Ở đây, chúng tôi chỉ xin nêu vắn tắt một số nét khái quát về tình hình nghiên cứu: + Ở nước ngoài: Nga là nước có thế mạnh về thi pháp học, trước đây có nhiều công trình nghiên cứu về
Trang 1BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KH&CN
sơ
(Do CQ quản lý ghi)
Tham gia thực hiện
TT Học hàm, học vị,
Họ và tên
Chịu trách nhiệm Điện thoại Email
3 ThS Lê Ngọc Phương Tham gia 090364258
5
ngocphuongtm@ yahoo.com
Trang 2MỤC LỤC
TÓM TẮT 1
NỘI DUNG CHÍNH: 1
DẪN NHẬP 3
Chương 1: THI PHÁP HỌC VÀ NGHIÊN CỨU VĂN HỌC 6
1.1 KHÁI NIỆM “THI PHÁP” VÀ “THI PHÁP HỌC” 6
1.2 THI PHÁP HỌC VỚI VIỆC NGHIÊN CỨU TÁC PHẨM VĂN HỌC 11
Chương 2: CẤU TRÚC VÀ LOẠI HÌNH VĂN BẢN VĂN HỌC 29
2.1 CẤU TRÚC VĂN BẢN VĂN HỌC 29
2.2 LOẠI HÌNH VĂN BẢN VĂN HỌC 48
Chương 3: THI PHÁP VĂN XUÔI HƯ CẤU 55
3.1 ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT 55
3.2 NGƯỜI TRẦN THUẬT, NHÂN VẬT VÀ ĐỘC GIẢ HÀM NGÔN 58
3.3 CÂU CHUYỆN, TRUYỆN KỂ VÀ CỐT TRUYỆN 62
3.4 KẾT CẤU 67
3.5 THỜI GIAN TRẦN THUẬT 70
3.6 NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU 73
3.7 CÁC THỂ LOẠI VĂN HƯ CẤU 75
Chương 4: THI PHÁP VĂN XUÔI PHI HƯ CẤU 81
4.1 TÁC GIẢ - NGƯỜI TRẦN THUẬT – NGƯỜI CHỨNG KIẾN 81
4.2 TÍNH XÁC THỰC CỦA TƯ LIỆU 82
4.3 NHỮNG SUY NIỆM VÀ TRẦM TƯ 84
4.4 THÁI ĐỘ CỦA ĐỘC GIẢ 85
4.5 NHỮNG THỂ LOẠI PHI HƯ CẤU 86
Chương 5: THI PHÁP THƠ TRỮ TÌNH 102
5.1 CẢM XÚC VÀ TỨ THƠ 102
5.2 TÍNH ĐỘC THOẠI 104
5.3 DIỄN NGÔN CẤU TRÚC 105
5.4 NHỊP ĐIỆU 108
5.5 CÁC THỂ THƠ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM 113
Chương 6: THI PHÁP KỊCH BẢN VĂN HỌC 122
6.1 KỊCH BẢN VÀ SÂN KHẤU 122
6.2 XUNG ĐỘT VÀ CỐT TRUYỆN 124
6.3 HÀNH ĐỘNG VÀ NHÂN VẬT 128
6.4 ĐỘC THOẠI VÀ ĐỐI THOẠI 130
Trang 36.5 KỊCH, BI KỊCH VÀ HÀI KỊCH 133
Chương 7: SỰ GIAO THOA THỂ LOẠI 138
7.1 SỰ GIAO THOA GIỮA VĂN HỌC THUẦN TÚY VÀ VĂN HỌC ỨNG DỤNG 138
7.2 SỰ GIAO THOA GIỮA VĂN TỰ SỰ, THƠ TRỮ TÌNH VÀ KỊCH BẢN 142
7.3 SỰ GIAO THOA GIỮA VĂN HƯ CẤU VÀ VĂN PHI HƯ CẤU 144
KẾT LUẬN 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
Trang 4ngoài trong những thập niên gần đây
- Về mặt thực tiễn: Đề tài cố gắng góp phần tác động nhất định vào sự đổi mới
việc nghiên cứu, sáng tác và phê bình văn học trong giai đoạn hiện nay Trong phạm vi nhà trường, đề tài thể hiện nỗ lực cải tiến nội dung và phương pháp giảng dạy tác phẩm và loại thể văn học ở bậc đại học và cao đẳng
NỘI DUNG CHÍNH:
Sử dụng phương pháp hệ thống, đề tài này nhìn nhận và giải quyết những
vấn đề thi pháp học như một hệ thống nhất quán, được liên kết chặt chẽ về khái niệm cũng như luận điểm Đồng thời, những vấn đề thi pháp tác phẩm và loại thể văn học được soi chiếu dưới ánh sáng của kinh nghiệm văn học, thực tiễn sáng tác và nghiên cứu, phê bình Người thực hiện đề tài có ý thức tránh cách nghiên cứu tư biện, thuần tuý lý thuyết, xa rời thực tiễn văn học dân tộc
Công trình đã giải quyết những vấn đề sau đây: thi pháp học và nghiên cứu
văn học; cấu trúc và lọai hình văn bản văn học; thi pháp văn hư cấu; thi pháp văn phi hư cấu; thi pháp thơ trữ tình; thi pháp kịch bản văn học; sự giao thoa thể loại
Trang 5ABSTRACT
PROJECT TITLE: POETICS AND THE STUDIES OF LITERARY WORK
AND LITERARY GENRES
PROJECT AIMS:
1 In theoretical aspect, our project is an attempt to research and expound the structure of the literary works and the features of the literary genres by applying the methodology of poetics While inheriting the literary concepts of classical theories of literature, we try to express the innovatory spirit, learning selectively from the achievements of western literary theories in recent decades
2 In practical aspect, our project is an attempt to have some impacts to the innovation of the literary writing and literary criticism in present day It also
an exertion of improving the methodology of teaching literary works and literary genres in universities and colleges
PROJECT CONTENTS:
Applying the systematic method, this project conceives and resolves the issues of poetics as components of a consistent system, which are interwoven and united with each other in concepts and theoretical points At the same time, the studies on poetics of literary works and literary genres are based on the practical experiences of literary writing and literary criticism
This project resolves following issues: Poetics and the literary studies; Structure and types of literary text; Poetics of fiction genres; Poetics of non-fiction genres; Poetics of lyric poetry; Poetics of drama; Interaction of literary genres
Trang 6BÁO CÁO TÓM TẮT (mẫu R05)
DẪN NHẬP
0.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việc nâng cao chất lượng nghiên cứu những vấn đề về thi pháp tác phẩm và thể loại văn học là một nhu cầu bức thiết đã được nhiều nhà khoa học ở nước ta nêu lên trong những năm gần đây Nhiều tư liệu và dẫn chứng khoa học cần được cập nhật Thi pháp học cần góp phần tăng thêm sức sống cho sáng tác, nghiên cứu và phê bình văn học Trong nhà trường đại học và cao đẳng, nội dung giảng dạy những vấn đề thi pháp tác phẩm và loại thể văn học cần tăng thêm sự thu hút đối với sinh viên Khoảng cách giữa đại học Việt Nam và đại học thế giới trong lĩnh vực này cần được thu hẹp
Trong tình hình đó, đầu tư tâm huyết, thời gian và sức lực cho việc nghiên cứu những vấn đề thi pháp học nói chung, thi pháp tác phẩm và loại thể văn học nói riêng,
là một yêu cầu cấp thiết đặt ra cho nhà trường đại học
0.2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Thi pháp học và những vấn đề thi pháp tác phẩm và thể loại văn học là lĩnh vực lý luận văn học có một lịch sử nghiên cứu rất lâu dài Ở đây, chúng tôi chỉ xin nêu vắn tắt một số nét khái quát về tình hình nghiên cứu:
+ Ở nước ngoài: Nga là nước có thế mạnh về thi pháp học, trước đây có nhiều
công trình nghiên cứu về những vấn đề cấu trúc tác phẩm và loại thể văn học đã xuất bản như các công trình của các nhà hình thức luận đầu thế kỷ 20 (V Shklovski, B Eikhenbaum, V Tynianov, R Jakobson ) của nhóm Bakhtin, Medvedev, Voloshinov, của các giáo sư ở trường MGU (G Pospelov, P Nicolaev, P Rudneva ), các học giả ở Viện IMLI (N Ghei, G Belaja, S Botcharov ) Đầu thế kỷ này, các nhà khoa học Nga
đã nghiên cứu lại những vấn đề này và cho ra mắt các công trình mới của Yu Borev (chủ biên), V Khalizev
Trung Quốc cũng là nước có nhiều đổi mới trong việc nghiên cứu những vấn đề thi pháp tác phẩm và loại thể văn học qua các công trình xuất bản gần đây của Lý Trạch Hậu, Đồng Khánh Bính, Đồng Học Văn và Trương Vĩnh Cương
Trang 7Trong khi đó, ở các nước phương Tây, một số lượng rất lớn các công trình nghiên cứu về những vấn đề thi pháp tác phẩm và loại thể văn học mà chúng ta chưa có điều kiện tiếp cận Trong đó có những công trình thực sự có giá trị của Tzvetan Todorov, R Barthes, G Dessons, K Hamburger, G Genette, J-M Schaeffer, D Fontaine Trong giai đoạn mở cửa và hội nhập quốc tế hiện nay, trên quan điểm và phương pháp luận mác-xít, chúng ta có thể tiếp thu có chọn lọc các thành tựu trong những công trình này để nâng cao chất lượng nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm và loại thể văn học ở nước ta
+ Ở trong nước: Từ đầu những năm 60 thế kỷ trước đến nay đã có hơn 10 công trình nghiên cứu về tác phẩm và loại thể văn học đã công bố của Phương Lựu (chủ biên), Hà Minh Đức (chủ biên), Trần Đình Sử (chủ biên), Nguyễn Văn Hạnh, Lê Ngọc Trà, Phùng Quý Nhâm, Nguyễn Thái Hòa, Lê Tiến Dũng, Phùng Minh Hiến Những công trình đó đã có đóng góp to lớn vào sự nghiệp nghiên cứu, giảng dạy tác phẩm và loại thể văn học và có tác động tích cực vào đời sống văn học nói chung Tuy nhiên, thi pháp học nói chung, thi pháp tác phẩm và loại thể nói riêng, l lĩnh vực còn có nhiều phương diện có thể khai thác và khám phá
+ Các nghiên cứu, triển khai trong nước đang thực hiện: Trước yêu cầu đổi mới nghiên cứu và giảng dạy, một số giáo sư và nhà khoa học ở Viện Văn học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội đang triển khai đề tài nghiên cứu về những vấn đề thi pháp học, nhằm bổ sung những thông tin và kiến giải mới về vấn đề này Công trình này do Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học quốc gia
TP Hồ Chí Minh chủ trì nằm trong nỗ lực chung đó
0.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Về mặt lý thuyết: Vận dụng thi pháp học vào việc nghiên cứu và lý giải những vấn đề về cấu trúc tác phẩm văn học và đặc trưng các thể loại văn học Đề tài coi trọng việc kế thừa các ý kiến, luận điểm về thi pháp học trong di sản lý luận văn học cổ điển Đồng thời, đề tài cũng thể hiện tinh thần đổi mới trong nghiên cứu lý luận văn học, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu nghiên cứu thi pháp học ở nước ngoài trong những thập niên gần đây
- Về mặt thực tiễn: Đề tài cố gắng góp phần tác động nhất định vào sự đổi mới việc nghiên cứu, sáng tác và phê bình văn học trong giai đoạn hiện nay Trong phạm vi nhà trường, đề tài thể hiện nỗ lực cải tiến nội dung và phương pháp giảng dạy tác phẩm
và loại thể văn học ở bậc đại học và cao đẳng
Trang 80.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài này chủ yếu sử dụng phương pháp hệ thống, nhìn nhận và giải quyết
những vấn đề cấu trúc tác phẩm và thể loại văn học như một hệ thống nhất quán, được liên kết chặt chẽ về khái niệm cũng như về luận điểm Phương pháp hệ thống bảo đảm tính lô-gích và mối liên hệ nội tại giữa những vấn đề được trình bày
Đồng thời, đề tài sử dụng phương pháp loại hình để tìm ra tính cộng đồng của những hiện tượng văn học, từ đó khái quát thành những đặc điểm của các loại hình và thể loại văn học nhất định
0.5 CẤU TRÚC CÔNG TRÌNH
Công trình gồm có phần Dẫn nhập, Kết luận và bảy chương:
- Chương 1: Thi pháp học và nghiên cứu văn học
- Chương 2: Cấu trúc và loại hình văn bản văn học
- Chương 3: Thi pháp văn xuôi hư cấu
- Chương 4: Thi pháp văn xuôi phi hư cấu
- Chương 5: Thi pháp thơ trữ tình
- Chương 6: Thi pháp kịch bản văn học
- Chương 7: Sự giao thoa thể loại
Trang 9C HƯƠNG 1: THI PHÁP HỌC VÀ NGHIÊN CỨU VĂN HỌC
Những vấn đề nguyên lý của văn học đặt ra ngay từ phần nhập môn lý luận văn học được giải quyết trên cơ sở đúc kết thực tiễn phong phú, sinh động của chính văn học Ngược lại, thực tiễn văn học đang vận động cũng góp phần soi sáng, kiểm nghiệm, bổ sung và điều chỉnh những luận điểm lý thuyết
Vị trí trung tâm trong đời sống văn học thuộc về tác phẩm Tác phẩm là thành quả lao động trực tiếp của nhà văn, là đơn vị tạo thành các thực thể văn học: khuynh hướng, trào lưu, trường phái, thể loại… Vì vậy, nếu không căn cứ vào chính đơn vị cơ bản này của văn học, sẽ không có cơ sở để bàn về những thực thể vĩ mô của văn học
Bản thân tác phẩm văn học lại thuộc nhiều hình thức khác nhau, đa dạng khôn lường Lý luận văn học đã khái quát thành những loại hình và thể loại nhằm cho thấy đặc điểm cấu trúc của nó Thi pháp học, với sự phát triển hơn 20 thế kỷ nay, có thể giúp chúng ta soi sáng đặc trưng nội tại của tác phẩm văn học cũng như những đặc điểm nghệ thuật của từng thể loại văn học
1.1 KHÁI NIỆM “THI PHÁP” VÀ “THI PHÁP HỌC”
1.1.1 Khái niệm “thi pháp”
Khái niệm “thi pháp” (Poétique trong tiếng Pháp, Poetics trong tiếng Anh) trong các ngôn ngữ châu Âu bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp Poiétiké téchnè, có nghĩa
là “nghệ thuật/ kỹ thuật thơ ca” Theo nghĩa này, “thi pháp” có thể được nhìn nhận từ góc độ tiên nghiệm hay góc độ hậu nghiệm:
- Từ góc độ tiên nghiệm, thi pháp là một hệ thống quy tắc nghệ thuật mà theo
đó, một tác phẩm văn học được xây dựng Như vậy, tác phẩm văn học là biểu
hiện của một cấu trúc nghệ thuật có sẵn Chắng hạn, trong công trình Nghệ thuật thi ca, Boileau đã trình bày các quy tắc nghệ thuật của chủ nghĩa cổ điển, tiêu
biểu là quy tắc tam duy nhất: trong một vở kịch phải có sự thống nhất về thời gian, địa điểm và hành động Các nhà viết kịch của chủ nghĩa cổ điển như Racine, Corneille, Molière đã tuân theo quy tắc đó, ở những mức độ khác nhau, khi xây dựng những vở kịch của mình
Trang 10Một thí dụ khác, thi pháp của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa đòi hỏi nhà văn phải thể hiện cuộc sống một cách chân thực, cụ thể “trong sự phát triển cách mạng của nó” Tuân theo quy tắc này, nhiều nhà văn hiện thực xã hội chủ nghĩa đã xây dựng tác phẩm hướng theo viễn cảnh lịch sử, kết thúc có hậu, nếu có yếu tố bi kịch cũng là “bi kịch lạc quan”, như tên một tác phẩm của V Vitnevski
- Từ góc độ hậu nghiệm, thi pháp là hệ thống nghệ thuật được đúc kết và rút
ra từ một hiện tượng văn học nhất định Đó có thể là một thời đại, một thời kỳ văn học, một giai đoạn văn học, một trào lưu văn học, toàn bộ sáng tác của một nhà văn, một thể loại hay một tác phẩm văn học cụ thể Người ta có thể nói đến thi pháp thời đại Phục hưng, thi pháp chủ nghĩa lãng mạn, thi pháp L Tolstoi, thi
pháp truyện ngắn, thi pháp tác phẩm Tội ác và hình phạt Hệ thống nghệ thuật
này không phải luôn luôn được nhà văn hay trào lưu đó nhận thức một cách tự giác, nhưng nó hiện hữu một cách khách quan trong thực tế sáng tác và do đó, có thể nghiên cứu một cách khoa học Chẳng hạn, Nguyễn Du có thể không hoàn
toàn ý thức về hệ thống nghệ thuật với những thủ pháp trong Truyện Kiều, nhưng
hệ thống đó hiện hữu một cách khách quan trong văn bản tác phẩm, và do vậy nhà nghiên cứu có cơ sở để trình bày và phân tích hệ thống nghệ thuật đó Như vậy, thi pháp văn học là một khách thể của sự nhận thức
1.1.2 Khái niệm “thi pháp học”
Thuật ngữ “Poétique” trong tiếng Pháp, “Poetics” trong tiếng Anh, khi chuyển sang tiếng Việt, tuỳ nội hàm và ngữ cảnh, có thể dịch là “thi pháp” hay
“thi pháp học” Thi pháp học là khoa học nghiên cứu về các hiện tượng thi pháp, tương tự như vật lý học với vật lý, sinh vật học với sinh vật, xã hội học với xã hội Một số nhà nghiên cứu đề nghị thay thuật ngữ “thi pháp học” bằng “thi học”, như được sử dụng trong các văn bản cổ điển phương Đông Tuy nhiên, ngày nay
ở nước ta, thi pháp học là một khái niệm phổ biến, đã được sử dụng rộng rãi trong
và ngoài nhà trường
Theo V Vinogradov, nhà nghiên cứu thuộc trường phái Hình thức Nga, thi pháp học là khoa học về “các hình thức, các phương tiện và phương thức tổ chức
Trang 11của các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, về các kiểu cấu trúc và các thể loại tác phẩm văn học”1 Nhà lý luận văn học người Pháp Gérard Genette định nghĩa súc tích hơn: “Thi pháp học là lý thuyết tổng quát về các hình thức và thủ pháp của văn học”
Với tư cách là một khoa học, thi pháp học có thể gắn liền với lý thuyết văn học (thi pháp học lý thuyết) hay lịch sử văn học (thi pháp học lịch sử) Thi pháp học lý thuyết nghiên cứu thi pháp trên bình diện lý thuyết, dưới nhiều góc độ khác nhau: thi pháp học hình thức của V Shklovski, B Eikhenbaum, Yu Tynianov, R Jakobson…; thi pháp học xã hội của M Bakhtin; thi pháp học ký hiệu của J Mukarovski, Yu Lotman; thi pháp học cấu trúc của R Barthes, J Culler…
Còn thi pháp học lịch sử nghiên cứu sự vận động của các hiện tượng thi pháp trong những bối cảnh lịch sử khác nhau Về mặt này, đã xuất hiện những
công trình nổi tiếng như Thi pháp học lịch sử của A Veselovski, Thi pháp học lịch sử của truyện ngắn của E Meletinski… Những công trình ấy cho thấy “thi
pháp học lịch sử nghiên cứu sự tiến hoá của các phương thức và phương tiện lĩnh hội đời sống bằng hình tượng, nghiên cứu chức năng xã hội – thẩm mỹ của các phương thức và phương tiện ấy, nghiên cứu số phận của các phát hiện nghệ thuật”2, như M Khrapchenko đã nói
Trong các công trình nghiên cứu về thi pháp học, hai phương diện lý thuyết và lịch sử không tách rời, biệt lập mà có mối liên quan chặt chẽ, mật thiết với nhau Thi pháp học lý thuyết bao giờ cũng dựa trên thi pháp học lịch sử để đề xuất những luận điểm của mình Ngược lại, thi pháp học lịch sử luôn giả định và xuất phát từ những tiền đề lý thuyết để định hướng cho việc khảo sát những tìm tòi thi pháp trong lịch sử Hiếm có công trình nghiên cứu thi pháp học nào là thuần túy lý thuyết hay thuần túy lịch sử
1 Dẫn lại theo M B Khrapchenko: Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực, con người, Tập II
(Bản dịch của Nguyễn Hải Hà, Lại Nguyên Ân, Duy Lập), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985, tr 240
2
M B Khrapchenko: Sđd, tr 253
Trang 12Tác phẩm Nghệ thuật thơ ca, còn được dịch là Thi pháp học, của Aristote ở
thế kỷ thứ IV trước Công nguyên có thể được xem là công trình thi pháp học hoàn chỉnh đầu tiên của nhân loại, có sự kết hợp chặt chẽ giữa khái niệm “thi pháp” và “thi pháp học” Công trình này vừa trình bày hệ thống các chuẩn mực
và quy tắc sáng tác, lý thuyết về diễn ngôn và về các thể loại văn học (thi pháp theo nghĩa tiên nghiệm), vừa nghiên cứu hệ thống nghệ thuật của văn học cổ Hy Lạp (thi pháp theo nghĩa hậu nghiệm), vừa là một trong những công trình lý thuyết nổi tiếng đầu tiên về đặc trưng nghệ thuật của văn học (thi pháp học) Đồng thời công trình của Aristote cũng có sự kết hợp giữa thi pháp học lý thuyết
Gần 40 năm sau, trong diễn từ tổng kết hội nghị khoa học về vấn đề phong
cách ở Indiana (1960), dưới nhan đề Ngôn ngữ học và thi pháp học, R Jakobson
khẳng định: “Thi pháp học là một bộ phận của ngôn ngữ học nghiên cứu chức năng thi ca trong mối quan hệ với các chức năng khác của ngôn ngữ”2 Để hiểu luận điểm này, cần nhớ lại sơ đồ ngôn ngữ học của Jakobson với sáu yếu tố có mối quan hệ phối thuộc với nhau: bối cảnh, người gửi, thông điệp, người nhận, tiếp xúc và mã, trong đó thông điệp là yếu tố trung tâm Tương ứng với sáu yếu
tố đó là sáu chức năng: quy chiếu, biểu hiện, thi ca, tác động, kiểm thông và siêu
1 R Jakobson: La Nouvelle poésie russe Trong Questions de poétique, Editions du
Seuil, Paris, 1973, t 15
2 R Jakobson: Ngôn ngữ và thi ca Cao Xuân Hạo dịch từ bản tiếng Pháp Linguistique
et Poétique trong Essais de linguistique générale, Editions de Minuit, Paris, 1963
Trang 13ngôn ngữ Trong nghệ thuật ngôn từ, nếu yếu tố thông điệp ở vị trí trung tâm, thì chức năng thi ca cũng giữ vai trò chủ đạo, chính nó biến một thông điệp bình thường trở thành một văn bản nghệ thuật1
Đặc trưng của văn học, với tư cách là nghệ thuật ngôn từ, và các hiện tượng của nó (trào lưu, thể loại, tác phẩm…) chỉ được khám phá thông qua những mối liên hệ nội tại phức tạp Chẳng hạn, về văn xuôi nghệ thuật, đặc điểm về cốt truyện và kết cấu của tác phẩm có quan hệ biện chứng với cấu trúc hình tượng, giọng điệu và phong cách của nó Trong thơ trữ tình, đặc điểm thể loại cũng liên quan chặt chẽ với cấu trúc câu thơ và nhịp điệu của tác phẩm
Thi pháp học trả lời nhiều câu hỏi chi tiết đặt ra cho văn học; những luận điểm khái quát của nó có thể giúp cho nhà phê bình tiếp cận và cảm nhận sâu sắc hơn tác phẩm nghệ thuật, thế giới sáng tạo của nhà văn và văn học nói chung Tuy nhiên, giữa thi pháp học và phê bình văn học cũng có ranh giới nhất định Phê bình văn học thiên về giải thích, đánh giá những hiện tượng văn học độc đáo, đơn nhất, thường là văn học đương đại hay có liên quan đến những vấn đề đương đại Còn thi pháp học thiên về phân tích, miêu tả những yếu tố hình thức của tác phẩm, dựa trên những công cụ của ngôn ngữ học Thi pháp học là một bổ sung cần thiết cho phê bình văn học, giúp phê bình văn học có những cứ liệu và luận chứng khoa học cho sự đánh giá của mình
Thông thường, để nghe và cảm thụ cái hay của âm nhạc, công chúng không nhất thiết phải biết nhạc lý Nhưng nếu hiểu biết nhạc lý, chắc chắn người ta sẽ cảm thụ âm nhạc một cách đầy đủ và toàn vẹn hơn, sự tiếp nhận sẽ tinh nhạy hơn nhờ lĩnh hội được những sắc thái quan trọng và những điểm tinh tế của nghệ thuật
âm nhạc
Cũng vậy, nếu nắm vững được những quy tắc thể loại, phong cách, kết cấu,
hệ thống hình tượng, âm luật, nhịp điệu, thì độc giả văn học sẽ cảm nhận được đầy đủ hơn sự phong phú của tác phẩm văn học và từ đó rút ra năng lượng cảm
1 Xem Huỳnh Như Phương : Lý luận văn học (Nhập môn) , NXB Đại học quốc gia TP
Hồ Chí Minh, 2010, tr 130-131
Trang 14xúc tinh thần nhiều hơn Theo V Zhirmunski, “thi pháp học là khoa học nghiên cứu văn học với tư cách là một nghệ thuật”, vì vậy nó “dựa trên những ấn tượng nghệ thuật trực tiếp và khám phá ra những thủ pháp tạo nên ấn tượng ấy” Thi pháp học cung cấp cho ta khả năng kiểm tra một cách khách quan những cảm nhận trực tiếp của mình trong khi đọc, giúp hình thành cảm xúc và tư tưởng của mình trên cơ sở văn bản của tác phẩm nói riêng, hệ thống nghệ thuật của các hiện tượng văn học (thời đại, trào lưu, thể loại, tác gia…) nói chung Có thể nói, thi pháp học là “nhạc lý” của nghệ thuật ngôn từ Hay nói theo M Bakhtin, thi pháp học là mỹ học về nghệ thuật văn chương
Thi pháp học còn đem lại chìa khoá giúp chúng ta hiểu đúng tác phẩm, giải thích, phê bình và đánh giá tác phẩm một cách trung thực Trong một bức thư gửi Bestujev, Pushkin nhắc rằng cần phải đánh giá một nhà văn theo những quy tắc phù hợp với chính nhà văn ấy Nhưng làm thế nào để nhận ra những quy tắc này? Ngay chính nhà văn không phải lúc nào cũng có thể quan niệm chúng một cách chính xác Quy luật đó là quy luật nội tại chứa đựng trong cấu trúc tác phẩm Trong những cách khảo sát và giải thích ý nghĩa của tác phẩm, thì cách gần với chân lý nhất là cách dựa trên thi pháp văn bản tác phẩm một cách toàn vẹn và sâu sắc nhất
1.2 THI PHÁP HỌC VỚI VIỆC NGHIÊN CỨU TÁC PHẨM VĂN HỌC
Từ những cách tiếp cận xã hội học, văn hoá học, tâm lý học… đi đến cách tiếp cận thi pháp học chính là đi từ sự nghiên cứu ngoại tại đến sự khám phá nội tại đối với văn học Ở đây tác phẩm trở thành đối tượng trực tiếp thu hút sự chú ý của người nghiên cứu Quan niệm về tác phẩm không chỉ chi phối công việc sáng tác mà còn chi phối sự cảm thụ, phân tích, khảo sát và giảng dạy văn học Vì vậy, những ý kiến bàn luận về bản chất, cấu trúc và thuộc tính của tác phẩm văn học bao giờ cũng nằm ở trung tâm những cuộc tranh luận về văn học nói chung
1.2.1 Văn bản và tác phẩm
Theo lý luận văn học truyền thống, văn bản chính là hình thức tồn tại của tác phẩm văn học viết Khác với tác phẩm văn học dân gian được lưu hành dưới hình thức truyền miệng là chủ yếu, tác phẩm văn học viết gắn liền với hình thức chữ
Trang 15viết, chữ in hay chữ điện tử trên màn hình chiếu sáng Cũng chính nhờ kỹ thuật
ấn hành được cải tiến và phát triển, từ cách in mộc bản đến in chữ kim loại do Gutenberg phát minh, rồi in offset và nay là in theo kỹ thuật vi tính, mà lịch sử văn học dần dần khắc phục tình trạng “tam sao thất bản” và văn học ngày càng mang tính phổ cập
Tuy nhiên, việc đồng nhất tác phẩm văn học với văn bản của nó đã gây ra những ngộ nhận và bị đặt thành nghi vấn Sở dĩ như vậy là vì, do chất liệu tạo tác nên tác phẩm văn học là ngôn ngữ, nên sự hiện hữu của nó không giống với sự hiện hữu của tác phẩm hội hoạ hay tác phẩm điêu khắc Nhìn bức tranh của Nguyễn Gia Trí hay Bùi Xuân Phái treo trên tường một phòng triển lãm, người ta
có thể bảo đó là tác phẩm của nhà danh họa Ngắm bức tượng của Điềm Phùng Thị đặt trong công viên, người ta có thể nói đó là tác phẩm của nhà điêu khắc
Nhưng cầm một cuốn sách có nhan đề Truyện Kiều và bảo đây là tác phẩm của Nguyễn Du thì vấn đề không đơn giản Bởi đây là Truyện Kiều in bằng chữ quốc
ngữ ký âm bằng mẫu tự la-tinh, còn bản thân tác phẩm này được viết bằng chữ Nôm và ngay chữ Nôm cũng có nhiều dị bản (bản Kiều Oánh Mậu, bản Hoàng
Xuân Hãn, bản Nguyễn Tài Cẩn…) Vậy đứng về mặt sáng tạo, văn bản Truyện Kiều không phải là độc nhất
Sự khác nhau giữa tác phẩm văn học với tác phẩm hội họa và tác phẩm điêu khắc càng rõ hơn khi chúng ta giả định điều này: Nếu vì một biến cố lịch sử hay
một thiên tai nào đó mà bức tranh sơn mài Vườn xuân Trung Nam Bắc của
Nguyễn Gia Trí bị thiêu huỷ, thì tác phẩm ấy không còn tồn tại nữa Nhưng nếu
một biến cố bi thảm như vậy xảy đến làm cho tất cả văn bản Truyện Kiều, từ chữ
Nôm đến chữ quốc ngữ, bị thiêu huỷ thì kiệt tác của Nguyễn Du vẫn cứ tồn tại, vì vẫn còn những độc giả thuộc 3.254 câu thơ Kiều và lưu giữ trong trí nhớ Điều đó khiến cho một số nhà lý luận cho rằng tác phẩm văn học không chỉ hiện hữu trong văn bản mà còn trong chính tâm thức của người đọc
Vào những năm 50 thế kỷ XX, lý thuyết mỹ học tiếp nhận của trường phái Konstanz ở Đức đã phân biệt hai khái niệm “văn bản” và “tác phẩm” Theo Hans Robert Jauss, văn bản không đồng nhất với tác phẩm Văn bản là sản phẩm hình thành sau quá trình sáng tạo của nhà văn, còn tác phẩm là kết quả quá trình tiếp
Trang 16nhận của người đọc Văn bản thì tương đối ổn định và ít thay đổi; còn tác phẩm thì thường xuyên biến đổi theo không gian và thời gian, vì nó phụ thuộc vào tâm
lý, môi trường và điều kiện tiếp nhận của bạn đọc Có thể hình dung tác phẩm là
sự tổng hoà giữa văn bản cộng với một hệ số N, biểu hiện của thời gian, hoàn cảnh và chủ thể tiếp nhận Sở dĩ như vậy là vì, nói theo nhà văn và nhà mỹ học hậu hiện đại Umberto Eco, văn bản nghệ thuật luôn có tính chất mở để đón lấy những yếu tố mới của công chúng và cuộc đời đem lại Nếu người đọc có “chân trời chờ đợi” (H R Jauss) như là một hệ quy chiếu để tiếp nhận văn bản, thì văn bản cũng có một “chân trời chờ đợi” để gặp gỡ với người đọc và tác phẩm chính
là kết quả cuộc gặp gỡ giữa văn bản và người đọc
Như vậy, theo viễn tượng của lý luận văn học hậu hiện đại, văn bản không đồng nhất với tác phẩm: khi nói phân tích văn bản chính là phân tích những yếu
tố tạo nên cấu trúc của nó; còn nghiên cứu tác phẩm chính là nghiên cứu văn bản trong sự vận động và biến đổi của nó qua lăng kính của sự tiếp nhận
1.2.2 Cấu trúc và yếu tố của văn bản
Văn bản văn học được chế tác bằng chất liệu ngôn từ cũng như quyển sách được làm bằng giấy và mực in Nhà văn là người nghệ sĩ sáng tạo ra đứa con tinh thần của mình như một công trình nghệ thuật ngôn từ Công trình này có một kiểu
tổ chức nhất định để tạo thành một văn bản nghệ thuật với một cấu trúc hoàn chỉnh Văn bản này có khi là hai câu thơ lục bát với 14 âm tiết, có khi là một bộ tiểu thuyết trường thiên dài hàng ngàn trang Như người thợ xây cất ngôi nhà, nhà văn cũng sắp xếp toà kiến trúc ngôn ngữ của mình theo một trật tự, một hệ thống
mà ông cho là hợp lý nhất, có hiệu quả nghệ thuật nhất Cấu trúc ngôi nhà ngôn ngữ này không tách rời với những cấu trúc lớn hơn là hệ thống văn hoá – xã hội, thế giới tư tưởng – nghệ thuật của nhà văn mà từ đó nó thoát thai Nhưng là một sản phẩm mang tính hoàn chỉnh của sự sáng tạo, cấu trúc đó có tính độc lập tương đối, cho nên khám phá bản sắc của nó chính là khám phá cấu trúc nội tại bên trong nó
Nói đến cấu trúc là nói đến hai phương diện: những thành tố tạo nên cấu trúc và mối quan hệ giữa các thành tố, sự tác động qua lại của chúng đã tạo nên sức sống của chính cấu trúc đó Tìm hiểu cấu trúc văn bản văn học là đào sâu các
Trang 17lớp yếu tố của nó, đồng thời khám phá kiểu tổ chức đặc biệt bằng chất liệu ngôn
từ theo quy luật của sự hài hoà, khám phá những mối quan hệ hỗ tương của các yếu tố trong văn bản nghệ thuật
Ngay từ thời Cổ đại, các nhà mỹ học đã đã trực tiếp hay gián tiếp cho thấy cách hiểu tác phẩm nghệ thuật như một cấu trúc Chẳng hạn, Pythagore và Héraclite đã quan tâm đến những khái niệm về nhịp điệu, mức độ, sự hài hoà, những quan hệ số lượng giữa các bộ phận của tác phẩm nghệ thuật
Khái niệm “cấu trúc” hay “cơ cấu” từng được quan tâm và đề cập từ lâu trong những công trình toán học, lô-gích học, vật lý học, sinh học, kinh tế học và
và nhiều ngành khoa học khác Nhưng với sự xuất hiện của Ferdinand de Saussure, Claude Lévi-Strauss và trường phái cấu trúc luận vào giữa thế kỷ XX, thì khái niệm này chiếm vị trí trung tâm trong các thảo luận về nhân học, ngôn ngữ học, rồi nhanh chóng lan rộng ra các ngành khoa học xã hội và nhân văn nói chung Cấu trúc luận tìm cách làm nổi bật cấu trúc trong ngôn ngữ Theo đó, cấu trúc được hiểu như là một hệ thống với tư cách là một toàn thể hay một tập hợp khép kín gồm những yếu tố có liên quan mật thiết với nhau đến mức khi một yếu
tố thay đổi hay biến mất thì toàn bộ hệ thống sẽ thay đổi Ngôn ngữ là một hệ thống những yếu tố có tương quan với nhau, giá trị và bản sắc của những yếu tố này được xác định bởi vị trí của chúng trong hệ thống hơn là bởi lịch sử của chúng Điều này đòi hỏi ngôn ngữ học phải quan tâm đến những trạng thái ngôn ngữ bền vững, và vì vậy không còn quan tâm đến phương diện phát sinh của ngôn ngữ, nghĩa là không đi sâu nghiên cứu nó trong sự tiến hoá theo viễn cảnh lịch đại
mà như một hệ thống với những mối quan hệ đồng đại
Nếu hệ thống có thể được nghiên cứu nội tại, thì bản thân ngôn ngữ là võ đoán và có tính chất tự trị trong tương quan với hiện thực Chính vì thế việc nghiên cứu các yếu tố của cấu trúc phải được thực hiện ngay bên trong cấu trúc Văn bản văn học, hiện thân của cấu trúc, cũng được xem như một toàn thể đóng kín
Trang 18Với Giáo trình ngôn ngữ học đại cương (1916)1, Ferdinand de Saussure đã đặt nền móng cho cấu trúc luận trong ngôn ngữ học Theo ông, ngôn ngữ là một
hệ thống ký hiệu nhiều tầng được người bản ngữ chấp nhận, ghi nhớ, hiểu và sử dụng trong khi giao tiếp với cộng đồng Ngôn ngữ là một hệ thống, một thiết chế, một tập hợp những quy tắc và quy phạm liên cá nhân, trong khi lời nói bao gồm những biểu hiện có thật của hệ thống đó trong nói năng và trong viết lách Trong nghiên cứu văn học, trường phái Hình thức Nga đã sớm nhạy cảm nhận ra tính chất cấu trúc của văn học nói chung, văn bản tác phẩm văn học nói riêng Theo V Shklovski, “Một tác phẩm văn học là một toà kiến trúc thống nhất Mọi thứ trong toà kiến trúc ấy đều phụ thuộc vào tổ chức của chất liệu”2 Yu Tynianov thì nhấn mạnh: “Cần nhất trí với nhau rằng tác phẩm văn học là một hệ thống cũng như bản thân văn học là một hệ thống vậy Chỉ sau khi có sự nhất trí căn bản này thì mới có thể sáng tạo ra một khoa học về văn học”3 G Vinokour khẳng định rõ hơn: “Phạm vi nghiên cứu càng thu hẹp lại thì chúng tôi càng đi dần đến ý tưởng đơn giản rằng khoa học về văn học phải nghiên cứu chính bản thân văn học chứ không phải cái gì khác, rằng người khảo sát tác phẩm văn học phải lấy cấu trúc tác phẩm làm đối tượng chứ không phải là những nhân tố song hành với sự sáng tạo ra tác phẩm ấy trên bình diện thời gian hay tâm lý”4
Kế tục tư tưởng của Saussure, trong Những vấn đề ngôn ngữ học đại cương
(1966), E Benveniste viết: “Khái niệm ngôn ngữ như một hệ thống từ lâu đã được thừa nhận bởi những ai học tập Saussure, trước hết trong ngữ pháp đối chiếu, rồi trong ngôn ngữ học đại cương Nếu người ta thêm vào đó hai nguyên tắc khác, cũng của Saussure, rằng ngôn ngữ là hình thức chứ không phải là thực thể, và những đơn vị ngôn ngữ chỉ có thể được xác định bằng quan hệ của chúng,
4 G Vinokour: Poétique Linguistique Sociologie Trong Linguistique et Poétique,
Editions du Progrès, Moskva, 1981, t 33
Trang 19thì người ta sẽ chỉ ra được những cơ sở của một lý thuyết mà chỉ vài năm sau đó
sẽ chứng minh cấu trúc của các hệ thống ngôn ngữ là một điều hiển nhiên”1
Những nhà cấu trúc luận Tiệp Khắc trong trường phái Praha như
Trubetzkoy, Mukarovski tiếp tục triển khai tư tưởng đó J Mukarovski khẳng
định trong Cấu trúc luận trong mỹ học và nghiên cứu văn học (1940): “Một chỉnh
thể cấu trúc xác định ý nghĩa cho những yếu tố của nó, và ngược lại, từng yếu tố trong số đó xác định ý nghĩa cho chỉnh thể cấu trúc này chứ không phải chỉnh thể cấu trúc khác”
Nhấn mạnh mối quan hệ giữa nghiên cứu văn học và ngôn ngữ học, R Jakobson viết: “Nếu hiện nay còn có những nhà phê bình hồ nghi khả năng của ngôn ngữ học trong lĩnh vực thơ ca, thì riêng tôi, tôi nghĩ rằng họ đã tưởng nhầm rằng sự bất lực của một vài nhà ngôn ngữ học thiển cận là sự bất lực cơ bản của bản thân ngành ngôn ngữ học Tuy vậy, mỗi chúng ta ở đây đã hiểu được dứt khoát rằng một nhà ngôn ngữ học dửng dưng đối với chức năng thi ca, cũng như một nhà văn học dửng dưng với các vấn đề ngôn ngữ và không đếm xỉa đến các phương pháp ngôn ngữ học đều là những hiện tượng lỗi thời rõ rệt” Như trên đã nói, theo Jakobson, thi pháp học là “một bộ phận của ngôn ngữ học nghiên cứu chức năng thi ca trong mối quan hệ với các chức năng khác của ngôn ngữ”2 Theo tinh thần đó, nếu ngôn ngữ học là khoa học về các cấu trúc ngôn ngữ, thì nghiên cứu văn học phải sử dụng phương pháp cấu trúc để tìm hiểu các hiện tượng nghệ thuật ngôn từ Con đường đó đã dẫn đến những thành công của V Propp khi nghiên cứu những mô-típ và chức năng của cấu trúc truyện cổ tích Nga, của V Shklovski khi nghiên cứu thi pháp truyện trinh thám của Conan
Doyle, của R Jakobson khi phân tích các bài thơ Con quạ của E Poe, Chán chường và Những con mèo của Baudelaire…
Trong Sự phân tích cấu trúc trong ngôn ngữ học và nhân học (L’Analyse
structurale en linguistique et en anthropologie) (1945), Claude Lévi-Strauss nhận
Trang 20xét: “Có một sự giống nhau kỳ lạ giữa việc một nhà ngôn ngữ học khám phá ra cấu trúc tác phẩm văn học với việc một nhà dân tộc học tìm thấy cấu trúc trong thần thoại; những cảm xúc thẩm mỹ mà thần thoại gợi ra cho nhà dân tộc học cũng giống như cảm xúc thẩm mỹ mà tác phẩm văn học gợi ra cho nhà ngôn ngữ học” Vì vậy, Lévi-Strauss quan niệm nhân học là một nhánh của ký hiệu học (Ví dụ: một cái rìu đá là một ký hiệu, trong quan hệ với cái cưa sắt hay khẩu súng lục) Ông vận dụng phương pháp cấu trúc để nghiên cứu các thần thoại và những mối quan hệ thân tộc
Quan niệm cho rằng ngôn ngữ học có thể có ích trong việc nghiên cứu những hiện tượng văn hoá là dựa trên hai quan điểm cơ bản: thứ nhất, các hiện tượng xã hội và văn hoá không đơn thuần là những đối tượng hay sự kiện vật chất
mà là những hiện tượng hay sự kiện mang nghĩa, và vì thế là những ký hiệu; thứ hai, chúng không có bản chất cố định mà được xác định bởi một mạng lưới những mối quan hệ nội tại và ngoại tại
Thi pháp học cấu trúc đặt trọng tâm chú ý vào những vấn đề tổ chức các yếu tố của văn bản với tư cách một chỉnh thể nghệ thuật Cơ sở phương pháp luận của thi pháp học cấu trúc là nguyên tắc nghiên cứu nội tại văn bản một cách độc lập với hoàn cảnh lịch sử mà nó hình thành, với tiểu sử tác giả và với các hiện tượng văn học khác Giới hạn trong khuôn khổ của dữ kiện văn bản, nhà nghiên cứu chỉ quan tâm xem xét những yếu tố của văn bản và mối quan hệ giữa chúng với nhau Roland Barthes gọi đó là phương thức phân tích cố ý khép kín và nhấn mạnh: “Trong phiên bản chuyên biệt nhất và vì thế thoả đáng nhất của nó, cấu trúc luận là một dạng thức phân tích những sản phẩm văn hoá theo những phương pháp của ngôn ngữ học hiện đại”
Ở Việt Nam, một số nhà nghiên cứu như Nguyễn Văn Trung, Trần Đỗ Dũng, Trần Ngọc Ninh, Bùi Hữu Sủng, Ngô Trọng Anh… đã từng đặt vấn đề tiếp thu lý thuyết và phương pháp cấu trúc luận của Claude Lévi-Strauss, Roland Barthes, Lucien Goldmann… và bước đầu vận dụng vào việc phân tích, phê bình văn học
Tiếp thu có chọn lọc quan điểm cấu trúc luận, có thể hiểu cấu trúc văn bản nghệ thuật là cách cấu tạo cũng như mối quan hệ giữa ngôn từ và hình tượng,
Trang 21giữa hình tượng nhân vật và các hình tượng khác, mối quan hệ trong việc triển khai hành động hay cảm xúc, mối quan hệ giữa bình diện tư tưởng thẩm mỹ với các bình diện khác, mối quan hệ giữa các yếu tố ngôn từ với nhau
Gắn liền với khái niệm về cấu trúc là khái niệm về chức năng mà từng yếu
tố trong khuôn khổ cấu trúc cũng như toàn thể cấu trúc đảm nhiệm Văn bản văn học là loại cấu trúc thẩm mỹ rất phức tạp và tinh tế, trong đó những mối quan hệ tất yếu kết hợp với những mối quan hệ ngẫu nhiên Nhưng dù đặt trong mối quan
hệ nào, mỗi yếu tố đều đảm nhiệm một vai trò nhất định trong toàn bộ cấu trúc văn bản Phân tích, bình giảng văn bản không thể lãng tránh việc chỉ ra chức năng của từng yếu tố cũng như của cả cấu trúc Từ đó, người phân tích văn bản phải làm sáng tỏ những mối quan hệ nội tại có tính chất thứ bậc giữa các yếu tố và các cấp độ của văn bản nghệ thuật
Xem văn bản như một cấu trúc được chế tác một cách có tổ chức, khoa nghiên cứu văn học nỗ lực làm nổi bật những mối quan hệ tất yếu giữa các yếu tố
và giữa yếu tố với toàn thể cấu trúc Chỉ nhờ dựa vào toàn thể cấu trúc đó, người phân tích mới có thể xác định được chức năng và ý nghĩa của từng yếu tố
Như vậy, sự hiện hữu và giá trị của từng yếu tố không tách rời với toàn thể cấu trúc văn bản Ngược lại, sức sống và bản sắc của cấu trúc là do chất lượng của từng yếu tố và sự tác động qua lại của chúng tạo nên Cấu trúc văn bản nghệ thuật không phải là một số cộng đơn thuần từ các yếu tố mà thành Nó là một chỉnh thể sống động, trong đó các yếu tố quy định, phối thuộc lẫn nhau và thổi sức sống vào cho nhau
Vì vậy, trong khi phân tích, bình giảng văn bản tác phẩm, phải chú ý đến mối quan hệ giữa từng yếu tố, bộ phận với toàn thể cấu trúc Không nên sa vào bình giảng những yếu tố cô lập, tách chúng ra khỏi những mối liên hệ với những yếu tố khác và với toàn thể cấu trúc, từ đó đánh mất ý nghĩa khái quát của nó Ngược lại, cũng không vì chú ý đến toàn thể mà bỏ quên hoặc xem nhẹ các yếu tố, không nhìn thấy vai trò của nó trong việc tạo ra ý nghĩa chiều sâu của văn bản Có thể nói, vẻ đẹp và sức sống của toàn thể cấu trúc được nhận ra thông qua những yếu tố, kể cả những chi tiết cụ thể, sinh động Ý nghĩa sâu xa của văn bản nhiều khi sáng rực lên nhờ một hình ảnh, một từ ngữ, một âm điệu Một văn bản
Trang 22tác phẩm thành công, trên cái thế chung, cái nền chung của nó, bao giờ cũng đòi hỏi những chi tiết có sức ám ảnh, gây ấn tượng Không khai thác giá trị của những yếu tố “đắc địa” như vậy, người phê bình và giảng văn dễ rơi vào khuynh hướng tư biện, biến bài phân tích của mình thành sự thuyết minh cho những luận điểm có sẵn
văn học Hegel, tác giả Hiện tượng luận về Tinh thần, xem nghệ thuật như một
hình thức vong thân tất yếu của “Tinh thần tuyệt đối” và các hình tượng nghệ thuật chẳng qua là sự biểu hiện của Tinh thần trong quá trình tự đánh mất mình
để rồi tự tìm lại ra mình Còn V Bielinski thì nêu lên đặc trưng của thơ ca bằng cách phân biệt nó với triết học và kinh tế chính trị: “Nhà triết học nói bằng phép tam đoạn luận, nhà thơ nói bằng các hình tượng và bức tranh… Nhà kinh tế chính trị được vũ trang bằng các số liệu thống kê, dùng chứng minh để tác động đến người đọc và người nghe… Nhà thơ, được vũ trang bằng sự miêu tả sống động và
rõ nét, tác động tới trí tưởng tượng của bạn đọc bằng cách trình bày hiện thực trong một bức tranh chân thực… Một người chứng minh, một người trình bày, và
cả hai đều thuyết phục, chỉ có khác là một đằng thì bằng các kết luận lô-gich, một đằng bằng các bức tranh”1
Hai nhà mỹ học khác nhau về lập trường nhận thức luận ấy đã gặp nhau trong quan niệm về hình tượng nghệ thuật và từ đó chia sẻ cách lý giải mối quan
hệ giữa nội dung và hình thức trong nghệ thuật Theo Hegel, “nội dung chẳng phải là cái gì khác mà chính là sự chuyển hoá của hình thức vào nội dung và hình
1 Dẫn lại theo G N Pospelov (chủ biên): Dẫn luận nghiên cứu văn học (Bản dịch của
Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Lê Ngọc Trà), NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998, t 10
Trang 23thức cũng chẳng gì khác hơn là sự chuyển hoá của nội dung vào hình thức” Còn Bielinski thì nói: “Khi hình thức là biểu hiện của nội dung, nó gắn với nội dung một cách khăng khít đến nổi tách nó ra khỏi nội dung là huỷ hoại nội dung ấy và ngược lại, tách nội dung ra khỏi hình thức là huỷ hoại hình thức”
Nội dung của tác phẩm không thể hiện hữu ở ngoài hình thức, cũng như hình thức không thể “tự trị” so với nội dung Trong ý đồ sáng tác của nhà văn, nội dung của tác phẩm chỉ có thể xuất hiện một phần nào đó trước khi nó được triển khai hoàn toàn trên trang viết Điều này có nghĩa là nhà văn không thể bộc lộ ra toàn bộ nội dung tác phẩm trước khi chính hình thức toàn vẹn của nó được cấu tạo Quá trình chế tác nên văn bản tác phẩm thông qua trí tưởng tượng sáng tạo của nhà văn cũng đồng thời là quá trình khám phá ra nội dung và phát kiến ra hình thức của nó Nói không thể tách rời nội dung khỏi hình thức, nội dung nào cũng là của một hình thức nhất định và ngược lại, chính là vì như vậy
Ở đây cần lưu ý rằng sự thống nhất giữa nội dung và hình thức không chỉ thể hiện trong toàn bộ văn bản mà còn trong từng yếu tố, từng lớp yếu tố, từng cấp độ của cấu trúc văn bản Ngay trong mỗi một yếu tố (như nhân vật, không gian, thời gian, giọng điệu…), nội dung luôn gắn liền với một hình thức nhất định Ngược lại, trừ rất ít yếu tố hình thức đơn giản không nhất thiết có quan hệ với nội dung (chẳng hạn, dấu gạch đầu dòng hay dấu ngoặc kép mở và đóng những câu đối thoại), còn những yếu tố hình thức khác đều mang tính nội dung Nói theo F Nietzsche, “Người ta chỉ là nghệ sĩ khi nào người ta cảm thấy như là một nội dung, điều mà những người không phải nghệ sĩ gọi là hình thức”1
Tuy thế, sự thống nhất giữa nội dung và hình thức trong văn bản tác phẩm văn học không phải là điều đương nhiên Không hẳn tác phẩm nào cũng đạt được
sự thống nhất đó, trái lại giữa nội dung và hình thức của một văn bản nghệ thuật
có thể diễn ra sự khập khiễng, sự thiếu hài hoà hoăc không phù hợp Sự thống nhất một cách toàn vẹn, tròn đầy chỉ có thể diễn ra ở những văn bản có giá trị nghệ thuật cao, mang dấu ấn thiên tài Chỉ ở đó, nhà phê bình mới có thể chỉ ra một cách thuyết phục hình thức đã thể hiện và truyền đạt nội dung như thế nào,
1
Dẫn lại theo G Picon: L’Écrivain et son ombre, Gallimard, Paris, 1953, tr 153
Trang 24và những khám phá về nội dung có quan hệ khắng khít với những phát kiến về hình thức ra sao
L Tolstoi từng tỏ ý không bằng lòng với việc tóm tắt nội dung của văn bản,
vì như vậy là phá vỡ sự toàn vẹn cấu trúc của nó Văn bản nghệ thuật có thể là đối tượng của sự phân tích khoa học mà không thể bị tóm tắt hay lược thuật một cách khô cứng dẫn đến nguy cơ tách rời nội dung và hình thức Điều này có thể huỷ diệt tính sinh động nghệ thuật của văn bản và biến nó thành sơ đồ cứng nhắc Nội dung của văn bản không thể giản lược vào câu chuyện hay tư tưởng của nó
Và giá trị tư tưởng của tác phẩm chỉ có thể được lĩnh hội đầy đủ nếu tiếp nhận và phân tích trong sự thống nhất giữa nội dung và hình thức
Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong sáng tạo văn học được biểu hiện vô cùng đa dạng và phong phú Khi nghiên cứu mối quan hệ này, cần phải
có quan điểm lịch sử để đánh giá đúng chất lượng của văn học D Likhatchev viết: “Nguyên tắc lịch sử trong nghiên cứu tác phẩm văn học thể hiện ở chỗ: tác phẩm phải được xem xét, một là, trong sự vận động riêng của nó, với tư cách một hiện tượng của tiến trình sáng tạo; hai là, trong mối quan hệ với sự phát triển chung của tác giả, với tư cách một nhân tố của tiểu sử sáng tạo; và ba là, với tư cách một sự biểu hiện của lịch sử văn học đang vận động, một hiện tượng trong
sự phát triển của văn học ở một thời kỳ nhất định”1
Chỉ với sự xem xét một cách hệ thống trong cấu trúc văn bản và dưới ánh sáng của sự phân tích lịch sử thì mỗi một yếu tố thuộc nội dung hay hình thức mới bộc lộ ý nghĩa của nó Nhờ cảm nhận và truyền đạt vẻ đẹp tinh tế, sự phong phú của văn bản tác phẩm trong tính toàn vẹn của nó, việc nghiên cứu và giảng dạy văn học mới đáp ứng nhu cầu nhận thức và nhu cầu thẩm mỹ, góp phần tác động vào việc bồi dưỡng tâm hồn người đọc
Trên thực tế, lý luận văn học truyền thống, dù là miễn cưỡng, vẫn phải tách nội dung và hình thức với nhau qua việc khảo sát từng yếu tố riêng biệt: đề tài, chủ đề, tính cách, nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ… Vấn đề cần phải thấy là bản thân
1
D C Likhatchev: Về ngữ văn học (Tiếng Nga), NXB Đại học, Moskva, 1989, tr 52
Trang 25từng yếu tố đó cũng bao hàm sự thống nhất giữa nội dung và hình thức bên trong
nó, chứ nó không thuần túy thuộc về nội dung hoặc về hình thức của tác phẩm Những nhà nghiên cứu tài hoa, bằng sự bình giảng nhuần nhị, cố gắng tìm cách che khuất đi dấu vết của ranh giới nội dung và hình thức trong khi phân tích hình tượng nghệ thuật của tác phẩm
Tuy nhiên, với lý luận văn học truyền thống, nhất là lý luận mác-xít, thì dù hình thức có vai trò quan trọng và có tác động lại nội dung, hòn đá tảng của phương pháp luận vẫn là bám sát vào nguyên lý nội dung, xét cho cùng, quyết định hình thức Đó chính là điểm phân biệt quan niệm này với những biểu hiện khác nhau của chủ nghĩa hình thức Ngay như Hoài Thanh, một nhà nghiên cứu coi trọng đặc trưng nghệ thuật, cũng khẳng định rằng sở dĩ hình thức Thơ Mới đổi thay chính vì điệu tâm hồn và hơi thở thời đại đã thay đổi: “Cái ngày người lái buôn phương Tây thứ nhất đặt chân lên xứ ta, người ấy đã đem theo cùng với hàng hóa phương Tây, cái mầm sau này sẽ nẩy thành thơ mới”1
Điều đó không hợp với cách nhìn nhận của các nhà Hình thức luận Họ vượt qua cách hiểu truyền thống về quan hệ giữa nội dung và hình thức và đặt lại vấn đề vai trò của hình thức Họ chia sẻ quan niệm của Krutshenykh cho rằng một hình thức mới sản sinh ra một nội dung mới và nội dung được quy định bởi hình thức, do đó những hình thức khác nhau phải gắn liền với những nội dung khác nhau B Eikhenbaum thừa nhận: “Các nhà hình thức luận đồng thời tự giải phóng mình ra khỏi mối tương quan truyền thống của cặp phạm trù hình thức – nội dung và ra khỏi khái niệm về hình thức như là cái lớp phủ bên ngoài hay là cái bình để rót nước vào Khái niệm về hình thức đảm nhiệm một ý nghĩa khác” Với V Shklovski, nguyên tắc cảm nhận hình thức là nét đặc trưng của tri giác thẩm mỹ Ông viết: “Tính nghệ thuật là kết quả của phương thức tiếp nhận của chúng ta; theo một nghĩa chính xác, chúng ta gọi là hiện tượng nghệ thuật những đối tượng nào được xây dựng bằng những thủ pháp riêng mà mục đích của
nó là làm sao cho các đối tượng này được tiếp nhận như là những đối tượng nghệ
1 Hoài Thanh, Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam, NXB Hoa Tiên, Sài Gòn, 1967, tr 13
Trang 26thuật”.1 Shklovski xem “cảm xúc về hình thức” là tiêu chí cao nhất, đồng thời là kết quả cuối cùng của tiến trình sáng tạo Từ đó, ông khẳng định: “Một hình thức mới xuất hiện không phải để diễn tả một nội dung mới mà là để thay thế một hình thức cũ đã mất đi tính chất nghệ thuật của nó”2
Như vậy, đối với V Shklovski, B Eikhenbaum và đồng sự, văn học không
gì khác hơn là hình thức, và nội dung chỉ là một hiệu ứng của hình thức mà thôi
Vì thế, theo họ, khoa nghiên cứu văn học phải dành ưu tiên hàng đầu cho những
“mẫu hình nhịp điệu” trong thơ ca và những “chiến lược trần thuật” trong văn xuôi hư cấu Những thủ pháp và kỹ thuật như vậy làm cho văn học phân biệt với những dạng thức ngôn ngữ khác như triết học hay xã hội học vốn có mục đích truyền đạt ý tưởng hay định danh sự việc Tác phẩm văn học sử dụng ngôn ngữ theo hướng liên tưởng, khác với những dạng thức diễn ngôn được xác định bởi tính quy chiếu hay tính sở thị của ngôn ngữ và bởi sự trung tính của hình thức trong mối quan hệ với nội dung Trong nghệ thuật ngôn từ, chính những hình thức văn học mới làm thay đổi nội dung của văn học Bằng cách phân biệt nghệ thuật tự sự hay cách kể chuyện với bản thân câu chuyện hay chuỗi sự kiện mà thiên tự sự thuật lại, các nhà Hình thức luận mở ra khả năng hiểu được những dạng thức kể chuyện mới có thể tạo nên những nội dung mới như thế nào
1.2.4 Chất liệu và thủ pháp
Để thay thế cho khái niệm “nội dung” và “hình thức”, những nhà Hình thức luận đề nghị khái niệm “chất liệu” và “thủ pháp”, tương ứng với hai giai đoạn của quá trình sáng tạo: giai đoạn tiền thẩm mỹ và giai đoạn thẩm mỹ Theo đó, “chất liệu” được hiểu là vật liệu thô của văn học mà nhà văn có thể sử dụng cho tác phẩm của mình: những sự kiện từ cuộc sống hàng ngày, những quy ước, những ý tưởng, cảm xúc… Nói cách khác, “chất liệu” cung cấp nguyên liệu thô cho văn học, nó mang chứa tiềm lực thẩm mỹ, nhưng chỉ có giá trị đối với văn bản nghệ thuật khi thông qua tác dụng của những thủ pháp độc đáo
Trang 27Như vậy, “thủ pháp” được xem là nguyên tắc thẩm mỹ cải biến chất liệu thành một văn bản nghệ thuật Văn bản nghệ thuật có cấu trúc riêng của nó, cấu trúc này được biểu hiện trong nhiều tổ chức khác nhau: nhịp điệu, ngữ âm, ngữ pháp, kết cấu, cốt truyện… Thủ pháp làm nhiệm vụ cải biến chất liệu tiền thẩm
mỹ thành một văn bản nghệ thuật bằng cách trao cho nó một hình thức thể hiện Chính sự sáng tạo ra những thủ pháp nghệ thuật mới sẽ làm phục sinh từ ngữ,
đồng thời làm phục sinh sự vật Trong tiểu luận Nghệ thuật như là thủ pháp,
Shklovski viết: “Mục đích của nghệ thuật là chuyển tải cảm giác trực tiếp về sự vật như nó được nhận thấy thay vì là được nhận thức; thủ pháp của nghệ thuật là thủ pháp làm lạ hoá các sự vật và thủ pháp hình thức bị ngăn trở, làm cho quá trình tri giác sự vật trở nên khó khăn hơn và kéo dài hơn”1
Đồng quan niệm đó, R Jakobson cho rằng: “Nếu khoa nghiên cứu văn học muốn trở thành một khoa học, nó buộc phải thừa nhận khái niệm “thủ pháp” làm
“nhân vật” duy nhất”2 Để tiếp cận được tính văn học của tác phẩm, nhà nghiên cứu phải đối xử với tác phẩm như một đối tượng được chế tác, nghĩa là như một
“tổng thể của những thủ pháp được sử dụng trong đó” Có thể nói các nhà Hình thức luận đã nâng thủ pháp thành thuật ngữ then chốt và đơn vị cơ bản của sự phân tích văn học Kế tục tinh thần đó, Yuri Lotman viết: “Việc phân tích cấu trúc xuất phát từ luận điểm cho rằng thủ pháp nghệ thuật không phải là yếu tố vật chất của văn bản mà là mối quan hệ”3
Thật ra, quan niệm trên đây có thể bị phản biện ở chỗ nếu thủ pháp tương ứng với phạm trù hình thức, thì chất liệu lại không tương ứng với phạm trù nội dung, bởi nó nằm ngoài cấu trúc của tác phẩm Ngoài ra, như sự lưu ý của M Bakhtin, trong sự lý giải của trường phái Hình thức Nga, nhiều lúc công thức
Trang 28“nghệ thuật như là thủ pháp” dường như đồng nghĩa với công thức “nghệ thuật chỉ là thủ pháp” Trong thi pháp học mang tinh thần triết lý – xã hội mà Bakhtin
và cộng sự phác thảo đã diễn ra một quá trình đảo ngược bước đi của thi pháp học hình thức luận: thay vì xuất phát từ ngôn ngữ như một chất liệu hay từ thủ pháp như yếu tố cơ sở của cấu trúc nghệ thuật, họ đã xuất phát từ những phương thức điển hình của sự biểu đạt, đó là thể loại
Theo Bakhtin, “người nghệ sĩ phải học cách nhìn hiện thực bằng con mắt của thể loại” Với ông, thể loại hành chức như một phòng thí nghiệm tạo ra những trung gian nhận thức sinh động giữa ngôn ngữ và thực tại, mà nếu không
có nó thì sẽ không có nghệ thuật văn chương Nói ngắn gọn, nghệ thuật liên hệ với cuộc sống thông qua một hệ thống các thể loại, mỗi thể loại chiếm một lĩnh vực công năng rất giới hạn: “mỗi thể loại có những phương pháp và phương tiện riêng để nhìn nhận và mô hình hoá thực tại, cái thực tại mà chỉ có nó mới tiếp cận được mà thôi” Ở một chỗ khác, Bakhtin viết: “Thể loại là kẻ đại diện của ký ức sáng tạo trong quá trình phát triển của văn học Chính vì vậy, thể loại có năng lực đảm bảo tính thống nhất và tính liên tục của sự phát triển ấy” Đó là lý do vì sao
mỹ học của nghệ thuật ngôn từ phải dựa trên những đặc trưng thể loại
Không hẳn là do áp lực của phê bình xã hội học mác-xít mà chính là niềm xác tín sau nhiều suy ngẫm đã khiến Bakhtin nghiên cứu đặc trưng thể loại tiểu thuyết qua những kiệt tác của F Dostoievski và F Rabelais không chỉ như thành tựu của những thủ pháp nghệ thuật độc đáo Ở đó, nhà nghiên cứu nhìn thấy yếu
tố thi pháp năng động trước hết ở quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người, tức là vẫn muốn gắn những đặc trưng hình thức trong mối quan hệ tinh tế với nội dung qua sự nhào nặn của lăng kính chủ quan Quan niệm đó góp phần khắc phục
sự thiên lệch về yếu tố thủ pháp, điều có thể dẫn đến sự ngộ nhận tính tự trị của chức năng thẩm mỹ như là tính tự trị của chính nghệ thuật
1.2.5 Thi pháp và phong cách
Thi pháp và phong cách là hai khái niệm riêng biệt nhưng có liên quan mật thiết và dễ được sử dụng trùng lặp với nhau
Trang 29Về mặt nội hàm, khi nói thi pháp là nói đến cách thức xây dựng hệ thống thủ pháp và hình thức nghệ thuật của một thực thể văn học Còn nói phong cách cũng
là nói đến hệ thống những đặc điểm của hình thức và thủ pháp nghệ thuật nhưng nhấn mạnh khả năng tạo nên tính độc đáo riêng có của một thực thể văn học Cũng có một số nhà nghiên cứu quan niệm phong cách là tổng hoà những đặc điểm cả về nội dung lẫn hình thức khiến cho một thực thể văn học này phân biệt với một thực thể văn học khác Ya Elsberg nhấn mạnh: “Phong cách biểu hiện sự toàn vẹn của hình thức có tính nội dung được hình thành trong sự phát triển, trong tác động qua lại và trong sự tổng hợp các yếu tố của hình thức nghệ thuật, dưới ảnh hưởng của đối tượng và nội dung tác phẩm, của thế giới quan nhà văn và của phương pháp vốn thống nhất với thế giới quan Phong cách được hình thành từ tất
cả những yếu tố ấy, nảy sinh từ chúng mà ra Phong cách – đó là sự thống trị của hình thức nghệ thuật, là sức mạnh của nó”1
Thuật ngữ “style” trong tiếng Anh, tiếng Pháp bắt nguồn từ chữ “stylos” trong tiếng Hy Lạp, “stylus” trong tiếng la-tinh, có nghĩa là đầu nhọn của một cây bút Trước đây, thuật ngữ này được dịch ra tiếng Việt là “bút pháp”, về sau được dịch phổ biến hơn là “phong cách” Nó ghi nhận những nét đặc sắc của tinh thần sáng tạo của nhà văn trong một văn bản hay toàn bộ sự nghiệp sáng tác của mình Chính vì vậy, nói đến thi pháp, người ta thường xem như những đặc điểm khách quan toát ra từ văn bản; còn nói đến phong cách, người ta lại chú ý đến phương diện chủ quan, văn phong riêng của nhà văn
Về mặt ngoại diên, thi pháp và phong cách đều có thể áp dụng cho việc nghiên cứu tác phẩm, nhà văn, trào lưu, thời đại: người ta nói đến thi pháp hay
phong cách tác phẩm Truyện Kiều, thi pháp hay phong cách thơ Đinh Hùng, thi
pháp hay phong cách thơ tượng trưng, thi pháp hay phong cách văn học Nga cổ… Thi pháp thường áp dụng cho văn bản tác phẩm, còn phong cách thường dùng để nói đến đặc điểm của một nhà văn để lại dấu ấn riêng trong tác phẩm hay đặc điểm giữ vai trò chủ đạo trong việc tạo ra dấu ấn riêng của trào lưu, trường phái, thời đại
1 Lý luận văn học: những vấn đề cơ bản trong sự soi sáng lịch sử (tiếng Nga), T 2,
NXB Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, Moskva, 1965, tr 35
Trang 30Tuy vậy, việc nghiên cứu thi pháp và phong cách cũng có những điểm gặp
gỡ và hỗ trợ cho nhau Nhờ nắm vững thi pháp của một tác phẩm, ta mới có thể khái quát thành phong cách của tác giả Ngược lại, nghiên cứu phong cách tác giả giúp soi sáng những đặc điểm và sự vận động về thi pháp trên hành trình sáng tạo của tác giả đó M B Khrapchenko viết: “Mỗi một nhà văn có tài đều đi tìm những biện pháp và những phương tiện độc đáo để thể hiện những tư tưởng và hình tượng của mình, những biện pháp và những phương tiện cho phép nhà văn
đó làm cho những hình tượng ấy trở thành hấp dẫn, dễ lôi cuốn, gần gũi với công chúng độc giả Và điều đó cũng có nghĩa là nhà văn tạo ra được phong cách của mình Nếu như dùng một công thức vắn tắt thì phong cách cần phải được định nghĩa như thủ pháp biểu hiện cách khai thác hình tượng đối với cuộc sống, như thủ pháp thuyết phục và thu hút độc giả”1
Phạm vi nghiên cứu phong cách có biên độ rộng hơn phạm vi nghiên cứu thi pháp Như trên đã nói, theo Jakobson, thi pháp học là “một bộ phận của ngôn ngữ học nghiên cứu chức năng thi ca trong mối quan hệ với các chức năng khác của ngôn ngữ” Đối tượng chủ yếu của thi pháp học là văn bản nghệ thuật Trong khi đó, phong cách học nghiên cứu cả phong cách ngôn ngữ lẫn phong cách lời nói, theo sự phân biệt của F de Saussure, và chú ý mối quan hệ giữa chúng với nhau Việc nghiên cứu văn bản văn học thuộc lĩnh vực phong cách học của lời nói nhưng không tách rời với phong cách học ngôn ngữ
V Vinogradov nhấn mạnh nhiệm vụ trung tâm của phong cách học: “Phong cách học nghiên cứu sự phát triển của các phong cách cá nhân Chiếm vị trí trung tâm trong phong cách học văn học là những quan sát và nghiên cứu trong lĩnh vực các quy luật hình thành và phát triển của các hệ thống biểu hiện ngôn từ nghệ thuật – đây là những hệ thống có tính chất cá nhân hoặc được cá thể hoá, tức là được hình thành như những cấu trúc cố định và hoàn chỉnh – cả trong lịch sử từng nền văn học dân tộc nói riêng, lẫn trong lịch sử chung của văn học thế giới
1 M B Khapchenko: Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học (Bản dịch của Lê Sơn và Nguyễn Minh), NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1978, tr 152
Trang 31(phong cách tác phẩm văn học, phong cách nhà văn, phong cách trường phái văn học v.v…)”1
Từ góc độ tâm lý học nghệ thuật, có thể nói sáng tạo văn học chính là thể hiện dòng ý thức của tác giả qua hình thức ngôn ngữ Dòng ý thức này được bộc
lộ trong văn bản với một cấu trúc và những biểu hiện riêng của nó Như vậy sáng tác cũng chính là một cách tự biểu hiện của nhà văn Mượn cách nói của F Nietzsche, tác phẩm văn học có thể được xem là một “chứng minh thư tâm lý” về
cá tính sáng tạo, ý thức và ngôn ngữ của tác giả Hiểu đúng bản chất và đặc điểm dòng ý thức của nhà văn sẽ giúp ta nắm được chiếc chìa khóa cần thiết để phân tích văn bản và quy tất cả những yếu tố và cấp độ của văn bản về một tiêu điểm
Từ đây đặt ra một nhiệm vụ của việc nghiên cứu, phân tích văn bản là làm thế nào tìm ra bộ mặt tinh thần của chủ thể trong thế giới khách thể được miêu tả, hay nói cách khác, tìm ra chân dung người phản ánh trong cái được phản ánh Đây chính là vấn đề “hình tượng tác giả” mà V Vinogradov đã nêu ra Hình tượng tác giả hay cái tôi nghệ thuậtnày không đồng nhất nhưng có quan hệ biện chứng với cái tôi của nhà văn
Theo V Vinogradov, khái niệm hình tượng tác giả nói lên bản chất của văn bản nghệ thuật và là nơi tập trung sự thống nhất về tư tưởng, hình tượng và ngôn từ của văn bản Đó là phạm trù thi pháp quyết định đặc điểm và cấu trúc của văn bản, quyết định cả tính khuynh hướng và sự triển khai văn bản ấy Vì vậy, vẫn theo V Vinogradov, hình tượng tác giả là phạm trù phù hợp giúp chúng ta nhận thức dòng ý thức của nhà văn, đồng thời nhận thức văn bản trong sự đa diện
và toàn vẹn của nó Khái niệm hình tượng tác giả, do đó, góp phần soi sáng phong cách của văn bản Đó cũng là mạch ngầm nối kết thế giới hình tượng – ngôn từ của văn bản với thế giới tư tưởng – tình cảm của nó Khái niệm hình tượng tác giả cung cấp cho người nghiên cứu một công cụ để phục dựng lại chủ đích tư tưởng - nghệ thuật của nhà văn cũng như khả năng tiếp nhận văn bản một cách trọn vẹn
1 Dẫn lại theo M B Khrapchenko: Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực, con người, Tập II,
Sđd, tr 241
Trang 32C HƯƠNG 2: CẤU TRÚC VÀ LOẠI HÌNH VĂN BẢN VĂN HỌC
Trước khi đi vào đặc điểm của từng loại hình văn bản văn học dưới góc độ thể loại, cần có cái nhìn tổng quan về cấu trúc văn bản và sự phân loại văn bản văn học
2.1 CẤU TRÚC VĂN BẢN VĂN HỌC
Nhìn văn bản như một cấu trúc, lý thuyết của Roman Ingarden, nhà nghiên
cứu người Ba Lan, được trình bày trong công trình Nghiên cứu về mỹ học, là một
gợi ý quan trọng để có một cái nhìn tổng quan về văn bản tác phẩm, từ một bài thơ cho đến một cuốn tiểu thuyết Ông đề xuất “thuyết phân tầng”, theo đó, văn bản tác phẩm là một cấu tạo gồm bốn lớp yếu tố:
- Lớp yếu tố ngôn ngữ, trước hết là âm thanh của từ Người tiếp nhận văn bản, chẳng hạn một đứa bé nằm trong nôi hay một người nước ngoài không biết
tiếng Việt, khi nghe Truyện Kiều vẫn cảm nhận được chất nhạc toát lên từ những
câu thơ trầm bổng của Nguyễn Du
- Lớp nghĩa, tức là nghĩa của từ hay nghĩa của một đơn vị ngôn ngữ nào đó, trước hết là mệnh đề Nắm bắt lớp nghĩa này là nắm bắt ý của từng đơn vị nhưng chưa phải là ý tổng quát của toàn bộ văn bản
- Lớp các sự kiện được miêu tả trong tác phẩm, tức là đối tượng mà tác giả nói tới trong tác phẩm hay trong một bộ phận của tác phẩm
- Lớp cảnh tượng sơ lược là cái hình thức mà qua đó người đọc hình dung được đối tượng được miêu tả Nhưng đây mới chỉ là một “bộ xương”, một bộ khung, một tiềm năng, đòi hỏi người đọc phải bổ sung, bù đắp, cụ thể hoá Theo Ingarden, tiếp nhận văn học là quá trình cụ thể hoá một tác phẩm: “có bao nhiêu độc giả và bao nhiêu sự đọc mới cho cùng một tác phẩm, thì có bấy nhiêu những thành tạo mà chúng tôi gọi là những sự cụ thể hoá các tác phẩm”1
1 Dẫn lại theo Henryk Markiewicz: Những vấn đề cơ bản của khoa học về văn học (Bản
dịch tiếng Nga của M Poljakov), NXB Progress, Moskva, tr 90
Trang 33Lý luận văn học cổ Trung Quốc nói đến ba lớp yếu tố của văn bản tác phẩm
là Ngôn (ngôn từ), Tượng (hình tượng), Ý (ý tưởng, tư tưởng) Hình tượng mang
tư tưởng được gọi là Ý tượng Liên hệ lý thuyết phân tầng của R Ingarden với lý luận văn học truyền thống, có thể nói đến ba phương diện của cấu trúc văn bản nghệ thuật như sau:
2.1.1 Cấu trúc ngôn từ của văn bản
Cấu trúc ngôn từ của văn bản văn học là hệ thống những phương thức tạo hình và biểu cảm của ngôn ngữ hoạt động trong văn bản và được tạo ra trong quá trình xây dựng tác phẩm Chính nhờ những phương thức ngôn ngữ này mà cấu trúc hình tượng và tư tưởng được bộc lộ Không có ngôn ngữ, nhà văn không làm sao thể hiện bức tranh về đời người và người đời, và qua đó truyền đạt thông điệp
tư tưởng – thẩm mỹ đến người đọc
Về phía người đọc, sự tiếp nhận văn bản nghệ thuật trước hết là tiếp nhận cấu trúc ngôn ngữ Cả hình tượng nhân vật, bức tranh phong cảnh, cốt truyện, kết cấu, chủ đề, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật… đều được nắm bắt nhờ những hình thức của ngôn từ Có thể nói việc khám phá thế giới phong phú của văn bản bắt đầu bằng việc khám phá cấu trúc ngôn từ của nó Không có chìa khoá thực sự
có hiệu nghiệm để mở cánh cửa đi vào cấu trúc ngôn từ của văn bản, thì mọi lời bình luận dù hay ho đến đâu cũng chỉ là những lời bình phẩm ở bên ngoài văn bản Không có ngữ cảm như một năng lực cảm nhận sự phối khí về ngôn từ thì khó có thể trở thành một nhà phân tích, bình giảng văn học có uy tín, dù là người theo quan điểm xã hội học
Khi xây dựng một văn bản nghệ thuật, nhà văn đứng trước khả năng chọn lựa những yếu tố ngôn ngữ trên các bình diện từ vựng, ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp, phong cách Vấn đề đặt ra cho người phân tích, giảng văn là tìm hiểu và cắt nghĩa tại sao nhà văn lại chọn lựa yếu tố này thay vì yếu tố kia Tất cả những sự chọn lựa có dụng ý nghệ thuật này sẽ làm nên tính độc đáo nghệ thuật của văn bản ngôn từ
Về phương diện từ vựng, vốn từ được sử dụng trong văn bản tạo nên tấm thảm dệt ngôn từ, với sự kết hợp theo cách riêng những từ thông dụng trong đời sống thường ngày, những từ cổ, từ Hán Việt, từ địa phương, từ nghề nghiệp,
Trang 34tiếng lóng, tiếng du nhập từ nước ngoài… Các từ loại này khi được sử dụng thích hợp trong văn cảnh sẽ tạo ra những hiệu quả nghệ thuật nhất định Chẳng hạn, trong tiểu thuyết lịch sử, hồi ký, lớp từ cổ được dùng để gợi lại không khí, khung cảnh của một thời đại đã qua So với lớp từ thuần Việt, lớp từ Hán Việt mang nghĩa tương đương ngày nay thường xa lạ với ngôn ngữ hội thoại, nhưng có thể cần thiết trong văn thơ để tạo nên phong cách cổ kính và trang trọng Các lớp từ địa phương và biệt ngữ (từ nghề nghiệp, tiếng lóng…) thường chỉ được sử dụng trong ngôn ngữ đối thoại nhằm miêu tả và khắc hoạ tính cách nhân vật
Về phương diện ngữ nghĩa, phép chuyển nghĩa xuất phát từ tính đa nghĩa của từ là cơ sở để sáng tạo nên những cách dùng từ độc đáo Nhà văn thường khai thác tính đa nghĩa của từ và mối quan hệ giữa các nét nghĩa khác nhau để
mở rộng khả năng vận dụng của từ ngữ Nhờ phép chuyển nghĩa này, một từ vốn chỉ định một sự vật, hiện tượng nào đó có thể tạm thời chuyển sang chỉ định một
sự vật, hiện tượng khác trong ngữ cảnh thích hợp Trong một câu thơ hay câu văn, mỗi từ không chỉ mang cái nghĩa ban đầu như được xác định trong từ điển
mà còn thấm nhuần sức tác động của các từ bên cạnh toả điện vào trong nó, làm cho nó mang xúc cảm mới, thêm nghĩa mới Nhờ phép chuyển nghĩa (so sánh, ẩn
dụ, hoán dụ, phúng dụ, nhân hoá…) mà khả năng vận dụng vốn từ của nhà văn trở nên phong phú hơn, với một số lượng từ hữu hạn có thể diễn tả những sự vật, hiện tượng vô hạn
Về phương diện từ pháp và cú pháp, phong cách ngôn ngữ của một văn bản văn học còn bộc lộ ra ở cách vận dụng chức năng ngữ pháp của từ, trật tự ngữ pháp của câu Trong tác phẩm của mình, nhà văn có thể chuyển một từ mang chức năng ngữ pháp của từ loại này sang làm chức năng ngữ pháp của từ loại khác Nhà văn cũng thường sử dụng linh hoạt các dạng câu (khẳng định, phủ định, nghi vấn, cảm thán…) và khai thác hiệu quả nghệ thuật của nó Cùng một ý thơ nhưng chỗ này thì viết thành câu cảm thán, chỗ khác lại viết thành câu hỏi tu
từ Biện pháp đảo ngữ, điệp ngữ cũng có giá trị nhấn mạnh, gây ấn tượng về thông điệp
Về phương diện ngữ âm, tính nghệ thuật của văn bản ngôn từ gắn liền với việc thể hiện những yếu tố thanh, âm, vần, ngữ điệu Trong tiếng Việt, sự cân đối hài hoà, trầm bổng, nhịp nhàng, uyển chuyển, biện pháp trùng điệp, từ tượng
Trang 35thanh, từ láy đều góp phần tạo nên nhạc tính của thơ Nhà thơ trữ tình cân nhắc khi chọn lựa thanh bằng hay thanh trắc, âm thuận hay âm nghịch, âm mở hay âm khép, âm vang hay âm tắt, nhịp khoan hay nhặt… vì điều đó sẽ chi phối giá trị thẩm mỹ của bài thơ Nhờ phát huy tối đa thế mạnh của ngữ âm mà thơ trữ tình phong phú về nhạc điệu
Tuy nhiên, thơ trữ tình lại không tự đồng hoá với văn vần, với ngôn ngữ mượt mà, trau chuốt E Evtushenko ví thơ như cô bé Lọ lem trong truyện cổ tích, lúc đi dự dạ hội thì như một nàng tiên duyên dáng và đầy phấn hứng, nhưng thường ngày lại tất bật giặt giũ áo quần, người vương mùi hành, mùi khoai mới gọt Một số nhà thơ hiện đại đưa chất văn xuôi thường ngày vào thơ với một liều lượng ngày càng cao và phá vỡ những khuôn khổ hình thức cũ để giãi bày tâm trạng và ý tưởng một cách tự do, phóng khoáng hơn Cùng với những thể thơ truyền thống của dân tộc như lục bát, ngũ ngôn, thất ngôn…, các thể thơ tự do, thơ văn xuôi ngày càng khắng định vị trí của mình trong sự phát triển của thơ Việt Nam đương đại
Ngôn từ trong văn bản văn học không phải là vẻ đẹp của đồ trang sức hay trò chơi phù phiếm, mà là vẻ đẹp ánh lên từ đời sống, thông qua sự tinh luyện của nhà văn Lao động ngôn ngữ, đối với các nhà văn có trách nhiệm với nghề nghiệp, quả là một sự dày vò Vốn ngôn ngữ là tiếng nói ở dạng nguyên liệu, cần phải được những người thợ cả tài năng mài dũa, nhào nặn để tăng thêm khả năng tạo hình, gợi cảm, tính chính xác và sống động Nhà văn chọn lọc, cải biến, làm cho lời ăn tiếng nói trong sinh hoạt thường ngày trở thành ngôn ngữ nghệ thuật đậm đặc, nhiều hương vị, giàu tính thẩm mỹ Mỗi nhà văn đích thực thường có khuynh hướng sử dụng một số phương thức biểu hiện nào đó và có khả năng đi chệch khỏi chuẩn mực ngôn ngữ thông thường của ngôn ngữ toàn dân để tạo nên những thủ pháp diễn đạt mới A Tshekhov không quá lời khi cho rằng: “Nếu tác giả nào không có lối nói riêng của mình thì người đó sẽ không bao giờ là nhà văn cả”
2.1.2 Cấu trúc hình tượng trong văn bản
Bước vào văn bản văn học là đi vào một thế giới riêng biệt do nhà văn sáng tạo nên Thế giới đó không đồng nhất với thế giới có thực ngoài đời Không chỉ
Trang 36người đọc trước khi tiếp xúc với văn bản chưa hề quen thuộc với thế giới đó, mà ngay cả nhà văn trước khi cầm bút viết ra văn bản cũng chưa hình dung đầy đủ
về nó Vì vậy, khám phá văn bản văn học cũng là khám phá thế giới hình tượng
mà nhà văn đã sáng tạo nên Thế giới này được sản sinh ra cùng một lúc với sự sản sinh cấu trúc ngôn từ của tác phẩm
Thế giới hình tượng của văn bản bao gồm nhiều phương diện, trong đó nổi bật là hình tượng không gian, hình tượng thời gian và hình tượng con người
2.1.2.1 Hình tượng không gian
Trong văn bản văn học, không gian vừa là hình thức hiện hữu của con người, vừa là ký hiệu nghệ thuật thuộc về thế giới sáng tạo của người nghệ sĩ, bộc lộ cái nhìn của nhà văn trước đời người và người đời Không gian đó hợp thành từ thế giới đồ vật chung quanh con người, khung cảnh sinh hoạt, lễ hội, thiên nhiên với
cỏ cây hoa lá, bầu trời và mặt đất, mở rộng ra là cả vũ trụ với các vì tinh tú Vai trò của hình tượng không gian trong văn bản văn học không giản lược ở việc xác định nơi chốn diễn ra các sự kiện, nơi liên kết đường dây cốt truyện, nơi gặp gỡ và chia ly của các nhân vật Nó cũng không hạn chế ở việc tái hiện những đặc điểm của miền đất này hay xứ sở khác Không gian trong văn bản không đồng nhất với không gian hiện thực, mà trở thành một ký hiệu nghệ thuật để diễn đạt những phạm trù ở ngoài không gian, chẳng hạn để thể hiện tâm trạng của nhân vật hay để đánh giá nhân vật đó về mặt đạo đức – thẩm mỹ
Không gian nghệ thuật có thể là không gian thiên nhiên hay không gian sinh hoạt Và những không gian này luôn luôn gắn liền với tâm lý, tình cảm, ước
mơ, khát vọng của con người Trong Chiến tranh và hòa bình của L Tolstoi, khi
Andrey Bonconski ngã xuống trên chiến trường Austerlik, bầu trời cao vòi vọi với những đám mây lơ lửng giữa một khoảng không vô tận màu xanh biếc như hút lấy đôi mắt chàng Bầu trời đó gắn liền với tâm hồn Andrey đang hướng đến một cái gì cao cả, đối lập với những điều ti tiện, nhỏ bé, vô nghĩa bên dưới Sau này, một lần nữa, L Tolstoi lại miêu tả bức tranh thiên nhiên để biểu hiện tâm hồn Andrey: mùa xuân năm 1809, chàng đi qua khu rừng bạch dương mới nhú, cây sồi già giơ lên trời những cành khẳng khiu, trơ trụi Thiên nhiên đó
Trang 37chẳng khác nào tâm hồn cằn cỗi của Andrey: không ưu tư, không ước muốn, không dự tính gì nữa cả Nhưng rồi sau lần gặp gỡ Natasha Rostova trong một đêm trăng huyền diệu, Andrey trở về ngay khu rừng cũ, thì cây sồi già đã đâm chồi nẩy lộc, phủ một màu xanh mơn mởn chẳng khác nào tâm hồn chàng vừa sống lại
Không gian nghệ thuật có thể không gian mở hay không gian khép Chân trời, cánh đồng, khu vườn… thể hiện hình tượng không gian mở; ngôi, nhà, căn phòng, ngục thất… thể hiện hình tượng không gian khép; còn khung cửa là ranh giới giữa hai không gian đó
Khi sự vận động trong không gian có phương hướng thì xuất hiện một trong những hình tượng không gian quan trọng nhất là con đường Môtíp con đường trong tác phẩm văn học có ý nghĩa quan trọng vì nó là một yếu tố kết nối hệ thống hình tượng của văn bản Nó được sử dụng đặc biệt có hiệu quả trong trường hợp thế giới nghệ thuật xây dựng nên là một thế giới linh hoạt, có sự vận
động Chẳng hạn trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, môtíp con đường đã liên kết
những chặng đời của Thuý Kiều: con đường đi hội Đạp Thanh, con đường theo
xe Mã Giám Sinh, con đường đi trốn với Sở Khanh, con đường đến Chiêu Ẩn am…: tất cả đều nói lên con đường đoạn trường của số phận Thúy Kiều
M Bakhtin nhận xét rằng hiếm có tác phẩm văn học nào được tiếp cận mà không có một biến thể nào đó của môtíp con đường: “Trên con đường qua điểm mốc thời gian và không gian có sự đan chéo những tuyến không gian và thời gian của các số phận con người riêng biệt, đa dạng… Ở đây có thể xuất hiện những xung đột bất kỳ, những số phận va chạm và đan kết vào nhau Ở đây trật tự không gian và thời gian của đời người được kết hợp rất đặc biệt… Đó là điểm mắt xích và nơi diễn ra các sự kiện Ở đây thời gian tựa hồ như hoà nhập vào không gian và chảy theo không gian qua hình tượng con đường Từ đây hình thành nên những ẩn dụ phong phú, đa dạng và nhiều bình diện về hình tượng con đường: đường đời, bước lên con đường mới, con đường lịch sử…”1
1 M Bakhtin: “Thời gian và không gian trong tiểu thuyết” Tạp chí Những vấn đề văn học (tiếng Nga), No 3, 1974, tr 175
Trang 38Môtíp con đường là môtíp đa nghĩa và đa diện: con đường có thể là một hiện thực cụ thể của một không gian được miêu tả, cũng có thể là biểu tượng cho
sự phát triển nội tâm của nhân vật Thông qua môtíp con đường, có thể diễn đạt
về sự vận động lịch sử của nhân dân, dân tộc Như vậy, môtíp con đường có khả năng bộc lộ ý nghĩa của những sự kiện, hình ảnh được miêu tả, số phận và tâm lý nhân vật, thông điệp tư tưởng của tác giả
Trong văn xuôi nghệ thuật, môtíp con đường có thể giữ chức năng của một thực thể cụ thể, là nơi chốn diễn ra các sự kiện Nó cũng tham gia giải quyết xung đột cơ bản của cốt truyện và góp phần phát triển chủ đề về con đường đời của các nhân vật trong tác phẩm Hình ảnh con đường thường đi xuyên qua ranh giới các chương sách và thể hiện ý nghĩa sâu xa của toàn bộ tác phẩm
2.1.2.2 Hình tượng thời gian
Cũng như không gian, thời gian vừa là một hình thức hiện hữu, vừa là một hình thức tư duy của con người được diễn đạt bằng ngôn từ trong quá trình miêu
tả hoàn cảnh, tính cách, con đường đời của nhân vật
Hình tượng thời gian là nhân tố đảm bảo cho sự tiếp nhận toàn vẹn thế giới nghệ thuật và cấu trúc văn bản Điều này càng trở nên quan trọng vì nghệ thuật ngôn từ là nghệ thuật thời gian Về hình thức, văn bản nghệ thuật triển khai tuần
tự trong thời gian; còn về nội dung, văn bản đó phơi bày ra trước mắt người đọc một bức tranh không – thời gian của thế giới Từ đó, M Bakhtin đề xuất khái niệm “thời – không” (chronotov) trong văn học
Người ta có thể nói đến thời gian lịch sử trong tiểu thuyết Phan Trần Chúc
và Nguyễn Xuân Khánh, thời gian điền viên trong thơ Nguyễn Khuyến, thời gian phiêu lãng trong tiểu thuyết M Cervantès, thời gian huyền ảo trong văn xuôi G Marquez…
Hình tượng thời gian hiện diện trong văn bản không chỉ qua thời gian của các sự kiện được miêu tả mà còn qua thời gian trần thuật, thời gian kết cấu của văn bản Tài năng của nhà văn bộc lộ qua việc xử lý mối quan hệ giữa thời gian được trần thuật và thời gian trần thuật Trình độ tư tưởng và nghệ thuật của nhà
Trang 39văn được khẳng định khi thời gian không bị cô lập như một yếu tố riêng rẽ trong văn bản mà được thể hiện tự nhiên như hơi thở của đời sống và nghệ thuật
Trong khi tái hiện thế giới khách thể, hình tượng thời gian cũng đồng thời biểu hiện sự cảm nghiệm, cách nhìn của con người về thế giới Việc tìm hiểu hình tượng thời gian chỉ có ý nghĩa thực sự khi người nghiên cứu và giảng dạy không chỉ miêu tả lại sự miêu tả thời gian trong tác phẩm, mà còn tìm cách thiết lập mối quan hệ giữa hình tượng thời gian với những phạm trù và ý nghĩa triết lý Bởi vì, xét cho cùng, thời gian trong tác phẩm cũng là một ký hiệu nghệ thuật không đồng nhất với thời gian hiện thực
2.1.2.3 Hình tượng con người
Trong văn bản văn học, hình tượng con người là kết quả sự sáng tạo có tính chất hư cấu của tác giả thành những nhân vật có đời sống riêng
Hình tượng nhân vật gắn liền một cách mật thiết với cấu trúc ngôn từ trong văn bản: ngôn từ của con người đang hành động và ngôn từ của con người kể lại hành động đó Nhân vật không hiện hữu bên ngoài ngôn từ: đó là con người trong sách, con người trên trang giấy, con người qua những dòng chữ
Theo ý nghĩa đạo đức, nhân vật là một kiểu người đời để phân biệt với siêu nhân và thần thánh Con người chân chính được vũ trang bằng lòng can đảm, sự kiên nhẫn và đức hy sinh; còn siêu nhân thì bằng lý trí, thần thánh thì bằng niềm tin nồng nhiệt
Arnold Bennett có viết: “Cơ sở của văn xuôi đích thực là sự khắc hoạ các tính cách nhân vật và không còn gì nữa” Nhân định này, tuy có hơi phóng đại, nhưng nói lên tầm quan trọng của vấn đề nhân vật Một nghịch lý, như Todorov
đã chỉ ra, là phạm trù nhân vật cho đến nay vẫn là một phạm trù mơ hồ nhất của thi pháp học Sở dĩ như vậy là vì các nhà nghiên cứu phản ứng chống lại sự áp đặt của thuyết hình tượng, vốn xem khái niệm nhân vật như là hình tượng trung tâm của văn xuôi
Giữa nhân vật trong sách và con người ngoài đời có mối liên hệ mà ta không thể phủ nhận Nhưng không thể nhầm lẫn nhân vật trong văn xuôi hư cấu với con người sống thực Có trường hợp người ta đi tìm gốc tích của nhân vật, bổ
Trang 40sung thời gian vắng mặt trong sách của nhân vật (chẳng hạn, đi tìm quê hương bản quán của Chí Phèo; Chí Phèo làm gì trong thời gian ở tù…) Điều đó không phù hợp, vì vấn đề nhân vật trước hết là vấn đề ngôn ngữ, nó không tồn tại bên ngoài các con chữ, nó là một “thực thể trên giấy”, như Todorov đã nói
Tiếp xúc với văn bản nghệ thuật, người đọc tin rằng nhân vật là một con người có đời sống riêng, nhưng đời sống này được nhà văn sáng tạo ra theo những quy tắc trong phạm vi văn bản đó Quy tắc đó thay đổi tùy theo từng thời đại, khuynh hướng, trào lưu, trường phái… Mỗi hình tượng nhân vật đặc sắc luôn mang trong lòng nó sự kết hợp tinh tế và nhuần nhị giữa những điểm tương đồng
và những điểm dị biệt, để người đọc vừa nhận ra tính đồng nhất, vừa nhận ra tính
đa dạng của nó Khoa nghiên cứu văn học có thể khái quát nên những loại hình nhân vật (nhân vật chức năng, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng…) để nhận thức tính đồng dạng của con người thời đại, đồng thời phải luôn luôn ý thức rằng giá trị thẩm mỹ của nhân vật là sự khác biệt, độc đáo nơi hành động và tâm lý của
nó
Chẳng hạn, dưới nhãn quan của chủ nghĩa hiện thực, mỗi thời đại có những loại nhân vật tiêu biểu của nó: văn học Nga thế kỷ XIX có hình tượng con người thừa, hình tượng “nhân vật của thời đại chúng ta”; văn học Xô-viết thế kỷ XX có nhân vật người anh hùng, hình tượng “con người mới”; văn học Việt Nam thời
kỳ 1930-1945 có hình tượng người nông dân bị bách hại, người trí thức giằng xé lương tâm để giữ gìn phẩm giá; văn học Việt Nam thời kỳ 1945-1975 có hình tượng người chiến sĩ…
Vấn đề thi pháp nhân vật sẽ được đề cập chi tiết trong chương 3, bàn về văn xuôi hư cấu Ở đây, khi nói đến hình tượng con người như một hệ thống nhỏ nằm trong toàn bộ cấu trúc văn bản văn học, chúng ta không chỉ nói đến văn xuôi
mà còn nói đến kịch bản văn học và thơ trữ tình Nhân vật là yếu tố quan trọng, gắn liền với xung đột kịch Còn trong thơ, khái niệm “nhân vật trữ tình” không thể hiểu như khái niệm “nhân vật” của văn xuôi vốn có đời sống riêng, mà chính
là một biểu hiện của cái tôi tác giả Nhưng nói hình tượng con người thì cả thơ, kịch, văn xuôi hư cấu và không hư cấu đều có liên quan Trong thơ trữ tình, dù hình tượng một áng mây, một dòng sông, một cánh chim, một cành củi khô… đều thấp thoáng sau đó hình tượng con người Có thể nói tâm tình con người