1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng lối sống của thanh niên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh đồng nai

146 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 780,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định “Mọi hoạt động văn hóa nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính tri, tư tưởng,

Trang 1

  

THỊ THANH TH

XÂ DỰNG ỐI SỐNG CỦA THANH NI N TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH ĐỒNG NAI

UẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2013

Trang 2

  

THỊ THANH TH

XÂ DỰNG ỐI SỐNG CỦA THANH NI N TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH ĐỒNG NAI

Chuyên ngành: CNXHKH

Mã số: 60.22.85

UẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học

TS TRẦN CHÍ MỸ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2013

Trang 3

ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

THỊ THANH TH

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 Ý UẬN VỀ XÂ DỰNG ỐI SỐNG CỦA THANH NIÊN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC 14

1.1 KHÁI NIỆM LỐI SỐNG VÀ LỐI SỐNG CỦA THANH NIÊN 14

1.1.1 Khái niệm lối sống 14

1.1.2 Quan niệm về thanh niên và lối sống của thanh niên 24

1.2 CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI XÂY DỰNG LỐI SỐNG CỦA THANH NIÊN VIỆT NAM 29

1.2.1 Đặc điểm công nghiêph hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay 29

1.2.2 Thanh niên Việt Nam và vai trò của nó trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 36

1.2.3 Những yêu cầu đặt ra đối với xây dựng lối sống của thanh niên Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 45

1.3 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN XÂY DỰNG LỐI SỐNG CỦA THANH NIÊN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC 51

1.3.1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tác động đến xây dựng lối sống của thanh niên Việt Nam 51

1.3.2 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tác động đến xây dựng lối sống của thanh niên Việt Nam 54

1.3.3 Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tác động đến xây dựng lối sống của thanh niên Việt Nam 59

1.3.4 Lối sống truyền thống dân tộc tác động đến xây dựng lối sống của thanh niên Việt Nam hiện nay 62

Trang 5

Chương 2: THỰC TRẠNG, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP XÂ DỰNG ỐI SỐNG CỦA THANH NI N TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH ĐỒNG NAI 73

2.1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH ĐỒNG NAI VÀ THANH NIÊN Ở TỈNH

ĐỒNG NAI 73 2.1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội ở tỉnh Đồng Nai 73 2.1.2 Đặc điểm của thanh niên ở tỉnh Đồng Nai 80 2.2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG LỐI SỐNG CỦA THANH NIÊN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH ĐỒNG NAI NHỮNG NĂM QUA 84 2.2.1 Những thành tựu trong xây dựng lối sống của thanh niên ở tỉnh

Đồng Nai những năm qua 84 2.2.2 Những hạn chế trong xây dựng lối sống của thanh niên ở tỉnh

Đồng Nai những năm qua và nguyên nhân 99 2.3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG LỐI SỐNG

CỦA THANH NIÊN TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA,

HIỆN ĐẠI HÓA TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN NAY 115 2.3.1 Phương hướng xây dựng lối sống của thanh niên trong thời kỳ

công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Đồng Nai 115 2.3.2 Một số giải pháp chủ yếu xây dựng lối sống của thanh niên trong

thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Đồng Nai hiện nay 119

KẾT UẬN 132 DANH MỤC TÀI IỆU THAM KHẢO 135

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 ý do chọn đề tài

Lối sống là một trong những yếu tố cơ bản trong đời sống xã hội của con người và mỗi nền văn hóa Nó gắn liền với các cơ sở kinh tế, chính trị,

tư tưởng và mọi mặt của đời sống vật chất và tinh thần của toàn xã hội Mỗi

xã hội, trong từng thời kỳ lịch sử nhất định, đều có lối sống cũng như các thước đo giá trị quyết định trật tự và sự phát triển ổn định của cả cộng đồng, đồng thời chi phối các mối quan hệ giữa người này với người khác, giữa nhóm xã hội này với nhóm xã hội khác, giữa mỗi con người với toàn thể đời sống xã hội

Con người tự biểu hiện mình trong hoạt động và thông qua hoạt động

mà hình thành nên lối sống của mình Có hoạt động phù hợp với chiều hướng phát triển sẽ hình thành nên lối sống tích cực, lành mạnh và cũng có hoạt động tiêu cực, phản tiến bộ hình thành nên lối sống vị kỷ, lối sống thực dụng…làm ảnh hưởng đến tiến trình phát triển chung của xã hội Việc chủ động xây dựng một lối sống đẹp, lối sống có văn hóa cho xã hội cũng chính

là tạo động lực thúc đẩy con người hoạt động góp phần xây dựng và phát triển con người Việt Nam toàn diện Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định “Mọi hoạt động văn hóa nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính tri, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội”[18, tr.38]

Hiện nay, nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để đẩy nhanh quá trình

Trang 7

phát triển đất nước Trong hơn 25 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đất nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt Tuy nhiên, song song với sự phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực, những mặt trái của

cơ chế thị trường cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đạo đức, lối sống của một bộ phận nhân dân, trong đó có cả thanh niên, được xem như là tầng lớp chịu tác động nhanh nhất, với tư cách là bộ phận nhảy cảm nhất trong cộng đồng dân tộc Thanh niên Việt Nam là lực lượng xã hội to lớn, có vai trò quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc, là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhận những công việc đòi hỏi sự hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước đang có những chủ trương, chính sách xây dựng thanh niên Việt Nam phát triển về mọi mặt đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ thành công chủ nghĩa xã hội Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII khẳng định

“Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng rèn luyện thế

hệ thanh niên”[22, tr.82] Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên trong thời đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”

đã khẳng định: “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nguồn lực con người Chăm lo phát triển thanh niên vừa

Trang 8

là mục tiêu, vừa là động lực đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước”.[25, tr.41-42]

Đồng Nai là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm khu vực Đông Nam Bộ, có tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa cao trong nước Những thành tựu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong những năm qua đã làm thay đổi bộ mặt đời sống kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp Những thành quả ấy là sự nỗ lực của cả nhân dân tỉnh Đồng Nai nói chung trong đó có phần đóng góp rất quan trọng, to lớn của tầng lớp thanh niên Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa không ngừng thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển, đời sống vật chất của thanh niên ngày càng được nâng cao Chính điều đó đã tạo ra sự thay đổi trong lối sống của thanh niên, theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực

Trong lối sống của thanh niên ở tỉnh Đồng Nai hiện nay, bên cạnh những mặt tích cực như: Nêu cao lòng yêu nước, có ý thức xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tình nguyện vì cộng đồng, có ý chí vươn lên trong học tập và lao động, công tác, lập thân, lập nghiệp, làm giàu chính đáng…vẫn còn có nhiều bất cập, tiêu cực rất đáng quan tâm, lo lắng: Một bộ phận thanh niên suy giảm niềm tin, thiếu lý tưởng hoài bão, chưa được thách thức về bản lĩnh chính trị, dao động về lập trường tư tưởng, có mầm mống nảy sinh lối sống thực dụng, quá coi trọng vật chất, tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội trong thanh niên có chiều hướng gia tăng…Những biểu hiện đó nếu không được uốn nắn và khắc phục sẽ là một cản trở lớn không chỉ đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà còn đối với sự phát triển mọi mặt của đời sống con người và xã hội ở địa phương Vì vậy việc nghiên cứu “Xây dựng lối sống của thanh niên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện

đại hóa ở tỉnh Đồng Nai”, xác định phương hướng và giải pháp để xây dựng

Trang 9

lối sống cho thanh niên phù hợp với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Đồng Nai có ý nghĩa thiết thực cả về mặt lý luận và thực tiễn

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về lối sống, lối sống xã hội chủ nghĩa và xây dựng lối sống hiện nay là một nhiệm vụ quan trọng Vì thế, nó đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước

Ở nước ngoài, vấn đề lối sống của thanh niên đã được quan tâm

nghiên cứu từ rất sớm Từ khoảng giữa thế kỷ XIX, những vấn đề về thanh niên và lối sống của thanh niên đã được giới học giả phương Tây quan tâm nghiên cứu

Trước hết, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác là những người xây dựng nền tảng cho sự ra đời của học thuyết mác xít nghiên cứu về lối sống của con người Ngay trong những tác phẩm ở thời kỳ C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng học thuyết của mình như: “Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh”(Ph.Ăngghen), “Hệ tư tưởng Đức”(C.Mác và Ph.Ăngghen), “Tuyên ngôn của đảng cộng sản”(C.Mác và Ph.Ăngghen), hai ông đã xác lập những quan điểm khoa học về nghiên cứu lối sống, bản chất và đặc điểm của sự hình thành và biến đổi của lối sống con người

Các công trình nghiên cứu về lối sống và lối sống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu trước đây đã có những đóng góp quan trọng đối với nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn xây dựng lối sống mới – lối sống

xã hội chủ nghĩa Trong các công trình này, nhiều định nghĩa về khái niệm lối sống đã được đề xuất; những đặc trưng cơ bản của lối sống xã hội chủ nghĩa đã được vạch ra; con đường và phương thức xây dựng lối sống xã hội chủ nghĩa cũng đã được xác định trên những nét cơ bản Tiêu biểu cho các

công trình này có thể kể đến: Bevxtugieplada (1976) “Thế nào là lối sống xã

hội chủ nghĩa”; Daxepin V.I (1977) “Lối sống xã hội chủ nghĩa và sự phát

Trang 10

triển về mặt tinh thần của con người”, tạp chí triết học, (số 1(20)/80);

Belova N.I (1977), “Bàn về khái niệm lối sống”, Matxcơva Tư liệu thông tin khoa học, Viện khoa học xã hội, 1981; V.L.Đôbrưniva (1984) “Lối sống

xô viết hôm nay và ngày mai”, Nxb.Tiến bộ, Matxcơva…Tuy nhiên, các

công trình này chủ yếu tiếp cận vấn đề từ phương diện lý luận, ít dựa trên kết quả của những khảo sát tâm lý xã hội học và lịch sử

Ở Việt Nam, người đầu tiên nêu lên tư tưởng về lối sống và lối sống

mới là chủ tịch Hồ Chí Minh Cuốn sách “Đời sống mới” của Người - dưới bút hiệu Tân Sinh được Ủy ban Trung ương vận động “Đời sống mới” xuất

bản vào tháng 3 năm 1947 và sau đó ít lâu, dưới bút hiệu XYZ, Người viết

tiếp tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc”, nhà xuất bản Sự thật in vào năm 1950

– trong cả hai quyển sách này, mặc dù Hồ Chí Minh chưa nêu ra khái niệm

“lối sống” nhưng tư tưởng của Người về lối sống và xây dựng lối sống mới, tiến bộ đã được thể hiện một cách đặc biệt rõ ràng Chính Người đã giải thích,

tự mình thực hiện, đồng thời tuyên truyền, vận động cán bộ và mọi tầng lớp nhân dân thực hành đời sống mới, tức là thực hành lối sống mới như chúng ta nói ngày nay – đó là cách ăn, ở, mặc, cách tăng gia sản xuất, cư xử…sao cho đúng, tốt, đẹp Tư tưởng Hồ Chí Minh về lối sống mới và xây dựng lối sống mới có văn hóa là những chỉ dẫn thiết thực, quan trọng đối với chúng ta ngày nay trong việc nghiên cứu và tìm kiếm giải pháp xây dựng lối sống của con người Việt Nam nói chung, của thanh niên Việt Nam nói riêng

Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) mở ra thời kỳ đổi mới Bước sang thời kỳ đổi mới đất nước, xây dựng lối sống trở thành nhiệm vụ rất quan trọng và rất cần thiết, vừa mang tính chiến lược lâu dài, vừa mang tính cấp bách, từ đó việc nghiên cứu lối sống được triển khai mạnh mẽ theo nhiều hướng, với nhiều đề tài phong phú, đa dạng, có thể khái quát các công trình này theo hai hướng nghiên cứu chính như sau:

Trang 11

Hướng thứ nhất, nghiên cứu về lối sống con người Việt Nam nói chung hoặc của cư dân ở một địa bàn xác định Tiêu biểu cho hướng nghiên

cứu này có các công trình sau: “Xây dựng lối sống theo định hướng xã hội

chủ nghĩa” – Sài Gòn giải phóng (20/5/1996); Bài viết “Lối sống – nếp sống – mức sống” (10/05/1998) – Sài Gòn giải phóng; Lê Thanh (2001), “Lối sống xã hội chủ nghĩa và xu thế toàn cầu hóa”, Nxb Khoa học xã hội;

GS,TS Huỳnh Khái Vinh (2001), “Một số vấn đề lối sống, đạo đức, chuẩn

giá trị xã hội”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội; PGS,TS Trương Minh

Dục, TS.Lê Văn Định (2010) “Văn hóa và lối sống đô thị Việt Nam – một

cách tiếp cận”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội…Các công trình này đã đi

sâu phân tích các phạm trù “Lối sống”, “Nếp sống“, “Mức sống”, “Lối sống

xã hội chủ nghĩa”, “Lối sống đô thị”, chỉ ra sự tác động của các yếu tố kinh

tế, chính trị, xã hội và xu thế toàn cầu hóa đối với quá trình hình thành và biến đổi của lối sống, phân tích thực trạng, từ đó đưa ra những phương hướng và giải pháp để xây dựng lối sống mới

Tác phẩm “Nh ng vấn đề lối sống và tư duy cộng đ ng người Việt

v ng Đông Nam Bộ trong quá tr nh đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay”,

do PGS,TS Trịnh Doãn Chính chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2013 là một công trình khoa học lớn, nghiên cứu một cách công phu, k lưỡng và có hệ thống cả về phương diện lý luận và thực tiễn của vấn đề lối sống Trong công trình này, các tác giả đã làm rõ khái niệm “lối sống”; nêu lên những điều kiện, nhân tố tác động đến lối sống của cộng đồng người Việt ở vùng Đông Nam Bộ; phân tích, làm rõ thực trạng, xu hướng biến đổi, xác định quan điểm và các nhóm giải pháp lớn nhằm hoàn thiện lối sống của cộng đồng người Việt ở vùng Đông Nam Bộ thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước Do đó, công trình có giá trị to lớn cả về mặt lý luận và thực tiễn đối với xây dựng lối sống của cư dân Đông Nam Bộ - một địa bàn rộng lớn, có vị trí quan trọng về nhiều mặt của Việt Nam

Trang 12

Hướng thứ hai, nghiên cứu về lối sống của thanh niên Việt Nam Tiêu

biểu cho hướng nghiên cứu này có thể kể đến các tài liệu sau:

Thứ nhất, các Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước

Việt Nam về vấn đề thanh niên và công tác thanh niên trong thời kỳ đổi mới

như: Nghị quyết số 25/NQ-TWcủa Bộ Chính trị (9/2/1991) Về đổi mới và

tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên Đây có thể

xem là điểm khởi đầu cho đường lối đổi mới của Đảng về công tác thanh niên trong thời kỳ đổi mới, nghị quyết đã đánh giá tình hình thanh niên và công tác thanh niên trong 5 năm qua, chỉ ra những nguyên nhân trong đó nhấn mạnh nguyên nhân chủ quan gắn với trách nhiệm của Đảng, Nhà nước

và Đoàn, Hội của những diễn biến tiêu cực trong tầng lớp thanh niên, từ đó, đưa ra những phương hướng lớn trong chính sách thanh niên trong thời kỳ đổi mới Tuy nhiên, Nghị quyết số 25/NQ-TW ra đời vào thời điểm đầu những năm 1990, chưa thể thấy được những yếu tố khác sẽ nảy sinh trong quá trình đổi mới đất nước, nhất là chưa thấy trước được tác động của quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa đối với đời sống dân tộc nói chung và đối với thanh niên nói riêng Đặc biệt là những vấn đề về văn hóa và lối sống, những tệ nạn xã hội chưa được cảnh báo nghiêm khắc Vì vậy chưa có những giải pháp dự phòng, ngăn chặn Nghị quyết trung ương 4 khóa VII

(14/1/1993) về Công tác thanh niên trong thời kỳ mới, trên cơ sở phân tích

tình hình thanh niên, đánh giá tình hình công tác thanh niên trong thời gian đầu công cuộc đổi mới, Hội nghị Trung ương 4 khóa VII đã đề ra “những phương hướng lớn” trong chính sách thanh niên của Đảng Hội nghị khẳng định vị trí quan trọng và vai trò to lớn của thanh niên và công tác thanh niên trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam: “Vấn đề thanh niên phải được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát huy nhân tố và nguồn lực con người”[22,tr.83] So với nghị quyết 25/NQ-TW của Bộ Chính trị năm 1991,

Trang 13

Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII đã chú ý đến việc xây dựng môi trường

xã hội, tạo điều kiện phát triển nhân cách và xây dựng lối sống lành mạnh cho thanh niên Nghị quyết viết: “Xây dựng môi trường xã hội lành mạnh là điều kiện phát triển của thế hệ trẻ và cũng là nhiệm vụ của chính thanh niên”[22, tr.84] Và gần đây nhất là Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy Ban

chấp hành Trung ương khóa X (2008) về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng

đối với công tác thanh niên trong thời đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nghị quyết này đã đánh giá tình hình thanh niên Việt Nam sau 15 năm

thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII, tiếp tục khẳng định vai trò to lớn và tầm quan trọng của thanh niên đối với tương lai của dân tộc và tiền

đồ của cách mạng Việt Nam: “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo

vệ tổ quốc, là một trong những nhân tố quyết định đến sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội”[25, tr.41-42] Đồng thời Nghị quyết vạch ra những giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Bên cạnh đó, Nhà nước còn ban

hành Luật thanh niên (2005), Chiến lược phát triển thanh niên (2003) và

nhiều chính sách về công tác thanh niên, tạo điều kiện, cơ hội cho thanh niên rèn luyện, cống hiến và trưởng thành

Thứ hai, các nghiên cứu tiếp cận thanh niên, phong trào thanh niên

dưới góc độ sử học và giáo dục chính trị có những công trình: Tập thể tác

giả do Văn Tùng chủ biên (2001) “Lịch sử Đoàn thanh niên cộng sản H

Chí Minh và phong trào thanh niên Việt Nam”, Thông tấn xã Việt Nam

(2002) “Bảy hai năm Đoàn thanh niên cộng sản H Chí Minh và phong trào

thanh niên Việt Nam”, Vũ Oanh (1995) “Tập hợp đoàn kết rộng rãi thanh niên v mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”

Trang 14

PGS,TS Đoàn Đình Nghiệm (1996) “Giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế

hệ trẻ Việt Nam trong điều kiện lịch sử mới”(Đề tài nghiên cứu khoa học

cấp bộ)…Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu tiếp cận các vấn đề thanh niên, phong trào thanh niên…dưới góc độ sử học hoặc giáo dục lý tưởng chính trị đối với thanh niên mà chưa đi sâu phân tích về lối sống, văn hóa, định hướng giá trị cho thanh niên hiện nay

Thứ ba, các nghiên cứu tiếp cận vấn đề thanh niên, văn hóa, lối sống

thanh niên dưới góc độ văn hóa học, xã hội học có những công trình tiêu

biểu như: Chương trình khoa học cấp nhà nước KX-06 về “Văn hóa văn

minh và phát triển” do Nguyễn Hồng Phong chủ trì cũng đặt ra vấn đề

nghiên cứu văn hóa thanh niên, coi đó như là một nhân tố quan trọng đối với

sự phát triển kinh tế - xã hội của xã hội hiện đại Năm 2002, Viện Nghiên cứu thanh niên phối hợp với ban Tuyên giáo Trung uơng đã tiến hành cuộc

“Điều tra khảo sát về thực trạng văn hóa thanh niên” Trong công trình này,

các tác giả đã tập trung khảo sát thực trạng văn hóa của một số nhóm đối tượng là sinh viên, thanh niên nông thôn, thanh niên công nhân Còn những vấn đề lý thuyết về văn hóa thanh niên cũng chưa được quan tâm đầy đủ

GS,TS Đặng Cảnh Khanh (2006), “Xã hội hóa thanh niên” Nxb Chính trị

quốc gia Tác giả đã đi sâu nghiên cứu, đề cập đến các vấn đề lý luận và thực tiễn căn bản nhất liên quan tới thanh niên Việt Nam với tính cách là một nhóm xã hội không đồng nhất Trong đó định hướng giá trị, văn hóa, cấu trúc của thanh niên và phong trào thanh niên được phân tích trong mối liên hệ, tương tác đa chiều với một số yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã

hội TS Lương Thanh Tân (2009), “Giáo dục thẩm mỹ trong việc h nh

thành lối sống văn hóa cho thanh niên v ng đ ng bằng Sông Cửu Long hiện nay”, Nxb Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Tác giả

đã nghiên cứu và luận chứng ba vấn đề chủ chốt của toàn bộ khung lý luận

Trang 15

giáo dục thẩm m và lối sống văn hóa Thứ nhất, mục tiêu giáo dục thẩm m

là hình thành một nhân cách có sự phát triển năng lực hiểu biết, đánh giá,

sáng tạo cái đẹp Thứ hai, về đặc trưng của lối sống văn hóa trong thanh

niên, đó là lối sống đúng, sống đẹp được thể hiện trong mức sống, lẽ sống,

nếp sống của con người Thứ ba, tác giả đề cập đến tác động của giáo dục

thẩm m góp phần hình thành lối sống văn hóa cho thanh niên Nguyễn Thị

Oanh (2001), “Thanh niên và lối sống”, Nxb Trẻ Các bài viết trong tác

phẩm tập trung xoay quanh vấn đề của tuổi trẻ và lối sống, đặc biệt tác phẩm

có những bài viết phân tích về cơn lốc tiêu dùng trong lối sống thanh niên,

có bài viết phân tích sâu sắc về tác phong công nghiệp Tuy chưa đưa ra những giải pháp củ thể nhưng bài viết đã mở ra một hướng: muốn phát huy tác phong công nghiệp phải gấp rút thay đổi tổ chức và phương pháp giáo dục Mặc dù khó khăn nhưng những ai cổ vũ cho tác phong công nghiệp phải thay đổi từ chính bản thân mình Gần đây nhất là công trình nghiên

cứu của PGS,TS Phạm Hồng Tung: “Thanh niên và lối sống của thanh

niên Việt Nam trong quá tr nh đổi và hội nhập quốc tế” Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2011 Trong công trình tác giả tập trung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và cách tiếp cận khi nghiên cứu về thanh niên và lối sống của thanh niên, một số khái niệm liên quan đến thanh niên

và lối sống thanh niên; khảo sát và phân tích thanh niên Việt Nam và lối sống của thanh niên hơn 25 năm đổi mới đất nước, làm rõ xu hướng biến đổi lối sống thanh niên, chỉ ra yếu tố tác động cơ bản, có tính định hướng trong tiến trình biến đổi lối sống của thanh niên; từ đó đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng lối sống của thanh niên Việt Nam phù hợp với tiến trình đổi mới đất nước hiện nay

Công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và phát triển kinh tế ở tỉnh Đồng Nai trong những năm qua đã đạt được những kết

Trang 16

quả tốt đẹp, trong đó có đóng góp rất lớn của thanh niên trong tỉnh Các Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai, Nghị quyết của tỉnh Đoàn Đồng Nai đều có đề cập vấn đề thanh niên và xây dựng nguồn lực thanh niên của tỉnh nhà như: Tài liệu chuyên đề nghiên cứu nghị quyết đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010 – 2015; Nghị quyết đại hội đại biểu Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Đoàn Đồng Nai lần thứ VII (2010); Nghị quyết đại hội đại biểu Đoàn thanh niên cộng sản

Hồ Chí Minh tỉnh Đoàn Đồng Nai lần thứ VIII (2012); Nghị quyết số 63

của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Nai "Về Công tác thanh niên và xây

dựng tổ chức Đoàn TNCS H Chí Minh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từ nay đến năm 2010; Chương trình phát triển thanh niên tỉnh

Đồng Nai giai đoạn 2012 – 2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai

(2012); Đ ng Nai hai mươi lăm năm xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội

(2000); Lịch sử Đoàn thanh niên cộng sản H Chí Minh và phong trào thanh niên tỉnh Đ ng Nai (1930-2000), Nxb Đồng Nai, 2003…

Như vậy, có thể thấy cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu

về đề tài lối sống với số lượng các công trình nghiên cứu tương đối phong phú chứa đựng nhiều bài viết có giá trị sâu sắc Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách trực tiếp, có hệ thống về lối sống của thanh niên trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Đồng

Nai Do vậy, tôi chọn vấn đề s t tr t

kỳ ô ệp ó , ệ đạ ó ở tỉ Đồ N ” làm đề tài nghiên cứu

và viết luận văn của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn: Trên cơ sở phân tích, làm rõ một số vấn đề lý

luận về lối sống và lối sống của thanh niên Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công

Trang 17

nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực trạng lối sống của thanh niên tỉnh Đồng Nai trong những năm qua, luận văn đề xuất một số phương hướng và giải pháp xây dựng lối sống của thanh niên tỉnh Đồng Nai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay

Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm

vụ sau:

Thứ nhất, Phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận về lối sống và xây

dựng lối sống của thanh niên Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Thứ hai, Phân tích thực trạng xây dựng lối sống của thanh niên ở tỉnh

Đồng Nai trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa những năm qua

Thứ ba, Đề xuất một số phương hướng và giải pháp xây dựng lối sống

của thanh niên trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Đồng Nai hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu của luận văn là lối sống

của thanh niên

Phạm vi nghiên cứu: luận văn giới hạn việc nghiên cứu về lối sống

của thanh niên ở tỉnh Đồng Nai thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từ

năm 2005 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp luận của luận văn

Luận văn được triển khai dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu chung của luận văn là phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời luận văn có sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích – tổng

Trang 18

hợp, đối chiếu – so sánh, phương pháp lịch sử, phương pháp logích…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa lý luận: Đề tài góp phần tìm hiểu sâu hơn lý luận về lối sống

và xây dựng lối sống của thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đóng góp một số khuyến nghị đối với

việc xây dựng lối sống của thanh niên tại một địa phương, đồng thời có thể

sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu về vấn đề lối sống nói chung

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

có kết cấu gồm 2 chương, 6 tiết

Trang 19

Chương 1

Ý UẬN VỀ XÂ DỰNG ỐI SỐNG CỦA THANH NI N VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA,

HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NUỚC

1.1 KHÁI NIỆM LỐI SỐNG VÀ LỐI SỐNG CỦA THANH NIÊN

1.1.1 Khái niệm lối sống

Lối sống của con người là do con người tạo ra mà con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh vừa là chủ thể tạo ra hoàn cảnh Lối sống là một tổng hòa năng động biện chứng của những nhân tố khách quan và chủ quan, vật chất và tinh thần, vì thế khái niệm lối sống có tính linh hoạt cao, rất giao động về nghĩa

Trong các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học, nhiều vấn đề thuộc về phạm trù lối sống đã được xem xét, phân tích cả về mặt lý

luận và thực tiễn Trong tác phẩm “Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh”

(9/1843 – 3/1845), từ “lối sống” và từ “cách sống” đã được Ph Ăngghen sử dụng như những từ đồng nghĩa và coi đó là cách thức và những hình thức hoạt động sống đặc trưng của một nhóm, một tầng lớp xã hội, một giai cấp[9, tr.473-474] Nhận thức của Ph.Ăngghen về khái niệm lối sống được hình thành trên cơ sở khảo sát thực tiễn hoạt động đời sống của giai cấp lao động ở Anh trong nửa đầu thế kỷ XIX Sự khái quát về mặt lý luận hoạt động đời sống của giai cấp công nhân, hình thành khái niệm “lối sống” được Ph.Ăngghen thực hiện trong tác phẩm “Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh” có ý nghĩa to lớn đối với quá trình hình thành học thuyết và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân của chủ nghĩa Mác

Sau đó, trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”(1845 – 1846), C.Mác và

Ph Ăngghen dựa vào quan niệm duy vật lịch sử do chính các ông phát minh

ra cho đến thời điểm đó để phân tích, luận giải một cách duy vật về bản chất

Trang 20

của phạm trù “lối sống”, về mối quan hệ giữa lối sống và phương thức sản xuất, làm rõ thêm ý nghĩa và phạm vi bao quát của khái niệm “lối sống”, theo đó, lối sống trước hết có ý nghĩa là một phương thức, một hình thức nhất định của hoạt động đời sống: “một phương thức hoạt động nhất định”,

“một hình thức nhất định của hoạt động sống”, “một phương thức sinh sống nhất định”.[10, tr.30]

Trong các tác phẩm của Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh không nêu ra khái niệm “lối sống” Nhưng với những điều mà Hồ Chí Minh giải thích về

“đời sống mới” và về chủ trương “thực hành đời sống mới”, từ “cách ăn, cách mặc, cách đi lại, cách làm việc”[54, tr.95], “cách tăng gia sản xuất”[54,tr.98] đến “cách ứng xử”[54, tr.99]…của từng người và của tất cả mọi người, của cá nhân, gia đình, làng xã, nhà trường, xí nghiệp, đơn vị bộ đội…đã thể hiện một cách đặc biệt rõ ràng tư tưởng của Người về lối sống,

về đặc điểm hình thành của lối sống Thực chất, cái mà Hồ Chí Minh gọi là

“đời sống mới”, “thực hành đời sống mới” cũng tức là cái mà ngày nay chúng ta gọi là “lối sống mới”, “xây dựng lối sống mới” Do vậy, tư tưởng của Hồ Chí Minh về “đời sống mới” và về “thực hành đời sống mới” có ý nghĩa chỉ đạo, sát thực và thiết thực trong nghiên cứu lý luận cũng như trong thực tiễn xây dựng lối sống mới của chúng ta ngày nay

Trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, khái niệm “lối sống” được sử dụng lần đầu tiên trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng: “Trong chặng đường trước mắt này, có những điều kiện khách quan và chủ quan cho phép chúng ta bước đầu tạo ra một xã hội đẹp đẽ về lối sống, về quan hệ giữa người với người, một xã hội trong đó nhân dân lao động cảm thấy hạnh phúc, tuy mức sống chưa cao”[16, tr.93] Nhiều văn kiện của các Đại hội và các Hội nghị Trung ương sau đó tiếp tục đề cập vấn đề lối sống Và mặc dù cho đến hiện nay, tuy

Trang 21

chưa có một Văn kiện nào của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu ra một định nghĩa rõ ràng, đầy đủ về nội hàm của khái niệm lối sống với tính cách là một khái niệm khoa học độc lập, nhưng từ các quan điểm, định hướng của Đảng

về xây dựng con người mới, lối sống mới – lối sống có văn hóa, có thể thấy, trong quan niệm của Đảng ta, xây dựng con người mới thống nhất với xây dựng lối sống mới Những yêu cầu, những tiêu chí về xây dựng con người mới thực chất cũng chính là những yêu cầu, những tiêu chí về lối sống mới của con người Đó là cách thức, hình thức hoạt động và ứng xử của con người Việt Nam (cá nhân và cộng đồng) để đáp ứng nhu cầu sống của mình trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: từ hoạt động lao động sản xuất kinh doanh, hoạt động văn hóa tinh thần, hoạt động chính trị - xã hội đến hoạt động sinh hoạt, hoạt động giao tiếp Đó cũng chính là ý nghĩa đặc trưng của phạm trù “lối sống”

Trong các công trình của các nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài nghiên cứu về lối sống, do tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, các tác giả đã từng đề xuất nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm “lối sống” Dưới đây chúng tôi chỉ lược khảo một số định nghĩa vừa có tính tiêu biểu, được công bố ở các tài liệu và công trình khoa học lớn, vừa phù hợp với hướng tiếp cận lối sống mà chúng tôi áp dụng trong luận văn này

Các nhà khoa học ở Liên Xô và Đông Âu trước đây đã thảo luận k

và đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau cho nhiều về khái niệm “lối sống”

Tập thể tác giả cuốn Cộng sản chủ nghĩa khoa học – sách giáo khoa phương

pháp dùng cho các học viên Trường Đảng cao cấp ở Liên Xô trước đây, định nghĩa: “Lối sống là một tổng thể những đặc điểm căn bản của hoạt động sống của xã hội, của các tập đoàn xã hội, của các giai cấp và của các cá nhân trong điều kiện của một hình thái kinh tế – xã hội nhất định”[7, tr.337] Tiến

sĩ triết học V.I Tolstukh (Liên Xô) định nghĩa: “Lối sống là những hình

Trang 22

thức cố định, điển hình của hoạt động cá nhân và tập thể con người, những hình thức này nói lên những đặc điểm về giao tế, hành vi và nếp nghĩ của họ trong lĩnh vực lao động – chính trị, sinh hoạt và giải trí”[73, tr.297] Qua hai định nghĩa vừa dẫn, nhận thấy, chúng bổ sung cho nhau, nêu bật được đặc trưng cốt lõi của khái niệm lối sống – đó là những hình thức cơ bản, điển hình, ổn định của hoạt động sống của chủ thể (cá nhân, cộng đồng), đồng thời xác định được lao động như là nhân tố hàng đầu, nền tảng của hoạt động sống của con người

Trong cuốn Xã hội học Mác - Lênin, dưới góc độ tiếp cận xã hội học,

tác giả V.Đôbơrianốp (Bungari) định nghĩa: “Lối sống là một cơ cấu và phẩm chất nhất định của hoạt động sống hàng ngày của con người nhằm thể hiện họ về mặt với tư cách là những thực thể xã hội”[32, tr.212] Tác giả này còn đề nghị rằng: việc nhận thức lối sống như là một cơ cấu và một phẩm chất nhất định của hoạt động sống hàng ngày của con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu cấp thiết và phát triển những nhu cầu mới, nhằm tái sản xuất những điều kiện cho cuộc sống của mình đòi hỏi phải ấn định những thành phần của cơ cấu này Về phần mình, V.Đôbơrianốp cho rằng, những loại hoạt động sống cơ bản cũng sẽ là những thành phần cơ bản của lối sống xét theo tính chất khác nhau của hoạt động nhằm thỏa mãn những nhu cầu tương ứng Theo đó, tác giả đã chia hoạt động sống của con người thành: 1) Hoạt động lao động sản xuất vật chất; 2) Hoạt động chính trị - xã hội; 3) Hoạt động văn hóa; 4) Hoạt động tái sinh sản; 5) Hoạt động giao tiếp [32, tr.218]

Ở Việt Nam, cho đến hiện nay, trong các công trình nghiên cứu về con người, về văn hóa và lối sống, các tác giả cũng đã đề xuất nhiều quan niệm, cách lý giải và cách định nghĩa khác nhau về khái niệm “lối sống” Trong đó, định nghĩa lối sống được sử dụng phổ biến hơn cả trong các giáo trình lý luận về văn hóa ở nước ta từ vài ba thập niên gần đây là định nghĩa

Trang 23

của tập thể tác giả trong Giáo tr nh lý luận văn hóa và đường lối văn hóa

của Đảng, do GS,TS Trần Văn Bính chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc

gia, Hà Nội, xuất bản năm 2000, rằng: “Lối sống là một phạm trù xã hội học thể hiện toàn bộ hoạt động sống của con người thuộc các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội trong những điều kiện của một hình thái kinh tế – xã hội nhất định, biểu hiện trong quan niệm sống, trong toàn bộ các hoạt động sống của con người như lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa”[5, tr.190]

Trong Từ điển bách khoa Việt Nam, từ “lối sống” được định nghĩa là:

“Toàn bộ những hình thức hoạt động sống của con người trong một xã hội nhất định được xem xét thống nhất với các điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Lối sống bao gồm những mặt cơ bản: lao động vốn là nhu cầu sống hàng đầu, là giá trị lớn nhất trong bậc thang giá trị xã hội, là điều kiện biểu thị nội dung xã hội và là nền tảng để phát triển toàn diện cá nhân con người; tích tích cực chính trị - xã hội thể hiện sự tham gia của các giai cấp và tầng lớp xã hội vào các tổ chức xã hội, vào việc quản lý, kiểm tra xã hội và nhà nước trong các lĩnh vực khác nhau; sinh hoạt tinh thần là các hoạt động liên quan đến nhu cầu phi sản xuất vật chất nhằm khôi phục và phát triển sức lực con người, tổ chức đời sống văn hóa, tinh thần trong thời gian tự do ngoài lao động sản xuất ở nơi công tác; văn hóa – giáo dục là những hoạt động nâng cao trình độ hiểu biết, học vấn để hoàn thiện đạo đức và trí tuệ, tiếp thu những giá trị tinh thần, biến các giá trị văn hóa thành bộ phận khăng khít trong sinh hoạt hàng ngày trở thành cơ sở cho những tiêu chuẩn hành vi phù hợp với chuẩn mực xã hội”[35, tr.742]

Cả hai định nghĩa vừa dẫn sở dĩ được lưu hành rộng rãi trong các giáo trình và tài liệu khoa học ở Việt Nam trong một thời gian dài bởi nó có ưu điểm lớn ở chỗ: vạch ra, xác định rõ sự thống nhất biện chứng giữa hình thái

Trang 24

kinh tế - xã hội và lối sống, đặc biệt là lĩnh vực “quan hệ giữa người với người” Tuy nhiên, điểm yếu lớn nhất của cả hai định nghĩa này là: 1) Coi lối sống là một khái niệm thể hiện dưới hình thức khái quát toàn bộ hoạt động sống của con người, tức là đã đồng nhất “lối sống” với “hoạt động sống”, trong khi hoạt động sống và lối sống không đồng nhất với nhau Trong lối sống nổi lên vấn đề cách thức, hình thức hoạt động mà con người lựa chọn và áp dụng trong triển khai cuộc sống của mình 2) Mệnh đề “trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định”, hay “trong một xã hội nhất định” được đưa vào nội hàm của khái niệm lối sống đã làm cho khái niệm này trở nên mơ hồ, khó hiểu Bởi nếu lối sống “thể hiện toàn

bộ hoạt động sống” hay “toàn bộ những hình thức hoạt động sống của con người” thì không cần phải khu biệt “một xã hội nhất định” hay “một hình thái kinh tế - xã hội nhất định” Bất cứ xã hội nào, hình thái kinh tế - xã hội thì lối sống cũng đều thể hiện toàn bộ những hoạt động sống của con người

cả Ngoài những hạn chế chung của cả hai định nghĩa như vừa nêu, định

nghĩa trong Từ điển bách khoa Việt Nam còn có thêm 3 điểm hạn chế: Thứ

nhất, dài dòng, tính khái quát thấp; Thứ hai, sự phân định các mặt, các lĩnh

vực biểu hiện cơ bản của lối sống chưa hợp lý, bởi vì: 1) định nghĩa này đã phân chia hoạt động tinh thần và hoạt động văn hóa – giáo dục thành hai lĩnh vực cơ bản biểu hiện lối sống, trong khi lẽ ra, có thể gộp chung hoạt động tinh thần và hoạt động văn hóa – giáo dục thành một lĩnh vực: hoạt động văn hóa – tinh thần; 2) định nghĩa này đã không đề cập đến lĩnh vực hoạt động giao tiếp, trong khi hoạt động giao tiếp là một lĩnh vực biểu hiện

cơ bản lối sống của con người; Thứ ba, từ điển này sử dụng mệnh đề “tính

tích cực chính trị - xã hội” để chỉ mặt hoạt động chính trị - xã hội của lối sống là phiến diện, không xác thực Mặt lĩnh vực hoạt động chính trị - xã hội của lối sống cũng như tất cả các mặt, lĩnh vực hoạt động khác của lối sống

Trang 25

con người không nhất định và nhất loạt là tích cực, chỉ có tính tích cực Về vấn đề này, trong tác phẩm “Tình cảnh giai cấp công nhân lao động ở Anh”, Ph.Ăngghen đã nhận xét rằng, trong giai cấp công nhân Anh, có bộ phận có lối sống tích cực về mặt chính trị - xã hội nhưng cũng có nhóm công nhân có lối sống ngược lại

GS,TS Huỳnh Khái Vinh trong cuốn sách Nh ng vấn đề thời sự văn

hóa đã đề xuất một định nghĩa cho khái niệm “lối sống” như sau: “Lối sống

là tập hợp những nét cơ bản, tiêu biểu, ổn định của các hình thức hoạt động sống của cá nhân và xã hội Đó là cách thức hoạt động và ứng xử của chủ thể (cá nhân, tập thể) để đáp ứng nhu cầu sống: từ ăn, uống, ở, mặc đi lại, tái tạo nòi giống đến học hành, vui chơi, giao tiếp và thỏa mãn các nhu cầu trí tuệ, thẩm m …từ hoạt động sản xuất kinh doanh, tham gia các hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội đến việc tổ chức đời sống cá nhân, gia đình và xã hội” [75, tr.192-193] Định nghĩa này, theo chúng tôi, có ưu điểm nổi bật là

đã nêu bật được đặc trưng cơ bản của khái niệm lối sống - đó là cách thức, hình thức hoạt động và ứng xử của chủ thể (cá nhân, cộng đồng) để đáp ứng nhu cầu sống; là tập hợp những nét cơ bản, tiêu biểu, ổn định trong các cách thức, hình thức hoạt động và ứng xử của chủ thể

Trong công trình nghiên cứu về lối sống gần đây nhất đã được xuất bản thành sách năm 2013 bởi Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội với

tựa đề:“Lối sống và tư duy của cộng đ ng người việt v ng Đông Nam Bộ

trong quá tr nh đổi mới và hội nhập quốc tế” do PGS,TS Doãn Chính chủ

biên, “khái niệm” lối sống được định nghĩa là: “phương thức hoạt động sống của con người Đó là cách thức, phương pháp và những hình thức cơ bản, tiêu biểu, tương đối ổn định của hoạt động sống của cá nhân và cộng đồng được thể hiện trong các hình thức hoạt động cơ bản như hoạt động lao động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị – xã hội, hoạt động văn hóa – tinh

Trang 26

thần, hoạt động sinh hoạt, hoạt động giao tiếp để duy trì sự tồn tại và phát

triển của cá nhân và xã hội”.[6, tr.90] Định nghĩa này có nhiều ưu điểm: Thứ

nhất, nêu được đặc trưng bản chất của khái niệm lối sống - đó là cách thức

và những hình thức cơ bản, tiêu biểu, ổn định trong các hoạt động sống của

một chủ thể (cá nhân, cộng đồng); Thứ hai, các hoạt động sống của con

người như là những lĩnh vực biểu hiện chủ yếu của lối sống được các tác giả công trình này phân định thành 5 lĩnh vực: 1) Hoạt động lao động sản xuất vật chất; 2) Hoạt động chính trị – xã hội; 3) Hoạt động văn hóa – tinh thần; 4) Hoạt động sinh hoạt; 5) Hoạt động giao tiếp là hợp lý.[6, tr.102] Chúng tôi tán thành với các tác giả của công trình vừa dẫn về sự phân định các lĩnh vực biểu hiện cơ bản của lối sống và những khái quát về nội dung của từng lĩnh vực đó[6, tr.103-106] Dưới đây, chúng tôi xin thu hoạch và cô đọng những khái quát như sau:

1) Hoạt động lao động sản xuất vật chất, trong tất cả các hoạt động

sống của con người thì hoạt động cơ bản, quan trọng nhất và có bản chất người nhất là hoạt động lao động sản xuất vật chất Con người cũng nhờ có lao động mà ngày càng được nâng cao và hoàn thiện hơn về thể lực, trí tuệ

và tâm hồn, ngày càng “người” hơn Với ý nghĩa đó, Ph Ăngghen đã đánh giá “lao động đã sáng tạo ra bản thân con người”[11, tr.641] Trình độ phát triển và tính chất của lao động sản xuất vật chất là yếu tố cơ bản hàng đầu có ảnh hưởng quyết định đối với sự biến đổi lối sống của con người Ngoài ra, còn một thực tế là, đặc điểm khác nhau của lao động của những người ở thành phố và nông thôn, giữa người công nhân và người công chức…đẻ ra hàng loạt những đặc điểm khác nhau trong lối sống của họ

2) Hoạt động chính trị – xã hội là hoạt động của con người, của các

nhóm xã hội, các giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau thể hiện thái độ thực tiễn của họ đối với các cơ quan nhà nước, đảng chính trị và các tổ chức

Trang 27

chính trị – xã hội cũng như đối với đường lối, chính sách và pháp luật do các

cơ quan và tổ chức đó đề ra, là sự tham gia vào các hoạt động của các cơ quan và các tổ chức đó, là hoạt động thực thi quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân

3) Hoạt động văn hóa – tinh thần là hoạt động nhằm thỏa mãn nhu

cầu về giá trị tinh thần – một nhu cầu cơ bản không thể thiếu của con người, của xã hội Hoạt động văn hóa – tinh thần diễn ra chủ yếu trên các lĩnh: tư tưởng, văn học nghệ thuật, khoa học, giáo dục, tín ngưỡng, tôn giáo Hoạt động trên các lĩnh vực này không tách biệt nhau mà chúng hòa quyện vào nhau Trong tổng hòa sống động của các hoạt động trên các lĩnh vực đó các giá trị tinh thần được tạo ra, lan tỏa và thấm sâu vào từng con người Nhờ đó

mà mỗi người và mọi người đạt được những phẩm chất tinh thần cao quý và tồn tại như một giá trị – giá tri “gốc”, thúc đẩy không ngừng sự phát triển về các mặt chân – thiện – m của đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu về giá trị tinh thần ngày càng tăng của mọi thành viên trong xã hội

4) Hoạt động sinh hoạt là toàn bộ lĩnh vực sinh hoạt hàng ngày của

con người ở bên ngoài hoạt động lao động sản xuất vật chất, bao gồm các hoạt động nhằm bảo dưỡng và tái tạo sức lực của con người (cả về thể chất

và tinh thần), tái sản xuất con người (sinh đẻ, nuôi dưỡng, giáo dục con cái),

tự phát triển và hoàn thiện bản thân, thỏa mãn các nhu cầu sinh lý, nghỉ ngơi, giải trí…Hoạt động sinh hoạt diễn ra chủ yếu ở gia đình Nhà ở và gia đình là trung tâm của hoạt động sinh hoạt Sinh hoạt là hoạt động tất yếu của con người trong mọi thời đại, là một lĩnh vực biểu hiện cơ bản của lối sống

5) Hoạt động giao tiếp là tất yếu xuất phát từ đòi hỏi của quá trình

phát triển đời sống và đồng thời xuất phát từ nhu cầu bẩm sinh có tính loài của con người đối với sự giao tiếp toàn diện giữa con người với con người

và con người với thiên nhiên Hoạt động giao tiếp không chỉ là tiếp xúc với

Trang 28

nhau, gặp gỡ nhau, mà còn ở mức độ rộng lớn hơn, đó là “các quan hệ con người”, bao gồm quan hệ với người khác, với cộng đồng, với chính bản thân mình và với thiên nhiên Hoàn toàn rõ ràng và hiển nhiên rằng, cách thức, những hình thức mà từng con người hay cộng đồng quan hệ và ứng xử với nhau như thế nào đó là một phương diện cơ bản cấu thành nên lối sống của họ

Như vậy, cả ở Việt Nam và nước ngoài, các nhà khoa học đã từng đề xuất nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm “lối sống” Qua khảo sát, phân tích một số định nghĩa về lối sống như đã trình bày trên, có thể nhận xét chung rằng, giữa chúng có nhiều điểm tương đồng nhưng cũng có không

ít những điểm khác biệt Sự khác biệt giữa các định nghĩa không có nghĩa chống đối hoặc phủ nhận lẫn nhau mà bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong việc nghiên cứu để nhận thức ngày càng rõ hơn, đầy đủ hơn về bản chất và đặc trưng của khái niệm “lối sống” Lối sống của con người, dù là của cá nhân hay cộng đồng, là một tổng thể nhiều mặt, có mặt vật chất và mặt tinh thần; một tổng hòa năng động của các nhân tố khách quan và chủ quan của cuộc sống, trong đó mặt nào, nhân tố nào được tiếp cận cũng có thể rút ra một định nghĩa Vì vậy, khái niệm “lối sống” trở thành một khái niệm rất linh hoạt, rất giao động về nghĩa Số lượng dồi dào các định nghĩa về khái niệm

“lối sống” hiện có là một minh chứng thực tế cho tình hình đó Dựa trên quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học, kế thừa những yếu tố hợp lý trong các định nghĩa của các nhà khoa học trong và ngoài nước, đồng thời xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ của luận văn đặt ra, chúng tôi đề xuất một quan niệm về lối sống như sau:

Lối sống là cách thức, h nh thức hoạt động và ứng xử tiêu biểu được con người (cá nhân, cộng đ ng) lựa chọn và áp dụng một cách phổ biến, ổn định trong triển khai hoạt động sống của m nh từ hoạt động lao động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động văn hóa – tinh thần đến hoạt động sinh hoạt, hoạt động giao tiếp

Trang 29

Chung quanh khái niệm lối sống còn có một số khái niệm liên quan:

“Nếp sống” và “Cách sống”, chúng tôi phân biệt các khái niệm này với khái niệm lối sống như sau:

Nếp sống hàm chứa ý nghĩa hẹp hơn lối sống, nếp sống bao gồm

những cách thức hành động, ứng xử và suy nghĩ được lặp đi lặp lại hàng ngày trở thành thói quen, thành tập quán trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt, hành vi đạo đức, giao tiếp…GS.Vũ Khiêu cho rằng: “Nếp sống là toàn

bộ những thói quen được hình thành trong cuộc sống hàng ngày, những thói quen đã trở thành nếp trong sản xuất, chiến đấu, trong mọi quan hệ xã hội và trong sinh hoạt riêng tư của mỗi con người Những thói quen ấy còn được gọi là tập quán” [45, tr.135] Nói khác đi, nếp sống tức là lối sống hoặc một

số mặt nào đó của lối sống trở thành nền nếp được định hình ở một cá nhân, một cộng đồng

Cách sống có nghĩa hẹp và cụ thể Đó là kiểu sống cụ thể theo cá

tính và thị hiếu của cá nhân hoặc theo một điều kiện quy định cụ thể nào

đó Chẳng hạn có thể nói cách sống của người già, cách sống người độc thân, cách sống của một nghệ sĩ….Cố nhiên là, cách sống có đẹp, có đúng hay không phải phục tùng chuẩn mực về cái đẹp, cái đúng của một lối sống nào đó

1.1.2 Quan niệm về thanh niên và lối sống của thanh niên

K á ệm t và đặ đ ểm t

Khái niệm thanh niên, trước hết liên quan đến việc xác định độ tuổi

của thanh niên Tùy vào trình độ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, đặc điểm truyền thống, tuổi thọ bình quân …mà mỗi quốc gia trên thế giới có quy định độ tuổi thanh niên khác nhau Liên Hợp Quốc và một số nước Châu Âu quy định độ tuổi thanh niên từ 15 đến 25 tuổi Trong khi đó, ở Malaysia là từ 15 – 40 tuổi; ở Philippin, Hàn Quốc từ 15 – 30 tuổi; ở Việt

Trang 30

Nam theo quy định Điều lệ (bổ sung, sửa đổi) Hội Liên Hiệp thanh niên Việt Nam (14/10/2010) và Luật thanh niên Việt Nam quy định độ tuổi hội viên, thanh niên từ 16 đến 30 tuổi

Tùy thuộc vào nội dung và góc độ nghiên cứu mà có nhiều cách tiếp cận, cách hiểu khác nhau về thanh niên

Về mặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai đoạn xác định trong quá trình tiến hóa của cơ thể Họ cho rằng, chính sự trưởng thành của quá trình sinh học quy định tất cả những yếu tố khác thuộc về mỗi con người Các nhà tâm lý học thường nhìn nhận thanh niên gắn với những quy luật phát triển tâm lý lứa tuổi và thế hệ, đặc biệt là sự tự ý thức ở lứa tuổi này và coi đó là yếu tố cơ bản để phân biệt với các thời kỳ lứa tuổi khác Dưới góc độ xã hội học, các nhà nghiên cứu lại nhìn nhận thanh niên

là một giai đoạn xã hội hóa – kết thúc giai đoạn thiếu niên để chuyển sang

độ tuổi trưởng thành với trách nhiệm đầy đủ của công dân Dưới góc độ nghiên cứu này, người ta tập trung chú ý vào vai trò xã hội, vào sự hình thành những định hướng giá trị, vào những vấn đề có liên quan tới việc chuẩn bị cho thanh niên bước vào cuộc sống và lao động Các nhà kinh tế học xem thanh niên là lực lượng lao động xã hội hùng hậu, là nguồn bổ sung thường xuyên cho đội ngũ những người lao động trên mọi lĩnh vực Còn từ góc độ triết học, có thể coi thanh niên là một thế hệ mới đang lớn lên, đang trưởng thành, được kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của thế hệ đi trước

Mặc dù được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, với nhiều quan niệm và cách nhìn nhận về thanh niên, nhưng cho đến nay, các công trình

nghiên cứu về thanh niên đều nhất trí với nhau ở một điểm, đó là coi: Thanh

niên là một nhóm xã hội – lứa tuổi đặc th bao g m tất cả nh ng thành viên trong một xã hội củ thể đang ở trong độ tuổi thanh niên

Trang 31

Thanh niên với tư cách là một nhóm xã hội – lứa tuổi đặc thù, đan xen bởi cơ cấu – xã hội, giai tầng, nghề nghiệp và quan hệ xã hội thống nhất Nhóm xã hội – lứa tuổi đặc thù này chịu sự tác động của các quan hệ kinh tế – xã hội và các quan điểm chính trị, tư tưởng của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Mặt khác, nhóm xã hội – lứa tuổi này do những đặc điểm riêng, bị tác động bởi tâm lý lứa tuổi, bởi hoàn cảnh môi trường – kinh tế

và sự giáo dục định hướng…đã hình thành và phát triển về nhu cầu, sở thích, tâm lý, nhân cách, quan điểm, lối sống và về văn hóa tinh thần phong phú Những đặc điểm đó có nhiều nét khác với các nhóm xã hội trong cộng đồng nhưng cũng có mối liên hệ với đặc điểm, nhân cách, lối sống và văn hóa của cả cộng đồng Vì vậy, khi nghiên cứu nhóm xã hội này phải nhìn nhận họ trong tổng thể của cơ cấu xã hội và chú trọng tính đặc thù, tính năng động về các mặt của nhóm xã hội thanh niên, của nét đặc trưng tâm

lý, văn hóa, lối sống của họ

Thanh niên sống và làm việc trong các môi trường xã hội khác nhau, theo đó được chia ra làm các nhóm xã hội khác nhau: thanh niên học sinh, sinh viên, thanh niên công nhân, thanh niên tri thức, thanh niên nông thôn, thanh niên thành thị, thanh niên các lực lượng vũ trang…Mỗi nhóm xã hội của thanh niên đều có những nét đặc thù về lối sống, nhu cầu, sở thích, thị hiếu Mặc dù vậy, thanh niên vẫn có chung một số đặc điểm như sau:

Thứ nhất, thanh niên là lớp người trẻ, năng động, ưa thử nghiệm

nhưng dễ phạm sai lầm Trong độ tuổi của thanh niên, họ là lớp người trẻ trung, năng động, luôn chủ động, tích cực trong việc chuẩn bị hành trang cho tương lai của bản thân mình và của quốc gia, dân tộc nhưng lại chưa đủ kinh nghiệm và sự từng trải để có cách suy xét, đánh giá các giá trị, lựa chọn giá trị theo tinh thần duy lý Vì vậy, bên cạnh những gì họ bị ảnh hưởng do tiếp nhận những giá trị trao truyền, giáo dục của thế hệ đi trước thì họ luôn

Trang 32

luôn có sự lựa chọn của riêng mình Ngoài ảnh hưởng của thế hệ “cha chú” trong cộng đồng gia đình hay quốc gia dân tộc, trong thời đại toàn cầu hóa,

họ còn chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố văn hóa, tri thức, kinh nghiệm, giá trị và sự lựa chọn của các cộng đồng và cá nhân khác trên thế giới Và với tất cả những điều kiện đó, thanh niên thường có xu hướng thử nghiệm nhiều khả năng, nhiều lựa chọn, ngay cả khi họ còn chưa được chuẩn bị đủ tốt cho những thử nghiệm đó Đó chính là nguyên nhân dẫn đến thế hệ trẻ thường

dễ mắc sai lầm trong cuộc sống

Thứ hai, với tư cách là một nhóm xã hội – lứa tuổi đặc thù, thanh niên

như một thế hệ có quan hệ mật thiết với các thế hệ trong cộng đồng xã hội, đặc biệt là thế hệ đi trước (thế hệ “già”) Tuy nhiên, trong mối quan hệ giữa thế hệ đi trước với thế hệ thanh niên thường xẩy ra những mâu thuẫn, xung đột Bởi vì, thanh niên có sứ mệnh đón nhận những giá trị truyền thống mà thế hệ đi trước gửi gắm ở họ, kế thừa và phát triển nó trong điều kiện mới Chính vì vậy, mà các thế hệ đi trước (của các dân tộc và trong nhiều thời đại lịch sử) thường rất quan tâm đến việc đào tạo, rèn luyện, gây ảnh hưởng với thanh niên bằng nhiều phương thức khác nhau để họ kế tục sự nghiệp của mình Nhưng về phía các thế hệ đi trước họ thường có những tư tưởng bảo thủ, coi những quan niệm của họ là tuyệt đối đúng, lo ngại thế hệ trẻ kế tục

sẽ chỉnh sửa, thanh đổi hay phủ nhận hoàn toàn Còn về phía thanh niên, họ

là lớp người năng động, thích thử nghiệm, có xu hướng hoài nghi, kiểm chứng lại sự lựa chọn trong quan niệm của thế hệ đi trước, thậm chí cố tình phủ nhận, làm khác đi, coi đó như một phương thức để khẳng định tư cách

“người lớn” của mình Chính vì thế giữa họ luôn xẩy ra xung đột phức tạp, thậm chí là gay gắt Vì vậy, phải tìm ra được sự đồng thuận giữa thế hệ đi trước và thế hệ thanh niên để thanh niên hoàn thành được nhiệm vụ của mình, đồng thời góp phần hoàn thiện nhân cách và lối sống của thanh niên

Trang 33

Thứ ba, với tương lai, thanh niên thường lý tưởng hóa, hy vọng, say

mê, hay tưởng tượng nhưng đồng thời cũng dễ chán nản, thất vọng, bi quan Khi ước mơ, lý tưởng đó không thực hiện được và thất bại được thì thanh niên thường rơi vào tình trạng bi quan, chán nản Đó là nguyên nhân dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực trong ứng xử văn hóa và lối sống của thanh niên Vì vậy, với tư cách là người chủ tương lai của đất nước, tiếp nhận, kế tục các thế hệ đi trước, cần phải động viên, phát huy thế mạnh và tiềm lực của thanh niên, giúp họ biết kế thừa, phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc

Tóm lại, thanh niên là lớp người trẻ, năng động, ưa thử nghiệm nhưng dễ phạm sai lầm; thường xung đột với thế hệ đi trước; với tương lai

có ước mơ, khát vọng nhưng cũng dễ chán nản là đặc điểm chung của thanh niên mọi thời đại, mọi quốc gia – dân tộc

L s t

Căn cứ vào điều kiện địa lý – lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, đặc điểm dân tộc, giai cấp và các giai tầng xã hội; căn cứ vào các lĩnh vực biểu hiện cơ bản của lối sống mà người ta chia lối sống thành nhiều loại hình khác nhau Lối sống có thể được phân chia theo hình thái kinh tế - xã hội (lối sống phong kiến, lối sống tư bản, lối sống xã hội chủ nghĩa); theo tiêu chí giai cấp (lối sống nông dân, lối sống công nhân, lối sống tư sản ); theo lĩnh vực hoạt động (lối sống nông nghiệp, lối sống tiểu thủ công nghiệp, lối sống công nghiệp…); theo lứa tuổi và giới tính (lối sống thiếu niên, lối sống thanh niên, lối sống phụ nữ…)

Luận văn nghiên cứu về lối sống của thanh niên, tức là lối sống của nhóm xã hội – lứa tuổi đặc thù thuộc“độ tuổi của thanh niên” Do có những quan niệm và cách tiếp cận khác nhau trong nghiên cứu về thanh niên nên cách tiếp cận, nhận diện và phân tích về lối sống của thanh niên cũng rất khác nhau

Trang 34

Điểm cốt lõi trong cách tiếp cận của luận văn là xem lối sống như

“hoạt động sống” mang tính chất đặc trưng của một nhóm người, một tầng lớp xã hội, một giai cấp nhất định Theo đó, có thể hiểu lối sống của thanh niên là phương thức hoạt động sống của một nhóm xã hội – lứa tuổi thanh niên, tập hợp những nét cơ bản, tiêu biểu, ổn định của hoạt động đời sống của

họ, được thể hiện trong lao động sản xuất vật chất; hoạt động chính trị - xã hội; hoạt động văn hóa tinh thần; hoạt động sinh hoạt và hoạt động giao tiếp

Trên cơ sở đó, cho phép chúng ta nhận diện và đánh giá xu hướng, mức độ biến đổi lối sống của thanh niên Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và lối sống của thanh niên ở tỉnh Đồng Nai hiện nay

1.2 CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI XÂY DỰNG LỐI SỐNG CỦA THANH NIÊN VIỆT NAM

1.2.1 Đặc điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay

Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu lý luận và lịch sử của công nghiệp hóa, đặc biệt là công nghiệp hóa dưới tác động của những điều kiện phát triển mới của xã hội hiện đại và để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, Đảng ta đã đưa ra khái niệm “Công nghiệp hóa, hiện đại

hóa” với nội hàm được xác định là: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá

tr nh chuyển đổi căn bản các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế – xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động c ng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa hoc – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”.[21, tr.59]

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay có những đặc điểm mới so với công nghiệp hóa, hiện đại hóa cổ điển của chủ nghĩa tư bản

Trang 35

và so với cả công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây cũng như ở nước ta thời kỳ trước đổi mới Đó là:

Thứ nhất, công nghiệp hóa g n liền với hiện đại hóa kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại tranh thủ đi nhanh vào hiện đại hóa ở nh ng khâu quyết định

Trong điều kiện cách mạng và khoa học công nghệ hiện đại đang có những bước phát triển nhanh chóng và xu thế quốc tế hóa kinh tế hiện nay, công nghiệp hóa nhất thiết phải gắn liền hiện đại hóa Thực chất của quá trình hiện đại hóa nền kinh tế là không ngừng nâng cao trình độ phát triển của lực lượng sản xuất theo tiến trình phát triển của khoa học và công nghệ trên thế giới Tuy nhiên quá trình này thực hiện ở nước ta sẽ gặp phải một nghịch lý Một mặt, nếu không kịp thời sử dụng các k thuật và công nghệ hiện đại để nhanh chóng hiện đại hóa nền kinh tế thì nguy cơ tụt hậu sẽ xa hơn Mặt khác, nếu dồn tất cả mọi sự đầu tư cho việc trang bị k thuật và công nghệ hiện đại thì lại có nguy cơ không phù hợp với điều kiện hiện có, lãng phí nhiều tiềm năng và nảy sinh các vấn đề xã hội bức xúc Để khắc phục nghịch lý này, trong quá trình công nghiệp hóa chúng ta cần áp dụng đồng thời nhiều trình độ k thuật và công nghệ mà các nước đi trước đã thực hiện ở những thời điểm khác nhau Chỉ như vậy mới có thể vừa từng bước hiện đại hóa nền kinh tế, vừa khai thác được các nguồn lực và lợi thế của đất nước

Trong điều kiện thiếu vốn, dư thừa lao động sống và mặt hàng có chất lượng lao động còn thấp như ở nước ta hiện nay, chúng ta không thể đi ngay vào trình độ cao nhất của k thuật và công nghệ trên quy mô toàn xã hội Nhưng đối với những ngành mũi nhọn, những lĩnh vực cần ưu tiên phát triển

mà điều kiện cho phép thì cần áp dụng ngay trình độ hiện đại để tạo ra bước nhảy vọt trong tiến trình phát triển lực lượng sản xuất Đồng thời phát huy đầy đủ tính ưu việt của công nghệ truyền thống, hiện đại hóa công nghệ truyền thống, giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc

Trang 36

Ở nước ta, việc tiếp nhận chuyển giao và phát triển công nghệ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là hết sức cần thiết Song vấn đề quan trọng hơn cả là phải có cơ chế chính sách hợp lý để việc chuyển giao công nghệ vừa đạt được mục tiêu khai thác và sử dụng có hiểu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nâng cao năng suất lao động và hiểu quả kinh tế, vừa đáp ứng được mục tiêu bảo vệ môi trường sinh thái…Chỉ như vậy, chúng ta mới có được công nghệ mới, hiện đại, kết hợp các mục tiêu kinh tế và sinh thái, hướng tới sự phát triển bền vững

Thứ hai, công nghiệp hóa, hiện đại hóa được thực hiện trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lấy hiệu quả kinh

tế – xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản

Nếu như trước đây, công nghiệp hóa được tiến hành theo cơ chế tập trung, bao cấp, kế hoạch hóa cao độ với các chỉ tiêu pháp lệnh nghiêm ngặt, thì giờ đây công nghiệp hóa, hiện đại hóa được thực hiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh đó trước hết phải tuân thủ theo các quy luật của nền kinh tế thị trường như: giá trị, cung cầu, cạnh tranh…kế hoạch chỉ chủ yếu mang tính định hướng Thị trường là nơi phản ánh nhu cầu xã hội, có tiếng nói quyết định trong việc phân bố các nguồn lực cho sản xuất và kinh doanh Cơ chế thị trường tạo ra cơ hội và điều kiện thuận lợi cho con người tham gia vào các hoạt động kinh tế – xã hội đa dạng Nó kích thích tính chủ động, tích cực, sáng tạo của người lao động Cơ chế thị trường cũng tạo ra môi trường thuận lợi cho sự dịch chuyển cơ cấu lao động, cả người sử dụng lao động lẫn người lao động đều có thể chủ động trong việc lựa chọn lao động và việc làm…Do vậy, trong nền kinh tế thị trường, tiềm năng và sức mạnh của người lao động được khai thác hợp lý, triệt để và có hiệu quả cao Tuy nhiên, cơ chế thị trường cũng có những hạn chế và khuyết tật của nó, mà nếu không chủ động

Trang 37

khắc phục, điều tiết thì quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ không đạt được mục tiêu ổn định xã hội, an ninh quốc gia và sự bền vững của môi trường Vì vậy, trong nền kinh tế thị trường phải có sự quản lý của nhà nước

và nhà nước thực hiện quyền quản lý của mình thông qua các công cụ chủ yếu như: định hướng kế hoạch phát triển, hệ thống pháp luật, các chính sách kinh tế – xã hội, các qu quốc gia để điều tiết nền kinh tế thị trường

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải tính đến hiệu quả kinh tế - xã hội Bởi vì, công nghiệp hóa, hiện đại hóa không chỉ đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh

mà còn phải đảm bảo mục tiêu dân chủ, công bằng, văn minh, đảm bảo an ninh quốc gia và sự phát triển bền vững Chỉ khi hiệu quả kinh tế đã đạt được sẽ cho phép thực hiện hiệu quả xã hội, ngược lại khi hiệu quả xã hội được đảm bảo lại góp phần tạo nên động lực thúc đẩy việc thực hiện hiệu quả kinh tế

Thứ ba, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước gi vai tr chủ đạo

Là sự nghiệp của toàn dân, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là: “một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống

xã hội, đòi hỏi phải đầu tư nhiều trí tuệ, sức người, sức của Chỉ có huy động sức mạnh to lớn của toàn dân, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự quản

lý, điều hành có hiệu lực và hiệu quả của nhà nước thì mới đảm bảo thắng lợi” [17, tr.6] Có thể nói rằng công nghiệp hóa trước đây và công nghiệp hóa ngày nay đều xuất phát từ lợi ích của nhân dân, đều nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Tuy nhiên, trước đây trong quá trình công nghiệp hóa chúng ta chưa có cơ chế, chính sách phù hợp để nhân dân phát huy tốt vai trò của mình với tư cách là người chủ đích thực của quá trình công nghiệp hóa

Trang 38

Quan điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân được thể hiện ở chỗ, trước hết công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải xuất phát

từ lợi ích, nguyện vọng của nhân dân, đó là thực hiện mục tiêu dân giàu,

nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Hai là, công nghiệp hóa,

hiện đại hóa do nhân dân thực hiện bằng sức mạnh lao động, tài năng, năng lực sáng tạo, tiền vốn, tài sản toàn dân, phát huy sức mạnh và lợi thế so sánh của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo,

dẫn dắt, thúc đẩy các thành phần kinh tế khác cùng phát triển Ba là, công

nghiệp hóa, hiện đại hóa chỉ thực sự là sự nghiệp của nhân dân và do nhân dân khi xác định được và thực hiện tốt cơ chế phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân tham gia, góp phần xây dựng đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kiểm tra quá trình thực hiện đường lối đó

Có thể nói rằng, việc huy động mọi nguồn lực trong nhân dân vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội là biện pháp quan trọng bảo đảm sự thành công của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Thứ tư, công nghiệp hóa, hiện đại hóa g n liền với việc “xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”

“Mở cửa” nền kinh tế là sự đổi mới mang tính bước ngoặt trong tư duy và trong quan điểm kinh tế của Đảng và nhà nước ta Đó là sự thay đổi quan niệm về độc lập, tự chủ trong kinh tế – độc lập, tự chủ không có nghĩa

là “tự cấp, tự túc, kép kín nền kinh tế”, mà chỉ có nền kinh tế mạnh, phát triển vững chắc mới có khả năng độc lập, tự chủ “Mở cửa” cả bên trong và bên ngoài chính là điều kiện để kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh của thời đại, khai thác nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã khẳng định: “Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại dựa vào

Trang 39

nguồn lực trong nước là chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài, xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới…”[17,tr.84-85] Tiếp tục quan điểm này, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, một lần nữa Đảng ta khẳng định: “Mở rộng hoạt động đối ngoại, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”[20, tr.27]

Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, “trước hết là độc lập tự chủ về đường lối, chính sách”, công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải thúc đẩy xây dựng nền kinh tế mở Đó là nền kinh tế dựa trên cơ sở phát triển các quan hệ hợp tác đa phương, đa hình thức, hướng mạnh vào xuất khẩu và thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong nước có hiểu quả, nhằm huy động nguồn vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Thứ năm, khoa học và công nghệ được xác định là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Về thực chất, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng k thuật, công nghệ tiên tiến hiện đại nhằm đạt năng suất lao động ngày càng cao hơn Do vậy, nói đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nói đến việc áp dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế –

xã hội Không thể có công nghiệp hóa, hiện đại hóa nếu không dựa vào khoa học và công nghệ Trong thời đại ngày nay, khoa học và công nghệ thực sự

là nền tảng và động lực của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Phát triển khoa học và công nghệ, gắn khoa học và công nghệ với sản xuất và đời sống chính là chìa khóa đảm bảo sự thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhận thức rõ vai trò của khoa học và công nghệ, Đảng ta khẳng định: “Phát triển khoa học và công nghệ làm động lực đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức Góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, phát triển nhanh, bền vững của đất nước”[20, tr.115]

Trang 40

Thực tiễn phát triển của hơn 25 năm đổi mới đất nước, đã chứng tỏ việc chúng ta áp dụng những tiến bộ của khoa học, đổi mới công nghệ, tiếp thu công nghệ tiên tiến là một yếu tố rất quan trọng làm thay đổi bộ mặt của đất nước và cuộc sống nhân dân Trong những năm tới, để khoa học và công nghệ thực sự là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải gắn hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ với thực tiễn, với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Phải tăng cường đầu tư cho khoa học và công nghệ đúng với nghĩa là quốc sách hàng đầu Đồng thời phải quan tâm xây dựng và phát huy tốt lực lượng nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ

Thứ sáu, công nghiệp hóa, hiện đại hóa lấy việc phát huy ngu n lực con người cho sự phát triển nhanh và bền v ng

Đặc điểm quan trọng này không chỉ do điều kiện kinh tế – xã hội và nhu cầu phát triển đất nước quy định mà còn bị chi phối bởi bối cảnh thời đại Sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang làm thay đổi căn bản nền sản xuất xã hội Nếu như trước đây, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tập trung khai thác tài nguyên thiên nhiên thì giờ đây, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa lại hướng vào việc khai thác con người, đặc biệt là tiềm năng trí tuệ của con người Vai trò quyết định của nguồn lực con người biểu hiện ở những điểm căn bản sau: trước hết, các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý…tự nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng Chúng chỉ phát huy tác dụng và

có ý nghĩa tích cực xã hội khi được kết hợp với nguồn lực con người, thông qua hoạt động có ý thức của con người Bởi lẽ, con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và ý chí, biết sử dụng và khai thác các nguồn lực khác để phục vụ cho nhu cầu và lợi ích của mình Vì thế trong các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, người lao động là yếu tố quan trọng nhất, là

lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại Thứ hai, các nguồn lực khác

Ngày đăng: 07/05/2021, 18:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w