Lời giới thiệu Đọc hiểu là một trong những hoạt động cơ bản của con người nhằm mục đíchchiếm lĩnh tri thức văn hóa, từ khi có chữ viết, loài người đã có thể ghi lại lịch sử vănminh của m
Trang 1Tên sáng kiến: NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO KỸ NĂNG ĐỌC
HIỂU CHO HỌC SINH THPT
Tác giả sáng kiến: Nguyễn Thị Trang
Mã sáng kiến: 22.51.01
Trang 2MỤC LỤC
5 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử 4
8 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến 42
9 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do
áp dụng sáng kiến
42
10 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do
áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả
43
11 Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử
hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu
44
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Đọc hiểu là một trong những hoạt động cơ bản của con người nhằm mục đíchchiếm lĩnh tri thức văn hóa, từ khi có chữ viết, loài người đã có thể ghi lại lịch sử vănminh của mình, do đó, các sản phẩm thành văn tự cổ chí kim đều mang dấu ấn củathời đại, là nguồn tri thức văn hóa vô tận được hun đúc trong từng con chữ Dù ngàynay, hoạt động đọc đã không còn là con đường duy nhất, song vẫn luôn là con đường
Trang 3chủ yếu giúp con người có được sự hiểu biết về thế giới Khái niệm đọc hiểu có nộihàm khoa học phong phú với nhiều loại hình văn bản khác nhau, trong đó, hoạt độngđọc hiểu tác phẩm văn chương có một ý nghĩa và vị trí vô cùng đặc biệt so với các
loại văn bản khác Bởi văn học là nhân học, đọc văn không chỉ để hiểu văn mà “văn
học còn giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng hướng tới chân lý” (M.Gorki) Đọc –
hiểu tác phẩm văn học không chỉ góp phần giúp con người phát triển toàn diện cácnăng lực tinh thần của mình mà còn có tác động đến quá trình hoàn thiện nhân cách,bồi dưỡng những phầm chất đáng quý và làm đời sống tinh thần của mỗi người rộng
mở và phong phú biết bao nhiêu
Trong chương trình môn Ngữ văn bậc THPT hiện hành, các tiết đọc –hiểu văn bản, trong đó bao gồm cả văn bản văn học và văn bản nhật dụng, chiếmmột số lượng tương đối lớn Kĩ năng đọc – hiểu văn bản cũng là một kĩ năng cơbản mà giáo viên dạy Ngữ văn cần phải hình thành cho học sinh trong suốt quátrình học tập Vài năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều cải tiếntrong công tác thi cử, các đề văn “mở” hơn và yêu cầu đối với kĩ năng đọc –hiểu đối với họcsinh cũng được chú ý nhiều hơn Đặc biệt, trong năm học 2014
– 2015, với sự chỉđạo “đổi mới dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
theo định hướng phát triển năng lực học sinh”, các bài tập đọc hiểu trở thành
một phần không thể thiếu trong các đề thi, đề kiểm tra, thi THPT Quốc gia Đọchiểu văn bản theo để thi hiện hành, không ra đề ở phạm vi các tác phẩm trongchương trình sách giáo khoa Tiếp cận những tác phẩm văn học ngoài chươngtrình, nhất là những tác phẩm đương đại, sẽ mang đến hơi thở tươi mới chonhững bài viết văn, cho tư duy cảm xúc văn chương và sự sáng tạo của học sinh.Hơn thế nữa, phối kết hợp việc đọc hiểu các văn bản trong và ngoài chươngtrình, không chỉ nhằm mục đích đọc văn, làm văn, mà quan trọng hơn, đó là họccách tư duy, học cách cảm nhận, học cách sống làm người
Với những lý do kể trên, người viết đã tiến hành viết đề tài: Những giải pháp nâng cao kỹ năng đọc hiểu cho học sinh THPT Với mục đích tìm hiểu
Trang 4và đúc rút một số kinh nghiệm về việc rèn kỹ năng đọc hiểu cho học sinh THPT.Chuyên đề là kết quả của những kinh nghiệm cá nhân còn non nớt cùng với sựtham khảo ý kiến, sách vở tài liệu từ các chuyên gia và đồng nghiệp, hy vọng cóthể hữu ích đôi chút trong việc dạy – học Ngữ văn cho học sinh.
2 Tên sáng kiến: Những giải pháp nâng cao kỹ năng đọc hiểu cho học sinh
THPT
3 Tác giả sáng kiến: Nguyễn Thị Trang – GV trường THPT Nguyễn Viết Xuân
4 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Giảng dạy cho học sinh THPT và học sinh chuẩn bị thi THPT Quốc Gia
5 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc thử nghiệm:
Trang 5kĩ năng đọc hiểu văn bản và kĩ năng viết văn bản Đề thi gồm hai phần: Đọc hiểu
và Tự luận (làm văn), trong đó tỷ lệ điểm của phần viết nhiều hơn phần Đọc hiểu.
Ngày 15/04/2014, Bộ GD & ĐT gửi văn bản đến các Sở GD&ĐT, cáctrường THPT trong cả nước về hướng dẫn ôn thi tốt nghiệp cho học sinh THPT.Đây là hướng đổi mới kiểm tra đánh giá sự ghi nhớ những kiến thức của họcsinhchuyển sang kiểm tra đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh (tự mìnhkhám phá văn bản) Cũng từ năm đó dạng câu hỏi Đọc hiểu bắt đầu được đưavào đề thi để thay thế cho dạng câu hỏi tái hiện kiến thức Có thể nói đây là sựđổi mới tích cực trong cách ra đề Ngữ văn theo định hướng mới Nếu dạng câuhỏi tái hiện kiến thức chỉ có thể kiểm tra học sinh ở mức nhận biết, thông hiểu,
có biết, hiểu, nắm được những kiến thức văn học đã được dạy trong chươngtrình hay không thì dạng câu hỏi Đọc hiểu đã nâng cao hơn một mức vận dụngthấp, vận dụng sáng tạo, kiểmtra, phát triển được năng lực tự cảm nhận một vănbản bất kì (có thể văn bản đó hoàn toàn xa lạ đối với các em) Như vậy, có thểthấy, bên cạnh việc ôn tập, rèn kỹ năng viết phần tự luận thì việc ôn tập và rèn
kỹ năng làm dạng câu hỏi đọc hiểu là điều cần thiết phải trang bị cho học sinh
6.2 Cơ sở thực tiễn
Câu hỏi Đọc hiểu là một kiểu dạng khá mới mẻ được đưa vào đề thiTHPT Quốc gia nên chưa được cụ thể hóa thành một bài học riêng trong chươngtrình Ngữ văn bậc trung học phổ thông Dạng này cũng không có nhiều tài liệu,bài viết chuyên sâu để tham khảo Nó chưa “lộ diện” thành một bài cụ thể trongsách giáo khoa, hơn nữa kiến thức đọc hiểu nằm rải rác trong chương trình họcmôn Văn từ cấp II đến cấp III Chính vì thế mà không ít giáo viên ôn thi THPTQuốc gia tỏ ra lúng túng khi hướng dẫn học sinh làm bài Điều đó cũng ảnhhưởng ít nhiều đến chất lượng, kết quả bài thi của học sinh
Đọc hiểu văn bản là một trong hai phần bắt buộc có trong một đề thiTHPT Quốc gia Phần này tuy không chiếm phần lớn số điểm nhưng lại có vị trírất quan trọng bởi nó quyết định điểm cao hay thấp trong một bài thi Nếu học
Trang 6sinh làm sai hết phần này thì chắc chắn điểm toàn bài còn lại dù có tốt mấy cũngchỉ đạt khoảng 6,0 điểm Ngược lại nếu học sinh làm tốt phần đọc hiểu các em
sẽ có nhiều cơ hội đạt điểm văn 7,0 hoặc 8,0 Như vậy phần Đọc hiểu góp phầnkhông nhỏ vào kết quả thi môn Văn cũng như tạo cơ hội cao hơn cho các em xéttuyển Đại học Có thể nói ôn tập và làm tốt phần Đọc hiểu chính là giúp các em
gỡ điểm cho bài thi của mình Vì vậy việc ôn tập bài bản để các em học sinh lớp
12 làm tốt phần đọc –hiểu, làm tốt bài thi của mình càng trở nên cấp thiết
Xuất phát từ quan điểm lấy người học làm trung tâm, giáo viên không nên tậptrung vào việc cung cấp kiến thức một chiều mà phải cung cấp chìa khóa đểhọcsinh tìm đến với kiến thức, nói các khác là cung cấp phương pháp để học sinhbiết cách đọc hiểu một văn bản cụ thể, từ đó hình thành năng lực tự mình đọchiểucác văn bản khác Để giúp học sinh làm tốt các bài tập đọc hiểu, giáo viêncần giúp học sinhnắm được thế nào là hiểu một văn bản; Các yêu cầu và hìnhthức kiểm tra cụ thể về đọc hiểu; Lựa chọn những văn bản phù hợp với trình độnhận thức và năng lực củahọc sinh; Xây dựng hệ thống các loại câu hỏi phù hợptheo 4 mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp và vận dụng cao… Giáo viêncần giúp học sinh đạt được các mức độ hiểu như: Nắm được nội dung chính vàcác thông tin quan trọng của văn bản; Nhận diện và hiểu được vai trò, tác dụngcủa các hình thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản; Hiểu được các tầng ýnghĩa của văn bản được tác giả gửi gắm sau câu chữ; Đánh giá được giá trị củanhững nội dung và hình thức biểu hiện của văn bản; Bước đầu vận dụng những gìhiểu được vào giải quyết các tình huốngtương tự trong bọc tập và cuộc sống
Những đề xuất của người viết trong phạm vi của SKKN này chỉ mới dừnglại ở việc cải tiến các giải pháp đã có, ứng dụng vào thực tế của trường THPTNguyễn Viết Xuân, mục đích chủ yếu là giúp nâng cao năng lực đọc hiểu vănbản cho học sinh, từ đó cũng góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Ngữvăn trong trường Những nội dung khác liên quan đến tài còn khuyết thiếu,chúng tôi sẽ cố gắng đề cập một cách đầy đủ và toàn diện hơn trong thời giansắp tới
Trang 76.3 Một số giải pháp nâng cao kĩ năng đọc – hiểu cho học sinh THPT
6.3.1 Thực trạng vấn đề đọc hiểu văn bản của học sinh THPT
Nhận thức được tầm quan trọng của Đọc hiểu nhưng thực tế việc rèn kĩnăng đọc hiểu văn bảN cho học sinh còn nhiều khó khăn và bất cập
6.3.1.1 Về phía nội dung chương trình ôn thi tốt nghiệp THPT
Phần nội dung chương trình Ngữ văn lớp 12 tất cả các tác phẩm đều nằmtrong nội dung ôn tập thi tốt nghiệp THPT Tuy nhiên có một số tác phẩm tiêubiểu đặc sắc cần lưu ý trong quá trình ôn thi cho học sinh Đặc biệt có một số tácphẩm mang tính biểu tượng cao như Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo mangmàu sắc tượng trưng, siêu thực; Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châuvới hình tượng chiếc thuyền mang ẩn ý sâu sắc về mối quan hệ giữa nghệ thuật vàcuộc đời Đó cũng là hai tác phẩm mới được đưa vào chương trình sách giáo khoasau khi chỉnh lí sách Để học sinh hiểu được ý nghĩa sâu sắc của văn bản, nhất làvới đối tượng học sinh người dân tộc thiểu số thì cũng là một quá trình
Những tác phẩm văn học thời kì kháng chiến chống Pháp, thời kì chống
Mĩ đều có điểm chung là ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng Riêng tácphẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu hướng về đề tài đời tư thế
sự và vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt mang quan điểm sống sâu sắc Tuynhiên trong quá trình học mặc dù được giáo viên hướng dẫn nhưng không phảihọc sinh nào cũng nắm được tinh thần chung của tác phẩm
Trong chương trình học, ngoài Văn học Việt Nam học sinh còn được họcVăn học nước ngoài Thuốc của Lỗ Tấn với hình tượng Thuốc, Số phận conngười của Sô-lô-khốp với tính cách Nga và đoạn trữ tình ngoại đề xúcđộng, Ông già và biển cả của Hê-minh-uê với hình tượng con cá kiếm, cuộc đisăn của ông lão Xan-ti-a-gô Văn học nước ngoài sử dụng nhiều hình ảnh tượngtrưng và ý nghĩa nhân sinh sâu sắc nên nếu vốn hiểu biết ít sẽ không lĩnh hộiđược ý nghĩa từ những dụng ý đó
Trang 8Từ năm 2014, trước thực trạng nhiều học sinh không còn đam mê mônVăn, Bộ giáo dục đã mở rộng chương trình thi tốt nghiệp ra ngoài sách giáokhoa, cho học sinh có cơ hội khám phá những tác phẩm mới, đây vừa là cơ hộinhưng đồng thời cũng là thách thức đối với cả giáo viên và học sinh Không chỉvậy, vốn hiểu biết về kiến thức xã hội cũng được kiểm tra trong kỳ thi tốt nghiệpnày điều này đòi hỏi người đọc cần trang bị kiến thức xã hội nóng hổi hằng ngàycho mình.
6.3.1.2 Về phía học sinh
Chương trình lớp 12 vốn nặng, lại áp lực thi tốt nghiệp nhưng nhiều họcsinh lại tỏ ra chểnh mãng việc học Bên cạnh đó một bộ phận các em lại khônghứng thú với môn văn cho nên vẫn chưa chủ động khám phá kiến thức, chưa chủđộng lên kế hoạch ôn thi tốt nghiệp cho bản thân Nhiều học sinh còn khôngnắm được cốt truyện, thường xuyên xuyên tạc nội dung tác phẩm trong các bàithi, kiểm tra
Một thực trạng hiện nay là học sinh không hào hứng với những tác phẩm
đã được thẩm định là hay, giàu giá trị, mà với tư cách là công chúng của vănhọc, nhu cầu thẩm mĩ của các em chưa thực cao để hướng đến tiếp cận nhữnggiá trị mà thầy cô mong muốn các em đạt đến
Một bộ phận nữa là những học sinh có năng khiếu, có lòng ham thích vànhu cầu đọc các tác phẩm văn học ngoài chương trình, nhưng các em chưa đượcdạy cách đọc thật sự hiệu quả và bài bản, vì vậy hoạt động đọc hiểu thiếu đinhững kĩ năng cần thiết, kết quả của hoạt động đọc hiểu còn hạn chế
Một bộ phận học sinh chưa chăm học, chăm đọc sách để tích lũy kiếnthức và tăng khả năng tư duy Trong khi đó, để chiếm lĩnh một tác phẩm văn họcvới đầy đủ giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật lại đòi hỏi học sinh phải có nănglực tư duy và tích hợp nhiều vốn kiến thức
6.3.1.3 Về phía giáo viên
Không chỉ với học sinh mà ngay cả với giáo viên cũng gặp nhiều lung túng
và lo lắng trong quá trình ôn thi cho các em Trong khi tiếp cận với những tác
Trang 9phẩm hay, mang nhiều giá trị nhân sinh, nhân đạo sâu sắc nhiều giáo viên thamphần bình mà giành mất phần kích thích khả năng sáng tạo cho của các em.
Hệ thống câu hỏi trong quá trình ôn thi cũng chưa thật sự đổi mới theotinh thần đổi mới Với cấu trúc ra đề thi bằng cách kiểm tra kỹ năng đọc hiểu, ra
đề mở đối với phần nghị luận văn học, tuy nhiên nhiều giáo viên vẫn chưa chú ýđến hệ thống câu hỏi theo kiểu mở trong quá trình ôn thi
Thời gian ôn thi cũng là vấn đề, tuy nhiên trong quá trình dạy học giáoviên vẫn chưa kết hợp nhuần nhuyễn giữa học và ôn nên cuối phần phụ đạo cònlúng túng về thời gian
Những thực trạng trên cho thấy rằng cần có những biện pháp cụ thể, ápdụng triệt để trong giờ ôn thi thì mới có thể đạt được kết quả cao trong kỳ thi tốtnghiệp và cũng phần nào đó giúp học sinh có thêm đam mê hơn với bộ mônNgữ văn
6.3.2 Một số giải pháp cụ thể
Giáo sư Trần Đình Sử đã từng khẳng định: “Khởi điểm của môn Ngữ văn
là dạy học sinh đọc hiểu trực tiếp văn bản văn học của nhà văn… Nếu học sinh không trực tiếp đọc các văn bản ấy, không hiểu được văn bản, thì coi như mọi yêu cầu, mục tiêu cao đẹp của môn Văn đều chỉ là nói suông, khó với tới, đừng nói gì tới tình yêu văn học” Do đó, có thể nói rèn luyện năng lực, kĩ năng đọc – hiểu
văn bản cho học sinh là một trong những yêu cầu quan trọng, khoa học và đúngđắn để các em tiếp cận môn Ngữ văn, đánh thức tình yêu đối với môn Văn và cókhả năng vận dụng sáng tạo kiến thức đã học trong nhà trường vào cuộc sống Vậy muốn làm tốt các em cần rèn luyện tốt kĩ năng đọc – hiểu Chúng tôiđưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao kĩ năng đọc hiểu cho học sinh THPT nhưsau:
6.3.2.1 Giải pháp 1: Hướng dẫn học sinh thực hiện các thao tác đọc – hiểu một văn bản ngắn
Trang 10Giải pháp này (cũng như các giải pháp khác ở phần sau) được thực hiệnchủ yếu trong các tiết luyện tập, ôn tập, các tiết tăng thêm trong chương trình,ngoài ra cũng có kết hợp thực hiện trong các tiết dạy chính khóa.Giáo viênhướng dẫn cho học sinh thực hiện việc đọc hiểu một văn bản theo trình tự cácbước như sau:
Bước 1: Đọc văn bản (đọc toàn bộ 1 lần) và phân loại văn bản Đây là
điều tưởng như đơn giản nhưng rất quan trọng, bởi vì mỗi loại văn bản sẽ cócách đọc hiểu và yêu cầu đọc hiểu khác nhau Học sinh cần nhận diện được vănbản văn học (văn bản nghệ thuật) hay là văn bản thông tin; thuộc thể loại nào:truyện, thơ,kí, … hoặc bản tin báo chí, bài viết nghiên cứu khoa học…
Bước 2: Tìm hiểu nội chính của văn bản bằng cách xác định câu chủ
đề,các từ ngữ quan trọng và tần suất xuất hiện của chúng, tìm các ý chính…;tóm tắtcác ý chính bằng những câu văn ngắn gọn
Bước 3: Nhận diện các hình thức biểu đạt trong văn bản, chỉ ra các yếu
tốhình thức nổi bật nhất và phân tích tác dụng của chúng (tùy theo từng thể loạimàcó sự chú ý khác nhau)
Bước 4: Tìm hiểu mục đích và ý nghĩa của văn bản: Văn bản được viết để
làm gì? Người viết muốn nhấn mạnh, muốn gửi gắm điều gì?
Bước 5: Đánh giá giá trị của văn bản (đem lại cho ta điều gì: về mặt nhận
thức, về tư tưởng, tình cảm, về cảm thụ cái hay cái đẹp…)
* Lưu ý: Đây là quy trình chung có tính chất tổng thể Tùy theo mức độyêu cầu, độ dài và thời gian dành cho từng bài tập cụ thể, học sinh có thể khôngcần thực hiện hết hoặc đúng trình tự các bước trên nhưng phải nắm được và vậndụng thành thục tất cả các bước Sau khi học sinh nắm được ý nghĩa của từnghoạt động nêu trên, giáo viên tổ chức cho học sinh luyện tập thông qua các bàitập cụ thể Có loại bài tập yêu cầu học sinh thực hiện tất cả các bước trên Cóloại bài tập rèn một thao tác cụ thể.Trước mỗi tiết luyện tập, giáo viên có nhiệm
vụ chuẩn bị bài tập: bao gồmviệc chọn lựa văn bản (ngữ liệu có thể lấy trong
Trang 11SGK hoặc bên ngoài, mức độ nên đi từ dễ đến khó), thiết kế các câu hỏi theo cácmức độ và nội dung khác nhau,chuẩn bị đáp án…
Tiến hành luyện tập: giáo viên giao bài tập và đặt ra yêu cầu cho cácđốitượng học sinh khác nhau (câu hỏi vận dụng cao nên giao cho một vài emhọc khátrong lớp) Khuyến khích học sinh tự lực làm bài, tự trình bày đáp án vànêu căn cứ bảo vệ quan điểm của mình Giáo viên nhận xét, hướng dẫn cáchthức để có được đáp án tối ưu
VÍ DỤ: Đọc hiểu văn bản tự sự: Truyện ngắn Việt Nam 1945 đến 1975
dưới đây là bản mô tả mức độ đánh giá chủ đề theo định hướng năng lực:
Vận dụng Cấp độ thấp Cấp độ cao
- Nêu thông tin về tác
- Hiểu, lý giải ýnghĩa nhan đề
- Vận dụng hiểubiết về tác giả,tác phẩm để viếtđoạn văn giớithiệu về tác giả,tác phẩm
- So sánh cácphương diện nộidung nghệ thuậtcủa văn bản
- Nhận diện được
ngôi kể, trình tự kể
- Phân tích giọng kể,ngôi kể đối với việcthể hiện nội dung tưtưởng của tác phẩm
- Khái quát đượcđặc điểm phongcách của tác giả
từ tác phẩm
- Trình bày nhữngkiến giải riêng,phát hiện sáng tạo
sự kiện, mối quan hệgiữa các sự kiện
- Khái quát cácđặc điểm của thểloại từ tác phẩm
- Biết tự đọc vàkhám phá các giátrị của một vănbản mới cùng thể
Trang 12- Đánh giá khái quát
về nhân vật
- Trình bày cảmnhận về tác phẩm
- Vận dụng tri thứcđọc – hiểu văn bản
để tạo lập văn bảntheo yêu cầu
- Đưa ra những ýkiến quan điểmriêng về tác phẩm,vận dụng vào tìnhhuống, bối cảnhthực để nâng caogiá trị sống chobản thân
- Phát hiện, nêu tình
huống truyện
- Hiểu, phân tíchđược ý nghĩa củatình huống truyện
Thuyết minh vềtác phẩm
- Chuyển thể vănbản (vẽ tranh,đóng kịch )
- Nghiên cứu khoahọc, dự án
- Chỉ ra/kể tên/ liệt kê
được các chi tiết nghệ
thuật đặc sắc của mỗi
Ví dụ 1: Đọc đoạn văn sau đây và trả lời các câu hỏi:
“Ông đò Lai Châu bạn tôi làm nghề chở đò dọc sông Đà đã 10 năm liền…Tay ông lêu nghêu như cái sào Chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh gò lại
Trang 13như kẹp lấy cái cuống lái tưởng tượng Giọng ông nói ào ào như tiếng nướctrước mặtghềnh sông Nhỡn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng mong một cáibến xa nào đótrong sương mù…”
( trích Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân)
Câu 1: Đoạn văn được viết theo phong cách ngôn ngữ nào? Nội dung chínhđoạn văn?
Câu 2: Trong đoạn văn có sử dụng những biện pháp nghệ thuật nào? Biệnphápnào là nổi bật nhất? Nêu ngắn gọn điểm đặc sắc của biện pháp đó?
Câu 3: Qua miêu tả, tác giả muốn nhấn mạnh điều gì ở nhân vật ông lái đò ?
* Đáp án
Câu 1: Đoạn văn thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
Đoạn văn tập trung miêu ngoại hình đặc biệt của ông lái đò song Đà
Câu 2: Đoạn văn sử dụng các biện pháp so sánh, lặpcú pháp, sử dụng từ láy… Biện pháp nổi bật nhất là so sánh có tác dụng quan trọng nhất diễn tảhình ảnh ông lái đò hiện lên thật ấn tượng Đặc sắc nhất là các chi tiết ngoại hìnhông lái đò được so sánh, liên tưởng với các yếu tốnghề nghiệp trên sông nước(sào,cuống lái, tiếng nước, mong một bến xa)
Câu 3: Tác giả muốn nhấn mạnh lòng yêu nghề, sự gắn bó với nghề nghiệp trênsông nước của ông lái đò
Ví dụ 2: Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi:
CON LỪA GIÀ VÀ NGƯỜI NÔNG DÂN
Một ngày nọ, con lừa của một ông chủ trang trại xảy chân rơi xuống mộtcái giếng Con vật kêu la hàng giờ liền Người chủ trang trại cố nghĩ xem nênlàm gì Và cuối cùng ông quyết định: con lừa đã già và cái giếng cũng cần đượclấp lại và không ích lợi gì khi cứu con lừa lên cả Thế là ông nhờ vài người hàngxóm sang giúp mình
Họ xúc đất đổ vào giếng, con lừa như hiểu được chuyện gì đang xảy ra và
nó kêu la thảm thiết, sau hồi lâu, con lừa bỗng trở nên im lặng Sau một vàixẻng đất, ông chủ trang trại nhìn xuống giếng và ông vô cùng sửng sốt Mỗi khi
Trang 14bị một xẻng đất đổ lên lưng, lừa lắc mình cho đất rơi xuống và bước chân lêntrên Cứ như vậy, đất đổ xuống, lừa lại bước chân lên cao hơn Chỉ một lúc sau,mọi người nhìn thấy chú lừa xuất hiện trên miệng giếng và lóc cóc chạy
( Nguồn Internet)
Câu 1 : Xác định phương thức biểu đạt chính trong văn bản trên? (0,5 điểm)Câu 2 : Chỉ ra yếu tố miêu tả được sử dụng trong đoạn văn sau: Mỗi khi bị mộtxẻng đất đổ lên lưng, lừa lắc mình cho đất rơi xuống và bước chân lên trên Cứnhư vậy, đất đổ xuống, lừa lại bước chân lên cao hơn Chỉ một lúc sau, mọingười nhìn thấy chú lừa xuất hiện trên miệng giếng và lóc cóc chạy (1,0 điểm)Câu 3: Sự khác nhau trong quyết định của người nông dân và con lừa là gì? (1,0điểm)
Câu 4: Văn bản trên muốn gửi đến bạn đọc thông điệp gì? (0,5 điểm)
* Đáp án
Câu 1.Phương thức biểu đạt tự sự
Câu 2 Yếu tố miêu tả được sử dụng trong đoạn trích trên:
- lừa lắc mình cho đất rơi xuống và bước chân lên trên
- đất đổ xuống, lừa lại bước chân lên cao
- lóc cóc chạy
Câu 3 Sự khác nhau trong quyết định của người nông dân và con lừa:
- Người nông dân nhanh chóng buông xuôi và bỏ cuộc
- Con lừa khôn ngoan, dùng chính những xẻng đất muốn vùi lấp nó để tự giúpmình lên khỏi giếng
Câu 4 Thông điệp: Biết vượt qua thử thách., Cách đối mặt với thử thách
Ví dụ 3 : Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
“Thành công và thất bại chỉ đơn thuần là những điểm mốc nối tiếp nhautrong cuộc sống để tôi luyện nên sự trưởng thành của con người Thất bại gúpcon người đúc kết được kinh nghiệm để vươn tới chiến thắng và khiến nhữngthành công đạt được thêm phần ý nghĩa
Trang 15Không có ai luôn thành công hay thất bại, tuyệt đối thông minh hay dạikhờ, tất cả đều phụ thuộc vào nhận thức, tư duy tích cực hay tiêu cực của mỗingười Như chính trị gia người Anh, Sir Winston Churchill, từng nói: “Người biquan nhìn thấy khó khăn trong mỗi cơ hội, còn người lạc quan nhìn thấy cơ hộitrong mỗi khó khăn” Sẽ có những người bị ám ảnh bởi thất bại, bị chúng bủavây, che lấp những cơ hội dẫn tới thành công Tuy nhiên đừng sa vào vũng lầy biquan đó, thất bại là một lẽ tự nhiên và là một phần tất yếu của cuộc sống Đó làmột điều bạn không thể tránh khỏi, nếu không muốn nói thực sự là trải nghiệm
mà bạn nên có trong đời Vì vậy, hãy thất bại một cách tích cực”
(Sưu tầm Internet)
Câu 1 Xác định phương thức biểu đạt của đoạn trích?
Câu 2 Nêu chủ đề chính của đoạn trích?
Câu 3 Tác giả khuyên chúng ta cần có thái độ ra sao trước thất bại?
Câu 4 Anh/ chị có đồng tình với quan điểm: “Thất bại giúp con người đúc kếtđược kinh nghiệm để vươn tới chiến thắng và khiến những thành công đạt đượcthêm phần ý nghĩa.”? Vì sao?
* Đáp án
Câu 1 Phương thức biểu đạt được dùng trong văn bản: nghị luận
Câu 2 Chủ đề của đoạn trích: nói về sự tất yếu của thành công và thất bại trongcuộc sống của con người
Câu 3 Tác giả khuyên “đừng sa vào vũng bùn bi quan”; “hãy thất bại một cách
Trang 16bản về vấn đề đã học (là yêu cầu chính), GV có thể có những bài tập đọc – hiểutrong quá trình giảng dạy.Thông qua đó, vừa cung cấp kiến thức mới, củng cốkiến thức cũ, vừa rèn kĩ năngđọc hiểu cho HS.
6.3.2.2 Giải pháp 2: Vận dụng kiến thức thể loại vào việc đọc hiểu văn bản
Một trong những nét mới của chương trình và SGK Ngữ văn hiện hành làsựnhấn mạnh đến việc hướng dẫn cho học sinh cách đọc văn bản theo các kiểuloạivà phương thức biểu đạt.Mỗi loại văn bản có nội dung phản ánh, cách thểhiện riêng, phong cáchngôn ngữ riêng Vì vậy, khi hướng dẫn đọc hiểu một vănbản, việc đầu tiên là phảinhắc nhở học sinh chú ý đến đặc điểm của thể loại vănbản Cụ thể:
* Đối với các văn bản thông tin: bao gồm văn bản “nhật dụng”, văn bản
thông tin – báo chí, văn bản thông tin – chính luận, văn bản thông tin – khoahọc…Học sinh cần lưu ý đặc điểm của từng loại văn bản:
- Văn bản nhật dụng: là loại văn bản đề cập, bàn luận, thuyết minh, tường thuật,miêu tả, đánh giá, về những vấn đề, hiện tượng gần gũi với cuộc sống conngười và cộng đồng
- Văn bản thông tin – báo chí: nổi bật ở tính mới mẻ, chân thực của sựkiện; thái
độ tình cảm rõ ràng; ngôn ngữ thường ngắn gọn, chính xácnhưng vẫn có sứctruyền cảm…
- Văn bản thông tin – khoa học: có mục đích cung cấp thông tin khoa học,thường sử dụng các thuật ngữ khoa học, diễn đạt rõ ràng, không dùng lốinói hàm ẩn, ít biểu lộ sắc thái cảm xúc
- Văn bản thông tin – chính luận: thường có lập luận, lí lẽ chặt chẽ…
Ở những văn bản loại này, tính thông tin được chú trọng nhiều hơn nên ít
có sử dụng các biện pháp tu từ, các lối nói sử dụng hàm ý bóng gió…nên khiđọc hiểu cần nắm rõ kiến thức về đặc trưng thể loại để có thể giải đáp câu hỏiđặt ra
VÍ DỤ: Văn bản thông tin báo chí
Đọc đoạn văn bản sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới:
Trang 17“Lễ hội dân gian là sự kiện văn hóa để tưởng nhớ, tỏ lòng tri ân công đứccủa các vị thần, thể hiện sức mạnh của cộng đồng làng xã và rộng hơn là củaquốc gia, dân tộc […] nhưng ngày nay, lễ hội dân gian lại đang dần biến tướngthành tệ nạn với nhiều hành vi phản văn hóa.Đó là cảnh người dân chen chúc, xôđẩy, tranh cướp lộc của nhau, một số bạn trẻ nóng tính dẫn đến tình trạng ẩu đả,đánh nhau tại lễ hội Chẳng hạn như lễ hội phết Hiền Quan, Phú Thọ được tổchức vào ngày 13/1 mới đây Hàng ngàn thanh niên trai tráng tham gia cướp lộc,chen lấn, xô đẩy, dẫm đạp lên nhau khiến ít nhất 10 người ngất xỉu.
Nằm ở độ cao 1.068m so với mực nước biển, chùa Đồng tại khu di tíchYên Tử, Quảng Ninh được mệnh danh là một trong những “ngôi chùa trên đỉnhnúi bằng đồng lớn nhất Châu Á” […] Để tỏ lòng với Phật, cầu lộc, cầu tài, cầuduyên, người người khi lên đến đây đã đua nhau dùng đồng tiền để thực hiện đủcác hành động mua thần, bán thánh, xua rủi cầu may Họ chà, xát, gài, ném tiềnnhư những cơn mưa vào chùa Đồng Với những hành vi mê nhiều hơn tín đó,chùa Đồng, chuông đồng và cả khánh đồng ánh lên màu vàng, đỏ lấp lánh, haomòn dần đi so với nguyên gốc
Lễ hội đầu năm là để cầu phúc, lễ chùa đầu năm là để cầu an và chắcchắn sẽ không có phúc lành, bình an ở những nơi mà con người ứng xử với nhaubằng những nắm đấm, bằng bạo lực, bằng những hành động mua thần bán thánhhay bằng những cơ hội kiếm chác mất nhân tính Có thể nói, tín ngưỡng củangười dân Việt Nam đang bị “bán đứng” bởi lòng tham của chính con người.”
(Theo http://vietq.vn )
Câu 1 Văn bản trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào? (0,5đ)
Câu 2 Nêu nội dung chính của văn bản? (1,0đ)
Câu 3 Theo anh/chị, căn cứ vào đâu tác giả cho rằng : “tín ngưỡng của người
dân Việt Nam đang bị “bán đứng” bởi lòng tham của chính con người”? (0.5đ)
Câu 4 Anh chị hãy nêu ít nhất 2 giải pháp khắc phục hiện tượng được đề cập
đến trong văn bản trên (1,0đ)
*Đáp án
Trang 18Câu 1 Phong cách ngôn ngữ báo chí.
Câu 2 Nội dung chính của văn bản
- Đề cập đến hiện tượng người dân chen lấn, xô đẩy, tranh cướp, mua thần bánthánh trong lễ hội đầu năm
Câu 3 Hs chỉ ra được 2 dẫn chứng
- Cảnh người dân chen chúc, xô đẩy, tranh cướp lộc của nhau, một số bạn trẻnóng tính dẫn đến tình trạng ẩu đả, đánh nhau tại lễ hội…
- Để tỏ lòng với Phật, cầu lộc, cầu tài, cầu duyên, người người khi lên đến đây
đã đua nhau dùng đồng tiền để thực hiện đủ các hành động mua thần, bán thánh,xua rủi cầu may Họ chà, xát, gài, ném tiền như những cơn mưa vào chùaĐồng…
+ Từ phía người dân : Mỗi người phải nhìn lại và nhận thức đúng về cách ứng
xử khi đến chùa, những nơi tâm linh
+ Bài học cho bản thân khi tham gia lễ hội : Tham gia với tấm lòng thành kính,chân thành, không chen lấn xô đẩy , tranh cướp
* Đối với văn bản văn học (văn bản nghệ thuật):
Do đặc điểm sử dụng phương thức phản ánh cuộc sống thông qua hìnhtượng nghệ thuật nên văn bản văn học hấp dẫn ở tính hình tượng cụ thể, sinhđộng;ngôn ngữ đa nghĩa, giàu cảm xúc, có sức gợi mở những liên tưởng phongphú Văn bản văn học chia làm 3 thể loại lớn: tự sự, trữ tình, kịch Mỗi thể loạilạibao gồm một số thể tài khác nhau Chẳng hạn, thể loại tự sự có tiểu thuyết,truyệnvừa, truyện ngắn… Đề đọc hiểu có thể là bài thơ, đoạn thơ, đoạn tríchtrong tác phẩm tự sự,…Ví dụ như:
Trang 19Chia sẻ sự bình tâm của cỏ
Mãi khi giữa đêm chợt thức
Bập bềnh ý nghĩ xót xa:
Anh còn có thể, không thể…?
Thăm thẳm ngày xưa bình an
Vời vợi ngày mai chói nắng…
(Nguyễn Khoa Điềm)
Câu 1 Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ
Câu 2 Anh/ chị hiểu thế nào về 2 câu thơ sau:
Giữa thế giới không nhiều may mắn
Câu 1 Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm
Câu 2 Hai câu thơ:
Giữa thế giới không nhiều may mắn
Ta học cách vừa lòng với mình
Là sự bày tỏ một thái độ sống, quan niệm sống của tác giả- giữa một thế giớinhiều cạm bẫy, nhiều hiểm họa, không nhiều may mắn, nhà thơ lựa chọn cách
Trang 20sống vừa lòng với mình, trân trọng những gì mình có để có cuộc sống an nhiêngiữa cuộc đời.
Câu 4 Thông điệp mà nhà thơ muốn gửi gắm qua bài thơ nằm ở chính nhan đềcủa bài thơ: hi vọng Dù cuộc đời có nhiều chông gai và thử thách, không nhiềumay mắn, không dễ dàng, nhưng ngay cả trong những điều tưởng chừng bi quan,tăm tối, thất vọng nhất vẫn có thể tìm thấy niềm hi vọng
- Hãy trân trọng quá khứ, trân trọng bản thân với những gì mình đang có ở hiệntại và nuôi giữ niềm hi vọng vào tương lai
Ví dụ 2 : (về tác phẩm tự sự)
Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:
“Bà lão cúi đầu nín lặng Bà lão hiểu rồi Lòng người mẹ nghèo khổ ấycòn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa conmình Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làmnổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này Còn mình thì… Trong kẽ mắtkèm nhèm của bà rủ xuống hai dòng nước mắt… Biết rằng chúng nó có nuôi nổinhau sống qua được cơn đói khát này không?”
(Vợ nhặt – Kim Lân)
Câu 1: Đoạn văn sử dụng phương thức biểu đạt nào?
Trang 21Câu 2: Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản là gì ?
Câu 3: Xác định thành ngữ dân gian được sử dụng trong đoạn văn và nêu hiệuquả nghệ thuật của các thành ngữ đó
Câu 4: “Bà lão cúi đầu nín lặng Bà lão hiểu rồi Bà lão hiểu ra biết bao nhiêu cơsự” Đó là cơ sự gì?Giải thích vì sao bà lão lại khóc?
Câu 5: Dấu ba chấm (…) trong câu văn Còn mình thì… có ý nghĩa gì?
* Đáp án
Câu 1: Phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn văn: biểu cảm, tự sự.Câu 2: Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản diễn tả tâm trạng bà cụ Tứ khi biếtcon trai (nhân vật Tràng ) dẫn người đàn bà xa lạ về
Câu 3: Các thành ngữ dân gian được sử dụng trong đoạn văn:
+Dựng vợ gả chồng
+Sinh con đẻ cái
+Ăn nên làm nổi.
Các thành ngữ dân gian quen thuộc trong lời ăn tiếng nói nhân dân được
sử dụng một cách sáng tạo, qua đó dòng tâm tư của người kể hòa vào với dòngsuy nghĩ của nhân vật bà cụ Tứ Suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật trở nên thật gầngũi, được thể hiện rất tự nhiên Nỗi lòng, tâm trạng của người mẹ thương conđược diễn tả thật chân thực
Câu 4: Bà lão hiểu rằng :
+ Bà phải dựng vợ gả chồng cho con vào lúc trong nhà đang khốn khó, phải đốidiện với nạn đói khủng khiếp
+ Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không-> bà khóc vì lo lắng, thương con, tủi phận mình
Đọc hiểu văn bản văn học không thể không chú ý đến đặc trưng thể loạicủanó Cùng một thể loại nhưng thể tài khác nhau thì đặc điểm cũng khác nhau.Cũnglà thơ nhưng thơ tự sự, thơ hiện thực lại ít có những từ ngữ, hình ảnh bộc
lộ trựctiếp tình cảm, cảm xúc của nhà thơ, trong khi đó, thơ trữ tình lại thiên vềbộc lộcảm xúc, tâm trạng… Đối với truyện cũng vậy, cùng là truyện ngắn nhưng
Trang 22cótruyện ngắn trào phúng, có truyện ngắn trữ tình…Hiểu được điều này, họcsinh sẽ tránh nhầm lẫn một cách máy móc khi chorằng: một đoạn văn bản truyệnthì luôn dùng phương thức tự sự, một đoạn thơ thìluôn dùng phương thức biểucảm… Mỗi phương thức biểu đạt thường có một số hình thức văn bản cụ thể:
+ Phương thức tự sự : xuất hiện trong các tác phẩm văn học như truyện,tiểuthuyết, kí sự… nhưng cũng được dùng trong bàn tin báo chí, sách lịch sử…
+ Phương thức miêu tả : dùng trong văn tả cảnh, tả người, tả vật, trong cácđoạn văn miêu tả của tác phẩm truyện
+ Phương thức biểu cảm: là phương thức biểu đạt chính của thơ trữ tìnhnhưng cũng có mặt trong các văn bản như: tùy bút, bút kí, văn tế…
+ Phương thức thuyết minh: dùng trong các văn bản trình bày tri thức,trongvăn bản quảng cáo sản phẩm hàng hóa, trong các lời giới thiệu di tích,thắng cảnh,nhân vật…
Điều lưu ý HS là trong một văn bản cụ thể, ngoài phương thức biểu đạtchính, còn có thể phối hợp thêm nhiều phương thức biểu đạt khác nhau HScũng hay mắc lỗi nhầm lẫn giữa phong cách ngôn ngữ, phương thức biểu đạt,thao tác lập luận Giáo viên cần lưu ý HS phân biệt rõ các phương diệnnày
Ví dụ:
“Loài chuột nhảy béttong sống trên vùng hoang mạc khô cằn ở Úc có thểtìm ra nước từ trong lòng đất Chúng đi tìm những hạt cây khô mang về bỏ vàocáchố đất sâu Chỉ cần trong hố đất có một tí nước, hạt cây sẽ hút vào ngay.Chúngđợi cho những hạt cây này hút đầy nước rồi mới bắt đầu lấy lên ăn.Loài thằn lằn gai (Moloch) cũng sống ở sa mạc Úc, lại có cách lấy nướcnuôi cơ thể độc đáo hơn Chúng lấy nước từ không khí Toàn bộ cơ thể thằn lằngai được bao phủ bởi những khối u cứng và gai nhọn Những thứ này không chỉgiúp chúng tự vệ mà còn để làm một việc quan trọng không kém – lấy nước từkhông khí nuôi cơ thể Trên lớp da cứng của chúng có vô số lỗ nhỏ li ti nằm