Bài giảng môn Kiểm soát - Bài 2: Hệ thống kiểm soát giúp người học tìm hiểu hoạt động kiểm soát; vai trò của hoạt động kiểm soát trong doanh nghiệp; phân loại hoạt động kiểm soát; chức năng kiểm soát trong doanh nghiệp.
Trang 1
Hướng dẫn học
Để học tốt bài này,sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn
Đọc tài liệu:
1 Nguyễn Ngọc Huyền (2015), Giáo trình Kiểm soát, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế
Quốc dân, Hà Nội
2 Vũ Hữu Đức (2010), Kiểm soát nội bộ, Nhà xuất bản Phương Đông
3 Victor Z.Brink và Herbert Witt (2000), Kiểm toán nội bộ hiện đại – đánh giá các
hoạt động và hệ thống kiểm soát, Bản dịch của khoa Kế toán – trường Đại học
kinh tế Quốc dân, Nhà xuất Tài chính Hà Nội
4 Anthony (2007), Management control systems, Nhà xuất bản McGraw Hill Higher Education
5 Kevin Adams (1997), Internal Controls and Auditing, Nhà xuất bản Prentice Hall Australia
6 COSO (1992), Internal Control Report
7 www.coso.org
8 www.internalcontrolsdesign.co.uk
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email
Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học
Nội dung
Bài 2 trong học phần Kiểm soát nghiên cứu những vấn đề khái quát của hệ thống kiểm soát trong doanh nghiệp, đó là khái niệm về hệ thống kiểm soát, vai trò của hệ thống kiểm soát trong doanh nghiệp, các thành phần trong hệ thống kiểm soát… Trên cơ sở đó, hiểu được cách thức thiết lập một hệ thống kiểm soát hữu hiệu Ngoài ra, còn xem xét đến cơ chế kiểm soát và những thành phần trong cơ chế kiểm soát cũng sẽ được trình bày
Mục tiêu
• Hoạt động kiểm soát;
• Giải thích vai trò của hoạt động kiểm soát trong doanh nghiệp;
• Các cách phân loại hoạt động kiểm soát;
• Giải thích chức năng kiểm soát trong doanh nghiệp
Trang 2T ình huống dẫn nhập
Tại Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất Huỳnh Quang có các thủ tục hoạt động được mô tả như sau:
Khi đặt hàng mua nguyên vật liệu, một liên của đơn đặt hàng được gửi cho bộ phận nhận hàng, nhân viên nhận hàng sẽ ghi số thực nhận của liên này của đơn đặt hàng và gửi cho bộ phận kế toán ghi sổ Vật liệu được nhận vào kho
Một chi nhánh bán hàng của Công ty bao gồm một cửa hàng trưởng và hai nhân viên Chi nhánh được mở một tài khoản giao dịch tại Ngân hàng địa phương Các khoản tiền thu của chi nhánh được nộp vào đây Các séc rút tiền thu của Chi nhánh được nộp vào đây Các séc rút tiền của tài khoản này phải có chữ ký của cửa hàng trưởng hoặc giám đốc tài chính Công
ty Sổ phụ được gửi về cho cửa hàng trưởng, ông này sẽ đối chiếu sổ sách với sổ phụ Định
kỳ, cửa hàng trưởng sẽ lập một bảng kê các khoản chi trong kỳ về nộp cho Công ty
Đối với mỗi tình huống trên, hãy cho biết điểm yếu của hoạt động kiểm soát trong doanh nghiệp và loại gian lận hoặc sai sót có thể xảy ra?
Trang 32.1 Các vấn đề chung về hệ thống kiểm soát
2.1.1 Khái niệm
Với quy mô kinh doanh ngày càng tăng, hình thức tổ
chức phi tập trung càng ngày càng được chú ý, thì việc
thiết lập một hệ thống kiểm soát là hết sức cần thiết
Trong đó, kiểm soát làm nhiệm vụ định hướng cho các
nhân viên hoạt động theo đúng mục tiêu đề ra, đồng
thời thông qua hệ thống kiểm soát giúp cho nhà quản
trị cấp trung còn hỗ trợ giúp đỡ nhân viên dưới quyền
thực thi nhiệm vụ và điều chỉnh cho nhân viên vận
hành theo đúng mục tiêu chung của tổ chức để đạt
được hiệu quả trong hoạt động kinh doanh
Do vậy, hệ thống kiểm soát thực chất là các hoạt động, biện pháp, kế hoạch, quan điểm, nội quy chính sách và nỗ lực của mọi thành viên trong tổ chức để đảm bảo cho
tổ chức đó hoạt động hiệu quả và đạt được mục tiêu đặt ra một cách hợp lý Nói cách khác, đây là tập hợp tất cả những việc mà một công ty cần làm để có được những điều muốn có và tránh những điều muốn tránh Hệ thống này không đo đếm kết quả dựa trên các con số tăng trưởng, mà chỉ giám sát nhân viên, chính sách, hệ thống, phòng ban của công ty đang vận hành ra sao và, nếu vẫn giữ nguyên cách làm đó, thì có khả năng hoàn thành kế hoạch không Ngoài ra, thiết lập được một hệ thống kiểm soát hữu hiệu sẽ hạn chế đến mức thấp nhất việc thất thóat tài sản công ty
Hệ thống kiểm soát bao gồm tất cả các vấn đề mang tính hiệu quả tác nghiệp trong hoạt động kinh doanh và trong hoạt động kiểm soát của doanh nghiệp nói chung Do vậy, hệ thống kiểm soát nên được đặt đúng vị trí nhằm ngặn chặn cơ hội trộm cắp và hình thành cách thức kiểm tra tại các mức độ trong toàn doanh nghiệp vì theo nghiên cứu đã chỉ ra rằng có đến 50% các doanh nghiệp kinh doanh thất bại ngay trong năm đầu tiên kinh doanh có thể được đóng góp bởi nạn trộm cắp của nhân viên
Tùy vào loại hình hoạt động, mục tiêu và quy mô của công ty mà hệ thống kiểm soát nội bộ được sử dụng khác nhau, nhưng nói chung, hệ thống này cần có 5 thành phần như sau:
Môi trường kiểm soát;
Đánh giá rủi ro;
Hoạt động kiểm soát;
Thông tin và truyền thông;
Giám sát
Một hệ thống kiểm soát hữu hiệu chỉ hạn chế tối đa các sai phạm chứ không thể đảm bảo rủi ro, gian lận và sai sót không thể xảy ra Những hạn chế vốn có của hệ thống kiểm soát bao gồm:
Hệ thống kiểm soát khó ngăn chặn được gian lận và sai sót của nhà quản trị cấp cao Các thủ tục kiểm soát là do nhà quản trị đặt ra, nó chỉ kiểm tra, xác định gian
Trang 4lận và sai sót của nhân viên Khi nhà quản trị cấp cao cố tình gian lận thì lúc này
họ sẽ tìm cách bỏ quan các thủ tục kiểm soát cần thiết
Sự gian lận của nhân viên thông qua sự thông đồng
với nhau hay từ các bộ phận bên ngoài tổ chức
Nhà quản trị lạm quyền bỏ qua các quy định kiểm
soát trong quá trình thực hiện nghiệp vụ có thể dẫn
đến việc không thể kiểm soát được các rủi ro và
làm cho môi trường kiểm soát trở nên yếu kém
Hoạt động kiểm soát chỉ tập trung vào các sai
phạm dự kiến, do đó khi xảy ra các sai phạm bất
thường thì thủ tục kiểm soát trở nên kém hữu hiệu thậm chí vô hiệu
Những thay đổi của tổ chức, thay đổi quan điểm của nhà quản trị và điều kiện hoạt động có thể dẫn đến những thủ tục kiểm soát không phù hợp
2.1.2 Mục đích của hệ thống kiểm soát
Hệ thống kiểm soát vững mạnh sẽ đem lại cho doanh nghiệp một số lợi ích như:
Giảm bớt nguy cơ rủi ro tiềm ẩn trong sản xuất kinh doanh (từ việc vô tình gây thiệt hại, tăng giá thành, giảm chất lượng sản phẩm…)
Giúp bảo vệ tài sản của doanh nghiệp: mỗi loại tài sản khác nhau cần có chế độ bảo vệ khác nhau và có những ảnh hưởng khác nhau đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, doanh nghiệp cần có các biện pháp khác nhau để bảo vệ các tài sản này, chẳng hạn: toà nhà làm việc hay máy móc thiết bị cồng kềnh thì cần để trong lán che hay thuê bảo vệ trông… đối với các chứng từ, sổ sách thì có thể để trong tủ khóa lại
Giúp nhà quản trị ngăn ngừa gian lận hay sai sót: để giảm thiểu trong gian lận tài chính thì cần có sự phân công trách nhiệm giữa các bộ phận kế toán thanh toán, thủ quỹ nhằm tránh trường hợp thanh toán khống; phân công trách nhiệm rõ ràng giữa bộ phận tính lương và bộ phận chi trả lương tránh trường hợp trả lương thừa Ngoài ra, việc phân công nhiệm vụ rõ ràng ở các bộ phận giúp cho việc kiểm tra chéo lẫn nhau Giảm thiểu những gian lận và sai sót (nếu có) xảy ra
Giúp đảm bảo độ tin cậy của các thông tin: thông tin được kiểm tra thông qua rất nhiều khâu, từ khâu ghi chép đến việc ghi chép vào sổ sách, báo cáo Đối với chứng từ doanh nghiệp phát hành, giá trị thông tin được kiểm tra bởi rất nhiều người: người lập chứng từ, người phụ trách có liên quan như: kế toán trưởng, giám đốc doanh nghiệp… thông tin của chứng từ chỉ có giá trị khi đầy đủ chữ kí của các bên có liên quan
Đảm bảo sử dụng hiệu quả, sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt được mục tiêu đặt ra: Ban giám đốc là người chịu trách nhiệm đề ra các quy định, tiêu chuẩn nhằm sử dụng hiệu quả và tiết kiệm các nguồn lực bên trong doanh nghiệp, đồng thời triển khai các thủ tục kiểm soát nhằm giám sát các hoạt động để đạt được mục tiêu mong muốn của doanh nghiệp Nhân viên kiểm soát đánh giá việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực thông qua: sử dụng cơ sở vật chất, nhà xưởng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, năng suất công việc, chi phí sử dụng nguyên vật liệu,
Trang 5vấn đề sử dụng nguồn nhân lực của tổ chức… Thông qua các hoạt động kiểm soát trong doanh nghiệp, các kiểm soát viên hỗ trợ ban giám đốc giám sát các hoạt động nhằm giảm thiểu các gian lận, sai sót giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu đề ra
Ngoài ra, hệ thống kiểm soát hoạt động hiệu quả cũng tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, các cổ đông của công ty Trong nền kinh tế thị trường, các nhà đầu tư luôn mong muốn nguồn vốn đầu tư của mình được an toàn và sinh lợi nhuận cao Thông qua việc đánh giá hệ thống kiểm soát, các nhà đầu tư có thể đánh giá được phần nào mức độ an toàn của các khoản đầu tư
2.1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống kiểm soát
Để thiết kế hệ thống kiểm soát vận hành có hiệu quả
cao, cần nghiên cứu, phân tích kỹ lưỡng các nhân tố
ảnh hưởng đến nó Một hệ thống kiểm soát trong
doanh nghiệp bất kỳ chịu ảnh hưởng của các nhân tố
chủ yếu sau:
Thứ nhất, môi trường kinh doanh và hình thức pháp lý
của doanh nghiệp
Câu hỏi đầu tiên cần được trả lời là doanh nghiệp kinh
doanh trong môi trường nào? Ngày nay thường đề cập đến:
Cơ chế kế hoạch hóa tập trung
Cơ chế kinh tế thị trường
Nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Vấn đề nằm ở chỗ, mặc dù đã khoảng hai chục năm song cho đến nay chúng ta mới đang hình thành dần dần nền kinh tế thị trường Môi trường kinh doanh nước ta ngày nay là môi trường mang tính “đan xen”: trong tổ chức điều hành kinh tế vĩ mô vừa ẩn chứa cách
tư duy và chính sách mang tính “kế hoạch hóa tập trung” nhưng cũng vừa xuất hiện các nhân tố mang tính thị trường
Môi trường kinh doanh kiểu “vừa kế hoạch hóa tập trung, vừa thị trường” này đã, đang và sẽ còn chi phối hoạt động kinh doanh, hoạt động quản trị kinh doanh và hoạt động kiểm soát của mọi doanh nghiệp nước ta Tổ chức hệ thống kiểm soát phải thích ứng với đặc trưng này của môi trường
Trong nền kinh tế thị trường, mọi quyết sách kinh doanh là quyền hiển nhiên của doanh nghiệp: chủ doanh nghiệp bỏ tiền ra, quyết định mọi vấn đề liên quan đến kinh doanh và nhà nước không dính líu đến kinh doanh Vì thế hoạt động kiểm soát của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường do doanh nghiệp và chỉ do doanh nghiệp tự thiết kế, thực hiện để phục vụ cho hoạt động quản trị kinh doanh của mình Hoạt động kiểm toán của nhà nước không nằm trong phạm trù này
Trong môi trường kinh doanh nước ta: vẫn chưa tách bạch được giữa quản lý nhà nước và quản trị kinh doanh nên nhiều quyết định kinh doanh vẫn được quyết định bởi các cơ quan nhà nước; đặc biệt là đối với các doanh nghiệp nhà nước Dù doanh nghiệp nhà nước hoạt động từ nhiều chục năm qua song cho đến nay vẫn chưa bao giờ làm sáng tỏ được quyết sách nào thuộc hoạt động kinh doanh, quyết
Trang 6sách nào thuộc chủ sở hữu? Và khi nào thì nhà nước đóng vai chủ sở hữu, khi nào thì nhà nước đóng vai trò quản lý nhà nước đối với cả nền kinh tế chứ không phải chỉ là doanh nghiệp nhà nước
Môi trường kinh doanh này chi phối rất lớn đến tổ chức hoạt động kinh doanh, quản trị kinh doanh và hoạt động kiểm soát ở từng loại hình doanh nghiệp nước ta:
Với các doanh nghiệp không phải doanh nghiệp nhà nước việc tổ chức hoạt động kiểm soát do doanh nghiệp chủ động tiến hành độc lập, phục vụ trực tiếp cho hoạt động quản trị của mình
Trong các doanh nghiệp nhà nước, việc tổ chức tiến hành hoạt động kiểm soát còn phụ thuộc vào nhân tố “nhà nước” – các quy định của các cơ quan quản lý nhà nước Mặt khác, nhiều doanh nghiệp nhà nước quen thói “hoạt động theo quy định, theo lệnh của cấp trên” nên cũng như nhiều hoạt động quản trị khác, việc tổ chức hoạt động kiểm soát chỉ mang tính hình thức
Các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh thay đổi tác
động trực tiếp đến cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị
doanh nghiệp, trong đó có hệ thống kiểm soát Cạnh
tranh mang tính khu vực và toàn cầu buộc các doanh
nghiệp phải tìm kiếm mô hình tổ chức sao cho tiết
kiệm nhất lao động kiểm soát, góp phần giảm chi phí
kinh doanh, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Sự biến động ngày càng dữ dội của môi trường kinh
doanh và thị trường đã dẫn đến các kiểu cơ cấu tổ chức truyền thống ngày càng tỏ ra khó phù hợp Đòi hỏi cần có cách tư duy mới về cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị nói chung và mô hình kiểm soát nói riêng thích hợp
Thứ hai, mô hình quản trị doanh nghiệp
Mô hình quản trị doanh nghiệp tác động trực tiếp đến xây dựng hệ thống kiểm soát của doanh nghiệp Có thể khẳng định: mô hình quản trị nào thì cần mô hình hệ thống kiểm soát tương ứng như thế ấy
Ở nước ta hiện nay, cần nghiên cứu hai loại mô hình quản trị:
Mô hình quản trị kiểu truyền thống: ở mô hình này người ta vẫn bám chắc vào giả định tuyệt đối hóa ưu điểm của chuyên môn hóa và vì thế phổ biến các doanh nghiệp vẫn tổ chức theo mô hình trực tuyến - chức năng với cách tổ chức chuyên môn hóa cao nhất Theo đó, các bộ phận của doanh nghiệp được tổ chức theo kiểu bao gồm hai nhóm bộ phận là các bộ phận - chức năng chuyên môn hóa quản trị như kế hoạch, tài chính, kế toán, thống kê,… và các bộ phận trực tuyến như bộ phận sản xuất A, bộ phận sản xuất B,… Theo cách thức tổ chức này, hệ thống kiểm soát cũng phải tổ chức để kiểm soát từng bộ phận đã được chuyên môn hóa
Do đó, người ta thiết kế các bộ phận kiểm soát từng hoạt động quản trị đã được tổ chức theo kiểu chuyên môn hóa như kế hoạch, tài chính, kế toán, thống kê,… và tổ chức kiểm soát từng bộ phận sản xuất kinh doanh như bộ phận sản xuất A, bộ phận sản xuất B,…
Trang 7 Với mô hình quản trị hiện đại – mô hình quản trị lấy tính thống nhất của quá trình làm cơ sở tổ chức mọi hoạt động quản trị thì tổ chức hoạt động kiểm soát cũng phù hợp với nguyên lý đó, tức kiểm soát quá trình
Thứ ba, quy mô và cơ cấu sản xuất của doanh nghiệp
Doanh nghiệp có quy mô càng lớn, càng nhiều nơi làm việc, cơ cấu sản xuất càng phức tạp thì cơ cấu kiểm soát cũng bao trùm nhiều cấp, nhiều bộ phận hơn và do đó quan hệ giữa các cấp, bộ phận phức tạp hơn, hệ thống thông tin cũng phức tạp hơn so với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ Các doanh nghiệp có quy mô rất nhỏ sẽ có cơ cấu kiểm soát rất đơn giản theo kiểu trực tuyến (trực tuyến - tư vấn)
Cơ cấu sản xuất của doanh nghiệp bao gồm các cấp, các bộ phận được xây dựng theo các nguyên tắc nhất định, sự phân bố về không gian và thiết lập các mối quan hệ kĩ thuật – sản xuất giữa chúng với nhau Cơ cấu này ảnh hưởng trực tiếp và là cơ sở để xây dựng cơ cấu kiểm soát
Nếu doanh nghiệp phân bố ở một nơi cơ cấu kiểm soát sẽ gọn, nhẹ; khi phải bố trí trên địa bàn rộng cơ cấu sẽ rất phức tạp, cồng kềnh
Thứ tư, trình độ đội ngũ các nhà quản trị
Vấn đề đầu tiên là nhận thức của các nhà quản trị cao
cấp Nếu các nhà quản trị cao cấp nhận thức được vai
trò của công cụ kiểm soát, họ sẽ coi tổ chức triển khai
hoạt động này là đương nhiên; nếu ngược lại, họ
không quan tâm triển khai kiểm soát hoặc chỉ tổ chức
kiểm soát theo kiểu chiếu lệ
Đội ngũ các nhà quản trị có trình độ quản trị cao sẽ
giải quyết tốt các nhiệm vụ kiểm soát với năng suất
cao nên đòi hỏi ít nơi làm việc kiểm soát hơn và ngược
lại Khi đã có ít người thì số mối quan hệ sẽ ít, làm
giảm khối lượng công việc phối hợp giữa họ
Các nhà quản trị được đào tạo theo hướng có kiến thức chuyên môn hóa sâu hay vạn năng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cách thức tổ chức quản trị và kiểm soát ở các cấp, các
bộ phận Các nhà quản trị có trình độ cao sẽ có khả năng sử dụng các mô hình, công
cụ hiện đại, phức tạp để đánh giá, phân tích và rút ra các kết luận chính xác; nếu ngược lại, sẽ chỉ có thể sử dụng các mô hình, công cụ đơn giản hơn và do đó các đánh giá, phân tích với độ chính xác kém hơn
Thứ năm, trang thiết bị quản trị
Trang thiết bị quản trị giúp các nhà quản trị nâng cao năng suất lao động cũng như chất lượng công việc nên ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống kiểm soát Công nghệ tin học càng phát triển sẽ ngày càng tác động mạnh mẽ đến khả năng thu thập và xử lý thông tin thống nhất trong toàn bộ hệ thống quản trị và kiểm soát nên làm thay đổi kiểm soát theo hướng đơn giản hơn
Phát triển sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm soát và quản trị cần trình độ sử
dụng tương ứng của các nhà quản trị trong doanh nghiệp
Trang 82.2 Thành phần hệ thống kiểm soát
2.2.1 Môi trường kiểm soát
Là những yếu tố của công ty ảnh hưởng đến hoạt động
của hệ thống kiểm soát và là các yếu tố tạo ra môi
trường mà trong đó toàn bộ thành viên của công ty
nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống kiểm
soát Do đó, môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái
chung của một đơn vị, chi phối ý thức của mọi thành
viên trong đơn vị và là nền tảng cho các bộ phận khác
trong hệ thống Ví dụ, nhận thức của các nhà quản lý
về liêm chính và đạo đức nghề nghiệp, về việc cần
thiết phải tổ chức bộ máy hợp lý, về việc phân công, ủy nhiệm rõ ràng, về việc ban hành bằng văn bản các nội quy, quy chế, quy trình kinh doanh Một môi trường kiểm soát tốt sẽ là nền tảng cho sự hoạt động hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ Đánh giá môi trường kiểm soát cần chú ý những nhân tố:
Tính trung thực và giá trị đạo đức
Hệ thống kiểm soát hoạt động có hoạt động hiệu quả hay không phụ thuộc trực tiếp vào tính trung thực và việc tôn trọng các giá trị đạo đức của những người liên quan đến quá trình kiểm soát Tính trung thực và giá trị đạo đức là nhân tố quan trọng của môi trường kiểm soát, nó tác động đến việc thiết kế, thực hiện và giám sát các nhân tố khác của kiểm soát Thái độ và sự quan tâm đúng mức của nhà quản trị đến hoạt động kiểm soát thì nhân viên cũng sẽ nỗ lực hết mình nhằm đạt được các mục tiêu chung của kiểm soát Do đó, đơn vị phải xây dựng được các chuẩn mực, quy định về đạo đức của các nhân viên và những người quản lý phải làm gương trong việc thực hiện các quy định đó Tuy nhiên để nhân viên trong công ty tuân thủ các quy định thì tổ chức cũng phải loại trừ cũng như giảm thiểu những áp lực và cơ hội dẫn đến những hành vi thiếu trung thực của nhân viên trong tổ chức
Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức cung cấp khuôn khổ mà trong đó quyền hạn và trách nhiệm của những thành viên trong tổ chức được xác định Một cơ cấu tổ chức hợp lý là điều kiện đảm bảo cho các thủ tục kiểm soát phát huy được tác dụng Ngược lại, một cơ cấu tổ chức quá phức tạp hoặc không rõ ràng có thể nảy sinh nhiều vấn đề nghiêm trọng
Do đó, để thiết lập cơ cấu tổ chức thích hợp thì tổ chức cần phải chú ý đến một số nội dung như:
o Xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm chủ yếu đối với từng hoạt động
o Xác định cấp bậc cần báo cáo thích hợp
Phân định quyền hạn và trách nhiệm
Là việc xác định mức độ tự chủ, quyền hạn của từng cá nhân hay từng nhóm trong việc đề xuất và giải quyết vấn đề, trách nhiệm báo cáo đối với các cấp có liên quan Việc phân định quyền hạn bằng văn bản cụ thể có thể sẽ giúp công việc được tiến hành dễ dàng, trôi chảy hơn và các thủ tục kiểm soát sẽ phát huy tác
Trang 9dụng Ngược lại, nếu việc phân định quyền hạn và trách nhiệm không rõ ràng sẽ phát sinh hiện tượng cùng một nhiệm vụ nhưng được thực hiện chồng chéo ở các phòng ban khác nhau hay thậm chí trong cùng bộ phận Do vậy, công việc sẽ ách tắc, thủ tục kiểm soát vô hiệu và tiêu cực có điều kiện nảy sinh
Chính sách về nguồn lực
Là mong muốn của tổ chức đối với các nhân viên Chính sách này biểu hiện thông qua việc tuyển dụng, đào tạo, khen thưởng, kỷ luật Các chính sách có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi đạo đức và năng lực của nhân viên vì nó có tác dụng khuyến khích (hay làm suy giảm) cả về tinh thần và vật chất của người lao động Chính sách nhân sự đúng đắn, thích hợp góp phần tạo ra đội ngũ nhân viên giỏi, có năng lực, có đạo đức và như vậy góp phần giảm bớt những yếu kém của môi trường kiểm soát và các thủ tục kiểm soát Ngược lại, không thể có một hệ thống kiểm soát nội bộ chặt chẽ với đội ngũ nhân viên yếu kém về năng lực và đạo đức nghề nghiệp
Các yếu tố khác
Ngoài các nhân tố trên, môi trường kiểm soát còn chịu sự tác động của các yếu tố bên ngoài như luật pháp, sự kiểm soát của các cơ quan quản lý nhà nước, các điều kiện kinh tế xã hội tiến bộ kỹ thuật Các nhân tố này sẽ tác động lên thái độ của nhà quản trị trong việc thiết kế và vận hành hệ thống kiểm soát
Như vậy, môi trường kiểm soát là nền tảng cơ bản của hệ thống kiểm soát Các thủ tục kiểm soát sẽ không đạt được mục tiêu hay chỉ là hình thức trong môi trường kiểm soát yếu kém, hoặc ngược lại, một môi trường kiểm soát tốt sẽ hạn chế một phần nào sự thiếu sót của các thủ tục kiểm soát
2.2.1 Đánh giá rủi ro
Đây là việc xác định và phân tích các rủi ro liên quan có
ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp Để có thể
nhận dạng và quản trị được rủi ro các nhà quản trị cần:
Thiết lập các mục tiêu của tổ chức, trên cơ sở xác
định các mục tiêu đã được xác định nhà quản trị sẽ
tiến hành phân tích, nhận dạng và quản trị rủi ro
trong quá trình thực hiện
Nhận dạng rủi ro: rủi ro có thể tác động ở mức toàn
đơn vị hay ảnh hưởng đến một số bộ phận trong
đơn vị
Ở mức độ toàn đơn vị, các nhân tố phát sinh rủi ro có thể là: sự đổi mới kỹ thuật, sự đổi mới sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, như cầu khách hàng thay đổi, thay đổi chính sách của Nhà nước… Trong phạm vi từng hoạt động như bán hàng, mua hàng… rủi ro
có thể phát sinh và có thể tác động đến bản thân từng hoạt động trước khi gây ảnh hưởng dây chuyền đến toàn bộ đơn vị Thông thường rủi ro liên quan đến từng bộ phận xuất phát từ các chính sách của đơn vị Do vậy để nhận dạng rủi ro, doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như: sử dụng các phương pháp
dự báo, phân tích các dữ liệu liên quan hay thường xuyên rà soát các hoạt động
Trang 10 Phân tích và đánh giá rủi ro: do rủi ro rất khó định lượng nên việc phân tích và đánh giá rủi ro thường khá phức tạp Tuy nhiên, quy trình để phân tích và đánh giá rủi ro thường bao gồm các bước sau:
o Ước lượng thiệt hại có thể xảy ra: thiệt hại càng lớn thì rủi ro càng nghiêm trọng
o Xem xét khả năng xảy ra rủi ro: xác suất xảy ra thiệt hại càng lớn thì rủi ro càng xảy ra thường xuyên hơn và số tiền thiệt hại sẽ lớn Số tiền thiệt hại lớn nhưng xác suất xảy ra nhỏ có thể không quan trọng bằng một rủi ro khác có thiệt hại nhỏ hơn nhưng xác suất xảy ra lại cao hơn nhiều
o Biện pháp phòng ngừa: trên cơ sở phân tích và đánh giá rủi ro, nhà quản trị cần phải thiết lập các thủ tục kiểm soát để có thể giảm thiểu thiệt hại do rủi ro gây ra Phòng ngừa và bảo vệ là những hoạt động cần có trong một hệ thống kiểm soát
2.2.2 Hoạt động kiểm soát
Đây là những chính sách và thủ tục được thực hiện các hoạt động cần thiết để giảm thiểu rủi ro của các nhà quản trị được thực hiện Các hoạt động kiểm soát được thiết
kế phụ thuộc vào tính chất đặc thù của hoạt động kinh doanh và cơ cấu tổ chức Các
yếu tố của hoạt động kiểm soát:
Phân chia trách nhiệm: nhằm giảm bớt cơ hội cho bất
cứ ai ở những vị trí dễ xảy ra sai sót hay có cơ hội để
thực hiện hành vi gian lận Yêu cầu của hoạt động
kiểm soát là không một bộ phận hay cá nhân nào được
thực hiện các công việc từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc;
không một cá nhân nào được thực hiện hơn một trong
những chức năng: phê duyệt, ghi chép và bảo vệ tài
sản Công việc của nhân viên này, bộ phận này được
kiểm soát độc lập bởi nhân viên khác và bộ phận khác
Ngoài ra, trong từng nghiệp vụ cũng có thể có những yêu cầu khác về phân chia trách nhiệm nhằm hạn chế gian lận và sai sót Tuy nhiên, việc phân chia trách nhiệm cũng
có thể bị vô hiệu hóa do các nhân viên thông đồng với nhau Do vậy, nhà quản trị cần phải thường xuyên xem xét đánh giá, rà soát lại hoạt động kiểm soát trong từng khâu, trong quy trình nghiệp vụ và các mối quan hệ giữa các nhân viên thi hành nhiệm vụ
Ủy quyền: tất cả các nghiệp vụ phải được ủy quyền cho một người chịu trách nhiệm
Nhà quản trị nên đưa ra những quy định về quyền hạn và trách nhiệm khi phê duyệt mỗi loại nghiệp vụ cho từng nhân viên Có hai mức độ ủy quyền:
Ủy quyền chung: liên quan đến việc đưa ra chính sách, những người cấp dưới được phép xét duyệt các nghiệp vụ trong phạm vi giới hạn
Ủy quyền cụ thể: liên quan đến việc xét duyệt cụ thể cho từng nghiệp vụ, thông thường là các nghiệp vụ có số tiền lớn và quan trọng
Sự phân quyền cho các cấp thi hành và xác định rõ thẩm quyền phê duyệt của từng người, xuất phát từ nguyên nhân là các nhà quản trị không thể và không nên trực tiếp quyết định tất cả các vấn đề của đơn vị Sự phân quyền hợp lý sẽ giúp cho hoạt động kinh doanh tiến hành trôi chảy, ngoài ra còn giúp cho nhà quản trị có thể kiểm soát và hạn chế sự tùy tiện trong quá trình tiến hành công việc