là mối quan hệ “Thiên nhân cảm ứng” Bởi vậy, trong đời sống của mình, con người phải hiểu mệnh trời, phải biết sợ mệnh trời (“tri thiên mệnh”, “úy thiên mệnh”- Khổng Tử) để từ đó biết “ứng thời” theo “thiên mệnh”, “thiên đạo” [xem: 68, 40]

Trong triết học Phật giáo thì mọi sự vật và hiện tượng trong vũ trụ đều

có quan hệ với nhau và đều là điều kiện cho sự tồn tại của nhau “Thử hữu bỉ hữu, thử sinh cố bỉ sinh, thử vô cố bỉ vô, thử diệt cố bỉ diệt” - sở dĩ cái này tồn tại nên cái kia tồn tại, sở dĩ cái này sinh ra nên cái kia sinh ra, sở dĩ cái này không có nên cái kia cũng không tồn tại, sở dĩ cái này mất đi nên cái kia cũng

Trang 25

mất” [xem: 68, 41] Với logic của quan hệ “thử” và “bỉ” như trên, chúng ta có thể hiểu ở đây không có chỗ cho sự đối lập nào giữa tự nhiên và con người

Ở phương Tây, Đạo Cơ đốc cho rằng Thượng đế sinh ra muôn loài, là nguồn gốc chung của con người và kêu gọi con người sống hướng thiện, vị nhân Kinh Cựu ước ghi: “Như vậy, Chúa đã tạo ra con người theo hình ảnh của người và Chúa nói: “hãy sinh sôi nảy nở và tăng lên gấp bội, hãy thêm sức mạnh cho trái đất, hãy quy phục cá ở biển cả, chim muông trên không

và mọi loài sinh vật di chuyển trên trái đất” [xem: 5, 143-144]

Được luận bàn đến khá sớm ở trong lịch sử tư tưởng triết học, nhưng đến triết học Mác thì vấn đề mối quan hệ giữa tự nhiên, con người và sự phát triển xã hội mới được bàn đến một cách đúng đắn và khoa học

Mặc dù các nhà kinh điển đã không dành trọn một tác phẩm nào để trình bày nhưng vấn đề này đã được C.Mác và Ph.Ăng-ghen bàn đến khá sâu sắc Không ít những vấn đề môi sinh, môi trường hiện tại mà chúng ta đang xem là vấn đề nóng bỏng, cấp thiết được đặt ra do sự phát triển của xã hội công nghiệp ở thế kỷ XX ít nhiều đã được C.Mác, Ph.Ăng-ghen suy ngẫm, nêu ra ở tầm triết học, triết lý

Trong tác phẩm Chống Đuy rinh, khi phê phán quan điểm của Đuy rinh cho rằng tính thống nhất của thế giới là ở sự tồn tại của nó, Ph.Ăng-ghen đã khẳng định: “ Tính thống nhất thực sự của thế giới chính là ở tính vật chất của nó, và tính vật chất này được chứng minh không phải bằng vài ba lời lẽ khéo léo của kẻ làm trò ảo thuật, mà bằng một sự phát triển lâu dài và khó khăn của triết học và khoa học tự nhiên” [68, 54] Đây là quan điểm có tính chất nền tảng trong việc xem xét mọi liên hệ trong thế giới nói chung, trong

đó có liên hệ đặc biệt giữa con người và môi trường sống của mình

Như Ph.Ăng-ghen chỉ ra, khoa học, từ nhiều phương diện khác nhau

đã chứng minh được sự hình thành và phát triển của giới tự nhiên, khám phá

Trang 26

được bản chất của sự sống và sự thống nhất vật chất của nó đối với giới tự nhiên vô cơ ở mức độ vi mô cũng như vĩ mô Trong quá trình tiến hóa của thế giới, sự xuất hiện của con người là một bước tiến nhảy vọt về chất mà theo Ph.Ăng-ghen, con người với bộ óc biết tư duy của mình là sản phẩm cao nhất của sự tiến hóa trong nhiều triệu năm của vật chất, là một cơ thể phức tạp nhất mà giới tự nhiên sản sinh ra được Nguồn gốc tự nhiên của con người làm cho con người về mặt bản tính không thể đối lập với giới tự

nhiên Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăng-ghen đã phân tích

quá trình phát sinh và phát triển của thế giới hữu cơ và khẳng định lịch sử loài người chẳng qua chỉ là tiếp nối lịch sử tự nhiên; sự kiện làm cho con người bước vào lịch sử của mình chính là sự xuất hiện con người từ giới tự nhiên - “cùng với con người, chúng ta bước vào lịch sử” [3, 73]

Có thể thấy những tư tưởng về sự gắn kết chặt chẽ giữa con người và môi trường tự nhiên đã được các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác trình bày rất rõ

nét trong nhiều tác phẩm Trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844,

C.Mác đã viết: “Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người, và chính nó

là giới tự nhiên trong chừng mực bản thân nó không phải là thân thể con người Con người sống dựa vào tự nhiên, như thế nghĩa là tự nhiên là thân thể của con người, để khỏi chết, con người phải ở trong quá trình giao dịch thường xuyên với thân thể đó Sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người liên hệ khăng khít với tự nhiên, điều đó chẳng qua chỉ có ý nghĩa là tự nhiên lên hệ khăng khít với bản thân tự nhiên, vì con người là một bộ phận của tự

nhiên” Trong các công trình nghiên cứu như Bộ Tư bản, Hệ tư tưởng Đức và

những thư từ ghi chép khác, C.Mác và Ph.Ăng-ghen cũng đã nhiều lần nhấn mạnh và làm rõ mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, coi lịch sử phát triển của xã hội là giai đoạn phát triển cao trong sự phát triển thống nhất giữa lịch

sử tự nhiên và lịch sử xã hội Đặc biệt trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức,

Trang 27

C.Mác và Ph.Ăng-ghen cho rằng “Mọi khoa ghi chép lịch sử đều phải xuất phát từ những cơ sở tự nhiên ấy và những thay đổi của chúng do hoạt động của con người gây ra trong quá trình lịch sử” và “Có thể xem xét lịch sử dưới hai mặt, có thể chia lịch sử ra thành lịch sử tự nhiên và lịch sử nhân loại Tuy nhiên, hai mặt đó không tách rời nhau Chừng nào mà loài người còn tồn tại thì lịch sử của họ và lịch sử tự nhiên quy định lẫn nhau” [xem: 16, 72]

Như vậy, ngay từ khi hình thành những tư tưởng duy vật đầu tiên của mình, trong quan niệm của C.Mác, lịch sử, con người và môi trường sống của mình luôn thống nhất hữu cơ với nhau không tách rời Quan điểm này nhất quán trong tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăng-ghen cho đến về sau Theo các ông, hành vi phá hủy môi trường, phá vỡ sự hài hòa, cân bằng mối quan hệ con giữa con người - tự nhiên, xét về mặt sinh thái cũng đồng nghĩa với sự phá hoại chính cuộc sống của bản thân con người

Đánh giá cao khả năng của con người trong việc cải biến giới tự nhiên nhưng các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác cũng cảnh báo rằng: việc cải biến ấy

dù có to lớn đến bao nhiêu cũng không được phép vượt qua giới hạn có thể dẫn đến phá vỡ hệ thống đó Trong một bức thư gửi cho Ph.Ăng-ghen khi nhận xét cuốn sách lịch sử khai phá nông nghiệp châu Âu của Phraxơ (1847), Mác viết: “Nếu canh tác - được thực hiện một cách tự phát mà không được hướng dẫn một cách có ý thức thì sẽ để lại sau đó đất hoang” [xem: 68, 58] Những trường hợp ở Ba Tư, Mêxôpôtamia, ở Hy Lạp được C.Mác và Ph.Ăng-ghen dẫn ra đã chứng minh cho điều đó Khi người ta phá rừng, khai hoang để lấy đất cày cấy, tăng thêm nguồn lương thực thì họ không nghĩ rằng việc phá rừng đã tạo ra nguồn gốc của hiểm họa về sau là hủy hoại các trung tâm chứa nước và giữ nước, gây nên lụt lội và hạn hán

Phá vỡ hệ thống con người - xã hội - tự nhiên có nghĩa là phá vỡ cơ sở tự nhiên và cơ sở xã hội của sự tồn tại con người, vì rằng mặc dù là sản phẩm

Trang 28

phát triển của tự nhiên nhưng con người chỉ có thể tồn tại trong xã hội, con người và xã hội không thể tồn tại ở bên ngoài tự nhiên hoặc thiếu những tiền

đề tự nhiên Để tồn tại, con người và xã hội phải dựa vào dòng vật chất và dòng năng lượng mà tự nhiên cung cấp để duy trì sự sống, duy trì xã hội Điều đó chưa đủ, sự thống nhất giữa xã hội và tự nhiên còn được thực hiện trong sản xuất xã hội của con người Và chính trong quá trình lao động sản

xuất xã hội đó, con người bộc lộ hết bản chất của mình “Trong tính hiện thực

của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội.” [57, 11]

Do đó, mối quan hệ của con người và tự nhiên, con người và con người cũng được hình thành thông qua lao động sản xuất, thông qua hành động cải biến tự nhiên, con người đã tạo cho mình những điều kiện sinh hoạt mới Chính lao động đã nâng con người lên cao hơn giới động vật, nó cũng nâng con người lên cao hơn giới tự nhiên, đồng thời lại liên kết chặt hơn giới tự nhiên với đời sống con người Lao động là điều kiện cơ bản, đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người Do vậy, nếu chỉ có giới tự nhiên không thôi hoặc chỉ có lao động không thôi thì đều không thể có sự trao đổi chất giữa con người và tự nhiên, nghĩa là sẽ không có của cải nuôi sống con người, con người không thể tồn tại và do đó xã hội cũng không còn Vì vậy, phải thấy cả hai mặt là giới tự nhiên là cái cung cấp những vật liệu cho lao động, còn lao động thì biến những vật liệu đó thành của cải Lao động cùng với tự nhiên ngay từ đầu và mãi mãi đảm bảo cho sự tồn tại và sự phát triển của con người, xã hội

Như vậy, con người và xã hội không chỉ là một bộ phận của tự nhiên

mà hơn thế nữa, tự nhiên – con người – xã hội luôn nằm trong một chỉnh thể thống nhất Con người là sản phẩm của tự nhiên, con người tạo ra xã hội Nhưng sau khi tạo ra xã hội thì con người không thể tách rời xã hội Để trở thành một con người đích thực con người cần được sống trong môi trường

Trang 29

xã hội, trong mối quan hệ qua lại giữa con người với con người Con người mang trong mình bản tính tự nhiên và bản chất xã hội

Khi mới thoát thai từ động vật để bước vào lịch sử xã hội, con người còn phụ thuộc gần như hoàn toàn vào tự nhiên, vào những sức mạnh của tự nhiên, bị chúng chi phối và thống trị Mối quan hệ giữa người và người với nhau trong giai đoạn này là mối quan hệ bình đẳng, mang tính chất cộng đồng Tiếp đó, trong quá trình sản xuất xã hội, thông qua lao động, con người học được cách biến đổi giới tự nhiên, điều khiển những quá trình tự nhiên trong phạm vi bước đầu còn nhỏ hẹp và hạn chế, tạo cho mình những điều kiện tồn tại, những trạng thái, môi trường phù hợp với mình Đó là chỗ khác nhau giữa con người và tất cả những động vật khác

Hoạt động của con người nhằm chinh phục tự nhiên ngày càng giảm bớt sự phụ thuộc của họ vào “các thế lực không kiểm soát được” và ngày càng tăng quyền hành trước tự nhiên Đó được coi là một dấu hiệu của sự tiến bộ, phát triển xã hội và của bản thân mỗi người Nhờ vậy mà loài người

đã có đủ khả năng hoàn thành những công việc ngày càng phức tạp hơn, có

đủ khả năng tự đề ra và đạt được những mục đích ngày càng cao hơn, đồng thời con người làm việc đó không phải một cách mù quáng, một cách ngẫu nhiên mà trái lại, đó là “một hoạt động có tính toán trước, có kế hoạch hướng vào những mục đích nhất định, được biết trước Loài vật phá sạch thực vật trong một vùng nào đó mà không hiểu gì về việc làm của chúng cả, còn con người khi khai phá như thế để dùng dải đất đã dọn sạch đó mà gieo ngũ cốc hoặc trồng cây, trồng nho thì đã biết trước rằng, mùa đến, các giống cây ấy sẽ đem lại cho họ một mùa thu hoạch biết bao nhiêu lần hơn số hạt giống mà họ đã gieo” [68, 63] Việc nắm được các quy luật tự nhiên và sự phát triển của nhu cầu ngày càng kích thích thêm những hoạt động định hướng của con người nhằm chinh phục, chế ngự các hiện tượng tự nhiên, bắt

Trang 30

“Nếu chúng ta đã phải trải qua hàng nghìn năm lao động, mới có thể trong một chừng mực nào đó, đánh giá được những hậu quả tự nhiên xa xôi của những hành động sản xuất của chúng ta, thì chúng ta lại càng phải trải qua nhiều khó khăn hơn nữa, mới có thể hiểu biết được những hậu quả xã hội xa xôi của những hành động ấy” [3, 319]

Sự cảnh báo ấy chẳng những đúng với những trường hợp ở Tiểu Á, ở Hy Lạp mà Ph.Ăng-ghen đã dẫn ra để chứng minh mà còn rất đúng với nhiều hiện tượng khác mà nền sản xuất hiện đại đã phải trải qua trong thế kỷ qua Điều này đã lý giải hệ thống con người - tự nhiên – xã hội là một hệ thống động học thống nhất cần phải được đảm bảo cân bằng ở một mức độ nhất định, các thành phần trong hệ thống đều tác động và chịu sự tác động lẫn nhau Đây là một hệ thống hoạt động theo nguyên tắc liên hệ ngược chứ không phải chỉ có liên hệ một chiều thuận, nghĩa là không phải chỉ có con người tác động, cải biến tự nhiên mà tự nhiên cũng tác động ngược trở lại một cách mạnh mẽ đối với con người Đáng chú ý là sự tác động ngược này lại “không lường trước được”, nó có thể “phá hủy tất cả những kết quả đầu tiên” mà con người đã đạt được

Trang 31

Trong quá trình lao động sản xuất, con người có ưu thế hơn các sinh vật khác ở chỗ con người hiểu biết được các quy luật của tự nhiên và xã hội, có thể sử dụng các quy luật đó ngày một chính xác hơn, có lợi hơn Do đó, con người cũng phần nào hiểu được những hậu quả của những hành động không hợp lý của mình và có khả năng chi phối, điều tiết các hậu quả đó Nhưng việc nhận thức đó phải trải qua một quá trình thường là lâu dài và luôn bị chi phối, cản trở bởi các nhân tố kinh tế - chính trị khác Hơn thế, khả năng nhận thức hậu quả mới chỉ là một mặt, còn mặt khác là biện pháp thực tế để ngăn chặn những hậu quả đó, từ nhận thức đến hành động lại là một khoảng cách rất xa Những quan hệ nhất định đối với môi trường là do hình thái của

xã hội quyết định và ngược lại - như vậy có nghĩa là con người và xã hội đối

xử với môi trường ra sao là tùy thuộc vào khả năng điều tiết và chiến lược phát triển của chế độ xã hội Cho nên, thái độ vơ vét, phá hoại môi trường để thực hiện một nền kinh tế kiểu “kinh tế cướp đoạt” là không thể chấp nhận trong xã hội hiện đại

Với sự phát triển của xã hội Tư bản tính đến thế kỷ XIX, Ph.Ăng-ghen phê phán rằng “tất cả các phương thức sản xuất đã có từ trước đến nay chỉ nhằm đạt được những hiệu quả có ích gần nhất và trực tiếp nhất của lao động Còn đối với những hậu quả xa xôi, sau này mới xuất hiện và chỉ có tác dụng khi nó tái diễn lại nhiều lần và tích tụ thêm lên mãi, thì người ta hoàn toàn không chú ý đến” [3, 321] Nguồn gốc sâu xa của những hành động phá hoại môi trường như vậy theo Ph.Ăng-ghen đó là thái độ đối với lợi nhuận Lợi nhuận trong đa số các trường hợp đã trở thành động lực duy nhất thúc đẩy các nhà tư bản hành động bất chấp sự suy thoái của môi trường, bất chấp sự

“tha hóa”, sự bần cùng của những người lao động trong chính xã hội đó Trước yêu cầu đó, những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăng-ghen về mối quan hệ giữa con người - tự nhiên trên lập trường duy vật biện chứng là cơ sở

Trang 32

lý luận để chúng ta nhận thức đúng đắn những mâu thuẫn của vấn đề môi trường trong sự phát triển của xã hội hiện tại, đồng thời giúp chúng ta tìm ra phương hướng hợp lý để xây dựng một xã hội phát triển bền vững

1.2.2 Mối quan hệ giữa phát triển xã hội và bảo vệ môi trường

Xã hội là một bộ phận của tự nhiên Song bộ phận này có tính đặc thù thể hiện ở chổ: trong xã hội nhân tố hoạt động là của con người có ý thức, hành động có suy nghĩ và theo đuổi những mục đích nhất định Hoạt động của con người không chỉ tái sản xuất ra chính bản thân mình mà còn tái sản xuất ra giới tự nhiên

Xã hội là hình thái vận động cao nhất của vật chất, hình thức vận động này lấy mối quan hệ của con người và sự tác động lẫn nhau giữa con người với con người làm nền tảng Xã hội biểu hiện tổng số mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân với nhau, là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người Như bất kỳ một cơ thể sống nào khác, xã hội với tư cách

là một hệ thống, một cơ thể sống toàn vẹn, để tồn tại và phát triển, xã hội đã phải tiến hành trao đổi chất với tự nhiên Chính trong quá trình lao động sản xuất, con người đã tiến hành khai thác, biến đổi và đồng hóa các đối tượng của tự nhiên để phục vụ cho sự sống của mình, cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Mặt khác, con người muốn cải biến giới tự nhiên thì trước hết con người phải liên kết lại với nhau theo những cách thức nhất định – những

sự liên kết xuất phát trực tiếp từ nhu cầu này chính là những quan hệ sản xuất Trên cơ sở hình thành và phát triển những quan hệ này mà có sự hình thành và phát triển hàng loạt những mối quan hệ xã hội khác như các quan

hệ chính trị, đạo đức, pháp luật, tôn giáo… Mác đã chỉ ra rằng: trong sản xuất, người ta không chỉ quan hệ với tự nhiên Người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung

và để trao đổi hoạt động với nhau Muốn sản xuất được, người ta phải có

Trang 33

những mối liên hệ, quan hệ nhất định với nhau, và quan hệ với tự nhiên, tức

là việc sản xuất, chỉ diễn ra trong khuôn khổ những mối liên hệ và quan hệ

đó Tuy nhiên, mức độ biến đổi và đồng hóa các đối tượng tự nhiên của con người có tính lịch sử cụ thể, nghĩa là khác nhau trong những cơ thể xã hội khác nhau Mức độ biến đổi và đồng hóa các đối tượng tự nhiên của con người chính là sự biểu hiện cụ thể các mức độ khác nhau của mối quan hệ giữa con người và tự nhiên

C.Mác và Ph.Ăng-ghen là những người đầu tiên đã chỉ ra động lực chủ yếu, trực tiếp thúc đẩy sự phát triển của xã hội - đó là sự vận động khách quan của lực lượng sản xuất của con người Quan điểm đó có thể được coi như chiếc chìa khóa để lý giải sự phát triển của lịch sử xã hội loài người Bởi vì chỉ có thông qua quá trình lao động sản xuất, con người mới biến đổi, cải tạo một cách hiện thực, lịch sử - cụ thể giới tự nhiên bên ngoài, cũng như cải tạo và biến đổi chính bản thân con người và xã hội Theo một nghĩa nào

đó, chính lao động sáng tạo ra bản thân con người, sáng tạo ra xã hội loài người và sáng tạo ra lịch sử

Lịch sử của xã hội loài người đã chứng minh sự tác động của quá trình phát triển xã hội đối với môi trường sống của con người Trong quá trình ấy, lực lượng sản xuất không ngừng biến đổi và hoàn thiện dần Các cuộc cách mạng trong lực lượng sản xuất không chỉ tạo ra các bước nhảy vọt về chất trong bản thân lực lượng sản xuất mà còn quyết định các bước chuyển biến cách mạng trong lịch sử xã hội Sự phát triển của xã hội lên những nấc thang khác nhau đã dẫn đến những tác động khác nhau lên môi trường sống của con người

Với cuộc cách mạng lực lượng sản xuất lần thứ nhất - tìm ra lửa, con người bắt đầu tự khẳng định mình như một chủ thể, còn tự nhiên là đối tượng để con người tác động Thời kỳ này, công cụ sản xuất còn thô sơ nên

Trang 34

con người chỉ mới biết sử dụng những sản phẩm sẵn có trong giới tự nhiên bằng hái lượm và săn bắt, con người sống phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên,

“hoà tan” mình vào giới tự nhiên Mọi người trong xã hội đều sống bình đẳng dựa trên những quy tắc chung được đặt ra xuất phát từ phong tục, tập quán Vì vậy, môi trường sống của con người không có gì khác so với môi trường sống của các sinh vật khác

Cuộc cách mạng lực lượng sản xuất lần thứ hai đã dẫn dắt con người từ thời kỳ đồ đá bước dần sang nền văn minh nông nghiệp Trong nền văn minh nông nghiệp, với công cụ sản xuất bằng kim loại thủ công, con người

đã bắt đầu biết khai thác tự nhiên một cách tích cực hơn, chủ động hơn: biết khai thác đất đai để trồng trọt, biết thuần dưỡng động thực vật sẵn có trong

tự nhiên để nuôi trồng Con người lúc này đã biết coi tự nhiên là đối tượng khai thác nhưng do công cụ sản xuất vẫn còn thô sơ, lao động cơ bắp của con người chưa thể làm biến đổi tự nhiên một cách mạnh mẽ và sâu sắc, đáng kể Do vậy mà môi trường sống của con người cũng hầu như chưa có

gì biến đổi

Cuộc cách mạng lực lượng sản xuất lần thứ ba với sự ra đời của máy hơi nước đã đánh dấu bước chuyển của xã hội loài người từ nền văn minh nông nghiệp sang nền văn minh công nghiệp Với công cụ sản xuất bằng cơ khí, máy móc, mức độ khai thác tự nhiên của con người ngày càng mạnh

mẽ, sâu sắc hơn, toàn diện hơn Trong nền văn minh công nghiệp, sức mạnh của lao động cơ bắp của con người đã được thay thế bằng lao động trí tuệ Lao động trí tuệ của con người được vật thể hóa nhờ khoa học, kỹ thuật và công nghệ đã tạo ra sức mạnh phi thường, áp đảo so với tự nhiên

Từ thế kỷ XVIII, quá trình công nghiệp hóa bắt đầu diễn ra một cách mạnh mẽ ở các nước tư bản Sự phát triển nhanh chóng của văn minh công nghiệp đã bắt đầu phá vỡ những quan hệ truyền thống và đưa xã hội loài

Trang 35

người vào giai đoạn phát triển mới Nó đã tạo ra sự thay đổi lớn lao trong mối tương quan giữa con người với môi trường sống của mình trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực Đến giai đoạn này, sự cải tạo môi trường của con người mới đạt đến trình độ tự giác trên bình diện xã hội và đồng thời, cũng chỉ đến giai đoạn này, những tiêu cực nảy sinh từ mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, con người và con người mới bộc lộ gay gắt và ngày càng trở nên trầm trọng Nhờ những bước tiến cách mạng trong khoa học, kỹ thuật mà khả năng cải tạo môi trường của con người ngày càng mạnh mẽ hơn, toàn diện hơn

Con người không chỉ biết khai thác các nguồn tài nguyên trên mặt đất như đất đai, động vật, thực vật mà còn biết tiến sâu vào giới tự nhiên bao la, khai thác các loại khoáng sản nằm sâu trong lòng đất, dưới đáy đại dương Đối tượng sản xuất, do vậy không ngừng được bổ sung, sự phong phú về từ liệu lao động đã mang lại những ý nghĩa quan trọng Lần đầu tiên, xã hội văn minh đã biết khai thác những cái vốn có trong tự nhiên để chế tạo nên những cái hoàn toàn mới chứ không chỉ nhờ vào những cái có sẵn trong tự nhiên; con người chấm dứt thời kỳ sống phụ thuộc vào tự nhiên xung quanh một cách thụ động để bước vào kỷ nguyên khai thác, cải tạo tự nhiên một cách chủ động theo mục đích và nhu cầu của mình

Nền văn minh công nghiệp đã tạo ra hệ thống xã hội có nền khoa học

kỹ thuật và công nghệ phát triển Nó có khả năng liên kết các nước trên thế giới lại với nhau, hình thành một xã hội với trình độ xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất, điều đó cũng kéo theo việc hình thành sự liên kết giữa các quốc gia khác nhau trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên Trong hơn 3 thế kỷ qua, hàng năm, loài người đã khai thác từ lòng đất hàng

tỷ tấn than, dầu mỏ, quặng sắt hay các khoáng sản có ích khác mà thiên nhiên đã tạo lập được qua hàng chục triệu năm Chỉ trong vòng 100 năm (từ

Trang 36

năm 1876 đến năm 1975), loài người đã khai thác trong lòng đất 137 tỷ tấn than, 46,7 tỷ tấn dầu mỏ, 20 nghìn tỷ mét khối khí thiên nhiên, 24,5 tỷ tấn quặng sắt Đặc biệt, trong vòng hai mươi năm cuối cùng của thế kỷ XX, loài người đã khai thác số tài nguyên ngang bằng trong vòng 100 năm trước đó Nếu như không có sự trợ giúp của các phương tiện, máy móc, công nghệ hiện đại thì lao động thủ công của con người khó có thể làm nổi những công việc đó với tốc độ và năng suất cao như vậy Chỉ chưa đầy nửa thế kỷ qua

mà thế giới đã làm ra một lượng của cải vật chất vượt xa cả thời kỳ mấy trăm năm trước đó cộng lại Sự phát triển của khoa học và kỹ thuật đã giúp con người thay đổi nguồn nguyên liệu, năng lượng của nền sản xuất, điều

mà các nền sản xuất trước đó không hoặc khó có thể thực hiện được

Nền văn minh công nghiệp đã phát huy được những tiềm năng như sức lao động, tính sáng tạo cá nhân, giải phóng các thành phần kinh tế khác nhau trong xã hội và cùng với việc mở cửa đối với hoạt động kinh tế đối ngoại, nó đang tạo ra một động lực vô cùng mạnh mẽ, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói riêng, và sự phát triển của xã hội loài người nói chung Tuy nhiên, trong quá trình đưa xã hội loài người phát triển đi lên, con người đã phạm phải những sai lầm trong mối quan hệ với tự nhiên và làm nảy sinh không ít các vấn đề kinh tế - xã hội nan giải

Cùng với sự tăng lên nhanh chóng nguồn của cải vật chất, sức tàn phá môi trường sống trên hành tinh ngày càng chật hẹp này cũng tăng lên theo cấp số nhân Cùng với sự tàn phá môi trường sinh thái, những tệ nạn xã hội

có tính toàn cầu ngày càng nhức nhối mà việc khắc phục đã vượt quá khả năng của từng quốc gia Chỉ mới 2 thế kỷ qua mà sự suy thoái của tự nhiên

đã trải qua ba mức độ Nếu ở thế kỷ XVIII chỉ mới nảy sinh ra cái gọi là

“quy luật về sự giảm dần độ phì nhiêu của đất đai” do Mantuýt và Tiugo đưa

ra, thế kỷ XIX Tônxơn và Crucxơ mới đặt vấn đề về sự cạn kiệt nguồn năng

Trang 37

lượng trên trái đất, thì ngày nay, người ta đã phải nói đến sự cạn kiệt toàn bộ nguồn tài nguyên thiên nhiên trên hành tinh chúng ta Sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên chứng tỏ môi trường sống của con người đang bị tiêu hao nặng nề về mặt số lượng Song điều còn nguy hiểm hơn nữa là chất lượng môi sinh ngày càng tồi tệ đi Các hiện tượng ô nhiễm môi trường như “lỗ thủng ôzôn”, “hiệu ứng nhà kính”, mưa axít, nhiệt độ tăng, sa mạc hóa đang đặt thế giới hiện đại trước hiểm họa của sự hủy diệt Những sai lầm đó trước hết bắt nguồn từ trong nhận thức của con người, chỉ coi tự nhiên là đối tượng

để khai thác và bóc lột mà quên rằng tự nhiên là một chỉnh thể tồn tại và phát triển theo những quy luật vốn có của bản thân nó Điều đó dẫn đến tình trạng

là trong suốt một thời gian dài, con người chỉ biết có khai thác tự nhiên mà không có một kế hoạch nào nhằm bù đắp cho sự thiếu hụt của nó

Thực trạng của môi trường trên trái đất đã cho chúng ta thấy giai đoạn văn minh công nghiệp là giai đoạn mà con người đạt đến trình độ tàn phá môi trường dã man nhất Chưa có một nền văn minh nào mà quá trình sản xuất lại để lại những hậu quả tiêu cực đối với môi trường tự nhiên nghiêm trọng đến như vậy, các thời kỳ trước, những thay đổi tiêu cực của môi trường tự nhiên do con người gây ra chỉ mang tính cục bộ, không mang tính toàn cầu Nhưng đến giai đoạn này, những tiêu cực ấy đã dần vượt ra khỏi giới hạn của từng nước, từng vùng, diễn ra trên phạm vi toàn cầu Càng ngày,

sự tồn tại của xã hội loài người càng bị đặt vào trạng thái nguy hiểm hơn, khi mâu thuẫn giữa con người và tự nhiên ngày càng sâu sắc thì mức độ nguy hiểm càng tăng Khoa học kỹ thuật giờ đây không chỉ đem lại niềm hy vọng

mà còn kéo theo cả nỗi lo âu, bởi vì chúng đang bị con người lạm dụng nhằm thu lợi nhuận tối đa Điều này dẫn đến sự phá vỡ khả năng thích nghi sinh học của con người và các sinh vật tồn tại trên trái đất Sự tiến bộ của xã hội đã phải trả giá đắt, đó là sự suy thoái của môi trường tự nhiên, sự chậm lại và đôi

Trang 38

khi bị ngừng lại hoàn toàn của nhiều quá trình sinh học tự nhiên

Cùng với những thành tựu đã đạt được trong quá trình phát triển của xã hội, sự phá vỡ các quy trình sinh thái tự nhiên do con người gây ra dường như đang từng bước hủy hoại hành tinh này Việc xã hội công nghiệp khai thác và sử dụng các nguồn năng lượng như dầu lửa, than đá, khí đốt và nhất là năng lượng nguyên tử đã và đang tác động rất xấu đến môi trường Chẳng hạn, khi khai thác các mỏ than, mỏ dầu là một trong những tác nhân lớn ảnh hưởng đến địa tầng, phá vỡ những vùng sinh thái rộng lớn; còn việc sử dụng các nguồn nguyên liệu than đá, dầu lửa, khí đốt, nguyên tử thì gây ô nhiễm môi trường đất, nước và ảnh hưởng đến khí hậu toàn cầu Nếu việc sử dụng năng lượng nguyên tử được coi là bước tiến lớn của loài người thì hậu quả do

nó gây ra cũng khủng khiếp nhất Việc nổ nhà máy điện nguyên tử Trecnôbưn

là ví dụ điển hình Vấn đề nan giải là ở chỗ, các chất thải của chúng không giảm đi trong khi con người lại không biết làm gì với loại chất thải đó

Thái độ hài hòa, gắn bó với tự nhiên trước đây của con người bị thay đổi trước sức tấn công mạnh mẽ của lối sống thực dụng của xã hội hiện đại, nhất là khi làn sóng toàn cầu hóa đang tràn qua một cách mạnh mẽ trên toàn thế giới Cơ chế thị trường với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận trong thời gian ngắn nhất đang kích thích nhập khẩu, không chỉ những hàng hóa, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến mà còn cả những kỹ thuật cũ kĩ, lạc hậu, thậm chí cả những thứ thải bỏ từ các nước phát triển, hơn thế nữa, còn nhập lậu và buôn bán những hàng quốc cấm (hóa chất độc hại, thuốc kích thích tăng trưởng, sinh vật gây hại cho môi trường và kinh tế, v.v…) Đặc biệt và nguy hiểm hơn là việc nhập và buôn lậu những chất kích thích gây nghiện ngập, điên loạn, tàn phá sức khoẻ và đe dọa sự sống của hàng vạn con người (ma túy, thuốc lắc, v.v…) Bên cạnh đó, việc xuất khẩu hàng hóa theo con đường chính ngạch cũng còn rất nhiều điều nan giải (ví dụ như xuất khẩu tràn lan

Trang 39

các loại tài nguyên quý hiếm của đất nước như gỗ quý, vàng, đồng đen, thậm chí là con người – xuất khẩu lao động bất hợp pháp, buôn bán phụ nữ

và trẻ em, v.v…)

Việc sử dụng những thành tựu của khoa học – công nghệ vào việc sản xuất và chế biến lương thực là một việc làm tất yếu nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Tuy nhiên, với việc quá lạm dụng các chất hóa học trong sản xuất và chế biến lương thực – thực phẩm vừa gây ra ô nhiễm môi trường vừa gây ra những hậu quả hết sức nặng nề đối với sức khỏe con người Mức độ ngộ độc thực phẩm ngày càng gia tăng cả về số lượng người ngộ độc lẫn mức độ nguy hiểm

Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO), hiện có hơn 400 bệnh lây truyền qua thực phẩm không an toàn Vệ sinh an toàn thực phẩm đã được đặt lên hàng đầu nghị trình tại nhiều hôi nghị y tế và sức khỏe cộng đồng toàn cầu, nhưng tình hình gần như không được cải thiện bao nhiêu, nhất là khi con người đang chạy đua vì lợi nhuận trước mắt Khi người dân không có đủ miếng ăn thì việc kiểm tra chất lượng những gì họ ăn là điều đã trở thành khá xa vời Tiến sĩ Margaret, Tổng giám đốc Tổ chức y tế thế giới cho biết mỗi tháng liên hiệp quốc nhận được khoảng 200 báo cáo từ 193 quốc gia về các trường hợp thực phẩm bị nhiễm độc Bà nhấn mạnh: “Một lần nữa, tôi xin khẳng định, vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề chung của toàn nhân loại chứ không riêng một nước nào”

Theo WHO, hiện nay mỗi năm ở Mỹ có khoảng 76.000.000 người bị ngộ độc thực phẩm, trong đó có 325.000 trường hợp phải nhập viện, tử vong

5000 người Tại Anh, mỗi năm có 190 ca ngộ độc/1000 dân Ở Nhật, cứ 100.000 người có 40 ca ngộ độc thực phẩm mỗi năm Tại Úc, mỗi năm có 4,2 triệu người bị ngộ độc thực phẩm Tại Việt Nam, từ năm 2005 đến 2008

cả nước có 761 vụ ngộ độc, với 26.596 người mắc, tử vong 226 người Tính

Trang 40

đến tháng 9/2009, trên toàn quốc có 111 vụ ngộ độc thực phẩm với 4.128 người mắc, 31 người tử vong

Việc thường xuyên phải sử dụng những sản phẩm thiếu an toàn đó đã dẫn đến những hậu quả khó lường, ngoài việc bị ngộ độc thức ăn ngay sau khi sử dụng, các độc tố trong lương thực – thực phẩm sẽ ngấm dần vào cơ thể người trong thời gian dài, gây nhiều bệnh tật hiểm nghèo như dị ứng, ung thư… Chúng bào mòn sức khoẻ con người, làm giảm sút cường độ lao động và sức lao động của toàn xã hội

Bên cạnh đó, trong quá trình sản xuất công nghiệp, con người cũng thải vào môi trường những hóa chất mà trong môi trường tự nhiên không có như các hợp chất Sunfurơ, những chất làm thủng tầng ôzôn, các axít mạnh, các kim loại độc và các dạng chất độc khác có thể thấm và rò rỉ vào đất, vào các nguồn nước, ảnh hưởng rất xấu cho sức khỏe con người, gây ra những loại bệnh là sản phẩm của nền văn minh công nghiệp như ung thư, phù phổi nặng, hen, khả năng miễn dịch giảm

Một yếu tố khác của sự phát triển xã hội đó là sự gia tăng dân số cũng

là một sức ép lớn đối với trái đất từ nhiều khía cạnh: số lượng dân số quá lớn, phân bố dân cư quá cao; chất lượng dân số, sức khỏe, trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật, tỷ lệ người ở độ tuổi lao động, người già và trẻ em Nhu cầu về mọi mặt của dân cư như lương thực, thực phẩm, nguyên nhiên liệu đều tăng trong khi những nguồn vật chất và năng lượng lấy trong tự nhiên chỉ là có hạn Thêm vào đó là lượng chất thải cả trong sản xuất lẫn trong tiêu dùng cũng là những yếu tố tác động tới sự phát triển của xã hội và

tự nhiên Để thoát khỏi cảnh nghèo đói, các nước kém phát triển phải ra sức khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên của mình bằng bất cứ giá nào Bởi vậy, gia tăng dân số cùng với sự phát triển sản xuất làm cho nguy cơ hủy hoại môi trường tự nhiên ở các nước nghèo và kém phát triển tăng lên gấp

Ngày đăng: 07/05/2021, 22:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w