1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tình hình thể chế hóa những điểm mới trong quy định của Hiến pháp 2013 về thực hiện quyền lập pháp của Quốc hội

6 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 346,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối quan hệ này thực ra là một vấn đề lớn của khoa học pháp lý bởi lâu nay trong khoa học pháp lý vẫn quan niệm theo lối hình thức, nghĩa là mặc nhiên thừa nhận Chính phủ có quyền ban [r]

Trang 1

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỂ CHẾ HOÁ NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG QUY ĐỊNH CỦA HIẾN PHÁP 2013 VỀ THỰC HIỆN QUYỀN LẬP PHÁP

CỦA QUỐC HỘI

PGS TS Tô Văn Hòa Trường Đại học Luật Hà Nội

Chương 5, Hiến pháp năm 2013 có khá nhiều điểm mới so với Chương VI, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) về tổ chức, hoạt động của Quốc hội Có thể thấy các điểm mới là khá đa dạng Trong số đó có những điểm mới liên quan tới kỹ thuật lập pháp, ví

dụ cách hành văn ở khoản 2, Điều 71: “sáu mươi ngày” thay vì “hai tháng” như Điều 85, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) Có những điểm mới tuy quan trọng song khá rõ ràng, ví dụ quy định về quyền phê chuẩn Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia của Quốc hội (khoản 7, Điều 70, Hiến pháp năm 2013) hay thẩm quyền quyết định thành lập, giải thể, thay đổi địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của Ủy ban thường vụ Quốc hội (khoản 8, Điều 74, Hiến pháp năm 2013) Những điểm mới đó là khá rõ ràng, đơn nghĩa và do đó công tác thể chế hóa chúng thường mang tính chất kỹ thuật Trên thực tế thì tất cả các điểm mới này đã được thể chế hóa trong các luật có liên quan

Qua những quy định mới của Hiến pháp năm 2013, có thể thấy những điểm mới về mặt tinh thần, tư tưởng của hiến pháp này về tổ chức và hoạt động của Quốc hội – Cơ quan lập pháp quốc gia thể hiện trên hai khía cạnh: sự tăng cường vai trò lập pháp, hay quyền lập pháp, của Quốc hội; sự tăng cường chức năng giám sát, quyết định những vấn đề quan trọng của Quốc hội Bài viết này sẽ tập trung phân tích, đánh giá việc thực thi điểm mới của Hiến pháp năm 2013 về tăng cường việc thực hiện quyền lập pháp của Quốc hội

Đánh giá việc thực hiện Hiến pháp năm 2013 có thể được thực hiện ở nhiều góc độ Ở góc độ lập pháp, hay còn gọi là góc độ thể chế hóa, việc đánh giá tập trung vào mức độ thể chế hóa các tư tưởng mới của Hiến pháp năm 2013 trong các đạo luật và văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) có liên quan Đối với chế định của Hiến pháp về Quốc hội, các đạo luật

và VBQPPL có liên quan bao gồm: Luật tổ chức Quốc hội, Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp, Luật ban hành VBQPPL, nghị quyết của Quốc hội về nội quy kỳ họp quốc hội Ở góc độ thực thi, việc đánh giá tập trung vào mức độ hiện thực hóa các tư tưởng của Hiến pháp trong thực tiễn, thể hiện qua sự phát huy hiệu lực của các quy định của Hiến pháp cũng như của các đạo luật thể chế hóa Hiến pháp trong thực tiễn Do đặc thù của hiến pháp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, có thể thấy góc độ đánh giá thứ nhất đóng vai trò quan trọng hơn bởi nó mang tính chất điều kiện Với sự thiếu vắng

cơ chế bảo vệ hiến pháp hữu hiệu, Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam với những tư tưởng mới được đánh giá cao của nó khó có thể được thi hành nếu chưa được thể chế hóa đầy đủ,

cụ thể và khả thi trong các văn bản luật Bài viết này, do đó, tập trung đánh giá việc thi hành điểm mới của Hiến pháp năm 2013 về việc thực hiện quyền lập pháp của Quốc hội từ góc nhìn thể chế hóa

1 Điểm mới của Hiến pháp năm 2013 về tăng cường quyền lập pháp của Quốc hội

Ở Việt Nam, có lẽ chưa bao giờ có sự tranh cãi về việc Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập pháp hay không Hiến pháp năm 2013 chỉ quy định lại cho phù hợp hơn với tinh thần phân công, phối hợp, theo đó “Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp”120, tương ứng với “Chính phủ … thực hiện quyền hành pháp”121 và “Tòa án nhân dân … thực

120 Điều 69, Hiến pháp năm 2013

121 Điều 94, Hiến pháp năm 2013

Trang 2

hiện quyền tư pháp”122 Ở góc độ này, sự khác biệt giữa Hiến pháp năm 2013 và Hiến pháp năm 1992 chỉ nằm ở chỗ ở Hiến pháp năm 2013 không còn quy định Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp Tuy nhiên, nếu nói tới chủ thể thực hiện quyền lập pháp thì sự khác biệt này không lớn bởi không vì sự sửa đổi trong Hiến pháp năm 2013 mà quyền lập pháp của Quốc hội bị thu hẹp hơn so với Hiến pháp năm 1992

Với quy định mới của Hiến pháp năm 2013, có thể nói, tinh thần tăng cường phân công thực hiện quyền lập pháp cho Quốc hội còn được khẳng định mạnh mẽ hơn theo Hiến pháp năm 2013 Điều này được thể hiện ở chỗ Hiến pháp năm 2013 đề cao một bước vai trò của văn bản luật trong hệ thống pháp luật, đặc biệt là trong việc cụ thể hóa các quyền con người (QCN), quyền công dân Khoản 2, Điều 14, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.” QCN, quyền công dân là các quyền mang bản tính tự nhiên được công nhận trong hiến pháp Xét cho cùng tất cả các quy định của pháp luật có tác động tới người dân đều trực tiếp hoặc gián tiếp căn cứ trên các QCN, quyền công dân Quy định này, vì vậy, đem đến vai trò thực chất và nền tảng của các văn bản luật do Quốc hội ban hành trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Sự đề cao quyền lập pháp của Quốc hội còn được thể hiện thông qua việc quy định

rõ nét hơn về sự “phân công” thực hiện quyền lực giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương Lần đầu tiên, Hiến pháp 2013 đã định danh các cơ quan thực hiện các phân nhánh của quyền lực nhà nước, theo đó Chính phủ được chỉ đính danh Cơ quan thực hiện quyền hành pháp123, Tòa án nhân dân là Cơ quan thực hiện quyền tư pháp124, còn Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập pháp125 Về mặt từ ngữ, quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền lập pháp của Quốc hội không có thay đổi nhiều so với Hiến pháp năm 1992; song, cùng với việc gọi đích danh Chính phủ và Tòa án nhân dân là các cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp thì vai trò của Quốc hội trong việc thực hiện quyền lập pháp càng được đề cao một cách rõ nét

2 Các quy định thể chế hóa Hiến pháp năm 2013 về tăng cường quyền lập pháp của Quốc hội

Tinh thần tăng cường quyền lập pháp của Quốc hội đã được thể chế hóa trong các đạo luật, cụ thể là Luật ban hành VBQPPL năm 2015 Sự cụ thể hóa này thể hiện đậm nét ở hai góc độ sau

Thứ nhất, Luật ban hành VBQPPL năm 2015 đã cố gắng phân định và qua đó thể hiện

rõ hơn mối quan hệ phụ thuộc giữa các đạo luật và các nghị định, thông tư có liên quan

Căn cứ trên tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Luật ban hành VBQPPL năm 2015 cũng thể hiện rõ hơn sự phân công thực hiện quyền lập pháp của Quốc hội Từ trước tới nay trong các loại văn bản QPPL dưới luật của hệ thống pháp luật Việt Nam thì số lượng nhiều nhất và dễ có khả năng “lấn át” vai trò của luật nhất là nghị định của Chính phủ và thông tư

của các Bộ, Cơ quan ngang bộ Luật ban hành văn bản QPPL năm 2008, được ban hành theo

Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), chưa có sự phân định rõ vai trò của nghị định và thông tư Điều 14 của luật này quy định Chính phủ ban hành nghị định để:

- Quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội …;

122 Điều 104, Hiến pháp năm 2013

123 Điều 94, Hiến pháp năm 2013

124 Khoản 1, Điều 102, Hiến pháp năm 2013

125 Điều 69, Hiến pháp năm 2013

Trang 3

- Quy định các biện pháp cụ thể để thực hiện chính sách trong tất cả các lĩnh vực mà Chính phủ phụ trách…

Điều 16, Luật ban hành văn bản QPPL năm 2008 quy định các Bộ, Cơ quan ngang bộ ban hành thông tư để:

- Quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội …;

- Quy định về quy trình, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật của ngành, lĩnh vực do mình phụ trách;

Căn cứ vào nội dung của Điều 14 và Điều 16 trên đây có thể thấy Luật ban hành văn bản QPPL năm 2008 đã không phân địch rõ ranh giới về mặt nội dung giữa văn bản luật, nghị định và thông tư cũng như chưa xác định rõ ràng mối quan hệ giữa các loại hình văn bản QPPL này trong công tác xây dựng pháp luật nói chung

Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015 có những quy định rất khác về vấn đề này

Điều 19, Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015 quy định Chính phủ ban hành nghị để:

- Quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội

…;

- Các biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; các biện pháp để thực hiện chính sách kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường

Điều 24, Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015 quy định các Bộ, Cơ quan ngang bộ ban hành thông tư để:

- Quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội,

pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ;

- Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình

Qua các quy định trên đây có thể thấy được tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về việc tăng cường sự phân công thực hiện quyền lập pháp cho Quốc hội đã được cụ thể hóa ở Luật ban hành VBQPPL năm 2015 Giờ đây, các nghị định, thông tư chỉ được ban hành để quy định chi tiết các điều, khoản, điểm của luật khi luật đó có điều khoản giao cụ thể cho Chính phủ hoặc các Bộ, Cơ quan ngang bộ thẩm quyền ban hành các văn bản tương ứng để quy định chi tiết hoặc cụ thể hóa Nếu luật không có điều khoản giao một cách rõ ràng thì Chính phủ, các Bộ, Cơ quan ngang bộ sẽ không được ban hành nghị định, thông tư quy định chi tiết luật đó Với quy định này thực sự đã thể hiện rất rõ sự phân công cho Quốc hội thực hiện quyền lập pháp Có thể nói đây là sự cụ thể hóa trực tiếp tinh thần của khoản 2, Điều 14, Hiến pháp năm 2013

Thứ hai, Luật ban hành VBQPPL năm 2015 tiếp tục đề cao vai trò chủ động làm luật của Quốc hội trong quy trình làm luật

Điều này thể hiện trong các quy định của Luật ban hành VBQPPL năm 2015 về trình tự xem xét, thông qua dự án luật tại kỳ họp Quốc hội Quy trình hiện nay được quy định tại Điều 74, 74, 76 Luật ban hành VBQPPL theo đó có các quy trình làm luật tương ứng tại 1 kỳ họp, 2 kỳ họp và 3 kỳ họp Cho dù quy trình thông qua là 1 hay 3 kỳ họp thì vai trò của Quốc hội, thông qua các cơ quan của Quốc hội, luôn thể hiện một cách nổi trội

là cơ quan thực sự làm dự thảo luật, làm luật, chứ không chỉ là phê duyệt, thông qua luật Ở

cả ba quy trình làm luật đều xuất hiện các chủ thể chính có thể tác động tới sự thay đổi nội dung của dự thảo luật, bao gồm:

Trang 4

- Cơ quan trình dự án luật (sau đây gọi là “Cơ quan soạn thảo”): đây là cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội có thẩm quyền và được Quốc hội giao khởi sự soạn thảo dự án, dự thảo luật và trình dự án, dự thảo luật lên Quốc hội Có thể nói đây là tác giả của dự thảo đầu tiên của luật

- Uỷ ban thường vụ Quốc hội – Cơ quan thường trực của Quốc hội

- Cơ quan chủ trì thẩm tra dự án, dự thảo luật khi dự án, dự thảo luật được cơ quan trình dự án luật chính thức trình dự án luật ra Quốc hội Cơ quan chủ trì thẩm tra chính là Hội đồng dân tộc hoặc một trong số các uỷ ban của Quốc hội

Nếu dự án luật được làm theo quy trình 1 kỳ họp, sau khi Cơ quan soạn thảo trình dự

án luật lên Quốc hội thì UBTVQH sẽ phân công một trong số các cơ quan của Quốc hội làm

Cơ quan chủ trì thẩm tra dự án luật Để Quốc hội có cơ sở thảo luận dự án luật tại phiên họp toàn thể thì Cơ quan thẩm tra sẽ trình bày báo cáo thẩm tra dự án luật.126 Sau khi dự án luật

đã được Quốc hội thảo luận, cho ý kiến thì các ý kiến này do chính Cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì tích hợp vào dự thảo luật Cơ quan soạn thảo lúc này không còn kiểm soát nội dung của dự thảo luật mà mình là tác giả ban đầu.127 Tiếp đó, dự thảo luận sẽ do Cơ quan chủ trì thẩm tra đưa ra UBTVQH để UBTVQH trình ra Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo.128

Giai đoạn kể từ khi đại biểu Quốc hội góp ý thì dự thảo luật do UBTVQH và các cơ quan khác của Quốc hội kiểm soát nội dung và quyết định trình ra Quốc hội thông qua cuối cùng

Nếu dự án luật được thông qua tại 2 kỳ họp thì giai đoạn diễn ra ở kỳ họp thứ nhất giống hoàn toàn với các thủ tục diễn ra ở quy trình 1 kỳ họp nêu trên.129 Kể từ sau kỳ họp thứ nhất cho tới khi Quốc hội thông qua dự án luật, UBTVQH và Cơ quan chủ trì thẩm tra là các chủ thể chi phối nội dung của dự thảo luật Nói một cách hình ảnh, trong giai đoạn này dự thảo luật hoàn toàn “nằm” tại Quốc hội Giữa hai kỳ họp Quốc hội, UBTVQH chỉ đạo Thường trực của Cơ quan chủ trì thẩm tra tiến hành công tác nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật và xây dựng dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật Sau đó, UBTVQH xem xét thảo luận về dự án luật và gửi đến Đoàn Đại biểu Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội để lấy ý kiến Các ý kiến có được cũng sẽ do Cơ quan chủ trì thẩm tra tổng hợp và tích hợp vào dự thảo luật.130 Tại kỳ họp thứ hai, UBTVQH là chủ thể trình dự thảo luật ra Quốc hội để thông qua.131

Đối với trường hợp làm luật theo quy trình 3 kỳ họp, Cơ quan soạn thảo dự án luật sẽ kiểm soát dự thảo luật trong giai đoạn trình ra kỳ họp nhứ nhất và kỳ họp thứ hai của Quốc hội Những ý kiến góp ý đối với dự án luật tại kỳ họp thứ nhất do cơ quan này chỉnh lý, tiếp thu vào

dự thảo luật Tại kỳ họp thứ 2, cũng chính Cơ quan soạn thảo trình dự án luật để Quốc hội xem xét.132 Tuy nhiên, kể từ khi dự án luật được trình tại kỳ họp thứ 2 và những bước sau đó thì quy trình xử lý đối với dự án luật được áp dụng giống như quy trình áp dụng đối với thủ tục thông qua tại 2 kỳ họp Có nghĩa là, sau kỳ họp thứ hai, dự thảo luật do Cơ quan chủ trì thẩm tra của Quốc hội tiếp quản Cơ quan này tiếp thu ý kiến góp ý, chỉnh lý, bổ sung theo chỉ đạo của UBTVQH để UBTVQH trình dự án luật ra Quốc hội tại kỳ họp thứ 3.133

126 Khoản 1-5, Điều 74, Luật ban hành VBQPPL năm 2015

127 Khoản 6, Điều 74, Luật ban hành VBQPPL năm 2015

128 Khoản 7, Điều 74, Luật ban hành VBQPPL năm 2015

129 Khoản 1 Điều 75, Luật ban hành VBQPPL năm 2015

130 Khoản 2, Điều 75, Luật ban hành VBQPPL năm 2015

131 Khoản 3, Điều 75, Luật ban hành VBQPPL năm 2015

132 Khoản 2, 3, Điều 76, Luật ban hành VBQPPL năm 2015

133 Khoản 4, 5, Điều 76, Luật ban hành VBQPPL năm 2015

Trang 5

Mặc dù có thêm quy trình làm luật tại 3 kỳ họp, song quy định về quy trình làm luật còn lại của Luật ban hành VBQPPL năm 2015 về cơ bản kế thừa Luật ban hành VBQPPL năm 2008 (Điều 52, 53) và thậm chí là Luật sửa đổi, bổ sung Luật ban hành văn bản QPPL năm 2002 (Điều 45a, 45b) Do đó, khó có thể nói các quy trình này trong Luật ban hành VBQPPL năm 2014 chỉ là sự thể chế hóa điểm mới của Hiến pháp năm 2013 về tăng cường quyền lập pháp của Quốc hội, song trong bối cảnh nhấn mạnh phân công quyền lực trong Hiến pháp năm 2013 thì sự tiếp tục duy trì các quy trình này, và bổ sung quy trình 3 kỳ họp theo cùng công thức cho thấy rõ nét quan điểm tăng cường quyền lập pháp của Quốc hội ở Hiến pháp năm 2013 và Luật ban hành VBQPPL năm 2015

3 Đánh giá chung, nguyên nhân và giải pháp

Có thể thấy, sự thể chế hoá quan điểm tăng cường quyền lập pháp của Quốc hội theo quy định của Hiến pháp năm 2013 có cả ưu điểm và bất cập Sự phân định vai trò của loại hình văn bản Nghị định và Thông tư trong mối quan hệ với Luật là một kết quả đáng kể Mặc

dù Luật ban hành VBQPPL năm 2015 chưa quy định rõ “quy định chi tiết điều, khoản điểm được giao trong luật ” nghĩa là như thế nào, song như vậy cũng đã tạo ra thông điệp rằng các cơ quan hành chính ở trung ương không còn được ban hành các văn bản với nội dung tuỳ nghi như trước Dẫu sao, sự thể chế hoá hay cả ở điểm này cũng chưa thực sự hoàn thiện bởi Luật năm 2015 vẫn quy định rằng nghị định, thông tư có thể ban hành các biện pháp cụ thể

để “tổ chức thi hành Hiến pháp, luật ”134 hay để “thực hiện chức năng quản lý nhà nước”135

mà các cụm từ này vẫn chưa được định nghĩa một cách rõ ràng Đây có thể coi là một bất cập nhỏ trong một tổng thể kết quả lớn

Việc “cắt khúc” quy trình lập pháp căn cứ theo chủ thể trực tiếp kiểm soát, hay nói một cách khác là chủ thể trực tiếp thao tác kỹ thuật đối với dự án luật, lại là một bất cập lớn khi thể chế hoá các quy định về quyền lập pháp của Hiến pháp năm 2013 Sự cắt khúc đó làm cho tính trách nhiệm của các cơ quan có liên quan, vì lý do khách quan và chủ quan, không thực sự phát huy đầy đủ để bảo đảm chất lượng, tính hợp pháp và hợp lý của dự án luật trước khi trình Quốc hội thông qua Đây chính là lý do dẫn tới khá nhiều bất cập trong chất lượng của các luật đã được Quốc hội thông qua trong thời gian vừa qua

Nguyên nhân của bất cập thứ nhất có lẽ nằm ở chỗ chưa có sự phân định một cách tường minh mối quan hệ về mặt nội dung giữa Nghị định, Thông tư và Luật, Nghị quyết của Quốc hội Liệu chỉ khi nào Luật giao thì Nghị định, Thông tư mới được quy định? Liệu Chính phủ, Bộ và Cơ quan ngang bộ có khoảng tự quyết nào để ban hành các quy định trong Nghị định, Thông tư hay không? Mối quan hệ này thực ra là một vấn đề lớn của khoa học pháp lý bởi lâu nay trong khoa học pháp lý vẫn quan niệm theo lối hình thức, nghĩa là mặc nhiên thừa nhận Chính phủ có quyền ban hành nghị định, các Bộ và Cơ quan ngang bộ có quyền ban hành thông tư mà ít khi quan tâm làm rõ nội dung của văn bản mang tên gọi

“Nghị định” hay “Thông tư” đó phải hay chỉ chứa đựng những nội dung gì trong mối quan

hệ với văn bản mang tên “Luật” cũng như các nguồn khác của của hệ thống pháp luật Để giải quyết bất cập này về mặt bản chất có lẽ cần đặt mối quan hệ giữa “Nghị định”, “Thông tư” với “Luật” trong mối quan hệ Ủy quyền lập pháp và dưới lăng kính của chức năng hành pháp mà Chính phủ và các Bộ, Cơ quan ngang bộ phải thực hiện

Đối với bất cập thứ hai, nguyên nhân nằm ở chỗ hiện chưa thực sự có sự nhận thức thấu đáo và đồng bộ về mối quan hệ giữa Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan của hai cơ

134 Khoản 2, Điều 19, Luật ban hành VBQPPL năm 2015

135 Khoản 2, Điều 24, Luật ban hành VBQPPL năm 2015

Trang 6

quan này phải như thế nào trong khung cảnh của quy trình xây dựng luật nhằm đích có được những luật có chất lượng tốt nhất Liệu “Quốc hội làm luật” có nghĩa là Quốc hội thực sự làm luật, theo nghĩa đen, hay Quốc hội phê chuẩn phương án điều chỉnh được đệ trình lên còn thực sự công tác biên tập lời văn của luật là công việc của cơ quan khác? Nói cách khác, liệu để có được luật có chất lượng tốt thì Quốc hội, thông qua các cơ quan của Quốc hội, phải là cơ quan trực tiếp viết ra luật, chỉnh sửa lời văn của luật, còn chủ thể là tác giả ban đầu của dự thảo luật chỉ là người góp ý sau khi dự thảo đó đã được trình lên Quốc hội? Trả lời thấu đáo những câu hỏi này sẽ giúp có được giải pháp cho bất cập nêu trên./

Ngày đăng: 07/05/2021, 21:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w