1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm và ý nghĩa trong tư tưởng về con người của triết học trung quốc cổ đại

171 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Muốn giáo dục, đào tạo, phát triển con người, đặc biệt là đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, một mặt chúng ta phải tiếp thu những thành tựu khoa học, giáo dục - đào tạo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -

TRỊNH THỊ KIM CHI

ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA TRONG

TƯ TƯỞNG VỀ CON NGƯỜI CỦA

TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, chưa được

ai công bố, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Anh Quốc Tư liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực

TÁC GIẢ

TRỊNH THỊ KIM CHI

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 05 PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

1.1 CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG

VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI 15 1.1.1 Sự biến đổi về xã hội và sự băng hoại về đạo đức trong xã hội Trung Hoa thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc với quá trình hình thành tư tưởng về con người trong triết học Trung Quốc cổ đại 15 1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng về con người trong triết học Trung Quốc cổ đại 29 1.2 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI 37 1.2.1 Quan điểm về nguồn gốc và bản tính con người trong triết học Trung Quốc cổ đại 37 1.2.2 Quan điểm về vị trí và vai trò con người trong triết học Trung Quốc

cổ đại 63 1.2.3 Quan điểm giáo dục con người với việc xây dựng xã hội thịnh trị trong triết học Trung Quốc cổ đại 73

Kết luận chương 1……… 94 Chương 2 ĐẶC ĐIỂM, GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ TRONG TƯ TƯỞNG VỀ CON NGƯỜI CỦA TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI……… …97

2.1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM TRONG TƯ TƯỞNG VỀ CON NGƯỜI CỦA TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI 97 2.1.1 Tính thống nhất và đa dạng trong tư tưởng về con người của triết học Trung Quốc cổ đại 97

Trang 4

2.1.2 Sự thống nhất giữa đạo đức và chính trị trong tư tưởng về con người

của triết học Trung Quốc cổ đại 109

2.1.3 Tính chất mâu thuẫn trong tư tưởng về con người của triết học Trung Quốc cổ đại………115

2.2 NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ TRONG TƯ TƯỞNG CON NGƯỜI CỦA TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI 122

2.2.1 Những giá trị trong tư tưởng về con người của triết học Trung Quốc cổ đại……… 122

2.2.2 Những hạn chế trong tư tưởng về con người của triết học Trung Quốc cổ đại……….128

2.3 Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC TỪ TƯ TƯỞNG VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ……… 138

2.3.1 Ý nghĩa trong việc phát huy vai trò của nhân tố con người - nguồn lực cơ bản cho sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay ………138

2.3.2 Ý nghĩa và bài học về giáo dục và đào tạo con người cho sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay ……….149

Kết luận chương 2……… 156

KẾT LUẬN CHUNG……… 159

TÀI LIỆU THAM KHẢO 164

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Trong lịch sử phát triển của nhân loại, con người không chỉ là nhân tố quyết định sự phát triển xã hội mà còn là nhân tố luôn giữ vị trí trung tâm của

sự phát triển ấy Bằng hoạt động thực tiễn lao động sản xuất, phát triển khoa học và cải tạo xã hội, con người không chỉ cải biến giới tự nhiên, sáng tạo nên lịch sử mà còn từng bước hoàn thiện bản thân mình Con người là chủ thể sáng tạo ra mọi giá trị đồng thời cũng là thước đo của những giá trị đó Quan điểm ấy đã được chính các nhà tư tưởng từ cổ đại đến hiện đại, ở cả phương Đông và phương Tây khẳng định Ở phương Tây, nhà triết học Hy Lạp cổ đại Protagras (480 - 410 tr CN) đã viết: “Con người là thước đo của vạn vật - I’homme est la mesure de toutes choses” (Theét, 152a và Crat, 385e - 386a),

[90, tr 306] Còn ở phương Đông, trong Thượng thư, thiên Thái thệ thượng

cũng viết: “Chỉ có con người là tối linh trong vạn vật - 萬物惟人之靈 - Vạn vật duy nhân chi linh” Tư tưởng ấy, đến V.I Lênin, ông cũng khẳng định: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động” [56, tr 430]

Trong thời đại ngày nay, khi các nhân tố và các điều kiện tác động, ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội có sự thay đổi lớn (tài nguyên, khoáng sản cạn kiệt, khoa học kỹ thuật phát triển,…) thì nhân tố con người càng được xem là nguồn lực quan trọng nhất để cạnh tranh và phát triển Nguồn lực con người với tri thức, kỹ năng, phẩm chất đạo đức và tinh thần thái độ đã trở thành nguồn tài sản vô cùng quý giá, là nhân tố quyết định sự phát triển cho mọi quốc gia và vùng lãnh thổ Phát triển con người vừa là mục tiêu cao nhất đồng thời vừa là động lực của sự phát triển xã hội Vì thế, các quốc gia, dân tộc trên thế giới đã đặt việc phát triển nguồn lực con người ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển của mình

Trang 6

Ở Việt Nam, trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta chủ trương phải đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ môi trường; bảo tồn và phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân; thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội, nhằm xây dựng Việt Nam trở thành một nước “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do dân làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” [21, tr.70]

Đó là sự nghiệp sáng tạo hết sức to lớn nhưng cũng vô cùng khó khăn của nhân dân ta Để thực hiện thắng lợi mục tiêu và nhiệm vụ đó, con người là yếu tố quyết định Do vậy, việc nghiên cứu về con người cũng như giáo dục, đào tạo con người phục vụ cho sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước trở thành vấn đề vừa mang tính thời sự cấp bách vừa mang tính chiến

lược lâu dài Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ

nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Con người là trung

tâm chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển” [21, tr.76] Muốn giáo dục, đào tạo, phát triển con người, đặc biệt là đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, một mặt chúng ta phải tiếp thu những thành tựu khoa học, giáo dục - đào tạo tiên tiến trên thế giới; mặt khác, chúng ta phải biết kế thừa những quan điểm về phát triển con người trong truyền thống dân tộc cũng như những tinh hoa giá trị tư tưởng về con người của các nền văn minh trên thế giới trong lịch sử, trong đó có triết học Trung Quốc cổ đại Cùng với triết học Ấn Độ, triết học Trung Quốc cổ đại là một trong những nền triết học lâu đời, phong phú, đa đạng và không kém phần sâu sắc Triết học Trung

Trang 7

biến chuyển xã hội đặc biệt từ chế độ tông pháp nhà Chu sang chế độ phong kiến sơ kỳ, làm trật tự lễ nghĩa xã hội đảo lộn, đạo đức, luân lý xã hội băng hoại Do đó, một vấn đề lớn đặt ra là làm thế nào để “tu thân, tề gia, trị quốc,

bình thiên hạ” (Đại học, Chu Hy chương cú)

Giải đáp vấn đề lớn đó, bên cạnh những vấn đề triết học khác, một trong những chủ đề trung tâm của các trường phái triết học Trung Quốc cổ đại, đó là vấn đề con người; lý giải về nguồn gốc, bản tính, vai trò, vị trí con người và vấn đề giáo dục con người Nếu bỏ qua những hạn chế về điều kiện lịch sử, về lập trường đẳng cấp xã hội thì tư tưởng về con người và giáo dục con người trong triết học Trung Quốc cổ đại vẫn có những ý nghĩa nhất định trong việc giáo dục, đào tạo con người phục vụ cho sự nghiệp đổi mới và hội

nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài Đặc điểm

và ý nghĩa trong tư tưởng về con người của triết học Trung Quốc cổ đại làm

luận văn thạc sĩ của mình

2.Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Triết học Trung Quốc nói chung và vấn đề con người trong triết học Trung Quốc nói riêng là một đề tài hết sức phong phú, hấp dẫn, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực Do đó, từ trước đến nay đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà tư tưởng trong và ngoài nước, với những công trình khá đa dạng và sâu sắc Có thể khái quát các công trình nghiên cứu về con người trong triết học Trung Quốc cổ đại từ trước đến nay theo các chủ đề như sau:

Thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu về con người gắn với quá

trình phát triển của nền văn hóa Trung Quốc; trong đó phải kể đến những tác phẩm: 中國文花史Trung Quốc văn hóa sử, thượng và hạ, Trung tâm xuất bản

Đông phương, Thượng Hải, xuất bản năm 1988, với các chương bàn về Lão

Tử, Khổng Tử và cái học của chư tử có nhiều vấn đề đặt ra liên quan đến chủ

đề con người; cuốn 中國文花知识精花 Trung Quốc văn hóa tri thức tinh hoa, Hồ

Trang 8

Nam nhân dân xuất bản xã, xuất bản năm 1989, đã đề cập đến 24 lĩnh vực tinh hoa tri thức văn hóa Trung Quốc như lịch sử, văn hóa, tri thức, địa lý, dân tộc, nhân khẩu, pháp chế, binh pháp, giáo dục, văn vật, nông nghiệp, thương nghiệp, ngôn ngữ, văn học nghệ thuật, âm nhạc , trong đó có những chủ đề liên quan đến vấn đề con người như dân tộc, nhân khẩu, giáo dục

Tiếp tục nghiên cứu theo hướng trên phải kể đến tác phẩm Đại cương

lịch sử văn hóa Trung Quốc do Ngô Vinh Chính, Vương Miện Quý chủ biên

(bản dịch của Lương Duy Thứ, Hồ Sỹ Hiệp), Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, xuất bản năm 1994, với các phần A và E đã nghiên cứu về các trường phái triết học Trung Quốc và tư tưởng giáo dục con người, cùng các vấn đề về

bản tính, luân lý đạo đức của con người; hay tác phẩm Lịch sử văn hóa Trung

Quốc do Đàm Gia Kiện chủ biên (bản dịch của Phạm Văn Các, Thạch Giang,

Trương Chính), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, xuất bản năm 1993, với phần nghiên cứu về các vấn đề về bản tính con người của các trường phái, các nhà

triết học Trung Quốc thời Tiên Tần; đó còn là công trình Lịch sử văn hóa

Trung Quốc, 2 tập, do Trần Ngọc Thuận, Đào Duy Đạt, Đào Phương Chi dịch

từ bản Trung văn của Cổ tịch Thượng Hải xuất bản xã, Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, xuất bản năm 1999, với tám phần trong đó có những phần như tôn giáo, lễ tục, học thuật, tư tưởng đã đề cập đến vấn đề con người; hay tác phẩm

Cội nguồn văn hóa Trung Hoa do Đường Đắc Dương chủ biên (Nguyễn Thị

Thu Hiền dịch), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, xuất bản năm 1993, cũng đã tập trung trình bày về vấn đề con người trên cả bình diện về nhận thức luận, triết

lý nhân sinh, nhân cách con người đến bình diện chính trị - xã hội, ở trong chương A

Đây là những công trình nghiên cứu khá công phu của các học giả Trung Quốc với nội dung vừa phong phú vừa bao quát tất cả các lĩnh vực lịch

sử và đời sống văn hóa của dân tộc Trung Hoa, trong đó các công trình này

Trang 9

đặc biệt đã dành một phần lớn để nghiên cứu vấn đề về đời sống và bản tính con người, về vai trò và việc giáo dục con người

Hướng nghiên cứu thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu về con

người gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của triết học Trung Quốc Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này, trước hết phải kể đến tác phẩm 中國哲學

Trung Quốc triết học sử, thượng và hạ, của Phùng Hữu Lan do Đài Bắc

thương vụ ấn thư quán phát hành năm 1990, đã được Lê Anh Minh dịch ra tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005 Đây là cuốn sách trình bày khá hệ thống và sâu sắc quá trình hình thành và phát triển của triết học Trung Quốc từ thời cổ đại đến cận hiện đại với nội dung tư tưởng phong phú của các trường phái, các nhà triết học Trong đó, chủ đề về con người là một trong những chủ đề nổi bật của công trình này như quan điểm về chủ nghĩa chính danh, về các khái niệm, phạm trù: trực, nhân, trung, thứ, nghĩa, lợi, tính, trong chương 4; Khổng Tử và khởi nguyên của Nho gia, Kiêm ái của Mặc gia trong chương 5; tính thiện, trời, tính, khí hạo nhiên trong chương 6; cách xử thế, nhân cách lý tưởng và xã hội lý tưởng trong chương 8; trời và tính, luận

về lễ nhạc của Tuân Tử và Tuân học trong Nho gia của chương 12; Tính ác trong chương 13… Tiếp đến, về chủ đề này, phải kể đến cuốn 中國哲學史大綱

Trung Quốc triết học sử đại cương của Hồ Thích, Nxb Khai Trí, Sài Gòn,

xuất bản năm 1969 (bản dịch của Huỳnh Minh Đức) Cuốn sách đã trình bày khái quát quá trình phát triển của triết học Tiên Tần qua 12 thiên, đề cập đến nội dung tư tưởng cơ bản của của các nhà triết học Trung Quốc nổi tiếng thời

cổ đại Trong đó, vấn đề con người cũng đã được tác giả chú ý nghiên cứu, phân tích như các vấn đề: vô vi, triết học nhân sinh của Lão Tử; nhất dĩ quán chi, nhân, trí, dũng của Khổng Tử; vị ngã của Dương Chu; thiên và tính của

Tuân Tử…Cũng theo hướng nghiên cứu này còn có tác phẩm Lịch sử triết học

Trung Quốc của Hồng Tiềm, Nhiệm Hoa, Uông Tử Tung, Nxb Nhân dân Bắc

Kinh, xuất bản năm 1957; hay cuốn 中國古代哲學 Trung Quốc cố đại triết học,

Trang 10

thượng và hạ của Phương Lập Thiên, do Trung Quốc nhân dân đại học xuất bản xã, xuất bản năm 2006 Đây là cuốn sách được tác giả nghiên cứu về triết học Trung Quốc với cách tiếp cận mới, theo các chủ đề của triết học với 12 chương như: Trung Quốc cổ đại vũ trụ sinh thành luận, Trung Quốc cổ đại bản thể luận, Trung Quốc cổ đại hình thần luận, Trung Quốc cổ đại danh thực quan, Trung Quốc cổ đại tri hành quan,… Trong đó, tác giả đã dành 2 chương nghiên cứu về vấn đề con người, đó là chương Trung Quốc cổ đại nhân tính luận và chương Trung Quốc cổ đại nhân sinh lý tưởng quan Trong 2 chương này tác giả trình bày, lý giải khá hệ thống và sâu sắc các quan điểm, khái niệm, phạm trù về con người qua các mặt nguồn gốc, bản tính, vai trò, thái độ

và hành động của con người thông qua các nhà triết học Trung Quốc theo thứ

tự từng giai đoạn lịch sử như thời Tiên Tần, thời Lưỡng Hán, thời Ngụy Tấn - Nam Bắc triều, thời Tùy - Đường, thời Tống - Minh và thời kỳ nhà Thanh Đây là công trình nghiên cứu rất khoa học và công phu là tài liệu tham khảo

bổ ích cho việc nghiên cứu về con người trong triết học Trung Quốc

Ở Việt Nam, nghiên cứu về con người trong lịch sử triết học Trung

Quốc, trước hết phải kể đến cuốn Đại cương triết học Trung Quốc, thượng và

hạ của Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê, Cảo Thơm, Sài Gòn, xuất bản năm

1970 Đây là công trình nghiên cứu khá hệ thống về triết học Trung Quốc theo các chủ đề tư tưởng và mỗi chủ đề triết học được các tác giả phân tích, trích dẫn theo lịch sử phát triển, bao gồm cả Hán văn, phiên âm, dịch nghĩa như các chủ đề: vũ trụ quan, nhận thức luận, nhân sinh luận và chính trị luận Đặc biệt trong vấn đề nhân sinh luận, cuốn sách cũng đã trình bày hệ thống và bao quát các vấn đề như: bản chất con người qua các phạm trù tâm, tính, tình, vấn đề đạo làm người như vấn đề vô vi, hữu vi, quân tử, tiểu nhân… Những năm gần đây, cùng với sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đảng, Nhà nước ta khởi xướng và lãnh đạo, việc nghiên cứu, tiếp thu, kế thừa có chọn lọc những tinh hoa, tư tưởng của nhân loại đã được các nhà khoa học quan tâm Nghiên

Trang 11

Trung Quốc nói riêng ở Việt Nam gần đây có các tác phẩm như Lịch sử triết

học Trung Quốc (2 tập) của Hà Thúc Minh, Nxb.Thành phố Hồ Chí Minh,

1988 - 1989; Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc do Doãn Chính chủ

biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 1997, tái bản có sửa chữa

bổ sung năm 2004; cuốn Từ điển triết học Trung Quốc của Doãn Chính, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2009 Trong các công trình trên, trong khi trình bày nội dung tư tưởng triết học của các trường phái, các nhà triết học Trung Quốc, các tác giả đều dành một phần trình bày, phân tích những vấn đề liên quan đến chủ đề con người như: vấn đề nguồn gốc, bản tính con người, quan hệ con người với thế giới, vai trò, vị trí con người trong quan

hệ xã hội

Hướng thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu về con người trong triết

học Trung Quốc cổ đại qua các chuyên khảo có tính chuyên biệt qua từng trường phái, từng nhà triết học Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này trước hết

đó là tác phẩm Khổng học đăng của Phan Bội Châu, Nxb Khai Trí, Sài Gòn,

xuất bản năm 1973, ông đã tập trung nghiên cứu, chú giải tư tưởng triết học của Nho gia từ thời cổ đại đến thời kỳ nhà Thanh qua các nhà tư tưởng và các tác phẩm kinh điển của Nho gia Đặc biệt, Phan Bội Châu đã tập trung trình bày về vấn đề nhân sinh luận, tâm tính luận như: chữ nhân trong Khổng học, nhân với dũng; mệnh, tính, đạo với trung hòa… hay vấn đề tính thiện, giải thích ý nghĩa của tính ác… Theo hướng nghiên cứu kể trên, tiếp đến là tác

phẩm Nho giáo, thượng và hạ của Trần Trọng Kim do Trung tâm học liệu, Bộ

Giáo dục, Sài Gòn, 1971 Trong tác phẩm, tác giả đã trình bày, lý giải hệ khá

hệ thống nội dung tư tưởng triết học của Nho gia từ thời Xuân thu - Chiến quốc đến đời Thanh qua các nhà triết học nổi tiếng Trong công trình này, vấn

đề con người trong triết học cổ đại cũng đã được tác giả trình bày, phân tích bao quát qua các chủ đề như: đạo của Khổng Tử, quân tử và tiểu nhân, sự giáo hóa của Khổng Tử, tâm lý học của Mạnh Tử, tâm lý học của Tuân Tử Ngoài

ra, còn có các công trình khác như: Nho gia với Trung Quốc ngày nay của Vi

Trang 12

Chính Thông, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; Nho học và Nho học ở

Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Nguyễn Tài Thư, Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997; Quan niệm của Nho giáo về con người và

giáo dục đào tạo con người của Nguyễn Thị Tuyết Mai, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, xuất bản năm 2009; Học thuyết tính thiện của Mạnh Tử với việc

giáo dục đạo đức ở nước ta hiện nay của Phạm Đình Đạt, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 2009; Triết học phương Đông (Trung Hoa, Ấn Độ và các nước

Hồi giáo) của M.T Stepaniants, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003 (bản

dịch của Trần Nguyên Việt), đã nghiên cứu triết học phương Đông thành các chủ đề, trong đó chủ để về bản tính con người và giáo dục con người được các tác giả trình bày tương đối hệ thống và khái quát

Đặc biệt những năm gần đây ở Trung Quốc đã có một loạt các công trình có tính chuyên luận, nghiên cứu khá sâu về con người, nhất là vấn đề nhân sinh và vấn đề bản tính con người, như cuốn 孔子执著人生 Khổng tử: Cố chấp nhân sinh của Lý Húc, Nxb Văn nghệ Trường Giang, 1993; 孟子慷慨人生

Mạnh Tử: Khảng khái nhân sinh của Vương Diệu Huy, Nxb Văn nghệ

Trường Giang, 1993; 老子自然人生 Lão Tử: Tự nhiên nhân sinh của Đới Kiến

Nghiệp, Nxb Văn nghệ Trường Giang, 1993; 韩非权术人生 Hàn Phi: Quyền thuật nhân sinh của Nguyên Trung, Nxb Văn nghệ Trường Giang, 1993; 荀子 进人生 Tuân Tử: Tiến thủ nhân sinh, Nxb Văn nghệ Trường Giang, xuất bản

năm 1993… Tất cả các công trình kể trên dù ở mức độ và nội dung khác nhau, nhưng vẫn là tài liệu quý báu để tác giả kế thừa và phát triển trong luận văn của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn là từ việc nghiên cứu một cách cơ bản và hệ thống nội dung và đặc điểm tư tưởng về con người trong triết học Trung Quốc

cổ đại, luận văn nhằm đánh giá và rút ra ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục

và đào tạo con người Việt Nam hiện nay

Trang 13

3.2 Nhiệm vụ của luận văn: Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, trình bày và phân tích cơ sở xã hội và tiền đề lý luận hình

thành tư tưởng về con người trong triết học Trung Quốc cổ đại;

Thứ hai, trình bày nội dung và những đặc điểm chủ yếu của triết học

Trung Quốc cổ đại về con người qua các vấn đề nguồn gốc, bản chất, vai trò

vị trí con người và việc giáo dục con người; từ đó đánh giá và rút ra ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục và đào tạo con người Việt Nam hiện nay

3.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn: Luận văn không nghiên cứu vấn đề con người trong triết học Trung Quốc nói chung mà chỉ tập trung nghiên cứu nội dung và đặc điểm tư tưởng về con người trong triết học Trung Quốc ở một giai đoạn lịch sử nhất định, đó là thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời luận văn còn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Lôgích và lịch sử, phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp, đối chiếu và

so sánh để nghiên cứu và trình bày luận văn

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Về ý nghĩa khoa học, trên cơ sở trình bày và phân tích những nội dung

và đặc điểm chủ yếu về vấn đề con người trong triết học Trung Quốc trên các mặt nguồn gốc, bản chất, vai trò, vị trí con người trong các quan hệ xã hội và việc giáo hóa con người, luận văn đã góp phần hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về con người trong triết học Trung Quốc thời kỳ cổ đại

Về ý nghĩa thực tiễn, thông qua việc đánh giá những giá trị và hạn chế

của triết học Trung Quốc cổ đại về con người, luận văn góp phần rút ra những

Trang 14

bài học bổ ích đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo nhân tố con người, phục

vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay Kết qủa của

đề tài luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử triết học, Đạo đức học trong các trường Cao đẳng và Đại học ở Việt Nam

6 Kết cấu cơ bản của luận văn

Luận văn được kết cấu thành: Phần mở đầu, Phần nội dung; gồm 2 chương, 4 tiết và Phần kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 15

Chương 1 ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG

TƯ TƯỞNG VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC

TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

1.1 ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

1.1.1 Sự biến đổi về xã hội và sự băng hoại về đạo đức luân lý trong

xã hội Trung Hoa thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc với sự hình thành tư tưởng về con người trong triết học Trung Quốc cổ đại

Là một hình thái ý thức xã hội, quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng triết học, một mặt luôn phản ánh và chịu sự quy định của đặc điểm điều kiện lịch sử xã hội; mặt khác, là sự tiếp thu, kế thừa các tư tưởng triết học trước đó Đúng như C Mác và Ph Ăngghen đã nói: “Chính con người khi phát triển sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình đã làm biến đổi, cùng với hiện thực đó của mình, cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình, không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sống quy định ý thức” [65, tr 38]

Trong triết học Trung Quốc cổ đại, vấn đề con người được các nhà tư tưởng quan tâm và trở thành một trong những vấn đề trung tâm của triết học Trung Quốc cổ đại Đó không phải là vấn đề có tính chất ngẫu nhiên, hư vô hay từ ý muốn chủ quan của các nhà triết học, mà nó chính là sự phản ánh đòi hỏi của điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị xã hội và là sự kế thừa những tư tưởng trước đó của người Trung Hoa cổ đại Nói cách khác, nó là sản phẩm lịch sử, xuất phát từ đặc điểm, yêu cầu của thời đại và dân tộc Trung Hoa thời

kỳ Xuân thu - Chiến quốc; như C Mác đã viết: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học.” [64, tr 56] Do vậy, khi nghiên cứu về con người trong triết

Trang 16

học Trung Quốc không thể không nghiên cứu cơ sở xã hội hình thành nên nó Nhìn một cách tổng quát nhất, có thể nói, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng về con người trong triết học Trung Quốc cổ đại xuất phát từ hai đặc

điểm điều kiện xã hội chính: một là, sự biến đổi lớn lao và sâu sắc về trật tự thể chế xã hội Trung Quốc thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc; và hai là, sự băng

hoại về luân lý đạo đức trong xã hội Trung Quốc thời kỳ này

Trước hết là sự biến đổi của xã hội Trung Quốc thời kỳ Xuân thu -

Chiến quốc: Về mặt lịch sử, thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc là thời kỳ xã hội

biến chuyển từ chế độ nô lệ mà đỉnh cao là chế độ tông pháp nhà Tây Chu sang chế độ phong kiến sơ kỳ, bắt đầu từ khi Chu Bình Vương dời đô về phía đông trên đất Lạc Ấp năm 780 trước Công nguyên - thời kỳ trật tự lễ nghĩa, chuẩn mực luân lý đạo đức của chế độ xã hội cũ suy vi và mất dần vai trò lịch

sử của nó, nhưng trật tự thể chế, pháp luật và các chuẩn mực đạo đức của chế

độ xã hội mới đang hình thành, chưa đóng vai trò thống trị trong xã hội

Về mặt kinh tế, đây là thời kỳ xã hội Trung Hoa có sự biến chuyển hết

sức sâu sắc; chế độ “tỉnh điền” 井田 dần bị phá bỏ, chế độ sở hữu ruộng đất tư nhân xuất hiện, nhất là sang thời kỳ Chiến quốc Đây là cơ sở kinh tế - xã hội cho việc hình thành giai cấp mới - giai cấp quý tộc địa chủ trong xã hội, đấu tranh chống lại địa vị, lợi ích và xoá bỏ tàn dư của giai cấp quý tộc cũ Nếu thời kỳ nhà Hạ, nhà Thương và đặc biệt là nhà Chu đồ đồng thau ngày càng phát triển, thì cuối Xuân thu đến đầu Chiến quốc công cụ bằng sắt đã trở thành phổ biến trong các ngành sản xuất xã hội Điều này đã được chứng minh bằng kết quả của cuộc khảo cổ học năm 1954 ở tỉnh Hà Nam, đã phát hiện được một ngôi mộ trong đó có hơn 90 công cụ sản xuất gồm các loại cày, cuốc, xẻng, liềm, dao, búa… và hơn 70 binh khí bằng sắt thời Chiến quốc Cùng với sự tiến bộ về công cụ sản xuất, thời Xuân thu người trung Quốc bắt đầu sử dụng súc vật như trâu, bò, ngựa làm sức kéo Cho nên thời Xuân thu nhiều người đặt tên chữ “canh” 耕 (cày) và chữ “ngưu” 牛 (trâu, bò) gần nhau,

Trang 17

phản ánh một thực tế việc dùng trâu bò để cày ruộng là khá phổ biến ở thời Xuân thu - Chiến quốc

Cùng với sự phát triển công cụ, phương tiện sản xuất, sự tiến bộ trong sản xuất nông nghiệp còn thể hiện ở kỹ thuật “dẫn thuỷ nhập điền”, mở mang thuỷ lợi, góp phần vào việc khẩn hoang đất đai, thay đổi thói quen và kỹ thuật canh tác Thời Xuân thu - Chiến quốc các công trình thuỷ lợi được xây dựng ở nhiều nước, từ lưu vực Hoàng Hà tới lưu vực Trường Giang, từ biển Đông đến vùng Tứ Xuyên

Năm 597 trước Công nguyên, Tôn Thúc Ngao của nước Sở chủ trì xây dựng thuỷ khố theo mô hình lớn đầu tiên của Trung Quốc Tại nước Ngô, thời Phù Sai (thế kỷ V trước Công nguyên) đã đào một hệ thống kênh nối dài Trường Giang với sông Hoài và nối sông Hoài với các con sông ở gần lưu vực Hoàng Hà Từ năm 256 trước Công nguyên đến năm 251 trước Công nguyên, Thái thú Lý Băng của quận Thục nước Tần và con trai là Nhị Lang đã chỉ huy dân binh Tứ Xuyên xây dựng đập Đô Giang, một công trình thuỷ lợi chủ chốt của Trung Quốc cổ đại Ngoài đập Đô Giang, thời Tần còn có kênh đào Trịnh Quốc (do một người tên là Trịnh Quốc người nước Hàn thiết kế), có tác dụng dẫn nước từ huyện Kinh (Thiểm Tây) vào Lạc Thuỷ, dài hơn 3000 dặm, biến

200 vạn mẫu đất chua phèn của bình nguyên Quan Trung thành đất canh tác màu mỡ, đạt sản lượng cao Nước Tần nhờ đó trở nên giàu mạnh; ngoài ra còn

có kênh Tây Mông Báo ở nước Nguỵ, kênh Hồng, kênh Hàn ở nước Tề, nước

Sở, không những đã đảm bảo tưới tiêu cho đồng ruộng, hạn chế hạn hán và lũ lụt mà còn có vai trò quan trọng trong giao thông đi lại thông thương từ Hoàng Hà đến Trường Giang

Sự phát triển công cụ sản xuất cùng với hệ thống thuỷ lợi đã không chỉ thúc đẩy mạnh mẽ việc khẩn hoang đất đai, mở rộng diện tích canh tác mà còn phát triển nhiều loại cây trồng và cải tiến kỹ thuật canh tác như thâm canh, luân canh, tạo điều kiện tăng năng suất lao động, dẫn đến sự thay đổi sâu sắc trong quan hệ sản xuất cổ truyền ở thời kỳ Tây Chu và thời kỳ Xuân thu

Trang 18

Trong văn giáp cốt đã thấy ghi nhiều loại ngũ cốc và cây trồng như lúa, kê, lúa mì, dâu tằm… Còn theo tính toán của Lý Khôi, nhà cải cách nước Nguỵ đầu thời Chiến quốc thì mỗi mẫu ruộng trung bình mỗi năm thu hoạch được 1 thạch 5 đấu, năm được mùa có thể thu gấp bốn lần

Nếu trước đây, dưới thời Tây Chu vua chúa được coi là người thay mặt trời trị vì dân chúng trên mặt đất, nắm giữ toàn bộ của cải trong xã hội, đó là sức lao động nô lệ và ruộng đất, thì giờ đây công xã đã giao hẳn đất công cho từng gia đình nông nô cày cấy trong thời hạn lâu dài Do đó họ có điều kiện để chuyên canh, luân canh nhằm tăng năng suất lao động Sự phân hoá đất công còn diễn ra mạnh mẽ một phần do các quý tộc thương nhân giàu có dùng tiền mua bán ruộng đất, một phần do chư hầu phong cấp đất cho các công khanh, đại phu có công, và một phần khác do bọn quý tộc ỷ quyền thế chiếm làm ruộng tư và đất tự nhiên do được phép khẩn hoang đã trở thành đất tư

Chế độ “tỉnh điền” dần tan rã, chế độ tư hữu ruộng đất từng bước hình thành, nhất là từ sau các cuộc biến pháp của Quản Trọng, Ngô Khởi, Thương Ưởng… ở các nước Tề, Nguỵ, Tần, Triệu… Nó là cơ sở kinh tế - xã hội cho giai cấp quý tộc mới - quý tộc địa chủ ra đời và chiếm ưu thế trong xã hội đương thời Theo chế độ “tỉnh điền”, ruộng đất công được chia cho các gia đình nông nô canh tác theo hình chữ “tỉnh”, có chín ô Tám gia đình nông nô cày cấy tám ô xung quanh, có trách nhiệm cùng canh tác ô ở giữa để thu hoa lợi nộp cho triều đình “Đời Hạ mỗi người chủ gia đình được cấp cho năm chục mẫu ruộng, mỗi mùa phải cống nạp cho nhà vua số hoa lợi trung bình

của năm chục mẫu Đó gọi là phép cống 貢 Qua đời nhà Ân, mỗi người chủ trong gia đình được cấp cho bảy chục mẫu ruộng mà làm và hưởng trọn hoa lợi Nhưng tám gia đình phải chung sức với nhau làm khoảnh ruộng công bảy

chục mẫu ở giữa Đó gọi là phép trợ 助 Đến đời nhà Chu, mỗi gia đình được cấp một trăm mẫu ruộng và cũng làm mà hưởng hoa lợi Nhưng tám gia đình phải chung sức với nhau làm mảnh ruộng một trăm mẫu ở giữa để nộp hoa lợi

Trang 19

Khi chế độ tư hữu ruộng đất phát triển, số ruộng đất do nông dân sở hữu không bằng nhau, nhà nước đã bãi bỏ cách đánh thuế cũ mà thi hành chính sách thu thuế đánh vào từng mẫu ruộng (gọi là thuế sơ mẫu) Nước đầu tiên thi hành chế độ thu thuế mới là nước Lỗ vào năm 594 trước Công nguyên Cùng với chế độ thu thuế mới, các nước cũng thi hành chế độ quân sự mới Chế độ quân sự mới ở nước Lỗ gọi là “khâu giáp”, nước Trịnh gọi là “khâu phú”

Do sự biến đổi của nền kinh tế - xã hội, đặc biệt là phân công lao động

xã hội, thủ công nghiệp thời Xuân thu - Chiến quốc cũng đã có sự biến chuyển

cả về công cụ, kỹ thuật sản xuất, trình độ chuyên môn hoá lẫn sự xuất hiện các ngành nghề mới Từ thời nhà Hạ, các nghề làm đồ gốm, đúc đồng đã hình thành Theo truyền thuyết, Hạ Vũ dùng đồng để làm vũ khí, đúc cửu đỉnh tượng trưng cho chín châu của Trung Quốc, gồm Ký, Thanh, Duyên, Từ, Dương, Dự, Kinh, Lương, Ung Đời nhà Thương và thời Tây Chu các nghề thủ công nghiệp phát triển phong phú hơn như các nghề mộc, nghề làm đồ gốm, nghề dệt lụa… và đặc biệt là nghề đúc đồng thau rất phát triển về quy

mô cũng như kỹ thuật sản xuất Trong đó nổi bật là việc sản xuất ra các vật dụng phục vụ cho việc thờ cúng và sinh hoạt của giai cấp quý tộc như đồ tế lễ,

đồ uống rượu, chuông, đỉnh hình, gương đồng, cùng với vũ khí và các công cụ sản xuất như lưỡi cày, cuốc, cưa, búa, dao, kiếm ngắn với trình độ kỹ thuật và nghệ thuật khá cao Trên đồ đồng thời Tây Chu thường có khắc chữ mà nội dung nói về việc ban thưởng, phong tặng ruộng đất, nô lệ và những vấn đề liên quan đến chính trị xã hội

Bên cạnh nghề làm đồng thau, các nghề thủ công khác như nghề làm đồ gốm, đồ đá, đồ ngọc, đồ xương, đồ da, nghề mộc, nghề dệt lụa, nghề đóng xe, đóng thuyền, nghề làm vũ khí… đều đạt đến trình độ khá cao Cuối thời kỳ Xuân thu sang thời kỳ Chiến quốc nghề luyện sắt rất phát triển với kỹ thuật tiến bộ rất nhanh Nước Ngô dựng lò luyện sắt lớn đến 300 người thụt bễ, đổ

than; nước Tấn trưng thu sắt để đúc đỉnh hình Trong sách Chu Lễ đã viết về

Trang 20

sự phát đạt của các ngành nghề chuyên môn thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc rằng: “Thợ mộc chiếm bảy phần, thợ kim khí chiếm sáu phần, thợ thuộc da chiếm năm phần, thợ nhuộm chiếm năm phần, thợ nề chiếm hai phần…” Các nước đều hình thành những trung tâm luyện sắt lớn như Hàm Đan nước Triệu, Đường Khê nước Hàn, Lâm Truy nước Tề… Thợ thuyền tuy có nhiều nhưng

vì trình độ còn thấp nên họ chưa có ảnh hưởng nhiều trong xã hội Các ngành nghề thủ công quan trọng như nghề sắt, nghề làm muối, làm vũ khí… đều do nhà nước trực tiếp quản lý Ngoài ra, nền thủ công nghiệp tư nhân cũng có sự phát triển Những nghề sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải có nhiều vốn và quyền thế như nghề làm muối, luyện sắt thường do các nhà giàu kinh doanh, nhưng tất nhiên phải chịu sự quản lý của nhà nước Có nước chư hầu đã đặt ra chức quan chuyên quản lý về sắt và muối Những người kinh doanh sản phẩm này phải nộp 3/10 số thu nhập cho nhà nước

Cùng với sự phát triển của sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp, thương nghiệp thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc cũng phát triển Nhiều sản phẩm khá phong phú của các ngành nghề thủ công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, chăn nuôi được đem ra trao đổi trên thị trường Trong số các nước chư hầu thì nước Tề, nước Trịnh là những nước có nền thương nghiệp phát đạt nhất do ở gần biển và là giao điểm của các trục đường giao thông ở Trung Quốc thời bấy giờ Trong xã hội đã xuất hiện những thương nhân giàu có và ngày càng có thế lực, tạo ra sự phân hoá xã hội ngày càng sâu sắc, như Huyền Cao nước Trịnh, Tử Cống nước Tề Chính Khổng Tử đã nói về Tử Cống, người học trò của mình rằng: “Trò Tứ chẳng yên chịu với số phận, bèn đi buôn mà trở nên giàu có, nhưng liệu lượng muôn vạn lần đều trúng - 賜不受命, 而貨殖焉,億則屢中 - Tứ bất thọ mệnh, nhi hoá thực yên, ức tắc lũ trúng” (Luận

ngữ, Tiên tấn, tiết 18) Tuy nhiên, do tình trạng xã hội rối ren, phương tiện

giao thông thô sơ, lãnh thổ chia năm xẻ bảy, chiến tranh giữa các thế lực cát

cứ phong kiến xảy ra liên miên nên việc giao thương buôn bán rất khó khăn

Trang 21

thương” 重農抑商 của người Trung Quốc cổ, nghề buôn bán thời bấy giờ bị coi

là nghề rẻ mạt trong xã hội, nên nó cũng chưa thực sự phát triển Nhưng sự biến chuyển của nền thương nghiệp cũng đã tạo ra trong xã hội một tầng lớp quý tộc mới Tầng lớp này với thế lực ngày càng mạnh, kết giao với vua các nước chư hầu, với những người có quyền thế trong xã hội như công khanh, đại phu, gây nhiều ảnh hưởng đối với nền chính trị đương thời và tìm cách leo lên tranh giành quyền lực đối với giai cấp quý tộc cũ [8, tr 33-34]

Trong quá trình phát triển của thương nghiệp, thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc, tiền tệ cũng đã xuất hiện Thực ra từ thời nhà Thương, người ta đã dùng

vỏ ốc biển để làm vật môi giới trong trao đổi sản phẩm làm ra, gọi là “bối”貝

Nhưng sang thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc tiền kim loại mới được dùng một cách phổ biến Mỗi nước chư hầu sử dụng một loại tiền riêng với hình thức khác nhau Các nước Triệu, Nguỵ, Hàn dùng tiền hình lưỡi xẻng, gọi là bố 布; nước Yên nước tề dùng tiền hình con dao, gọi là đao 刀; còn nước Tấn thì dùng tiền hình tròn Ngoài tiền bằng đồng ra, thời Chiến quốc còn dùng vàng làm tiền tệ

Các đơn vị tiền vàng có dật 逸, cân 斤, kim 金, dùng để mua những thứ

có giá trị lớn như thiên lý mã, bảo kiếm… Trong đó, dật là đơn vị bằng 24 lạng, 1 cân bằng 16 lạng, 1 kim bằng 8 lạng Đặc biệt, thời Xuân thu - Chiến quốc, đô thành các nước chư hầu và một số thành ấp lập nên trên những trục

lộ giao thông trọng yếu đã trở thành những trung tâm công thương nghiệp cũng như trung tâm chính trị sầm uất, như Hàm Dương nước Tấn, Thọ Xuân nước Sở, Lâm Truy nước Tề, Hàm Đan nước Triệu, Khai Phong nước Nguỵ, Lạc Dương nước Chu

Về chính trị xã hội, trên cơ sở sự chuyển biến về lịch sử và sự phát triển

về kinh tế, sự biến động về xã hội ở thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc cũng diễn

ra hết sức sôi động và sâu sắc, ảnh hưởng, chi phối đến việc hình thành tư tưởng về con người trong triết học Trung Quốc cổ đại Có thể khái quát sự

biến đổi về chính trị - xã hội Trung Quốc cổ đại được thể hiện ở các mặt: một

Trang 22

là, sự đảo lộn về trật tự lễ nghĩa, trật tự thể chế xã hội; hai là, sự phân hoá

đẳng cấp và nạn “tiếm ngôi việt vị” 僭嵬越位; và ba là, các cuộc chiến tranh

liên miên và ác liệt giữa các nước chư hầu, hòng tranh giành đất đai, quyền lực, làm bá chủ thiên hạ

Như chúng ta đã biết, sự phát triển của chế độ nô lệ ở Trung Quốc cổ đại trải qua thời kỳ nhà Hạ, nhà Thương và đạt đến đỉnh cao ở thời Tây Chu Thời kỳ Tây Chu, vua nhà Chu tự xưng là Thiên tử, là chúa tể tối cao chiếm

toàn bộ đất đai và thống trị mọi thần dân trong nước Kinh Thi đã viết: “Dưới

bầu trời, không nơi nào không phải đất của nhà vua; trên mặt đất, không người nào không phải là tôi của nhà vua - 普天下,莫非王土;率土之濱,莫非王臣 - Phổ thiên

hạ, mạc phi vương thổ; suất thổ chi tân, mạc phi vương thần” (Mạnh Tử, Vạn

Chương thượng, tiết 4)

Thiên tử nhà Chu cai trị thiên hạ theo chế độ tông pháp và phân phong, tức cai trị theo dòng dõi và phân đất đai, phong tước vị kèm theo, gồm các chức từ lớn đến nhỏ như “công” 公, “hầu” 侯, “bá”伯, “tử” 子, “nam” 男 Vua đặt ra các chức quan như tư mã, tư đồ, tư không, tư khấu Thiên tử phân phong đất đai chức tước cho nội thân ngoại thích và công thần làm chư hầu để

họ dựng nước và trị dân Chư hầu lại phong đất đai và dân cho công khanh, đại phu và tầng lớp quý tộc Trật tự lễ nghĩa, thể chế xã hội thời kỳ này hết sức chặt chẽ và tôn nghiêm Trong đó, thứ dân phải phục tùng sĩ, sĩ phục tùng công khanh, đại phu, công khanh, đại phu phục tùng chư hầu, chư hầu phục tùng Thiên tử Chư hầu có nhà nước riêng, quân đội và ngân khố riêng, nhưng đều phải thần phục mệnh lệnh của Thiên tử nhà Chu, như chế độ triều cống, triều hội và mệnh lệnh chinh phạt Vì thế mối liên hệ giữa chư hầu với Thiên

tử vừa có ý nghĩa về mặt chính trị vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế và huyết thống Điều đó làm cho nền cai trị của nhà Chu tương đối ổn định lâu dài Tuy nhiên, đến thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc, chế độ tông pháp nhà Chu không còn giữ được trật tự và uy nghiêm như trước; đầu mối các quan hệ về kinh tế,

Trang 23

chính trị, quân sự giữa Thiên tử và các nước chư hầu ngày càng lỏng lẻo, quan

hệ huyết thống ngày càng xa Đặc biệt chế độ lễ tiết tôn nghiêm và chặt chẽ của nhà Chu không còn được tôn trọng Tình trạng trật tự lễ nghĩa, cương thường đảo lộn; đạo đức luân lý suy đồi ở thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc được biểu hiện ra qua các tệ nạn “tiếm ngôi việt vị” và chiến tranh nhằm tranh giành quyền thế giữa các nước chư hầu diễn ra liên miên và hết sức quyết liệt Trong đó, chư hầu chiếm dụng lễ của Thiên tử, đại phu chiếm dụng lễ của chư hầu Chẳng hạn, năm thứ 31 đời Hy Tông nước Lỗ đã tiếm lễ Giao của Thiên

tử, “mùa hạ, tháng tư, bốn lần bói về việc tế Giao.”[42, tr 192] Tế Giao là tế trời Thiên tử được coi là con trai trưởng của trời, thay mặt trời trị vì thiên hạ, phân phong và trong coi các chư hầu thì chỉ Thiên tử mới được tế Giao; còn chư hầu chỉ cai quản khu vực được Thiên tử phân phong thì chư hầu chỉ tế xã tắc, không cần phải biết núi sông của thiên hạ, nên không được tế Giao

Không chỉ Thiên tử bị tiếm tế mà vua chư hầu cũng bị mất quyền vào tay các công khanh, đại phu “Tháng ba, Lỗ công hội tại Cức Lương với Tấn hầu, Tống công, Vệ hầu, Trịnh bá, Tào bá, Cử tử, Châu tử, Tiết bá, Kỷ bá, Tiểu Châu tử ngày mậu dần, các đại phu thề - Tam nguyệt, Công hội Tấn hầu, Tống công, Vệ hầu, Trịnh bá, Tào bá, Cử tử, Châu tử, Tiết bá, Kỷ bá, Tiểu Châu tử vu Cức Lương, mậu dần, đại phu minh” [44, tr 104] Tước vị của vua chư hầu nay chỉ còn đứng trên danh nghĩa, quyền hành đã bị các đại phu chiếm đoạt, nên để các đại phu thề

Thậm chí, ở nước Lỗ các đại phu tiếm quyền vua chư hầu công khai và lâu dài hơn các chư hầu khác, nên Khổng Tử đã phải than rằng: “Các món thuế của nước Lỗ chẳng vào kho thất của vua, lại lọt vào tay mấy nhà đại phu quyền thế đã năm đời vua rồi Tuy trong nước có vua, nhưng chính quyền nước Lỗ đã vào tay đại phu bốn đời rồi Vì vậy thế lực của ba nhà đại phu Quý, Thúc, Mạnh là con cháu của vua Hoàn công, nay đến lúc suy vi - 祿之去 公室五世矣; 政逮於大夫四世矣.故夫三桓之子孫微矣 - Lộc chi khử công thất, ngũ thế

hỹ Chính đãi ư đại phu, tứ thế hỹ Cố phù tam Hoàn chi tử tôn vi hỹ.” (Luận

Trang 24

ngữ, Quý thị, 3) Vào năm 609 trước Công nguyên, vua Lỗ Văn công mất,

công tử Xích được chọn lên ngôi, nhưng bị giết Các công tử bèn lập ông Tuyên công lên Nhưng Tuyên công chỉ lên ngôi trên danh nghĩa, còn tất cả thực quyền đều do Quý Võ tử nắm Rồi đến những đời vua sau như Thành công, Tương công, Chiêu công, Định công đều bị họ Quý, họ Thúc, họ Mạnh lấn quyền, thu thuế cho vào tư thất của mình

Cùng với việc tiếm quyền vua chư hầu, các đại phu còn tiếm lễ của Thiên tử Quý Khương tử làm quan đại phu nước Lỗ, theo trật tự lễ tiết nhà Chu, chỉ được dùng lễ tứ dật (gồm 4 hàng học trò đứng múa, mỗi hàng có 4 người, cộng là 16 người đứng múa), nhưng đã dùng lễ bát dật (gồm 8 hàng học trò đứng múa, mỗi hàng có 8 người, cộng là 64 người đứng múa), là lễ chỉ dành riêng cho Thiên tử để lễ tổ tiên của mình, là tiếm lễ Chính vì thế Khổng

Tử đã trách họ Quý rằng: “Người ấy dám dùng lễ bát dật mà múa ở miếu đình nhà mình, việc đó mà người ấy nhẫn tâm làm được, thì việc gì mà người ấy chẳng nhẫn tâm làm? - 八佾舞於庭,是可忍也,孰不可忍也 - Bát dật vũ ư đình, thị

khả nhẫn dã; thục bất khả nhẫn dã?” (Luận ngữ, Bát dật, 1) Không riêng họ

Quý, nhiều quý tộc khác cũng đua nhau tiếm vị Thiên tử, như các nhà quyền thế làm quan đại phu nước Lỗ là họ Mạnh tôn, họ Thúc tôn, khi tế ông bà ở nhà thờ xong, bèn tụng thi Ung để triệt đồ cúng Thi Ung là để giành riêng cho bậc Thiên tử khi tế xong Nay chỉ là bậc đại phu của một nước chư hầu là nước Lỗ mà dám giành tụng, thì đó là việc làm không đúng lễ, là loạn danh, là tiếm vị, biểu hiện rõ sự đảo lộn trật tự lễ nghĩa, thể chế xã hội thời Xuân thu - Chiến quốc Khổng Tử đã viết: “Trợ tế chỉ có hàng tích công tức là vua chư hầu; chủ tế là bậc Thiên tử, phúc đức rộng thay! Nay ba nhà ấy chẳng phải là ngôi Thiên tử, cũng chẳng phải là bậc chư hầu, vậy lấy danh nghĩa gì mà dùng tụng thi Ung nơi miếu đường? - 三家者以雍徹 子曰: 相維辟公; 天子穆穆! 奚取於三家

之堂 ? - Tam gia giả dĩ Ung triệt Tử viết: Tướng duy tích công; Thiên tử mục

mục! Hề thủ ư tam gia chi đường?” (Luận ngữ, Bát dật, 1)

Trang 25

Cùng với nạn “tiếm ngôi việt vị”, chế độ triều cống, chinh phạt cũng bị các chư hầu tự ý phá bỏ Thậm chí các nước lớn còn mượn danh Thiên tử bắt các nước nhỏ cống nạp và lệ thuộc vào mình Theo Tử Sản, mỗi lần nước Trịnh cống nạp cho nước Tấn “phải dùng đến một trăm xe chở lụa và da thú”

(Quốc ngữ, Trịnh ngữ) Chế độ lễ nghi nhà Chu trở thành các hình xáo rỗng

Việc tang, viếng, tế lễ, hiếu hỷ trở thành thủ đoạn ngoại giao chứ không còn là

lễ nghĩa thực sự trong quan hệ gia tộc và ngoài xã hội nữa Do đó, Thiên tử nhà Chu không còn quyền uy gì với các nước chư hầu Nhiều nước chư hầu mượn danh nghĩa khôi phục lại địa vị tông chủ của Thiên tử nhà Chu, đề ra khẩu hiệu “tôn vương bài Di”, đua nhau động binh, mở các cuộc chinh phạt để tăng cường bành trướng thế lực, chiếm đất đai và thần dân, thôn tính các nước chư hầu nhỏ yếu, tranh giành địa vị bá chủ thiên hạ Năm thứ hai đời Lỗ Ẩn công “người Trịnh phạt Vệ - Trịnh nhân phạt Vệ” [43, tr 59]; năm thứ tư đời

Lỗ Ẩn công “mùa xuân, vương, tháng hai, người Cử phạt nước Kỷ, chiếm đất Mâu Lâu” [43, tr 70] Thời Xuân thu có khoảng 242 năm mà đã xảy ra 483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ Chiến tranh ác liệt và liên miên giữa các nước chư hầu, thiên hạ đại loạn, khiến Khổng Tử phải nhắc lại câu của Kiệt Nịch rằng:

“Khắp thiên hạ đều loạn lạc như nước đổ cuồn cuộn Ai có thể làm thay đổi được? - 滔滔者天下皆是也,而誰以易之 - Thao thao giả thiên hạ giai thị dã, nhi

thuỳ dĩ dịch chi?” (Luận ngữ, Vi Tử, 6) Các cuộc chiến tranh tranh giành đất

đai và quyền thế không chỉ khiến cho người dân lâm vào cảnh lầm than, bởi

“ngày nào mà chẳng đi chinh chiến” [48, tr 1318], mà còn dẫn tới sự diệt vong của một loạt các nước chư hầu, phá bỏ trật tự lễ nghĩa của nhà Chu, làm cho mâu thuẫn trong giai cấp thống trị ngày càng gay gắt, xã hội ngày càng loạn lạc Trong đó có những nước hùng mạnh nhất thời bấy giờ thay nhau làm

bá thiên hạ là Tề, Sở, Tống, Ngô, Việt, Tần Những nước này trở nên hùng mạnh và làm minh chủ các nước khác là do vua chúa các nước này dùng chính sách “bá đạo” để cai trị đất nước, thần dân của họ Mới đầu có cục diện “Ngũ bá”, gồm Hoàn công nước Tề, Văn công nước Tấn, Mục công nước Tần,

Trang 26

Trang vương nước Sở Cuối thời Xuân thu có thêm Ngô vương Phù Sai và Việt vương Câu Tiễn

Đến thời Chiến quốc, chỉ còn bảy nước lớn là Tề, Sở, Yên, Tần, Hàn, Triệu, Nguỵ, tạo thành cục diện “Thất hùng”, thường xuyên gây chiến với quy

mô lớn và tàn khốc hơn thời Xuân thu để giành ngôi bá chủ thiên hạ Đời sống thần dân vì thế ngày càng cùng cực hơn Mạnh Tử đã viết: “Đánh nhau giành đất, giết người thây phơi đầy đồng; đánh nhau tranh thành, giết người thây phơi đầy thành Như vậy như là cho đất ăn thịt người, tội chết cũng không đủ

để đền tội - 爭地以戰, 殺人盈野; 爭城以戰, 殺人盈城 此所謂率土地而食人肉 罪不容於死

- Tranh địa dĩ chiến, sát nhân doanh dã; tranh thành dĩ chiến, sát nhân doanh

thành Thử sở vị suất thổ địa nhi thực nhân nhục Tội bất dung ư tử.” (Mạnh

Tử, Ly Lâu thượng, 14)

Chỉ đến năm 221 trước Công nguyên, Tần Thuỷ Hoàng với chính sách chú trọng phát triển nông nghiệp, tăng cường phát triển quân sự, thực hiện biến pháp triệt để dựa trên tư tưởng của Pháp gia, sử dụng thuật “liên hoành”, lần lượt đánh bại sáu nước phía đông Trung Quốc là Tề, Sở, Yên, Tề, Hàn, Triệu, Ngụy, mới chấm dứt các cuộc chiến tranh phân quyền loạn lạc, xây dựng nên nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên ở Trung Quốc Đánh giá tình trạng trật tự xã hội Trung Hoa đảo lộn thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc, Khổng Tử đã viết: “Thiên hạ có đạo tất lễ, nhạc, chinh, phạt từ Thiên tử phát ra Thiên hạ vô đạo thì lễ, nhạc, chinh, phạt từ chư hầu phát ra - Thiên hạ hữu đạo tắc lễ, nhạc, chinh, phạt tự Thiên tử xuất Thiên hạ vô đạo, tắc lễ, nhạc, chinh, phạt tự chư hầu xuất 天下有道, 則禮樂征伐自天子出.天下無道, 則禮樂征 伐自諸候出” (Luận ngữ, Quý thị, 2) Sự biến động của xã hội với các cuộc chiến

tranh liên miên và tàn khốc thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc đã dẫn tới hai hệ quả lớn, khiến các nhà tư tưởng Trung Quốc cổ đại phải quan tâm chú ý đến

vấn đề con người, đó là đời sống cực khổ của nhân dân lao động và sự băng

hoại về đạo đức luân lý xã hội Trung Hoa thời kỳ này

Trang 27

Trong thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc, để tiến hành chiến tranh tranh giành quyền bá chủ thiên hạ và sống một cuộc sống xa hoa tên xương máu của người dân, vua chúa và bọn quý tộc các nước chư hầu đua nhau bóc lột sức lực và của cải của nhân dân lao động Người dân ngoài việc phải đi chiến trận thực hiện các cuộc chinh phạt do bọn vua chúa các nước chư hầu phát động, chịu cảnh chết chóc, ly tán, họ còn phải chịu cảnh sưu cao, thuế nặng, phu phen, lao dịch nặng nề Thiên tai, mất mùa thường xuyên xảy ra, nạn trộm cướp, giết người nổi lên khắp nơi làm cho đời sống của người dân càng thêm cực khổ, điêu đứng Trong xã hội, cảnh tôi giết vua, con hại cha, anh em, vợ chồng chia lìa làm cho xã hội càng thêm loạn lạc, đạo đức càng thêm suy đồi

“Trần Thành tử, đại phu nước Tề, giết vua mình là Giản công - 陳成子弒简公

Trần Thành tử thí Giản công” (Luận ngữ, Hiến vấn, 22); “Hoàn công nước Tề

giết em mình là công tử Củ - 桓公殺公子糾Hoàn công sát công tử Củ” (Luận

ngữ, Hiến vấn, 17); “Tang Võ Trọng chiếm lấy đất Phường trong nước Lỗ mà

yêu cầu vua nước Lỗ để cho con cháu trong họ mình nối nhau mà cai trị Dẫu cho ông ấy nói rằng mình chẳng hiếp vua, thì ta cũng chẳng tin - 臧武仲以坊求 爲後於鲁.雖曰不要君,吾不信也Tang Võ Trọng dĩ Phường cầu vi hậu ư Lỗ Tuy

viết bất yêu quân, ngô bất tín dã.” (Luận ngữ, Hiến vấn, tiết 15); “Mùa đông,

kẻ cướp giết công tử Phi, công tử Phát, công tử Chiếp nước Trịnh - Đông, đạo sát Trịnh công tử Phi, công tử Phát, công tử Chiếp.” [44, tr 67] Cảnh xã hội loạn lạc và nạn cướp bóc diễn ra thường xuyên khiến Quý Khương tử lo buồn, đến hỏi Khổng Tử về cách làm sao để trị nước và chấm dứt được nạn trộm cướp, Khổng Tử khuyên rằng: “Chính trị là cai trị ngay thẳng, đúng đắn Vua chúa làm việc chính trị mà ngay thẳng, đúng đắn thì ai còn dám bất chính? - 政 者正也.子帥以正孰敢不正 - Chính giả chính dã Tử suất dĩ chính, thục cảm bất chính?”; “Ở trên nhà cầm quyền giữ đức thanh liêm thì ở dưới dân chúng sẽ cảm hoá mà trở nên trong sạch Nay ông là nhà cầm quyền bá tính, nếu ông chẳng có lòng tham, dẫu thưởng cho họ, họ cũng không đi ăn trộm - 苟子之不欲

Trang 28

,雖賞之不竊 - Cẩu tử chi bất dục, tuy thưởng chi bất thiết” (Luận ngữ, Nhan

Uyên,16)

Trong khi người dân phải chịu cảnh cực khổ thì các vương công, đại phu, quý tộc sống xa hoa trên xương máu của dân Họ xây cất những cung điện nguy nga, như cung Bồng Đế của vua Tấn rộng đến mấy dặm, trong cung

chen chúc cung nữ (Tả truyện, Chiêu Công năm thứ ba) Do đói rét, cực khổ,

nạn trộm cướp nổi lên càng nhiều, xã hội càng loạn lạc, bọn thống trị phải tăng cường “hình pháp” để trấn áp Cuộc sống của nhân dân càng thêm cùng quẫn Đó đây đã nổi lên những cuộc khởi nghĩa của nông dân và nô lệ Tất cả tình hình đó đã đẩy mâu thuẫn xã hội thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc lên đỉnh cao, đưa chế độ chiếm hữu nô lệ Trung Quốc lao nhanh đến giờ phút cáo chung [8, tr 36]

Cùng với sự biến động về kinh tế và chính trị, đạo đức luân lý xã hội

thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc cũng băng hoại Điều đó được biểu hiện ở chỗ,

trật tự các quan hệ đạo đức xã hội như: vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh -

em, bè bạn đảo lộn; các chuẩn mực đạo đức xã hội như: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, trung, hiếu, kính, đễ suy đồi Do vậy, khi Khổng Tử và Tề Cảnh công bàn

về chính sự, Tề Cảnh công đã thốt lên: “Vua không ra vua, tôi không ra tôi, cha không ra cha, con không ra con; ta dẫu có lúa đầy kho, có chắc ngồi yên

mà ăn được chăng? - 君不君, 臣不臣, 父不父, 子不子; 雖有粟吾得而食諸? - Quân bất quân, thần bất thần, phụ bất phụ, tử bất tử Tuy hữu túc, ngô đắc nhi thực

chư?” (Luận ngữ, Nhan Uyên,11) Trong xã hội, vua tôi, trên dưới đều chỉ

nghĩ về lợi mà tranh đoạt lẫn nhau, vua không còn huệ, tôi không còn trung nữa, như Mạnh Tử đã viết: “Vua chúa những nước ấy (nước Tấn, Tề, Tần, Sở) đoạt mất thì giờ của dân, khiến dân không cày cấy, trồng trọt được để phụng dưỡng cha mẹ Trong nước họ, những kẻ làm cha mẹ chịu đói rét, anh em, vợ

con ly tán Những vị vua ấy đã hãm hại dân của mình.” (Mạnh Tử, Lương Huệ

Vương thượng, 5) Và “đời càng ngày càng suy, đạo càng ngày càng yếu; lại

Trang 29

những kẻ bề tôi giết vua, có những kẻ làm con giết cha.” (Mạnh Tử, Đằng Văn

mạng dã” (Luận ngữ, Hiến vấn, 38) Và ông lại hoài cổ, nuối tiếc quá khứ, mơ

ước trở về thời kỳ thịnh đức nhà Tây Chu: “甚矣,吾衰也! 久矣, 吾復夢見周公 -

Thậm, hỹ ngô suy dã! Cửu hỹ, ngô bất phục mộng kiến Chu Công.” (Luận

ngữ, Thuật nhi, 5)

Tóm lại, tất cả sự biến đổi toàn diện và lớn lao về lịch sử, kinh tế, chính trị, đạo đức luân lý của xã hội Trung Hoa thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc đã đặt ra một loạt các vấn đề buộc các nhà tư tưởng và các bậc vua chúa thời kỳ này phải giải quyết Trong đó, nổi bật là vấn đề “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, tức vấn đề làm thế nào để có thể ổn định trật tự xã hội và giáo hoá đạo đức con người, đưa xã hội từ “loạn” trở thành “trị”, con người từ “vô đạo” trở thành “có đạo”, “bất nhân” trở thành “nhân nghĩa” Để trả lời và giải quyết vấn đề trên, các nhà triết học Trung Quốc thời kỳ cổ đại tất yếu phải tìm hiểu, nghiên cứu về con người Do đó vấn đề con người đã trở thành một trong những vấn đề trung tâm của triết học Trung Quốc cổ đại

1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng về con người trong triết học Trung Quốc cổ đại

Quan điểm về vấn đề con người trong triết học Trung Quốc cổ đại không chỉ được hình thành, phát triển xuất phát từ đặc điểm điều kiện và nhu

Trang 30

cầu lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội thời Xuân thu - Chiến quốc mà nó còn được hình thành trên cơ sở kế thừa tiền đề lý luận trước đó Đó là quan điểm mang tính chất tiên nghiệm luận về vấn đề xã hội và con người Tiên nghiệm

là có trước kinh nghiệm và không phụ thuộc vào kinh nghiệm Với quan điểm trên, tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại cho rằng mọi đặc tính của con người như tính chất, tinh thần và thân xác của con người là do trời phú, sinh ra

đã có sẵn Đó là quan điểm về đấng toàn năng, tối cao, tuyệt đối sinh ra và quyết định đến sự vận động, biến đổi của vạn vật trong vũ trụ và con người Quan điểm này được trình bày trong các thư tịch cổ và được coi là cội nguồn

của nền văn hóa Trung Quốc cổ đại Các thư tịch cổ điển hình như Thượng

Thư, Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Quốc ngữ, Tả truyện… phản ánh đời sống

tinh thần của nhân dân Trung Quốc ngay từ thời cổ đại và ảnh hưởng ảnh hưởng khá sâu sắc đến các quan điểm về vấn đề con người trong triết học Trung quốc cổ đại

Trước hết, đó là quan điểm cho rằng Trời, Thượng đế sinh ra con người

và vạn vật, đồng thời quyết định, chi phối số phận và vị trí đẳng cấp con người trong xã hội Do xuất phát từ tực tiễn cuộc sống, ngay từ thời cổ đại nhân dân Trung Quốc đã đặt câu hỏi con người và vạn vật có nguồn gốc từ đâu? Nhân tố nào chi phối và quyết định thân phận con người? Sau này khi các triết gia xuất hiện thì họ cũng đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau, nhưng học thuyết nổi bật, sâu sắc có tầm ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần xã hội Trung Quốc cổ đại là thuyết Thiên mệnh trong quan niệm về con người Theo thuyết Thiên mệnh thì mọi sự biến hóa của tự nhiên, của đời sống

xã hội và thân phận con người đều do ý chí của Trời và quỷ thần chi phối Quan điểm này đã trở thành hình thái ý thức xã hội chiếm địa vị thống trị trong đời sống tinh thần của người dân và có ảnh hưởng sâu sắc đến các tư tưởng về vấn đề con người trong triết học Trung Quốc cổ đại Về vấn đề nguồn gốc con người, các kinh sách của Trung Quốc cổ đại đều cho rằng:

Trang 31

“Chỉ có Trời đất là cha mẹ của muôn vật Chỉ có con người ta linh mẫn hơn loài vật” [49, tr 195]

Con người và vạn vật có sự giống nhau, đều do Trời sinh ra nhưng giữa con người và vạn vật cũng có sự khác nhau về bản chất Con người không chỉ được Trời sinh ra mà còn được Trời định ra phép tắc, để phân biệt giữa con người với vạn vật, giúp cho việc tu dưỡng giáo hoá con người ngày một hoàn

thiện Kinh Thi viết: “Chúng dân Trời đã sinh ra Có vạn vận thì có phép tắc”

[48, tr 726 - 727] “Cho nên Trời sinh ra thần vật thì đấng thánh nhân áp dụng theo; Trời đất biến hóa thì đấng thánh nhân bắt chước; Trời bày ra tượng, hiện

ra sự tốt xấu thì đấng thánh nhân phỏng tượng theo; ở sông Hà hiện ra đồ, ở sông Lạc hiện ra thư, thì đấng thánh nhân dụng theo” [12, tr 304] Quan điểm trời đất là nguồn gốc sinh ra vạn vật và con người, quyết định trật tự tự nhiên cũng như trật tự xã hội và đạo đức lễ nghĩa con người còn được thể hiện trong

Tự quái truyện rằng: “Có trời đất rồi sau mới có muôn vật, có muôn vật rồi

sau đó mới có trai gái, có trai gái rồi sau đó mới có vợ chồng, có vợ chồng rồi sau đó mới có cha con, có cha con rồi mới có vua tôi, có vua tôi rồi sau mới

co trên dưới, có trên dưới rồi sau điều lễ nghĩa mới có chỗ đặt” [12, tr 378 379] Đó cũng chính là lý luận “thiên tôn địa ty” của người Trung Quốc cổ

-đại, được thể hiện trong Hệ từ thượng truyện, Chu Dịch rằng: “Trời cao đất

thấp thì đạo kiền khôn đã định vậy; thấp cao bày ra thì sang hèn chia thành ngôi vậy; động tĩnh có thường thì lẽ cứng mềm đã quyết đoán vậy; các loài tụ lại từng phương, các vật chia ra từng bầy, thì sự tốt xấu đã sinh ra vậy; ở trên trời biến thành tượng; ở dưới đất hóa thành hình, thì sự biến hóa đã hiện ra

在天成象,在地成形,變化見矣 - Thiên tôn địa ty, kiền khôn định hỹ; ty cao dĩ trần, quý tiện vị hỹ; động tĩnh hữu thường, cương nhu đoán hỹ; phương dĩ loại tụ, vật dĩ quần phân, cát hung sinh hỹ; tại thiên thành tượng, tại địa thành hình, biến hoá hiện hỹ” [12, tr 259 - 260] Theo quan điểm của người Trung Quốc

cổ đại, Trời không chỉ là căn nguyên của con người và vạn vật trong vũ trụ mà

Trang 32

còn là nguồn gốc biến hóa của đạo, “cái nguồn gốc của đạo tự nơi trời mà ra,

nó không thể dời đổi; cái thực thể của đạo vẫn có đủ nơi ta, chúng ta chẳng nên rời khỏi đạo” [15, tr 42 - 43]

Như vậy có thể nói, ngay từ thời Hạ, Ân, Thương và Tây Chu, người Trung Quốc đã quan niệm Trời, Thượng đế là đấng tối cao sinh ra vạn vật và con người, quyết định, chi phối số phận, vị trí đẳng cấp của con người trong

xã hội Các bậc vương công, quý tộc đương thời nhận mệnh trời để chăn dân, trị nước; thậm chí chính quyền, tài sản, trí tuệ, sự sống lâu của các bậc vua

chúa và sự thấp hèn của nhân dân,… tất cả đều do trời quyết định Trong Kinh

Thư viết: “Họ Hữu Hồ khinh nhờn ngũ hành, trễ nải bỏ cả ba tháng chính đầu

năm Ý trời định tiêu diệt vận mạng của họ ấy Nay, ta kính theo mệnh trời, phạt kẻ có tội” [49, tr 108]

Trong xã hội có sự phân chia vua tôi, trên dưới cũng là do sự quy định của trời “Trời giúp kẻ hạ dân, đặt vua để cai trị, đặt thầy để dạy dỗ, chỉ muốn giúp đỡ đấng Thượng đế, vỗ yên nhân dân ở bốn phương” [49, tr 197] Việc trời đặt vua để cai trị dân không phải vì vua mà vì dân, vua thay trời hành đạo Thậm chí tất cả các cuộc chiến tranh chinh phạt và sự thay đổi các triều đại do

giai cấp thống trị thực hiện, người ta cũng đều nhân danh Thiên mệnh Kinh

Thư viết: “Vua nhà Hạ có tội, giả dối lòng trời, để ban mệnh cho kẻ dưới

Đấng Thượng đế cho là kẻ bất thiện, sai nhà Thương chịu mệnh trời, để làm sáng tỏ cho dân chúng” [49, tr 122]

Trời, Thượng đế không chỉ sinh ra vạn vật và con người, quyết định vị trí, đẳng cấp, số phận con người mà còn muốn con người làm theo những yêu cầu, bổn phận, chức trách mà trời giao phó Ngay cả các phẩm chất đạo đức của con người và những việc thưởng phạt do vua chúa thực hiện, theo quan

niệm của người trung Quốc cổ đại, cũng là do trời quyết định Kinh Thư viết:

“Trời đặt ra có đạo thường, ta nên đó đốc năm đạo thường ấy Trời bày ra có

lễ nghĩa, ta nên thường dùng năm lễ ấy cho có trật tự Cho nên vua tôi cùng phải kính cẩn để trong lòng được ôn hòa Trời sai công việc những người có

Trang 33

đức tốt, thì năm thứ phẩm phục nên rõ rệt ra Trời đánh kẻ có tội, thì năm tội hình nên dùng để trừng giới họ Chính sự trong nước, vua và bày tôi nên cố gắng thêm” [49, tr 72 - 73] Các công việc quan trọng đối với vận mệnh quốc gia, như đặt tên nước, dựng đô, lập vua, từ công khanh, đại phu đến sĩ dân phải tuân theo mệnh trời

Quan điểm thứ hai, góp phần hình thành tư tưởng con người trong triết

học Trung Quốc cổ đại, đó là quan điểm về Trời, Thượng đế có quyền năng

tối cao, rất công minh có thể giám sát và thưởng phạt con người trong các thư

tịch cổ Trung Quốc

Theo Kinh Thư, người Trung Quốc cổ đại cho rằng Trời, Thượng đế

không chỉ sinh ra con người; quyết định vị trí, công việc và số phận con người

mà còn giám sát chặt chẽ quá trình thực thi và hiệu quả công việc của con người Trời luôn ban ân đức, thưởng hậu cho những người nào tuân theo mệnh trời và nghiêm khắc trừng phạt những kẻ phạm tội làm trái ý trời Việc trừng phạt và ban thưởng đó được áp dụng cho tất cả mọi người, không phân biệt thứ bậc, thượng hạ, quân thần trong xã hội Khi Trụ, Kiệt tàn bạo, sa đọa, lãng

quên mệnh trời thì bị Trời trừng phạt và phế truất Kinh Thư viết: “Cho nên

trời bỏ nhà Ân ta Ra tai đói kém, không được ấm no Nhân dân mất cả bản tính trời cho, không cho phép thường nữa” [49, tr 175] Những kẻ thất đức làm điều bạo ngược, sống tàn bạo, xa đoạ, trái với đạo lý, trái với mệnh lệnh

và ý chí trời định đều bị trời trừng trị Đó là những kẻ: “Ham rượu chè, say nữ sắc dám làm những điều bạo ngược Ai có tội, bắt tội cả họ hàng Dùng người chỉ theo thế hệ, không cứ tài giỏi Dinh thự, lâu đài, thủy tạ, đầm ao, cái gì cũng xa xỉ, tàn hại muôn dân các người Đốt cháy, nướng cả người trung lương; mổ cắt người đàn bà chửa Vì thế, trời giận dữ, sai đức Văn khảo (vua Văn Vương) ta, kính đem uy lịch của trời, trừ kẻ tàn ngược” [49, tr 195 - 196]

Việc vua bị truất ngôi, nước suy vong do các bậc vua chúa không sống đúng đạo của bậc Thiên tử, không theo mệnh trời, không thuận lòng dân và do

Trang 34

con người không sống đúng đạo lý, cương thường đảo lộn, trật tự lễ nghĩa băng hoại, theo quan niệm của người Trung Hoa cổ đại, cũng là do trời trừng

phạt Kinh Thư có viết: “Mệnh trời không cho vua Trụ, chỉ vì không biết sáng

tỏ đức tốt”, và “tất cả nước nhỏ, nước lớn trong bốn phương mà bị mất nước; trời sở dĩ phải trọng phạt không khi nào là không có cớ [49, tr 322]

Cùng với sự nghiêm khắc, công minh trong việc trừng trị những tàn kẻ

ác, vì đã làm trái Thiên mệnh và không thuận lòng dân; trời cũng rất khoan dung, sáng suốt trong sự yêu ghét cũng như trong việc ban thưởng phúc lộc cho những ai thuận theo lòng dân, tuân theo mệnh trời, giữ đạo cương thường

Trong Kinh Thư đã viết: “Trời, tai mắt sáng suốt, theo sự nghe, sự trông của

dân ta Trời ban phước cho người thiện, ra oai cho kẻ ác, theo sự yêu, sự ghét của dân ta Trên thì trời, dưới thì dân, thông đạt cùng một lẽ Ai có đất đai nên kính cẩn vậy thay” [49, tr 73] Bởi vậy, “trời soi xét cả thiên hạ, chủ ở điều nghĩa, cho người ta tuổi thọ, có người giữ được điều nghĩa thì sống lâu, có người làm điều phi nghĩa thì không được sống lâu” [49, tr 185]

Cho nên, khi con người nhận thức đạo trời thì ắt sẽ biết “lấy khuôn mẫu

sự biến hóa của trời đất mà chẳng quá, uốn nắn nên muôn vật mà chẳng sót, thông suốt cái đạo ngày đêm mà hiểu biết” [49, tr 273] Và khi đó con người

sẽ thấu suốt được đạo lý làm người và thực thi nó, làm cho lòng dân được yên, nước được trị Do đó, bậc đế vương thay trời hành đạo phải hiểu được lẽ huyền vi của đạo trời mà thực hành theo đó, “làm rõ cái đạo trời mà xét cái nguyên cớ của dân, ấy là dùng thần vật để hướng dẫn sự dùng của dân, đấng thánh nhân vì thế luôn giữ mình và răn dạy mọi người để làm cho cái đức của mình được thần hiệu và sáng tỏ” [49, tr 301]

Quan điểm thứ ba góp phần hình thành nên tư tưởng về con người

trong triết học Trung Quốc cổ đại, đó là quan điểm Thiên mệnh có tính chất

tiên nghiệm về bản tính con người Theo các kinh sách của Trung Quốc cổ

đại, Trời không chỉ là sinh ra muôn vật và con người; quyết định đến số phận con người mà còn quy định bản tính con người

Trang 35

Về bản tính con người, người Trung Quốc cổ đại quan niệm rằng con người sinh ra, bản tính của con người là do trời phú cho, chẳng hạn như: bề tôi sinh ra vốn có lòng ham muốn; bậc quân vương sinh ra vốn có trí thông minh, lòng dũng cảm… tất cả đều do trời sinh

Quan điểm này đã được khẳng định trong Kinh Thư rằng: “Nhân dân do

trời sinh ra đã có vật dụng, không người chủ trương thì loạn Trời sinh ra người thông minh để dẹp loạn Họ Hạ hôn dung, nhiều ác đức, dân phải lầm than Trời bèn cho nhà vua có đức dũng cảm, trí tuệ, làm tiêu biểu cho muôn nước, tiếp tục làm nốt công việc của nhà vua Vũ thuở xưa Nay nhà vua noi theo điển thường cốt để kính cẩn Thiên mệnh” [49, tr 121 - 122] Bản tính con người là do trời sinh, vốn có lòng ham muốn, sự tư dục nhưng trong tâm của con người cũng có phần tốt đẹp; đó là lòng trắc ẩn, lòng thị phi, lòng tu ố, lòng từ nhượng Tuy nhiên trong đời sống, có người thiên về lòng ham muốn,

tư dục và người khác thì thiên về nhân, lễ, nghĩa, trí, tín… Cho nên, trong xã hội cần có bậc quân vương thay mặt trời sai khiến, dắt dẫn, giáo hoá cho dân

an theo đúng đạo lý Điều đó được khẳng định trong quan niệm của người

Trung Quốc cổ đại Kinh Thư viết: “Khắp cả mọi người ở vạn phương, nghe

kỹ cáo mạnh một mình ta: Lồng lộng đấng Thượng đế giáng xuống đạo trung cho kẻ hạ dân, sẵn có tính thường Chỉ có vua mới khiến cho hạ dân yên theo đạo lý” [49, tr 126] Quan niệm này được các nhà triết học Trung Quốc thời

kỳ Xuân thu - Chiến quốc kế thừa, phát triển trong tư tưởng của mình những quan niệm về con người và việc giáo hoá con người khá phong phú và không kém phần sâu sắc “Ví như đứa con, không điều gì không cốt ở lúc sơ sinh, tập làm điều thiện thì là người lương thiện, tự nhiên được cái khiếu sáng suốt của trời cho Ngày nay, trời cho nhà vua được tư sáng suốt chăng? Mệnh vận tốt hay xấu chăng? Mệnh vận được lâu năm chăng? Điều đó chúng ta không được biết Chỉ biết bây giờ, buổi sơ chính, chúng ta kính cẩn giữ lấy đức độ thôi”[49, tr 302] Nhưng nếu con người không thường xuyên giữ gìn, tu luyện

Trang 36

những bản tính tốt đẹp trời phú cho ngay từ đầu, thì những đức tính nhân, nghĩa, lễ, trí, tín do trời phú sẽ mai một, lu mờ

Kinh Lễ viết: “Người ta sinh ra thích an tĩnh, đó là tính trời vậy Nhưng

rồi cảm ứng với vật mà động, đó là ham muốn của tính vậy” [49, tr 171] Tư chất của con người là do trời sinh, trời nuôi dưỡng với những đức tính vốn có

về thiện tâm, thiện tính, trung hậu,…Những đức tính này do trời phú cho nhưng mức độ nhiều hoặc ít là khác nhau ở mỗi con người cụ thể khác nhau Nhưng những phẩm chất, năng lực và đức tính đó ở con người không phải là nhất thành bất biến mà chúng sẽ được cải hóa, biến đổi do môi trường giáo dục và xã hội

Tóm lại, là một hình thái ý thức xã hội, vấn đề con người trong triết học Trung Quốc cổ đại được hình thành và phát triển xuất phát từ thực tiễn lịch sử thời Xuân thu - Chiến quốc và trên cơ sở kế thừa quan điểm trước đó về vấn

đề con người, trong các kinh sách, thư tịch cổ của Trung Quốc cổ đại, như

Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Dịch, Tả truyện, Quốc ngữ Đó là thời kỳ lịch sử xã

hội Trung Quốc trải qua quá trình biến đổi toàn diện và sâu sắc cả về kinh tế, chính trị, văn hóa và tư tưởng, đã đặt ra những vấn đề triết học, chính trị, xã hội, luân lý, đạo đức Nó đã khiến các bậc tài sĩ đương thời quan tâm lý giải,

để tìm các phương pháp giải quyết “cứu người, cứu đời” làm nảy sinh một loạt các nhà tư tưởng nổi tiếng và các trường phái triết học lớn Các nhà tư tưởng là những người đại diện cho lợi ích của các tầng lớp, giai cấp xã hội khác nhau, vừa kế thừa, vừa công kích lẫn nhau tạo nên không khí sôi động trong đời sống tinh thần xã hội Trung Hoa cổ đại Và một trong những vấn đề nổi bật mà các nhà triết học, các trường phái tư tưởng tập trung tìm hiểu, nghiên cứu với các quan điểm hết sức phong phú nhưng không kém phần sâu sắc, đã trở thành vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong triết học Trung Quốc cổ đại, đó là vấn đề con người

Trang 37

1.2 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

1.2.1 Quan điểm về nguồn gốc và bản tính con người trong triết học Trung Quốc cổ đại

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung cũng như lịch sử triết học Trung Quốc cổ đại nói riêng, câu hỏi con người sinh ra từ đâu, bản tính của con người là gì, luôn là vấn đề được đặt lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm, thu hút sự quan tâm của các nhà triết học Tuỳ theo đặc điểm của thời đại lịch

sử, sự phát triển của trình độ nhận thức và lập trường giai cấp xã hội, các nhà triết học, các trường phái triết học Trung Quốc cổ đại đã đưa ra nhiều cách lý giải khác nhau về con người

Trước hết, về vấn đề nguồn gốc của con người Đây là vấn đề đầu tiên

và là vấn đề có tính chất cơ bản trong triết học Trung Quốc cổ đại Thuật ngữ

“nguồn gốc” tức “căn nguyên”根源, nguyên nghĩa là “gốc” và “nguồn”, đồng nghĩa với từ “nguyên lai” 原來, tức “chỗ do đó mà có” hay “cái gốc vốn có” Theo nghĩa đó, thì vấn đề nguồn gốc con người chính là vấn đề trả lời cho câu hỏi: con người do đâu mà có, con người sinh ra từ đâu?

Trả lời cho câu hỏi này, các nhà triết học, các trường phái triết học Trung Quốc cổ đại đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau, thể hiện nhân sinh quan khác nhau, gắn với đặc điểm thế giới quan và nhận thức luận của họ Bởi

vì, trong triết học Trung Quốc cổ đại tất cả những lập luận, lý giải về bản thể luận và nhận thức luận cuối cùng đều tập trung vào suy tư và giải quyết vấn

đề con người Trên cơ sở đặc điểm và khuynh hướng thế giới quan, vấn đề nguồn gốc của con người trong triết học Trung Quốc cổ đại đã hình thành Và, với thế giới quan khác nhau đã hình thành nhiều quan điểm về nguồn gốc con người khác nhau trong triết học Trung Quốc cổ đại

Có thể khái quát vấn đề nguồn gốc con người trong các trường phái triết

học Trung Quốc cổ đại thành hai quan điểm chính Một là, quan điểm cho

rằng con người là do trời sinh ra, do đó trời quyết định vận mạng và đời sống

Trang 38

của con người; và hai là, con người do sự biến hoá của tinh khí, của âm

dương, trời đất, ngũ hành mà sinh thành

Trước hết là quan điểm con người do trời sinh, trời quyết định vận mệnh con người Đây chính là quan điểm xuất phát từ tư tưởng Thiên mệnh,

mang tính chất duy tâm tôn giáo, xuất hiện ở Trung Quốc thời cổ đại, và tư tưởng Thiên mệnh, như đã trình bày ở trên, nó đã được ghi lại trong các kinh

sách cổ như Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch… Ảnh hưởng của khuynh hướng

đó, một số các nhà triết học Trung Quốc thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc đã đưa ra quan điểm cho rằng vạn vật, trong đó đặc biệt có con người là do trời

sinh ra Sách Trung dung, thiên 17 đã viết: “Trời sinh ra vạn vật - 天之生物 - Thiên chi sinh vật”; Mạnh Tử cũng nói: “Trời sinh ra con người, khiến cho có một gốc mà thôi - 天生物也,使之一本 - Thiên sinh vật dã, sử chi nhất bản”

(Mạnh Tử, Đằng Văn Công thượng, 5) “Kinh Thi viết: “Trời sinh ra dân

chúng, hễ có vật thì có phép tắc Dân chúng nhờ có phép tắc mà bảo tồn được bản tính của mình - 天生蒸民,有物有則.民之秉夷,好是懿德 - Thiên sinh chưng dân,

hữu vật hữu tắc; dân chi bỉnh di, háo thị ý đức.”” (Mạnh Tử, Cáo Tử thượng,

6) Trả lời cho câu hỏi, con người sinh ra từ đâu, trong triết học Trung Quốc

cổ đại còn có quan điểm thứ hai; đó là quan điểm cho rằng con người do sự kết tụ, biến hoá của tinh khí, âm dương, trời đất, ngũ hành mà thành Đây

là quan điểm biểu hiện khá rõ tính chất duy vật chất phác, đối lập với quan điểm duy tâm tiên nghiệm, phản ánh khuynh hướng tiến bộ của các nhà tư tưởng Trung Quốc cổ đại, cố gắng thoát khỏi thế giới quan thần quyền, lấy chính tự nhiên để lý giải thế giới tự nhiên, trong đó có vấn đề con người

Trong nội dung quan điểm có tính chất duy vật, khẳng định nguồn gôc

tư nhiên của con người, trước hết, đó là quan điểm cho rằng, con người là do

khí biến hoá mà thành, do khí biến hoá mà có sinh có tử Trong Nam Hoa

kinh, Trang Tử viết: “Con người chẳng qua chỉ là tạp chất biến hoá ra mà có khí, khí biến hoá ra mà có hình, hình biến hoá ra mà có sinh, sinh biến hoá ra

Trang 39

triết học duy vật tiến bộ thời kỳ Chiến quốc đã viết: “Vạn vật đều được cái khí hoá của tự nhiên mà sinh, đều được cái nuôi dưỡng của trời mà trưởng thành”

(Tuân Tử, Lễ luận)

Cũng trên quan điểm duy vật về vấn đề nguồn gốc của con người, là

quan điểm cho rằng, con người sinh ra và trưởng thành là do sự biến hoá của

trời đất, của tinh khí, âm dương, ngũ hành Trong sách Lễ ký, thiên Lễ vận

viết: “Con người là đức của trời đất, là giao của âm dương, hội của quỷ thần,

là tinh khí của ngũ hành - 故人者,其天地之德,阴阳之交,鬼神之会,五行之秀氣也 - Cố nhân giả, kỳ thiên địa chi đức, âm dương chi giao, quỷ thần chi hội, ngũ hành chi tú khí dã” [112, tr 207]; cho nên “con người bản chất giống trời đất, có

đức tính của ngũ hành” (Liệt Tử, Chương 7) Tiếp tục quan điểm đó, Tuân Tử, trong thiên Lễ luận cũng viết: “Trời đất hoà hợp với nhau mà vạn vật sinh ra,

âm dương tiếp xúc với nhau mà sự biến hoá khởi lên - 天地合而萬物生,陰陽接而 变化起 - Thiên địa hợp nhi vạn vật sinh, âm dương tiếp nhi biến hoá khởi” [124, tr 180] Trời đất, ở đây, theo quan điểm của các nhà triết học Trung Quốc cổ đại, là có tính chất tự nhiên, không phải là “ông trời” có nhân cách,

có ý chí, linh thiêng như quan điểm Thiên mệnh có tính chất duy tâm tôn giáo đương thời Phát triển quan điểm về nguồn gốc tự nhiên của con người và bằng những tri thức sơ khai về khoa học tự nhiên, nhất là kiến thức sinh vật học, các nhà triết học Trung Quốc cổ đại còn cố gắng vạch ra quá trình tiến hoá từ vạn vật đến con người và cấu tạo của con người trên quan điểm sinh

vật học Trong Tự quái truyện, Chu Dịch viết: “Có trời đất sau mới có muôn

vật, có muôn vật sau mới có trai gái, có trai gái sau mới có vợ chồng, có vợ chồng sau mới có cha con, có cha con sau mới có vua tôi, có vua tôi sau mới

có trên dưới, có trên dưới sau đó lễ nghĩa mới có chỗ đặt -有天地然後有萬物, 有 萬物然後男女,有男女然後有夫婦,有夫婦然後有父子,有父子然後君臣,有君臣然後上下,有上 下然禮義有所错 - Hữu thiên địa nhiên hậu hữu vạn vật, hữu vạn vật nhiên hậu hữu nam nữ, hữu nam nữ nhiên hậu hữu phu phụ, hữu phu phụ nhiên hậu hữu

Trang 40

phụ tử, hữu phụ tử nhiên hậu hữu quần thần, hữu quần thần nhiên hậu hữu thượng hạ, hữu thượng hạ nhiên hậu lễ nghĩa hữu sở thố”

Sách Quản Tử, thiên Thuỷ địa viết: “Con người cũng là nước Nam nữ

tinh khí hợp mà nước lưu truyền thành hình Ba tháng như con nòng nọc là cái gì? Đó là ngũ vị Ngũ vị là gì? Đó là năm cái ẩn chứa; vị chua chủ ở tỳ (lá lách), vị mặn chủ ở phế (phổi), vị cay chủ ở thận, vị đắng chủ ở can (gan), vị ngọt chủ ở tâm (tim) Ngũ tạng đã có, rồi sau đó sinh năm cơ quan bên trong

Lá lách sinh hoành cách mô, phổi sinh dạ dày, thận sinh bộ não, gan sinh xương cốt, tâm sinh da thịt Năm cơ quan nội tạng đã có, mà phát sinh ra chín

lỗ Lá lách sinh ra hai lỗ mũi, gan sinh ra hai mắt, thận sinh ra hai lỗ tai, phổi sinh ra miệng, tâm sinh hai lỗ ở dưới Năm tháng mà thành, mười tháng mà sinh” Tuy còn hết sức sơ khai, mộc mạc và còn nhiều quan niệm chưa thực sự khoa học, nhưng quan điểm về nguồn gốc tự nhiên của con người và sự tiến hoá của vạn vật và con người trong triết học Trung Quốc cổ đại, cơ bản là đúng và có tính chất khá tiến bộ

Sở dĩ các nhà tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại đã đạt được những quan điểm tiến bộ trên về vấn đề nguồn gốc của con người là do họ đã biết dựa trên những tri thức khoa học, mặc dù những tri thức này còn sơ khai, và

họ biết đúc kết kinh nghiệm thực tiễn đời sống thành tư tưởng của mình Những quan điểm tiến bộ ấy là tiếng nói phản ánh xu hướng tiến bộ trong xã hội Trung Hoa đương thời

Điểm đặc biệt trong quan điểm về nguồn gốc con người trong triết học Trung Quốc cổ đại là, dù đứng trên quan điểm giải thích nguyên nhân hình thành con người từ nguồn gốc siêu nhiên mang tính chất duy tâm tiên nghiệm hay từ nguồn gốc tự nhiên có tính chất duy vật chất phác, các nhà triết học

Trung Quốc cổ đại đều khẳng định,con người là kết quả của quá trình tiến hoá cao nhất của vật chất, từ khí, đến thực vật, động vật, con người; và để con

người trở thành người, khác với con vật và cao quý hơn vạn vật, con người

Ngày đăng: 07/05/2021, 22:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w