1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ ngữ hội thoại trong tiểu thuyết của hồ biểu chánh

94 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 633,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi chọn “Từ ngữ hội thoại trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh” làm đề tài nghiên cứu, chúng tôi hướng đến những mục đích sau: Về phương diện lí thuyết, trước hết đề tài hướng vào việc

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐỖ THỊ KIM OANH

TỪ NGỮ HỘI THOẠI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA HỒ BIỂU CHÁNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ: NGÔN NGỮ HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐỖ THỊ KIM OANH

TỪ NGỮ HỘI THOẠI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA HỒ BIỂU CHÁNH

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60.22.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS HUỲNH THỊ HỒNG HẠNH

Trang 3

Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự nỗ lực, cố gắng của bản thân tôi còn nhận được sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của gia đình, thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp Nhân dịp luận văn hoàn thành, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả mọi người

Đồng gửi lời cảm ơn đến các thư viện, các phòng tư liệu trong và ngoài trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thu thập tư liệu trong quá trình thực hiện đề tài

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm phục và biết ơn sâu sắc đến TS Huỳnh Thị Hồng Hạnh – người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình từ khi nhận đề tài cho đến khi luận văn hoàn thành

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2013

Người thực hiện: Đỗ Thị Kim Oanh

Trang 4

- Trích dẫn tài liệu tham khảo: Các trích dẫn tài liệu tham khảo được đặt trong dấu móc vuông, giữa số thứ tự tài liệu tham khảo và số trang trích dẫn được ngăn cách bởi dấu chấm phẩy

Ví dụ:

[1;10]: Tài liệu tham khảo số 1, trang 10

- Trích dẫn ngữ liệu: Các trích dẫn ngữ liệu được đặt trong dấu ngoặc đơn, giữa số thứ tự ngữ liệu và số trang trích dẫn được ngăn cách bởi dấu chấm phẩy

Ví dụ:

(1; 10): Ngữ liệu số 1, trang 10

- Trong luận văn, những trích dẫn ngữ liệu được in nghiêng, để trong dấu ngoặc kép là chúng tôi ghi lại chính xác theo hình thức chính tả của ngữ liệu chúng tôi có được Vì vậy, chúng tôi không chịu trách nhiệm với những trường hợp sai chính tả trong những trích dẫn này

Trang 5

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG 10

1.1 .V ài nét về tác giả Hồ Biểu Chánh 10

1.1.1 C uộc đời và sự nghiệp sáng tác của Hồ Biểu Chánh 10

1.1.2 V ai trò, vị trí của Hồ Biểu Chánh trong nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại 15

1.1.3 M ột số đặc điểm sử dụng ngôn từ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh 16

1.2 .K hái quát về từ ngữ hội thoại 20

1.2.1 G iới thuyết chung 20

1.2.2 P hạm vi sử dụng 23

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG TỪ NGỮ HỘI THOẠI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA HỒ BIỂU CHÁNH 27

2.1 Đặc điểm sử dụng các từ ngữ mang đậm màu sắc khẩu ngữ Nam Bộ 27

2.2 Đặc điểm sử dụng từ láy 36

2.2.1 Từ láy đôi 36

2.2.2 Từ láy tư 39

2.3 Đặc điểm sử dụng thành ngữ, quán ngữ 40

Trang 6

2.4 .Đ

ặc điểm sử dụng các từ than gọi và từ tình thái 54

2.4.1.Từ than gọi 54

2.4.2 T ừ tình thái 56

2.5 .Đ ặc điểm sử dụng từ ngữ xưng hô trong giao tiếp 58

2.6 Đặc điểm sử dụng các từ có nguồn gốc từ tiếng Pháp 62

CHƯƠNG 3: SỬ DỤNG TỪ LÁY BIỂU CẢM – MỘT NÉT PHONG CÁCH CỦA HỒ BIỂU CHÁNH …65

3.1 Vấn đề từ láy và từ láy trong phương ngữ Nam Bộ 65

3.2 Từ láy trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh – nét đặc sắc của phong cách tiểu thuyết đậm chất Nam Bộ 67

KẾT LUẬN 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

NGUỒN NGỮ LIỆU 86

Trang 7

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Tiểu thuyết quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ

XX là một bộ phận máu thịt của văn học dân tộc Trong nền văn xuôi Việt Nam thời kì này, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh chiếm một vị trí vô cùng quan trọng Với các tác phẩm đặc sắc, Hồ Biểu Chánh được xem là người mở đường cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

Khi nghiên cứu về văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX, đặc biệt là trong lĩnh vực tiểu thuyết, Hồ Biểu Chánh là một tác giả được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, chú ý Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trước đây về tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh chủ yếu dưới góc độ văn học Các nghiên cứu tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh ở góc độ ngôn ngữ học chưa thật sự nổi bật Tuy đây là một việc làm không dễ dàng nhưng vô cùng hấp dẫn

Cùng với những nghiên cứu trên bình diện văn học, nghiên cứu về tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh trên bình diện ngôn ngữ sẽ góp phần khẳng định những đóng góp của nhà văn đối với nền văn học hiện đại

Với những lí do trên, chúng tôi chọn “Từ ngữ hội thoại

trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh” làm đề tài luận văn tốt

nghiệp của mình

k

2 Mục đích nghiên cứu

Trang 8

Khi chọn “Từ ngữ hội thoại trong tiểu thuyết của Hồ Biểu

Chánh” làm đề tài nghiên cứu, chúng tôi hướng đến những mục

đích sau:

Về phương diện lí thuyết, trước hết đề tài hướng vào việc tìm hiểu những đặc điểm trong việc sử dụng từ ngữ hội thoại trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, cụ thể là cách sử dụng các từ ngữ mang đậm dấu ấn khẩu ngữ Nam Bộ, các từ láy, các thành ngữ, quán ngữ, các từ than gọi, từ tình thái, các từ ngữ xưng hô trong ngôn ngữ sinh hoạt và các từ có nguồn gốc từ tiếng Pháp

Từ những đặc điểm đó, qua phân tích, đề tài đi đến chứng minh từ ngữ hội thoại là một yếu tố quan trọng làm nên phong cách riêng – chất Nam Bộ trong ngôn ngữ tiểu thuyết của Hồ Biểu

Chánh

3 Lịch sử vấn đề

Trong nền văn học quốc ngữ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX

và cho đến hiện nay, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh luôn giữ một vị trí vô cùng quan trọng Chính vì vậy, đã có không ít bài viết và không ít công trình nghiên cứu về tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, nhất là trong thời gian gần đây Tuy nhiên, so với kết quả nghiên cứu ở góc độ văn học thì những nghiên cứu về tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh ở góc độ ngôn ngữ học có phần kém nổi bật hơn

Năm 1988, Cù Đình Tú có bài viết “Một vài suy nghĩ về ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh” Đây là báo cáo khoa học đọc

tại Hội nghị Khoa học về Hồ Biểu Chánh tại Mỹ Tho, Tiền Giang

và được in lại trong quyển Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt (Nxb Giáo dục, 2001), trang 308 – 313 Trong bài viết tác giả

Trang 9

đã chỉ ra được phong cách rất riêng trong hàng vạn trang tiểu thuyết viết theo phong cách ngôn ngữ sinh hoạt của người Nam Bộ của Hồ Biểu Chánh trên cơ sở trình bày các đặc điểm nổi bật trong ngôn ngữ tiểu thuyết của ông

Năm 1995, Trần Thị Ngọc Lang có bài viết “Ngôn ngữ Hồ Biểu Chánh những phương diện cần nghiên cứu” viết về vấn đề

phương diện nghiên cứu ngôn ngữ và những đặc điểm ngôn ngữ của Hồ Biểu Chánh Ở bài nghiên cứu này tác giả nói đến những đặc điểm trong ngôn ngữ Hồ Biểu Chánh, đặc biệt là phương ngữ Nam Bộ, đồng thời tác giả còn chỉ ra được phần nào tầm quan trọng của ngôn ngữ tác phẩm Hồ Biểu Chánh đối với các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến vấn đề từ ngữ hội thoại trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh với tư cách độc lập

Năm 2006, một tập hợp các bài viết của nhiều tác giả được

xuất bản thành cuốn “Hồ Biểu Chánh – Người mở đường cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại” (Nhà xuất bản Văn nghệ, TPHCM)

Trong công trình này cũng có một số bài viết đề cập đến tiểu thuyết

Hồ Biểu Chánh ở góc độ ngôn ngữ học Tiêu biểu là bài viết “Ngôn ngữ của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh” của Nguyễn Vy Khanh Trong

bài viết này, tác giả nhấn mạnh đến cá tính ngôn ngữ địa phương trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh

Năm 2007, Huỳnh Thị Lan Phương và Nguyễn Văn Nở có

bài viết “Vài nét về ngôn ngữ tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh (Ngữ

học trẻ, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam) Bài viết này cũng trình bày một cách khái quát những đặc điểm trong ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ

Trang 10

Biểu Chánh nhưng chủ yếu vẫn là trình bày đặc trưng ngôn ngữ Nam Bộ một cách chung chung, khái quát

Ngoài những bài viết của các nhà nghiên cứu, trong một số luận án, luận văn chuyên ngành ngôn ngữ học và văn học của các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên cũng đã đề cập đến vấn đề ngôn ngữ tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh

Năm 2002, trong Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học (Đại học

Sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh) “Đặc điểm khẩu ngữ Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh”, Châu Minh Hiền đã trình bày

khá đầy đủ các đặc điểm khẩu ngữ Nam Bộ trong tiểu thuyết của

Hồ Biểu Chánh Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của đề tài không cho phép tác giả đi sâu vào tìm hiểu một cách chi tiết, cụ thể đặc điểm sử dụng từ ngữ hội thoại

Một công trình tiêu biểu khác là Luận án Tiến sĩ Ngữ văn

của Huỳnh Thị Lành “Vị trí của Hồ Biểu Chánh trong văn xuôi quốc ngữ Việt Nam đầu thế kỉ XX (1900 – 1930)” (Đại học Sư

phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 2007) Trong khuôn khổ luận án này, tác giả cũng đã dành phần lớn của chương 1 để đề cập đến những đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh Song những đặc điểm này cũng mới chỉ mang tính chất khái quát, chưa thật chi tiết và cũng chưa làm nổi bật lên được những đặc điểm riêng trong việc sử dụng từ ngữ hội thoại trong tiểu thuyết của

Hồ Biểu Chánh

Ngoài ra, các luận văn nghiên cứu về tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh khác ít nhiều cũng đề cập đến những đặc điểm ngôn ngữ trong các sáng tác của ông, chẳng hạn như Luận văn Thạc sĩ

Trang 11

chuyên ngành Lí luận & Phương pháp giảng dạy văn và tiếng Việt

“Tìm hiểu tiểu thuyết phóng tác của Hồ Biểu Chánh” năm 2010 của

Nguyễn Hồng Đạt (Đại học Cần Thơ)…

Các bài viết và công trình trên đã đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, trong đó có những vấn đề về đặc điểm ngôn ngữ Tuy nhiên, việc tìm hiểu về từ ngữ hội thoại trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào đề cập đến một cách độc lập, chi tiết và

cụ thể

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề liên quan đến việc sử dụng từ ngữ hội thoại trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong suốt sự nghiệp sáng tác của mình, Hồ Biểu Chánh đã

để lại 64 tiểu thuyết Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát 32 tiểu thuyết tiêu biểu của Hồ Biểu Chánh – những tác phẩm đã làm nên tên tuổi của tiểu thuyết

gia hiện đại đầu tiên của Việt Nam Đó là các tác phẩm: Ai làm được (1912), Cay đắng mùi đời (1923), Chúa tàu Kim Qui (1923), Một chữ tình (1923), Tỉnh mộng (1923), Nhơn tình ấm lạnh (1925), Tiền bạc, bạc tiền (1925), Ngọn cỏ gió đùa (1926), Thầy Thông ngôn (1926); Kẻ làm người chịu (1928), Chút phận linh đinh (1928), Khóc thầm (1929), Cha con nghĩa nặng (1929), Vì nghĩa vì

Trang 12

tình (1929), Nặng gánh cang thường (1930), Con nhà nghèo (1930), Con nhà giàu (1931), Cười gượng (1935), Một đời tài sắc (1935), Ăn theo thuở, ở theo thời (1935), Thiệt giả, giả thiệt (1935),

Nợ đời (1936), Lạc đường (1937), Người thất chí (1938), Bỏ vợ (1938), Ý và tình (1938 – 1942), Hai khối tình (1939), Ái tình miếu (1941), Lá rụng hoa rơi (1955), Tơ hồng vương vấn (1955), Nợ tình (1957), Sống thác với tình (1957)

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu về từ ngữ hội thoại trong tiểu thuyết của hồ Biểu Chánh, trước hết chúng tôi muốn tìm hiểu cụ thể hơn về những đặc điểm trong việc sử dụng từ ngữ hội thoại trong tiểu thuyết của hồ Biểu Chánh Từ đó cho phép chúng ta hiểu sâu hơn, đầy đủ hơn về tác giả cũng như những tiểu thuyết giá trị của ông

Đề tài được thực hiện nhằm khẳng định những đóng góp quan trọng của Hồ Biểu Chánh trong nền văn học Việt Nam hiện đại

Về ý nghĩa thực tiễn, trên cơ sở những nghiên cứu về từ ngữ hội thoại trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh – một yếu tố quan trọng làm nên phong cách tiểu thuyết rất riêng của tác giả, người viết cũng hi vọng sẽ góp thêm tài liệu bổ ích cho những ai quan tâm và có ý định nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh cũng như tiểu thuyết của ông

6 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã sử dụng phối hợp một số thủ pháp và phương pháp sau:

Trang 13

6.1 Thống kê, phân loại

Để có tư liệu nghiên cứu, trước hết chúng tôi tiến hành thu thập tư liệu từ các tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, sau đó tiến hành phân loại Bằng phương pháp này chúng tôi nắm được những thông tin cần thiết về việc sử dụng từ ngữ hội thoại trong tiểu thuyết của

Hồ Biểu Chánh, đặc trưng và bản chất của việc sử dụng lớp từ ngữ hội thoại này trong tiểu thuyết của ông

6.2 Phân tích, miêu tả

Sau khi đã thu thập tư liệu, chúng tôi tiến hành miêu tả, phân tích để tìm ra những đặc điểm nổi bật về cách sử dụng các từ ngữ hội thoại trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, từ đó rút ra những nhận xét cần thiết

6.3 So sánh, đối chiếu

Trong quá trình phân tích, miêu tả các đặc điểm sử dụng từ ngữ hội thoại trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, ở một vài đặc điểm chúng tôi có so sánh, đối chiếu cách sử dụng từ ngữ hội thoại của Hồ Biểu Chánh với các nhà văn cùng thời khác Phương pháp này giúp chúng tôi làm nổi bật được đặc điểm sử dụng từ ngữ hội thoại trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Dẫn nhập và Kết luận, bố cục của luận văn gồm

3 chương với các nội dung chính như sau:

Trang 14

Chương 1

Những vấn đề lí luận chung

Chương này cung cấp những vấn đề lí luận chung liên quan đến đề tài Đó là những vấn đề liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, tác phẩm của Hồ Biểu Chánh và một số khái quát về từ ngữ hội thoại

từ tình thái, các từ ngữ xưng hô trong ngôn ngữ sinh hoạt và các từ

Trang 15

Ngoài ra, luận văn còn có phần thư mục Tài liệu tham khảo

với 40 đầu sách và các bài viết trên các tạp chí và nguồn ngữ liệu gồm 32 tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh Đây là những tài liệu và ngữ liệu liên quan trực tiếp đến đề tài mà chúng tôi đã chọn lọc và

sử dụng

Trang 16

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG

1.1 Vài nét về tác giả Hồ Biểu Chánh

1.1.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Hồ Biểu Chánh 1.1.1.1 Cuộc đời

Hồ Biểu Chánh tên thật là Hồ Văn Trung, bút hiệu là Thứ Tiên, tự là Biểu Chánh Ông sinh ngày 01 tháng 10 năm 1885 tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang)

Hồ Biểu Chánh xuất thân từ một gia đình nông dân Lúc còn nhỏ ông đã theo học chữ Nho, sau đó lại chuyển sang học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp Ông thi đỗ bằng Thành chung năm

1905 Sau khi thi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch kí lục của Soái phủ Nam Kì Từ năm 1906 đến năm 1941 ông đã làm việc liên tục cho Chính phủ Pháp, bắt đầu từ chức thông ngôn thăng dần đến chức Ðốc Phủ sứ Ông từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi và vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ

Pháp mời làm cố vấn với danh hiệu Nghị viên Hội đồng Liên bang Đông Dương và Phó Đốc lí thành phố Sài Gòn, đồng thời làm giám đốc những tờ báo tuyên truyền cho chủ trương Pháp - Việt đề huề

Trang 17

phủ Nguyễn Văn Thinh Nhưng chỉ được mấy tháng, khi chính phủ Nguyễn Văn Thinh sụp đổ, ông lui về quê ở ẩn và dành trọn những năm tháng còn lại cho sự nghiệp văn chương

Hồ Biểu Chánh qua đời ngày 4 tháng 9 năm 1958 tại Phú Nhuận

1.1.1.2 Sự nghiệp sáng tác

Khi viết văn, ông lấy tên tự ghép với họ và Hồ Biểu Chánh trở thành một bút danh được nhiều người biết đến và quí mến hơn tên tộc Hồ Văn Trung của ông

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Hồ Biểu Chánh đã để lại hơn 100 tác phẩm ở nhiều lĩnh vực khác khác nhau Mỗi lĩnh vực ông đều có những thành tựu nhất định góp phần làm phong phú cho sự nghiệp sáng tác của ông

Về Dịch thuật có Tân soạn cổ tích (1910), Lửa ngún thình

lình (1922)

Chánh thi văn, tập I, II, III (bản thảo)

Tùy bút phê bình có Chưởng Hậu quân Võ Tánh (1926),

Chánh trị giáo dục (1948), Tùy bút thời đàm (1948)

Hồi kí có Kí ức cuộc đi Bắc Kì (1941), Mấy ngày ở Bến Súc

(1944), Đời của tôi: 1 Về quan trường, 2 Về Văn nghệ, 3 Về phong trào cách mạng (1945), Một thiên kí ức: Nam Kì cộng hòa tự trị (1948), Tâm hồn tôi (1949), Nhàn trung tạp kỉ, tập I, II và III

(1949)

Trang 18

Hài kịch có Tình anh em (1922), Toại chí bình sinh (1922),

Đại nghĩa diệt thân (1945)

Hát bội có Thanh Lệ kì duyên (1926 – 1941), Công chúa

kén chồng (1945), Xả sanh thủ nghĩa (1945), Trương Công Định qui thần (1945)

Cải lương có Hai khối tình (1943), Nguyệt Nga cống Hồ

(1943), Vì nước vì dân (1947)

Đoản thiên có Chị Hai tôi (1944), Thầy chùa trúng số

(1944), Ngập ngừng (1944), Một đóa hoa rừng (1944), Hai Thà cưới vợ (1944), Lòng dạ đàn bà (1955)

Truyện ngắn có Chuyện trào phúng, tập I, II (1935),

Chuyện lạ trên rừng (1945), Truyền kì lục (1948)

Biên khảo có Pétain cách ngôn Á Đông triết lí hiệp giải

(1942), Gia Long khai quốc văn thần (1944), Gia Định Tổng trấn (1944), Chấn hưng văn học Việt Nam (1944), Trung Hoa tiểu thuyết lược khảo (1944), Đông Châu liệt quốc chí bình nghị (1945), Tu dưỡng chỉ nam (1945), Pháp quốc tiểu thuyết lược khảo (1945), Một lằn chánh khí: Văn Thiên Tường (1945), Nhơn quần tấn hóa sử lược (1947), Âu Mĩ cách mạng sử (1948), Việt ngữ bổn nguyên (1948), Thành ngữ tạp lục (1948), Phật tử tu tri (1948), Nho học danh thơ (1948), Thiền môn chư Phật (1949), Địa dư đại cương (1949), Hoàn cầu thông chí (1949), Phật giáo cảm hóa Trung Hoa (1950), Phật giáo Việt Nam (1950), Trung Hoa cao sĩ, ẩn sĩ, xứ sĩ (1951), Nho giáo tinh thần (1951)

Mặc dù sáng tác trên nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng cho đến ngày nay thường thì người ta chỉ nhắc đến Hồ Biểu Chánh với

Trang 19

tư cách là một nhà tiểu thuyết Bởi lẽ, trong các thể loại mà Hồ Biểu Chánh sáng tác thì thể loại tiểu thuyết chiếm số lượng tác phẩm lớn nhất, được người đọc biết đến nhiều nhất Đây là thể loại thành

công nhất trong sự nghiệp sáng tác của Hồ Biểu Chánh Về Tiểu

thuyết có Ai làm được (1912); Cay đắng mùi đời (1923); Chúa tàu

Kim Qui (1923); Một chữ tình (1923); Tỉnh mộng (1923); Nam cực tinh huy (1924); Nhơn tình ấm lạnh (1925); Tiền bạc, bạc tiền (1925); Ngọn cỏ gió đùa (1926); Thầy Thông ngôn (1926); Kẻ làm người chịu (1928); Chút phận linh đinh (1928); Khóc thầm (1929); Cha con nghĩa nặng (1929); Vì nghĩa vì tình (1929); Nặng gánh cang thường (1930); Con nhà nghèo (1930); Con nhà giàu (1931); Cười gượng (1935); Ông Cử (1935); Dây oan (1935); Một đời tài sắc (1935); Ăn theo thuở, ở theo thời (Ở theo thời) (1935); Thiệt giả, giả thiệt (1935); Đóa hoa tàn (1936); Nợ đời (1936); Lạc đường (1937); Tân Phong nữ sĩ (1937); Từ hôn (1937); Bỏ chồng (1938); Bỏ vợ (1938); Lời thề trước miễu (1938); Người thất chí (1938); Tại tôi (1938); Hai khối tình (1939); Tìm đường (1939); Đoạn tình (1940); Ái tình miếu (1941); Cư kỉnh (1941); Ý và tình (1938 – 1942); Mẹ ghẻ con ghẻ (1943); Bức thơ hối hận (1953); Trọn nghĩa vẹn tình (1953); Nặng bầu ân oán (1954); Đỗ Nương Nương báo oán (1954); Hai chồng (1955); Hai vợ (1955); Đại nghĩa diệt thân (1955); Lá rụng hoa rơi (1955); Tơ hồng vương vấn (1955); Trả nợ cho cha (1956); Một duyên hai nợ (1956); Những điều nghe thấy (1956); Ông Cả Bình Lạc (1956); Chị Đào, Chị Lí (1957); Đón gió mới, nhắc chuyện xưa (1957); Hạnh phúc lối nào (1957); Nợ tình (1957); Nợ trái oan (1957); Sống thác với tình

Trang 20

(1957); Tắt lửa lòng (1957); Trong đám cỏ hoang (1957); Vợ già chồng trẻ (1957); Lẫy lừng hào khí (1958)

Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh "dồi dào" đến mức khi ông qua đời, nhà thơ Đông Hồ đã dùng các tựa tiểu thuyết của ông ghép thành câu đối để phúng điếu ông:

“Cay đắng mùi đời, Con nhà nghèo, Con nhà giàu, Tiểu thuyết viết sáu mươi ba thiên, Vì nghĩa vì tình, Ngọn cỏ gió đùa, Tỉnh mộng, mấy Ai làm được?

Cang thường nặng gánh, cơn Khóc thầm, cơn Cười gượng, Thanh cân trái bảy mươi bốn tuổi, Thiệt giả giả thiệt, Vườn văn xưa ghé mắt, Đoạn tình còn Ở theo thời…”

Phóng tác là một phương diện khá nổi bật trong tiểu thuyết

của Hồ Biểu Chánh Trong số 64 tiểu thuyết của ông có tới 12 tác phẩm dựa theo tiểu thuyết phương Tây, gồm 11 tiểu thuyết của Pháp và 1 tiểu thuyết của Nga Hồ Biểu Chánh được coi là người

mở đường cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Tiểu thuyết của ông

triết lí chủ đạo là thiện thắng ác, ở hiền gặp lành và điểm đặc biệt là đặc chất Nam Bộ, từ giọng văn đến miêu tả con người Các tác

Trong các sáng tác của Hồ Biểu Chánh đã có nhiều tác phẩm được chuyển thể thành phim và gây được tiếng vang không

nhỏ Tiêu biểu như: Ngọn cỏ gió đùa, Con nhà nghèo, Ân oán nợ đời, Nợ đời, Cay đắng mùi đời, Khóc thầm, Lòng dạ đàn bà…

Trang 21

1.1.2 Vai trò, vị trí của Hồ Biểu Chánh trong nền tiểu

thuyết Việt Nam hiện đại

Toàn bộ tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh được xem như một

bộ “từ điển bách khoa” về đời sống xã hội và con người Nam Bộ đầu thế kỉ XX Thông qua việc sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật, nghệ thuật xây dựng cốt truyện, miêu tả tính cách, phân tích tâm lí nhân vật, lời thuật truyện… Hồ Biểu Chánh đã góp phần chuyển tiểu thuyết Việt Nam từ thời kì văn học trung đại sang thời kì văn học hiện đại Ông được coi là tiểu thuyết gia hiện đại đầu tiên của văn học Việt Nam

Mở đầu bài biết “Mấy suy nghĩ về nhà văn Hồ Biểu Chánh”, tác giả Nguyễn Văn Y viết:

“Từ những năm đầu thế kỉ XX, trải qua hơn nửa thế kỉ, cho đến nay, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh vẫn còn “ăn khách”, trong khi nhiều tác phẩm của một số không ít nhà văn nổi tiếng cùng thời với ông hầu như đã bị đẩy lùi vào quá khứ, khó có thể tìm được một

số độc giả đông đảo lâu dài như ông Với số lượng tiểu thuyết quá dồi dào, Hồ Biểu Chánh là một trong những tiểu thuyết gia nổi tiếng hàng đầu ở miền Nam mà tác phẩm từng được phổ biến rộng rãi, trở thành món ăn tinh thần quen thuộc của đa số quần chúng trên vùng đất miền Nam.” [28; 13]

Và Nguyễn Khuê, trong bài viết “Giá trị tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh và địa vị tác giả trong văn học sử” khẳng định: “Hồ Biểu Chánh là một trong những tiểu thuyết gia tiền phong của Nam

Kì nói riêng và Việt Nam nói chung…” [28; 292]

Trang 22

Cùng với Hồ Biểu Chánh còn có Nguyễn Trọng Quản (với

Thầy La-za-rô Phiền), Trần Chánh Chiếu (với Hoàng Tố Anh hàm oan), Trương Duy Toản (với Phan Yên Ngoại sử) Nhưng có thể

nói, Hồ Biểu Chánh đã vượt qua được những bước đầu chập chững nhưng đáng trân trọng của Nguyễn Trọng Quản, Trần Chánh Chiếu

và Trương Duy Toản trong buổi đầu của tiểu thuyết quốc văn của Nam Kì Ông đã góp phần tích cực vào việc chuyển giai đoạn cho tiểu thuyết nói riêng và cho nền văn học dân tộc nói chung Xét cả

về tư tưởng chính trị và tư tưởng thẩm mĩ thì những năm hai mươi của thế kỉ XX, văn học Việt Nam đã thật sự chuyển sang giai đoạn hiện đại

1.1.3 Một số đặc điểm sử dụng ngôn từ trong tiểu thuyết của

giả cùng thời với Hồ Biểu Chánh như: Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn

Bá Học, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Trọng Thuật… Ngôn ngữ trong các tác phẩm của họ rất kiểu cách, cầu kì và xa lạ với lời ăn tiếng nói hàng ngày của quần chúng Đưa từ khẩu ngữ vào tiểu thuyết, đó

là một sự thay đổi lớn về quan niệm sáng tác của Hồ Biểu Chánh

Và chính sự xuất hiện với tần số khá cao của từ khẩu ngữ đã góp phần tạo nên sự thành công của Hồ Biểu Chánh trong lĩnh vực tiểu thuyết

Trang 23

“Ông thuộc vào một số rất ít nhà văn Việt Nam đã sử dụng những từ ngữ bình dân một cách tự nhiên, phản ánh trung thực tâm tình và tâm lí của người dân bình dị và nhờ đó các truyện viết của ông dễ gây xúc động cho người đọc” [28; 5]

“Khi nói đến tiểu thuyết của ông, người ta không thể không nói đến từ ngữ đặc thù của ông Những nhân vật trong truyện của ông thường là những người bình thường và môi trường sinh hoạt hầu hết được diễn ra ở đất phương Nam, vì vậy những từ ông dùng trong truyện hoàn toàn có tính cách Nam Bộ” [28; 8]

Có thể nói, sở trường của Hồ Biểu Chánh là đưa vào tiểu thuyết tiếng nói thường ngày, viết như nói, không cầu kì, kiểu cách

“Điều cần phải ghi nhận ở văn Hồ Biểu Chánh qua cả vạn trang tiểu thuyết của ông là: ông viết tiểu thuyết bằng tiếng của dân chúng vùng đồng bằng sông Cửu Long Lẽ tự nhiên ai cũng hiểu đó vẫn là tiếng Việt, nhưng đó là tiếng Việt ở một vùng cư dân đông đúc tại nơi phía Nam của Tổ quốc với những đặc sắc riêng của nó”

Trang 24

của ông bình dân, giản dị nhưng không kém phần độc đáo và đặc sắc

Từ láy là một trong những yếu tố tạo nên giá trị biểu cảm của ngôn ngữ văn chương Nhận thức được điều đó, các nhà văn đã đưa từ láy vào tác phẩm của mình nhằm tăng giá trị biểu đạt nghệ thuật của tác phẩm Hồ Biểu Chánh cũng không ngoại lệ Trong tiểu thuyết của ông, người đọc có thể bắt gặp hàng loạt từ láy, có những

từ láy thuộc hệ thống ngôn ngữ toàn dân nhưng phần nhiều là

những từ láy thể hiện rõ tính chất phương ngữ: lơn tơn, tàm làm, sơ sịa, sâu sia, quanh quứt, lượt bượt, chần ngần, chưng hửng, láng cháng, xăng xớm, lẹo chẹo, mày mạy, chờm bờm, chơm bơm, riu ríu, ngỏn nghẻn, xẩn bẩn, cằn rằn, trèo trẹo, xó ró, xẻn lẻn, bợ ngợ, lóng nhóng, nhăn nhín, láo liên, ké né, nhùn nhục, trộ trạo, chim bỉm, chộn rộn chàng ràng, lăng xăng lít xít, dấp dính dấp dưởi, lao nhao lố nhố, hun trơ hun trất, bù xa bù xích, chết ngắt chết ngỏm,

ní na ní nần, rấm ra rấm rít

Sử dụng các từ tình thái để nhấn mạnh cũng là một đặc điểm ngôn ngữ tiêu biểu trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh Người đọc

có thể dễ dàng tìm thấy các kết hợp với hai yếu tố "giống, hôn" trong tiểu thuyết của ông: mắc giống gì, sợ giống gì, làm giống gì, sướng giống gì, cơ khổ dữ hôn, tội nghiệp dữ hôn, bất nhân hôn, dữ hôn…

Hồ Biểu Chánh đã đưa vào tiểu thuyết của mình những hình dung từ hết sức đặc biệt làm đậm sắc thái của nghệ thuật dùng chữ

bình dân: sáng hoắc, xanh lét, vàng khè, đỏ trõm lơ, đen thui, đen nhùn nhục, đỏ hực hỡ, chau vau, dục dặc, ké né… Bên cạnh đó, có

Trang 25

những kết hợp giữa danh từ và hình dung từ để nhấn mạnh: mặt chừ

bự, đầu chơm bơm, đầu cổ chờm bờm, lỗ tai lùng bùng, cặp mắt cháng váng, trong lòng xốn xang, nước da mởn, xũ xọp, trời xanh lét, bông vàng khè…

Những tiếng xưng hô bằng từ biến thể trong trạng thái hợp

âm như thẩy (thầy ấy), cổ (cô ấy), cỏn (con ấy), thẳng (thằng ấy), dỉ (dì ấy), chỉ (chị ấy)… hay những tiếng thường dùng trong phương ngữ Nam Bộ: tía, má nó, sắp nhỏ, má sắp nhỏ, qua, bây… không xa

lạ gì trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân Nam Bộ nhưng khi đi vào tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh nó tạo nên nét riêng đặc biệt cho ngôn ngữ tiểu thuyết của tác giả

Hồ Biểu Chánh sử dụng nhiều quán ngữ trong miêu tả, thể

hiện tính cách nhân vật: bửa hổm, mấy bửa rày, nảy giờ, té ra, té ngữa, ngã ngữa, coi bộ, làm bộ, cực chẳng đã, túng thế, chẳng dè,

dạng như: mặt dạn mày dày, sóng dập gió dồi, tan xương nát thịt,

đủ lông đủ cánh, trôi sông lạc chợ, lên xe xuống ngựa, ngậm đắng nuốt cay, no cơm ấm áo, chịu đấm ăn xôi và những thành ngữ có cải biến mang đậm chất Nam Bộ: Tu nhơn tích đức (tu nhân tích đức),tâm đầu ý hiệp (tâm đầu ý hợp), nhắm mắt đưa chơn (nhắm

Trang 26

mắt đưa chân), cải tử hườn sanh (cải tử hoàn sinh), dầm sương gội nắng (dầm sương dãi nắng), chuột rớt trong hũ nếp (chuột sa hũ nếp), ghẹo nguyệt giỡn hoa (ghẹo nguyệt trêu hoa), xót ruột bầm gan (bầm gan tím ruột), ma cũ ăn hiếp ma mới (ma cũ bắt nạt ma mới), nưng khăn sửa trấp (nâng khăn sửa túi)

Trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh có nhiều từ xuất phát từ

tiếng Pháp: sớp-phơ, bu rô, sa lon, áo bành tô, bon, phắt tơ, ba-ton, súp lê, nô te, sô-de, síp-lê, ê-sạt, cu-ly, đít-cua, xẹt, sa-bô-chê, măng sông, săn-đá, cà-ra-hoách, náp, lơ

Đến đây, không thể phủ nhận rằng Hồ Biểu Chánh “đã tạo cho ngôn ngữ văn xuôi có được những đặc điểm mới, đưa văn xuôi Quốc ngữ đi vào con đường hiện đại Kể từ Hồ Biểu Chánh, ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương và ngôn ngữ trong cuộc sống không còn khoảng cách như trước kia Đó là đóng góp to lớn, là thành công đáng ghi nhận của Hồ Biểu Chánh” ” [31; 6]

1.2 Khái quát về từ ngữ hội thoại

1.2.1 Giới thuyết chung

Từ ngữ hội thoại là vốn từ ngữ đặc trưng cho phong cách ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày Từ ngữ hội thoại không chỉ bao hàm các từ thuộc vốn từ của ngôn ngữ văn hóa được dùng trong sinh hoạt hàng ngày mà còn gồm cả những từ thông tục

Nói đến từ ngữ hội thoại là nói các lớp từ xét về phạm vi sử dụng và có liên quan mật thiết màu sắc phong cách Vấn đề này được đề cập trong nhiều công trình về từ vựng học và phong cách học Về cơ bản, hầu hết các tác giả của những công trình này có sự nhất quán trong khi đề cập đến từ ngữ hội thoại Trong khuôn khổ

Trang 27

bài viết này, chúng tôi xin đề cập đến quan điểm về từ ngữ hội thoại trong hai công trình: một của tác giả Nguyễn Thiện Giáp (xét trên bình diện từ vựng), một của nhóm tác giả Đinh Trọng Lạc – Nguyễn Thái Hòa (xét trên bình diện phong cách)

Trên bình diện từ vựng, Nguyễn Thiện Giáp chia vốn từ tiếng Việt thành hai lớp: lớp từ vựng hội thoại và lớp từ vựng sách

vở Từ vựng hội thoại được dùng trong các cuộc nói chuyện tự nhiên hàng ngày

Trong lớp từ vựng hội thoại, Nguyễn Thiện Giáp lại chia thành 2 loại: từ vựng hội thoại toàn dân và từ vựng hội thoại hạn chế về lãnh thổ hay xã hội Từ vựng hội thoại toàn dân được tác giả chia làm hai nhóm: từ vựng hội thoại có văn hóa và từ vựng hội thoại tự nhiên Các từ láy, các thành ngữ, quán ngữ, các thán từ, các ngữ khí từ, các từ thưa gửi là những yếu tố xuất hiện nhiều trong nhóm từ vựng hội thoại có văn hóa để làm tăng giá trị biểu cảm trong diễn đạt Còn các từ dùng để xưng hô suồng sã, thân mật hay các từ chỉ mức độ lại xuất hiện nhiều trong nhóm từ vựng hội thoại

tự nhiên Trong từ vựng hội thoại hạn chế về lãnh thổ hay xã hội, theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp có các loại sau: các từ địa phương, tiếng lóng, từ nghề nghiệp

Như vậy, theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp, các từ láy, thành ngữ, quán ngữ, thán từ, ngữ khí từ, các từ thưa gửi, từ địa phương, tiếng lóng, từ nghề nghiệp là các yếu tố xuất hiện nhiều trong lớp

từ vựng hội thoại

Trên bình diện phong cách, khi đề cập đến phong cách sinh hoạt hàng ngày, các tác giả Đinh Trọng Lạc – Nguyễn Thái Hòa

Trang 28

cũng đã đưa ra những đặc điểm từ ngữ được sử dụng trong phong cách này

Thứ nhất, theo các tác giả, đặc điểm nổi bật nhất trong sử dụng từ ngữ của phong cách sinh hoạt tự nhiên là ưa dùng những từ ngữ mang tính cụ thể, giàu hình ảnh và màu sắc cảm xúc, chẳng hạn

như: đánh sặc tiết, lột xác…

Thứ hai, phong cách sinh hoạt hàng ngày sử dụng nhiều

ngữ khí từ như đấy, nhé, thôi, cơ, ạ… với nhiều sắc thái tình cảm

khác nhau để thực hiện chức năng tạo tiếp

Thứ ba, để tạo nên cái hấp dẫn cho lời nói, phong cách sinh hoạt hàng này sử dụng nhiều cảm thán từ chỉ những màu sắc tình

cảm, cảm xúc, thái độ khác nhau: ối giời ơi, rõ khổ, eo ôi, ừ nhỉ…

Thứ tư, phong cách sinh hoạt hàng ngày ưa dùng từ láy giàu

sắc thái cụ thể, gợi hình, gợi cảm: sè sè, rầu rầu, nao nao, ngớ nga ngớ ngẩn, hớt ha hớt hải…

Thứ năm, phong cách sinh hoạt hàng ngày ưa chuộng lối

nói có sử dụng thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ: vẽ đường cho hươu chạy, mượn gió bẻ măng, cá lớn nuốt cá bé, khí vô phép, khí không phải, đời thuở nhà ai…

Thứ sáu, phong cách sinh hoạt hàng ngày ưa nói tắt: hợp tác (hợp tác xã nông nghiệp)…

Như vậy, theo Đinh Trọng Lạc – Nguyễn Thái Hòa, từ ngữ mang tính cụ thể, giàu hình ảnh và màu sắc cảm xúc, ngữ khí từ, cảm thán từ, từ láy, thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ, các từ nói tắt là những yếu tố xuất hiện nhiều trong nhóm từ ngữ hội thoại

Trang 29

Có thể thấy rằng, dù đứng trên bình diện từ vựng học hay phong cách học thì giữa các tác giả cũng có sự thống nhất về cơ bản

về các lớp từ ngữ hội thoại Ở đề tài này, khi trình bày về đặc điểm

sử dụng từ ngữ hội thoại trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, chúng tôi tập trung tìm hiểu về một số đặc trưng nổi bật trong cách

 Đặc điểm sử dụng các từ than gọi và từ tình thái

 Đặc điểm sử dụng từ ngữ xưng hô trong giao tiếp

 Đặc điểm sử dụng các từ có nguồn gốc từ tiếng Pháp

1.1.2 Phạm vi sử dụng

Để giao tiếp trong sinh hoạt hàng ngày, bên cạnh lớp từ ngữ

đa phong cách, người ta hay sử dụng lớp từ ngữ khẩu ngữ hay từ ngữ hội thoại Từ hội thoại được dùng chủ yếu trong phong cách khẩu ngữ tự nhiên và là công cụ riêng của phong cách này

Tuy nhiên, chúng ta biết rằng, phong cách khẩu ngữ tự nhiên là một phong cách giàu sắc thái biểu cảm, sinh động, vì vậy

nó có khả năng chuyển hóa rất cao

“Phong cách khẩu ngữ tự nhiên chứa đựng một khả năng phong phú làm tiềm tàng cho phong cách nghệ thuật vì bản thân nó

đã là một chất liệu sinh động có thể giúp cho nhà văn nghệ sĩ sử dụng làm công cụ xây dựng tác phẩm, thể hiện hình tượng… Đặc

Trang 30

biệt là các đối thoại trong khẩu ngữ tự nhiên thường được chuyển sang đối thoại của phong cách văn học nghệ thuật một cách dễ dàng nhất Điều này tồn tại như là một hiện tượng mang tính qui luật” [13; 97]

Trong các tác phẩm nghệ thuật, đặc biệt là trong các thể loại truyện ngắn, truyện dài, phóng sự hay tiểu thuyết thì việc xây dựng hình tượng nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng nhất làm nên thành công của tác phẩm Nói đến hình tượng nghệ thuật thì không thể không nói tới qui luật điển hình hóa Để cho nhân vật của mình có thể “sống”, bắt buộc nhà văn phải tạo cho nó

cá tính riêng, phong cách riêng Nét cá tính và phong cách riêng này được thể hiện qua hai con đường: một bằng ngôn ngữ miêu tả của nhà văn, hai thông qua sự giao đãi, các đối thoại giữa nhân vật đó với các nhân vật khác xung quanh nó Như vậy, về nguyên tắc, đối thoại trong phong cách nghệ thuật được xây dựng trực tiếp từ đối thoại trong khẩu ngữ tự nhiên

Có thể nói, chính lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân là một cái kho vô tận, là cơ sở tiềm tàng cho sự phát triển của ngôn ngữ trong phong cách nghệ thuật Từ ngữ hội thoại khi đi vào tác phẩm văn chương là một yếu tố tạo nên sự hấp dẫn, độc đáo cho tác phẩm, nó có khả năng gợi cho người đọc, người nghe những liên tưởng thú vị đến các đặc trưng nổi bật hoặc cá tính tiêu biểu của con người

Như vậy, từ ngữ hội thoại có một phạm vi sử dụng rộng rãi

Nó không chỉ là công cụ riêng của phong cách khẩu ngữ tự nhiên

mà còn là một trong những yếu tố quan trọng làm nên sự thành

Trang 31

công của các tác phẩm nghệ thuật, đặc biệt là các tác phẩm ở các thể loại truyện ngắn, truyện dài, phóng sự và tiểu thuyết Khác với nhiều nhà văn cùng thời, Hồ Biểu Chánh đã mạnh dạn chọn cho mình một hướng đi riêng bằng cách đưa từ ngữ hội thoại vào tiểu thuyết của mình Tiểu thuyết của ông đã phản ánh hiện thực và cuộc sống một cách chân chất, mộc mạc, hết sức gần gũi, quen thuộc với cuộc sống thường ngày của người dân Nam Bộ Tiểu thuyết của ông

vì thế mà cứ tự nhiên đi vào lòng độc giả, đặc biệt là độc giả Nam

Bộ

Tiểu kết

Trong chương này, chúng tôi đã trình bày những vấn đề lí luận chung liên quan đến đề tài Đó là cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh và những khái quát về từ ngữ hội thoại

Trong 73 năm cuộc đời, Hồ Biểu Chánh đã có gần 50 năm cho sự nghiệp sáng tác Các sáng tác của ông gồm nhiểu thể loại, mỗi thể loại đều thu được những thành tựu nhất định Nhưng nổi bật nhất và thành công nhất là thể loại tiểu thuyết với 64 tác phẩm được nhiều độc giả yêu thích cho đến tận bây giờ Hồ Biểu Chánh được coi là người mở đường cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

Đặc điểm nổi bật trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh là việc sử dụng sinh động và tự nhiên lớp từ ngữ hội thoại, tiêu biểu là lớp từ ngữ mang đậm dấu ấn phương ngữ, các từ láy, các thành ngữ, quán ngữ, các từ than gọi, các từ tình thái, các từ ngữ xưng hô trong khẩu ngữ và các từ có nguồn gốc từ tiếng Pháp

Trang 32

Về phạm vi sử dụng, từ ngữ hội thoại không chỉ tồn tại trong phong cách sinh hoạt hàng ngày mà nó còn được sử dụng trong phong cách nghệ thuật, đặc biệt là trong các thể loại truyện ngắn, truyện dài và tiểu thuyết Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh là một minh chứng điển hình

Trang 33

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG TỪ NGỮ HỘI THOẠI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA HỒ BIỂU CHÁNH

Như đã trình bày ở trên, các lớp từ trong từ ngữ hội thoại khá phong phú và được phân loại, miêu tả theo nhiều tiêu chí khác nhau Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu một số lớp từ ngữ hội thoại tiêu biểu, nổi bật được sử dụng trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh Cụ thể là:

 Đặc điểm sử dụng các từ ngữ mang đậm màu sắc khẩu ngữ Nam Bộ

 Đặc điểm sử dụng từ láy

 Đặc điểm sử dụng thành ngữ, quán ngữ

 Đặc điểm sử dụng các từ than gọi và từ tình thái

 Đặc điểm sử dụng từ ngữ xưng hô trong giao tiếp

 Đặc điểm sử dụng các từ có nguồn gốc từ tiếng Pháp

Cả sáu lớp từ trên cùng góp phần làm nên cá tính sáng tạo

và những nét đặc trưng của phương ngữ Nam Bộ trong phong cách tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh

2.1 Đặc điểm sử dụng các từ ngữ mang đậm màu sắc khẩu ngữ Nam Bộ

Ngay trong phần mở đầu của bài viết “Một vài suy nghĩ về ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh”, Cù Đình Tú đã khẳng định:

Trang 34

“Có nhiều bằng chứng trên cả vạn trang tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, để kết luận rằng ông là người có trường ngôn ngữ riêng, có lối nói riêng khác với những nhà văn cùng thời vào những năm 20 của thế kỉ này Hồ Biểu Chánh sở trường về sử dụng khẩu ngữ Nam Bộ trong tiểu thuyết Phong cách của Hồ Biểu Chánh là phong cách viết như nói, nói tiếng mà dân chúng Nam Bộ thường dùng hàng ngày vào đầu thế kỉ thứ 20” [28; 228]

Trong khi các tác giả cùng thời như Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Tử Siêu đi theo hướng chuyển từ văn biền ngẫu bác học sang văn xuôi nghệ thuật thì Hồ Biểu Chánh lại đi theo một hướng khác: trực tiếp dùng lời ăn tiếng nói hàng ngày của dân chúng Nam Bộ để xây dựng ngôn ngữ tác phẩm

Hầu hết các nhà nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh đều thống nhất nhận định văn của Hồ Biểu Chánh không cầu kì, kiểu cách, viết mà như nói Đọc tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, ta thấy tiểu thuyết của ông xuất hiện lớp từ địa phương vô cùng phong phú, đặc sắc, phản ánh những nét riêng của vùng đất Nam Bộ Bởi lẽ đó mà cho đến ngày nay người dân Nam Bộ vẫn còn yêu thích các trang tiểu thuyết của ông Có thể nói, các từ ngữ mang đậm dấu ấn khẩu ngữ Nam Bộ là một trong những công cụ diễn đạt quan trọng trong các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh

2.1.1 Trước hết, Hồ Biểu Chánh sử dụng một số lượng lớn các

từ ngữ hoàn toàn mang đặc trưng của khẩu ngữ Nam Bộ Thuộc về loại này có các từ ngữ gọi tên sự vật, đặc sản; các từ ngữ chỉ hành

Trang 35

động, tính chất; các từ ngữ biểu thị sắc thái biểu cảm, các từ dùng

“Trước thềm nhà có để hai hàng đôn trên mỗi cái đều có

một chậu kiểng, kim quýt, sơn tùng, cần lăng, bùm sụm, bụi thì uốn

nhánh kỳ khôi, bụi thì tỉa lá yểu điệu Hai bên thì cam mật, quýt đường trồng ngay hàng, nhánh lá sum sê, mà bông trái chưa trổ”

(12; 5)

Hay “Ông Hương chủ lấy cái khăn rằn vắt trên vai xuống

mà lau miệng, vuốt râu rồi nói:

- Tưởng là ai, chớ ông Huyện hàm Hạ tao biết Ông là

người giàu có mà nhơn đức Mầy làm sui với ổng thì xứng lắm

Như ổng có cậy nói con Thu Hà cho con ổng, thôi thì gả đi” (12;

13)

Các từ ngữ chỉ hành động, tính chất đậm chất Nam Bộ,

chẳng hạn như: chà lết, te rẹt, cùi đày, chạng vạng, nước rong…

cũng được Hồ Biểu Chánh đưa vào tác phẩm, nhờ đó mà nhà văn đã tạo được những dấu ấn nhất định trên từng trang tiểu thuyết của mình

“Thầy Thông Hàng biết ý Thượng Tứ muốn chà lết ở mà

ngó cô Hai Hẩu chơi, nên thầy leo lên giường nằm đợi ông Giáo làm thuốc cho thầy hút vài điếu rồi mới chịu từ giã mà đi” (17; 26)

Trang 36

Hay “- Em thấy hay đi chài lưới, mà nghe cũng có làm ruộng nữa thì phải Cha chả! Mà sợ bây giờ anh gặp chỉ chắc anh không biết chỉ đâu

thuyết của Hồ Biểu Chánh: cha chả, ứ hự, dữ hôn, hôn, há…

“Thanh Tòng vừa mới nghe cha nói bấy nhiêu đó thì lửa

giận phừng phừng, nên hét lớn lên rằng: “Cha chả? Thằng nào mà

to gan dữ vậy? Xin cha nói tên nó cho con biết, con sẽ đi báo thù cho cha liền bây giờ đây”” (14; 22)

Hay “Nàng đương khóc, thình lình có năm sáu người ở trần trùi trụi, mặt mày hung ác, tay chơn vạm vỡ, kẻ xách cây, người cầm mác, ở giữa rừng xông ra, ngó thấy nàng áp chạy lại, rồi người đi đầu nói lớn rằng:

- Có con nhà ai ngộ quá bây; áp bắt nó đem về trại May

dữ hôn, tao chưa có vợ, vậy để tao bắt con nầy làm vợ chơi” (8;

Trang 37

thẳng (thằng ấy), trỏng (trong ấy), ngoải (ngoài ấy), hổm (hôm ấy)…

“Có khi ăn đám giỗ, người ta thử hỏi ông Tám Tiền, ông câu Hữu vậy chớ nhà việc mới cất hồi nào, ông thôn Tà mất bao giờ, chú chệt Chà về đó mấy năm rồi, thì hai ông trả lời liền, không

do dự mà cũng không sai lầm Có một chuyện hai ổng không chịu

nói, là chuyện Cai tuần Bưởi” (16; 5-6)

"- Con nghĩ thân con từ nhỏ tới lớn, con gần ba má, con sung sướng; còn chị Thu Ba cực khổ chắc không có áo tốt bận,

không có bánh ngon mà ăn bao giờ Hễ tìm được chỉ con để hết mấy cái áo tốt của con cho chỉ bận Mà má cũng đừng hà tiện nghe hôn má, má mua đủ thứ bánh trái cho chỉ ăn Bây giờ con biết rồi, con thương chỉ nhiều lắm” (11; 67)

2.1.2 Việc sử dụng các từ ngữ theo biến thể phát âm của người dân Nam Bộ tuy là một đặc điểm không quá nổi bật và cũng khá phổ biến trong các sáng tác của các tác giả Nam Bộ cùng thời nhưng đây cũng là một trong những yếu tố tạo nên phong cách Nam

Bộ trong ngôn ngữ tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh

Trong tiếng Việt, phương ngữ mỗi miền đều có cách phát

âm riêng

“Những biến thể phát âm này sẽ bộc lộ rõ trong giao tiếp khẩu ngữ Trong ngôn ngữ viết, các biến thể phát âm trên ta không thấy lộ ra do yêu cầu của chính tả Tuy nhiên, trong tác phẩm văn chương, để thể hiện đúng cách nói năng riêng của từng nhân vật, ở những địa bàn khác nhau, nhà văn có thể khai thác các biến thể

Trang 38

phát âm bằng cách ghi lại đúng cách nói năng của nhân vật qua chữ viết” [31; 1-2]

Hồ Biểu Chánh là một trong những nhà văn tiêu biểu thành công trong lĩnh vực này Hầu như trong tất cả các trang tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh đều xuất hiện những biến thể phát âm trong phương ngữ Nam Bộ

Khảo sát tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, chúng tôi nhận thấy, hầu hết các biến thể diễn ra ở bộ phận âm chính như thay đổi

âm chính: nhơn (chân), chơn (chân), đờn ông (đàn ông), đờn bà (đàn bà), nưng (nâng), vưng (vâng), phước (phúc), huê viên (hoa viên), hoan nghinh (hoan nghênh), lum khum (lom khom), bịnh (bệnh), hun (hôn), từng (tầng) hay lược bớt âm đệm trong các trường hợp như: xao xiến, chính chiên…

“Hòn Phú Quốc là một hải đảo lớn nhứt thuộc về chủ

quyền và nằm trong hải phận của nước Việt Nam từ xưa đến nay

Tuy chúng tôi chưa nghe một văn nhơn hay thi sĩ nào ngâm vịnh mà tán dương thắng cảnh của hòn nầy, song xem địa dư, đọc

sử ký chúng tôi được biết dĩ vãng lịch sử của Phú Quốc rất vẻ vang, được thấy vị trí chiến lược rất trọng yếu, được hiểu nguồn lợi kinh

tế rất phong phú, bởi vậy chúng tôi thường lưu ý, mặc dầu chưa để chưn hay ghé mắt lên hòn Phú Quốc” (32; 6)

Hay “Nó ăn trộm ái tình của mình thì phải trừng trị nó; ấy

là lẽ tự nhiên, mà trừng trị cách nào? Mình phải giết nó chết thì mình mới đã nư giận Mà giết nó rồi mình cũng không khỏi tội Hư

là tại vợ mình, chớ không phải tại người ta, nếu vợ mình chính

chiên thì ai lấy nó được” (10; 107)

Trang 39

Ngoài ra, còn một số ít biến thể diễn ra ở phụ âm đầu như

một số trường hợp sau: hửi (ngửi), nhắm nhía (ngắm nghía), nhỏ mức (nhỏ rức), day (quay)

“Chúa tàu day mặt qua chỗ khác ngó sững một hồi, coi bộ

như suy nghĩ chuyện chi vậy, rồi mới day lại mà nói rằng: “Tôi cũng muốn cho cô mặc đồ An Nam song bây giờ còn chưa tiện”” (3;

127)

“Ông Hội đồng cầm trái mảng cầu mà hửi rồi biểu Thu

Cúc đem để trên bàn ăn” (11; 166)

Sự khéo léo, tài tình của Hồ Biểu Chánh trong việc đưa được đặc điểm phát âm của người dân Nam Bộ vào tác phẩm thông qua các từ địa phương đã góp phần làm nên phong cách ngôn ngữ của tác giả Trong mỗi trang tiểu thuyết của ông, cá tính ngôn ngữ địa phương được thể hiện một cách chân thật và sinh động

2.1.3 Hồ Biểu Chánh đã khai thác triệt để lớp từ mang đậm màu sắc khẩu ngữ Nam Bộ để đưa vào tác phẩm của mình Người đọc sẽ bắt gặp nhiều từ ngữ quen thuộc, phổ biến ở vùng đất Nam Bộ

trong tác phẩm Hồ Biểu Chánh như: buồn nghiến, giằn thúc, nín khe, đầy nhóc, dịu nhĩu, tròn vìn, mừng quýnh, chết điếng, rộng họng, bóp tai, đả nư, buồn so, cụt ngòi, cụt vốn, giả đò, xụi lơ, chút đỉnh, xài, cái việc sập nhà sập cửa, nín khe, giống gì, buồn hiu, té

ra, lạ hoắc, xí được, chưng dọn, hẳn hòi, thiệt tốt, quấy, bề nào, khoái chí, mấy bữa rày, hổm nay, mừng quýnh, từ rày sắp lên, đi riết, không dè, lung lắm

Trang 40

Để diễn đạt ý nghĩa “dằn vặt, chỉ trích”, Hồ Biểu Chánh đã

sử dụng từ “giằn thúc” – một từ mà không phải người Việt Nam

nào cũng biết nhưng rất đặc trưng trong khẩu ngữ Nam Bộ

“Bạch Tuyết đáp rằng:

- Tìm vinh lánh nhục là lẽ thường Nhưng mà em nghĩ nếu

mình có tiền ở không mà ăn, thì thân mình mới khỏi ai giằn thúc;

chớ mình nghèo đi kiếm chỗ làm ăn, làm chỗ nào lại khỏi bị người

ta sai khiến” (1; 33)

Hay như ở ví dụ sau:

“Trần Văn Sửu nín khe, bỏ đi thẳng vô nhà bếp Anh ta

thấy bếp núc lạnh tanh, mà sắc mặt chẳng có một chút giận nào hết Anh ta xách nồi đi xúc gạo đem vo, rồi nhúm lửa bắt lên mà nấu

Thị Lựu không hề léo vô bếp” (13; 7)

Không chỉ phản ánh rất trung thực khẩu ngữ của Nam Kì

lục tỉnh mà các từ như “nín khe” (nín im, nín lặng) hay “léo” (bén

mảng) còn có giá trị biểu cảm cao, phản ánh rõ tâm tư, tình cảm và trạng thái của nhân vật Có thể thấy những từ ngữ mang giá trị biểu cảm đậm chất Nam Bộ kiểu như vậy xuất hiện rất nhiều trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh Chẳng hạn như một số ví dụ dưới đây:

“Con Quyên ra đi thì lòng mừng khấp khởi, miệng chúm chím cười Tuy nó mặc đồ vải bô, song mặt nó trắng tươi môi nó đỏ

lòm, gò má nó tròn vìn, chân mày nó nhỏ mứt, bàn tay nó dịu nhỉu,

tướng nó đi khoan thai” (13; 109)

“Đến ngày tòa xử, thầy giáo Phát xuống trước một bữa ở tại Trà Vinh mà chờ Tuy thầy Hà Tấn Tài đã dặn dò mọi việc và

Ngày đăng: 07/05/2021, 22:14

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w