Sinh sống trên cù lao cũng là một loại hình cư trú độc đáo của người Việt mà ở đó cư dân đã có sự thích nghi và sáng tạo riêng để hình thành những đặc trưng về ẩm thực, ăn mặc, tín ngưỡn
Trang 1-
LÊ TRƯƠNG PHƯƠNG THẢO
LOẠI HÌNH CƯ TRÚ TRÊN CÙ LAO CỦA NGƯỜI VIỆT
(TRƯỜNG HỢP CÙ LAO RÙA, TỈNH BÌNH DƯƠNG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
MÃ SỐ: 60.31.60
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS PHAN THỊ YẾN TUYẾT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2013
Trang 2MỤC LỤC
DẪN NHẬP 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục đích nghiên cứu 5
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4.1 Đối tượng nghiên cứu 7
4.2 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 8
5.1 Ý nghĩa khoa học 8
5.2 Ý nghĩa thực tiễn 9
6 Cơ sở lý luận 9
6.1 Khái niệm khoa học 9
6.2 Cơ sở lý thuyết 10
7 Phương pháp nghiên cứu 10
8 Cấu trúc của luận văn 12
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ CÙ LAO RÙA 13
1.1 Cơ sở lý luận 13
1.1.1 Khái niệm 13
1.1.1.1.Cù lao: 13
1.1.1.2 Cư trú trên cù lao 14
1.1.1.3 Khái niện tín ngưỡng, tôn giáo 15
1.1.2 Lý thuyết 16
1.1.2.1 Sinh thái văn hoá (Cultural ecology) 16
1.1.2.2 Sinh thái tộc người (Ethno – Ecology) 17
1.1.2.3 Tổng thể văn hóa tộc người 17
1.2 Khái quát về cù lao Rùa 18
1.3 Khái quát về cư dân cù lao Rùa 21
1.3.1 Vết tích của cư dân thời tiền –sơ sử 21
1.3.2 Cư dân Việt ở cù lao Rùa 23
Trang 31.4 Hoạt động kinh tế của cư dân ở cù lao Rùa 27
1.4.1 Nông nghiệp 27
1.4.2 Thương mại- dịch vụ 31
1.5 Các tổ chức phi quan phương ở cù lao Rùa 32
1.5.1 Hồi ấp 32
1.5.2 Ban hộ niệm 34
Tiểu kết chương 1 34
Chương 2: ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT CỦA CƯ DÂN CÙ LAO RÙA 35
2.1 Cơ sở tín ngưỡng - tôn giáo 35
2.1.1 Đình 36
2.1.2 Chùa 40
2.1.3 Miếu 43
2.2 Nhà ở 43
2.2.1 Nhà ba gian hai chái. 43
2.2.2 Nhà ba gian không chái 47
2.2.3 Nhà một gian trệt 48
2.3 Trang phục 50
2.4 Ẩm thực 51
2.5 Việc đi lại 56
Tiểu kết chương 2 58
Chương 3: ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA CƯ DÂN CÙ LAO RÙA 60
3.1 Phong tục tập quán 60
3.1.1 Hôn lễ 60
3.1.2 Tang lễ 66
3.1.3 Lễ tục ngày Tết Nguyên đán 74
3.2 Tín ngưỡng trong gia đình 77
3.2.1 Thờ cúng tổ tiên 77
3.2.2 Thờ cúng gia thần 81
3.2.2.1 Thờ cúng ông Táo 81
3.2.2.2 Thờ cúng Ông Địa- Thần Tài 83
3.2.2.3 Thờ cúng Thần độ mạng 83
Trang 43.2.3 Tục thờ cúng ở bàn Thiên 84
3.3 Tín ngưỡng trong dòng họ 85
3.3.1 Cúng giỗ họ 85
3.3.2 Cúng Việc lề (cúng đất) 86
3.4 Tín ngưỡng trong cộng đồng 91
3.4.1 Miếu và lễ hội miếu 91
3.4.2 Đình và lễ hội đình 93
3.4.3 Chùa 96
3.4.4 Tín ngưỡng Đạo Ông 96
Tiểu kết chương 3 102
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHẦN PHỤ LỤC Phụ lục 1: Bản đồ, sơ đồ………1
Phụ lục 2: Hình ảnh……… 3
Phụ lục 3: Tư liệu tham khảo… ……… 15
Phụ lục 4: Danh sách và biên bản phỏng vấn……… 29
Trang 5DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Cù lao Rùa, còn gọi cù lao Thạnh Hội là một cù lao nhỏ trong hệ thống cù lao
nằm rải rác trên sông Đồng Nai (nay thuộc xã Thạnh Hội, tỉnh Bình Dương) Cư trú
trên cù lao sông là một trong những loại hình cư trú đặc thù của cư dân Nam Bộ
Người dân sống giữa bốn bề sông nước nên việc đi lại khó khăn, do sự giao lưu văn
hoá với đất liền có nhiều hạn chế, có lẽ vậy mà cho tới nay cù lao Rùa vẫn còn lưu
giữ được những nét văn hoá cổ xưa của Nam Bộ Hiện nay, do sự thay đổi của dòng
chảy cộng với nạn khai thác cát trái phép ở lòng sông nên diện tích cù lao Rùa ngày
càng bị thu hẹp Điều đáng lo hơn là ở phía Bắc cù lao, vị trí ngay trường tiểu học
hiện nay chiều rộng bề mặt chỉ còn khoảng 70 mét Theo người dân ở đây vị trí này
có nguy cơ sẽ bị đứt gãy do sự xâm thực của nước sông và sẽ tạo thành hai cù lao
nhỏ thậm chí có nguy cơ mất đi, không còn giống như hiện nay Tương lai không xa
chưa biết cù lao này sẽ có hình dạng như thế nào, chính vì vậy chúng tôi nghĩ việc
nghiên cứu cù lao Rùa trong thời điểm hiện nay là cần thiết và cấp bách để ghi nhận
trước khi nó thay đổi hay mất đi Đây cũng là lý do chúng tôi chọn đề tài này để
khảo sát
Cù lao Rùa là một trong số các di tích khảo cổ tiền sử ở vùng lưu vực sông
Đồng Nai mà có nhà khảo cổ học đề nghị gọi là “Văn hóa cù lao Rùa” để chỉ chung
các di tích văn hóa khảo cổ thời tiền sử ở vùng Đông Nam Bộ Ngày 22/1/2010 di
chỉ khảo cổ ở cù lao Rùa đã được nhà nước công nhận và xếp hạng di tích khảo cổ
cấp quốc gia Chính vì đặc điểm quan trọng về lịch sử, văn hóa này mà chúng tôi
chọn cù lao Rùa để khảo sát
Theo kết quả của khảo cổ học thì cù lao Rùa là nơi sinh sống của cư dân cổ
cách nay hơn 2500 năm, vì thế nên ở đây có bề dày lịch sử, văn hoá lâu đời Cù lao
Rùa chỉ rộng hơn 400 ha, trên đó có 628 hộ dân, không ít gia đình đã sinh sống lâu
đời trên mảnh đất này
Trang 6Tuy là vùng đất có bề dày về lịch sử, văn hoá nhưng đến nay cù lao Rùa vẫn còn ít được biết đến và chưa được nghiên cứu sâu về lịch sử, văn hoá, con người nơi
đây, vì thế chúng tôi đã chọn đề tài "Loại hình cư trú trên cù lao của người Việt
(trường hợp Cù lao Rùa, tỉnh Bình Dương)" để làm luận văn cao học ngành Việt
Nam học
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu những đặc điểm về địa lý, lịch sử, cư dân và các đặc trưng về kinh
tế, văn hoá, xã hội của cù lao Rùa nhằm hiểu thêm về văn hoá làng xã ở vùng đất cù lao Sinh sống trên cù lao cũng là một loại hình cư trú độc đáo của người Việt mà ở
đó cư dân đã có sự thích nghi và sáng tạo riêng để hình thành những đặc trưng về ẩm thực, ăn mặc, tín ngưỡng…Nghiên cứu cù lao Rùa để hiểu được tác động của môi trường sinh thái, hoàn cảnh địa lý đối với việc hình thành cách sống, cách làm ăn kinh tế cũng như các hình thức sinh hoạt văn hoá khác Nguyên nhân trước tiên vì cù lao nằm tách biệt với đất liền, chung quanh sông nước cách trở nên đời sống của cư dân cù lao tương đối chậm biến đổi, còn ít nhiều tồn tại những sinh hoạt cổ xưa Tìm hiểu sự thay đổi về văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của cư dân cù lao Rùa hiện nay so với trước kia để thấy được quá trình biến đổi về văn hoá, xã hội trên cù lao này
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nam Bộ có lịch sử rất lâu đời, đối với cư dân văn hóa Đồng Nai thì vùng đất này có niên đại từ 4000 năm đến 2500 năm, nhưng đối với cộng đồng người Việt thì Nam Bộ chỉ mới có hơn 300 năm khai phá Nam Bộ đã thể hiện là một vùng đất giàu tiềm năng, thiên nhiên đa dạng, phong phú, nguồn sản vật dồi dào, cư dân năng động, sáng tạo Tất cả điều đó làm cho vùng đất Nam Bộ trở thành nơi thu hút nhiều cư dân đến sinh sống cũng như lôi cuốn nhiều nhà nghiên cứu quan tâm khảo sát Trong lịch sử nghiên cứu vấn đề chúng tôi chia ra từng nhóm công trình liên quan đến đề tài luận văn này
- Nhóm công trình viết về vùng đất Bình Dương
Trang 7Thời nhà Nguyễn, các công trình nghiên cứu có liên quan ít nhiều đến Nam
Bộ nói chung và Bình Dương nói riêng thường được viết dưới hình thức biên khảo,
dư địa chí gắn liền với lịch sử khai khẩn vùng đất này như: Phủ biên tạp lục của Lê Qúy Đôn đã đề cập đến sản vật và phong tục của đất Gia Định xưa (nay là Nam Bộ); tác phẩm “Gia Định Thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức (1820) trình bày chi tiết
về địa lý, núi sông, con người, phong tục tập quán, thổ sản, đền chùa, đô thị, chợ búa, của vùng Gia Định xưa Đại Nam nhất thống chí (1865) (phần Lục tỉnh Nam kỳ)
do các sử gia nhà Nguyễn biên soạn Đây là những công trình có giá trị lịch sử, văn hóa để tìm hiểu về vùng đất Bình Dương xưa
- Nhóm công trình liên quan về cù lao Nam Bộ nói chung và cù là Rùa nói riêng
Tài liệu viết về đời sống của các cư dân trên cù lao ở Nam Bộ dưới góc độ sinh thái, địa- văn hóa vẫn là mảng đề tài cho tới nay chưa được nghiên cứu nhiều Chúng tôi tiếp cận vài công trình như: “Cù lao Năm Thôn”, của Trương Ngọc Tường (1987, NXB Tiền Giang ), “Cù lao Mây Lục Sĩ Thành” của tác giả Trương Nguyên Tuệ (1991) Đây là hai tập tài liệu sơ khảo về lịch sử hình thành các cù lao nêu trên Qua đó cũng nói về phong tục, đời sống, sinh hoạt của người dân trên cù lao Nghiên cứu về cù lao và loại hình cư trú trên cù lao ở Nam Bộ có bài “Một số loại hình cư trú của cư dân Việt ở Nam Bộ” của Phan Thị Yến Tuyết, 2003 Luận văn cao học ngành dân tộc học (trường ĐH KHXH & NV) của Bùi Thị Phương Mai viết về “Đời sống kinh tế- văn hóa- xã hội của các cư dân trên cù lao (Trường hợp cù lao Phú Tân- tỉnh An Giang)”, (2007) Nội dung luận văn khảo sát cù lao Phú Tân, giới thiệu đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của các cộng đồng dân tộc người Việt, người Chăm, người Hoa sống trên cù lao này Trong quyển “Địa chí tỉnh Bình Dương”, (NXB Chính trị Quốc gia, 2010) có đề cập những phong tục, những nét văn hóa của đất và người Bình Dương, trong đó có cù lao Rùa
Trang 8Riêng về lĩnh vực khảo cổ học ở cù lao Rùa khá nổi bật Nguồn tài liệu này khẳng định cù lao Rùa tuy ở giữa sông nhưng là điểm tập trung, sinh sống của cư dân
cổ xưa Một số bài đề cập đến khảo cổ học ở cù lao Rùa như “Khai quật di tích cù lao Rùa- Tân Uyên: Di tích có niên đại cách nay khoảng 3500 năm” của Văn Thuỳ Trang, đăng trên báo Bình Dương năm 2003 Bài “Những phát hiện mới tại di tích khảo cổ cù lao Rùa mang đậm dấu ấn tiền sử” của Văn Thuỳ Trang, đăng trên báo Bình Dương năm 2003 Hay “Di tích khảo cổ cù lao Rùa nhìn từ góc độ khoa học” của Khoa- Công, trên báo Bình Dương năm 2003 Bài “Di tích khảo cổ cù lao Rùa: Hơn 100 năm phát triển và nghiên cứu” của Văn Thuỳ Trang, đăng trên báo Bình Dương năm 2006 Cũng trong năm 2006 có công trình khảo cổ học của Bùi Chí Hoàng: “Điều tra, thám sát, khai quật, giám định nghiên cứu khảo cổ học tiền sử Bình Dương”, nội dung nghiêng về vấn đề khảo cổ học tại một số di tích khảo cổ ở Bình Dương trong đó có cù lao Rùa Công trình này có kết luận về đời sống vật chất, tinh thần của cư dân cổ ở cù lao Rùa cách đây hơn 3.000 năm Còn về mảng văn hoá,
xã hội thì cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu cụ thể, toàn diện
về cư dân ở cù lao Rùa
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi đề cập đến đời sống kinh tế, văn hóa,
xã hội của của cư dân trên cù lao Rùa để thấy được cuộc sống vùng sông nước của một bộ phận cư dân Nam Bộ Nội dung luận văn chủ yếu dựa vào tài liệu điền dã của chúng tôi qua suốt hơn 18 tháng tại cù lao Rùa, thực hiện từ phương pháp quan sát tham dự và phỏng vấn sâu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng cư dân ở cù lao Rùa, xã Thạnh Hội, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, qua khía cạnh: văn hoá vật chất như nhà cửa, trang phục, ẩm thực, phương tiện lưu thông, phương thức mưu sinh và văn hoá tinh thần như những sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo trong đời sống gia đình và cộng đồng,
Trang 9-Đất nước thống nhất, xã hội ổn định về chính trị, tư tưởng
-Các mốc địa giới hành chính từng địa phương được phân chia lại
Trên sông Đồng Nai còn có các cù lao khác như: cù lao Phố, cù lao Bạch Đằng, cù lao Tân Triều… nhưng chúng tôi chưa khảo sát cũng như chưa có điều kiện
để so sánh với cù lao Rùa Ở luận văn này chúng tôi chỉ tìm hiểu đời sống văn hóa vật chất, tinh thần của người dân cù lao Rùa … nhằm khái quát ra loại hình cư trú trên cù lao
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1 Ý nghĩa khoa học:
- Cư trú trên cù lao là loại h́nh cư trú có những đặc điểm khá khác biệt về kinh
tế, văn hoá, tổ chức đời sống xã hội… so với loại hình cư trú khác trên đất liền Vì thế luận văn này cung cấp tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu về đời sống, kinh
tế, văn hoá của cư dân cù lao Rùa nói riêng cũng như cư dân sinh sống trên những
cù lao khác trên đất nước Việt Nam Thêm vào đó, việc tiếp cận những lý thuyết như: sinh thái văn hóa, văn hóa vật chất, văn hóa tộc người, vùng văn hóa… trong luận văn sẽ góp phần phân tích, làm rõ thêm về các thuyết này
- Nội dung luận văn khảo sát về cuộc sống vật chất và tinh thần của cộng đồng
cư dân ở cù lao Rùa, một địa phương ở tỉnh Bình Dương trong một giai đoạn nhất định để góp phần nghiên cứu về đất nước và con người Việt Nam Qua đó nhìn thấy được sự vận động và phát triển của một cộng đồng dân cư trong đó có những yếu tố tích cực cần giữ gìn, phát huy cùng những hạn chế cần điều chỉnh hoặc loại bỏ
Trang 105.2 Ý nghĩa thực tiễn:
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể góp phần cung cấp thông tin về cơ
sở thực tiễn cho các cơ quan chức năng ở địa phương
-Nội dung luận văn góp phần phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy ở các trường cao đẳng, đại học
6 Cơ sở lý luận
6.1 Khái niệm khoa học:
- Cù lao: Cù lao là từ dùng phổ biến vùng Nam Trung bộ và Nam Bộ, phiên
âm từ tiếng Mã Lai “poulo” nghĩa là đảo [6,11] Ở Nam Bộ, cù lao được quan niệm theo nhiều cách khác nhau Cư dân Nam Bộ gọi những hòn đảo nhỏ trên biển là hòn hoặc cù lao hay những cồn (bãi đất bồi) trên biển hoặc trên sông được tích tụ lâu ngày, diện tích lớn dần, đất đai được thuần hóa, có thể canh tác được cũng được gọi
là cù lao Cù lao trên sông và cù lao trên biển được phân biệt dựa vào tính chất cấu tạo của nó và hoạt động đời sống của con người trên đó.[6,21]
- Loại hình cư trú: Do điều kiện về môi trường thiên nhiên, thổ nhưỡng, địa
chất thì con người mỗi vùng đất sẽ hình thành nên những hình thái cư trú khác nhau
Ở Nam Bộ có những loại hình cư trú như: cư trú ven sông, cư trú trên giồng, cư trú ở miệt kinh, miệt thứ, cư trú ven chân núi, cư trú ven biển, cư trú vùng rừng ngập nước, cư trú trên cù lao.[27]
- Loại hình cư trú trên cù lao: Cù lao thường được cấu tạo bởi phù sa tích lâu
ngày theo vòng xoáy của các con sông giao nhau, khi nổi cao trên mặt sông người
dân gọi là cồn, lâu dần cồn phát triển thành cù lao Con người đến khai phá, sinh
sống lâu đời, đông đúc dần Cư trú trên cù lao là một loại hình sinh sống đặc trưng của Nam Bộ Đất cù lao do phù sa các con sông bồi đắp nên đất đai màu mỡ, có nguồn nước ngọt để sinh hoạt, thuận lợi cho canh tác nông nghiệp Bên cạnh đó còn
có nguồn thực phẩm dồi dào là cá tôm, các loại rau ven sông Vì thế đây là những vùng mà lưu dân Việt đi khẩn hoang chọn làm nơi cư trú sớm nhất.[27, 11]
Trang 116.2 Cơ sở lý thuyết
Để tìm hiểu về đời sống kinh tế- văn hoá- xã hội của cư dân cù lao Rùa chúng tôi dựa trên các cơ sở lý thuyết và khái niệm sau:
Sinh thái văn hoá (cultural ecology): Sinh thái văn hóa là lý thuyết của nhà
nhân học Mỹ Julian Haynes Steward (1902-1972) Theo ông, thì con người sống trong sự tương tác giữa môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Con người có thể tồn tại, thích nghi với môi trường thiên nhiên thông qua văn hoá [28, 3]
Sinh thái tộc người: Sinh thái tộc người là một dạng thức của sinh thái nhân
văn (Human ecology) Đó là hệ sinh thái của con người, chịu sự tác động không chỉ
môi trường tự nhiên, mà cả môi trường xã hội nữa (kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá) Con người là chủ thể của sinh thái nhân văn, tạo ra sinh thái nhân văn và chịu
sự tác động của sinh thái nhân văn.[22]
Tổng thể văn hóa tộc người: Tổng thể văn hoá tộc người là sắc thái văn hoá
đặc trưng riêng của một dân tộc, mang tính truyền thống lâu đời Muốn tìm hiểu văn hóa của một dân tộc, một cộng đồng cư dân nào cần phải hiểu toàn bộ “Tổng thể văn hóa tộc người”, nếu không sẽ có cái nhìn phiến diện về một nền văn hóa Tổng thể văn hóa tộc người gồm ba lĩnh vực: văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, văn hóa xã hội.[28, 5]
7 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này chúng tôi đã thu thập, tập hợp các nguồn tư liệu thành văn như sách, báo, những bài nghiên cứu có liên quan đến cù lao Rùa; các văn bản, báo cáo về tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh Bình Dương có liên quan đến cù lao Rùa Ngoài ra chúng tôi còn đi điền dã ở cù lao Rùa để tìm hiểu cuộc sống của cư dân Trong quá trình khảo sát chúng tôi thực hiện các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp quan sát tham dự (participant- observation): Phương pháp
quan sát tham dự là phương pháp mà nhà nghiên cứu đồng thời vừa quan sát, vừa
Trang 12tham dự vào các hoạt động của cộng đồng cư dân trong một khoảng thời gian nhất định để có thể hiểu sâu hơn về đối tượng nghiên cứu.[31]
Chúng tôi đã tham dự trực tiếp hoặc gián tiếp những sinh hoạt kinh tế, văn hóa, xã hội của cư dân cù lao Rùa để tìm hiểu về cộng đồng này
- Phương pháp phỏng vấn sâu (in- depth interview): Phương pháp phỏng vấn
sâu là những cuộc đối thoại có nội dung sâu giữa nhà nghiên cứu và người cung cấp thông tin nhằm tìm hiểu cuộc sống, kinh nghiệm và nhận thức của người cung cấp thông tin thông qua chính ngôn ngữ của người ấy
- Phương vấn phỏng vấn lịch sử qua lời kể (hoặc phỏng vấn hồi cố- oral
history): Phương pháp phỏng vấn lịch sử qua lời kể là phỏng vấn để thu được nguồn
tài liệu hồi ức từ những người có trí nhớ nhất định về những điều đã xảy ra với họ hay với cộng đồng của họ trong quá khứ Họ có khả năng hiểu được thực tế đã xảy ra với họ trong bối cảnh lịch sử và xã hội về những sự kiện liên quan đến cá nhân, gia đình và cộng đồng của họ Trong luận văn này chúng tội kết hợp phương pháp phỏng vấn sâu và phỏng vấn lịch sử qua lời kể để tìm hiểu cuộc sống người dân diễn ra trong quá khứ và hiện nay Các phương pháp này giúp đạt được kết quả khoa học vì những tư liệu phỏng vấn đó thể hiện những quan điểm của nhiều tầng lớp khác nhau
và nó là những thông tin tiếp nhận trực tiếp (chính cấp) và gián tiếp (thứ cấp) những điều mà người nghiên cứu quan tâm Chúng tôi đã thực hiện 15 cuộc phỏng vấn bao gồm nhiều thành phần cư dân tại cù lao như các cán bộ xã, huyện, ban văn hoá xã hội, những người là thành viên của ban Quý tế ở đình, miếu ; người cao tuổi, thanh niên nam nữ …về các vấn đề liên quan đến nội dung luận văn Thông tin có được từ các cuộc phỏng vấn nêu trên bao gồm ký ức và cuộc sống hiện tại của những người
“trong cuộc” và người “ngoài cuộc”, những người sống lâu đời và người mới đến Tất cả mọi người đều có vai trò tham gia vào toàn bộ lịch sử và cuộc sống của họ [31] Từ những thông tin thu thập được giúp chúng tôi hiểu được nhận thức cũng như hoạt động cụ thể của người dân trong đời sống thường ngày ở gia đình cũng như trong đời sống sinh hoạt văn hoá của cộng đồng
Trang 13- Phương pháp nghiên cứu liên ngành (Interdisciplinary research):
Phương pháp nghiên cứu liên ngành là phương pháp kết hợp nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau để nghiên cứu và dựa trên thành tựu của ngành khác liên quan đến đề tài nghiên cứu để phân tích Phương pháp này phát triển từ giữa thế kỷ XX và ngày càng trở thành xu hướng quan trọng trong nghiên cứu khoa học Trong phương pháp liên ngành phải có một ngành chính, còn các ngành khác sẽ bổ trợ cho ngành
đó [31]
Trong luận văn này chúng tôi áp dụng phương pháp liên ngành và xác định Việt Nam học là ngành chính kết hợp với các ngành khoa học khác là khảo cổ học, văn hoá học, dân tộc học/ nhân học để bổ trợ nhằm giúp việc khảo sát thuận lợi hơn
8 Cấu trúc của luận văn
Luận văn bao gồm :
Dẫn nhập
Chương 1: Cơ sở lý luận và khái quát về cù lao Rùa
Chương 2: Đời sống vật chất của cư dân cù lao Rùa
Chương 3: Đời sống tinh thần của cư dân cù lao Rùa
Trang 14Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ CÙ LAO RÙA
(XÃ THẠNH HỘI, TỈNH BÌNH DƯƠNG)
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1.Cù lao:
Theo từ điển Tiếng Việt cù lao là những hòn đảo nhỏ trên sông hoặc trên biển.
Cù lao trên sông ở Nam Bộ được kiến tạo bởi nhiều yếu tố như: ở ngã ba các con sông lớn, do đặc tính của sức nước và các luồng nước chảy, làm phù sa tích tụ với khối lượng lớn, tạo nên các bãi cồn, lâu dần hình thành những cồn, lâu ngày đất cồn được tôn cao, dần dần đất cứng hơn và trở thành đất cù lao Quá trình bồi đắp này khá nhanh, khoảng 100 năm trở lại, trong một đời người, có thể thấy một bãi bồi hoang vu ở sông trở thành một cù lao Đất bồi ở đây chủ yếu là đất pha cát màu mỡ Mặt đất cồn thời kỳ đầu phủ đầy cây và thực vật chân trong nước, thích hợp với bùn, sình Người ta còn cắm chà, cắm bần…trên đất cồn để giữ phù sa cho đất, biến đất cồn thành đất canh tác Qua nhiều năm, đất phù sa tích tụ, bồi đắp càng nhiều và chắc hơn, nên người ta gọi là “đất vững” [27, 11]
Người ta cũng phân biệt giữa đất cồn và đất cù lao Đất cồn thường thấp và ngang với mực nước bình thường nên người ta phải đắp đê bao, còn đất cù lao thường cao hơn mặt nước trung bình thường ngày nên sự đe doạ của thủy triều không đáng ngại Tuy nhiên, về mặt cấu tạo thì cồn và cù lao đều như nhau, nhiều nơi cư dân gọi chung đều là cồn, hoặc là cù lao, nên hai từ này gần như chỉ là một [27, 11]
Ngoài ra, ở Nam Bộ cò một dạng cấu tạo cù lao khác, đó là một vùng đồng bằng nhưng bị dòng chảy của các con sông chia cắt, bao bọc chung quanh nên trở thành một: ốc đảo”, một cù lao giữa bốn bề sông nước Những cù lao này hàng năm
Trang 15vẫn liên tục được phù sa các con sông bao quanh bồi đắp thêm như dạng cù lao thứ nhất [6, 21]
Do được bồi đắp bởi phù sa của các con sông nên đất đai ở cù lao rất màu mỡ Nguồn nước ngọt quanh năm, thủy sản dồi dào ở cù lao cũng là điều kiện thuận lợi đáp ứng nhu cầu đảm bảo đời sống con người về nguồn thực phẩm, nước sinh hoạt,
do đó cù lao sông là loại hình cư trú được cư dân Nam Bộ ưa chuộng, mặc dù muốn sinh sống được bên cù lao, người dân phải bỏ nhiều công sức khai phá bởi khi còn là đất hoang, cù lao đầy cây cối rậm rạp, thú dữ như cọp, sấu, trăn, rắn độc
1.1.1.2 Cư trú trên cù lao
Đây là một loại hình cư trú đặc trưng của Nam Bộ do nơi đây có hệ thống cồn, cù lao rất sức phong phú như hệ thống cù lao chi chít ở đồng bằng sông Cửu Long như cù lao Thới Sơn, cù lao Tân Phong, cù lao Cái Thia, cù lao Cái Tắt, cù lao Thi Hàn, cù lao Ba Lăng, cù lao Cát, cù lao Cồn Cò, cù lao Dài, cù lao Giêng, cù lao Dung, cù lao Cái Vừng, cù lao Giêng, cù lao Ông Hổ…Dọc theo sông Đồng Nai thì
có các cù lao như cù lao Bạch Đằng, cù lao Tân Triều, cù lao Rùa, cù lao Tân Chánh,
cù lao Phố, cù lao Ông Còn, cù lao Long Phước, cù lao Đại Phước Đất cù lao do phù
sa các con sông bồi đắp nên đất đai màu mỡ, có nguồn nước ngọt để sinh hoạt, thuận lợi cho canh tác nông nghiệp Bên cạnh đó còn có nguồn thực phẩm dồi dào là cá tôm, các loại rau ven sông Vì thế đây là những vùng mà lưu dân Việt đi khẩn hoang chọn làm nơi cư trú sớm nhất.[27, 11]
Loại hình cư trú là hệ quả của việc thích ứng với điều kiện địa lý, thiên nhiên tại chỗ Trong mỗi loại hình cư trú này lại qui định những đặc điểm sinh hoạt đời sống khác nhau Thông qua việc tìm hiểu về đời sống kinh tế- văn hóa- xã hội của cư dân trên cù lao, là một chứng minh sinh động nhất về hình thái cư trú trên cù lao Vì vậy, khi tìm hiểu về đặc điểm sinh hoạt đời sống của cư dân ở vùng cù lao (trường hợp cù lao Rùa, xã Thạnh Hội, huyện Tân Uyên tỉnh Bình Dương) thì không thể không đề cập đến các yếu tố địa lý, môi sinh, thiên nhiên, lịch sử và quá trình hình thành các cộng đồng cư dân trên vùng đất này
Trang 161.1.1.3 Khái niện tín ngưỡng, tôn giáo
Tại Việt Nam các nhà khoa học thể hiện hai xu hướng khi đề cập đến tín ngưỡng
và tôn giáo Trong xu hướng thứ nhất quan niệm tín ngưỡng và tôn giáo khác nhau,
là hai cấp độ khác nhau Tín ngưỡng là một cách từ thực tế cuộc sống cộng đồng, con người ý thức về một dạng thần linh nào đó rồi cộng đồng đó tin theo, tôn thờ, lễ bái, cầu mong cho hiện thực cuộc sống, tạo thành một nếp sống xã hội theo niềm tin thiêng liêng ấy Như vậy, tín ngưỡng ở nội dung thứ nhất này không phải là tôn giáo,
dù là tôn giáo dân tộc vì ở đây không hề có giáo chủ, giáo lý, giáo hội Cơ sở tôn giáo ở đây không phải là nơi giảng kinh truyền đạo mà chỉ là nơi diễn ra thờ tự, lễ hội Xu hướng thứ hai quan niệm tín ngưỡng tôn giáo là một, chỉ là tôn giáo (chia ra tôn giáo sơ khai, tôn giáo hiện đại…), không chú trọng cấp độ giữa tín ngưỡng và tôn giáo, đặc biệt không đồng tình với khái niệm tín ngưỡng dân gian (Đặng Nghiêm Vạn)” [29,10]
Về mặt tâm linh, thông qua các nghi lễ thực hành tôn giáo con người bày tỏ niềm tin và tình cảm sâu sắc của mình đối với lực lượng siêu nhiên vô hình, cũng qua
đó con người thoả mãn những nhu cầu và khát vọng của họ trong cuộc sống trần tục
Về mặt xã hội, những chuẩn mực đạo đức được quy định trong giáo lý, giáo luật có tác dụng điều chỉnh hành vi ứng xử của các tín đồ trong cuộc sống Bởi vậy, đã có nhiều ý kiến đồng nhất tín ngưỡng với tôn giáo Hoặc các công trình nghiên cứu của Đặng Nghiêm Vạn thường sử dụng thuật ngữ tôn giáo để chỉ các hiện tượng biểu thị niềm tin đối với lực lượng siêu nhiên, kể cả niềm tin vào linh hồn người chết Đặng Nghiêm Vạn đã coi hiện tượng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam là tôn giáo dân tộc Đây
là quan điểm khá phổ biến của các học giả hiện nay khi nghiên cứu về thờ cúng tổ tiên của người Việt Các nhà khoa học cũng chỉ ra sự khác nhau giữa tôn giáo với tín ngưỡng về hình thức biểu hiện và trình độ tổ chức còn về bản chất thì không có sự khác biệt đáng kể “Tại Việt Nam thuật ngữ về tôn giáo và những thuật ngữ liên quan như tín ngưỡng, tín ngưỡng dân gian, niềm tin vào tôn giáo, đạo, thờ cúng.… được
Trang 17hiểu và sử dụng chưa nhất quán, mỗi nhà nghiên cứu vận dụng theo cách đặt vấn đề của mình, điều này rất khó khăn cho công tác giảng dạy, nghiên cứu, cũng như những công tác thực tiễn khác.” [29,10] Tuy nhiên năm 2004 đã có “Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo” của Ban Tôn giáo Chính phủ với quan điểm tách riêng tín ngưỡng
và tôn giáo Cụ thể là Ban Tôn giáo phân biệt rõ hai lĩnh vực của tín ngưỡng và tôn giáo trong Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (có dấu phẩy ở giữa) và qua điều 3 của Pháp lệnh quy định rõ hoạt động của tín ngưỡng khác hoạt động và tổ chức của tôn giáo như sau:
“-Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên, tưởng niệm và
tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng, thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hoá, đạo đức xã hội
- Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi và
tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận.”[29,12 ]
Vì những lý do trên trong luận văn chúng tôi sẽ xem việc thờ cúng ông bà, cúng đình, miếu… là tín ngưỡng và hoạt động tín ngưỡng
1.1.2 Lý thuyết
1.1.2.1 Sinh thái văn hoá (Cultural ecology): Sinh thái văn hóa là sự trải
nghiệm của con người khi thích nghi với môi trường thiên nhiên cụ thể theo những
cách khác nhau và sáng tạo nên những dạng thức văn hóa Người nào cũng phải sinh sống trong một môi trường tự nhiên, thế giới họ có thể trải nghiệm thông qua các giác quan nhưng họ sẽ nhận thức nó theo nhu cầu thích nghi và bối cảnh văn hóa của họ (James Spradley & David W.Mc Curdy, 2003) [28,3]
Sinh thái văn hoá là quá trình một tộc người thích nghi với môi trường tự nhiên xung quanh, cùng với mội trường xã hội Sinh thái văn hoá của một tộc người còn là sự nhận thức về thế giới quan, phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt,
Trang 18cấu trúc xã hội, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán…Trong đó con người phải thích nghi với môi trường sinh thái tự nhiên, bao gồm đất đai, sông suối ao hồ, rừng rậm, biển cả…cùng với hệ thống động, thực vật, điều kiện khí hậu và các nguồn tài nguyên tự nhiên khác Thông qua sự nhận thức hợp lý về môi trường sinh thái tự nhiên, con người quyết định phương thức sản xuất và lựa chọn hình thức cư trú, hành
vi ứng xử và khế ước nhất định với thế giới tự nhiên (Nguyễn Minh Đức, Sinh thái văn hóa- xu hướng nghiên cứu mới ở VN).[28,4]
1.1.2.2 Sinh thái tộc người (Ethno - ecology): Sinh thái tộc người là sự tổng
hợp của các nhân tố tự nhiên và nhân văn của một tộc người hay nhóm dân tộc vốn
có sự đồng nhất về môi trường sống, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, từ đó hình thành nên hệ thống tri thức bản địa về ứng xử môi trường, ứng xử xã hội và truyền thống văn hoá Hai nhân tố cơ bản của sinh thái tộc người là :
- Môi trường tự nhiên sinh tồn của tộc người
- Môi trường xã hội và văn hoá của tộc người
Một khi ở đâu có sự tương đồng về hai nhân tố đó thì ở đó tồn tại và tác động của nhân tố sinh thái tộc người [22]
1.1.2.3 Tổng thể văn hóa tộc người: Tổng thể văn hoá tộc người là sắc thái
văn hoá đặc trưng riêng của một dân tộc, mang tính truyền thống lâu đời Tổng thể văn hóa tộc người gồm ba lĩnh vực:
-Văn hóa vật chất (material culture) là tổng hòa tất cả sản phẩm vật chất do lao động sáng tạo của con người tạo nên trong một xã hội nhất định, ví dụ: cơ sở tôn giáo, nhà ở, trang phục, ẩm thực, công cụ sản xuất (nông cụ, ngư cụ ), phương tiện
di chuyển (ghe, tàu, xe )
-Văn hóa tinh thần (spiritual culture) là những khía cạnh thuộc về tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán ( liên quan đến đời sống kinh tế, xã hội ), các loại hình sân khấu, văn học, nghệ thuật, lễ hội…
Trang 19-Văn hóa xã hội (social culture) bao gồm những ứng xử trong gia đình, cộng đồng, xã hội về hôn lễ, tang lễ, hội đoàn, tổ chức hôn nhân gia đình, các thiết chế
xã hội…
Toàn bộ ba yếu tố văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội chính là Tổng thể văn hóa tộc người Sự phân biệt giữa văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội chỉ có ý nghĩa tương đối, vì cả ba lĩnh vực này đều mối liên hệ tương tác lẫn nhau.[28]
Sơ đồ Tổng thể văn hóa tộc người [28]
1.2 Khái quát về cù lao Rùa
Sông Đồng Nai là một con sông lớn mang yếu tố hoàn toàn nội sinh duy nhất trên nước ta Từ độ cao hơn 1.500m so với mặt biển Hà Tiên, hai dòng sông nhỏ hiền hòa Dah Nhim và Dah Dung gặp nhau và hòa dòng chảy, chỗ gặp nhau ấy cũng là nơi phát nguyên của một dòng sông lớn là: sông Đồng Nai, đó như một món quà mà thiên nhiên đã tặng cho miền Đông Nam bộ nước ta Trải dài hơn 580km, dòng nước ngọt ngào tinh khiết triền miên chảy và liên tục đổi dòng qua các cánh rừng, hẻm núi, thung lũng, đầm lầy, có lúc quay ngược 1800 như để rồi sau đó lại xuôi về phương Nam, xuôi ra biển Đông Trên đường ra biển sông Đồng Nai còn tiếp nhận thêm lượng nước của hàng trăm sông suối mà Dah Uê, Dah Rnga (La Ngà), Dah Rlung và Đồng Môn là phụ lưu chính và Đồng Nai để lại nhiều ghềnh, thác, hồ và cù lao Từ thác Dah Nhim đến Trị An còn có hàng trăm thác khác có tên và không có tên, mỗi thác mỗi vẻ đẹp riêng Thác Trị An là thác cuối cùng của dòng chảy sông Đồng Nai
Văn hóa tinh thần
Văn hóa vật chất
Văn hóa xã hội
Trang 20Ngày nay, dòng thác được con người ngăn chặn lại để tạo dựng một công trình thủy diện mang tầm vóc quốc tế, cung cấp nguồn diện cho nhiều tỉnh phía Nam của Tổ quốc Hồ Trị An rộng hơn 35.000 hécta với 42 hòn đảo lớn nhỏ [ Theo wikipedia ] Các cù lao trên sông Đồng Nai khá nhiều như: Cù lao Mỹ Quới (Bạch Đằng),
cù lao Tân Chánh, cù lao Thạnh Hội (cù lao Rùa), cù lao Tân Triều, cù lao Phố, đến
cù lao Ông Còn, cù lao Long Phước, cù lao Đại Phước Những cù lao này rộng, trải dài hàng mấy cây số Trên các cù lao là những vườn cây trái xum xuê và danh tiếng với các loại sản vật: bưởi, trầu ở cù lao Tân Triều; dâu, mía ở cù lao Tân Chánh; hành, bạc hà ở cù lao Rùa (Thạnh Hội) Với lớp phù sa mới phủ trên lớp phù sa cổ màu mỡ, các cù lao là đất sống lý tưởng của những ruộng lúa và các vườn cây ăn trái,
và cuộc sống bình yên của người dân
Cù lao Rùa xưa kia còn gọi là Quy Dự, là một cù lao nhỏ trong hệ thống cù lao nằm rải rác trên sông Đồng Nai nay thuộc xã Thạnh Hội, huyện Tân Uyên tỉnh Bình Dương, cách thị xã Thủ Dầu Một hơn 20 cây số về phía Đông Bắc
Trong Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức có viết về Cù lao Rùa như sau:
“QUY DỰ (HÒN RÙA)
Hòn nằm giữa dòng sông Phước Long tục gọi là sông Đồng Nai, cách phía tây trấn đến 9 dặm Hòn dài 3 dặm, ở đó có dân cư cày cấy, dưới có sông dài uốn khúc quấn quanh, thuyền buồm ra vào, sóng xao khói lượn, khi ẩn khi hiện như hình con rùa thần tắm sóng, đẹp nhất là cảnh mưa rơi”.[13,18]
Cù lao Rùa có tổng diện tích tự nhiên khoảng 425,17 ha, gồm bốn ấp Nhựt Thạnh, Tân Hội, Thạnh Hòa và Thạnh Hiệp, với tứ cận như sau:
-Đông giáp Biên Hòa- Đồng Nai
-Tây giáp xã Thái Hòa, huyện Tân Uyên
-Nam giáp Bửu Long-Biên Hòa
-Bắc giáp xã Thạnh Phước, huyện Tân Uyên
Trang 21Tất cả đều có ranh giới tự nhiên là sông Đồng Nai
Hiện tại, nơi đây có 628 hộ với khoảng hơn 2.500 người, 90% dân số làm nông nghiệp Cù lao Rùa là một trong số các di tích khảo cổ tiền sử ở vùng lưu vực sông Đồng Nai
Sở dĩ có tên gọi cù lao Rùa là vì ở trên cao nhìn xuống hình dạng cù lao giống như con rùa bồng bềnh trên sông Đồng Nai Đồi đá cao cánh đồng Tân Hội là đầu rùa Cồn đá ngậm (cồn cát, sạn sông) là lưỡi rùa Giữa hai ấp Tân Hội và Nhựt Thạnh (tại bến đò Tân Hội) dài 300 mét, rộng khoảng 100 mét là cổ rùa Làng Nhựt Thạnh và cánh đồng là thân rùa Đồi cao có cồn Khai Long nhọn lấn ra ngã ba sông Cái là đuôi rùa
Cư trú trên cù lao sông là một trong những loại hình cư trú đặc trưng của cư dân Nam Bộ Mặc dù phù sa của cù lao đem lại nhiều lợi ích kinh tế cho nông nghiệp nhưng vì giữa bốn bề sông nước nên việc đi lại của người dân khó khăn, sự giao lưu văn hoá với đất liền có nhiều hạn chế Chính vì không gian tách biệt này mà cho đến nay cù lao Rùa vẫn còn lưu giữ được ít nhiều nếp sống cổ xưa của cư dân, những nét đặc trưng của văn hoá dân gian Nam Bộ từ thời khẩn hoang
Trang 22Cù lao Ruà trong hệ thống cù lao trên sông Đồng Nai, (Nguồn: Google map, 2013)
1.3 Khái quát về cư dân cù lao Rùa
1.3.1 Vết tích của cư dân thời tiền –sơ sử
Cù lao Rùa thuộc xã Thạnh Hội, huyện Tân Uyên (Bình Dương), tổng diện tích
là 425,17 hecta, được bao bọc bởi dòng chảy chính của sông Đồng Nai và dòng chảy phụ tẻ nhánh bao trọn cù lao nhập vào dòng chính và chảy xuôi về Sài Gòn Trên cù lao là một ngọn đồi nổi cao 15m so với mặt bằng khu vực, có cấu trúc như hình mu rùa, có tọa độ địa lý 10058’47” vĩ bắc và 106047’17’’ kinh đông Nơi đây, các nhà khoa học đã phát hiện một di tích khảo cổ, có niên đại 3.500 - 3.000 năm cách
ngày nay [5]
Trên những di tích khảo cổ ở Đông Nam Bộ được phát hiện vào cuối thế kỷ XIX như: Mỹ Lộc, Bến Đò,…thì cù lao Rùa là di tích được biết đến đầu tiên và được các nhà nghiên cứu người Pháp khảo sát, khai quật, công bố từ lâu trong giới khảo cổ học nước ngoài và họ xếp di tích này vào thời đá mới hậu kỳ Các nhà khảo cổ học Việt Nam thuộc Việc Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ cũng đã nhiều lần điều tra thám sát, nghiên cứu cù lao Rùa vào năm 1976, 1998, 1999, 2000, 2001.[5 ]
Năm 2003, di tích cù lao Rùa được khai quật có qui mô gần 400m2, với 5 hố đào thám sát đã phát hiện nhiều di vật có giá trị khoa học cao như bộ răng voi, 1.254 hiện vật nguyên vẹn bằng đá và đất nung, phân loại có 85.901 mảnh gốm, gốm mộ táng có 6.791 mảnh, trong đó phân loại, loại hình, chất liệu, màu sắc, gốm tô màu, xương gốm, hoa văn trang trí [5]
Trong cuộc khai quật năm 2003, kết hợp với những đợt thám sát di tích cho thấy cù lao Rùa là khu di tích cư trú- mộ táng Di tích cư trú với nhiều công cụ bằng
đá và hàng ngàn mảnh gốm vỡ các loại; di tích mộ táng với việc phát hiện 12 mộ
Trang 23Sau hơn 100 năm nghiên cứu, đây là lần đầu tiên khảo cổ học phát hiện một di tích
mộ táng có niên đại sớm như di tích cù lao Rùa Với phát hiện này di tích cù lao Rùa
đã mở ra một hướng tiếp cận mới về táng thức, cơ tầng kinh tế – xã hội của cộng đồng cư dân tiền sử Đông Nam Bộ Đó là những địa điểm cư trú và mộ táng với hàng ngàn hiện vật đã được các nhà khảo cổ tìm thấy (1) Như vậy qua các đợt khai quật và đào thám sát, các nhà khảo cổ đã thu thập được hàng ngàn hiện vật với nhiều loại hình, nhiều chất liệu khác nhau như các loại công cụ sản xuất, đồ dùng sinh hoạt, vũ khí, công cụ nghề thủ công, đồ trang sức, các loại áo quan mộ táng, đồ tùy táng với các chất liệu đá, đồng, đất nung, gỗ Những di vật hàng ngàn năm bị chôn vùi dưới lòng đất này đã cung cấp rất nhiều điều về đời sống của người xưa trên mảnh đất cù lao này
Người tiền- sơ sử ở cù lao Rùa mặc dù chắc chắn không phải là người Việt mà
họ là những cư dân thuộc văn hóa Đồng Nai, tiền thân của cư dân bản địa như người S’tiêng, Chơro nhưng chúng tôi vẫn khảo sát để cho thấy cù lao nhỏ này có từ rất lâu
đời vì còn vết tích cư dân cổ Qua các di tích về cuộc sống của người tiền sử người ta
biết được rằng đó là những người có một đặc trưng văn hóa theo vị trí địa lý tự nhiên trong suốt quá trình sinh tồn hàng ngàn năm Việc sinh sống ở những vị trí gần sông như cù lao Rùa cho thấy họ đã chọn cho mình những vị trí thuận lợi để sinh sống và phát triển, như cư trú trên những vùng đất cao ven sông để không bị ngập nước và không bị thiếu nước Sông suối phục vụ đời sống sinh hoạt và lao động sản xuất, cung cấp thức ăn phong phú như cá, tôm, cua, ốc Sông mang phù sa bồi đắp vùng đất ven bờ luôn màu mỡ tươi tốt thuân lợi cho việc trồng trọt cây lương thực, rau, củ, quả Dòng chảy của các con sông là một hệ thống giao thông rất tiện lợi trong việc
1
: Trích phát biểu của TS Bùi Chí Hoàng (Viện Phát triển vùng Nam Bộ) trong báo cáo Tổng hợp đề tài nghiên cứu khoa học thời tiền sử Bình Dương, tháng 9-2006
Trang 24vận chuyển lương thực, sản phẩm, đặc biệt là giúp con người giao lưu với nhau giữa
các cộng đồng cư dân
Qua những vết tích thời tiền sơ sử cùng với sự phát triển của ngành khoa học khảo cổ trong thời gian qua đã giúp cho hiểu về đời sống của người tiền sơ sử và tiến trình lịch sử của các cộng đồng cư dân cổ trong quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ
nói chung và ở cù lao Rùa, Bình Dương nói riêng
1.3.2 Cư dân Việt ở cù lao Rùa
Vùng đất Nam Bộ hầu như hoang vắng vào cuối thế kỷ XVI, nhưng từ đầu thế
kỷ XVII đã có sự hiện diện của lớp cư dân mới mà chủ yếu là người Việt từ vùng Thuận Quảng di cư vào
Nguyên nhân của hiện tượng xã hội nầy chính là cuộc chiến tranh tương tàn của hai dòng họ phong kiến Trịnh - Nguyễn Cuộc giao tranh quyết liệt kéo dài 175 năm, trong đó có 45 năm đã diễn ra liên tiếp 7 trận đánh lớn cực kỳ ác liệt [33,13]
Khổ sở, điêu đứng vì chiến tranh, vì bóc lột cùng với thiên tai tàn phá làm cho những người nông dân phải rời bỏ ruộng vườn, làng mạc ở Đàng Trong phiêu tán vào Nam Bộ để tìm cuộc sống mới.[33,15]
Vùng đất phía Nam là vùng đất của người Chămpa đang suy tàn, và xa hơn nữa
là vùng đất sau này có tên là Đồng Nai – Gia Định, một vùng đất hoang vu là nơi thu hút mạnh mẽ lưu dân Việt đi tìm đất sống Làn sóng di dân ngày một đông dần lên Trong số lưu dân Việt đến Đồng Nai, ngoài những nông dân nghèo khổ là thành phần chủ yếu, còn có những ngừơi trốn tránh binh dịch, sưu thuế, các tù nhân bị lưu đầy, thầy lang, thầy đồ nghèo và cả những người giàu có nhưng vẫn muốn tìm đất mới để
mở rộng công việc làm ăn, làm giàu thêm
Những lưu dân Việt thuộc lớp tiên phong đi vào vùng đất mới Đồng Nai – Gia Định “lập nghiệp làm nhiều đợt trước cả thời Trịnh – Nguyễn phân tranh” nhiều nhất vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII Lực lượng lưu dân khai hoang đông nhất là những người dân xứ Ngũ Quảng (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức, Quảng Nam,
Trang 25Quảng Ngãi) Phần đông họ chọn phương thức đi lẻ tẻ, hoặc cả gia đình, hoặc những người khỏe mạnh đi trước tạo dựng cơ nghiệp rồi đón cả gia đình đến sau, hoặc một vài già đình cùng cả xóm kết nhóm với nhau cùng đi Phần lớn họ chọn thuyền buồm hay ghe bầu làm phương tiện di chuyển chính, bởi lúc bấy giờ di chuyển giữa các phủ miền Trung với Đồng Nai- Gia Định chủ yếu là đường biển, bởi đường bộ toàn rừng núi nhiều thú dữ.[19,35]
Tiến trình nhập cư của lưu dân Việt vào vùng Đồng Nai – Gia Định từ lẻ tẻ rời rạc, dần dần có quy mô lớn hơn, nhất là sau khi các chúa Nguyễn đã tạo ra ảnh hưởng của mình trên vùng đất này
Từ Mô Xoài, Bà Rịa, các thế hệ di dân tự do người Việt với phương tiện di chuyển chủ yếu là thuyền, ghe, xuồng theo thuỷ triều ngược dòng sông Đồng Nai và
cả đi bộ dọc theo sông tiến dần vào vùng Đồng Nai Các điểm định cư sớm nhất của
họ là : Nhơn Trạch, Long Thành, An Hoà, Bến Gỗ, Bàn Lân, cù lao Phố, cù lao Rùa,
cù lao Ngô, cù lao Tân Triều …[19, 35]
Sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức cho biết các giồng đất bên bờ sông Phước Long (sông Đồng Nai), thuộc các huyện Nhơn Trạch, Long Thành, Vĩnh Cửu, thành phố Biên Hoà ngày nay và các cù lao ven sông là những nơi
có nước ngọt thuận lợi cho sinh hoạt trồng tỉa nên người Việt đến khai thác sớm nhất Như vậy, đến giữa thế kỷ XVII, trên cả một khu vực rộng lớn thuộc lưu vực sông Phước Long và cả vùng Sài Gòn –Bến Nghé đã có người Việt đến định cư Tuy nhiên, những điểm định cư và khai phá chỉ mới rải rác đó đây, chủ yếu dọc theo sông rạch, nơi thuận lợi giao thông bằng thuyền bè
Lưu dân người Việt định cư khai khẩn ở Đồng Nai từ cuối thế kỷ XVII khi đặt chân vào vùng đất mới đã sinh sống bằng nhiều ngành nghề khác nhau như buôn bán nhỏ, đánh bắt cá, làm mắm, săn bắn, khai thác gỗ, khai thác quặng, đan lát, làm
đồ gốm …còn lại tuyệt đại bộ phận đều chọn nông nghiệp làm nghề sinh sống chính.[35,21] Xóm làng hình thành ven sông là một đặc điểm nổi bật của cư dân
Trang 26Đồng Nai Về sau khi giao thông phát triển thuận lợi thì xóm làng mới phát triển sâu vào đất liền
Từ thế kỷ XVII, vùng đất Nam Bộ mà xứ Đồng Nai là địa đầu, công cuộc khai khẩn của các luồng dân di cư từ các nơi đến đã diễn ra Càng về sau, quy mô và tốc
độ của việc khai khẩn được đẩy mạnh Trên cơ sở của một lực lượng di dân, khai khẩn vùng đất phương Nam này mà chúa Nguyễn Phúc Chu đã cử Nguyễn Hữu Cảnh – một tướng tài giỏi kinh lược phía Nam vào mùa xuân năm Mậu Dần (1698) Trong chuyến kinh lược này Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh đã thực thi một việc vô cùng quan trọng đó là thiết lập một hệ thống tổ chức bộ máy hành chánh ở vùng đất mới Cụ thể là: Ông “lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình dựng dinh Phiên Trấn, mỗi dinh đặt chức Lưu thủ, Cai bộ và Ký lục để quản trị, nha thuộc có hai ty xá – lại để làm việc; quân binh thì có cơ, đội, thuyền, thuỷ bộ binh và thuộc binh để hộ vệ.”[45]
Việc làm của Nguyễn Hữu Cảnh có tác động lớn đến vùng đất mới Vùng đất rộng, người thưa, dân cư gồm những người tha phương cầu thực chung sống đã trở thành cộng đồng Về mặt pháp lý, với bộ máy hành chánh cụ thể, người dân chịu sự cai quản của Nhà nước, sống theo trật tự xã hội và có điều kiện phát triển kinh tế Bắt đầu từ năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh lập phủ Gia Định Lúc này cù lao Rùa về địa lý hành chánh là thuộc huyện Phước Long, dinh Trấn Biên
Trong giai đoạn 1802-1861, theo Gia Định Thành thông chí thì cù lao Rùa thuộc Trấn Biên Hòa, Phủ Phước Long, huyện Phước Chánh, tổng Chánh Mỹ Lúc này ở cù lao Rùa dân cư còn thưa thớt, về hành chánh nơi này chỉ mới có làng Tân Hội (2) Theo Biên Hòa Sử lược, năm 1878, cù lao Rùa thuộc tỉnh Biên Hòa, tổng Chánh Mỹ Trung, lúc này có thêm làng Nhựt Thạnh Từ đó đến nay có nhiều thay
2
: Sắc Thần Tân Hội được ban vào năm Quý Sửu -Tự Đức năm thứ V, 8/1/1853
Trang 27đổi về địa bạ và hành chính do sự thay đổi chính quyền, có nhiều đợt chia cắt và sát nhập tỉnh trong cả nước, cụ thể như sau:
- Năm 1957, cù lao Rùa là xã Thạnh Hội, tổng Chánh Mỹ Trung, tỉnh Biên Hòa
- Từ năm 1960-1972, cù lao Rùa là xã Thạnh Hội, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa
- Năm 1976, tỉnh Sông Bé được xác lập, gồm phần đất của Biên Hòa, Bình Dương, Phước Long, Bình Long Lúc này cù lao Rùa thuộc quận Tân Uyên, tỉnh Sông Bé [11]
- Năm 1997, tỉnh Sông Bé được chia ra thành hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước.Từ đó đến nay cù lao Rùa, là xã Thạnh Hội, huyện Tân Uyên tỉnh Bình Dương [11]
Về cư dân hiện nay, cù lao Rùa có 628 hộ với khoảng hơn 2.500 người hầu hết đều là người Kinh Dân cư phân bố trong bốn ấp: Tân Hội, Thạnh Hòa, Nhựt Thạnh và Thạnh Hiệp Vùng này hầu như không có hiện tượng tăng dân số cơ học do việc đi lại khó khăn vì cù lao bị tách biệt giữa bốn bề sông nước
Đầu năm 2011, khi cầu Thạnh Hội được hoàn thành nối liền cù lao với đất liền thì có những người phương xa đến đây lập nghiệp Họ tập trung khoảng mươi nóc nhà ven đường cái gần Ủy ban nhân dân xã, thuộc địa bàn ấp Nhựt Thạnh và mưu sinh bằng các nghề dịch vụ, vốn trước đây vẫn chưa phát triển trên cù lao như: cắt uốn tóc, quán cà phê-giải khát, tiệm tạp hóa, môi giới nhà đất
Trên cù lao vẫn còn dấu tích cho thấy từng có cộng đồng người Hoa sinh sống qua những ngôi mộ cổ đặc trưng kiểu bia hình yên ngựa được xây bằng vật liệu vôi vữa, mật mía
Theo báo cáo của Ủy ban xã dân cư hiện nay sinh sống chủ yếu bằng nghề nông (90% hộ dân) Một số ít đi làm công nhân trong các khu công nghiệp lân cận như công nhân may, làm gốm, da giày, làm bảo vệ…Theo các cư dân lớn tuổi thì ngày xưa còn có một số hộ làm nghề chài, lưới, thả đăng, câu cá…nhưng hiện nay không còn hộ nào sinh sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt cá nữa Chỉ còn ít người thỉnh thoảng đi câu, lưới cá nhưng chỉ để dùng trong gia đình Người dân ở đây hiền
Trang 28lành, chất phác, thân thiện, tình cảm làng xóm rất gắn bó trên tinh thần đoàn kết, quan tâm, giúp đỡ nhau trong công việc đồng áng cũng như trong sinh hoạt thường nhật Vì ngành dịch vụ ở vùng này chưa phát triển nên đám giỗ, lễ tiệc gì cũng cậy nhờ bà con hàng xóm hỗ trợ nhau Đặc biệt người dân cù lao rất coi trọng lễ nghĩa,
có ý thức giữ gìn những phong tục tập quán, sinh hoạt lễ nghi trong cúng bái, giỗ, tết Hầu hết trong đám tang người dân đều đọc văn tế Trong một số dịp họp mặt người
dân cù lao có thông lệ đọc thơ văn tự sáng tác cho nhau nghe [Xem thêm ở phần tư liệu tham khảo 1, trang 15PL]
Người dân có truyền thống hiếu học, luôn dạy con cháu phải chăm lo học hành Theo ông Ngô Văn Điều, hiệu trưởng trường tiểu học Thạnh Hội thì vùng này học trò rất hiếu học, không có trường hợp học sinh bỏ học hay nghỉ học Dù cuộc sống nhà nông còn nhiều vất vả, kinh tế phụ thuộc vào thời tiết, cần nhiều lao động vào mùa vụ, nhưng phụ huynh vẫn động viên con cháu đi học đều.Theo chị Nguyễn
Kim Phụng, ấp Thạnh Hiệp: “Vùng này có tiếng là hiếu học Trước kia chưa có cầu,
đi học phải đi bằng xuồng, bằng đò vậy mà học trò vẫn chăm chỉ đi học, ở xóm hiếm
có đứa nào bỏ học giữa chừng, tệ lắm thì cũng tốt nghiệp cấp 2, rồi đi học nghề, kiếm việc làm, chứ không có hiện tượng thanh niên ăn chơi lêu lổng”
Trên cù lao hiện nay có những dòng họ lớn, có nhà thờ họ, có ngày giỗ họ như
họ Mai, họ Dương, họ Nguyễn Có dòng họ như họ Mai vẫn giữ được gia phả nhiều đời và vẫn tiếp tục ghi chép cho tới nay Các nhà thờ họ mỗi năm đều tổ chức cúng giỗ họ rất trang trọng, kính cẩn, có văn tế, nhạc lễ, lễ sinh theo đúng nghi thức Nho giáo Theo các lão ông thì ngày xưa trên cù lao có nhà thờ họ Lê nhưng nay đã sập
mất và con cháu họ Lê phiêu tán đi xứ khác hết, không còn ở trên cù lao nữa [Xem thêm ở phần tư liệu tham khảo 2, trang 21 PL]
1.4 Hoạt động kinh tế của cư dân ở cù lao Rùa
1.4.1 Nông nghiệp
Cù lao Rùa được phù sa bồi đắp quanh năm, thổ nhưỡng khí hậu rất thích hợp với các loại cây ăn trái như chuối, bưởi và các loại cây hoa màu 90% người dân ở
Trang 29đây sống bằng sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên diện tích trồng lúa chỉ đủ để ăn chứ không trồng nhiều vì trồng lúa hiệu quả kinh tế không bằng trồng hoa màu Còn trồng cây ăn quả như bưởi, cam…thì cần vốn nặng, lâu thu hoạch và năng suất cũng không cao nên mỗi nhà chỉ trồng ở vườn một ít Như vậy, hiện nay cư dân cù lao chủ yếu chỉ trồng hoa màu Toàn xã có hơn 360 ha diện tích trồng các loại hành lá, bạc
hà, cà, đậu bắp, bí đậu (là loại bí đỏ, trái nhỏ, còn gọi là bí Nhật) đậu phộng, rau dền, khổ qua.Thời điểm trước năm 2009, Cù lao Rùa chuyên canh hành, nên người ta gọi
bạc hà mới là cây trồng chủ lực Lý do đơn giản để nông dân cù lao không còn mặn
mà với hành nữa là do không hiệu quả vì đất trồng hành lâu năm bị thoái hóa, năng suất cây hành không còn cao Hành có hiện tượng úng, đốm lá, thối gốc hàng loạt mà không thể cứu vãn, năng suất thua xa ngày trước Theo cư dân địa phương thì ngoài nguyên nhân do đất bạc màu còn do khói bụi từ các khu công nghiệp thải ra, tích tụ
Trang 30trong sương, trong mưa rơi xuống làm ảnh hưởng đến hành Hiện chỉ còn vài hộ trồng hành và chỉ trồng luân canh theo thời vụ, khi nào có giá mới trồng chứ không còn trồng thường xuyên như trước đây nữa
Theo các hộ nông dân tại đây bạc hà dễ trồng, dễ chăm sóc và thu hoạch; mức đầu tư cho các diện tích trồng bạc hà cũng thấp hơn so với trồng hành Hiệu quả kinh
tế trước mắt của bạc hà là rất cao và tỏ ra thích hợp với thổ nhưỡng vùng cù lao này Thời gian từ lúc trồng cho đến thu hoạch bạc hà khoảng 3 tháng Chỗ đất tốt, chăm sóc thường xuyên thì mỗi bẹ có trọng lượng gần 1kg, có khi 2 bẹ nặng tới 3kg, giá cả dao động từ 2.500 – 5.000đ/kg Tháng bảy, tháng tám là thời điểm bà con xuống giống nhiều để từ tháng mười một đến tháng giêng (âm lịch) thu hoạch bán giá cao Nếu được chăm sóc tốt, 1 ha trồng bạc hà có thể cho năng suất bình quân từ 6 - 7 tấn với mức giá trị từ 80 - 90 triệu đồng/ha/năm Ngoài ra các mô hình trồng bạc hà ít
PVV: Tính ra tổng cộng tiền vốn trồng hành là: 10.000.000 đến 12.000.000đồng, như vậy ít công hơn, ngắn ngày hơn mà lợi nhuận nhiều hơn
CTV: Ừ, trồng hành khỏe hơn, nhẹ hơn, nhanh hơn trồng bạc hà nhiều nhưng bây giờ khó ăn lắm,
hư hoài hà
PVV: Trồng hành thì lý do vì sao dễ bị hư hả chị?
CTV: Do hóa chất khói xả của mấy nhà máy trong khu công nghiệp nên mưa xuống là bị hư, nếu trồng hành thuận tiết là từ tháng 10 đến tết là dễ trồng, trồng hành được 3 đợt trong năm Mà bây giờ người ta trồng ít lắm ai cũng sợ hư hết
(Trích biên bản phỏng vấn số 13)
tốn lao động và có thể tận dụng được các công lao động nhàn rỗi cũng như lao động lớn tuổi Thời gian thu hoạch của bạc hà cũng dài hơn hành Một gốc bạc hà có thể thu hoạch từ 3 - 4 tháng (sau khi cắt bẹ, bạc hà sẽ mọc lên bẹ mới và tiếp tục cho thu hoạch)
Như vậy, trước đây khi trồng bạc hà với diện tích nhỏ, nông dân không nhận
ra giá trị kinh tế của loại cây trồng này Nhưng khi đưa vào sản xuất với diện tích lớn thì hiệu quả kinh tế đã nhìn thấy rõ Chỉ trong vòng chưa đầy 3 năm, diện tích trồng
Trang 31bạc hà trên cù lao Thạnh Hội đã tăng đáng kể Nếu như năm 2009 diện tích trồng bạc
hà chỉ là 25 ha thì đến năm 2011 đã tăng lên 80 ha.[4] Ông Đào Văn Nô - Chủ tịch
Hội Nông dân xã Thạnh Hội cho biết: “Phong trào trồng cây bạc hà hiện nay phát triển rất mạnh, đến nay đã trở thành cây trồng chủ lực của xã Trong thời gian tới cây bạc hà sẽ tiếp tục được khuyến khích phát triển” Chị Tô Kim Hoa, ấp Thạnh
Hiệp - người có thâm niên 4 năm trồng bạc hà tại đây cho biết trồng loại cây này ít lo
về sâu bệnh và thu hoạch cũng dễ dàng hơn Hiện nay chị chỉ có 3 công đất trồng bạc
hà thôi nhưng mỗi mùa vụ cũng thu về hơn ba mươi triệu đồng Sau khi trừ đi các chi phí gia đình chị thu được lãi ròng hơn mười triệu đồng, chưa kể còn lời được cây giống cho vụ sau khoảng bốn triệu đồng
Chị Mai Thị Phụng, một nông dân chuyên trồng bạc hà ở ấp Thạnh Hòa cho biết trồng bạc hà đem lại hiệu quả kinh tế cao Với diện tích 0,5 ha trồng bạc hà, gia đình chị không phải thuê mướn lao động mà tận dụng thời gian nhàn rỗi để chăm sóc, mỗi ngày chị cắt được 200kg bạc hà và sau khi bán ra, trừ chi phí, thu lợi được gần ba
PVV: Nếu tính ra bán bạc hà con luôn thì lời khoảng 5.000.000đồng/tháng hả chị?
CTV: Ừ, nếu như không có gió, mưa nắng thất thường, bởi vì loại này không chịu mưa với gió nhiều Nhưng mà mưa nhiều quá nó bị hư, cái rò phải cao ráo, đường mương không có nước là bạc hà ngon Mình còn bỏ thêm phân bò trộn với tro bỏ dưới chân trước lúc làm rò nữa
………
PVV: Bạc hà có bị sâu không chị?
CTV: Có chứ, bị sâu là sẽ bị đùn lá lại, như vậy là mình phải xịt thuốc, mà bạc hà ít bị sâu lắm, bạc hà dễ trị bệnh lắm, dễ trị hơn trồng hành nhiều, hành mà bị hư là mất vốn luôn, còn bạc hà nếu bị hư thì mình vẫn còn cái giống, không bị mất vốn
( Trích biên bản phỏng vấn số 13)
triệu đồng/tháng Cũng như gia đình anh Phan Thế Phương, hộ nông dân ở ấp Thạnh Hiệp Gia đình anh có 2 công đất, mướn thêm 2 công nữa để trồng bạc hà, bí đậu, cà bắp, cà tím Năm nay, gia đình anh thu lợi từ sản xuất nông nghiệp hơn bốn mươi lăm triệu đồng
Trang 32Nhìn chung, từ nhiều năm nay việc trồng các loại rau màu đã giúp cho người dân cù lao không chỉ thoát nghèo mà còn trở nên khá giả, cuộc sống ngày càng ổn định
1.4.2 Thương mại- dịch vụ
Vì là xã nông thôn, có đến 90% hộ dân làm nông nghiệp, thêm vào đó trước năm 2010 chưa có cầu, cù lao cách biệt với đất liền nên ngành thương mại, dịch vụ không phát triển Cù lao Rùa hiện nay chưa có chợ, chưa hình thành khu mua bán tập trung Hiện tại rải rác ở mỗi ấp có một hai tiệm tạp hóa bán nhu yếu phẩm cần thiết như đường, đậu, bột ngọt, dầu ăn, mắm, muối, gạo, mì gói, nước đá,…Cả xã có vài quán cà phê giải khát, tập trung khu vực gần ủy ban xã và ở bến đò Thạnh Hiệp Hai tiệm cắt tóc, một tiệm sửa điện, máy nông cụ
Quán nước giải khát và tạp hóa ở bến đò Thạnh Hiệp (Ảnh: Phương Thảo, 3/2013)
Khi muốn mua sắm hoặc có lễ lạt người dân thường đi chợ Tân Ba hoặc qua
đò Thạnh Hiệp đi chợ Bửu Long, chợ Biên Hòa Ngày trước, khi chưa có cầu, thỉnh thoảng sẽ có các ghe buôn từ vùng khác tới cập bến bán các loại khô, mắm, nước tương, nước mắm, chao, chổi tàu cau… cho cư dân Từ khi thông cầu Thạnh Hội đến nay do đi lại với đất liền thuận lợi nên người dân cù lao ít mua hàng từ ghe nên không thấy các ghe ghé lại nữa
Trên cù lao không có nhà máy xay lúa nên trước đây khi chưa có cầu thì người dân phải tự mang lúa qua đất liền để xay Từ khi có cầu Thạnh Hội hằng tháng
Trang 33có xe chở máy xay lúa đến cù lao phục vụ cư dân Nếu có ai cần xay lúa gấp chỉ cần gọi điện thoại người ta sẽ chở máy xay đến phục vụ tận nhà Giá tiền công xay một giạ lúa thời điểm năm 2012 là bảy nghìn đồng một giạ
1.5 Các tổ chức phi quan phương ở cù lao Rùa
Ngoài tổ chức quan phương (chính quyền) là Ủy ban Nhân dân xã Thạnh Hội thì ở cù lao Rùa có một hệ thống các tổ chức phi quan phương (ngoài chính quyền)
có chức năng phục vụ cộng đồng Các tổ chức phi quan phương tại cù lao Rùa mang dấu ấn từ miền Bắc, miền Trung mà người dân theo con đường di dân đã đem vào
Vì sống ở vùng cù lao tách biệt với đất liền lâu năm nên các tổ chức phi quan phương vẫn tồn tại dai dẳng, hoạt động hiệu quả trong cộng đồng Một số tổ chức phi quan phương tại cù lao Rùa như:
1.5.1 Hồi ấp
Hồi ấp thuộc địa bàn hoạt động của mỗi ấp (tại cù lao Rùa có bốn ấp) Hồi ấp mỗi năm bầu ra “Ban đương niên” để đảm trách công việc phục vụ cộng đồng trong năm đó Ban đương niên có nhiều chức năng như phụ trách việc cúng tế ở đình, miếu; quyên góp, tương trợ gia đình khó khăn; quản lý các vật dụng trong miếu; phụ giúp việc tang chế hay cúng kiếng ở các gia đình trong ấp…Theo các lão ông, trước đây Ban đương niên chỉ có Chánh hồi, Phó hồi, Thư ký nhưng về sau thấy cần phải tập cho thanh niên quen dần với các nghi thức cúng đình, miếu cũng như chuẩn bị đội ngũ kế thừa nên các ấp lập ra ban Thanh niên gồm có Trưởng ban, Phó ban, Thư
ký Vai trò của Ban Thanh niên là hỗ trợ, phụ giúp Ban đương niên các công việc trong ấp Ban Thanh niên chịu sự quản lý chỉ đạo của Chánh hồi
PVV: Chào ông, ông có thể cho biết về việc bầu Chánh -Phó hồi trong làng mình được không ạ? CTV: Thứ nhất là theo cha truyền con nối, hai là theo lớn nhỏ Cứ sau khi cúng Bà xong ngày 19/2 âm lịch, sẽ bầu một Ban đương niên mới do bà con tín nhiệm bầu ra, cứ tuần tự người lớn đến người nhỏ Ngày mai nè, cúng xong chúng tôi sẽ bầu Ban đương niên mới, ban gồm 3 người
là Chánh hồi, Phó hồi và một Thư ký Ban có trách nhiệm về cúng kiếng trên ngôi Bà trong một
Trang 34năm
(Trích biên bản phỏng vấn số 4)
Đội lễ sinh: là nhóm nam hơn mười người tuổi từ 25 đến 45 Họ được tập luyện các nghi thức cúng lễ như cúng đình, cúng miếu, cúng trong đám tang…Khi cúng đình, cúng miếu thì gọi là Học trò lễ, khi cúng trong đám tang thì gọi là Ban bái quan, khi đi đưa tang thì gọi là Ban hộ tang Tùy theo lễ cúng mà đội lễ sinh có y phục khác nhau
Ban đương niên đứng đầu là Chánh hồi chịu trách nhiệm quản lý, điều phối đội lễ sinh, Ban hộ tang, ban bái quan khi trong ấp có việc cần
Vì ở cù lao tách biệt với đất liền nên người dân có tinh thần tương trợ, giúp đỡ nhau khi có hữu sự Các công việc trong đám tang, đám giỗ, cưới hỏi… như dựng nhà khách, nấu nướng, dọn dẹp, tiếp khách đều nhờ cậy Hồi ấp và bà con trong ấp Các vật dụng cần dùng như bàn ghế, chén dĩa, nồi chảo…thì người dân mượn ở miếu làng Điều này cho thấy tổ chức Hồi ấp có vai trò quan trọng trong đời sống của cư dân cù lao Rùa
PVV: Ngoài việc lo cúng Bà thì Ban đương niên còn làm gì nữa không chú?
CTV: Ông chánh phó này chủ yếu làm công tác tương trợ Nhà nào có đám ma thì ông chánh, ông phó đi thông báo Theo quy luật luôn nữa là cả ấp sẽ đến phụ giúp nhà đó Phụ nữ thì nấu bếp dọn dẹp Thanh niên thì phụ dựng nhà khách Sau khi Chánh hồi thông báo ngày đó ấp sẽ tổ chức lễ cúng thì bà con sẽ tự động đến để đậu sổ (3), nam thì đem theo áo dài khăn đóng, nữ áo dài Ban đương niên sẽ sắm lễ mâm trái cây, nhang đèn Rồi mang báo trình với gia đình hay Ban Hội hương là Ban ấp và bà con trong ấp có sắm mâm lễ vật gồm hương đăng, hoa quả, nhang đèn, tài vật trình ra để cúng người quá cố Sau đó ban Chánh- Phó vào cúng, rồi tới bà con cúng
Trang 351.5.2 Ban hộ niệm
Ban hộ niệm là tổ chức tương trợ thuộc chùa Khánh Sơn nhằm phục vụ nhu cầu tâm linh của người dân (chùa Long Thắng không có ban hộ niệm) Đây là tổ chức mới được thành lập vài năm gần đây Ban hộ niệm ở đây khoảng hai mươi người gồm có sư cô trụ trì và các phật tử lớn tuổi là dân trong xã Khi nhà có người bệnh hoặc qua đời, người dân sẽ đến chùa nhờ Ban hộ niệm đến tụng kinh cầu an, cầu siêu giúp Tùy tính chất lễ cúng mà Ban hộ niệm sẽ tụng kinh Dược Sư hoặc kinh Di Đà, kinh Địa Tạng Mỗi buổi Ban hộ niện đến trợ niệm tụng kinh khoảng từ một đến hai giờ và không nhận thù lao hay khoản đãi gì từ gia chủ
Tiểu kết chương 1
Chương này chúng tôi trình bày cơ sở lý luận của luận văn, bao gồm trong đó
là các khái niệm khoa học liên quan đến luận văn như cù lao, loại hình cư trú trên cù lao, tín ngưỡng tôn giáo Về lý thuyết vận dụng cho luận văn chúng tôi áp dụng thuyết sinh thái văn hóa và văn hóa vật chất trong phạm vi của tổng thể văn hóa tộc người Cơ sở lý luận hết sức cần thiết cho chúng tôi để vận dụng và phân tích những vấn đề trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần của người dân trên cù lao Rùa, một loại hình cư trú độc đáo của cư dân Nam Bộ
Chúng tôi tìm hiểu trước tiên yếu tố địa lý, lịch sử của cù lao Rùa và cộng đồng cư dân sinh sống trên cù lao này từ những cư dân thời tiền-sơ sử của văn hóa Đồng Nai có niên đại cách nay khoảng 3500- 3000 năm Và sau cùng cũng tìm hiểu về cư dân người Việt cư trú tại cù lao này sớm nhất vào thế kỷ XVI cho đến nay Những vấn đề sơ nét về đời sống kinh tế, thương mại của người dân cù lao Rùa cũng là vấn đề chúng tôi quan tâm Đặc biệt là vai trò của các tổ chức phi quan
Trang 36phương tại cù lao như Hồi ấp gồm Ban đương niên, Ban thanh niên, Đội lễ sinh, …là những tổ chức truyền thống khá cổ xưa, đóng vai trò quan trọng vì phục vụ đời sống gia đình, dòng họ và cộng đồng của cư dân ở mỗi ấp trên cù lao Rùa.
Chương 2: ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT CỦA CƯ DÂN
CÙ LAO RÙA 2.1 Cơ sở tín ngưỡng - tôn giáo
Ở cù lao Rùa có các cơ sở tín ngưỡng tôn giáo như đình, chùa, miếu phân bố trong bốn ấp Nhìn chung các cơ sở thờ tự đều cũ xưa, đang trong tình trạng xuống cấp cần tu bổ lại
Trang 372.1.1 Đình
Đình thuộc hệ thống thiết chế văn hóa của cấu trúc làng xã xưa Đình làng lúc đầu ở miền Bắc chỉ có chức năng là đình trạm để canh gác hoặc dùng làm nơi nghỉ ngơi, tá túc cho khách lỡ đường Đến đời hậu Lê đình bắt đầu thờ thần Thành Hoàng
Về sau, các triều đại nhà nước phong kiến, nhiều nhất dưới đời nhà Nguyễn đã sắc phong cho các vị có công với nước là thần Thành Hoàng, với ý nghĩa thần Thành Hoàng thay vua chăm lo, bảo vệ cho dân làng Ngoài ra, đình cũng là một cơ sở văn hóa tín ngưỡng thể hiện sự tri ân của hậu bối đối với “Tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ” - những vị có công khai hoang, lập ấp, lập làng, làm đình, tạo chợ, xây cầu, [29] Từ ý thức vạn vật hữu linh, từ lâu người Việt đã biết thờ các vị thần núi, thần sông, thần đất, các vị anh hùng lịch sử giúp con người bảo vệ mùa màng, làng xã, giữ vững giang sơn
Trong quá trình di dân về miền Nam khẩn hoang, cư dân từ miền ngoài vào đã gặp không ít khó khăn do thiên tai địch họa gây ra, thú dữ hoành hành Việc lập đình, xây miếu là một dạng thức tín ngưỡng được lưu dân xác lập trên vùng đất mới nhằm đáp ứng được nhu cầu về tâm linh của con người, đó là cầu mong được bình an vô sự giữa vùng đất mới này Có thể nói, trên bước đường lưu dân, khi dừng chân khai phá được vùng đất nào thì người dân đều xin lập ấp, lập làng Cuộc sống ngày càng ổn định, thiết chế văn hóa làng xã cũng bắt đầu hình thành Sau khi lập làng, họ đều tập
Trang 38trung lo xây dựng đình để làm nơi thờ cúng Thần Thành Hoàng- vị thần mà họ tin tưởng bảo hộ cho dân làng được mưa thuận gió hòa để mùa màng được tươi tốt, đất nước được thái bình, dân cư an lạc Điều khát khao này phản ảnh tâm thức của người lưu dân muốn được ổn định cuộc sống
Thần Thành Hoàng thờ ở đình Nam Bộ nói chung và cư dân vùng cù lao Thạnh Hội nói riêng là một dạng Phúc thần, Thổ thần và cao hơn hết là biểu tượng của Vua, của ý thức hệ Nho giáo phong kiến và còn là những người anh hùng khi sống có công trạng với làng, với nước, khi mất hiển linh, được người dân thờ tự như một hình thức của “Uống nước nhớ nguồn” Làng ở Nam Bộ do tính chất của những người di dân khẩn hoang nên vai trò của những người dẫn dân khai hoang, lập làng rất được đề cao, được thờ ở đình là “Tiền hiền” Còn những thế hệ sau có công xây đình,
mở đường, lập chợ được thờ tự ở đình là “Hậu hiền” Vì vậy công trạng của họ được xưng tụng là “Tiền hiền khai khẩn, Hậu hiền khai cơ”, được thờ cúng long trọng chỉ sau thần Thành Hoàng.[29]
Ngoài chức năng tín ngưỡng đình còn được xem như ngôi nhà chung để nhân dân trong vùng hội họp, sinh hoạt và trước kia đình còn là trụ sở làm việc của hương chức làng Trước 1954, đình ở Nam Bộ là thiết chế văn hóa của làng xã cũ nên đình
có vai trò khá quan trọng trong đời sống của người dân Trong tâm thức của mỗi lưu dân người Việt khi đến định cư ở vùng đất mới, hình ảnh "cây đa, bến nước, mái đình" luôn gợi nhớ đến quê hương, xứ sở, cội nguồn Vì thế, trong các loại hình kiến trúc cộng đồng của làng xã Việt Nam nói chung và ở Bình Dương xưa nói riêng, ngôi đình chiếm vị trí trung tâm Ngày nay, do cơ chế chính trị và hành chính thay đổi, vai trò của đình thu hẹp và chỉ tồn tại như một cơ sở tín ngưỡng và văn hóa đặt dưới sự quản lý của cơ quan thông tin văn hóa [32]
Trên cù lao Rùa hiện nay có hai ngôi đình phân bố ở xã Nhựt Thạnh và xã Tân Hội Ngoài thần Thành Hoàng ở hai ngôi đình nêu trên đều phối tự thờ Tiền hiền, Hậu hiền, người có công khai hoang, lập làng, được tôn làm “Tiền hiền khai khẩn”,
Trang 39“Hậu hiền khai cơ” Đình Tân Hội và Nhựt Thạnh được xây dựng vào khoảng thế kỷ
18 khi thôn Tân Hội và Nhựt Thạnh được thành lập (thôn Tân Hội, Nhựt Thạnh thuộc phủ Phước Long, huyện Phước Chánh, tổng Chánh Mỹ) Ngoài chức năng là nơi thờ phụng Thành Hoàng Bổn Cảnh theo truyền thống trong xã đình còn là nơi sinh hoạt cộng đồng của cư dân trong ấp
Cách bài trí trong chánh tẩm của đình gồm: Thần Thành Hoàng bổn cảnh, Tả ban, Hữu ban, Hội đồng, Đông hiến, Tây hiến, Tiền hiền, Hậu hiền Về kiến trúc, đình được cất cao ráo, thoáng mát Trên nóc đình có gắn những tượng sành tráng men mang ý nghĩa tượng trưng như: Lưỡng long tranh châu, cá hóa long, lân mẫu hí lân tử, bát tiên, chim phượng ngậm cuốn thư,… Trong đình có các hoành phi, câu đối với nội dung thể hiện sự ước vọng về cuộc sống bình an của con người, ca ngợi công đức của các bậc tiền nhân Ở sân trước có tấm bình phong to hình tượng chúa sơn lâm trấn giữ trong tư thế vươn về phía trước với dáng vẻ rất uy lực và dũng mãnh Hình chúa sơn
lâm được đắp nổi bằng xi măng Biểu tượng này thuộc đạo giáo mang ý nghĩa thần hổ trừ tà, ma thâm nhập vào đền miếu [29]
Trong khuôn viên đình còn có một số miếu nhỏ như:
Trang 40Đình Nhựt Thạnh là ngôi đình lớn, xây dựng trên gò đất cao, ngay đường cái của xã Kiến trúc bên ngoài của đình rất công phu, có nhiều hoa văn đắp nổi Ngoài gian chính đình còn có nhà túc, khu bếp rộng rãi Do không được tu bổ nên hiện nay đình đã xuống cấp rất nhiều Các tấm hoành phi câu đối bằng gỗ, chạm trổ cầu kỳ giờ
đã mục cũ nên người ta đã gỡ xuống.Trong chính điện có ba ban thờ: thờ Thần ở giữa
và Tả ban, Hữu ban hai bên Các vật dụng trong đình như bàn thờ, bát nhang, chân đèn, bình hoa… đều cũ kỹ Theo các cụ cao niên thì do xóm ấp nghèo, không có kinh phí để tôn tạo, thêm vào đó đình còn có giai đoạn phải theo lệnh “tiêu thổ kháng chiến” thời chống Pháp, nên bị hư hao nhiều, cho tới nay chưa có kinh phí để sửa chữa Hiện nay, trong đình hiện vật còn nguyên vẹn duy nhất là Long đình bằng gỗ huỳnh đàn, để sắc thần
Đình Tân Hội tọa lạc trong một khu đất rộng, có cảnh quan đẹp Từ cổng tam quan vào sân đình có hàng dầu cổ thụ cao vút, sân đình rộng rãi Đình có hai nếp nhà, nếp nhà bên phải là chính điện và bên trái là nhà túc Chính giữa chánh tẩm là bài vị Thành Hoàng với chữ “Thần” Chầu hai bên hương án là đôi hạc đứng trên lưng rùa bằng gỗ Án thờ Tả ban và Hữu ban đặt ở hai góc cuối chính điện, hai án thờ này được trang trí giống nhau Tiếp theo chính điện là tiền điện, được bài trí đơn giản, có
ba bàn thờ đặt ngang nhau, giữa là bàn thờ Hội đồng, hai bên thờ Đông hiến, Tây hiến Bên trên ba bàn thờ này có treo bức hoành phi Theo sắc thần lưu giữ trong đình, Thành Hoàng Bổn Cảnh đình Tân Hội thờ được vua Tự Đức sắc phong là “Nguyên Bảo An Chánh” vào năm 1853 Do chiến tranh, và nhiều lần tôn tạo, đình không giữ được nguyên hình dáng ban đầu Hiện nay, đình còn lưu giữ và bảo tồn các hiện vật
có giá trị như:
- Sắc phong của vua Tự Đức vào năm Tự Đức thứ 5 (1853)
- Bài vị thờ thần, Long đình bằng gỗ quý, lỗ bộ là bộ binh khí bằng kim loại
và gỗ, hoành phi bằng gỗ, lư xông trầm bằng đồng; qui, hạc bằng gỗ