1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của wto đến quyền tự chủ các quốc gia thành viên trong việc xây dựng và thực thi luật thương mại quốc tế

106 29 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Quyền tự chủ của các nước thành viên WTO trong xây dựng và thực thi pháp luật về thương mại quốc tế (15)
  • 2. Quyền tự chủ quốc gia trong lịch sử trước thời đại toàn cầu hóa (20)
  • 3. Những Quan điểm về mối quan hệ giữa WTO và quyền tự chủ các quốc gia thành viên trong thời đại toàn cầu hóa (21)
  • 4. Ảnh hưởng WTO đến quyền tự chủ quốc gia thành viên trong xây dựng và thực thipháp luật về thương mại quốc tế (27)
  • II. CÁC TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU: ẢNH HƯỞNG CỦA WTO ĐẾN QUYỀN TỰ CHỦ QUỐC GIA THÀNH VIÊN TRONG VIỆC XÂY DỰNG VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (49)
    • 1. Trường hợp: Tác động của WTO đến quyền tự chủ quốc gia trong việc xây dựng pháp luật về thương mại quốc tế của Trung Quốc (49)
    • 2. Trường hợp: Ảnh hưởng của WTO đến quyền tự chủ quốc gia trong việc thực thi pháp luật về thương mại quốc tế trong “vụ kiện bò hormone giữa Liên hiệp các nước châu Âu EU và Hoa Kỳ” (58)
    • 3. Ảnh hưởng của WTO đến quyền tự chủ quốc gia trong việc xây dựng và thực (62)
    • 1. Ảnh hưởng dựa trên cơ chế thỏa thuận (79)
    • 2. Ảnh hưởng công bằng (85)
    • 3. Ảnh hưởng của WTO đối với lợi ích chung và lợi ích riêng của các quốc (90)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (0)

Nội dung

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊNNăm học 2012 - 2013 Đề tài ẢNH HƯỞNG CỦA WTO ĐẾN QUYỀN TỰ CHỦ CÁC QUỐC GIA THÀNH VIÊN TRONG VIỆC XÂY DỰNG VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Thành

Quyền tự chủ của các nước thành viên WTO trong xây dựng và thực thi pháp luật về thương mại quốc tế

1.1 Phân biệt “quyền tự chủ” và “chủ quyền” quốc gia

Trước tiên, cần phân biệt chủ quyền (sovereignty) và quyền tự chủ (autonomy) của các quốc gia, bởi trong thực tế 2 cụm từ này thường được dùng thay thế cho nhau, ít được phân biệt trong sử dụng, làm xuất hiện sự sai lệch về mặt ngữ nghĩa, nhất là khi sử dụng những từ này như những đối tượng chịu sự ảnh hưởng của WTO

Niccolo Machiavelli (1469-1527) trong tác phẩm Quân vương đã cho rằng chủ quyền quốc gia phải tuyệt đối trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, phải được đặt trên mọi quyền lực khác Nghĩa là trong phạm vi lãnh thổ của mình, một quốc gia dân tộc có quyền làm mọi điều bất chấp các quốc gia khác, và để tăng cường quyền lực của mình, quốc gia có thể sử dụng tất cả các phương thức chính sách khác nhau, kể cả việc sử dụng thủ đoạn

Mô tả một cách chi tiết và cụ thể hơn Niccolo Machiavelli, nhà triết học Jean-Jacques Rousseau (1712-1778) cho rằng chủ quyền quốc gia dân tộc đồng nghĩa với độc lập của quốc gia đó và được thể hiện ở ba đặc tính: i) Quyền lực toàn vẹn (Một quốc gia có quyền can thiệp vào mọi lĩnh vực có lợi cho sự phát triển tồn tại của dân tộc); ii) Quyền lực chuyên biệt (chủ quyền quốc gia dân tộc phải độc quyền trên toàn bộ lãnh thổ của mình, trừ trường hợp quốc gia đó muốn tự hạn chế độc quyền này bởi những cam kết quốc tế với nước ngoài và các tổ chức quốc tế); và iii) Quyền lực tự chủ: chủ quyền quốc gia phải tự chủ, không phụ thuộc vào quốc gia nào trong quan hệ đối nội và đối ngoại

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: “Chủ quyền quốc gia là thuộc tính chính trị pháp lý không thể tách rời của quốc gia, Nội dung của chủ quyền quốc gia gồm quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế Quyền tối cao của quốc gia ở trong nước thể hiện ở quyền lực đầy đủ để giải quyết mọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa…không có sự can thiệp từ phía các quốc gia khác và các tổ chức quốc tế Quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế thể hiện ở chỗ không có một quyền lực nào, một cơ quan nào, một tổ chức quốc tế nào đứng trên các quốc gia; tất cả các quốc gia tham gia quan hệ quốc tế với tư cách là những chủ thể bình đẳng và hoàn toàn độc lập, tự quyết định các vấn đền đối nội và đối ngoại của mình Hai nội dung của chủ quyền quốc gia gắn bó chặt chẽ với nhau và là tiền đề cho nhau Những nội dung này được khẳng định trong pháp luật của từng quốc gia vả các văn bản pháp lý Việc tôn trọng chủ quyền quốc gia ngày nay trở thành “một nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại”

Bên cạnh đó, chủ quyền quốc gia cũng có thể được hiểu là “quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của một quốc gia độc lập được thể hiện trên mọi phương diện, chính trị, an ninh, quốc phòng, ngoại giao, kinh tế, văn hóa xã hội và được đảm bảo toàn vẹn, đầy đủ về mọi mặt, cả hành pháp, lập pháp lẫn tư pháp của quốc gia đó trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia mình” 2

1.1.2 Quyền tự chủ của quốc gia

Nếu như chủ quyền là một khái niệm pháp lý, thì qưyền tự chủ là biểu hiện thực tiễn của khái niệm chủ quyền Do đó chữ chủ quyền thường được hiểu theo

2 Phan Văn Rân & Nguyễn Hoàng Giáp, chủ quyền quốc gia dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa và vấn đề đặt ra với Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, 2010, tr.17 nghĩa rộng là bao gồm cả hai mặt này Nếu xét theo định nghĩa trong công pháp quốc tế, chủ quyền là quyền lực tối cao ban hành và áp dụng các luật lệ và chính sách, cai quản mọi hoạt động xã hội và chính trị trong một nước, thì có thể nói không nơi nào chủ quyền bị sứt mẻ, thay đổi hay bị ảnh hưởng kể cả trong những nước thành viên của Liên hiệp Châu Âu (EU), vì chưa có hệ thống nào thay thế, ở mức quốc gia, các nhà nước trong chức năng ấy Nghĩa là, không có một siêu quốc gia 3 nào trên nhà nước để có thể gây ảnh hưởng hoặc làm thay đổi chủ quyền của các nước

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện chủ quyền của mình, các nhà nước có thật sự chủ động trong việc chọn lựa xây dựng các chính sách, các luật lệ và biện pháp thi hành luật lại là chuyện khác Điều đó có nghĩa là quyền tự chủ có thể bị giới hạn bởi nhiều ràng buộc và cản trở, ở mức độ quốc gia và quốc tế, do nhiều yếu tố, chủ yếu là tình hình kinh tế và chính trị thế giới, tương quan lực lượng giữa các nước, và hệ thống pháp lý quốc tế trong đó WTO là một trong những điển hình thuyết phục nhất Ở các phần sau, công trình nghiên cứu này sẽ chỉ ra những ảnh hưởng của WTO đến quyền tự chủ quốc gia thông qua thể chế quốc tế được cam kết khi các quốc gia gia nhập WTO

1.2 Quyền tự chủcủa quốc gia trong việc xây dựng luật Thương mại

Xây dựng pháp luật về thương mại quốc tế là một trong những quyền cơ bản quan trọng của quốc gia, ngay cả khi quốc gia đó trở thành thành viên của tổ chức WTO Đối với một quốc gia, nhà nước được xem là tổ chức có quyền lực tối cao đại diện cho quốc gia ban hành các luật lệ chính sách nói chung và pháp luật về thương mại quốc tế nói riêng Luật thương mại của mỗi nước đều sẽ phản ánh các truyền thống về văn hóa, thương mại và pháp lý đặc thù của nước đó.Tuy nhiên, nó

3 Siêu quốc gia được hiểu đơn giản là một thực thể chính trị có quy ền lực cao hơn, quyết định ý chí quốc gia cũng phải đáp ứng được tính hợp lý về kinh tế và phải được xây dựng trên những kinh nghiệp thực tiễn của các nước có nhiểu kinh nghiệm trong các giao dịch thương mại

Trước hết, trong việc xây dựng bộ Luật thương mại, quyền tự chủ quốc gia được thể hiện qua việc nhà nước có quyền dựa trên trên những mô hình phù hợp về thương mại để áp dụng cho quốc gia mình, mang về lợi ích quốc gia cao nhất Một số nước xã hội chủ nghĩa đã có luật thương mại từ những ngày đầu của chủ nghĩa xã hội.Một trường hợp dẫn chứng là bộ luật thương mại của Cộng hòa Séc phù hợp và hiện đại vào thời điểm năm 1945 và được hiện đại hóa thành công thông qua các lần sửa đổi; hay một số bộ luật khác phù hợp tại một thời điểm và phải được sửa đổi điều chỉnh qua thời gian Mỗi nhà nước tự đưa ra các bộ luật của riêng quốc gia mình Luật thương mại Việt Nam năm 2005 quy định: “Thương nhân gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” 4

Vậy để xây dựng pháp luật về thương mại quốc tế, nhà nước cũng có toàn quyền trong việc điều chỉnh các hoạt động ngoại thương như tiến hành xuất nhập khẩu, mức thuế quan…hay các đường lối, chính sách ngoại thương Không những thế, nhà nước còn có thể đổi mới các chính sách và Pháp luật điều chỉnh pháp luật về thương mại quốc tế sao cho phù hợp với tình hình thực tế của đất nước.Ta có thể lấy Mỹ làm một ví dụ điển hình, nhà nước Mỹ luôn đưa ra những nguyên tắc quan trọng có tính chặt chẽ, bất dịch trong việc thiết lập và thực thi pháp luật về thương mại Quốc hội Mỹ bao giờ cũng ủng hộ phát triển tự do, thương mại hóa dựa trên cơ sở phù hợp với lợi ích quốc gia Tuy nhiên, pháp luật thương mại và các thỏa thuận thương mại ngày càng trở nên phức tạp.Thực tế cho thấy, Mỹ ban hành rất nhiều văn bản luật bao gồm: Thỏa thuận thương mại; Tiêu chuẩn laođộng;

4 Khoản 1, điều 6 Luật thương mại Việt Nam 2005

Tiêu chuẩn môi trường… Nhìn chung các văn bản pháp luật của Mỹ nói chung và văn bản luật thương mại nói riêng của Mỹ đều xuất pháp từ Quốc hội Mỹ (đây được xem như cơ quan xây dựng chính sách kinh tế quan trọng nhất), trên cơ sở nhất trí ý kiến của các thành viên Quốc hội; các thương gia và các thành viên chuyên trách khác Việc sửa đổi nội dung các quy phạm pháp luật thương mại cũng hầu hết bắt đầu từ Quốc hội Ví dụ việc sửa đổi việc sửa đổi Điều 301 Đạo Luật thương mại năm 1974 Hoặc việc sửa đổi “Luật sở hữu trí tuệ”.Trong đó, các đại biểu ngành công nghiệp khời xướng lên Quốc hội bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi quốc tế Sau khi chất vấn về các vấn đề trọng tâm, Quốc hội đã ban hành các quy phạm pháp luật khả thi đối với quyền sở hữu trí tuệ nhằm giải quyết những quan hệ thực tế mới nảy sinh dựa trên sự điều chỉnh này 5

1.3 Quyền tự chủtrong thực thi pháp luật về thương mại quốc tế

Quyền tự chủ của một quốc gia còn được thể hiện qua quá trình thực thi Luật pháp thương mại quốc tế Điển hình ở Việt Nam, Hiến Pháp 1992 của Việt Nam quy định: Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm đến lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện quyền công bằng xã hội Mọi người có cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc, có điều kiện để phát triển toàn diện về mọi mặt 6 Một trong các luật mà Việt Nam sử dụng nhằm bảo vệ quyền lợi của nhân dân cũng như là đất nước đó là Luật thương mại Pháp luật thương mại là một công cụ chiến lược để Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước Việt Nam như Nghị quyết số 07/NQ-TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam về hội

5 Trung tâm khoa học và xã hội quốc gia-Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật-GS.TS Khoa học Đào Trí Úc, “Bước đầu tìm hiểu Pháp luật thương mại Mỹ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội-

Quyền tự chủ quốc gia trong lịch sử trước thời đại toàn cầu hóa

Năm 1576, nhà triết học và kinh tế gia Pháp Jean Bodin là người đầu tiên nêu lên và phân tích khái niệm chủ quyền, nhưng phải đợi đến năm 1648, khi hai hiệp ước Westphalia được ký kết tại hai thành phố Đức Munster và Osnabrück, chấm dứt cuộc chiến kéo dài 30 năm (The Thirty Years’s War) giữa các nước Âu châu, vấn đề chủ quyền quốc gia mới được đặt ra như khái niệm nền tảng của một

“công pháp Âu châu” để chi phối các quan hệ giữa các nước liên can Do đó các hiệp ước Westphalia được coi là điểm khởi đầu cho sự hình thành và tiến hoá của nền công pháp quốc tế hiện nay, và khái niệm chủ quyền, theo nghĩa thông thường, còn được gọi là mô hình Westphalia Trong giai đoạn đó, chủ quyền và quyền tự chủ dường như chưa có sự phân biệt Nguyên nhân là do khi đó chưa xuất hiện các yếu tố ngoại lai tác động vào các quyết định, sự tự chủ của các quốc gia (hoặc nếu có thì cũng chỉ tồn tại dưới hình thức các mối thương mại nhỏ lẻ, chưa có tổ chức hay thể chế quốc tế đủ mạnh để ảnh hưởng đến sự chủ động của các nước)

Theo tiền đề của mô hình Westphalia, mỗi quốc gia là một tác nhân của cộng đồng quốc tế, bình đẳng với các nước khác và có toàn quyền tự chủ trong những sinh hoạt phục vụ lợi ích của mình.Mỗi nước có toàn quyền định đoạt mọi việc trên lãnh thổ của mình và không được can thiệp vào nội bộ nước khác Nói

7 TS TS Trần Thị Hòa Bình – TS Trần Văn Nam, “Giáo trình Luật thương mại quốc tế”, Nxb Lao Động Xã hội, Hà Nội, 2005, tr.3

8 Đỗ Tuyết Khanh, Tạp chí thời đại, Quyền tự chủ quốc gia và chuẩn quốc tế trong kinh tế, số 9 tháng 11/2006, tr 3-5 cách khác, chủ quyền quốc gia dừng lại ở biên giới lãnh thổ, cũng như tự do của mỗi con người chấm dứt ở nơi tự do của người khác bắt đầu Để được các nước khác công nhận chủ quyền của mình, mỗi nước cũng phải công nhận chủ quyền của nước khác và chấp nhận tự giới hạn như thế Cũng như chấp nhận những giới hạn khác do những nghĩa vụ quốc tế phải đảm nhận khi thoả hiệp với nước khác hay tham gia vào một hình thức tập hợp đa quốc gia

Như vậy, việc chủ quyền quốc gia bị hạn chế trong lãnh thổ khiến thực tiễn triển khai chủ quyền quốc gia, tức quyền tự chủ quốc gia cũng được đảm bảo cao độ, tuyệt đối trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó Khi các mối quan hệ ban giao giữa các quốc gia còn bị hạn chế bởi sự kém phát triển của các phương tiện đi lại và truyền đổi thông tin thì các quốc gia chưa có các quan hệ kinh tế lớn Khi đó, sự ràng buộc giữa các quốc gia là chưa đủ mạnh để các nước từ bỏ lợi ích quốc gia Giai đoạn này, chủ nghĩa hiện thực ảnh hưởng sâu rộng đến các quốc gia, đặc biệt đề cao vai trò nhà nước trong việc củng cố quyền lực quốc gia dân tộc Như vậy, sự chủ động trong việc xây dựng, thực thi luật của các nước sẽ cao hơn Các quốc gia có khả năng ảnh hưởng đến thị trường thương mại thông quan bàn tay chính phủ Cho đến cuối thế kỷ XX, vị trí độc tôn của nhà nước vẫn là định đề cho mọi thảo luận thương thuyết dẫn đến những quy tắc mới.

Những Quan điểm về mối quan hệ giữa WTO và quyền tự chủ các quốc gia thành viên trong thời đại toàn cầu hóa

Khi quá trình toàn cầu hoá diễn ra, khái niệm về quyền tự chủ quốc gia có sự thay đổi nhất định do vai trò của nhà nước có sự thay đổi Sự xuất hiện của Internet và những công nghệ mới, cộng với tốc độ tiến hóa của tình hình chung đã đặt ra nhiều vấn đề mới, trong đó có vai trò của các nhà nước và quan hệ giữa các nước trong cộng đồng quốc tế

Một trong những biểu hiện của toàn cầu hoá hay được nhắc đến là các giao dịch tài chính Các thị trường tài chính quốc tế, với một số lượng giao dịch hàng ngày cao gấp mấy lần ngân sách quốc gia cả năm của những nước nghèo nhất, quả là một sức mạnh rất đáng kể, nhất là khi các dòng chảy tư bản có thể di chuyển rất nhanh từ nước này sang nước khác, ảnh hưởng lên giá trị đồng tiền và tình hình kinh tế của cả một nước Hơn thế nữa, với mức độ giao lưu và phụ thuộc vào nhau rất cao hiện nay, mọi biến động ở một nơi sẽ lan ra ngay trong cả một khu vực và có thể đi xa hơn nữa, vì ảnh hưởng dây chuyền còn được nhân thêm nữa với tốc độ hiện nay của các phương tiện thông tin và giao dịch điện tử Sự khủng hoảng tiền tệ ở Á châu năm 1997 cho thấy rõ sự bất lực của một số nhà nước không kiềm chế được ảnh hưởng của các luồng vốn và phải tuân theo chỉ thị của IMF để ra khỏi bế tắc Điều này diễn ra tương tự đối với lĩnh vực thương mại khi các quan hệ mua bán không chỉ dừng lại trong phạm vi lãnh thổ quốc gia Biểu hiện rõ nhất là sự xuất hiện của các công ty xuyên quốc gia Các công ty này có thể bất cứ lúc nào quyết định dời nơi sản xuất sang nước khác, gây ra thất nghiệp và hàng loạt vấn đề kinh tế và xã hội khác, mà chính quyền sở tại không có cách nào ngăn chặn, ngoài vài biện pháp chấp vá chủ yếu để trấn an dư luận trong nước Hiện tượng xuyên quốc gia (transnationalism) cho thấy rõ thế yếu của các nhà nước, bị gò bó trong khuôn khổ lãnh thổ quốc gia, trong khi các đại công ty và thị trường quốc tế tự do hoạt động trên toàn thế giới Quan niệm chủ quyền theo mô hình Westphalia thành vô nghĩa khi quyền lực của thị trường vượt qua quyền lực của nhà nước, nhất là khi chính quyền ở vào thế phải phụ thuộc các công ty hay khi chính sách kinh tế của một nước bị ảnh hưởng vào sự phồn thịnh và lợi ích của các công ty

Như vậy, thông qua hai trong số nhiều ví dụ về quá trình toàn cầu hóa diễn ra như một quy luật tất yếu, việc gia nhập WTO có thể mang về nhiều lợi hơn cho nền kinh tế quốc gia, nhưng đồng thời đặt họ trước những thách thức lớn về nhiều vấn đề kinh tế, xã hội và quyền tự chủ là một trong những vấn đề được đặc biệt chú trọng Thế nên, việc nhìn WTO lợi hay hại còn tùy thuộc vào quan điểm của các quốc gia, phản ánh quyền tự chủ quốc gia sau khi gia nhập WTO

3.1 Những quan điểm về xu thế toàn cầu hóa hay xu hướng gia nhập WTO

Hiện nay, quan hệ kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu Điều này được thể hiện rõ thông qua sự thay đổi cấu trúc của nền kinh tế quốc tế

Cụ thể, cấu trúc quan hệ kinh tế quốc tế xuất hiện 2 xu thế chính 9 : Một là khu vực hoá - hiện tượng, khuynh hướng hợp tác hay liên kết các nước và hình thành những nhóm, tổ chức khu vực hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau: ASEAN, NAFTA, AFTA Hai là, toàn cầu hóa: xu hướng làm các mối quan hệ trở nên ít bị ràng buộc bởi địa lý lãnh thổ mà WTO là một trong những thực thể quan trọng trong giai đoạn hiện nay

Những người có quan điểm trung dung cho rằng, toàn cầu hóa hay việc gia nhập WTO là một xu thế phát triển tất yếu của lịch sử, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan, vừa có những tác động tích cực và tiêu cực đối với tất cả các nước Dù sao cũng không thể phủ nhận xu thế toàn cầu hóa.Vấn đề đặt ra với các nước là làm thế nào để tận dụng tết nhất các cơ hội do quá trình này tạo ra và đối phó hiệu quả với những thách thức

Phái lạc quan ủng hộ toàn cầu hóa cho rằng toàn cầu hóa và hội nhập đã lạo ra những khả năngmới để nâng cao năng suất, sản lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường chohàng hóa, dịch vụ và các yếu tố sản xuất Do vậy, tăng khả năng tiêu thụ và tiếp cận các nguồn lực cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh (nguyên liệu, vốn, công nghệ ), tạo điều kiện thuận lợi để thúc

9 Mạnh Ngọc Hùng, Tạp chí Khoa học xã hội, “Tác động của toàn cầu hóa đến an ninh các quốc gia và khu vực”, năm 2007 đẩy sản xuất phát triển, cải thiện mức sống trên loàn thế giới nhờ tăng trưởngkinh tế và khả năng để mọi người được tiếp cận những hàng hóa, dịch vụ đa dạng phong phú với giá cả hợp lý hơn Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế không phải là nguyên nhân gây ra thất nghiệp và phát triển không đồng đều, mà chúng lại giúp tạo khả năng giải quyết những vấn đề đó

Những người thuộc trường phái chống toàn cầu hóa cho rằng, quá trình này gây ra nhiều tácđộng tiêu cực về kinh tế, chính trị, xã hội đối với các nước và những tầng lớp dân chúng trong xã hội Những mặt trái của nó gây nhiều tác hại làm cho nhiều công ty, xí nghiệp bị phá sản và hàng loạt người lao động mất việc làm, ngay cả những người lao động tại các nước đang phát triển cũng mất việc làm vì sự cạnh tranh cao của lao động giá rẻ ở các nước đang phát triển, làm gia tăng sự bóc lột và bất công trong mỗi xã hội và giữa các nước, làm khoét sâu hố ngăn cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội và giữa các nước phát triển với các nước đang phát triển, đe dọa nền dân chủ và sự ổn định xã hội, uy hiếp độc lập tự chủ các quốc gia, phá hoại truyền thống văn hóa và bản sắc dân tộc, phá hủy hoại môi trường và làm cạn kiệt nguồn tàinguyên thiên nhiên, là nguyên nhân gây khủng hoảng tài chính và kinh tế Nhiều nhà phân tích cho rằng, các nước đang phát triển chính là các nước phải gánh chịu những thua thiệt và bất lợi lớn nhất 10

3.2 Các quan điểm về ảnh hưởng của WTO đến quyền tự chủ của quốc gia thành viên

Hiện nay, có 3 quan điểm chính về ảnh hưởng của toàn cầu hóa (hay việc gia nhập WTO) đến quyền tự chủ quốc gia 11

11 Trần Thăng Long, Chủ quyền quốc gia trong quan hệ kinh tế quốc tế, hcmulaw.edu.vn, http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?option=com_content&view=article&catid: ctc20034&id%1:tc2003so4cqqgtqhqt&Itemid6 Truy cập ngày (17.02.2013)

Thứ nhất, gia nhập WTO (hay tham gia tiến trình) toàn cầu hóa làm xói mòn quyền tự chủ quốc gia.Có quan điểm cho rằng, gia nhập WTO hay những nỗ lực cho việc toàn cầu hóa kinh tế sẽ tác động mạnh mẽ đối với quyền tự chủ quốc gia Gia nhập WTO (đồng nghĩa tham gia tiến trình toàn cầu hóa) đang làm lung lay cả những quan niệm truyền thống về nhà nước, vai trò chức năng của nhà nước và quyền tự chủ quốc gia, quyền tự chủ kinh tế của mỗi nước và kết quả là dẫn đến sự tiêu vong của nhà nước – dân tộc (nation – state) truyền thống Điều đó được lý giải ở việc nhìn nhận với sự phát triển ngày càng cao của xu thế toàn cầu hóa, tính độc lập của các quốc gia bị mất dần, nhiều quyền lực của nhà nước bị xói mòn và chuyển vào tay các thực thể khác, đồng thời nhiều vấn đề hiện vượt ra khỏi tầm kiểm soát của các nhà nước đơn lẻ như vấn đề môi trường sinh thái, các luồng di chuyển vốn, các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia

Có quan điểm còn nêu ra vấn đề “Trong tương lai gần, các thể chế toàn cầu, các khối kinh tế, các công ty xuyên quốc gia sẽ phát triển mạnh mẽ và trong tương lai xa chúng sẽ quyết định các quan hệ kinh tế quốc tế” và “các công ty xuyên quốc gia dưới sự bảo trợ của WTO có khả năng đứng trên các chính phủ và trở thành một “siêu quốc gia”, ít chịu ràng buộc và dần dần làm lu mờ quyền tự chủ của các quốc gia” Như vậy, suy cho cùng, quyền tự chủ của một quốc gia được quy định trước hết bởi quyền ban hành luật pháp, nhưng giờ đây buộc phải điều chỉnh, sửa đổi cho phù hợp với các cam kết của WTO 12

Thứ hai, gia nhập WTO (hay tham gia tiến trình toàn cầu hóa) là sự thực hiện quyền tự chủ quốc gia Có một số quan điểm lại nhìn nhận quyền tự chủ quốc gia trong toàn cầu hóa kinh tế một cách tích cực hơn Quan điểm này cho

12 Nguyễn Cúc, Tạp chí Đảng cộng sản, Việt Nam gia nhập WTO - cơ hội và thách thức đối với xây dựng nền quốc phòng toàn dân, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-

Traodoi/2007/2005/Viet-Nam-gia-nhap-WTO-co-hoi-va-thach-thuc-doi.aspx, truy cập ngày 18/11/2012 rằng, những tác động của toàn cầu hóa đối với quyền tự chủ quốc gia là khách quan và không tránh khỏi Do vậy, các quốc gia cần phải xem lại vấn đề quyền tự chủ quốc gia hay nói cách khác, san sẻ, hòa hợp quyền tự chủ với những quốc gia khác để cùng nhau giải quyết những vấn đề có liên quan đến lợi ích của chính quốc gia mình Điều đó cũng có nghĩa là quan điểm về quyền tự chủ đã thay đổi và việc thông qua những thiết chế, hình thức hợp tác quốc tế, cũng chính là sự thực hiện quyền tự chủ quốc gia

Ảnh hưởng WTO đến quyền tự chủ quốc gia thành viên trong xây dựng và thực thipháp luật về thương mại quốc tế

và thực thipháp luật về thương mại quốc tế 13

4.1 Ảnh hưởng WTO đến quyền tự chủ quốc gia trong xây dựng pháp luật về thương mại quốc tế giai đoạn đàm phán gia nhập WTO 4.1.1 Các giai đoạn đàm phán Đàm phán gia nhập WTO bao gồm 4 giai đoạn 14 :

Giai đoạn làm rõ chính sách: kèm theo đơn xin gia nhập, nước xin gia nhập phải đệ trình bảng mô tả hiện trạng chính sách thương mại Một Ban công tác sẽ được thành lập, bao gồm các thành viên quan tâm đàm phán với nước xin gia nhập Nước xin gia nhập có nghĩa vụ trả lời bằng văn bản các câu hỏi của các thành viên Ban công tác để làm rõ chính sách kinh tế - thương mại Các câu hỏi và trả lời này sẽ là dữ liệu để Ban thư ký tổng hợp xây dựng Báo cáo của Ban công tác sau này

Giai đoạn đàm phán: Đàm phán thực chất chỉ bắt đầu sau khi đã có bước tiến đáng kể trong việc làm rõ chính sách, bao gồm đàm phán đa phương và đàm

14 Tờ Trình Số 150/TTr-CP, “Về kết quả đàm phán gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới và phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập tổ chức Thương mại Thế giới, Hà Nội, ngày

15 tháng 11 năm 2006 phán song phương Đàm phán đa phương là đàm phán với cả Ban công tác về việc tuân thủ các hiệp định đa phương của WTO, theo đó, nước xin gia nhập phải đưa ra các cam kết về việc thực thi các hiệp định, lộ trình điều chỉnh pháp luật và hình thành các cơ chế, định chế cần thiết cho việc thực thi cam kết Đàm phán song phương là đàm phán về mở cửa thị trường hàng hoá và dịch vụ với từng thành viên quan tâm, nhằm giải quyết các quyền lợi thương mại riêng Khi kết thúc đàm phán song phương, các thoả thuận riêng sẽ được tổng hợp lại theo nguyên tắc “chỉ lấy cam kết tốt nhất” và mọi thành viên WTO đều được hưởng các cam kết “tốt nhất” này theo nguyên tắc MFN

Giai đoạn hoàn tất văn kiện gia nhập: Trên cơ sở kết quả đàm phán đa phương và song phương, Ban công tác sẽ tổng hợp và hoàn tất bộ văn kiện gia nhập, bao gồm các tài liệu chính (i) Báo cáo của Ban công tác; (ii) Biểu cam kết về mở cửa thị trường hàng hoá; (iii) Biểu cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ; và (iv) dự thảo Nghị định thư gia nhập Sau khi thông qua các văn kiện này, Ban công tác hoàn thành nhiệm vụ của mình

Giai đoạn phê chuẩn: bộ văn kiện gia nhập sẽ được trình lên Hội nghị Bộ trưởng hoặc Đại hội đồng thông qua Theo quy định của Hiệp định WTO, Hội nghị Bộ trưởng và Đại hội đồng sẽ thông qua văn kiện gia nhập khi có ít nhất là 2/3 số thành viên tán thành Tuy nhiên, trên thực tế, các nước chỉ có thể gia nhập khi không có bất cứ thành viên nào phản đối Sau khi bộ văn kiện được thông qua, nước xin gia nhập sẽ tiến hành thủ tục phê chuẩn trong nước Ba mươi ngày sau khi Ban Thư ký WTO nhận được thông báo của nước xin gia nhập về việc đã hoàn tất thủ tục phê chuẩn, nước đó mới chính thức trở thành thành viên của WTO

Phần lớn các thành viên của tổ chức WTO là các thành viên của GATT đã ký hiệp định cuối cùng của vòng Uruguay và cam kết thương lượng về sự xâm nhập của các hàng hóa dịch vụ vào thị trường của mình theo quyết định của cuộc họp tại Marrakesh năm 1994 Một số nước gia nhập GATT vào cuối năm 1994 còng ký hiệp định cuối cùng, cam kết thương lượng về những chương trình tự do hóa hàng hóa và dịch vụ đã trở thành thành viên WTO Các nước khác cũng tham gia các cuộc thương lượng tại Vòng đàm phán Uruguay, cam kết chỉ trong năm

1995 sẽ thực hiện các thủ tục phê chuẩn trong nước và đã trở thành thành viên sau đó Ngoài các thỏa thuận liên quan đến các thành viên ban đầu của tổ chức WTO, bất cứ quốc gia hay tổ chức liên minh thuế quan nào có tư cách hoàn toàn độc lập trong các chính sách thương mại đều có thể gia nhập tổ chức WTO với điều kiện là được các thành viên WTO nhất trí

Tuy nhiên, cần chú ý rằng phương thức “gia nhập bằng đàm phán” đặt nước xin gia nhập vào thế bất lợi bởi vì 15 : Đàm phán gia nhập là đàm phán một chiều.Mọi thành viên đều có quyền đòi hỏi trong khi nước xin gia nhập không có quyền đó, chỉ hoặc là chấp nhận, hoặc là kiên trì thuyết phục các thành viên giảm bớt yêu cầu.Kiểu đàm phán này dẫn đến 2 hệ quả.Một là, quá trình đàm phán thường bị kéo dài.Hai là, nước xin gia nhập nhiều khi phải chấp nhận những yêu cầu vượt ra ngoài chuẩn mực của WTO, thường được gọi là yêu cầu (hoặc cam kết) WTO cộng Tổng hoà các cam kết WTO cộng đã tạo ra một kiểu phân biệt đối xử ngay trong lòng WTO mà nhiều người gọi là “hệ thống tiêu chuẩn kép” Đàm phán một chiều còn làm nảy sinh xu thế ép nước gia nhập sau phải cam kết ít nhất là bằng, trong nhiều trường hợp là sâu và rộng hơn nước gia nhập trước.Tiêu chuẩn gia nhập, vì vậy, được nâng dần

15 Tờ Trình Số 150/TTr-CP, “Về kết quả đàm phán gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới và phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập tổ chức Thương mại Thế giới, tlđd

Trong một số trường hợp, đàm phán có thể bị ảnh hưởng bởi các toan tính chính trị hoặc phi thương mại khác khiến nước xin gia nhập rất khó định hướng hoặc xử lý Đàm phán gia nhập và các hệ quả của nó, như đã trình bày trên, là một thực tế mà mọi nước xin gia nhập đều phải chấp nhận, kể cả những quốc gia được coi là chậm phát triển, lẽ ra phải được hưởng sự đối xử đặc biệt và khác biệt theo quy định của WTO

4.1.2 Những ảnh hưởng trong quá trình đàm phán Để bắt đầu quá trình đàm phán, các quốc gia buộc phải xây dựng lịch trình hội nhập tích cực để có thể tham gia vào WTO.Lịch trình mà các quốc gia đưa ra không những phải căn cứ vào điều kiện thực tế của quốc gia, quan điểm chính sách và định hướng của quốc gia mình mà phải căn cứ vào khả năng thực hiện các cam kết, những thỏa thuận đạt được trong việc thực hiện các cam kết với các thành viên khác và những điều kiện cụ thể áp dụng cho từng loại thành viên Cụ thể, để trở thành thành viên của WTO, bên cạnh những quy định về giảm thuế quan, các nước thành viên không được phép sử dụng các hạn chế về số lượng, trừ một số trường hợp được quy định chặt chẽ Việc sử dụng các hàng rào phi thuế quan khác cũng phải dỡ bỏ, nới lỏng và việc áp dụng phải tuân thủ các quy định của tổ chức WTO.Theo những quy định này, những biện pháp bảo hộ trước đây như cấp giấy phép nhập khẩu, trợ cấp rất khó áp dụng.Đối với các nước chưa phải là thành viên và đang trong quá trình gia nhập thì các yêu cầu cắt giảm thuế quan và phi thuế sẽ được xem xét với từng trường hợp cụ thể và được thỏa thuận trong quá trình đàm phán.Nhìn chung, các cam kết sẽ dựa trên điều kiện kinh tế của nước xin gia nhập và các quy định của tổ chức WTO Để gia nhập tổ chức WTO, các nước muốn xin gia nhập vừa phải đàm phán với tổ chức WTO (đàm phán đa phương), vừa phải đàm phán song phương với một số thành viên chủ chốt của tổ chức này, thường là những nước lớn, có quan tâm đến việc các nước muốn xin gia nhập mở cửa thị trường Đàm phán gia nhập tổ chức WTO thường kéo dài nhiều năm Việc kết thúc đàm phán sớm hay muộn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, trong đó, điều quan trọng là phải tính toán các cam kết sao cho phù hợp với khả năng phát triển của đất nước phù hợp với quy định của tổ chức WTO có tính đến các cam kết của các nước mới gia nhập tổ chức WTO; khả năng đàm phán và kết quả đàm phán sẽ là tổng hợp của các yếu tố đó lại Ví dụ như để gia nhập tổ chức WTO, Trung Quốc đã phải trải qua 15 năm đàm phán, trong khi đó, các nước như Gruzia chỉ mất có 4 năm Tuy nhiên, Gruzia đã đưa ra những cam kết tương đối cao, chấp nhận mở cửa ở hầu hết các lĩnh vực, còn Trung Quốc tuy có những nhân nhượng mở cửa rất lớn song vẫn đưa ra được lộ trình tương đối dài hạn và dành được một số điều kiện phù hợp với trình độ phát triển của mình

Bên cạnh đó, trong điều chỉnh pháp luật thương mại của quốc gia Điều chỉnh pháp luật là một nghĩa vụ mà tất cả các quốc gia thành viên phải thực hiện nhằm tạo ra sự hòa hợp giữa pháp luật trong nước với hệ thống những luật lệ, quy định của WTO Các thiết chế kinh tế đều yêu cầu các quốc gia thành viên phải có những điều chỉnh thích hợp các quy định, luật lệ quốc gia cho phù hợp, tiến hành những cải cách, đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế, đổi mới cách thức quản lý và điều hành nền kinh tế Điều đó tác động trực tiếp đến việc thực hiện chức năng quản lý kinh tế của mỗi nhà nước vốn thể hiện khá rõ nét quyền tự chủ quốc gia trong lĩnh vực kinh tế WTO có yêu cầu các quốc gia thành viên phải là những quốc gia có nền kinh tế thị trường và bắt buộc phải tiến hành những cải cách về kinh tế để chứng minh là một nền kinh tế thị trường Trong quá trình đàm phán gia nhập tổ chức Thương mại thế giới, các quốc gia đang phát triển hoặc có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, Trung Quốc phải trả lời hàng ngàn câu hỏi liên quan đến cơ chế kinh tế, hệ thống pháp lý và những đảm bảo cho việc tuân thủ các luật lệ và quy định của WTO, đồng thời các thành viên mới phải chứng minh việc đã tiến hành những thay đổi cần thiết về hệ thống pháp luật và chính sách thương mại phù hợp với những chuẩn mực của WTO Từ đó, nghĩa vụ của các quốc gia là phải hoàn thiện hệ thống pháp luật, sửa đổi, bổ sung pháp luật, chú trọng đến những lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của các thiết chế mà điển hình là lĩnh vực thương mại

Các quốc gia tham gia vào WTO có nghĩa vụ từng bước mở cửa thị trường cho sự lưu thông hàng hóa, dịch vụ và đầu tư ở những lĩnh vực tương đối nhạy cảm hoặc những lĩnh vực vốn trước đây hoàn toàn thuộc chủ quyền quốc gia như mua sắm công, nông nghiệp Ví dụ, nông nghiệp là một lĩnh vực đã được chính phủ trợ cấp và bảo hộ ở mức cao độ thì những thay đổi đối với chính sách nông nghiệp do tác động của các chính sách kinh tế mà các thiết chế kinh tế đặt ra là một vấn đề hết sức đáng quan tâm, đặc biệt với chính sách về nông nghiệp trong khuôn khổ WTO

CÁC TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU: ẢNH HƯỞNG CỦA WTO ĐẾN QUYỀN TỰ CHỦ QUỐC GIA THÀNH VIÊN TRONG VIỆC XÂY DỰNG VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Ngày đăng: 07/05/2021, 22:14

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w