1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng hồ chí minh về đạo đức cách mạng và sự vận dụng trong việc xây dựng và nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ công an việt nam trong giai đoạn hiện nay

111 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 718,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, xuất phát từ tình hình vi phạm kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ công an trong thời gian vừa qua và với tinh thần của Đảng, của ngành Công an: “Xây dựng lực lượng Công an nhân dân tr

Trang 1

MẠC VĂN THỰC

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC

CÁCH MẠNG VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG VIỆC

XÂY DỰNG VÀ NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CÁCH

MẠNG CHO CÁN BỘ, CHIẾN SĨ CÔNG AN

VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2013

Trang 2

MẠC VĂN THỰC

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG VÀ NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, CHIẾN SĨ CÔNG AN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Vũ Đức Khiển Các số liệu, tài liệu được sử dụng và trích dẫn trong luận văn đều trung thực

và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

Tác giả

Mạc Văn Thực

Trang 4

CHƯƠNG 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

1.1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG……… 1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam và bối cảnh thế giới cuối thế kỷ XIX

- đầu thế kỷ XX với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng……… 1.1.2 Những tiền đề hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng 1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG……… 1.2.1 Bản chất của đạo đức cách mạng……… 1.2.2 Vai trò của đạo đức cách mạng đối với sự hình thành và phát triển con người Việt Nam……… 1.2.3 Một số chuẩn mực đạo đức cách mạng của con người Việt Nam……… 1.2.4 Nguyên tắc cơ bản để xây dựng và rèn luyện đạo đức cách mạng cho con người Việt Nam………

CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG ĐỂ XÂY DỰNG VÀ NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, CHIẾN SĨ CÔNG AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

2.1 TẦM QUAN TRỌNG VÀ YÊU CẦU CỦA VIỆC XÂY DỰNG, NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, CHIẾN SĨ CÔNG AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY……… 2.1.1 Tầm quan trọng của việc xây dựng và nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ công an trong giai đoạn hiện nay……… 2.1.2 Một số yêu cầu cơ bản của việc xây dựng và nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ trong giai đoạn hiện nay………

Trang 5

2.2 THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA CÁN BỘ, CHIẾN SĨ CÔNG AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY VÀ NGUYÊN NHÂN……… 2.2.1 Thực trạng đạo đức cách mạng của cán bộ, chiến sĩ công an trong giai đoạn hiện nay……… 2.2.2 Nguyên nhân thực trạng đạo đức cách mạng của cán bộ, chiến sĩ công an trong giai đoạn hiện nay……… 2.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ GÓP PHẦN XÂY DỰNG VÀ NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, CHIẾN SĨ CÔNG AN TRONG THỜI GIAN TỚI……… 2.3.1 Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và quán triệt sâu sắc những nội dung cơ

bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, những nội dung cơ bản

của 6 điều Bác Hồ dạy trong toàn lực lượng Công an nhân dân……… 2.3.2 Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, tác phong cho

cán bộ, chiến sĩ công an……… 2.3.3 Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát của cấp ủy Đảng và lãnh đạo công an các cấp……… 2.3.4 Đẩy mạnh đổi mới công tác cán bộ trong lực lượng Công an nhân dân… 2.3.5 Hoàn thiện hệ thống chính sách, chế độ đãi ngộ vật chất và tinh thần đối

với lực lượng trực tiếp làm công tác phòng, chống tội phạm……… 2.3.6 Nâng cao ý thức, trách nhiệm của mỗi cán bộ, chiến sĩ công an trong việc tu dưỡng và rèn luyện đạo đức cách mạng………

KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hồ Chí Minh - người sáng lập, giáo dục, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa kiệt xuất của thế giới - đã để lại cho Đảng và nhân dân ta những di sản tư tưởng vô cùng to lớn Trong đó, vấn đề về

“Đạo đức cách mạng” là một trong những nội dung cơ bản và rất quan trọng trong toàn bộ hệ thống tư tưởng của Người

Hơn 80 năm qua, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng nói riêng vẫn luôn soi sáng con đường cách mạng của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, chống nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng đời sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân; cũng như trong sự nghiệp xây dựng và phát triển con người Việt Nam Đảng ta khẳng định: “Tư tưởng

vĩ đại của Người cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin mãi là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta” [20; 6] Vì vậy, “trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” [20; 21] Công an nhân dân là lực lượng vũ trang trọng yếu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, là lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật

tự an toàn xã hội nhằm góp phần đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trước bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa quốc tế Song, để hoàn thành nhiệm vụ hết sức nặng

nề nhưng vô cùng vẻ vang đó, lực lượng Công an nhân dân phải không ngừng được xây dựng, củng cố và phát triển theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước tiến lên hiện đại; mỗi cán bộ, chiến sĩ công an phải tinh thông nghiệp vụ, nắm vững pháp luật, thông thạo ngoại ngữ, giỏi tin học và có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng Do đó, trong suốt quá trình cách mạng, Đảng ta và Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề xây dựng đạo đức cách mạng cho mỗi người Việt Nam nói chung và mỗi cán bộ, chiến sĩ công an nói riêng Với sự quan tâm đặc biệt đó, nhân

Trang 7

dân ta qua các thời kỳ cách mạng đã gặt hái được nhiều thành tựu to lớn, lực lượng công an đã liên tiếp lập được nhiều chiến công xuất sắc trên lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội

Tuy nhiên, kể từ khi nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mặc dù đời sống của nhân dân từng bước được nâng lên, song mặt trái của kinh tế thị trường cũng đã để lại những hậu quả hết sức nặng nề cho xã hội Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta chỉ rõ: “Cùng với việc kích thích sản xuất phát triển, kinh tế thị trường cũng là một môi trường thuận lợi làm nảy sinh và phát triển nhiều loại tiêu cực xã hội Đã xuất hiện khuynh hướng làm giàu bất cứ giá nào, kể cả lừa đảo, gây tội ác, vi phạm pháp luật, sẵn sàng chà đạp lên lương tâm và nhân phẩm Lối sống trụy lạc, chạy theo thị hiếu thấp hèn, văn hóa không lành mạnh và những hủ tục mê tín dị đoan đang phục hồi và phát triển Trong thế hệ trẻ, có một bộ phận phai nhạt lý tưởng, chạy theo lối sống thực dụng Một bộ phận không ít cán bộ, đảng viên, có chức, có quyền, trong

đó có cả những người đã từng đóng góp đáng kể cho cách mạng cũng bị sa ngã và thoái hóa biến chất” [19; 137 – 139] Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, tự chuyển hóa có diễn biến phức tạp” [20; 29]; tình trạng “suy thoái đạo đức, lối sống chưa được ngăn chặn, đẩy lùi” [20; 179] Nói chung, mặt trái của kinh tế thị trường

đã có nhiều tác động xấu đến xã hội và mỗi cán bộ, chiến sĩ công an cũng không tránh khỏi những tác động xấu đó

Hơn nữa, công tác quản lý - giáo dục cán bộ, chiến sĩ công an trong thời gian qua vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu sót; bọn tội phạm lại ngày càng có những âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi và xảo quyệt, chúng thường xuyên tìm mọi cách để mua chuộc, lôi kéo, khống chế cán bộ, chiến sĩ công an Từ đó, làm cho một bộ phận không nhỏ cán bộ, chiến sĩ công an vốn trước đây là những người đã từng có thời gian dài cống hiến đắc lực cho công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhưng hiện nay

Trang 8

lại không giữ vững được bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, sa ngã, biến chất trước những cám dỗ vật chất tầm thường, thậm chí thoái hóa đến mức rơi vào con đường phạm pháp Một khi đã bị cám dỗ, họ sẽ tự biến mình thành những mắc xích quan trọng trong đường dây phạm tội của các băng nhóm có tổ chức Điều này đã gây nên sự bức xúc trong dư luận xã hội và làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với lực lượng Công an Chỉ tính riêng “Vụ án Trương Văn Cam cùng đồng bọn phạm tội” đã cho thấy: “Băng nhóm tội phạm do Trương Văn Cam cầm đầu đã móc nối và làm tha hóa nhiều cán bộ trong bộ máy cơ quan Nhà nước các cấp, các cơ quan bảo vệ pháp luật Có nhiều cán bộ công an, kiểm sát và cán bộ một số ngành khác có liên quan, trong đó có cả một số công an do Trung ương quản lý” [6; 570] Trong đó, “có 13 cán bộ, chiến sĩ công an bị truy tố trước pháp luật; phát hiện 76 cán

bộ, chiến sĩ công an liên quan đến vụ án và xử lý kỷ luật” [22; 2] Có thể nói, đó là một tổn thất không nhỏ của ngành Công an

Như vậy, xuất phát từ tình hình vi phạm kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ công an trong thời gian vừa qua và với tinh thần của Đảng, của ngành Công an: “Xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” [45; 700] thì việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

để vận dụng vào quá trình xây dựng và nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ công an trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

là hết sức cần thiết, nó không chỉ có ý nghĩa khoa học sâu sắc mà còn có ý nghĩa thực

tiễn vô cùng to lớn Trên tinh thần và ý nghĩa đó, tác giả lựa chọn vấn đề: “Tư tưởng

Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và sự vận dụng trong việc xây dựng và nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ công an trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài

luận văn tốt nghiệp cao học của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Sau khóa họp lần thứ 24, Tổ chức Khoa học, Văn hóa và Giáo dục của Liên Hiệp quốc (UNESCO) đã tôn vinh Hồ Chí Minh danh hiệu cao quý: “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất” vào năm 1990 Đặc biệt, từ khi Đảng ta khẳng định tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991) rằng: “Đảng lấy chủ nghĩa

Trang 9

Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động” [19; 127] thì việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh được triển khai sâu rộng trên nhiều lĩnh vực Đến nay, đối với lĩnh vực đạo đức, đã có nhiều tác phẩm, công trình khoa học được nghiên cứu công phu theo nhiều hướng khác nhau, phản ánh khá sâu sắc và toàn diện hệ thống lý luận của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng Có thể

kể đến các tác giả với những tác phẩm và công trình tiêu biểu sau:

Tiến sĩ Hoàng Trung có tác phẩm “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh (qua các

phạm trù mà Người sử dụng)” (2010) do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố

Hồ Chí Minh xuất bản Trong tác phẩm này, tác giả chỉ ra những phạm trù đạo đức

cơ bản mà Hồ Chí Minh sử dụng; làm rõ nội dung của chúng và lý giải vì sao Hồ Chí Minh lại sử dụng các phạm trù ấy; làm sáng tỏ được ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việc kế thừa, vận dụng và phát triển tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay Từ đó, tác giả đòi hỏi mỗi người Việt Nam cần phải tiếp tục dày công, bền bỉ tuyên truyền, giáo dục ngày càng sâu rộng các phạm trù đạo đức

mà Người đã sử dụng Bên cạnh đó, cũng phải kiên quyết, thường xuyên đấu tranh chống lại các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Thành Duy và Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Quý Đức với tác

phẩm “Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh - Xây dựng nền văn hóa ở nước ta

hiện nay” (2007), Nhà xuất bản Lý luận Chính trị, Hà Nội ấn hành Trong tác phẩm

này, các tác giả đã làm rõ một cách toàn diện và có hệ thống tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và khẳng định: Việc thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng được xem

là một trong những nguyên tắc cơ bản của người cách mạng

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (chủ biên) với tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh và

con đường cách mạng Việt Nam” (1997) do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội

xuất bản Ở tác phẩm này, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, các tác giả đã phân tích sâu sắc và trình bày một cách có hệ thống những luận điểm sáng tạo lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về đường lối và phương pháp cách mạng, về

tư tưởng nhân văn, đạo đức của Hồ Chí Minh Các tác giả khẳng định: Mặc dù ngày nay, tình hình mọi mặt so với thời Hồ Chí Minh còn sống đã có nhiều đổi thay, song

Trang 10

những tư tưởng và tấm gương của Người về đạo đức cách mạng vẫn sống mãi Do

đó, mỗi người Việt Nam phải thường xuyên lấy ánh sáng cao đẹp của đạo đức cách mạng, đạo đức Hồ Chí Minh để xua tan đi bóng tối của đạo đức tư sản, của lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, chạy theo tiện nghi, bất chấp lương tâm, trách nhiệm, nghĩa vụ, tình nghĩa

Tiến sĩ Văn Thị Mai Thanh có tác phẩm “Tỏa sáng tư tưởng và đạo đức Hồ Chí

Minh” (2010), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội ấn hành Với tác phẩm này,

tác giả đã đưa ra hơn 30 bài viết khác nhau để nêu bật tư tưởng và tấm gương về đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh trong hành trình đấu tranh thực hiện khát vọng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người

Tiến sĩ Nguyễn Thế Thắng với tác phẩm “Tìm hiểu tư tưởng đạo đức cách mạng

Hồ Chí Minh” (2002), Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội xuất bản Trong tác phẩm

này, tác giả đã làm rõ được nguồn gốc chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng; phân tích sâu sắc nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh Tác giả quan niệm: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh có một sự thống nhất chặt chẽ, tuy hai mà một Tư tưởng của Người không chỉ thể hiện trong lời nói, bài viết mà còn biểu hiện trong hành động, đời sống và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó, tác giả đã vận dụng vào quá trình giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta hiện nay

Ngoài ra, thời gian qua cũng có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về tác động của cơ chế thị trường đến sự biến đổi giá trị và thang giá trị đạo đức ở nước ta, trong

đó phải kể đến các công trình tiêu biểu như: Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Chí Mỹ

(1999) với tác phẩm “Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị

trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay” do

Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội xuất bản; Giáo sư, Tiến sĩ Trần Xuân Trường

(chủ biên) (1999) với tác phẩm “Về định hướng xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực cơ

bản của đời sống xã hội”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội ấn hành Qua

các công trình này, các tác giả đã nhấn mạnh đến tính tất yếu của sự biến đổi giá trị

Trang 11

và thang giá trị đạo đức của con người Việt Nam trong điều kiện của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Từ đó, các tác giả đi đến đòi hỏi phải có những định hướng đúng đắn cho quá trình xây dựng nền đạo đức mới ở nước ta hiện nay Bên cạnh đó, những vấn đề về đạo đức cách mạng của người cán bộ, chiến sĩ công an trong thời đại mới, cũng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, làm sáng tỏ trong nhiều bài viết và các công trình khoa học như: Thiếu tướng, Phó

Giáo sư, Tiến sĩ Hà Việt Dũng (2010), “Quan điểm của Đảng về xây dựng nền an

ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân trong Nghị quyết Đại hội XI” - Kỷ yếu

Hội thảo khoa học: Quán triệt thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng về công tác đảm bảo an ninh, trật tự ở khu vực phía Nam - Bộ Công an Trong bài viết này, tác giả nhấn mạnh: Trong quá trình xây dựng nền an ninh nhân dân và thế trận

an ninh nhân dân phải chú ý quan tâm xây dựng lực lượng Công an nhân dân làm nòng cốt Tuy nhiên, để xây dựng lực lượng Công an nhân dân chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại thì trước hết phải xây dựng, rèn luyện cho mỗi cán bộ, chiến sĩ công an một phẩm chất đạo đức cách mạng, một tinh thần phục vụ nhân dân đúng đắn Từ đó, tác giả đòi hỏi công an các đơn vị, địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh - Công an nhân dân

vì nước quên thân, vì dân phục vụ” để mỗi cán bộ, chiến sĩ trong toàn lực lượng thật

sự “thức cho dân ngủ ngon, gác cho dân vui chơi, lấy hạnh phúc của nhân dân làm niềm vui lẽ sống của mọi cán bộ, chiến sĩ, lấy sự nghiệp của Đảng làm mục tiêu phấn đấu của toàn lực lượng Công an nhân dân”

Bộ Công an (2007), Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Học tập và làm theo tấm gương

đạo đức Hồ Chí Minh” Trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học này, các tác giả đã nêu lên

ý nghĩa của cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh - Công an nhân dân vì nước quên thân, vì dân phục vụ”; làm rõ thực trạng nghiên cứu, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong lực lượng công an thời gian qua Trên cơ sở đó, các tác giả đã đề xuất phương hướng để xây dựng và nâng cao đạo đức cách mạng cho lực lượng công an trong thời kỳ mới

Trang 12

Từ những khảo cứu trên, cho thấy: các tác phẩm và các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng; về tác động của cơ chế thị trường đến sự biến đổi thang giá trị đạo đức ở nước ta; về đạo đức cách mạng của người cán bộ, chiến sĩ công an trong thời kỳ mới đã có những giá trị khoa học và thực tiễn to lớn

Đó là những tài liệu vô cùng quý báu và hữu ích, gợi mở nhiều ý tưởng quan trọng

để tác giả lựa chọn, tham khảo phục vụ cho quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn của mình Tuy nhiên, hướng tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh dưới “góc độ chủ nghĩa xã hội khoa học” để vận dụng vào quá trình xây dựng và nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ công an thì đến nay chưa có công trình nào trình bày một cách sâu sắc và có hệ thống Do vậy, trên cơ sở kế thừa những kết quả của các công trình nghiên cứu đã được công bố có liên quan đến đề tài, tác giả lựa chọn vấn

đề: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và sự vận dụng trong việc xây dựng và nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ công an trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích của luận văn: Phân tích và làm sáng tỏ nội dung khoa học của tư

tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng Từ đó, vận dụng trong việc xây dựng và nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ công an trong giai đoạn hiện nay

- Nhiệm vụ của luận văn: Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết

những nhiệm vụ chính yếu sau:

Thứ nhất, phân tích và làm sáng tỏ hoàn cảnh lịch sử - xã hội và những tiền đề

hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

Thứ hai, phân tích và luận giải những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh

về đạo đức cách mạng

Thứ ba, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng để xây dựng và

nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ công an trong giai đoạn hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Để thực hiện mục đích, nhiệm vụ của luận văn, tác giả đã dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan

Trang 13

điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức cách mạng; Chỉ thị, Nghị quyết của ngành Công an về xây dựng đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ công an trong giai đoạn hiện nay Trên cơ sở đó, tác giả kết giả kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch, thống kê, so sánh - đối chiếu ; theo nguyên tắc: khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn để thực hiện luận văn của mình

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa khoa học của luận văn: Luận văn góp phần làm sáng tỏ nội dung khoa

học của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng; làm rõ một số vấn đề mang tính phương pháp luận trong việc xây dựng và nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ,

chiến sĩ công an trong giai đoạn hiện nay

- Ý nghĩa thực tiễn của luận văn: Luận văn góp phần nâng cao nhận thức của cán

bộ, chiến sĩ công an đối với tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng Đồng thời, luận văn còn đề xuất một số giải pháp cơ bản để góp phần xây dựng và nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ công an trong giai đoạn hiện nay.Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên các trường Đại học

và Cao đẳng nghiên cứu, học tập chuyên đề tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chủ yếu luận văn được kết cấu gồm 2 chương, 5 tiết

Trang 14

Chương 1

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

1.1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam và bối cảnh thế giới cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

Vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam chịu sự tác động tiêu cực bởi chính sách thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Năm 1858, nổ tiếng súng đầu tiên vào bán đảo Sơn Trà ở Đà Nẵng, thực dân Pháp chính thức mở màn xâm lược Việt Nam Sau khi hoàn thành việc xâm lược và bình định bằng vũ lực, thực dân Pháp thiết lập bộ máy thống trị trên toàn bộ đất nước ta với quy mô ngày càng lớn nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt, cho vay nặng lãi, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa của “chính quốc” Sự thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam chuyển biến mạnh mẽ trên tất cả mọi mặt của đời sống xã hội, làm cho Việt Nam từ một nước “phong kiến độc lập”,

“có chủ quyền” trở thành một nước “thuộc địa nửa phong kiến”

Về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị chuyên chế điển hình

Mọi quyền hành đều nằm trong tay các viên quan cai trị người Pháp, tước bỏ quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn Chúng bóp nghẹt

tự do dân chủ, khủng bố và nhấn chìm các cuộc đấu tranh của nhân dân ta trong những bể máu Trước đây, nước ta vốn là một quốc gia thống nhất, nhưng kể từ khi

bị thực dân Pháp xâm lược, chúng đã chia cắt đất nước ta ra thành ba kỳ: Bắc Kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ để dễ bề cai trị và đàn áp Vạch trần bản chất chính trị phản động của thực dân Pháp, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào Chúng thi hành những luật pháp dã man Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu” [28; 555] và “thanh niên nào nói đến những chữ bình đẳng, tự do, cách mạng đều bị bọn thực dân và phong kiến coi là phạm tội và bị chúng xử tội,

Trang 15

nhẹ là bắt bớ, giam cầm; nặng là tù đày, bắn giết” [35; 389] Nói chung, “ở nước ta,

đế quốc Pháp hoành hành dã man; đồng bào ta bị làm nô lệ, có Tổ quốc mà không

có quyền yêu nước Nhân dân ta, kể cả thanh niên, bơ vơ không có người lãnh đạo

và hầu như không thấy lối ra” [35; 105]

Về kinh tế, thực dân Pháp thực hiện chính sách độc quyền về xuất nhập khẩu,

về khai thác mỏ, giao thông vận tải, ngân hàng, tài chính, thuốc phiện, muối Chúng

ra sức chiếm đoạt ruộng đất của nhân dân ta để lập đồn điền; lập ra hàng trăm thứ thuế vô lý và vô nhân đạo Với mục đích chính là khai thác thuộc địa nên Pháp không

du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức tư bản chủ nghĩa vào nước ta, mà vẫn duy trì quan hệ kinh tế phong kiến Chúng kết hợp hai phương thức bóc lột tư bản

và phong kiến để thu lợi nhuận siêu ngạch Hồ Chí Minh tố cáo: Bằng phương thức bóc lột tư bản và phong kiến, thực dân Pháp đã “bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy, khiến cho nhân dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều Chúng cướp ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng Chúng không cho các nhà

tư sản ta ngóc đầu lên Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn” [28; 556]

Về văn hóa - giáo dục, thực dân Pháp thực hiện chính sách “ngu dân” về mặt

giáo dục, “đầu độc” về mặt văn hóa Đồng thời, chúng cũng ra sức đẩy mạnh tuyên truyền ca ngợi chính sách “khai hóa” của “Nhà nước bảo hộ”, du nhập văn hóa phẩm đồi trụy, khuyến khích tệ nạn cờ bạc, rượu chè, nghiện hút Tố cáo tội ác của chế độ cai trị thực dân ở Đông Dương, Hồ Chí Minh vạch rõ: “Chúng tôi không những bị áp bức và bóc lột một cách nhục nhã, mà còn bị hành hạ và đầu độc một cách thê thảm…; Chúng tôi phải sống trong cảnh ngu dốt tối tăm vì chúng tôi không có quyền tự do

học tập” [26; 22 – 23]

Về xã hội, dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hóa,

giáo dục thực dân, xã hội Việt Nam diễn ra quá trình phân hóa sâu sắc Các giai cấp

cũ bị phân hóa và hình thành những giai cấp và tầng lớp mới, đặc biệt là sự ra đời của hai giai cấp mới đó là giai cấp công nhân và giai cấp tư sản dân tộc

Trang 16

Đến những năm đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam có những chuyển biến rõ rệt làm nảy sinh những mâu thuẫn hết sức sâu sắc và ngày càng trở nên quyết liệt Đó là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản, mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân đế quốc Pháp Tất cả những mâu thuẫn đó tạo tiền đề dẫn đến các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp ngày càng mạnh mẽ Trước thực trạng biến đổi của xã hội Việt Nam thời bấy giờ, Hồ Chí Minh nhận định: “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đó đang sôi sục, đang gào thét

và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm” [26; 28] và khi thời cơ đến, “toàn dân Việt Nam trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp” [28; 557] Việt Nam vốn là một nước nghèo, lạc hậu về kinh tế, nhưng có truyền thống yêu nước hết sức nồng nàn, có tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc rất cao, luôn anh dũng, kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm nên nhân dân ta đã phát huy truyền thống vẻ vang của ông cha mà liên tiếp vùng lên đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược nhằm bảo vệ nền độc lập nước nhà Hồ Chí Minh khẳng định: “Ông cha chúng ta với ý chí quật cường và lòng nồng nàn yêu nước đã liên tiếp vùng dậy, luôn nêu cao ngọn cờ độc lập tự do” [34; 372] Phong trào chống thực dân Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương (1885 - 1896) do vua Hàm Nghi lãnh đạo mở đường cho các phong trào giải phóng dân tộc nổ ra Song, vì chưa có đường lối chính trị rõ ràng và chưa có được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân cả nước nên các phong trào cuối cùng cũng bị thất bại, nhân dân Việt Nam tiếp tục lâm vào tình cảnh bế tắc về con đường cứu nước

Cũng những năm đầu thế kỷ XX, các tư tưởng tư sản của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, Tôn Dật Tiên ở Trung Quốc và tư tưởng của các nhà khai sáng Pháp với những khẩu hiệu hết sức nhân văn được nhân dân ta tiếp nhận Đặc biệt, tư tưởng về

“tự do - bình đẳng - bác ái” của các nhà tư sản Pháp đã tác động trực tiếp vào các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam Sự kìm kẹp của thực dân Pháp, cộng với sự biến đổi theo chiều hướng tiêu cực về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục của xã hội Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX là tiền đề tất yếu để

Trang 17

đi đến thiết lập một trật tự xã hội mới Nó đang được chuẩn bị về mặt xã hội, cái còn lại chỉ là việc gieo hạt giống tinh thần đến quần chúng, đến với nhân dân lao động nữa mà thôi Nhưng, “để gieo hạt giống đó đòi hỏi phải có phương pháp Phương pháp của Phan Châu Trinh là khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh Phương pháp của Phan Văn Trường là dụng lý thuyết thâu nhân tâm Phương pháp của Phan Bội Châu là cầu cứu nghĩa cử đồng văn, đồng chủng, chạy đông, chạy tây, dĩ ngoại đột nội ” [41; 26] Có thể nói, phương pháp và cách thức tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc của các phong trào đó rất phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức tiến hành Song, tất cả các phương pháp và cách thức tiến hành đó cũng chưa vượt ra phạm vi của những cuộc cách mạng không đến nơi, đến chốn “Phương pháp cách mạng của họ có nhược điểm chủ yếu là không nhận thức đúng đắn, đầy đủ về yêu cầu

và nhiệm vụ cấp bách của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX Họ chưa được trang bị phương pháp khoa học để nhận thức xã hội Việt Nam một cách toàn diện” [41; 26] Cho nên, phong trào Đông Du, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, phong trào Duy Tân vừa mới bùng lên đã bị thực dân Pháp đàn áp, dập tắt Vào nửa cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền - chủ nghĩa đế quốc Các nước đế quốc bên trong thì tăng cường bóc lột nhân dân lao động, bên ngoài thì xâm lược và áp bức các dân tộc thuộc địa Đến cuối thế kỷ XIX, việc bình định về quân sự của các nước đế quốc với các nước thuộc địa cơ bản hoàn thành Hầu hết các nước nhược tiểu ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ - Latinh đã trở thành thuộc địa và phụ thuộc của các nước đế quốc Các nước đế quốc đặt ách áp bức thực dân dưới các hình thức khác nhau ở hầu hết các nước thuộc địa Sự áp bức và thôn tính dân tộc của chủ nghĩa đế quốc càng tăng làm cho các mâu thuẫn của thời đại tăng lên và xuất hiện những mâu thuẫn mới, đó là: mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản ở chính quốc, giữa đa số người lao động với địa chủ phong kiến, mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với nhau và mâu thuẫn giữa dân tộc thuộc địa với đế quốc thực dân Những mâu thuẫn đó ngày càng phát triển gay gắt, tích tụ tạo tiền đề dẫn đến các cuộc cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX

Trang 18

Trong thời đại mà chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻ thù chung của tất cả giai cấp

vô sản và các dân tộc thuộc địa thì giai cấp tư sản và hệ tư tưởng dân chủ tư sản không còn là một tư tưởng tiến bộ nữa Phong trào cách mạng thế giới cấp thiết đặt ra là phải

có hệ thống lý luận, khoa học để làm vũ khí tư tưởng trong cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống chủ nghĩa tư bản Trước bối cảnh đó, chủ nghĩa Mác ra đời vào năm 1848, với bản “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” đã khẳng định giai cấp công nhân

có sứ mệnh lịch sử là: thông qua chính đảng của mình là Đảng Cộng sản; thực hiện

sự đoàn kết đấu tranh, dùng bạo lực lật đổ chính quyền tư sản, thiết lập chuyên chính

vô sản Có thể nói, Bản Tuyên ngôn không chỉ là vũ khí lý luận của giai cấp công nhân trên toàn thế giới mà còn là ngọn cờ tập hợp giai cấp công nhân, giai cấp vô sản trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản với khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” [33; 586] Được sự dẫn dắt soi đường bởi vũ khí lý luận của chủ nghĩa Mác, giai cấp công nhân ngày càng phát triển về số lượng và chất lượng Con đường đấu tranh của giai cấp công nhân ngày càng được định hình rõ nét,

đi từ tự phát đến tự giác

Đến đầu thế kỷ XX, V.I.Lênin đã phát triển chủ nghĩa Mác thành chủ nghĩa Lênin Đây là bước ngoặt cách mạng trong lịch sử tư tưởng xã hội Nó có sức ảnh hưởng to lớn, lôi cuốn quần chúng nhân dân lao động ở những nước thuộc địa vào phong trào cộng sản Với sự thắng lợi rực rỡ của Cách mạng tháng Mười Nga (năm 1917), đã mở ra một thời đại mới - thời đại ưu thế thuộc về giai cấp công nhân Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh đã ca ngợi: “Cách mạng Tháng Mười đã chặt đứt xiềng xích của chủ nghĩa đế quốc, phá tan cơ sở của

Mác-nó và giáng cho Mác-nó một đòn chí mạng Cách mạng Tháng Mười như tiếng sét đã đánh thức nhân dân châu Á tỉnh giấc mê hàng thế kỷ nay Cách mạng Tháng Mười đã mở

ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc” [33; 562]

Trước yêu cầu của phong trào cộng sản quốc tế, tháng 3/1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) được thành lập Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Bản “Sơ thảo lần thứ nhất

Trang 19

những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin được công

bố tại Đại hội II Quốc tế Cộng sản vào năm 1920 đã chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa, mở ra con đường giải phóng các dân tộc bị áp bức trên lập trường cách mạng vô sản Hồ Chí Minh đã khẳng định: An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế; Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có đường nào khác con đường cách mạng vô sản

Như vậy, trước hoàn cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX có nhiều mâu thuẫn, khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước đã đặt ra trước hết cho các nhà tư tưởng Việt Nam phải được trang bị phương pháp luận khoa học để tìm hiểu, nghiên cứu và giải quyết đúng đắn mọi vấn đề của đời sống xã hội Trong đó, có những vấn đề về “đạo đức của con người Việt Nam” để thực hiện thắng lợi mọi cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đem lại cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc cho tất cả mọi người dân Việt Nam Nhiệm vụ lịch sử đó đã được Hồ Chí Minh tiếp nhận và quyết tâm thực hiện cho bằng được Tuy nhiên, giải quyết nhiệm vụ ấy bằng cách nào? Đây là một câu hỏi đầy trăn trở ở Hồ Chí Minh

Trong khi đó, trên thế giới vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa và các nước đế quốc tiến hành hàng trăm cuộc chiến tranh xâm lược các nước nhỏ yếu, lạc hậu ở khắp các châu Á, Phi và khu vực Mỹ Latinh Song, chúng lại tuyên bố đó là các “công cuộc khai phá văn minh cao cả” Đến đầu thế kỷ XX, dù chỉ có chín nước đế quốc là Anh, Pháp, Mỹ, Tây Ban Nha, Ý, Nhật Bản, Bồ Đào Nha, Hà Lan, nhưng lại thống trị và chi phối cả thế giới

Từ đó, tạo ra mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa các nước đế quốc với các dân tộc thuộc địa và giữa các nước đế quốc với nhau hết sức gay gắt Chính trong bối cảnh này, V.I.Lênin đã phát triển chủ nghĩa Mác thành chủ nghĩa Mác-Lênin và hoàn thiện chiến lược, sách lược của cách mạng vô sản, đặc biệt

là lời kêu gọi: “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!” Đến năm

1917, V.I.Lênin và Đảng cách mạng của giai cấp công nhân đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Mười Nga thành công và mổ ra một thời đại mới trong lịch sử tiến hóa của xã hội loài người, đó là: Thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản tiến lên chủ nghĩa xã hội

Trang 20

trên phạm vi toàn thế giới Điều này đã cổ vũ mạnh mẽ và có ảnh hưởng rất lớn đến các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở khắp nơi trên thế giới

Trải qua nhiều bước khảo nghiệm, cuối cùng vào những năm 20 của thế kỷ XX,

Hồ Chí Minh đã đến được với chủ nghĩa Mác-Lênin - Hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và cũng là hệ tư tưởng tiên tiến nhất của thời đại ngày nay Phát triển, cụ thể hóa một cách sâu sắc những quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin về đạo đức cộng sản của giai cấp công nhân, Hồ Chí Minh đã nêu ra những yêu cầu cơ bản về đạo đức của con người Việt Nam Theo Hồ Chí Minh, làm cách mạng để tự giải phóng, để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp vẻ vang; nhưng đồng thời, cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài và gian khổ Do đó, để làm cách mạng thành công thì mỗi người Việt Nam phải có đầy

đủ bản lĩnh cách mạng Tuy nhiên, bản lĩnh cách mạng chỉ có thể có được khi họ được trang bị đầy đủ cả “đức” lẫn “tài” Trong đó, “đạo đức cách mạng” là nền tảng tinh thần, là cái quyết định sự vững vàng, kiên định, nghị lực của người cách mạng; là cái giúp cho người cách mạng vượt qua được mọi khó khăn, hiểm nguy và thử thách cam

go để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao Hồ Chí Minh dạy: “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” [34; 239]

1.1.2 Những tiền đề hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

* Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cánh mạng không chỉ phản ánh điều kiện kinh

tế, chính trị, văn hóa, xã hội mà còn bắt nguồn từ giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam, nổi bật là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, nhân

ái, khoan dung đã được hun đúc qua hàng nghìn năm đấu tranh kiên cường, bất khuất, tự lực, tự cường, thông minh, sáng tạo chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập của dân tộc và bảo vệ nền văn hiến của đất nước, chống âm mưu đồng hóa của

ngoại bang Việt Nam là một quốc gia được hình thành rất sớm, trải qua mấy nghìn

năm dựng nước và giữ nước, đất nước Việt Nam trở thành Tổ quốc thiêng liêng của mỗi người Việt Nam Tinh thần yêu nước trở thành đạo lý sống, niềm tự hào và là

Trang 21

một nhân tố đứng đầu trong bảng giá trị đạo đức của con người Việt Nam Hồ Chí Minh viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ Quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang thời đại, Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các

vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng” [30; 171]

Việt Nam có địa hình thuận lợi, đất đai phì nhiêu, khí hậu thích hợp cho phát triển nông nghiệp, tài nguyên, khoáng sản phong phú, nhưng cũng thường xuyên xảy ra nạn thiên tai, lũ lụt, hạn hán Đây là một trong những yếu tố vật chất căn bản làm cho dân tộc Việt Nam có được những giá trị đạo đức cao đẹp về quý trọng tình người,

về lòng nhân ái, khoan dung, về tính nhân văn sâu sắc Chính những giá trị đó đã tạo nên một sức mạnh tổng hợp trong các cuộc đấu tranh chống quân xâm lược của nhân dân ta Đó là mối liên hệ khăng khít giữa các cá nhân trong cộng đồng tạo thành giá trị đạo đức truyền thống đặc sắc Đó là tính cố kết cộng đồng “lá lành đùm lá rách”,

“một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, hay “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” qua những câu ca dao, tục ngữ, những lời ru, điệu hò, câu ví đã khắc sâu vào tâm trí của mỗi người Việt Nam luôn được Hồ Chí Minh nâng niu, trân trọng

Đặc trưng triết lý sống của người Việt Nam là tinh thần nhân văn sâu sắc, lòng khoan dung, nhân đạo, nhân ái và những quan niệm như: “nước chảy đá mòn”, “nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng” Tinh thần khoan dung của người Việt Nam được thể hiện ở quan điểm hòa hiếu, khi chiến đấu chống quan xâm lược rất anh dũng, kiên cường, nhưng khi quân xâm lược thua, rút chạy thì ta cho chúng con đường sống - “Đánh kẻ chạy đi, chứ không ai đánh người chạy lại”, làm đường, cấp lương thực, phương tiện cho chúng rút lui về nước Những giá trị đạo đức truyền thống quý báu đó của dân tộc đã được Hồ Chí Minh nâng niu, nuôi dưỡng, phát huy và trở thành cơ sở, niềm tự hào khắc sâu vào tâm trí, vun đắp

Trang 22

lên thành triết lý sống của Hồ Chí Minh Người khẳng định: “Lúc đầu chính chủ nghĩa yêu nước, chứ không phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc

tế thứ ba” [35; 128]

* Tinh hoa tư tưởng đạo đức phương Đông

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, còn bắt nguồn từ sự tiếp thu có chọn lọc, có phê phán những tinh hoa tư tưởng đạo đức phương Đông Sự tiếp thu đó

đã góp phần tạo cho tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng một phong thái, cốt cách riêng Hồ Chí Minh được sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước và chuẩn mực đạo đức Nho giáo; được giáo dục trong khuôn phép của tư tưởng Nho giáo Chính vì vậy, ngay từ khi còn trẻ, Người đã tinh thông Ngũ kinh, Tứ thư Sau khi đã làm được thơ Đường bằng chứ Hán, Hồ Chí Minh thường dẫn ra các ý, thậm chí cả các mệnh đề của Khổng - Mạnh Từ học thuyết “Chính danh” của Nho giáo, Người đã bỏ qua những hạn chế bởi điều kiện lịch sử xã hội như “Quân xử thành

tử thần bất tử bất trung”, “Quân tư úy thiên mệnh” để nâng quan điểm này lên một tầm cao mới mang tính cách mạng, tính dân tộc, tính nhân dân, mà ở đó chỉ còn là

“Trung với nước, hiếu với dân” Hồ Chí Minh dạy: “Dù là Chủ tịch nước, Bộ trưởng, công nhân, nông dân, bộ đội hay người phục vụ nấu ăn, quét rác đều là tồi nếu không hoàn thành được nhiệm vụ của mình, còn nếu làm tốt hơn người khác thì đều

là anh hùng, chiến sĩ thi đua, là những thánh nhân ngày nay” [35; 460]

Từ quan niệm “vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con”, rồi đến tư tưởng “tôi phải trung thành với vua một cách tuyệt đối”, “làm con phải hiếu thảo với cha mẹ” trong học thuyết “Chính danh” của Nho giáo, Hồ Chí Minh đã nâng quan niệm này lên một tầm cao mới, mang lại cho nó những nội dung mới gắn liền với đặc điểm vốn

có của dân tộc Việt Nam và với tiến bộ xã hội Người kêu gọi: “Trung là trung với

Tổ quốc, Hiếu là hiếu với nhân dân, ta thương cha mẹ ta mà còn phải thương cha mẹ người, phải cho mọi người biết thương cha mẹ” [29; 640] Nếu như Nho giáo hạ thấp vai trò của người phụ nữ, đặt ra những quy định hà khắc đối với họ thì Hồ Chí Minh

đã phê phán quan điểm ấy, khôi phục lại vị trí, vai trò của người phụ nữ và thực hiện

sự bình đẳng giữa nam và nữ trong xã hội Người viết: “Nói tới phụ nữ là nói tới phần

Trang 23

nửa xã hội” [34; 523] Đặc biệt, những tiêu chuẩn của đạo đức Nho giáo như: nhân,

lễ, nghĩa, trí, tín, dũng, cần, kiệm, liêm, chính, học đi đôi với hành, phải biết yêu thương người… đều được Hồ Chí Minh kế thừa và vận dụng một cách sáng tạo để xây dựng đạo đức “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân Người viết: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống Nó

do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố” [33;293] Hồ Chí Minh cũng kế thừa có sáng tạo một cách sinh động những tư tưởng như “Dân vi quý,

xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, “giáo dục làm gương”, “đào tạo con người có đạo đức cho xã hội” Những tư tưởng đó được Hồ Chí Minh phát triển thành tư tưởng “lấy dân làm gốc”, “dân là vốn quý nhất”, “đạo đức là cái gốc, là phẩm chất quan trọng nhất” của người cách mạng

Ngoài ra, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng còn kế thừa tư tưởng của Phật giáo về giáo hóa con người Tư tưởng Phật giáo là lấy lòng từ bi, vị tha, lấy ân báo oán thì tư tưởng Hồ Chí Minh xuất hiện tấm lòng khoan dung, độ lượng đối với con người Quan niệm “con người sinh ra không có dấu ấn nô lệ trên trán” hay “mọi người đều có dòng máu đỏ” là quan niệm đạo đức về lòng yêu thương, về sự bình đẳng trong các mối quan hệ của con người trong tư tưởng Phật giáo Tất cả những quan niệm đó đều được Hồ Chí Minh kế thừa và vận dụng một cách sáng tạo thông qua hoạt động thực tiễn cách mạng Việt Nam Với phong trào “Hũ gạo tiết kiệm”, Người nói: “Tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn 3 bữa Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo Như vậy, người nghèo sẽ có bữa rau bữa cháo để chờ mùa lúa năm sau, khỏi đến nỗi chết đói Tôi chắc rằng đồng bào ta ai cũng sẵn lòng cứu khổ cứu nạn, mà hăng hái hưởng ứng lời đề nghị nhường cơm xẻ áo để diệt giặc đói” [29; 31] Phật giáo rất chú ý đến số phận con người và vấn đề “giải thoát” con người khỏi

bể khổ của trần gian Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm đến thân phận và nỗi khổ con người Người viết: “Đức Phật đại từ, đại bi cứu khổ cứu nạn, muốn cứu chúng sinh

ra khỏi khổ nạn, Người phải hy sinh tranh đấu diệt lũ ác ma” [30; 197] Nhưng, khác với Phật giáo, Hồ Chí Minh đã đi tìm nguyên nhân nỗi khổ ngay bên trong xã hội, do

Trang 24

những áp bức, bóc lột, bất công và tìm ra con đường giải thoát nỗi khổ ấy bằng những hành động đấu tranh cách mạng để giải phóng dân tộc và giải phóng nhân loại Phật giáo khuyên con người sống có đạo đức từ bi, hỷ xả, quan tâm giúp đỡ người khác, chăm làm việc thiện, trong sạch, giản dị, giữ giới Hồ Chí Minh đã kế thừa những tư tưởng trên, thể hiện qua lối sống và cuộc đời hoạt động của Người Nhân ngày Phật đản, Người viết: “Đời sống của nhân dân ta dần dần được cải thiện, cũng giống như tôn chỉ mục đích của đạo Phật nhằm xây dựng cuộc đời thẩm mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và ấm no” [31; 290]

Ngoài Nho giáo và Phật giáo, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng còn chịu ảnh hưởng tư tưởng triết lý của Lão giáo Mặc dù, tư tưởng của Lão giáo ít được nhắc đến, song nó lại có ảnh hưởng rất lớn đến lối sống, phong cách và tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh

Tư tưởng cốt lõi của Lão giáo là triết lý “duy nhiên” chỉ cho mọi người xuất thế,

xa lánh xã hội, chạy trốn những trách nhiệm làm người với những bổn phận và trách nhiệm vốn có của một con người - Con người chỉ hành động theo lẽ tự nhiên Quan niệm này có những hạn chế, nhưng nó cũng có những giá trị nhất định như: Dạy cho con người có lòng yêu thiên nhiên, sống hòa hợp với tự nhiên, tinh thần lạc quan trước những biến cố của cuộc sống Hồ Chí Minh đã khai thác có chọn lọc, có phê phán những giá trị này vào những thời điểm và hoàn cảnh thích ứng Trong tập thơ

“Nhật ký trong tù” - tập thơ được viết khi Người bị giam giữ trong nhà lao Trung Quốc, đã thể hiện một tinh thần lạc quan, yêu đời và luôn hướng về một ngày mai tốt đẹp Khi đã làm Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh vẫn sống với một cuộc sống đời thường, hòa đồng với tự nhiên, vẫn là một con người giản dị, thanh tao với một ngôi nhà sàn đơn sơ, có vườn cây, ao cá Người từng nói: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào đã ủy thác thì tôi phải gắng sức làm” [29; 161] Đó là phong cách của một con người vĩ đại, nhưng hết sức giản dị, thanh tao, tự tại, không thái quá, không hưởng thụ trước thiên

hạ Hồ Chí Minh dạy: “Không hiếu danh, không kiêu ngạo, ít lòng ham muốn vật chất” [27; 260], “xem thường danh vị, ngôi thứ và tiền bạc, vì chúng là cội nguồn

Trang 25

sinh ra đố kỵ và thù hận ” [27; 450] Trong Di chúc, Người còn căn dặn: “Đảng ta

là một đảng cầm quyền Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng; thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Phải giữ gìn Đảng thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân” [26;498] Nói chung, Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc những tư tưởng của Lão giáo để hình thành nên phong cách, lối sống đạo đức của một vị lãnh tụ, một vĩ nhân vĩ đại của dân tộc Việt Nam

* Tinh hoa tư tưởng đạo đức phương Tây

Hồ Chí Minh không chỉ thấm nhuần những tư tưởng phương Đông, mà còn được học và tiếp xúc với nhiều tư tưởng đạo đức tiến bộ của phương Tây, trong đó chủ yếu

là tư tưởng đạo đức của các nhà khai sáng Pháp với khẩu hiệu “tự do - bình đẳng - bác ái” và những tư tưởng về dân quyền, dân ước, dân chủ, dân sinh… Ngay từ thuở thiếu thời, Hồ Chí Minh đã được tiếp xúc với nền văn hóa phương Tây qua sách báo Sau này, Người kể lại: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi đã được nghe ba chữ Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp Người Pháp đã nói thế Và thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy Nhưng trong những trường học cho người bản xứ, bọn Pháp dạy người như dạy những con vẹt Chúng giấu không cho người nước tôi xem sách báo Không phải chỉ sách của các nhà văn mới, mà cả Rútxô và Môngtexkiơ cũng bị cấm, vậy thì phải làm thế nào bây giờ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài” [26; 477]

Chính tư tưởng đạo đức “tự do - bình đẳng - bác ái” của phương Tây đã thôi thúc

Hồ Chí Minh hướng về phương Tây để xem xét, học hỏi và tìm con đường cứu nước giải phóng cho dân tộc Hơn mười năm bôn ba khảo sát ở các châu lục như châu Á, châu Âu, châu Mỹ Latinh và châu Phi, đặc biệt có một số nước tư bản như Mỹ, Anh, Pháp và các thuộc địa của chúng, Hồ Chí Minh đã rút ra được những nhận định hết sức sâu sắc, tìm ra được những “tinh hoa” tốt đẹp cần tiếp thu và những gì còn hạn chế cần khắc phục Sau khi đọc Bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ, trong đó đề cập đến “quyền bình đẳng”, “quyền sống”, “quyền tự do”, “quyền mưu

Trang 26

cầu hạnh phú” của con người, “quyền công dân kiểm soát Chính phủ”, “hễ Chính phủ nào có hại cho dân chúng thì dân chúng phải lật đổ Chính phủ ấy đi và gây nên Chính phủ khác” [31; 321]… Hồ Chí Minh rất khâm phục ý chí giành độc lập, tự do của nhân dân Mỹ, khâm phục những tư tưởng vĩ đại của Oasinhtơn, Jepphesơn, Lincôn Nhưng, Người cũng phát hiện những mâu thuẫn đằng sau những từ ngữ hoa mỹ về tự

do, bình đẳng là sự bất bình đẳng, nghèo đói của hàng triệu người lao động, là điều kiện sống khủng khiếp của người da đen, là nạn phân biệt chủng tộc ghê gớm Những tư tưởng đạo đức ở thời phục hưng của thế kỷ khai sáng như: chủ nghĩa nhân văn, tư tưởng tự do, tư tưởng bình đẳng của các đại văn hào nổi tiếng như Vônte, Điđơrô, Rútxô và Môngtexkiơ, đặc biệt là Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Nhà nước Pháp đã để lại cho Hồ Chí Minh những ấn tượng khá sâu sắc Bởi thế, Người đã tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo những tư tưởng đạo đức tiến bộ đó cho phù hợp với thực tiễn của cách mạng Việt Nam Song, Người cũng không quên chỉ ra những hạn chế của nó Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Người nhận xét về cách mạng Mỹ: “Tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai Ấy là vì cách mệnh Mỹ là cách mệnh tư bản, mà cách mệnh tư bản là cách mệnh chưa đến nơi” [27; 270] Về cách mạng Pháp, Người cũng chỉ rõ: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là Công hòa và Dân chủ,

kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa” [27; 274] Do

đó, Hồ Chí Minh căn dặn: “Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy” [27; 274] Ngoài ra, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng còn bắt nguồn từ sự tiếp thu tư tưởng “nhân ái” cao cả của Đức Chúa Giêsu, với nội dung cốt lõi là dạy cho con người có lòng bác ái, yêu thương người khác như yêu thương chính bản thân mình, phải thật sự công bằng trong đối xử giữa những con người với nhau Hồ Chí Minh viết: “Đức Giêsu đã nói ta phải yêu mến các kẻ thù của chúng ta” [26; 272]và kêu gọi “phải thực hành bác ái” [26; 644] Với tinh thần ấy, Hồ Chí Minh cho rằng: Trước lòng bác ái thì máu người Pháp hay máu người Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người Do đó, theo “tinh thần cao thượng của Đức

Trang 27

Chúa Giêsu” [26; 121]thì “đồng bào ta cả lương cả giáo cũng vì tự do, hạnh phúc cho toàn dân mà hy sinh chiến đấu” [29; 50] Nói cách khác, “yêu chúa”, “phụng sự Thượng đế” và “yêu nước”, “phụng sự Tổ quốc” là một, bởi tất cả đều hướng tới mục đích tự do và hạnh phúc của con người

Cùng với quan điểm “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái”, Hồ Chí Minh đón nhận Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn - “Dân tộc - độc lập, Dân quyền - tự do, Dân sinh

- hạnh phúc” để vận dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam Người cho rằng: “Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên là người cha của cách mạng Trung Quốc, người đứng đầu chính phủ Quảng Châu, thì luôn trung thành với nguyên lý của mình, ngay cả trong những lúc khó khăn nhất Cương lĩnh của Đảng ông - Quốc dân đảng - là một cương lĩnh cải cách Cương lĩnh đó gồm những điều khoản chống đế quốc và chống quân phiệt một cách rõ rệt Đây đó lớn tiếng tuyên bố đoàn kết với các dân tộc bị áp bức” [26; 319]

Từ những tư tưởng đạo đức tiến bộ của Chủ nghĩa Tam dân và chính sách thân Nga, liên cộng, phù trợ công nông của Tôn Trung Sơn, Hồ Chí Minh đã vận dụng vào cách mạng Việt Nam để giải phóng dân tộc, giải phóng con người Mặt khác, Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn cũng có nhược điểm, nó cơ bản vẫn là tư tưởng dân chủ

tư sản, nằm trong hệ thống đạo đức tư tưởng tư sản nên còn nhiều hạn chế và Hồ Chí Minh đã thấy rõ những hạn chế đó Cho nên, khi cụ Phan Bội Châu định chuyển Việt Nam Quang Phục Hội thành Việt Nam Quốc Dân Đảng theo Cương lĩnh của Tôn Trung Sơn thì Người đã có những lời khuyên chân tình là không thể dừng lại ở những chủ trương của Quốc Dân Đảng Trung Quốc Hơn nữa, khi vận dụng chính sách mà

Hồ Chí Minh cho là thích hợp với Việt Nam như khẩu hiệu “Dân tộc - độc lập, Dân quyền - tự do, Dân sinh - hạnh phúc” rút ra từ Chủ nghĩa Tam dân và tư tưởng “tự do

- bình đẳng - bác ái” của cách mạng tư sản Pháp thành tiêu ngữ của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã phát triển khái niệm “độc lập - tự do - hạnh phúc” lên một trình độ mới mang tính giai cấp, tính nhân dân, tính dân tộc và tính cách mạng triệt để, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản

Việt Nam

Trang 28

* Các nguyên lý đạo đức cộng sản của chủ nghĩa Mác-Lênin

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng được nâng lên một bước phát triển

về chất khi Người tiếp thu các nguyên lý đạo đức của Chủ nghĩa Mác-Lênin

Chủ nghĩa Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX như một tất yếu lịch sử,

do điều kiện kinh tế - xã hội quy định, đồng thời kế thừa và phát triển những thành tựu trong lịch sử tư tưởng nhân loại nhằm giải đáp về lý luận những vấn đề của thời đại đặt ra Chủ nghĩa Mác tiếp tục được V.I.Lênin kế thừa, bổ sung và phát triển trong giai đoạn lịch sử mới

Đứng trên thế giới quan và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã có những tư tưởng sâu sắc về đạo đức xã hội Trong các tác phẩm của mình, các ông đã lên án chế độ tư bản bởi sự bóc lột giá trị thặng dư, làm tha hóa con người và lấy đồng tiền làm chuẩn mực Sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tập trung những tư liệu sản xuất cơ bản của xã hội vào trong tay các nhà tư bản (chiếm số ít trong xã hội) và làm cho tuyệt đại đa số người lao động trở thành những người vô sản Nhu cầu sinh tồn đã buộc những con người không có tư liệu sản xuất này tự nguyện một cách cưỡng bức đến với các nhà tư bản và họ trở thành những người làm thuê cho nhà tư bản Từ đây, quá trình người bóc lột người, quá trình lao động bị tha hóa diễn ra Trước tình hình đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chủ trương thực hiện một cuộc cách mạng trên lĩnh vực đạo đức, xây dựng một kiểu đạo đức hoàn toàn mới so với đạo đức của các giai cấp bóc lột Đó là kiểu đạo đức tiêu biểu cho sự nổi dậy chống lại sự thống trị, thoát khỏi sự tha hóa con người, đạt tới sự giải phóng và phát triển toàn diện của con người Ph.Ăngghen nói: “Tất cả thứ đạo đức hiện nay đang tiêu biểu cho sự lật đổ đạo đức hiện tại, biểu hiện cho lợi ích của tương lai, tức là đạo đức vô sản - là thứ đạo đức có một số lượng nhiều nhất những nhân tố hứa hẹn một sự lâu dài” [16; 136] Khi chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc thì các hình thức bóc lột của chủ nghĩa tư bản có những biểu hiện tàn ác và tinh vi hơn Từ đó, V.I.Lênin

đã có những tác phẩm lý luận về chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân Đồng thời, trên cơ sở kế thừa các quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về đạo đức, V.I.Lênin

Trang 29

cũng đã đưa ra một kiểu “đạo đức mới” - đạo đức của giai cấp giai cấp công nhân và hoàn toàn đối lập với kiểu đạo đức của các giai cấp bóc lột V.I.Lênin viết: “Chúng

ta nói rằng đạo đức của chúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào lợi ích đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản Đạo đức của chúng ta là từ những lợi ích của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản mà ra Cuộc đấu tranh giai cấp còn tiếp tục và nhiệm vụ của chúng ta là làm cho tất cả mọi lợi ích phải phục tùng cuộc đấu tranh này Do đó, đạo đức cộng sản của chúng ta cũng phải phục tùng nhiệm vụ này” [51; 367]

Đặc biệt, từ khi thực hiện Chính sách Kinh tế mới (NEP), V.I.Lênin đã đề cập đến một số chuẩn mực đạo đức cơ bản trong giai đoạn cách mạng mới, đó là sự trung thành với lý tưởng, với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, với hạnh phúc của con người, lên án thói kiêu ngạo cộng sản, chống các tệ nạn quan liêu và tham ô V.I.Lênin cũng cho rằng, cái gì phục vụ cho thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản thì cái ấy là đạo đức Cơ sở nền tảng của đạo đức cộng sản là cuộc đấu tranh để củng cố và hoàn thành công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản Nền đạo đức cộng sản ấy đối lập với chủ nghĩa vị kỷ của đạo đức tư sản và ông xác định những nguyên tắc của đạo đức mới

đó là: chủ nghĩa tập thể với phương châm mình vì mọi người và mọi người vì mình; lao động tự giác và sáng tạo; chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp với chủ nghĩa quốc tế vô sản cao cả…

Đối với Hồ Chí Minh, sự hấp dẫn của chủ nghĩa Mác-Lênin về những quan điểm đạo đức chính là ở chỗ giải phóng triệt để con người, mà trước hết là giải phóng giai cấp vô sản và nhân dân lao động điều này làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng thể hiện được mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, giữa Tổ quốc và nhân loại, giữa cá nhân và xã hội, giữa truyền thống và hiện đại

Có thể nói, C.Mác và Ph.Ăngghen là những người đặt nền móng vững chắc cho

sự hình thành, phát triển của những tư tưởng về “đạo đức mới” - đạo đức cộng sản và V.I.Lênin là người đã kế tục xuất sắc những tư tưởng này Tuy nhiên, cả tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin cũng chỉ mới dừng lại ở góc độ những người cộng sản ở chính quốc để nhìn và lý giải về thuộc địa Vì vậy, sau khi tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã bổ sung cho lý luận về đạo đức cộng sản của chủ nghĩa

Trang 30

Mác-Lênin bằng cách nhìn mới, đó là cách nhìn từ phía các dân tộc thuộc địa đang bị

áp bức, bóc lột bởi chủ chủ nghĩa đế quốc thực dân

Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng là kết quả của sự kết hợp bởi nhiều yếu tố Trong đó, những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam

là cội nguồn để hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng; tinh hoa tư tưởng đạo đức của thế giới là tiền đề lý luận quan trọng để hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng; còn các nguyên lý về đạo đức cộng sản của chủ nghĩa Mác-Lênin chính là tiền đề lý luận cơ bản để hình thành nên tư tưởng

Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng Tuy nhiên, sẽ không đầy đủ nếu chỉ đề cập đến những tiền đề trên mà không nói đến phẩm chất, nhân cách đặc biệt của Hồ Chí Minh Bởi vì, bất cứ một học thuyết, tư tưởng nào cũng đều là sản phẩm của con người -

“Con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh, vừa là chủ thể của hoàn cảnh” Cho nên, phẩm chất, nhân cách đặc biệt của Hồ Chí Minh có thể được xem là nhân tố quyết định sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

Ngay từ thuở nhỏ, với tư chất thông minh và được giáo dục trong một gia đình

có truyền thống hiếu học, Hồ Chí Minh đã sớm có tư duy sáng tạo và độc lập; biết tiếp cận, nghiên cứu nhiều luồng tư tưởng khác nhau trên thế giới và đã biết chắt lọc những gì là tinh túy nhất của nhân loại để vận dụng một cách sáng tạo vào tình hình

cụ thể của nước ta Trong suốt những năm tháng bôn ba nơi đất khách quê người, vượt qua năm châu bốn biển, Người đã quan sát, học hỏi và đúc rút thành những kinh nghiệm quý báu cho bản thân mình, cũng như cho công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp Người đã nỗ lực học tập, nghiên cứu và hoạt động không biết mệt mỏi để tìm ra con đường chân lý để cứu dân, cứu nước, đem lại độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc

Xuất phát từ lòng nhân ái bao lao và tình yêu quê hương đất nước sâu nặng, Hồ Chí Minh đã tìm đến với những nguyên lý về đạo đức cộng sản của chủ nghĩa Mác-Lênin Bằng một nhân cách hoàn hảo và phong cách sống giản dị, trong sạch và vô cùng liêm khiết, Người đã kiên quyết lên án và ra sức đấu tranh chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân… Có lẽ vì thế mà Hồ Chí Minh đã trở thành một tấm

Trang 31

gương sáng ngời về đạo đức cách mạng - Trọn đời tận tụy với nước, tận hiếu với dân Trong buổi Khai mạc Míttinh trọng thể kỷ niệm lần thứ 90 Ngày sinh của Chủ tịch

Hồ Chí Minh vào tháng 5/1980, đồng chí Lê Duẫn đã nêu lên niềm tự hào: Chủ tịch

Hồ Chí Minh là người Việt Nam đẹp nhất và là một trong những người đẹp nhất trong mọi thời đại của chúng ta, một người Cộng sản mẫu mực, có tư tưởng sáng suốt, tâm hồn cao thượng, ý chí kiên cường, tình cảm trong trẻo, tác phong khiêm tốn, cuộc sống giản dị Đó là một tấm gương tuyệt vời về con người mới, con người yêu nước sâu sắc nhất và chủ nghĩa xã hội, làm chủ thiên nhiên và làm chủ bản thân, con người lao động, tình thương và lẽ phải, kết hợp đúng đắn cuộc sống của cá nhân với cuộc sống tập thể và của toàn xã hội

Tựu chung lại, nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng là kết quả hội tụ của rất nhiều yếu tố, nhiều học thuyết đạo đức từ cổ chí kim,

cả Việt Nam lẫn thế giới, nhưng nổi bật nhất vẫn là các nguyên lý về đạo đức cộng sản của chủ nghĩa Mác-Lênin Có thể nói, nhờ vận dụng sáng tạo các nguyên lý về đạo đức cộng sản của chủ nghĩa Mác-Lênin mà Hồ Chí Minh tránh được những giáo điều trong nhận thức và hành vi đạo đức; đồng thời, bổ sung và phát triển thêm những nội dung mới vào hệ giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam

1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

1.2.1 Bản chất của đạo đức cách mạng

Xây dựng và phát triển đạo đức là nhu cầu tất yếu, khách quan của bất cứ xã hội nào, bởi đây là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống của mỗi cá nhân

Nó thể hiện một cách sâu sắc nhất tính nhân văn, nhân đạo, nhân bản của mỗi xã hội

và mỗi con người Thực tiễn cho thấy, khi con người được soi sáng bởi một lý tưởng đạo đức tiến bộ; khi sự hiểu biết về cái thiện, cái ác, về lương tâm, danh dự thường xuyên được nâng cao thì hoạt động của con người sẽ ngày càng hướng tới phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội Vì vậy, từ xưa tới nay, các giai cấp, các dân tộc, các thủ lĩnh, các lãnh tụ ở mọi thời đại đều hết sức quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cho mỗi thành viên trong cộng

Trang 32

đồng, hướng họ tới những việc làm có ích cho sự tồn tại và phát triển xã hội Tuy nhiên, coi trọng đạo đức đến đâu, chú trọng đến những nội dung nào của đạo đức, đề cao những phạm trù nào, đặt đạo đức trên cơ sở thế giới quan nào thì lại tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử - xã hội cụ thể và lợi ích của mỗi giai cấp, mỗi tập đoàn người trong xã hội

Tiếp nối truyền thống coi trọng đạo đức của dân tộc Việt Nam và tiếp thu những tinh hoa tư tưởng về đạo đức của nhân loại, đồng thời căn cứ vào thực tiễn cách mạng nước ta, Hồ Chí Minh hết sức chăm lo giáo dục, bồi dưỡng đạo đức mới - đạo đức cách mạng cho con người Việt Nam Khi đề cập đến đạo đức cách mạng, Người thường dùng các thuật ngữ như: “Đạo đức mới” [30; 252], “đạo đức cách mạng” [30; 252], “đạo đức cộng sản” [35; 679], “đạo đức tập thể” [35; 306], “đạo đức vô sản” [36; 375]…

Theo Hồ Chí Minh, gọi là “đạo đức mới” bởi vì “đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu” [30; 252], nó chưa hề xuất hiện trong lịch sử mà chỉ hình thành và phát triển cùng với tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta Đạo đức mới khác hẳn với đạo đức cũ: “Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất, chất chổng lên trời Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đứng ngẩng lên trời Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính, nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi của chúng Ngày nay, ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho dân theo để lợi cho nước cho dân” [31; 320 – 321] Như vậy, sự khác nhau căn bản giữa đạo đức cũ và đạo đức mới ở chỗ: Đạo đức cũ là đạo đức do giai cấp thống trị ở địa vị ông chủ đặt ra và bắt các thần dân - những người ở địa vị đầy

tớ thực hiện Còn đạo đức mới là đạo đức theo hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, được đặt ra để đại diện cho lợi ích của toàn thể quần chúng nhân dân lao động và dân tộc Đạo đức đó thể hiện sự thống nhất căn bản về lợi ích, tình cảm, ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân Cán bộ, người lãnh đạo phải gương mẫu thực hiện đạo đức đó, vì chính họ xuất thân từ giai cấp công nhân và nhân dân lao động Với tư cách là cán bộ, họ không chỉ là người lãnh đạo mà còn phải là người đầy tớ thật trung

Trang 33

thành của nhân dân; trong khi đó, nhân dân lao động không chỉ ở vị trí chịu sự lãnh đạo của Đảng, của cán bộ mà họ còn có tư cách là người làm chủ trong xã hội Nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức mới có sự kế thừa nhiều quan niệm đạo đức

cũ, nhưng luôn khác về bản chất so với những tư tưởng đạo đức cũ của giai cấp tư sản, địa chủ phong kiến hoặc trong các tôn giáo

Gọi là “đạo đức cách mạng” vì đó là đạo đức phục vụ cách mạng, đạo đức mà người cách mạng cần phải có Đó là đạo đức được nảy sinh và phát triển trong cuộc đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ và hy sinh của nhân dân ta Theo Hồ Chí Minh, làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất

vẻ vang; nhưng đó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ Để có thể làm cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thành công, người cách mạng phải có đầy đủ bản lĩnh cách mạng Tuy nhiên, bản lĩnh cách mạng chỉ có thể có được khi người cách mạng có đầy đủ cả “đức” lẫn “tài” Trong đó, đạo đức cách mạng là nền tảng tinh thần của người cách mạng

Trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, Hồ Chí Minh cho rằng nếu phải nói một cách ngắn gọn nhất, khái quát nhất thì “Đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng Đó là điều chủ chốt nhất Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng Đặt lợi ích của Đảng và nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích của cá nhân mình Hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc Ra sức học tập của Chủ nghĩa Mác-Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ” [34; 285]

Cũng như C Mác, Ph Ăngghen và V.I.Lênin, Hồ Chí Minh coi bản chất của đạo đức cách mạng chính là biểu hiện bản chất của giai cấp công nhân - giai cấp có sứ mệnh lịch sử vĩ đại làm cách mạng để cải tạo xã hội và cải tạo bản thân mình Hồ Chí Minh khẳng định: “Người làm cách mạng phải thấy rõ điều đó mà đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân để hết lòng, hết sức đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội

Trang 34

và chủ nghĩa cộng sản, cho giai cấp công nhân và cho toàn thể nhân dân lao động Đạo đức cách mạng là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân” [34; 285] Mặt khác, trên con đường cách mạng khi nào mà chẳng có vô số kẻ địch và khó khăn cản trở cách mạng tiến lên Đó là chủ nghĩa tư bản, bọn đế quốc và tay sai của chúng, là những cái cũ, lạc hậu, lỗi thời, phản động, chủ nghĩa cá nhân còn ẩn náu trong mỗi con người Vì vậy, đạo đức cách mạng theo Hồ Chí Minh còn là “vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải quyết tâm đấu tranh chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu Có như thế mới thắng được địch và thực hiện được nhiệm vụ cách mạng” [34; 287] Đứng ở góc độ xây dựng một đảng cách mạng, Hồ Chí Minh yêu cầu người đảng viên nhất thiết phải có đạo đức cách mạng, có tinh thần ý thức giác ngộ, kỷ luật, có trách nhiệm cao với Đảng, với nhân dân Người nói: “Những chính sách và nghị quyết của Đảng đều vì lợi ích của nhân dân Vì vậy, đạo đức cách mạng của người đảng viên là bất kỳ khó khăn đến mức nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, làm gương mẫu cho quần chúng Mọi đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng, phải ngăn ngừa và kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân” [34; 288]

Đứng ở góc độ quan hệ với quần chúng nhân dân, Hồ Chí Minh cho rằng sự nghiệp cách mạng là của quần chúng và Đảng chỉ vững mạnh khi có quan hệ gắn bó máu thịt với quần chúng Cho nên, “đạo đức cách mạng là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng

Do lời nói và việc làm, đảng viên, đoàn viên và cán bộ làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, đoàn kết quần chúng chặt chẽ chung quanh Đảng, tổ chức, tuyên truyền và động viên quần chúng hăng hái thực hiện chính sách và nghị quyết của Đảng” [34; 290] Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, “đạo đức mới” và “đạo đức cách mạng” đều là khái niệm nói lên tính chất mới mẻ, tiến bộ và cách mạng so với đạo đức cũ

Từ đó, Người kêu gọi tất cả các tầng lớp nhân dân trong xã hội Việt Nam ra sức phấn đấu xây dựng một nền đạo đức mới trong một xã hội mới Và, khi nói đến đạo đức mới thường là nói đến đạo đức cách mạng với những yêu cầu cao nhất mà mỗi người,

Trang 35

đặc biệt là cán bộ, đảng viên và đoàn viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, thực hiện gương mẫu trước toàn thể quần chúng nhân dân

1.2.2 Vai trò của đạo đức cách mạng đối với sự hình thành và phát triển con người Việt Nam

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng đến sự nghiệp xây dựng và rèn luyện đạo đức cách mạng cho mỗi người Việt Nam Ngay từ năm 1925, vấn đề “tư cách người cách mạng” là chủ đề chính trong bài giảng đầu tiên của Hồ Chí Minh Năm 1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa, Người đã đề nghị “mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: Cần - Kiệm - Liêm - Chính” [29; 9]để

“làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động” [29; 56] Tiếp đó, trong thư gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, huyện, Hồ Chí Minh viết:

“Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta” [29; 8] Đầu năm 1947, trong tác phẩm hỏi đáp về “Đời sống mới”, để giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện lối sống mới, đạo đức mới nói chung, thực hiện “cần, kiệm, liêm, chính” nói riêng, Hồ Chí Minh khẳng định:

“Nếu mọi người đều cố gắng làm đúng đời sống mới thì dân tộc nhất định phú cường” [32; 452] Tháng 10/1947, Người viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, trong đó có phần quan trọng là căn dặn mọi người, nhất là cán bộ, đảng viên phải thường xuyên

ra sức rèn luyện đạo đức cách mạng và cùng nhau quyết tâm chống lại những thói hư, tật xấu

Đầu năm 1955, sau khi Chính phủ từ Việt Bắc về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, Hồ Chí Minh đã viết bài “Đạo đức công dân” in trên báo Nhân dân để “giáo dục nhân dân làm tròn nghĩa vụ của người công dân, người chủ nước nhà” [32; 569] Tiếp đó, Người viết bài “Đạo đức cách mạng” để phê phán những biểu hiện suy thoái về đạo đức của một số cán bộ, đảng viên đã “quên mất tác phong gian khổ phấn đấu…, xa

Trang 36

rời Đảng, xa rời quần chúng Dần dần họ mất cả tư cách và đạo đức của người cách mạng, sa vào tham ô, hủ hóa và biến thành người có tội với Đảng, với Chính phủ, với nhân dân” [32; 575] Sau đó, Hồ Chí Minh viết luôn bài “Tự phê bình và phê bình”

mà Người coi là “vũ khí sắc bén nhất” để giúp cho cán bộ, đảng viên “sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, tiến bộ không ngừng” [32; 576] Năm 1958, Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, trong đó, Người nêu lên bản chất và nội dung của đạo đức cách mạng, đặc trưng của chủ nghĩa cá nhân và phương pháp rèn luyện đạo đức cách mạng, “đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân” [34; 282]

Năm 1961, phục vụ cho việc chỉnh huấn cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh có bài nói chuyện về vấn đề “Xây dựng những con người xã hội chủ nghĩa” với luận điểm quan trọng là: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có con người xã hội chủ nghĩa Đến ngày 3/2/1969, nhân kỷ niệm ngày thành lập Đảng, Hồ Chí Minh viết bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, trong đó Người đặc biệt phê phán căn bệnh cá nhân chủ nghĩa và coi đó là một thứ giặc nội xâm rất nguy hiểm Cuối cùng, trong bản Di chúc để lại cho chúng ta trước khi trở về với cõi vĩnh hằng, Hồ Chí Minh đã căn dặn Đảng ta cần phải biết giữ gìn đạo đức cách mạng và chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên nói chung Không những thế, tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng còn hiện diện trong tất cả các vấn đề, trong mỗi dòng chữ mà Người để lại cho chúng ta, trong mỗi dòng chữ khi nói về nhân dân và khi kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống Mỹ cho đến khi thắng lợi hoàn toàn; cũng như hiện diện trong điều mong muốn cuối cùng của Hồ Chí Minh Như vậy, có thể kết luận rằng, từ những bài giảng đầu tiên cho đến những lời căn dặn cuối cùng trong Di chúc, Hồ Chí Minh luôn dành một vị trí ưu tiên hàng đầu cho việc xây dựng và rèn luyện đạo đức cách mạng của mỗi con người Việt Nam

Theo Hồ Chí Minh, mỗi người Việt Nam dù “ở cương vị nào, làm công việc gì đều phải trau dồi đạo đức cách mạng” [35; 5] Tuy nhiên, để nâng cao nhận thức về đạo đức cách mạng cho con người Việt Nam thì trước hết cần phải làm cho họ hiểu sâu sắc vai trò vô cùng quan trọng của đạo đức cách mạng đối với sự hình thành và phát triển của mỗi con người Việt Nam Người nói: Chúng ta “làm cách mạng để cải

Trang 37

tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ” [34; 239] Cho nên, “người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” [34; 289] và nó cần thiết đến mức “cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không

có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không

có căn bản, tự mình hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì”[30; 131] Nói tóm lại,

nhất thiết chúng ta phải hiểu sâu sắc rằng: Đạo đức cách mạng là cái gốc, là cái nền

tảng đối với sự hình thành và phát triển con người Việt Nam Và, chăm lo cho cái

gốc, cái nền tảng ấy phải là công việc thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, của mỗi gia đình và mỗi cá nhân trong xã hội Việt Nam

Có phải như vậy là Hồ Chí Minh đã theo thuyết chủ nghĩa xã hội đạo đức? Hoàn toàn không phải như vậy, Người không bao giờ đặt hy vọng vào “lòng tốt” của bọn thực dân, phong kiến, cũng như của các giải cấp bóc lột để kêu gọi sự thương cảm và ban ơn Hồ Chí Minh cũng không bao giờ nghĩ rằng chỉ cần mọi người tu thân, tích đức là đất nước sẽ độc lập, dân tộc sẽ được tự do, hạnh phúc; mà phải bằng cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì mới có được độc lập, tự do, hạnh phúc Tuy nhiên, trong cuộc đấu tranh đó thì đạo đức cách mạng là một vũ khí sắc bén nhất của người cách mạng Đúng như V.I.Lênin đã từng nói: “Đạo đức đó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản” [51; 369]

Hồ Chí Minh cho rằng: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” [35; 726] thì mới hoàn thành được sứ mệnh vẻ vang của mình Người thường nhắc lại ý của V.I.Lênin: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc mình và của thời đại Nếu xét đến cùng thì văn minh tức là trí tuệ, trong đó chủ yếu là sự hiểu biết đúng

Trang 38

đắn về chủ nghĩa Mác-Lênin, những tri thức hiện đại của nhân loại, thực tiễn Việt Nam và thế giới, những quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, những hiểu biết

để đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi Còn đạo đức chính là những phẩm chất đòi hỏi con người cần phải có để tham gia vào cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Vì vậy, cùng với việc giáo dục nâng cao trình độ hiểu biết của cán

bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cách mạng cho mọi người Song, tùy theo từng thời kỳ cách mạng mà Người đề ra những yêu cầu đạo đức cách mạng sát hợp để mọi người phấn đấu, rèn luyện nhằm hoàn thành nhiệm vụ ngày càng nặng nề, khó khăn, phức tạp hơn,

từ đó mà giành thắng lợi càng to lớn hơn cho sự nghiệp cách mạng

Ngoài ra, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng còn là tư tưởng đạo đức trong hành động, lấy hiệu quả thực tế làm thước đo Cho nên, Hồ Chí Minh luôn đặt đạo đức bên cạnh tài năng, gắn đức với tài, lời nói đi đôi với hành động và hiệu quả trên thực tế Người nói: “Phải lấy kết quả thiết thực đã góp sức bao nhiêu cho sản xuất

và lãnh đạo sản xuất mà đo ý chí cách mạng của mình Hãy kiên quyết chống lại bệnh nói suông, thói phô trương hình thức, lối làm việc không nhằm mục đích nâng cao sản xuất” [35; 312] Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, đức và

tài, hồng và chuyên, phẩm chất và năng lực luôn đi liền với nhau Trong đó, đức là gốc của tài, hồng là gốc của chuyên, phẩm chất là gốc của năng lực và tài là thể hiện cụ thể của đức trong hiệu quả hành động

Hồ Chí Minh đã có những chỉ dẫn phong phú về mối quan hệ giữa đức và tài trong việc giáo dục, đào tạo, rèn luyện và sử dụng con người Luôn luôn gắn tài với đức, Người thường dùng từ ghép: “bậc tài đức”, “kẻ hiền năng”, “tài khác nhau nhưng ai giữ được đạo đức đều là người cao thượng” Giữa tài và đức thì theo Hồ Chí Minh, đức là gốc, là nền tảng Người đã phân tích: “Có tài phải có đức, có tài không có đức, tham ô hủ hóa có hại cho nước” [33; 192] “Có tài mà không có đức

ví như một anh làm kinh tế, tài chính rất giỏi, nhưng lại đi thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa” [34; 172] Ngược lại, người nào “có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì,

Trang 39

nhưng cũng không lợi gì cho loài người” [34; 172] Người thực sự có đức thì bao giờ cũng cố gắng học tập, nâng cao trình độ, nâng cao năng lực để hoàn thành tốt nhiệm

vụ được giao Khi đã thấy sức không vươn lên được thì đối với ai có tài hơn mình, mình sẵn sàng học tập, ủng hộ và nhường bước để họ vượt lên trước Ý nghĩa “đức

Đề cao đức trong mối quan hệ giữa đức và tài, song Hồ Chí Minh cũng luôn khẳng định: Khi mối quan hệ đó phát triển đến mức cao, thì tài và đức hòa vào nhau làm một, tài trở thành đức Những người có tài năng giỏi mà đem tài năng đó cống hiến cho xã hội, góp phần làm cho xã hội phát triển thì tài ấy là đức

Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, đức không phải là cái bẩm sinh, cũng không phải chỉ là ý thức “chính tâm, tu thân”, mà là cái luôn phải được trau dồi qua đấu tranh, rèn luyện hàng ngày, trong hoạt động thực tiễn, trong đấu tranh giai cấp, giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội mới công bằng, văn minh Đức là cái nền cho tài năng nảy nở và phát triển Bởi thế, theo Người, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân Với quan niệm nhất quán đó về mối quan hệ giữa đức và tài, khi nói về công tác lựa chọn và sử dụng nhân tài, Hồ Chí Minh cho rằng việc đề ra tiêu chuẩn cán bộ không được dựa trên ý muốn chủ quan của mình

mà phải xuất phát từ thực tiễn, từ những yêu cầu của cách mạng Tiêu chuẩn chung nhất mà người cán bộ phải có là phẩm chất chính trị và năng lực lãnh đạo mà Người thường gọi là đức và tài Giữa đức và tài, Người thường nêu đức trước rồi đến tài Người cán bộ cách mạng cần có phẩm chất đạo đức tốt nhưng đồng thời phải có tài Người cán bộ có tài mà thiếu đức thường gây ra những tác hại không nhỏ Những người tài giỏi, có học vấn cao đến đâu mà thiếu đạo đức thì không nên giao cho họ những công việc quốc gia đại sự Tài năng, thông minh hơn người nhưng nóng nảy,

Trang 40

thô lỗ, tự tư, tự lợi thì cái tài ấy có thể sẽ biến thành “tai họa” Những người đức nhỏ

mà ở ngồi cao sẽ gây tai họa cho thiên hạ

Hồ Chí Minh không chỉ đưa ra những tiêu chuẩn chung nhất trong việc lựa chọn nhân tài, lựa chọn cán bộ mà Người còn nên lên những tiêu chuẩn riêng cho cán bộ

ở từng ngành Mỗi người cán bộ dù làm công tác gì, ở cương vị nào cũng đều có thể tìm thấy những tiêu chuẩn để tu dưỡng, rèn luyện, để phấn đấu vươn lên

Như vậy, đạo đức cách mạng có vai trò và sức mạnh vô cùng to lớn Đạo đức cách mạng giúp cho con người vững vàng trong mọi thử thách Hồ Chí Minh viết

“Người có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại không rụt rè, lùi bước”; “khi gặp thuận lợi, thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn”, mới “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; “lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa”

1.2.3 Một số chuẩn mực đạo đức cách mạng của con người Việt Nam

Nghiên cứu di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, chúng ta thấy Người có những lời dặn dò về các chuẩn mực đạo đức cụ thể đối với từng đối tượng như: cán bộ, đảng viên, công nhân, nông dân, phụ nữ, trí thức, thanh niên, thiếu niên, nhi đồng Hồ Chí Minh luôn cổ vũ cái đúng, cái tốt, cái hay và đề cao những tấm gương “người tốt, việc tốt”; song cũng không quên chỉ ra cái sai, cái xấu, cái dở còn mắc phải để cho mọi người tránh và tìm cách khắc phục Bao giờ Người cũng phân biệt mặt tốt và mặt xấu, cái thiện với cái ác trong động cơ cũng như trong hành động của con người để làm rõ những vấn đề đạo đức cần phải xây dựng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân Đó là những chuẩn mực của đạo đức mới - đạo đức

cách mạng Việt Nam

* Trung với nước, hiếu với dân

Trong mối quan hệ đạo đức thì mối quan hệ giữa mỗi người với đất nước, với nhân dân, với dân tộc là mối quan hệ lớn nhất Vì vậy, “Trung”, “Hiếu” là phẩm chất đạo đức quan trọng nhất, bao trùm nhất của mỗi con người

Ngày đăng: 07/05/2021, 18:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w