Ở công trình Nhạc khí trong dàn đờn tài tử Nam Bộ của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Liêm được đăng trên trang web: www.dacohoailang.com giới thiệu khái quát về các loại nhạc khí trong Đờn ca tà
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA/BỘ MÔN: LỊCH SỬ
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
CẤP TRƯỜNG NĂM 2013
Tên công trình:
ĐỜN CA TÀI TỬ - MỘT LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT ĐẶC SẮC
CỦA CƯ DÂN NAM BỘ
Sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm: Bùi Vinh Thiện Lớp Lịch sử K36, Khóa 2010 – 2014
Thành viên: Nguyễn Thành An Lớp Lịch sử K36, Khóa 2010 – 2014
Ngô Minh Nhật Lớp Lịch sử K36, Khóa 2010 – 2014 Nguyễn Hồng Nhung Lớp Lịch sử K36, Khóa 2010 – 2014
Người hướng dẫn:
TS Hồ Sơn Diệp
Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa Học Xã hội Nhân Văn
Trang 2MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 1
3 Mục tiêu của đề tài 3
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘ 4
1.1 Không gian văn hóa Nam Bộ và sự ra đời của Đờn ca tài tử 4
1.2 Quá trình phát triển của Đờn ca tài tử Nam Bộ qua các giai đoạn lịch sử 9
CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG NHẠC CỤ, CÁC BÀI BẢN VÀ HÌNH THỨC BIỂU DIỄN CỦA ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘ 18
2.1 Hệ thống nhạc cụ trong Đờn ca tài tử Nam Bộ 18
2.2 Các bài bản và hình thức biểu diễn của Đờn ca tài tử Nam Bộ 34
CHƯƠNG 3 VAI TRÒ, GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA ĐỜN CA TÀI TỬ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ BẢO TỒN, PHÁT HUY ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘ 49
3.1 Vai trò và giá trị văn hóa của Đờn ca tài tử Nam Bộ 49
3.2 Một số giải pháp và kiến nghị nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của Đờn ca tài tử Nam Bộ 53
KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong hơn một thế kỷ qua, Đờn ca tài tử Nam Bộ đã gắn liền với lịch sử nghệ thuật dân tộc Việt Nam với một sức sống vô cùng mạnh mẽ và bền gắn chặt với cư dân Nam Bộ Sau 20 đổi mới, mở cửa hội nhập với thế giới, sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế – xã hội và sự du nhập của các làn gió nghệ thuật của phương Tây và một số nước ở phương Đông đã tác động rất lớn đến nghệ thuật dân tộc của Việt Nam Nhiều loại hình nghệ thuật cổ truyền bị thế hệ trẻ lãng quên và có nguy cơ mai một, Đờn ca tài tử Nam Bộ cũng không nằm ngoài nguy
cơ ấy Song trong khi các loại hình dân tộc khác cần có sự đầu tư tài lực của nhà nước mới có thể duy trì, thì Đờn ca tài tử vẫn hiện diện trong đời sống tinh thần của cư dân Nam Bộ
Những năm gần đây, nhằm mục đích bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị của nghệ thuật hết sức độc đáo của Đờn ca tài tử, nên đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm với nhiều đề tài đã thực hiện trên nhiều phương diện, nhiều khía cạnh khác nhau Phần lớn các công trình nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành
âm nhạc như nghiên cứu về các bài bản, hay dưới góc độ sinh hoạt văn hóa nghệ thuật của Đờn ca tài tử Nam Bộ Đặc biệt, hiện nay, Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch đang tiến hành lập hồ sơ trình lên với UNESCO để đưa Đờn ca tài tử trở thành Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại Để góp vào hoạt động trên, chúng tôi đã chọn Đờn ca tài tử Nam Bộ để làm công trình nghiên cứu khoa học sinh viên cấp trường năm 2013 với hy vọng, góp thêm một số tư liệu về Đờn ca tài tử, giúp những người quan tâm có thể hiểu sâu sắc hơn về loại hình nghệ thuật này, góp phần vào việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Công trình nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành âm nhạc:
Tìm hiểu về âm nhạc cải lương của tác giả Đắc Nhẫn, Nxb TPHCM –
1998, là công trình nghiên cứu về âm nhạc cải lương Như chúng ta đã biết, cải
Trang 4lương là một loại hình nghệ thuật dựa trên cơ sở của Đờn ca tài tử Chính vì vậy,
ở công trình này các bài bản của Đờn ca tài tử được nghiên cứu một cách sâu sắc Đây chính là nguồn cung cấp các cứ liệu có giá trị, tạo cơ sở cho việc nghiên cứu về các bài bản trong Đờ ca tài tử Nam Bộ
Ở công trình Nhạc khí trong dàn đờn tài tử Nam Bộ của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Liêm được đăng trên trang web: www.dacohoailang.com giới thiệu khái
quát về các loại nhạc khí trong Đờn ca tài tử Nam Bộ, cũng như quá trình cải biến của từng loại nhạc cụ qua các giai đoạn
Thạc sĩ Huỳnh Khải trong công trình nghiên cứu Đờn Kìm trong âm nhạc tài tử, cải lương được đăng trên trang web: www.huynhkhai.com, công trình này
cung cấp cứ liệu nghiên cứu vai trò của đờn Kìm – một nhạc cụ được coi là nhạc khí chủ lực trong Đờn ca tài tử
Công trình nghiên cứu dưới góc độ văn hóa nghệ thuật:
Đờn ca tài tử trong không gian văn hóa Nam Bộ của GS.TS Trần Văn Khê được đăng trang web: www.vietbao.vn là một công trình nghiên cứu về
những giá trị văn hóa nghệ thuật đặc trưng của Đờn ca tài tử Nam Bộ trong nền văn hóa dân tộc
Trong các công trình nghiên cứu như Địa chí văn hóa TPHCM do GS
Trần Văn Giàu – Trần Bạch Đằng chủ biên, tập 3, Nxb TPHCM, 1988
Địa chí Bến Tre của các tác giả Thạch Phương – Đoàn Tú, Nxb Khoa học Xã
hội, 2001, cũng đã nêu những vấn đề về Đờn ca tài tử dưới góc độ sinh hoạt văn hóa nghệ thuật của các vùng, miền thuộc Nam Bộ nói riêng, cũng như sinh hoạt văn hóa nghệ thuật trong Đờn ca tài tử Nam Bộ nói chung
Ngoài những công trình nghiên cứu tiêu biểu trên, còn có những công trình của nhều nhà nghiên cứu, phê bình âm nhạc như: GS Trần Quang Hải, nhạc sư Vĩnh Bảo, Toan Ánh, Hồ Trường An,… đề cập đến những khía cạnh nhất định của Đờn ca tài tử Nam Bộ Nhìn chung, đây là những công trình nghiên cứu mang tính độc lập, chưa đi sâu nghiên cứu trên phương diện khái quát, tổng hợp
Trang 53 Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu của đề tài mà nhóm nghiên cứu đã xác định gồm có ba mục tiêu:
Một là, tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển của loại hình nghệ thuật Đờn ca
tài tử Nam Bộ
Hai là, tìm hiểu hệ thống nhạc cụ và các loại hình biểu diễn của Đờn ca
tài tử Nam Bộ
Ba là, đánh giá giá trị văn hóa của Đờn ca tài tử Nam Bộ và vai trò vị trí
của nó trong cơ cấu văn hóa truyền thống của dân tộc
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đề tài sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic và các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh nhằm thực hiện mục tiêu của đề tài
Trang 6CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐỜN CA TÀI TỬ
NAM BỘ 1.1 Không gian văn hóa Nam Bộ và sự ra đời của Đờn ca tài tử
1.1.1 Đất và người Nam Bộ
Trong nền văn hóa chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam thì mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại có nét văn hóa riêng rất độc đáo, đa dạng và phong phú Nam Bộ tuy là vùng đất tổ tiên ta mới khai phá lập nghiệp hơn 300 năm, nhưng văn hóa của nông thôn Nam Bộ bắt nguồn từ nền văn hóa chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam có hơn 4000 năm lịch sử
Địa phận các tình Nam Bộ được hình thành trên vùng châu thổ của hai hệ thống sông chính là sông Cửu Long ở phía tây và sông Đồng Nai ở phía đông
Có thể nói nơi đây là những vùng đất mới, vùng đất Nam Bộ là nơi hội tự của nhiều kênh rạch, sông ngòi, kinh tế tự nhiên dồi dào Do vị trí địa lý thuận lợi nên từ xưa Nam Bộ được xem là một mảnh đất “lành” thu hút nhiều dân tộc đến
cư trú, mỗi cộng đồng người ấy mang trong mình hành trang đến vùng đất mới
là những phong tục, tập quán… của riêng họ Ngay từ thời kỳ khai phá vùng đất mới này từ thế kỷ XVII – XVIII, những nét đặc sắc của văn hóa Việt, Khmer, Hoa, Chăm đã gặp gỡ nhau, đan xen và hòa quyện vào nhau và chính nhu cầu của cuộc sống, các đồng người này gắn bó mật thiết với nhau, chấp nhận cả những khác biệt về mặt văn hóa của nhau, từ đó trở thành một nét truyền thống của văn hóa Nam Bộ
Nói đến vùng đất Nam Bộ là nói đến những dòng sông lớn nhỏ đan xen nhau chằng chịt Các dòng sông có khi hiền hòa, có khi dữ tợn theo sự biến đổi của thời tiết vào những mùa nước nổi, những cánh đồng phì nhiêu bạt ngàn thẳng cánh cò bay đã hình thành vựa lúa lớn nhất nước ta, đó là vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long Những bãi biễn đẹp, những vườn cây ăn quả sum xuê bốn mùa hoa trái, những khu vườn quốc gia, vườn chim, khu bảo tồn thiên nhiên, khu du lịch, những chợ nổi trên bến dưới thuyền, những ngôi nhà trăm cột,
Trang 7những chùa, đền, thánh thất nguy nga, những lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo thu hút đông đảo du khách thập phương hành hương đến vùng đất giàu đẹp này du lịch Bên cạnh các đặc điểm về tự nhiên và khí hậu của vùng đất giàu có này thì Nam Bộ còn là nơi có một nền văn hóa hết sức độc đáo, phong phú và đa dạng từ thời khẩn hoang vẫn còn lưu truyền cho tới hiện nay
Nhờ có điều kiện tự nhiên và môi trường ưu đãi đã tạo cho Nam Bộ những sắc thái văn hóa tiêu biểu, những tính cách riêng của con người vùng đất này Đặc trưng đầu tiên dễ nhận thấy là quá trình giao lưu văn hóa diễn ra với tốc độ mau lẹ, tạo cho tính cách người Nam Bộ cởi mở, hướng ngoại
Nhờ có điều kiện tự nhiên và môi trường ưu đãi đã tạo cho Nam Bộ những sắc thái văn hóa tiêu biểu, những tính cách riêng của con người vùng đất này Khi nói tới vùng đất Nam Bộ cũng là nói tới những con người của vùng đất phương Nam rất dễ thương, với tâm hồn bình dị, trực tính, sống hết mình và rất giàu đạo nghĩa, dám chơi, dám ăn, dám làm, dám chịu Người Nam Bộ trọng đạo nghĩa theo kiểu “Nhớ câu kiến ngãi bất vi, làm người như thế cũng phi anh hùng” Tính cách con người Nam Bộ rạch ròi giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa thiện và ác
Từ thuở đi mở cõi, những cư dân Nam Bộ đã phải đương đầu với muôn vàn hiểm nguy, do đó mà tính cách con người nơi đây nỗi tiếng là cương trực, dũng cảm Những đức tính này đã được hun đúc từ những cuộc chiến chống thú
dữ, chống giặc cướp, chống sự truy lùng của quan quân thời phong kiến, chống lại sự bạo tàn của thực dân xâm lược, trải qua chinh chiến triền miền để trụ lại, cải tạo vùng đất mới này Chính sự vật lộn với những khó khăn như vậy nên đã hình thành tính cách của người dân xứ này “thương người như thể thương thân”
1.1.2 Đờn ca trong đời sống và lao động sản xuất của người dân Nam Bộ
Đời sống lao động sản xuất của người dân Nam Bộ gắn liền với quá trình lao động nông nghiệp lúa nước mang bản sắc của miền sông nước phương Nam Người dân Nam Bộ quanh năm với cuộc sống lao động cần cù, vất vả từ thời mới khẩn hoang với mong muốn chinh phục thiên nhiên, đem lại cuộc sống ấm
Trang 8no cho mình Do đó mà đời sống tinh thần của người dân Nam Bộ dần được hình thành trên cơ sở nền tảng của đời sống lao động sản xuất
Đất mới, con người mới, trên vai không nặng gánh truyền thống hàng ngàn năm, do đó con người trở nên mạnh bạo hơn, năng động, cởi mở hơn,… Sống trong những điều kiện lịch sử luôn biến động, người dân Nam Bộ đã tạo dựng một nếp sống tinh thần ấm áp, bình đẳng, lấy tình nghĩa huynh đệ làm trọng, sống chết có nhau, giữ trung cang nghĩa khí lúc khó khăn, thời vận đổi thay…
Từ xa xưa, lúc mới vào khai khẩn đất hoang, người dân nơi đây đã mang một tâm hồn với nỗi nhớ lúc xa quê thấm đượm trong lòng mỗi con người Để trãi lòng với thiên nhiên, với bạn bè, người dân Nam Bộ đã dùng lời ca tiếng hát
để động viên nhau khi vui, khi buồn, động viên nhau trong lao động sản xuất để vượt qua gian nan, khó nhọc Đầu tiên, là những điệu nhạc, lời ca mà họ mang theo từ vùng Thanh Nghệ - Ngũ Quảng, đặc biệt là những điệu nhạc, lời ca da diết, sâu thẳm nỗi buồn của “khúc ruột miền trung” phù vợi với tâm trạng của những người xiêu tán sống xa nơi chôn rau cắt rốn
Tiếp đó, trải quan quá trình lao động sản xuất của cư dân, những điệu nhạc, lời ca cứ thế ra đời để đáp ứng nhu cầu tinh thần của người dân Nam Bộ Lần hồi, đờn ca là món ăn tinh thần không thể thiếu của cư dân lao động miền sông nước Nam Bộ, là tâm tư của những lưu dân chân lấm tay bùn đi khai hoang
mở đất Tuy nhiên, những điệu nhạc lời ca mà họ mang theo hát hoài đã trở nên nhàm chán, do vậy người dân phải biến đổi, cải biên, sáng tác thành những làm điệu mới để phù hợp hơn với nhịp điệu sản xuất và sự thay đổi của thời cuộc Trên cơ sở đó, những điệu hò, điệu lý, cải lương, đờn ca tài tử… lần lượt ra đời, như là kết quả của một quá trình hoạt động tư duy đổi mới, lao động sáng tạo, trên cở sở kết tinh những tinh túy từ các giai điệu âm nhạc theo các dòng người
tứ xứ về vùng đất
Nam Bộ phi nhiêu màu mỡ Đờn ca tài tử có nguồn gốc từ nhạc Lễ của triều đình Nguyễn nhưng có sáng tạo cho phù hợp với tâm hồn người phương
Trang 9Nam Đúng như Nguyễn Đắc Hưng trong tác phẩm Việt Nam văn hóa và con người có viết: “Nghệ thuật âm nhạc Đờn ca tài tử, sân khấu cải lương, cùng với hàng trăm điệu hò, điệu lý, bài vè đã tạo nên một nền nghệ thuật vùng đất phương Nam vô cùng đặc sắc Vùng đất Nam Bộ luôn mở rộng lòng mình đón khách muôn nơi.”[1]
1.1.3 Sự ra đời của Đờn ca tài tử Nam Bộ
Đờn ca tài tử (còn gọi là nhạc tài tử) được phát triển chủ yếu tại miền Nam Việt Nam Thuật ngữ “tài tử” có thể hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất, “tài tử”
là những người tài năng (talent), những bậc thầy tham gia trình diễn; thứ hai,
“tài tử” là những người nghiệp dư (amateur), gồm cả những bậc thầy – nhưng không lấy đó làm kế sinh nhai – tham gia biểu diễn (music of the amateurs).[2]
Ý nghĩa chữ “tài tử” ở đây là “người có tài” như câu thơ trong truyện Kiều “dập dìu tài tử giai nhân” Cũng có người hiểu lầm chữ “tài tử” ở đây là không chuyên nghiệp GS Trần Văn Khê cho rằng, tài tử là người có tài và chỉ việc không dùng nghệ thuật của mình làm kế sinh nhai Tuy nhiên, không phải
vì thế mà trình độ của đờn tài tử lại thấp Để trở thành người đờn tài tử đúng nghĩa phải trải qua thời gian tập luyện rất công phu, tập từng chữ nhấn, chữ chuyền, phải rao sao cho mùi, sắp chữ lời ca sao cho đẹp và luôn tạo cho mình một phong cách riêng
Đờn ca tài tử hình thành từ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Nam Bộ Thoạt tiên, âm nhạc tài tử xuất phát từ nhã nhạc cung đình Huế, rồi các nhạc sĩ, nhạc quan của Triều Nguyễn theo phong trào Cần Vương tiến về phương Nam Trên đường đi họ dừng chân ở Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, từ đó tiếng đờn, giọng ca xứ Huế mang thêm chút hương vị xứ Quảng
1 Nguyễn Đắc Hưng (2009), Việt Nam văn hóa và con người, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, trang 241
2 Theo chương trình Tiếng tơ đồng do nghệ sĩ ưu tú Chí Tâm và Ngọc Đan Thanh thực hiện được đăng trên trang wed: https://www.youtube.com/watch?v=3wp-Ijr-ivk
Trang 10Nhưng khi vào đến miền Nam thì tiếng đờn miền Trung đã thay đổi rất nhiều, thậm chí một số bài bản tuy mang cùng tên mà nét nhạc đã khác xa
Bắt nguồn từ nhạc lễ, Nhã nhạc cung đình Huế và văn học dân gian, Đờn
ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam Bộ Đó là nghệ thuật của đờn và ca, do những
người bình dân, thanh niên nam nữ
nông thôn Nam Bộ hát ca sau những
giờ lao động Đờn ca tài tử xuất hiện
hơn 100 năm trước, là loại hình diễn
tấu có ban nhạc gồm 4 loại là đờn
kìm, đờn cò, đờn tranh và độc huyền
cầm (gọi là tứ tuyệt) Sau này, có
cách tân bằng cách thay thế độc huyền cầm bằng cây guitar phím lõm Những người tham gia Đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè, chòm xóm với nhau Họ tập trung lại để cùng chia sẻ thú vui tao nhã nên thường không câu nệ về trang phục
Lúc tiền nhân khai phá vùng đất Nam Bộ, điều kiện kinh tế còn hạn hẹp, văn hóa chưa được nâng cao và thiếu thốn đủ phương diện; thế nên mỗi câu, mỗi
ca từ trong bài đều mang tính dạy đời Đờn ca tài tử viết về thế thái nhân tình, về chồng vợ, bạn bè; một số bài thì ca ngợi tính trung quân ái quốc Đờn ca tài tử là một hoạt động âm nhạc mang tính đặc thù của vùng đất Nam Bộ
Nhắc đến Đờn ca tài tử người ta nghĩ ngay đến xứ miệt vườn, đến vùng đất phương Nam, là thú giải trí trên ghe thuyền, sông rạch, bên ánh lửa rừng khuya bập bùng của các lưu dân Với người dân Nam Bộ, Đờn ca tài tử đã trở thành một nét sinh hoạt văn hoá truyền thống lâu đời
1.2 Quá trình phát triển của Đờn ca tài tử Nam Bộ qua các giai đoạn lịch sử
1.2.1 Đờn ca tài tử Nam Bộ trước năm 1975
Lần theo tư liệu của các nhà nghiên cứu, các văn nghệ sĩ Nam Bộ và những người yêu nghệ thuật Đờn ca tài tử, người ta có thể biết rằng, kể từ nửa
Ban Đờn ca tài tử Nam Bộ xưa Nguồn: http:www.hungvuongdalat.info
Trang 11cuối thế kỉ XIX tới nay, Đờn ca tài tử Nam Bộ đã có một quá trình phát triển trên một trăm năm Con số đó thật nhỏ nhoi so với lịch sử âm nhạc của một quốc gia đã có tuổi đời hàng ngàn năm Mặc dù vậy, thể loại âm nhạc này đã có một sức phát triển thật đáng khâm phục, không chỉ bởi tốc độ phát triển nhanh chóng của nó, mà cả bởi sức chống chọi với bối cảnh khắc nghiệt mà nó phải đương
đầu
GS Trần Văn Khê cho biết đến nay vẫn chưa có tài liệu nào khẳng định
về niên đại cụ thể của nghệ thuật Đờn ca tài tử “Theo các bậc thầy trong nghề, Đờn ca tài tử hình thành vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, nhờ các nhạc sĩ, nhạc quan của triều Nguyễn theo phong trào Cần Vương vào Nam đem theo truyền thống Ca Huế Trên đường đi họ dừng chân ở Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, từ đó tiếng đờn giọng ca xứ Huế mang thêm chút hương vị xứ Quảng…”.[3]
Ca Huế là một trong những nguồn gốc hình thành Đờn ca tài tử Nam Bộ
Ca Huế là một loại quan nhạc, tức là nhạc để chơi trong nhà quyền quí, hay trong cung phủ Dần dần lối nhạc này được ưa thích và truyền bá trong dân gian Một số bài bản của Ca Huế lấy từ Nhã nhạc cung đình Có thể nói, âm nhạc đất Thần Kinh đã liên quan mật thiết đến Đờn ca tài tử
Ca Huế vào đất Quảng, tiếp thu lối đờn Quảng rồi vào đến Nam Bộ lại tiếp tục biến đổi Một số điển hình cho sự phát triển này như: điệu Lưu Thủy Thục Giang qua giai đoạn Lưu Thủy Quảng mới trở thành Lưu Thủy Đoản Miền Nam, Phú Lục Huế chuyển hơi thành Phú Lục Quảng rồi khi vào Nam, bài Phú Lục Chấn chỉ còn giữ lại đôi chút của Phú Lục Huế Riêng bản Nam Ai Nam và Nam Ai Huế thì tuy trùng tên nhưng nét nhạc đã khác xa cùng nhiều sự biến đổi khác
Có thể tóm tắt quá trình hình thành Đờn ca tài tử như sau: Ca Huế đi qua đất Quảng, cải biến theo lối đờn Quảng Theo bước chân vào Nam, gặp phong
3 Trần Văn Khê (2004), Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, trang 209
Trang 12trào văn nghệ dân gian là hò, lý, đặc biệt là phong trào đờn ca ở đây sẵn có, hình thành Đờn ca tài tử với đầy đủ tính chất, đặc trưng
Có công đầu trong việc truyền bá Ca Huế là các nhạc quan cung đình có tên tuổi như Nguyễn Liên Phong và con trai là Nguyễn Tòng Bá (còn gọi là Tư Bá), dạy đờn kìm, đờn tranh, đờn tỳ bà khắp lục tỉnh Ông Phạm Đăng Đờn về ở Vĩnh Long dạy đờn độc huyền Ông Trần Quang Thọ, nhạc công cung đình vào Nam lập nghiệp, khai sinh dòng tộc có bề dày truyền thống Đờn ca Tài tử Ông Trần Quang Diệm (1853 – 1927) là bậc thầy đờn tỳ bà
Dựa theo các nhà nghiên cứu, các nghệ nhân thì Đờn ca tài tử hình thành vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Lúc này ở Nam Bộ đã hình thành hai nhóm
ca nhạc tài tử là nhóm miền Đông và nhóm miền Tây, tranh đua với nhau về nghệ thuật, ra sức cải tiến, nâng cao sáng tác thêm nhiều bài bản mới bổ sung vào Trưởng nhóm miền Tây là ông Trần Quan Quờn (Ký Quờn), trưởng nhóm miền Đông là ông Nguyễn Quang Đại Nhờ sự giao lưu và thi đua giữa các môn phái tài tử miền Đông và miền Tây lúc bấy giờ đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của Đờn ca tài tử chẳng những về kỹ thuật đờn, ca, mà cả về phương diện ghi chép, hệ thống hoá, tu chỉnh những bản nhạc cổ, đào tạo những nghệ sĩ đờn ca, sáng tác, nhờ đó dẫn tới sự phát triển mạnh mẽ của phong trào sáng tác
mới theo lối cổ nhạc
Nguyễn Quang Đại là nhạc quan của triều đình Huế, vì bất mãn cảnh phải phục vụ giặc Lang Sa xâm lược, đã bỏ kinh thành vào Nam sau khi hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi (khoảng thập niên 1870) Ông trôi dạt đến vùng đất Chợ Đào (nơi có gạo Nàng Thơm Chợ Đào, xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước, tỉnh Long An), mở lớp dạy đờn ca Trước tới nay chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ về thân thế và sự nghiệp của nhạc sư, chỉ biết ông sống cùng thời với ông Trần Quang Diệm Ông là người Quảng Nam, con thứ ba trong gia đình, theo cách gọi của dân Nam Bộ là Ba Đại, nhưng nói trại ra là Ba Đợi Tại Chợ Đào, ông Ba Đợi thu nhận những học trò có máu mê đờn ca để truyền dạy những bài bản cung đình Nhạc lễ cung đình trang trọng, hoành tráng đã trở nên
Trang 13dân dã, gần gũi trong môi trường của vùng đất mới khẩn hoang Từ Cần Đước, nhạc tài tử được khơi nguồn từ ông Ba Đợi đã nhanh chóng giao thoa cùng các dòng nhạc lễ khác ở Nam Bộ, hình thành nên bộ môn nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ từng phát triển rực rỡ trong nửa đầu thế kỷ XX
Nhạc sư Ba Đợi là người đã hệ thống 20 bài bản tổ, sáng tác nhiều bài bản khác như bộ Ngũ Châu miền Đông, sáng tác Bát Ngự nghinh giá vua Thành Thái lúc Người vào Nam Ông mất tại Sài Gòn, đến nay thì mồ mả xiêu lạc không còn dấu tích Sau người dân xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước, Long An, nơi ông từng dừng chân đã rước linh vị ông về thờ phụng, hằng năm đều tổ chức lễ giỗ long trọng Có người xem đó là ngày Giỗ tổ Đờn ca tài tử Ông được tôn vinh là Đức nghệ nhân tiền phong nhạc Lễ, nhạc tài tử
Thành phần tiếp thu và truyền dạy nhạc ban đầu không phải chỉ có các trí thức gốc miền Trung mà còn có sự đóng góp rất sớm của trí thức nông thôn Nam Bộ, đó là trường hợp Phan Hiển Đạo Phan Hiển Đạo (1830 – 1872) là người làng Vĩnh Kim Đông (nay thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang), dưới triều vua Tự Đức đã đậu tiến sĩ Trong thời gian lưu học ở Huế, ông đã tiếp thu âm nhạc nơi đây, am tường nhiều nhạc cụ dân tộc Sau khi về làm quan tại quê nhà, ông đã truyền dạy cho nhiều học trò, đặc biệt trong cách chơi đờn cò và thổi sáo Theo một số tư liệu, trong số những người từng thọ học thầy Phan Hiển Đạo có ông Lê Văn Huệ và Nguyễn Tri Túc, hai ông đã tiếp tục truyền dạy cho thế hệ con cháu mình
Ngay từ cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, đã có bài bản tài tử ra đời,
khóc lên nỗi đau mất nước, cảnh mẹ mất con, vợ lìa chồng… Văn Thiên Tường
của ông Trần Văn Thọ để tưởng nhớ Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân, ít lâu sau,
khi nhà yêu nước này bị thực dân Pháp giết hại tại Mỹ Tho; Bát ngự của ông Ba
Đợi sáng tác nhân dịp vua Thành Thái vào Sài Gòn (khoảng năm 1898 – 1899),
để tỏ lòng ngưỡng vọng của nhân dân đối với quân vương, vì lòng tôn quân ái quốc, dẫu họ bị triều đình bỏ rơi trong cuộc chiến 1859 – 1894
Trang 14Tách ra khỏi nhạc lễ, dàn nhạc tài tử với nhạc dây, khảy, kéo, đã có đủ điều kiện thể hiện cuộc sống lao động của nhân dân không bị bó chết trong một khuôn khổ lễ nghi cúng bái Tính chất thần linh đã mất đi ngay trong giai điệu của nó Với sự xuất hiện của lời ca bổ sung cho ngôn ngữ âm nhạc, nhạc tài tử
càng có khả năng phản ảnh hiện thực xã hội lúc bấy giờ Trong bài Tứ đại Khổ sai Côn Hồn của Nguyễn Tùng Bá (tập Bát tài tử, xuất bản ngày 29 – 8 – 1915)
tố cáo thực dân Pháp đầy đọa con người ở chốn “địa ngục trần gian”
Bài Tứ đại Bài ca đi Tây (tập Thập tài tử xuất bản ngày 15 – 6 – 1915)
kể chuyện một “giáo quan” ở Tân An quyết chí đi Tây để biết xứ sở văn minh
nó ra thế nào, không ngờ sang tới nơi “làm té ra bạc ngàn, bị điếm đầm chẳng còn bao nhiêu” đến khi về nước
Bài Tứ đại Văn minh của Hoàng Huấn Trai (tập Thập tài tử Đặng Đức Lợi) cổ động cho phong trào Duy Tân Bài Tứ đại Cảnh phó ca của Trương Duy
Toản[4], ca ngợi cuộc Minh Tân do Trần Chánh Chiếu chủ trương đồng thời phản đối thực dân Pháp phế truất vua Thành Thái, một ông vua có tư tưởng yêu nước chống Pháp
Lời ca của nhạc tài tử đã góp phần phản ảnh hiện thực đương thời và nhiều bài có nội dung yêu nước, tiến bộ Nhất là sau khi phong trào Duy Tân bị thực dân Pháp đờn áp, một số chí sĩ bị Pháp bắt đi đày hay quản thúc, tham gia soạn lời ca thì những bài ca mang ẩn ý chống Pháp lại càng nhiều Khi Trương Duy Toản, chiến sĩ của phong trào Duy Tân, bị quản thúc tại làng Nhơn Ái
(Phong Điền, Cần Thơ) đã soạn nhiều bài ca trong đó có bài Hà bất úy như hề,
kể chuyện người thà bị hổ ăn thịt chứ không chịu dời đi nơi khác, vì nơi đang ở không có chính trị hà khắc, qua đó nhằm phê phán chính trị của thực dân Pháp
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đờn ca tài tử cũng giữ vai trò chủ chốt cho phong trào “Tiếng hát át tiếng bom” ở Nam Bộ Nhiều bản tài tử, bài ca mới được sáng tác phục vụ công tác tuyên truyền, địch
vận đã trở thành bất hủ như: Mặt trận Tầm Vu, Chống Bảo Đại… Ngay cả bản
4 Lục Tỉnh Tân Văn, số 24 ngày 30 – 4 – 1908
Trang 15Dạ cổ hoài lang, tiền thân của bản vọng cổ – “bài ca vua”trên sân khấu cải
lương – cũng được gợi ý từ chủ đề nỗi niềm của người dân mất nước
Nhạc tài tử đã thể hiện được nhiều sắc thái tình cảm từ niềm vui trong lao động, tình yêu, hạnh phúc đến nỗi đau khổ khi ly biệt, nhớ nhung, tang tóc hay bị áp bức, bóc lột, đầy ải… qua đó có thể gởi gắm được tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nên được đông đảo nhân dân ưa thích và phổ biến rộng rãi,
chỉ trong ít năm đã lan ra khắp xứ
Có thể khẳng định rằng, Đờn ca tài tử được sinh ra từ con người Nam Bộ
và đã ăn sâu vào tiềm thức của họ Đờn ca tài tử là một sinh hoạt âm nhạc mang tính truyền thống, là món ăn tinh thần không thể thiếu trong các lễ hội, đám tiệc, thậm chí ở cả một số đám tang Chính vì sinh ra trong lòng nhân dân nên Đờn ca tài tử có sức lan tỏa và lâu bền
Đầu thế kỷ thứ XX, Đờn ca tài tử trở thành một phong trào ca nhạc phổ thông tại miền Nam, nhất là tại các địa phương như Bạc Liêu, Vĩnh Long, Sa Đéc, Cần Đước (Long An), Cái Thia (Mỹ Tho), và Sài Gòn, v.v Các nhóm tài
tử khối miền Đông (ở vùng Sài Gòn – Chợ Lớn và phụ cận), và nhóm tài tử khối miền Tây (ở Vĩnh Long và Sa Đéc) cũng được hình thành Đứng đầu nhóm tài
tử khối miền Đông là ông Nguyễn Quang Đợi tức Ba Đợi, một nhạc sư từ triều đình Huế vào sống ở Cần Đước cùng với các nghệ
sĩ khác như Cao Huỳnh Cư và Cao Huỳnh Điểu
Nếu miền Đông Nam Bộ có nhạc sư
Nguyễn Quang Đại làm thủ lĩnh thì giới Tài tử Tây
Nam Bộ lại chịu ảnh hưởng của nhạc sư Lê Tài Khị
(1870 – 1948), tục gọi là ông Hai Khị, hay Nhạc
Khị[5], vì ông chuyên về Nhạc lễ Ông sinh trưởng
trong gia đình nghệ thuật ở Bạc Liêu, cha là ông
5 Trong những thập niên trước, người Bạc Liêu ít khi gọi những thầy đờn cổ nhạc là nhạc sư hay nhạc sĩ, mà chỉ gọi vắn tắt là “nhạc” cộng thêm cái tên của người đó Từ “nhạc” vừa để chỉ nghề nghiệp vừa để chỉ tính chất chuyên nghiệp, lâu dần trở thành một thành tố của tên người
Nhạc sĩ Lê Tài Khị Nguồn: http:www.tranquanghai.info
Trang 16Phó tổng Lê Văn An, tức ông Bầu An có gánh hát bội nổi tiếng miền Tây Ngoài chuyên Nhạc lễ, ông cũng chơi đờn theo phong cách Tài tử Theo cụ Vương
Hồng Sển trong Hồi kí 50 năm mê hát, người đương thời biết đến Nhạc Khị như
một tài năng đặc biệt khi một mình chơi trọn bộ cổ nhạc gồm nhiều nhạc cụ với tiết tấu nhịp nhàng như trong một dàn nhạc đông người Công lao to lớn của ông đối với cổ nhạc miền Nam là đã đào tạo nên những nhạc sư tài danh như Bảy Kiên, Hai Húa, Ba Lất, Tám Bằng và hai nhạc sĩ sáng tác những bài bản mới như nhạc sĩ Trần Tấn Trung, tức Mộng Vân, và nhạc sĩ Cao Văn Lầu, cha đẻ của
bản Dạ cổ hoài lang Ông được tôn vinh là Hậu tổ tài tử – Cải lương Riêng
nhóm tài tử khối miền Tây có ông Trần Quang Quờn tức Ký Quờn người Huế vào sống ở Vĩnh Long làm thủ lĩnh cùng với các nghệ nhân Trần Quang Diệm, Nguyễn Liên Phong và Nguyễn Tư Ba người gốc Quảng Nam Các nghệ nhân này là những nhà tiên phong trong những cố gắng biên soạn, sáng tác và giảng dạy nhạc tài tử theo phong cách riêng của mình Các nhạc cụ sử dụng trong nhạc tài tử thường có đờn tranh, cò, kìm, gáo, độc huyền, song lang, và ống tiêu v.v Khoảng từ năm 1920, đờn guitar phím lõm (hay “lục huyền cầm” hoặc chỉ gọi đơn giản là “ghi-ta”), hạ uy cầm, và violon (hay vĩ cầm) cũng được thêm vào trong ban nhạc
Đờn ca tài tử chính là tiếng lòng của người dân nên trong hai thập kỷ đầu thế kỷ XX phong trào Đờn ca tài tử đã ngày càng lan rộng và phát triển mạnh
mẽ khắp nơi, từ các thành đô sầm uất cho tới tận những vùng hoang vu vắng vẻ nhất như Đồng Tháp Mười, Rừng U Minh… Điển hình nhứt là ban nhạc tài tử của ông Nguyễn Tống Triều, thường gọi là Tư Triều, sinh hoạt đờn ca ở Mỹ Tho vào khoảng năm 1910 Đây là ban Đờn ca tài tử một thời nổi tiếng ở lục tỉnh Nam kỳ và đã sản sinh ra nhiều nhạc sĩ, nhiều nghệ sĩ sau này trở thành những cây đại thụ cho nền cải lương trong cả nước Đặc biệt là vào khoảng năm 1935,
ở vùng Rạch Giá (Kiên Giang ngày nay) do sớm tiếp cận với cái nôi của nhạc tài
tử Nam Bộ, nên đã sản sinh ra một trường phái diễn tấu bài vọng cổ theo một
Trang 171.2.2 Đờn ca tài tử từ 1975 đến nay
Sau ngày miền Nam giải phóng, phong trào được khơi dậy, dần dần trở lại khởi sắc Phong trào Đờn ca tài tử ngày càng sôi động và lan rộng trên khắp địa bàn tỉnh, từ nông thôn đến thành thị, từ xã phường đến xóm ấp… từ đám tiệc
ở tư gia đến nhà hàng và tụ điểm văn hóa… đâu đâu cũng vang lên tiếng đờn lời
ca
Nhạc tài tử đã kế thừa những tinh hoa của truyền thống ca nhạc dân tộc
và tiếp thu có chọn lọc những cái hay từ bên ngoài đưa lại rồi sáng tạo và phát triển thêm Trước hết là việc sử dụng, phục hồi và nâng cao các bản dân ca Nam
Bộ như: Lý con sáo, Lý chuồn chuồn, Lý giao duyên, Lý vọng phu… Những bài
dân ca Huế khi lan truyền vào Nam Bộ cũng được cải biên cho phù hợp với tính chất của miền đất này
Đờn ca tài tử phục vụ khách du lịch ở Tiền Giang Nguồn:vannghetiengiang.thoitre.com
Trang 18Theo thời gian, cùng với sự phát triển cực thịnh của sân khấu cải lương, phong trào Đờn ca tài tử không còn rầm rộ nhưng vẫn không thể thiếu trong đời sống người dân Nam Bộ, nhất là vùng nông thôn Đến thời kỳ đổi mới, kinh tế khởi sắc, xã hội phát triển nhanh, nhiều loại hình văn hóa nghệ thuật du nhập ào
ạt, sân khấu cải lương rực rỡ là thế cũng dần bị đẩy lùi Đờn ca tài tử chỉ còn là
“dĩ vãng xa xôi” và thực sự đứng trước nguy cơ mai một Từ những năm 1990, các địa phương dần “xốc” lại phong trào đờn ca tài tử nhằm giữ gìn và phát huy loại hình nghệ thuật đặc sắc này: đưa Đờn ca tài tử vào phục vụ du lịch (sớm nhất ở Tiền Giang), tổ chức các liên hoan Đờn ca tài tử (hai năm một lần hoặc diễn ra mỗi năm)… Những năm gần đây, khi Nhà nước có kế hoạch lập hồ sơ trình UNESCO công nhận đờn ca tài tử là Di sản phi vật thể của nhân loại thì phong trào Đờn ca tài tử đã trở lại thật mạnh mẽ Hàng loạt liên hoan Đờn ca tài
tử các cấp được tổ chức khắp nơi
Đờn ca tài tử ngày xưa không có thể chế, không có tổ chức nhưng ngày nay nó nằm trong đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng Từ đó được nâng đỡ, quan tâm và đồng thời cũng đi theo định hướng Tức là phục vụ yêu cầu nhiệm
vụ chính trị, các lễ hội, lễ lộc ở địa phương Ví dụ như nói về Bác thì rất nhiều bài vọng cổ và các thể điệu Nói về Đảng cũng hàng trăm bài, chủ đề rất phong phú Còn đờn ca về cuộc sống lao động dân dã, tình yêu quê hương đất nước, tình yêu đôi lứa thì có hàng vô số bài…
Liên hoan Đờn ca tài tử Nam Bộ 2012 tại Vĩnh Long
Nguồn: http:www.tuyengiao.soctrang.gov.com
Trang 19CHƯƠNG 2
HỆ THỐNG NHẠC CỤ, CÁC BÀI BẢN VÀ HÌNH THỨC BIỂU DIỄN
CỦA ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘ 2.1 Hệ thống nhạc cụ trong Đờn ca tài tử Nam Bộ
Người dân Việt Nam luôn tự hào có một nền âm nhạc cổ truyền hết sức
đa dạng, phong phú Nền âm nhạc cổ truyền giàu tính nghệ thuật ấy được thể hiện bởi những nhạc khí tuy thô sơ nhưng sức chuyển tải vô cùng to lớn
Hệ thống nhạc cụ Đờn ca tài tử Nam Bộ được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, có những nhạc cụ được sinh ra trên đất Việt Nam, có những nhạc cụ được du nhập từ nhiều nơi trên thế giới nhưng dù chúng có xuất phát từ đâu đi chăng nữa, điều quan trọng là những nhạc cụ ấy đều thể hiện được những tình cảm của người dân Việt Nam, của trái tim Việt Nam bằng ngôn ngữ, tiếng nói của con người Việt Nam đầy nghệ thuật và giàu lòng nhân ái Thật vậy, Cố giáo
sư Emile Leipf, chuyên gia thanh học đại học piano, sau khi nghiên cứu một số
nhạc cụ dân tộc Việt Nam đã nhận xét rằng: “dưới dạng đơn sơ, nhạc cụ việt Nam có hiệu quả và năng suất cao trong lĩnh vực thanh học và khả năng biễu diễn”[6]
Khác với ca trù miền Bắc hay ca Huế miền Trung mà lời ca quan trọng hơn tiếng đờn, trong Đờn ca tài tử thì dàn nhạc lại chú ý hơn tiếng ca Người nghe chú trọng vào chữ đờn nhấn có gân, cách xếp chữ, sắp câu cho duyên dáng, cách xuống câu đến xang, hò, xề, xự… ngọt ngào uyển chuyển; cách đờn câu thong, câu nhồi, câu lợi bay bướm, đa dạng Tuy nhiên, tiếng ca cũng không kém phần quan trọng Đờn và ca phải hòa hợp với nhau, hơi ca không được đâm (còn gọi là đâm hơi), tiếng đờn không được chỏi, rớt nhịp Điều này thể hiện sự sáng tạo lạc quan trong làn nghệ thuật của nhân dân Nam Bộ, tạo nên nét đặc trưng riêng trong văn hóa dân tộc
Khi mới hình thành, Đờn ca tài tử là loại hình diễn tấu có ban nhạc gồm
4 nhạc cụ chính bao gồm: đờn kìm, đờn cò, đờn tranh và độc huyền cầm (thường
6 Hồi ký Trần Văn Khê (2001), Thủ bút của tác giả, Nhà xuất bản trẻ
Trang 20được gọi là tứ tuyệt) Và có hai loại nhạc đó là: nhạc lễ tài tử và nhạc tài tử Nhạc lễ tài tử chuyên phục vụ các đám tang với tranh, kìm, cò, gáo, sến và tiêu Còn nhạc tài tử thì ngoài những loại nhạc cụ trên còn có tỳ bà, tam, đoản, bầu, sáo…Về sau, Đờn ca tài tử có thêm sự góp mặt của các loại đờn khác có nguồn gốc du nhập từ phương Tây, góp phần làm cho hệ thống các nhạc cụ của quá trình biểu diễn Đờn ca tài tử Nam Bộ thêm đa dạng phong phú và sinh động hơn trong quá trình biễu diễn cũng như tạo thêm hứng thú cho người thưởng thức Các loại đờn có thể nhắc đến đó là: guitar phím lõm, đờn sến, đờn hạ uy di, mandolin khoét phím, violon… Ngoài ra còn có thêm các loại nhạc khí như tiêu, sáo trúc, kèn tây… Tuy nhiên, hầu hết những loại nhạc cụ này đã được điều chỉnh các cung, bậc, thang âm để có thể hoà quyện một cách phù hợp với các loại nhạc cụ của âm nhạc truyền thống Việt Nam trong quá trình hòa tấu biễu diễn
Xin nói thêm, khi biễu diễn nhạc tài tử, các nghệ sĩ thường chú trọng đến
sự kết hợp của các nhạc cụ có âm sắc khác nhau, nhất là song tấu đờn kìm và đờn tranh là sự kết hợp giữa tiếng tơ và tiếng sắc, hoặc tam tấu đờn kìm – tranh – cò, hay kìm – tranh – độc huyền, tranh – cò – độc huyền Một điểm đặc biệt của nhạc tài tử nữa đó là lối đờn ngẫu hứng Người nghệ sĩ dựa trên lòng bản truyền thống để thêm thắt những nhấn nhá, luyến láy của riêng mình một cách rất tinh tế dựa trên hơi và điệu của những chữ nhạc chính, nhưng đồng thời phải hòa hợp với những nghệ sĩ cùng biễu diễn khác Chính vì thế, mà mỗi lần nghe lại cùng bản đờn, người nghe luôn luôn thấy mới lạ và hài hòa, mỗi người đờn
sẽ có chữ riêng cho mình tùy khả năng sáng tạo chữ đờn Và dĩ nhiên nhịp điệu vẫn đúng khi dứt nhịp
Sau đây nhóm nghiên cứu đề tài xin đề cập một số nhạc cụ tiêu biểu trong hệ thống nhạc cụ đờn ca tài tử:
Trang 21Đờn kim Nguồn: http:www.tranquanghai.info
2.1.1 Đờn Kìm
Đã từ lâu rồi đờn Kìm còn
có tên gọi là Nguyệt cầm, một nhạc cụ
dân tộc được giao cho nhiệm vụ chỉ
huy dàn nhạc được sử dụng rộng rãi
trong dòng nhạc dân gian cũng như
cung đình bác học cổ truyền của người
Việt Cho tới hiện nay chưa có sách vở
nào đề cập một cách chuyên sâu và khoa học về đờn Kìm và nhạc cụ
mang đậm nét quê hương này có nguy cơ bị thất truyền vì có nhiều
người chưa hiểu rõ tính năng và nét độc đáo của nó trong nền âm nhạc Ngũ Cung Đông phương, cho rằng đây là một nhạc cụ nhà quê, quá thô thiển, cần phải được cải tiến hoặc thay thế bằng một loại nhạc cụ khác dù là ngoại lai như đờn Guitar phím lõm hay đờn Sến Xuất hiện trong mỹ thuật Việt Nam từ thế kỷ
XI, cho tới nay nó vẫn giữ một vị trí rất quan trọng trong sinh hoạt âm nhạc của người Việt và là nhạc cụ chủ yếu dành cho nam giới
Về xuất xứ, trên khắp thế giới kể cả Trung Quốc một nước láng giềng với nền văn hóa có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, cũng không thấy có nhạc cụ nào có cấu trúc giống như đờn Kìm ở Việt Nam, nhất là cách gắn phím, tra dây Do đó, ta có thể khẳng định nhạc cụ này hoàn toàn là do nghệ nhân Việt Nam sáng chế Nhưng sáng chế hay cải tiến vào thời đại nào thì đến nay chưa thấy sách vở nào nói đến Chỉ đến thời Hậu Lê mới thấy rải rác trên sách vở cái tên nguyệt cầm Thật vậy, theo An Nam Chí Lược của Lê Tắc năm 1300 có ghi
là “Vua Trần ngự trên điện đoan cung xem ca công kỷ nữ múa hát” [7] , khi nói vể đờn khảy thì quyển này có đề cập tới “đờn tranh, đờn nguyệt, đờn tỳ bà, đờn thất huyền và đờn song huyền”[8] Theo Vũ Trung Tùy Bút của Phạm Đình Hổ
Trang 22đời Lê Cảnh Hưng (1740) “có ông Vũ Đình Địch và ông Vũ Chỉ Đồng cũng thích chơi đờn nguyệt, ông Vũ Chỉ Đồng thì học điệu Tàu biết đủ các cung bậc rồi khảy ra tiếng ta, và xen vào các bài đờn đáy, đờn nguyệt, tiếng cứng, tiếng mềm, dịu dàng hòa hợp với nhau, bụng nghỉ thế nào thì khảy ra thế đó…”[9] Qua đây ta có thể thấy rằng đờn Kìm là một loại nhạc cụ của dân tộc Việt Nam
ta có xuất xứ từ rất lâu đời và trở thành một trong các loại nhạc cụ chủ đạo trong
hệ thống nhạc cụ Đờn ca tài tử
Về cấu trúc, đờn Kìm rất hoàn chỉnh về phương diện kỹ thuật, toán học,
âm học, cũng như tượng số học Đông phương “Đờn Kìm có thùng cộng hưởng hình tròn đường kính 36cm, bề dày của thùng là 6,4cm, trên thùng có gắn yến chạm hình con dơi, tượng trưng cho chữ phúc, trên đầu cần có lá đờn dài khoảng 12cm, toàn bộ đờn kìm dài 108cm, trên đầu cần có gắn con cóc, khoảng cách dây đờn tính từ miệng dơi đến con cóc thì đờn dài 72cm, cần đờn có gắn 4 trục, trước kia gắn 4 dây, 2 dây chập làm một, hiện nay đờn kìm chỉ gắn 2 dây, gắn trên 8 phím phát được 9 âm thanh…”[10] Nhờ có cần tương đối dài và những phím cao, nhạc công có thể tạo được những âm nhấn nhá uyển chuyển, mềm mại và đờn Kìm đờn được tất cả các bài bản khác nhau trong hệ thống bài bản tài tử từ Bắc, Hạ, Nam, Oán, đủ để diễn tả hết mọi lời nói tình cảm mà
người ca muốn diễn đạt, mặc dù số lượng dây có phần hạn chế “Âm thanh đờn trong, vang, khả năng biểu diễn phong phú, khi sôi nổi lại giòn giã, lúc lại nỉ non sâu sắc, do đó đờn nguyệt có mặt cả trong những cuộc hòa tấu nhạc lễ trang nghiêm, những cuộc hát văn lôi cuốn, những lễ tang, cũng như những cuộc hòa tấu thính phòng thanh nhã với những hình thức diễn tấu khác nhau:đệm cho hát, hòa tấu độc tấu.”[11] Điều này cho thấy sự độc đáo trong việc chế tác nhạc cụ của dân tộc ta, nghĩa là nhạc cụ không cần dây nhiều, phím
Trang 23Đờn cò (hay còn gọi là đờn nhị) Nguồn: http:www.tranquanghai.info
nhiều như các loại nhạc cụ phương Tây nhưng vẫn chứa đựng dầy đủ âm thanh, cung bậc trong khi biễu diễn
Trong Đờn ca tài tử, đờn Kìm giữ một vị trí quan trọng trong dàn nhạc, người chơi đờn Kìm thường giữ Song lang và trở thành vị trí chủ đạo Nghĩa là khi hòa tấu một bài bản nhất định, đờn Kìm luôn giữ vị trí nhịp chính chi phối các loại nhac cụ khác, buộc các nhạc cụ khác phải theo nhịp với đờn Kìm Điều này trái ngược với đờn Guitar phím lõm trong loại hình cải lương Tức trong cải lương thì Guitar phím lõm là nhạc cụ chủ đạo thường giữ song lang cũng như giữ nhịp cho dàn nhạc Càng về sau, hệ thống nhạc cụ của Đờn ca tài tử có thêm một số nhac cụ mới với những nét đặc thù độc đáo nhưng đờn Kìm vẫn giữ được
vị trí của mình trong dàn nhạc tài tử
2.1.2 Đờn cò (hay còn gọi là đờn nhị)
Đờn cò hay còn gọi là đờn Nhị, một
nhạc cụ thuộc bộ dây có cung vĩ, do đờn có 2
dây nên gọi là đờn Nhị Khi đi tìm lịch sử
hình thành đờn Nhị tại Việt Nam, đa số các
nhà nghiên cứu cho rằng đờn Nhị xuất hiện ở
nước ta vào khoảng thế kỷ thứ X “Người ta
căn cứ vào những đường hoa văn trên
những bệ đá kê chân một số cột ở chùa Phật
Tích (Bắc Ninh) có khắc hình một dàn nhạc Phật giáo – một dàn nhạc cung đình của triều đại sùng Phật thời đó – trong đó có người sử dụng đờn Hồ, là một loại đờn vĩ Cây đờn Hồ ấy có nguồn gốc từ Trung Á phải chăng đã biến dạng qua Trung Hoa trước khi vào Việt Nam” [12] Ngoài người Kinh, nhiều người dân tộc thiểu số Việt Nam cũng sử dụng rộng rãi nhạc cụ này (Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao, Giấy, H’Mông…)
12 Nguyễn Thụy Loan Tạp chí Nghiên Cứu Nghệ Thuật số 1-1979 “Suy nghĩ về sức sống Việt Nam qua những
chặng đường sử nhạc”
Trang 24Cũng gần với nhận định trên, người ta cho rằng nếu xét về tên gọi thì Nhị là tên gọi tắt của Nhị huyền (hai dây) hay Nhị huyền cầm (đờn hai dây) Người Trung Quốc còn gọi Nhị huyền cầm là Nhị Hồ (Erhu) và một dạng Nhị huyền cầm khác được gọi là Hồ cầm (Huqin) Chữ Hồ ở đây còn có ý nghĩa đờn này là của “rợ” Hồ từ phương Bắc đã du nhập vào Trung Quốc - Erhu: Er có nghĩa là hai (số 2), hu có nghĩa là man rợ
Nhị Hồ sau khi vào Việt Nam đã được gọi bằng nhiều tên khác nhau nhưng thông dụng nhất là đờn Nhị và đờn Cò Gọi là đờn Nhị vì đờn có hai dây;
Ở miền Nam thì gọi là đờn Cò vì ở trên cùng của cần đờn được chế tác như cổ
và mỏ con Cò
Tuy phổ biến tên gọi đờn Nhị, nhiều dân tộc tại Việt Nam còn gọi đờn
bằng tên khác nhau “Người Kinh gọi là líu (hay nhị líu để phân biệt với nhị chính), người Mường gọi là Cò ke, người Nam Bộ gọi là Đờn cò Hình dáng, kích cỡ và nguyên liệu làm đờn nhị cũng khác nhau đôi chút tùy theo tộc người
sử dụng nó ”[13]
Tuy người ta cho rằng đờn Nhị hay đờn Cò Việt Nam có xuất xứ từ cây đờn Erhu (Nhị Hồ) hay Huqin (Hồ cầm) của Trung Quốc, nhưng chúng ta đều thấy rằng qua khối óc và trái tim của những nghệ nhân Việt Nam, từ cây đờn Erhu kia nay đã thành cây đờn Nhị hay đờn Cò Việt Nam, với âm sắc và điệu đờn không thể lẫn lộn vào đâu được nếu đem so sánh ngược lại với cây đờn
“Mẹ” của nó
Có thể khẳng định rằng đờn Nhị là một trong những nhạc khí đa năng nhất trong kho tàng nhạc khí cổ truyền ở Việt Nam cũng như ở Châu Á Với tính năng độc đáo của mình, đa dạng trong thể hiện cộng với âm sắc đặc thù, đờn Nhị đã phản ánh được tâm tư, tình cảm của người Việt Do đó, đờn Nhị xuất hiện trong hầu hết các thể loại âm nhạc từ âm nhạc cổ truyền Việt Nam đến những sáng tác mới theo hình thức châu Âu, hiện diện đầy đủ với các hình thức diễn tấu từ độc tấu, song tấu, tam tấu đến hòa tấu, từ thính phòng đến sân khấu,
13 Từ điển Bách khoa Việt Nam Tập 3 (N-S) NXB Từ điển bách khoa Hà Nội 2003 trang 246
Trang 25đâu đâu đờn Nhị cũng thể hiện rõ khả năng diễn tấu linh họat của mình mà khó
có một nhạc cụ cổ truyền nào đạt được
Về cấu tạo, đờn nhị được làm bằng gỗ gụ hay trắc “Bầu cộng hưởng gọi
là bát nhị Bát nhị hình ống, rỗng lòng, dài khoảng 13,8 cm, một đầu bịt da trăn hay da kỳ đà.”[14]
Cần đờn tròn không có phím, đầu dưới cắm xuyên qua bầu đờn, đầu trên gọi là thủ đờn Thủ đờn hình đầu con cò, có gán hai trục gỗ tròn để lên dây, có khi trục đờn được chạm khắc cầu kỳ
“Ngựa đờn làm bằng tre hay gỗ, dài 1 cm, đặt khoảng giữa mặt da Khuyết đờn, hay còn gọi là “cữ đờn”, là một sợ tơ xe néo vào hai dây đờn.”[15]
Cữ đờn có tác dụng điều chỉnh độ cao thấp của âm thanh Khi đưa cữ đờn xuống
là làm ngắn quãng dây phát âm, đờn có giọng cao Khi dây cữ lên, làm dài quãng dây phát âm, đờn có giọng trầm
Cung vĩ làm bằng tre, hoặc gỗ uốn cong hình cánh cung Người ta mắc
vĩ như dây cung Vĩ đờn đặt giữa hai dây, khi đờn vĩ cọ xát dây phát ra âm thanh
Là nhạc cụ đã có mặt trong nền âm nhạc truyền thống Việt Nam từ lâu đời, trở nên thân quen và gần gũi với mọi người dân Việt Nam, nó được trân trọng quí báu như cổ vật gia bảo Đờn cò đóng góp một vai trò vô cùng quan trọng và đắc lực không thể thiếu trong các dàn nhạc dân tộc Việt Nam ta từ xưa đến nay
Sở dĩ người dân Nam Bộ gọi là “đờn cò” vì hình dáng giống như con cò, trục dây có đầu quặp xuống như mỏ cò – cần đờn như cổ cò – thân đờn như con
cò – tiếng đờn nghe lảnh lót như tiếng cò Trong các dàn nhạc phường bát âm, ngũ âm, nhã nhạc, chầu văn, sắc bùa, nhạc tài tử, cải lương dàn nhạc dân tộc tổng hợp, dân ca… đều có đờn cò Ngày nay đờn Nhị có mặt hầu hết trong các
14 Ngọc Phan, Bùi Ngọc Dương (2007), Nhạc cụ các dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản giáo dục, Tr.8
15 Ngọc Phan, Bùi Ngọc Dương (2007), Nhạc cụ các dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản giáo dục, Tr.8, 9
Trang 26dàn nhạc Việt Nam, các trung tâm băng nhạc ngày nay cũng khai thác âm thanh đờn Nhị trong những nhạc phẩm về quê hương hay những ca khúc buồn
Có thể thấy trong suốt chiều dài hình thành nên một nền nghệ thuật Nam
bộ quý giá, đờn Cò luôn luôn có mặt trong bất kỳ vào thời điểm nào Cũng như trong các dàn nhạc khác, từ Tuồng, Chèo,… và đến đờn ca tài tử, đờn Cò không chỉ hiện diện một cách đơn thuần mà còn khẳng định là một nhân tố chính trong các dàn nhạc
Khó có thể tưởng tượng trong các dàn nhạc ấy lại có thể thiếu vắng tiếng đờn Cò Những âm thanh gãy gọn của các loại nhạc cụ dây khảy sẽ được kết nối lại với nhau qua tiếng đờn dây kéo Sự réo rắt của tiếng đờn Tranh, đĩnh đạc của tiếng đờn Kìm hay liến thoắng của đờn Guitar phím lõm, sẽ được hòa quyện lại với nhau bằng sự mượt mà, ẻo lả của tiếng đờn Cò Trong hầu hết các hình thức hòa đờn của đờn ca tài tử, từ song tấu đến tam tấu, tứ tấu,… đâu đâu ta cũng thấy có hiện diện của đờn Cò Với tính năng độc đáo của mình, ngân dài, vang xa,… đờn Cò như làm nhiệm vụ kết dính các nhạc cụ lại với nhau, đó là điều có thể nói khó có nhạc cụ nào làm được
Khi ban nhạc trình tấu những bài có tính chất vui trong các bản Bắc, những người chơi nhạc cụ dây gảy liên tục phô diễn kỹ thuật, thể hiện sự nhanh nhạy của mình bằng cách đờn nhiều chữ, qua đó chứng minh những tính năng
ưu việt của nhạc cụ cũng như kỹ năng điêu luyện của mình Người chơi đờn Cò cũng không hề chịu kém, lúc khoan, lúc nhặt, lúc chầm chậm ở âm vực thấp rồi bỗng chợt vút bay bổng lên âm vực cao, để rồi hòa cùng những nhạc cụ khác tạo nên một bức tranh âm thanh sinh động
Đối với các bản Oán hay Ai, cùng với tiếng đờn Kìm thổn thức, tiếng đờn Tranh rì rào,… còn tiếng đờn Cò, nhờ vào đặc tính ngân dài âm thanh, bằng những ngón nhấn, ngón rung, vừa sâu vừa chậm, mỗi khi đờn Cò vang lên, nó
đã làm cho biết bao người phải nao lòng vì sự nỉ non, u buồn của nó, và có thể khẳng định rằng đờn Cò đã nâng một bước trong việc tạo cảm xúc cho người nghe khi thưởng thức một bản đờn hơi ai, hơi oán một cách trọn vẹn
Trang 27Trong hơi Lễ, đờn Cò xuất hiện như một nhân vật chính Đờn Cò luôn hiện diện trong các ban nhạc từ ban nhạc Lễ đến nhóm đờn cây và sau đó đến nay là các ban Đờn ca tài tử Các bài bản của nhạc Lễ cũng đã được dùng khi chơi Đờn ca tài tử, chính vì thế, việc trình tấu những bài bản thuộc hơi Lễ được xem như một sở trường đối với đờn Cò Việc không còn bộ trống Lễ trong dàn nhạc, phần nào đã làm nhẹ hơi Lễ trong khi trình tấu những bài bản trong Thất Chánh, thậm chí có những ban Đờn ca tài tử, khi trình tấu luân phiên những bài bản Lễ cùng các bài bản Bắc mà chưa có sự xuất hiện của đờn Cò thì sự khác nhau giữa Lễ và Bắc dường như chỉ là tên bài hay giai điệu, còn sự khác nhau giữa hơi thì không rõ nét Tuy nhiên, nhờ có sự xuất hiện của đờn Cò, trình tấu cái “hơi” sở trường của mình thì các bài bản Lễ đã nghe “Lễ” hơn
Sự xuất hiện của đờn Violon vào khoảng năm 1930 trở đi, phần nào đã làm ảnh hưởng đến vị trí đờn Cò trong dàn nhạc tài tử, Đờn Violon với nhiều thuận lợi về cấu tạo, có âm vực rộng hơn, có âm sắc ấm hơn và đặc biệt là hình dáng trông “Tây” hơn đã tạo cho mình có được vị trí vững chắc trong các ban đờn ca tài tử và làm cho đờn Nhị bị lu mờ Tuy nhiên trong tiềm thức của người Việt Nam, tiếng đờn Cò vẫn là một âm thanh đã và đang vang vọng Người ta không thể quên được tiếng đờn Cò trang nghiêm khi trình tấu những bài nhạc
Lễ, não nuột trong những bản oán, ai và vui tươi, linh hoạt trong các bài bản Bắc Đờn Cò vẫn đứng vững với vị trí của mình trong các ban đờn ca tài tử
Ngày nay, đờn Nhị hay đờn Cò đã không ngừng phát triển Trước yêu cầu thưởng thức ngày một cao của quần chúng nhân dân, cùng với việc tiếp thu tinh hoa các nhạc cụ dây vĩ trên thế giới, đờn Nhị đã có mặt trong các loại hình hòa tấu đương đại, từ song tấu, tam tấu hay tứ tấu, từ dàn nhạc thuần dân tộc hay tổng hợp, từ trường phái cổ điển hay nhạc nhẹ theo lối phương Tây, đờn Nhị đều
đã chứng minh được sự đa năng của mình Khả năng trình tấu được nhiều phong cách, nhiều thể loại, khẳng định được vị trí của mình trong tất cả các loại hình nghệ thuật Trong âm nhạc cổ truyền, đờn Nhị sẽ đứng vững và cùng đi mãi với Chèo, với Tuồng, với Ca Huế và nhất là với đờn ca tài tử
Trang 282.1.3 Đờn tranh
Đờn tranh là một loại đờn có thể
nói giữ vai trò quan trọng trong hệ thống
các nhạc cụ Đờn ca tài tử Đờn tranh có
nguồn gốc từ Trung Quốc, du nhập sang
Việt Nam, có thể từ thời Trần hay trước
nữa Thời Lý – Trần đờn tranh “chỉ có 15
dây, nên được gọi là thập ngũ huyền cầm
và sử dụng trong ban nhạc đồng văn, nhã nhạc Sau này được dùng trong cả ban nhạc giáo phường Thời Nguyễn, đờn được dùng trong ban nhạc huyền Lúc này đờn được dử dụng với 16 dây nên được gọi là thập lục huyền cầm”[16]
Như vậy, đờn tranh trong quá trình du nhập đã có sự thay đổi số dây, từ
9 dây, 15 dây đến 16 dây và đổi từ dây tơ sang dây cước, dây đồng đến dây thép Qua 7, 8 thế kỷ sử dụng, người Việt Nam đã tạo cho đờn tranh một phong cách đặc thù trong thủ pháp, ngón đờn, nhấn nhá, trong thang âm điệu thức Đến nay, đờn tranh đã thành nhạc cụ hoàn toàn mang tính dân tộc của người Việt Nam, được người Việt Nam ưa chuộng, truyền từ đời này sang đời khác, phù hợp với thẩm mỹ và ngôn từ Việt Nam
Về cấu tạo, “Đờn Tranh hình hộp dài Khung đờn hình thang có chiều dài 110 – 120 cm Đầu lớn rộng khoảng 25 – 30 cm là đầu có lỗ và con chắn để mắc dây Đầu nhỏ rộmg khoảng 15 – 20 cm gắn 16 khoá lên dây chéo qua mặt đờn Mặt đờn làm bằng ván gỗ ngô đồng dày khoảng 0,05 cm uốn hình vòm”[17] Ngựa đờn còn gọi là (con Nhạn) nằm ở khoảng giữa để gác dây và có thể di chuyển để điều chỉnh âm thanh Dây đờn làm bằng kim loại với các cỡ dây khác nhau Khi biểu diễn nghệ nhân thường đeo 3 móng vào ngón cái, trỏ, giữa để gẩy Móng gẩy làm bằng các chất liệu khác nhau như kim loại, sừng hoặc đồi mồi
16 Ngọc Phan, Bùi Ngọc Phương (2007), Nhạc cụ các dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản giáo dục, Tr.27
17 Ngọc Phan, Bùi Ngọc Phương (2007), Nhạc cụ các dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản giáo dục, Tr.25
Đờn tranh Nguồn: http:www.tranquanghai.info
Trang 29Đờn bầu Nguồn: http:www.tranquanghai.info
Âm sắc Đờn tranh trong trẻo, sáng sủa thể hiện tốt các điệu nhạc vui tươi, trong sáng Đờn tranh thường được sử dụng để độc tấu, hòa tấu, đệm cho ngâm thơ, hát, tham gia trong các dàn nhạc Tài Tử, phường Bát Âm, dàn Nhã Nhạc và các dàn nhạc dân tộc tổng hợp Đặc biệt, trong Đờn ca tài tử đờn tranh càng khẳng định vị trí của mình, nhất là khi bắt đầu vô bài thì các chữ “luyến” vui tươi, sôi động của đờn tranh làm cho thính giả cũng như người mộ điệu thích thú hơn khi thưởng thức
2.1.4 Đờn bầu
Đờn Bầu có tên chữ là Độc Huyền
Cầm, độc là một, huyền là dây là nhạc cụ
đờn một dây của người Việt, gảy bằng que
hoặc miếng gảy
Về xuất xứ, theo quyển Nhạc khí
dân tộc Việt của nhạc sư Võ Thanh Tùng
thì đờn độc huyền mà bây giờ nhiều người gọi là đờn bầu, với đồng
dạng đờn bầu thì các dân tộc khác có đờn bầu đồng dạng là dân tộc
Mường, dân tộc Chàm Theo sách Đại Nam Thực lục tiền biên cho rằng đờn bầu được chế tạo vào những năm 1770 Đờn bầu được xếp loại theo dạng đờn gảy hay đờn khảy (theo cách gọi của miền Nam, miền Bắc) Đờn bầu thuộc đờn khảy mà không có cần đờn, đây là sự khác biệt của đờn bầu với các loại đờn khảy khác tức không có cần đờn Đây là điều rất đặc biệt, là niềm tự hào chung của dân tộc Việt Nam Bởi vì trên thế giới không có một nước nào có loại đờn giống như loại đờn này, có chăng thì cũng chỉ có dạng một dây, nhưng không có trái bầu và kỹ thuật đờn cũng khác
Đờn bầu có hai loại là: đờn thân tre (còn được gọi là đờn Xẩm) và đờn hộp gỗ (hay đờn bầu)
“Đờn thân tre: là đờn của những người hát Xẩm Thân đờn làm bằng 1 đoạn tre hoặc bương dài khoảng 120 cm, đường kính 12 cm Mặt đờn là chỗ đã
Trang 30được lóc, đi một phần cật thích hợp trên đoạn tre hoặc bương”[18] Đờn Xẩm đơn giản, rẻ tiền hơn đờn bầu, loại đờn này dành cho người nhạc sĩ không chuyên tức người chơi đờn nghiệp dư Người chơi đờn có thể tự chế ra loại đờn này để chơi vì kỹ thuật khá đơn giản nhưng khi biểu diễn không kém phần độc đáo từ tiếng đờn cho đến cung bậc.
“Đờn hộp gỗ hay đờn bầu là loại đờn cải tiến sau này, dùng cho các nghệ sĩ chuyên nghiệp Đờn hộp gỗ có nhiều hình dáng, kích thước khác nhau Mặt đờn cong làm bằng gỗ xốp nhẹ, xốp như gỗ ngô đồng, gỗ vông Đáy đờn phẳng cũng làm bằng gỗ nhẹ, xốp , có lỗ thoát âm Thành đờn làm bằng một loại gỗ cứng như gỗ trắc mun”[19] Về hình dáng và chất liệu của hộp cộng hưởng (tức Thân đờn) của hai loại đờn có khác nhau, nhưng về cấu tạo, hai đờn hoàn toàn giống nhau
Dây đờn có chiều dài chạy suốt thân đờn Thuở xưa dây đờn làm bằng tơ tằm se thành sợi, về sau thay bằng dây sắt
Bầu đờn làm bằng ½ vỏ quả bầu nậm (lấy đoạn núm thắt cổ bồng) Bầu đờn lồng vào giữa vòi đờn nơi buộc dây đờn Bầu đờn có tác dụng tăng thêm âm lượng cho đờn Ngày nay người ta tiện bầu đờn bằng gỗ và chỉ có tác dụng tạo
dáng mà thôi “Cung thanh là tiếng mẹ, cung trầm là giọng cha”[20] Âm thanh của đờn ngọt ngào, sâu lắng tình người
“Một dây nũng nịu đủ lời
Nửa bầu chứa cả một trời âm giai”[21]
Thật vậy, không chỉ là người Việt Nam mà bất cứ ai đã từng nghe tiếng đờn bầu chắc hẳn đã bị cuốn hút bởi những giai điệu ngân nga, ngọt ngào, quyến
rũ đến khó quên nhất là khi đờn bầu tham gia biểu diển hòa tấu trong Đờn ca tài tử
18 Ngọc Phan, Bùi Ngọc Phương (2007), Nhạc cụ các dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản giáo dục, Tr.34
19 Ngọc Phan, Bùi Ngọc Phương (2007), Nhạc cụ các dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản giáo dục, Tr.34, 35
20 Ngọc Phan, Bùi Ngọc Phương (2007), Nhạc cụ các dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản giáo dục, Tr.35
21 Hồi ký Trần Văn Khê (2001), Thủ bút của tác giả, Nhà xuất bản trẻ
Trang 312.1.5 Đờn sến
Đờn sến là nhạc khí khá phổ
biến của dân tộc Việt, được dùng
phổ biến ở Miền Nam Đờn sến
được xếp vào loại nhạc khí dây
loại nhạc cụ của dân tộc Việt Nam
Về cấu tạo, “hộp đờn hình hoa đào sáu cánh hoặc hình lục giác, đường kính 28 cm Mặt đờn và đáy đờn làm bằng gỗ nhẹ, xốp, đễ mộc Thành đờn dày
6 cm, làm bằng gỗ cứng Cần đờn dài 70 cm Trên mặt đờn có 17 phím bấm Phím đờn dược gắn dựa theo thang âm 7 cung chia đều Đờn có 3 trục gỗ nhưng chỉ dùng 2 trục để lên dây còn 1 trục để trang trí Hai dây đờn bằng tơ se, được kên cách nhau 1 quãng 4 hoặc quãng 5: Fa-đô 1 hoặc sol-đô 1”[22]
“Chồng âm – hợp âm của Ðàn Sến rất thuận lợi, đặc biệt những thế bấm phía dưới cần đờn, Ðàn Sến đảm nhiệm việc đánh các chồng âm, hợp âm chính Ðàn Sến có phím nên có thể đánh được nhiều kiểu chồng âm, hợp âm, nếu đánh đờn bằng miếng gảy có thể đánh được cùng một lúc trên các dây cách nhau”[23]
Nhờ có âm sắc trong trẻo, tươi sáng, đờn Sến được dùng khá phổ biến trong nhạc tài tử cải lương ở Nam Bộ Thường được kết hợp hòa tấu với các loại nhạc cụ khác như đờn guitar phím lõm, đờn Tranh, đờn Cò… Đờn Sến được rất nhiều người ưa chuộng, có những ban nhạc sử dụng đờn Sến thay thế cho đờn Kìm khi biễu diễn Tuy là một nhạc cụ ngoại lai nhưng đờn Sến đã khẳng định được vai trò của mình trong hệ thống nhạc cụ tài tử Nam Bộ
22 Ngọc Phan, Bùi Ngọc Phương(2007), Nhạc cụ các dân tộc Việt Nam Nhà xuất bản giáo dục
23 Theo Viện âm nhạc, Giai điệu xanh của Giáo sư Trần Quang Hải được đăng trên trang wed:
http://tranquanghai.info
Đờn sến Nguồn: http:www.tranquanghai.info
Trang 32Đờn Guitar phím lõm Nguồn: http:www.tranquanghai.info
2.1.6 Đờn Guitar phím lõm
Guitar phím lõm còn gọi là lục huyền cầm Đó là loại nhạc cụ độc đáo của Việt Nam được biến cải dựa trên cây đờn guitar của phương Tây trong quá trình phát triển của loại hình âm nhạc tài tử và cải lương ở Nam Bộ
Để có được cây đờn guitar phím lõm như hôm nay, “là cả một quá trình thử nghiệm, chọn lọc với nhiều nhạc cụ phương Tây khác nhau, điều chỉnh, cải biến để phù hợp với loại hình âm nhạc đòi hỏi những khả năng biểu hiện tình cảm, kỹ thuật đa dạng và phong phú”[24]
Về cấu tạo, từ cây đờn guitar 6 dây ban đầu, người ta khoét các phím lõm xuống chừng 1 cm, hình bán nguyệt nhằm tạo ra âm thanh khác biệt, tạo độ ngân rung đặc trưng của ca vọng cổ
trắc, có tất cả 19 phím bằng kim loại (đồng thau) gắn đờn trên cần đờn: 12
phím đờn gắn đờn trên dọc (cần đờn) và 7 phím gắn trên cần và mặt đờn Trên dọc (cần đờn), khoảng cách giữa hai ô phím, người ta khoét lỗ sâu xuống cần đờn, để tạo ra hiệu quả âm thanh đặc biệt, như nhấn, rung thể hiện chữ nhạc dân tộc Việt Nam rõ nét và sâu sắc hơn
Dây đờn: là loại dây kim khí thường là inox, chạy qua ngựa đờn, kéo lên
cần đờn, trước khi xỏ vào trục dây được luồn qua một miếng xương đặt trên mặt
24 Tìm hiểu cây đờn ghi-ta phím lõm trong âm nhạc tài tử và cải lương (luận văn tốt nghiệp đại học khoa Lý luận âm nhạc - Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh 1991-1992), Nhạc sĩ Kiều Tấn
Trang 33cần đờn Qua quá trình hình thành và phát triển, có nhiều hệ thống lên dây như: Dây Xề, dây Sài Gòn, dây Rạch Giá, dây Tứ Nguyệt, dây Lai, dây Ngân Giang, dây bán Ngân Giang
Hiện nay hệ thống dây Lai được coi là phổ biến nhất được sử dụng để biểu diễn, giảng dạy và học tập, đặc biệt hai dây đờn số 1 và số 2 có tiết diện nhỏ hơn dây Guitar bình thường để tạo cho âm sắc mềm mại và thanh thoát hơn
Bộ phận lên dây: có 6 trục để lên dây, mỗi trục xuyên ngang thành đờn
(ở đầu đờn) để mắc dây và lên dây
Miếng gảy đờn: nghệ nhân gảy đờn bằng miếng nhựa với những ngón
gảy, hất, vê, khảy, móc
Có thể thấy, cây guitar phím lõm lại là một minh chứng hùng hồn cho tính chất tiếp nhận và dân tộc hoá tinh hoa của các dân tộc khác của cải lương
Là một cây đờn hoàn toàn phương Tây, nhưng qua nhiều thế hệ sáng tạo, người nhạc công đã khoét lõm phím đi để người chơi có thế rung, nhấn, thậm chí đánh tăng lên một âm độ trên cùng một phím, tạo ra tiếng đờn đặc sắc của phương Nam
“Là một loại nhạc cụ có dây nhiều, cung bậc nhiều, chức năng nhiều Điều đặc biệt ở guitar phím lõm trong âm nhạc cải lương là có nét, vừa hay, vừa lạ Lạ là ở cách nhấn, cách luyến, đòi hỏi người nghệ sĩ sử dụng phải ấn, rồi kéo dằn dây xuống thì âm thanh sẽ được luyến có thể thay cho mấy nốt Sử dụng cây đờn guitar phím lõm lấy nhạc ngũ cung: hò, xừ, xang, xê, cống thay đồ, rê, mi là một sáng tạo độc đáo của Việt Nam Khi dùng chơi nhạc cổ, guitar phím lõm không dùng dây 6 Dây đờn được lên theo âm giai ngũ cung (pentatonic)”.[25]
Đặc biệt, tuy là một nhạc cụ cải biến từ phương Tây với chỉ hơn nửa thế
kỷ nhưng guitar phím lõm đã khẳng định vị trí của mình trong dàn nhạc, trở thành cây đờn bao dàn trong dàn nhạc tài tử cải lương
25 Nhạc khí dân tộc Việt, Võ Thanh Tùng
Trang 34Song lang Nguồn: http:www.tranquanghai.info
Thiết nghĩ, cây guitar được chấp nhận trong dàn nhạc Đờn ca tài tử mới
là một sáng tạo tuyệt vời và là lời khẳng định cho bản lĩnh của văn hóa dân tộc Việt Các cụ ta đã có câu “nhập gia tùy tục”, để tồn tại được guitar đã phải
“chịu” để các cụ ta khoét lõm phím tạo đà cho những kỹ thuật nhấn nhá hết sức độc đáo, và quan trọng nhất là đã tạo được một hiệu quả âm thanh phù hợp với tâm hồn người Việt và phù hợp với dòng nhạc Có lẽ vì thế mà nó đã được chấp nhận trong dàn nhạc Đờn ca tài tử cho dù có rất nhiều sóng gió Chính vì thế sự xuất hiện của các nhạc cụ như guitar, violon, theo quan điểm cá nhân người viết,
nó đã làm tôn vinh cái đẹp mang tính truyền thống của dân tộc Có thể nói rằng, ngay cả những nghệ sĩ guitar đến từ quê hương của cây đờn này khi cầm vào cây đờn guitar phím lõm của tài tử sẽ không thể chơi được chúng Điều đó mới thực
sự đặc sắc thể hiện tính sáng tạo độc đáo của dân tộc ta
2.1.7 Song lang
Song lang còn được gọi là song loan – “một nhạc cụ họ tự thân vang, chi
gõ của dân tộc Việt”[26] Là một loại mõ nhỏ bằng gỗ cứng hình tròn dẹt, được
xẻ thân khoảng 1/3 để thoát âm, có cần gỗ bằng sừng trâu uốn mỏng hoặc lá thép có độ bật, trên đầu cần có gắn miếng gổ nhỏ tròn như viên bi để gõ xuống thân của nó, tạo ra tiếng kêu âm
thanh
Hai bộ phận được nối liền
với nhau bằng 1 cái lưỡi gà (thanh
lò xo bằng sắt) hình chử U nằm
ngang, mỗi đầu chữ U được gắn
vào 1 bộ phận kể trên Khi muốn
“đánh” hay “nhịp” song lang ,
nhạc công đạp bàn chân lên trên
lưỡi gà để đánh xuống và ta nghe như một tiếng mõ: “cốc”
26 Ngọc Phan, Bùi Ngọc Phương (2007), Nhạc cụ các dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản giáo dục
Trang 35Song lang được sử dụng để cầm nhịp trong dàn nhạc tài tử Nam Bộ, trong sàn nhạc sân khấu cải lương và trong ca Huế Nó có vai trò rất quan trọng trong việc giữ trường canh cho các nhạc cụ khác theo đó mà giữ tiết tấu nhịp điệu của mình trong hòa tấu Tất cả các nhạc công phải hướng theo tín hiệu song lang mà giữ trường canh tiết tấu theo nhạc trưởng (người giữ song lang) và báo hiệu kết thúc một giai điệu
Trong hệ thống nhạc cụ Đờn ca tài tử cũng như cải lương, song lang đóng một vai trò không thể thiếu, được gõ mỗi khi bắt đầu một bài bản và khi kết thúc một nhịp Song lang thường được người chơi đờn Kìm giữ trong Đờn ca tài tử hay người chơi guitar phím lõm giữ trong cải lương
Ngoài các loại nhạc cụ chủ đạo nêu trên hệ thống Đờn ca tài tử còn có một số nhạc cụ khác mà nguồn gốc chủ yếu từ du nhập và cải biến như đờn violon có thể chơi thay thế vị trí cho đờn bầu, đờn Hạ uy di, đờn sến, sáo trúc… góp phần làm cho hệ thống nhạc cụ cũng như loại hình Đờn ca tài tử Nam Bộ thêm đa dạng và phong phú hơn
2.2 Các bài bản và hình thức biểu diễn của Đờn ca tài tử Nam Bộ
2.2.1 Các bài bản chính trong Đờn ca tài tử Nam Bộ
“Đờn ca tài tử có một số lượng bài bản rất phong phú và đa dạng Ngoài việc sử dụng một số bài bản trong nhạc lễ, còn có các bài bản từ ca Huế, dân ca miền Trung, miền Nam, và cả một số lượng lớn do các nghệ nhân bậc thầy sáng tác và cải biên Do đặc tính ngôn ngữ và sinh hoạt riêng của người miền Nam
mà nhạc miền Trung đã được phát triển đặc biệt trong nhạc tài tử”.[27]
Các bài bản phổ biến nhất trong nhạc tài tử là 20 bài bản tổ (còn gọi là nhị thập huyền tổ bản) thuộc hai điệu Bắc và điệu Nam [28] Có thể nói là những bài bản chủ đạo không những trong Đờn ca tài tử mà còn chi phối đến cả loại hình cải lương, trở thành những bài bản chính trong một tuồng cải lương hoặc trong các bản tân cổ giao duyên Phần lớn những bài bản này có nguồn gốc từ
Trang 36nhạc cung đình Huế được cải biến, chuyển thể âm điệu mang âm hưởng đặc trưng của vùng đất sông nước Nam Bộ
Hai mươi bài bản tổ gồm có 7 bản lễ, 6 bản Bắc, 3 bản Nam và 4 bản Oán Tương truyền rằng các bài bản này do ông Ba Đợi đúc kết và được xem như là những bài căn bản cho những người bắt đầu bước vào lĩnh vực nhạc tài
tử Từ năm 1945, ông Giáo Thinh tức Nguyễn Văn Thinh, một nhạc sư có uy tín tại Sài Gòn, đã đúc kết và phổ biến một hệ thống mới gọi là 72 bài bản cổ nhạc
miền Nam (còn gọi là thất thập nhị huyền công) “Theo đó, một nghệ nhân được công nhận là bậc thầy nếu biết hết 20 bài bản tổ; và để đạt mức cao siêu hơn, nghệ nhân đó cần biết hết 72 bài bản này” [29]
Hai mươi bản tổ gồm có: 6 bài Bắc gồm: Tây thi, Cổ bản, Lưu thủy trường, Phú lục chấn, Bình bán chấn, Xuân tình chấn, ba bài Nam gồm: Nam xuân, Nam ai, Nam đảo (đảo ngũ cung), bốn bài oán gồm Tứ đại oán, Phụng cầu, Giang nam, Phụng hoàng; 7 bài nhạc lễ (bài lớn) gồm Xàng xê, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Tiểu khác, Vạn giá Hai mươi bản
tổ chia ra 4 loại: 4 mùa (Xuân, Hạ, Thu, Ðông) và 4 hướng (Ðông, Tây, Nam, Bắc), kể ra:
Sáu bài Bắc: xếp vào mùa Xuân, giọng nhạc vui tươi Nhạc sĩ đờn 6 bài nầy thì day mặt về hướng Bắc Các bài này có điệu vui, ngắn, gọn Cụ thể như: Lưu Thủy Trường: điệu nhạc nhàn hạ, khoan thai, phù hợp với cảnh trí thanh nhàn, non xanh nước biếc, cỏ hoa chim chóc Lưu Thủy Trường là do Lưu Thủy Đoản phát triển, kéo dài rạ Một câu của “đoản” bằng hai câu của “trường” Phú Lục: sôi nổi, rộn rả, khẩn trương, khác với bài Lưu Thủy Trường có tính thiên nhiên Bài này có xuất xứ từ bài Phú Lục ở Huế Xuân Tình : vui tươi, lúc bình thường khi rộn rã, âm điệu vang, trong sáng, nồng nhiệt Bình Bán Chấn: phát triển từ bài Bình Bán, đến Bình Bán Vắn, rồi đến bài Bình Bán Chấn (dài) Gốc
là bài Bình Bán vui vẻ sảng khoái, nhưng khi phát triển thành Bình Bán Chấn thì
29
Kiều Tấn 2002 "Hệ thống bài bản nhạc tài tử Nam bộ" "Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh" - Nhà xuất bản Trẻ
Trang 37trở thành đĩnh đạc, nghiêm trang Bài này phức tạp, khúc mắc, ít được dùng trên sân khấụ Tây Thi : êm dịu, trong sáng, vui tươi, có tính tự sự, không gay gắt như Phú Lục Bản này là bản dễ nhớ nhứt trong sáu bài Bắc Cổ Bản : câu ngắn gọn, dồn dập, nhưng không nhấn mạnh như bài Phú Lục
Bảy bài nhạc Lễ: xếp vào mùa Hạ, nên thường gọi là 7 bài Hạ, giọng nhạc bực tức, hùng hồn Nhạc sĩ đờn 7 bài nầy day mặt về hướng Ðông Bảy bài nhạc Lễ gồm: Xàng Xê, Ngũ Ðối Thượng, Ngũ Ðối Hạ, Long Ðăng, Long Ngâm, Vạn Giá, Tiểu Khúc Ý nghĩa như sau: Xàng Xê: Thời kỳ Hỗn độn sơ khai, các khí lộn lạo hùng tráng uy nghi nhưng dịu dàng, êm áị Ngũ Ðối Thượng: Ngũ Khí nhẹ nổi lên làm Trời Ngũ Ðối Hạ: Ngũ Khí nặng hạ xuống làm đất Ðó là Ngũ Hành: Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ còn gọi tắt là bài Hạ, có tính uy nghi, nghiêm trang, man mác, thanh thản Ngũ Ðối Hạ: Ngũ Khí nặng hạ xuống làm đất Ðó là Ngũ Hành: Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ, còn gọi tắt là bài
Hạ, có tính uy nghi, nghiêm trang, man mác, thanh thản Long Ðăng: Rồng lên, tượng trưng Dương khí, giống bài Hạ, nhưng tiết tấu khỏe, ít nghiêm trang Long Ngâm: Rồng xuống, tượng trưng Âm khí: giống bài Hạ, ít thấy dùng trên sân khấu cải lương Vạn Giá: Vạn vật sinh thành đều có giá trị Tiểu khúc: Nhỏ ngắn đều có định luật
Ba bài Nam: xếp vào mùa Thu, giọng nhạc trầm buồn ai oán Nhạc sĩ đờn 3 bài nầy thì day mặt về hướng Nam Ba bài Nam gồm: Nam Xuân, Nam
Ai, Ðảo Ngũ Cung Nam Xuân: điệu nhạc thanh thản lâng lâng, sảng khoái, nghiêm trang, nhẹ nhàng, có người cho là “tiên phong đạo cốt” Nam Ai : buồn
ảo não, não nùng, bi thảm… Nam Đảo (hay Đảo Ngũ Cung): tôn nghiêm, hùng tráng, gay gắt Hai câu cuối được chuyển sang hơi Hò Ba âm điệu buồn, để chấm dứt, gọi là “song cước”
Bốn bài Oán: xếp vào mùa Ðông, giọng nhạc hiền hòa, non nước thanh bình Nhạc sĩ đờn 4 bài nầy thì day mặt về hướng Tây Bốn bài Oán gồm: Tứ Ðại Oán, Giang Nam, Phụng Cầu, Phụng Hoàng Tứ Đại Oán: điệu nhạc thất vọng, bi thiết, oán hờn giống bài Văn Thiên Tường, nhưng hơi hướng có phần
Trang 38cổ và chơn chất hơn Hai lớp Xang vắn thường hay được dùng Phụng Hoàng: như Tứ Đại Oán, nhưng hơi dựng hơn Giang Nam: trầm hơn Tứ Đại Oán, chậm rãi Phụng Cầu: như Phụng Hoàng
Bên cạnh 20 bản tổ, còn có thêm hệ thống các bài bản khác Ðáng kể nhất là hệ thống tám bản Ngự, gồm: Ðường Thái Tôn, Vọng phu, Chiêu quân,
Ái tử kê, Bát man tấn cống, Trường tương tư, Duyên kỳ ngộ, Quả phụ hàm oan của ông Ba Ðợi (có người cho rằng ông cũng chính là tác giả của bốn bản Oán trong 20 bản tổ) Kế đến là Ngự giá đăng lâu, Ái tử kê của ông Hai Khị, Văn Thiên Tường của ông Trần Quang Quờn và ông Mười Hơn, Bình sa lạc nhạn của ông Trần Quang Quờn
Ngoài ra, “một trong những bài bản nổi tiếng trong đờn ca tài tử là bản
Dạ Cổ Hoài Lang – nghĩa là đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng – do nhạc
sĩ Cao Văn Lầu tức Sáu Lầu ở Bạc Liêu sáng tác vào năm 1917”[30], đã góp phần làm phong phú thêm các điệu thức của nhạc tài tử Nam Bộ Dạ Cổ Hoài
Lang là bài hát được phát triển dựa trên bài Hành Vân của ca Huế “Lời ca của bài hát này được sửa nhiều lần bởi các nghệ sĩ như cô Ba Vàm Lẻo, ông Nguyễn
Tử Quang, ông Trịnh Thiên Tư” [31] và được nhiều người yêu thích “Từ bản Dạ
cổ hoài lang nhịp 2, dần dần nâng lên nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16, nhịp 32; từ bài
“Dạ cổ hoài lang” 20 câu, dần dần rút xuống còn 6 câu, rồi 4 câu, đúng như lời tâm nguyện của nhạc sĩ Cao Văn Lầu vào năm 1963 “Từ bài “Dạ cổ hoài lang” nhịp 2, nhịp 4 trở thành nhịp 32 là công sửa đổi của quý vị nhạc sư, nhạc
sĩ, soạn giả để trở thành đứa con tinh thần chung của quý vị Tôi xin giao đứa con ấy cho quý vị, thương yêu nó mà giữ dùm nó, đừng biến nó thành đứa con hoang mất căn gốc, nhịp điệu và lời ca Như thế dầu tôi có chết cũng ngậm cười nơi chín suối Tôi tin đứa con riêng của tôi, đứa con chung của quý vị sẽ được nuôi dưỡng, chăm sóc với tất cả tấm lòng yêu chuộng bản hoài lang hay bản
Trang 39vọng cổ…!”[32] Về sau, Dạ Cổ Hoài Lang được đổi tên là Vọng Cổ Hoài Lang, rồi được đơn giản hóa thành Vọng Cổ.
Từ sinh hoạt Đờn ca tài tử thuần túy, nghệ sĩ dân gian dần tìm đến những nội dung dài hơi có tích truyện Bắt đầu nảy sinh cách diễn xướng mang tính trò diễn sơ khai gọi là hình thức “ca ra bộ” – có nghĩa vừa ca vừa làm những điệu
bộ thể hiện tính cách nhân vật theo cốt truyện
So với chèo và tuồng, nghệ thuật cải lương sử dụng kho tàng nhạc Đờn
ca tài tử làm nền tảng âm nhạc sân khấu trên cơ sở áp dụng lối diễn tả thực của kịch nói Tây phương Nội dung chủ đề cũng được mở rộng tối đa, khiến cải lương nhanh chóng chiếm lĩnh được vị trí trong đời sống xã hội Ðiều lý thú ở đây, các bản cổ nhạc khi hòa tấu, đờn ca thuần nhất thì gọi là nhạc tài tử Nhưng cũng với những bản nhạc đó khi dùng trong sân khấu ca kịch thì lại được định danh là nhạc cải lương Vì thế mới có thuật ngữ ghép chung nhất là nhạc tài tử - cải lương Ðây chính là hai môi trường diễn xướng dân gian và chuyên nghiệp của cùng một thể loại âm nhạc Qua đó, sẽ thấy phong trào Đờn ca tài tử là cái nôi nuôi dưỡng, cung cấp các tài năng cho sân khấu cải lương Ngược lại, sân khấu cải lương lại là động lực kích thích sự sáng tạo nghệ thuật, nhất là việc sáng tác bài bản mới, như những sáng tác thành công của soạn giả Mộng Vân ở
thập kỷ 30 – 40 với các bài bản như: Quý phi túy tửu, Sơn Đông hướng mã, Kiều nương, Bá hòa, Giang Tô điểu ngữ, Phòng nguyệt, Tấn phòng, Tân xái phỉ và Sương chiều; của danh cầm Văn Giỏi với hai bài bản Đoản khúc lam giang và Phi vân điêp khúc ở thập kỷ 80 của thế kỷ trước Bởi vậy, tính đến cuối thế kỷ
20, số lượng bài bản tài tử - cải lương đã lên tới trên dưới 300 bài, vượt xa so với hai thể loại cổ điển là tuồng và chèo
Về mặt cấu trúc, bài bản Đờn ca tài tử thuộc vào dạng cổ truyền dân tộc, lấy “lòng bản” làm cơ sở để ngẫu hứng ứng tác trên nguyên tắc những hơi nhạc (cung điệu) có sẵn tạo nên sự phong phú giàu tính kịch để có thể phục vụ mọi
32
Toan Ánh 1996 "Tìm hiểu nghệ thuật cầm ca Việt Nam" (Nhà xuất bản Đồng Tháp - 1996)
Trang 40tình huống sân khấu Cũng như nhạc Huế, nhạc lễ dân gian và tuồng, bên cạnh phương thức truyền ngón nghề trực tiếp, tài tử - cải lương dùng hệ thống ký tự nhạc thanh Hò, Xự, Xang, Xê, Cống để lưu truyền bài bản Ở đây, kỹ năng ngẫu hứng ứng tác được coi là then chốt Vì lẽ đó, hình thức hòa tấu cũng như độc tấu của Đờn ca tài tử đạt đến tầm cao nhất so với các thể loại nhạc cổ truyền Việt Nam
Những thập niên cuối thế kỷ 20, một số tay đờn lão luyện như Văn Giỏi, Thanh Hải cho ra đời bài Vọng kim lang Bên cạnh đó, các danh cầm còn tiếp tục thử nghiệm những bản độc tấu, hòa tấu Vọng cổ với cấu trúc nhịp 64 Vọng
cổ là một bài bản có vị trí đặc biệt trong nền ca nhạc Đờn ca tài tử song hành cùng các bài bản tạo nên các bài tân cổ giao duyên hay rộng hơn là các tuồng cải
lương “Như vậy có thể thấy cải lương là một loại hình nghệ thuật được hình thành dựa trên cơ sở của đờn ca tài tử Mặc dù về mặt thang âm điệu thức giữa
âm nhạc cải lương” [33] và “âm nhạc của đờn ca tài tử không có ranh giới rõ rệt” [34] , nhưng với cùng một làn điệu, cùng một bản đờn, lối ca và hòa tấu nhạc tài tử có một số khác biệt với lối ca và hòa tấu nhạc trên sân khấu cải lương Do không bị hạn chế vào việc diễn xuất và kịch bản sân khấu, người nghệ sĩ của nhạc tài tử có nhiều thuận lợi hơn trong việc ứng tác và chơi ngẫu hứng
2.2.2 Hình thức biểu diễn của Đờn ca tài tử Nam Bộ
Mỗi vùng miền đều có một loại hình nghệ thuật riêng, mang đậm cái hồn của người dân nơi đó Những ai, trên chuyến hành trình về miền đất phương Nam đôi khi vô tình nghe đâu đó vang lên một giọng ngân dài, tha thiết, đượm buồn sẽ thấy thấm đẫm cái nghĩa cái tình chất chứa từ trong hơi thở Chỉ một cung điệu, một giai âm cũng đủ xao xuyến lòng người Cái tên nghe ra cũng có phần đặc biệt, khai sinh từ tính cách của những người con trên mảnh đất đồng bằng “Đờn ca tài tử”, loại hình thế nào, cái tên thế ấy, nghe mộc mạc và bộc
33
Cải lương là một thể loại sân khấu truyền thống Việt Nam được phát triển từ sân khấu hát bội và nhạc tài tử
34 Kiều Tấn 1993 "Tìm hiểu điệu thức trong âm nhạc tài tử Nam bộ" "Thang âm điệu thức trong âm nhạc truyền thống một số dân tộc miền Nam Việt Nam" Viện Văn Hóa Nghệ Thuật tại Tp Hồ Chí Minh