Chỉ thị 296 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới quản lý giáo dục trong giai đoạn 2010-2012 (296/CT-TTg, ngày 27 tháng 2 năm 2010) về thành lập trường, tuyển sinh, tổ chức đào tạo, quản [r]
Trang 1TS Nguyễn Thị Hiền Oanh 1
Tóm tắt: Tự chủ được coi là xu thế phát triển tất yếu, là điều kiện cần thiết đối
với các trường đại học Tại Việt Nam, tự chủ đại học cũng đang trên lộ trình hoàn thiện mở ra những cơ hội phát triển lớn cho các trường đại học.Bài viết đã phân tích một số quan điểm về quyền tự chủ đại học, nêu các mô hình quản trị đại học
và các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tự chủ đại học làm nền tảng để đưa ra những giải pháp cơ bản đảm bảo tự chủ đại học trong xu thế cách mạng 4.0.
Từ khóa: Giáo dục đại học, Quản lý, Tự chủ, Cách mạng 4.0,…
Tự chủ đại học là một yêu cầu hàng đầu trong quá trình đổi mới giáo dục đại học trên toàn thế giới Hiện nay, tự chủ đại học đã được khẳng định là một công cụ quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực để phục vụ các hoạt động cần thiết của một trường đại học và làm tròn sứ mạng của nó đối với xã hội Giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục, đào tạo là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã xác định nhằm đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo
1 Một số quan điểm về quyền tự chủ đại học
1.1 Trên thế giới
1.1.1 Khái niệm tự chủ đại học
Khái niệm “tự chủ đại học” phản ánh sự biến đổi mối tương quan giữa nhà nước
và cơ sở đào tạo theo tinh thần phát huy truyền thống tự do học thuật của đại học
và giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của cơ quan công quyền vào quản trị đại học về tổ chức, tài chính, nhân sự
1 Trường Đại học Sài Gòn.
Trang 2Tự chủ đại học là yếu tố cơ bản trong quản trị đại học Các nghiên cứu về các
mô hình quản trị đại học trên thế giới thường tập trung vào mối quan hệ giữa nhà nước và cơ sở giáo dục đại học cho thấy mức độ tự chủ - thể hiện ở mức độ kiểm soát của nhà nước đối với cơ sở giáo dục đại học Tuy nhiên, cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm tự chủ đại học tùy theo nhận thức về vai trò của nhà nước đối với giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng
Ở các nước châu Âu:
- Tự chủ đại học được nhìn nhận từ hai khía cạnh: Một là, thoát ra khỏi sự kiểm
soát, hạn chế của các cơ quan quản lý nhà nước, của thị trường lao động, nhà cung
cấp dịch vụ; Hai là, các ảnh hưởng chính trị, là quyền tự do đưa ra các quyết định về
cách thức tổ chức hoạt động cũng như mục tiêu sứ mạng của trường
- Tự chủ được thể hiện ở hai cấp: cấp độ giữa trường đại học với nhà nước; và cấp độ giữa trường với các bộ phận trong trường
- Tự chủ cũng có thể chỉ có tính chất thủ tục, hình thức - quyền quyết định các phương tiện, cách thức để đạt đến mục tiêu đã được xác định trước, hoặc tự chủ có tính thực chất - quyền quyết định các mục tiêu cũng như chương trình hoạt động;
Và tự chủ cũng có thể được nhìn nhận như là các quyền lực có điều kiện: các trường chỉ có thể có quyền tự chủ khi đã đạt được các chuẩn mực quốc gia hoặc các chuẩn mực đã được định sẵn theo các chính sách công
Tuy được nhìn nhận dưới nhiều khía cạnh, cấp độ khác nhau, nhưng tự chủ của trường đại học vẫn là khả năng của trường được hoạt động theo cách thức mình lựa chọn để đạt được sứ mạng và mục tiêu do trường đặt ra (Hoàng Thị Xuân Hoa, 2019)
Tại Việt Nam, vấn đề tự chủ đại học được nêu rõ trong Điều lệ trường đại học,
ban hành theo Quyết định số 153/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: “Trường đại học được quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về quy hoạch phát triển nhà trường, tổ chức các hoạt động đào tạo, khoa học, công nghệ, tài chính, quan hệ quốc tế, tổ chức và nhân sự”
1.1.2 Các thành tố trong tự chủ đại học
Theo Anderson & Johnson (1998) các thành tố trong tự chủ đại học bao gồm:
- Tự chủ nguồn nhân lực: Với quyền tự chủ này, trường được quyền quyết định
về các vấn đề liên quan đến điều kiện tuyển dụng, lương bổng, sử dụng nguồn nhân lực, bổ nhiệm, miễn nhiệm các vị trí trong khu vực học thuật và khu vực hành chính,
Trang 3- Tự chủ trong các vấn đề liên quan đến tuyển sinh và quản lý sinh viên.
- Tự chủ trong các hoạt động học thuật và chương trình giáo dục như phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên, nội dung chương trình và giáo trình học liệu,
- Tự chủ trong các chuẩn mực học thuật, như các tiêu chuẩn của văn bằng, các vấn đề liên quan đến kiểm tra và kiểm định chất lượng
- Tự chủ trong nghiên cứu và xuất bản, giảng dạy và hướng dẫn học viên cao học, các ưu tiên trong nghiên cứu và quyền tự do xuất bản
- Tự chủ trong các vấn đề liên quan đến quản lý hành chính và tài chính, quản
lý và sử dụng ngân sách, các nguồn tài chính của trường (Hoàng Thị Xuân Hoa, 2017)
1.1.3 Mô hình quản trị đại học
Báo cáo tổng quan về xu thế quản trị đại học trên thế giới của World Bank 2008 khái quát bốn mô hình quản trị đại học với các mức độ tự chủ khác nhau:
- Mô hình nhà nước kiểm soát hoàn toàn như ở Malaysia;
- Mô hình bán tự chủ như ở Pháp và New Zealand;
- Mô hình bán độc lập ở Singapore;
- Mô hình độc lập ở Anh, Úc
Mặc dù vậy, trong mô hình nhà nước kiểm soát thì cơ sở giáo dục đại học vẫn được hưởng một mức độ tự chủ nhất định vì những lý do tài chính và thực tiễn, nhà nước không thể kiểm soát được tất cả các hoạt động của cơ sở giáo dục đại học; bên cạnh đó, ngay trong mô hình độc lập thì vẫn có những mặc định ngầm về quyền của nhà nước nắm giữ một số kiểm soát về mặt chiến lược và có quyền yêu cầu tính giải trình cao ở các cơ sở giáo dục đại học
Một nguyên lý cơ bản đằng sau tự chủ đại học là các cơ sở giáo dục đại học sẽ vận hành tốt hơn nếu họ được nắm vận mệnh của chính mình Tự chủ sẽ tạo động lực để họ đổi mới nhằm đạt hiệu quả cao hơn trong hoạt động của mình, đồng thời cũng làm tăng tính cạnh tranh giữa các cơ sở giáo dục đại học, tạo điều kiện để đa dạng hóa các hoạt động giáo dục Vì vậy, xu hướng chung trên toàn cầu hiện nay là chuyển dịch dần từ mô hình nhà nước kiểm soát sang các mô hình có mức độ tự chủ cao hơn, từ nhà nước kiểm soát sang nhà nước giám sát
Ví dụ như Nhật Bản thông qua Đạo luật Hiệp hội Đại học Quốc gia năm 2003 trao quyền tự chủ về mặt pháp lý cho tất cả các trường đại học với quyền lực nhiều
Trang 4hơn cho Giám đốc/Hiệu trưởng và Ban quản trị trường Năm 2005, Singapore cũng thông qua một luật tương tự trao quyền tự chủ cho 3 trường đại học của nước này Gần đây, Bang Nord Rhein-Westfalia, Đức cũng trao quyền tự quyết định cho 33 trường đại học trong việc tuyển dụng các giáo sư và các khóa đào tạo của trường Bên cạnh việc các nước ở các khu vực khác nhau có mức độ tự chủ đại học khác nhau, ở trong cùng một quốc gia, mức độ tự chủ giao cho các cơ sở giáo dục đại học
có thể cũng rất khác nhau tùy theo tính chất, chất lượng của các cơ sở giáo dục đại học đó Ở một số nước phát triển trên thế giới, vẫn tồn tại song song các trường đại học được trao quyền tự chủ tuyệt đối và các trường vẫn phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước Và ở nhiều nước, các cơ sở giáo dục đại học có thể có các tên gọi khác nhau dựa vào quy mô, loại hình đào tạo và mức độ tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học khác nhau cũng rất khác nhau (Hoàng Thị Xuân Hoa, 2017)
1.2 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tự chủ đại học
Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách phát triển giáo dục đại học theo hướng nâng cao chất lượng, trao quyền tự chủ, giảm áp lực cho ngân sách Nhà nước:
- Luật Giáo dục được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 14/6/2005 (Luật số 38/2005/QH11), ghi nhận cụ thể về quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các cơ
sở giáo dục đại học Việt Nam
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 Trong đó, khẳng định đổi mới toàn diện công tác quản lý giáo dục, đào tạo theo hướng giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục, đào tạo; đổi mới chính sách, cơ chế tài chính nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo; đẩy mạnh xã hội hóa, trước hết đối với giáo dục nghề nghiệp
Luật Giáo dục đại học năm 2012: Cơ sở giáo dục đại học tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học (Luật Giáo dục đại học, 2012)
Điều lệ trường đại học, ban hành theo Quyết định số 153/2003/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ ở Điều 10 đã nêu rõ: Trường đại học được quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường, tổ chức các hoạt động đào tạo, khoa học, công nghệ, tài chính, quan hệ quốc
tế, tổ chức và nhân sự
Luật Giáo dục ban hành tháng 7 năm 2005 đã đề cập đến ở Điều 14 về việc thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục
Trang 5Nghị định số 43/2006/NĐ - CP ngày 25/4/2006 về Quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với sự nghiệp công lập đã khởi đầu một thời kỳ mới - thời kỳ tự chủ của đại học công lập
Nghị định số 16/2015/NĐ - CP ban hành ngày 14/2/2015 thay thế cho Nghị định
số 43/2006/NĐ - CP đã xác định lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí nhà nước, tiến tới giao quyền tự chủ tài chính hoàn toàn cho các đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó có các trường đại học công lập
Thông tư liên tịch của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ (2009/07/TTLT-BGDĐT-BNV tháng 4 năm 2009) hướng dẫn quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục và đào tạo đã nêu rõ quyền tự chủ của đơn vị trong việc xác định nhiệm vụ xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện; trong việc tổ chức bộ máy và biên chế trong đơn vị; trong việc tuyển dụng, quản lý và sử dụng cán bộ, công chức, viên chức Nghị quyết về đổi mới giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012 (số 05-NQ/BCSĐ) của Ban Cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo Thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Chỉ thị 296 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới quản lý giáo dục trong giai đoạn 2010-2012 (296/CT-TTg, ngày 27 tháng 2 năm 2010) về thành lập trường, tuyển sinh, tổ chức đào tạo, quản lý tài chính, quản lý chất lượng, tuyển dụng, trong đó làm rõ trách nhiệm và chế độ của nhà giáo trong đào tạo và nghiên cứu khoa học, quan hệ giữa Ban giám hiệu, Hội đồng trường, Đảng ủy, các đoàn thể ở trường để
từ đó các trường đại học, cao đẳng thực hiện quyền tự chủ và nghĩa vụ tự chịu trách nhiệm trước xã hội và nhà nước theo quy định của Luật Giáo dục;…
Trong gần một thập kỷ qua, vấn đề tự chủ trong giáo dục đại học Việt Nam đã
có nhiều chuyển biến tích cực Từ chỗ toàn thể hệ thống giáo dục đại học Việt Nam như một trường đại học lớn, chịu sự quản lý Nhà nước chặt chẽ về mọi mặt thông qua Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường đại học đã dần được trao quyền tự chủ, thể hiện qua các văn bản pháp quy của Nhà nước
Luật Giáo dục đại học 2018 được xây dựng cũng đã quan tâm rất nhiều đến vấn
đề tự chủ của cơ sở giáo dục đại học Quyền tự chủ đại học được coi là đã được thể hiện ở nhiều điều khoản của Dự luật về Hội đồng trường, Hội đồng quản trị, Hiệu trưởng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ sở giáo dục, tuyển sinh, chương trình giáo dục, văn bằng, học phí, lệ phí tuyển sinh,.…
Trang 6Tuy Nhà nước và Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hết sức chú trọng vấn đề tự chủ
và đã cố gắng tạo ra hành lang pháp lý cho quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học, nhưng các quyền tự chủ đó vẫn chưa thật sự phát huy hết tác dụng vì tính chất chưa triệt để và sự thiếu nhất quán, đồng bộ trong các chủ trương chính sách của Nhà nước Các cơ sở giáo dục đại học dường như vẫn hết sức mong muốn được tăng thêm quyền tự chủ, đặc biệt trong các lĩnh vực quản lý tài chính, bộ máy, nhân sự, tuyển sinh, trang thiết bị, cơ sở vật chất,.…
2 Đổi mới quản lý giáo dục đại học trước xu thế cách mạng công nghiệp 4.0
2.1 Vai trò của đổi mới quản lý giáo dục
Để đáp ứng nhu cầu nhân lực cho nền công nghiệp mới và đồng thời tận dụng thế mạnh của công nghệ thông tin, nhiều trường đại học trên thế giới đã và đang đổi mới toàn diện và theo đó Giáo dục 4.0 đang được đánh giá là mô hình phù hợp Hiện nay, muốn hòa nhập vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, vào nền kinh
tế số, yếu tố then chốt là nguồn nhân lực Việt Nam cần cải cách hệ thống giáo dục, đào tạo
Về mặt quản lý, các cơ sở giáo dục cần chuyển hướng dần sang tự chủ trong tổ chức và hoạt động, chủ động tìm kiếm các nguồn lực đầu tư bên ngoài, mở rộng các hoạt động đầu tư liên doanh, liên kết trong và ngoài nước về đào tạo, nghiên cứu khoa học Gỡ bỏ các rào cản để hướng sự đầu tư của các thành phần kinh tế vào giáo
dục đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực phục vụ sự phát triển đất nước (Báo Quốc
tế, 2017).
Với dân số gần 100 triệu người, đội ngũ cán bộ, giảng viên, giáo viên và nhân viên hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo của Việt Nam là rất lớn, trên 1,2 triệu người Do đó, vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục là đặc biệt quan trọng Họ là những đầu máy, quyết định hướng đi và tốc độ của cả hệ thống giáo dục Vì vậy, phát triển năng lực cán bộ quản lý giáo dục Việt Nam sao cho đủ sức,
đủ tầm, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là một bài toán lớn của Việt Nam
Cải cách và đổi mới thể chế giáo dục là nội dung và động lực quan trọng của hiện đại hóa giáo dục Phạm vi đề cập của cải cách thể chế giáo dục rất rộng, trọng điểm là cải cách thể thể mở trường, lớp, cải cách cơ chế đầu tư giáo dục, cải cách quản lý vĩ mô và cải cách quản lý của chính các cơ sở đào tạo Trong cải cách thể chế giáo dục, cần nhận thức và xử lý đúng đắn các mối quan hệ giữa vai trò của chính quyền và vai trò của thị trường, vạch rõ hơn nữa trách nhiệm của chính quyền, trường học và xã hội, tìm kiếm sự cân bằng, hài hòa giữa hiệu quả và công bằng,
Trang 7xây dựng cơ chế quản lý và cơ chế mở trường, lớp thích ứng với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thỏa mãn có hiệu quả nhu cầu đáp ứng dịch vụ công của toàn xã hội, phát triển bền vững (Học viện Quản lý giáo dục, 2017)
2.2 Một số giải pháp cơ bản đảm bảo cho tự chủ đại học trước xu thế cách mạng công nghiệp 4.0
Một là, xây dựng cơ chế quản lý nhà trường hiện đại
Nhà trường với vai trò là một tổ chức xã hội, bất kể là trường công lập hay trường tư thục cần phải là một hệ thống có sức sống, luôn biết tự đổi mới mình Chỉ khi có một số quyền tự chủ nhất định, nhà trường mới có được sức sống, mới có sự thích ứng, tính chủ động và khả năng sáng tạo tương đối lớn Dưới cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp trước đây, các nhà trường thường mất đi mục tiêu theo đuổi cá tính hóa, năng lực thích nghi với nhu cầu của xã hội và năng lực sáng tạo, nhà trường ngày một trở nên thiếu sức sống Đương nhiên hành vi của nhà trường tất yếu phải chịu sự kiểm soát Vấn đề trung tâm trong xây dựng cơ chế quản lý nhà trường hiện đại là phân định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của nhà trường trong mối liên
hệ tương hỗ lẫn nhau giữa chính quyền, nhà trường và xã hội
Kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các quốc gia trên thế giới đã dần hình thành cơ chế trường công Cơ chế trường công này về cơ bản đều do chính phủ tổ chức, quản lý và duy trì Kể từ những năm 80 của thế kỷ XX trở lại đây, trong trào cải cách các trường học trên thế giới đã đưa ra tư tưởng trường học tự quản lý, đề nghị chính quyền trao lại quyền cho trường học, xây dựng mối quan hệ kiểu mới giữa trường học với bên ngoài (cơ quan chủ quản cấp trên, chính quyền nơi trường học đóng) và mối quan hệ bên trong trường học (hiệu trưởng, giảng viên, sinh viên) Thực hiện sự chuyển đổi trong quản lý nhà trường từ mô hình “bên ngoài quản lý” sang
mô hình “bên trong tự quản lý”, thúc đẩy quyền tự phát triển của nhà trường Tại rất nhiều các quốc gia như Australia, Anh, Mỹ, Canada, New Zealand, đều đã xuất hiện
xu thế chuyển dịch quyền và trách nhiệm giáo dục xuống cho chính nhà trường Xây dựng cơ chế quản lý nhà trường hiện đại là một trong những nội dung của đi sâu cải cách thể chế quản lý trong nội bộ trường học, hạt nhân của nó chính
là hoàn thiện cơ chế pháp nhân của nhà trường, theo phương hướng quản lý công hiện đại, tăng cường xây dựng các quy định, chế độ pháp luật là một pháp nhân, quy phạm các mối quan hệ bên trong nội bộ nhà trường, không ngừng hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, cơ chế quản lý và cơ chế giám sát dân chủ Quan hệ giữa chính quyền với nhà trường, nhà trường với xã hội là tiền đề quan trọng để tìm tòi xây dựng cơ chế quản lý nhà trường hiện đại Xét từ mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa nhà trường, xã hội và chính quyền, xu thế phát triển chung sẽ là chính quyền và các cơ
Trang 8quan quản lý hành chính giáo dục sẽ dần từ bỏ quyền quản lý giáo dục, giao chúng xuống cho các nhà trường, một bộ phận quyền lực này sẽ giao cho xã hội, cổ vũ xã hội tham gia mở trường và giám sát việc dạy học Một bộ phận quyền lực sẽ được giao cho trường học, cho phép và cổ vũ các trường tự mở trường chiêu sinh Đối với nhà trường việc có được quyền lực không phải là kết quả hay mục đích chính của của cải cách cơ chế quản lý trường học hiện đại mà chỉ là một xuất phát điểm cho thực hiện quyền tự chủ của trường học Quan trọng hơn là, cần có sự đảm bảo về quyền lực và cơ chế để cân bằng lại với nó nhằm bảo đảm cho việc sử dụng có hiệu quả quyền lực của nhà trường, thúc đẩy sự phát triển của nhà trường
Xét một cách tổng thể, cần thông qua tìm tòi cơ chế quản lý nhà trường hiện đại
để hình thành nên cơ chế vận hành, trong đó chính phủ điều tiết, kiểm soát vĩ mô, nhà trường tự quản lý và có sự tham gia hiệu quả của xã hội Vừa cần mở rộng mức
độ tham gia vào việc mở trường dạy học của xã hội, vừa cần tăng cường sự giám sát, can dự của xã hội đối với nhà trường, các thông tin liên quan tới nhà trường như tài sản, tài chính, các khoản phí thu, đều cần được công khai cho toàn xã hội biết Xây dựng cơ chế quản lý nhà trường hiện đại chịu sự ràng buộc của xu hướng chính sách giáo dục công Sau khi một chính sách giáo dục công nào đó được định hình một cách cơ bản, phương hướng vận hành và mô hình điều hành của nhà trường về cơ bản cũng sẽ trở nên rõ ràng hơn, có thể không cần thiết phải tiếp tục tìm kiếm các chi tiết nhỏ hơn nữa quy định về cơ chế vận hành
Xây dựng cơ chế quản lý giáo dục hiện đại chính là để cho nhà trường trở thành một thực thể pháp nhân tự chủ kinh doanh, tự chịu trách nhiệm lãi lỗ, tự phát triển
và tự ràng buộc mình; thực hiện chế độ cổ phần hóa đi theo mô hình vận hành của công ty chính là phương hướng chiến lược quan trọng trong xây dựng cơ chế quản
lý giáo dục hiện đại Quan điểm và cách làm này xét về thực chất chính là một cách trực tiếp hay gián tiếp đem bê nguyên si mô hình quản lý doanh nghiệp hiện đại vào lĩnh vực giáo dục Nếu làm như vậy, toàn xã hội sẽ không còn tồn tại “cơ quan thứ ba” hoạt động theo nguyên tắc phi lợi nhuận, toàn xã hội sẽ dần “thị trường hóa toàn bộ” Nguyên Tổng thống Pháp Lionel Jospin có câu: “Cần thực hiện kinh tế thị trường, nhưng không được thị trường hóa xã hội” (Vương Bân Thái, 2014)
Hai là, cải cách cơ chế lãnh đạo trong các nhà trường
Cơ chế lãnh đạo trong các nhà trường chỉ các quy phạm, cơ chế về lập các cơ
sở nội bộ, phân chia quyền hạn, bổ nhiệm hay cãi miễn nhân sự, tổ chức quản lý, Đây chính là khâu hạt nhân trong sự phát triển, vận hành của nhà trường Người ta gọi các nội dung này là cơ chế lãnh đạo trong các nhà trường, nhưng thực chất có rất nhiều nội dung, trong đó lại không chỉ đóng khung trong phạm vi nội bộ nhà trường, ví dụ việc bổ nhiệm đã không còn là vấn đề nội bộ của trường
Trang 9Cơ chế quản lý trong nhà trường là cơ chế cơ bản của trường học Nó mang ý nghĩa căn bản so với tác dụng cá nhân, trách nhiệm cá nhân, tư tưởng chủ quan và tác phong cá nhân của lãnh đạo nhà trường Có thể nói rằng, nó là “trung khu thần kinh” trong quản lý nhà trường Cơ chế lãnh đạo trực tiếp chi phối tới công tác quản
lý, ảnh hưởng tới toàn cục của nhà trường Những quy định pháp luật hiện hành mới chỉ tiến hành quy định về mặt nguyên tắc đối với một số mặt cơ bản nhất, chủ yếu nhất trong cơ chế lãnh đạo trong nhà trường, vẫn còn rất nhiều mối quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ còn chờ được quy phạm, thậm chí điều chỉnh, còn có rất nhiều mâu thuẫn còn chờ sự sáng tạo về mặt cơ chế để giải quyết Tại rất nhiều trường đại học, cao đẳng tồn tại phổ biến vấn đề mối quan hệ giữa quyền lực hành chính với quyền lực học thuật Tại các trường dân lập tồn tại phổ biến vấn đề phân chia quyền hạn, chức trách giữa hội đồng quản trị với hiệu trưởng Tại một số trường dân lập, mối quan hệ này thậm chí còn còn trở thành mối quan hệ giữa “nhà doanh nghiệp” với “người hoạt động sự nghiệp”, quan hệ giữa phụ huynh với hiệu trưởng Cần thông qua giải quyết dần từng vấn đề và mâu thuẫn này, đẩy mạnh, hoàn thiện thêm một bước nữa cơ chế lãnh đạo trong các nhà trường
Phương hướng cải cách cơ chế lãnh đạo trong các nhà trường là thúc đẩy dân chủ hóa, pháp chế hóa trong vận hành, quản lý nhà trường, xây dựng cơ cấu bộ máy quản lý “tinh giản, hiệu quả cao” dần hình thành nên cơ chế “tự quản lý, tự phát triển, tự ràng buộc, do xã hội giám sát” Cần hoàn thiện cơ chế pháp nhân cho nhà trường, căn cứ theo pháp luật để quy phạm các mối quan hệ bên trong nội bộ nhà trường, tăng cường xây dựng cơ chế, nội quy, xây dựng pháp chế hóa vận hành quản
lý trong nhà trường Cần căn cứ phương hướng cải cách quản lý công hiện đại để xây dựng và hoàn thiện cơ chế tổ chức quản lý và cơ chế giám sát dân chủ đối với trường học
Ba là, cải cách chế độ nhân sự trong trường học
Cốt lõi trong công tác quản lý nằm ở việc dùng người Con người là chủ thể của
sự nghiệp, của sự phát triển Cái sai lầm sâu xa của nền kinh tế kế hoạch hóa là nằm
ở chỗ nó đã dùng chủ nghĩa bình quân tuyệt đối để đè nén tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mọi người Xét một cách căn bản, cải cách hành chính là phát huy tính tích cực, chủ động và khả năng sáng tạo của con người Một khi tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mọi người được phát huy, sự phát triển của nhà trường có được nguồn động lực quan trọng nhất
Cải cách cơ chế nhân sự là vô cùng quan trọng, nhưng cũng là vấn đề vô cùng khó khăn Nó liên quan tới hàng loạt các mặt khác như giải quyết công ăn việc làm, thu nhập, an sinh xã hội,
Trang 10Cải cách cơ chế nhân sự bên trong nhà trường cần tập trung vào xây dựng cơ chế dùng người có sự điều chỉnh lên xuống linh hoạt, động viên khích lệ một cách
có hiệu quả, giám sát chặt chẽ, thông qua cạnh tranh để lựa chọn người ưu tú, có đủ năng lực và hình thành nên cơ chế phân phối coi trọng thành tích thực tế, coi trọng cống hiến Cần triển khai toàn diện cơ chế thuê, tuyển lãnh đạo Đơn vị và công nhân viên chức ngành giáo dục cần căn cứ theo các quy định, pháp luật có liên quan của Nhà nước, xác định rõ chức trách, nghĩa vụ và quyền hạn của cả hai bên, có như vậy mới có thể đảm bảo quyền trong công việc cho công nhân viên chức Cần căn cứ các nguyên tắc “ưu tiên hiệu quả hoạt động, chú ý công bằng”, dần thực hiện cơ chế phân phối, xác định lương dựa vào vị trí công tác, xác định lương theo nhiệm vụ, xác định mức lương theo thành tích công tác thực tế; dần hình thành nên cầu nối trực tiếp giữa thu nhập của công nhân viên chức giáo dục với chức trách, thành tích công tác, cống hiến thực tế cùng với hiệu quả kinh tế - xã hội do những thành quả lao động của người giáo viên mang lại; dần dần hình thành cơ chế phân phối mang tính khích lệ nghiêng về ưu tiên nhiều hơn cho những cá nhân ưu tú, vị trí công tác quan trọng
3 Kết luận
Cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0 hứa hẹn những bước đột phá mới trong hoạt động đào tạo, thay đổi mục tiêu đào tạo, mô hình đào tạo truyền thống bằng cách chuyển tải và đào tạo kiến thức hoàn toàn mới về nội dung lẫn phương thức, đặc biệt tác động lớn đến việc quản trị trường đại học Những cơ hội và thách thức của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, các cơ sở giáo dục đại học muốn đáp ứng được nhu cầu nhân lực có chất lượng cao và đa dạng ngành nghề, lĩnh vực của nền kinh tế 4.0 cần phải đổi mới mạnh mẽ từ hoạt động đào tạo đến quản trị nhà trường để tạo ra nguồn lao động có năng lực làm việc trong môi trường sáng tạo và cạnh tranh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Báo quốc tế (2017), “Tương lai của Giáo dục đại học 4.0 tại Việt Nam”, http:// baoquocte.vn/tuong-lai-cua-giao-duc-dai-hoc-40-tai-viet-nam-53650.html, ngày 25/7/2017
2 Hoàng Thị Xuân Hoa (2017), “Tự chủ đại học: Xu thế của phát triển”, http:// khaothi-dbclgd.neu.edu.vn/vi/tin-tuc-1602/tu-chu-di-hoc-xu-the-cu-phat-trienngày 25/12/2017
3 Học viện Quản lý giáo dục (2017), “Phát triển năng lực cán bộ quản lý giáo dục Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0”, http://www.niem.edu vn/tabid/61/id/14706/language/vi-VN/Dèault.aspx ngày 17/11/2017