1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ mẹ ghẻ con chồng trong văn hóa người việt

160 148 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung các bài tham luận tập trung nghiên cứu vào 3 vấn đề chính đó là: 1 Các vấn đề lý luận về gia đình; 2 Thực trạng của gia đình hiện nay, tập trung vào các vấn đề chính như vai tr

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

******

KHOA VĂN HÓA HỌC

NGUYỄN THÚY NGA

QUAN HỆ MẸ GHẺ CON – CON CHỒNG TRONG

VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

******

KHOA VĂN HÓA HỌC

NGUYỄN THÚY NGA

QUAN HỆ MẸ GHẺ- CON CHỒNG

TRONG VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC

Mã số: 60.31.70

Hướng dẫn khoa học: PGS TS Phan An

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 01 năm 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: bản luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS TS Phan An Nội dung trong luận văn

có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các sách báo, tạp chí

và các trang web theo danh lục tài liệu tham khảo

TP Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 01 năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Thúy Nga

Trang 4

Ngoài ra, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Trang 5

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

Dẫn nhập 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7

6 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu khảo sát 8

7 Cấu trúc đề tài 10

Chương 1 11

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 11

1.1 Một số vấn đề lý luận 11

1.1.1 Gia đình 11

1.1.2 Quan hệ văn hóa - văn học và hướng nghiên cứu văn hóa văn học 19

1.1.3 Khái quát về tiểu thuyết 22

1.2 Gia đình và những vấn đề nội hàm 24

1.2.1 Mâu thuẫn trong gia đình 24

1.2.2 Nguồn gốc quan hệ mẹ ghẻ-con chồng 27

1.2.3 Khái lược quan hệ mẹ ghẻ-con chồng trong một số bình diện văn hóa 34

Tiểu kết 42

Chương 2 43

TÍNH ĐA QUAN HỆ TRONG MỐI QUAN HỆ MẸ GHẺ-CON CHỒNG 43

2.1 Quan hệ mẹ ghẻ-con chồng trong tương quan với quan hệ giữa người vợ cả- người chồng-người vợ lẽ 43

2.2 Quan hệ mẹ ghẻ-con chồng trong tương quan với quan hệ giữa mẹ ghẻ-cha–con 64

2.3 Quan hệ mẹ ghẻ-con chồng trong tương quan với quan hệ con riêng–con chung 79

Tiểu kết 88

Chương 3 89

Trang 6

MẸ GHẺ VÀ THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM 89

3.1 Khái quát bối cảnh xã hội, văn hóa Việt Nam giai đoạn 1930-1945 89

3.2 Vai trò người phụ nữ trong gia đình đương thời 94

3.3 Mẹ ghẻ - hiện thân của số phận người phụ nữ Việt Nam 102

3.3.1 Mẹ ghẻ - nạn nhân của phong tục đa thê 102

3.3.2 Mẹ ghẻ - người phục tùng quan niệm trọng nam khinh nữ trong tục thừa tự 111

3.3.3 Mẹ ghẻ-hệ lụy của xã hội bị đồng tiền thống trị 120

Tiểu kết 129

KẾT LUẬN 131

TÀI LIỆU THAM KHẢO 135

PHỤ LỤC 143

Trang 7

Từ xưa dân gian đã có câu:

“Mấy đời bánh đúc có xương Mấy đời mẹ ghẻ lại thương con chồng”

Mẹ ghẻ-con chồng là mối quan hệ mang tính phổ quát, nó đã xuất hiện trong xã hội người Việt từ rất lâu và tồn tại cho đến ngày nay Từ khi xuất hiện trong xã hội truyền thống cho đến xã hội hiện đại thì nó vẫn mang trong mình những đặc điểm phức tạp vốn có Những người không có quan hệ họ hàng, những người không quen biết vẫn

có thể yêu thương nhau vậy nguyên nhân nào khiến người vợ và con của người chồng lại không thể hòa hợp Hy vọng qua đề tài “Quan hệ mẹ ghẻ-con chồng trong văn hóa người Việt” có thể góp phần lý giải sự hình thành, nguyên nhân tồn tại sâu rộng và

Trang 8

phức tạp của mối quan hệ mẹ ghẻ-con chồng trong xã hội người Việt từ góc nhìn văn hóa học

2 Mục đích nghiên cứu

Những mục đích đặt ra mong muốn được giải quyết trong đề tài này:

 Tái hiện được mối quan hệ mẹ ghẻ-con chồng trong xã hội Việt Nam giai đoạn 1930-1945 Đây là giai đoạn đánh dấu sự tác động mạnh mẽ của văn hóa phương Tây vào Việt Nam Đặc biệt trong giai đoạn này diễn ra sự đấu tranh mạnh mẽ giữa cái

cũ và cái mới, giữa phương Đông và phương Tây

 Lý giải những nhân tố tác động dẫn đến sự phổ biến và tính chất mối quan hệ

mẹ ghẻ-con chồng trong giai đoạn này

 Minh chứng được rằng hình ảnh người mẹ ghẻ không hoàn toàn mang ý nghĩa tiêu cực, đáng ghét Mẹ ghẻ cũng là người phụ nữ đáng thương và là đại diện cho thân phận của người phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn 1930-1945

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Các mảng đề tài về gia đình nói chung và văn hóa gia đình nói riêng đã và đang được quan tâm nghiên cứu rộng rãi những năm gần đây

 Nhóm các nghiên cứu về lý luận–thực tiễn gia đình:

Công trình Gia đình học (2007) của tác giả Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý đã trình bày khá đầy đủ các vấn đề lý luận về gia đình Nghiên cứu Gia đình và biến đối

gia đình ở Việt Nam (2011) của tác giả Lê Ngọc Văn đã trình bày được những biến

đổi của gia đình Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Các nghiên cứu sau này thường tập trung vào những những biến đổi trong cấu trúc và chức năng gia đình, gia đình Việt dưới tác động của công nghiệp hóa hiện đại hóa,… Đặc biệt vào ngày 29/11/2012,

trường đại học Văn hóa Hà Nội đã tổ cuộc hội thảo quốc tế “Thực tại và tương lai của

Trang 9

gia đình trong thế giới hội nhập” với hơn 70 bài tham luận của các chuyên gia, nhà

nghiên cứu trong và ngoài nước Nội dung các bài tham luận tập trung nghiên cứu vào

3 vấn đề chính đó là: (1) Các vấn đề lý luận về gia đình; (2) Thực trạng của gia

đình hiện nay, tập trung vào các vấn đề chính như vai trò của các thành viên trong gia

đình, việc thực hiện chức năng giáo dục của gia đình, hiện tượng ly hôn và tác động tiêu cực của nó tới gia đình, vấn đề hôn nhân trong xã hội hiện nay, mâu thuẫn giữa các

thế hệ trong gia đình, bạo lực gia đình ; (3) Sự biến đổi và sự phát triển của gia

đình trong tương lai tập trung nghiên cứu những biến đổi trong đời sống văn hoá gia

đình, biến đổi hệ giá trị trong gia đình truyền thống Bên cạnh đó nhiều bài tham luận phân tích những nguy cơ và thách thức mà gia đình đang phải đối mặt trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm định hướng xây dựng và phát triển gia đình trong tương lai

 Nhóm các công trình nghiên cứu về văn hóa gia đình: Văn hóa gia đình (1998)

của tác giả Vũ Ngọc Khánh, có thể nói đây là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu có tính hệ thống về văn hóa gia đình Giá trị lớn mà công trình này mang lại đó là đã khái quát và hệ thống hóa được những giá trị của văn hóa gia đình Việt Nam truyền thống Đặc biệt là những ảnh hưởng của Nho giáo đối với gia đình Việt

Ngoài ra còn có các công trình như Văn hóa gia đình và sự phát triển xã hội (1994)

của tác giả Lê Minh Đây là công trình tập hợp nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau nên giúp người đọc có được cái nhìn đa chiều về gia đình cũng như văn hóa gia đình

 Những nghiên cứu liên quan trực tiếp đến mối quan hệ mẹ ghẻ-con chồng không nhiều nhưng cũng đã có một vài nghiên cứu đáng lưu ý Trước hết, PGS.TS

Phạm Văn Tình với bài viết “Dì ghẻ hay kế mẫu” đăng trên Bản tin số 257 của trường

Đại học Quốc gia Hà Nội - Tháng 07/2012 Tuy không mang tính chuyên môn cao nhưng về cơ bản bài viết cũng giúp độc giả hiểu được nguồn gốc của tên gọi “dì ghẻ/mẹ kế” trong tiếng Việt Một nghiên cứu khác là đề tài khoa học của tác giả Đỗ

Trang 10

Thị Quỳnh với đề tài “Nguồn gốc của nhân vật dì ghẻ trong kiểu truyện Tấm Cám”

dưới sự hướng dẫn của PGS Chu Xuân Diên được thực hiện vào năm 2009 Mặc dù đây là một nghiên cứu mang tính khái lược nhưng kết quả nó mang lại cũng phần nào làm sáng tỏ được nguồn gốc của nhân vật dì ghẻ trong lịch sử nhân loại dựa vào các cứ liệu dân tộc học

Một công trình đáng chú ý nữa là luận án tiến sĩ của tác giả Oh Eun Chul với đề

tài “Đề tài gia đình trong “Gia đình”, “Thoát ly”, “Thừa tự” của Khái Hưng”

được bảo vệ tại trường Đại học sư phạm Hà Nội dưới sự hướng dẫn của GS Nguyễn Đình Chú vào năm 2008 Luận án đã đi sâu nghiên cứu về gia đình Việt Nam giai đoạn 1930-1945 thông qua những phản ánh trong tiểu thuyết của nhà văn Khái Hưng Trong công trình này tác giả luận án đã có phần không nhỏ đề cập đến mối quan hệ mẹ ghẻ-

con chồng ở mục “2.1.2 Sự xuất hiện ý thức và hành động chống lại hành vi độc ác của dì ghẻ trong gia đình phong kiến” Từ những tư liệu văn học cùng với sự liên hệ

thực tế của xã hội đương thời tác giả luận án đã có những phân tích sâu sắc về mối quan hệ mẹ ghẻ-con chồng trong những gia đình phong kiến Bên cạnh đó tác giả còn làm rõ sự xuất hiện kiểu gia đình mới, sự biến động phức tạp của gia đình đặc biệt là những gia đình phong kiến trong giai đoạn tiếp xúc với văn hóa phương Tây

Mối quan hệ mẹ ghẻ-con chồng là đề tài không mới đối với các ngành như: xã hội học, dân tộc học, tâm lý học, văn học-nghệ thuật… Nhưng cũng chưa có một công trình riêng biệt nào nghiên cứu về mối quan hệ này Có lẽ đây là nghiên cứu mang tính chất tiền đề trong việc tìm hiều mối quan hệ mẹ ghẻ-con chồng một cách riêng biệt và

hệ thống, đồng thời cũng là những nghiên cứu mở đầu cho vấn đề này từ góc nhìn của khoa học văn hóa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: những ứng xử trong mối quan hệ giữa người vợ kế và

con riêng của chồng

Trang 11

 Phạm vi nghiên cứu: Trong đề tài này, chúng tôi nghiên cứu biểu hiện của

mối quan hệ giữa mẹ ghẻ-con chồng được phản ánh qua những tiểu thuyết ra đời trong giai đoạn 1930-1945 Sở dĩ chúng tôi chọn khảo sát đối tượng nghiên cứu biểu hiện qua tiểu thuyết giai đoạn 1930-1945, có các lý do như sau:

 Chúng tôi nhận thấy đây là giai đoạn văn hóa-xã hội Việt Nam có nhiều biến động Đặc biệt là sự giao lưu văn hóa Đông-Tây trong bối cảnh xã hội phong kiến thực dân để lại nhiều điều đáng suy ngẫm đối với nền văn hóa Việt cho đến tận ngày nay

 Xét về đối tượng nghiên cứu, đây là giai đoạn mối quan hệ mẹ con chồng tồn tại phổ biến Vì trong xã hội lúc bấy giờ chế độ hôn nhân một chồng nhiều vợ được gia đình Việt cổ súy Do đó, mối quan hệ mẹ ghẻ-con chồng trong giai đoạn này biểu hiện một cách đa chiều hơn

ghẻ- Đây là giai đoạn tiểu thuyết phát triển cực thịnh và đã đạt được những thành tựu rực rỡ nhất với nhiều tác giả, tác phẩm đáng ghi nhận

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

 Ý nghĩa khoa học: Giúp người đọc hình dung được những biểu hiện của mối

quan hệ mẹ ghẻ-con chồng trong một giai đoạn xã hội nhất định Từ đó có thể mở rộng khái quát những biểu hiện đó cho những giai đoạn khác nhau và những nền văn hóa khác nhau Hơn nữa, kết quả luận văn có thể góp phần tìm ra hướng giải quyết sự phức tạp của mối quan hệ này trong xã hội hiện nay

 Ý nghĩa thực tiễn: Nếu thành công đề tài sẽ là nguồn tư liệu tham khảo cần

thiết cho những ngành khoa học có liên quan như Nhân học, Xã hội học, Dân tộc học, Tâm lý học… trong lĩnh vực nghiên cứu tìm hiểu những mối quan hệ gia đình có tính chất phức tạp tương tự như quan hệ mẹ chồng–con dâu, quan hệ cha dượng–con ghẻ, Ngoài ra, luận văn cũng sẽ góp phần giúp người đọc hiểu được nguyên nhân sâu xa của

Trang 12

đối tượng nghiên cứu Bên cạnh đó, sự nhìn nhận đối tượng từ góc nhìn văn hóa sẽ cho những kết quả mới Từ đó giúp người đọc có thể hiểu sâu sắc hơn về đối tượng và có thể đưa ra cách ứng xử riêng của mình

6 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu khảo sát

Phương pháp nghiên cứu: Với cách nhìn văn hóa như một hệ thống nên để

nghiên cứu được mang tính logic và khoa học thì phương pháp hệ thống cấu trúc được

sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ luận văn Xem văn hóa là một hệ thống chỉnh thể và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội là một hệ thống thành phần, phương pháp này giúp người nghiên cứu đặt các thành phần trong mối quan hệ biện chứng để nghiên cứu đối tượng một cách hiệu quả nhất

Phương pháp nghiên cứu văn hóa văn học: Phương pháp này chủ yếu dựa trên

nguồn tư liệu văn học để nghiên cứu về văn hóa Đây sẽ là phương pháp nghiên cứu chính được vận dụng xuyên suốt trong luận văn Phương pháp này giúp khảo sát tác phẩm từ nhiều khía cạnh, nhiều chiều, trên cơ sở đó sẽ phân tích cụ thể từng khía cạnh, chi tiết, để tìm ra những nét chính, cơ bản nhất của vấn đề

Để tiến hành nghiên cứu hiệu quả đề tài này, người thực hiện còn sử dụng

phương pháp nghiên cứu liên ngành Sử dụng phương pháp này để kết hợp tốt nhất

những kết quả nghiên cứu của các ngành khoa học liên quan như nhân học, xã hội học, dân tộc học, khoa học lịch sử, …

Phương pháp phân tích tổng hợp nhằm phân tích từng thành tố của văn hóa và

văn hóa ứng xử Phân tích đối tượng trên nhiều bình diện của văn hóa Sau đó tổng hợp lại để có cái nhìn tổng quát nhất về đối tượng

Tư liệu khảo sát: Nguồn tư liệu khảo sát chính của luận văn là các tiểu thuyết

mang đậm tính chất phong tục được ra đời trong bối cảnh xã hội giai đoạn 1930-1945

Cụ thể có 8 tiểu thuyết như sau:

Trang 13

1 Từ Ngọc 1936, tiểu thuyết Ngược dòng

2 Khái Hưng 1937, tiểu thuyết Thoát ly

3 Khái Hưng 1938, tiểu thuyết Thừa tự

4 Trần Tiêu 1938, tiểu thuyết Chồng con

5 Hồ Biểu Chánh 1939, tiểu thuyết Mẹ ghẻ con ghẻ

6 Mạnh Phú Tư 1940, tiểu thuyết Làm lẽ

7 Đỗ Đức Thu 1941, tiểu thuyết Đứa con

8 Mạnh Phú Tư 1942, tiểu Thuyết Nhạt tình

Sở dĩ chúng tôi lựa chọn những tiểu thuyết trên để khảo sát là vì các lý do sau đây: trước hết đó là những tiểu thuyết được ra đời trong giai đoạn 1930-1945 và những tác phẩm này cũng lấy xã hội giai đoạn 1930-1945 làm bối cảnh cho tác phẩm Thứ hai, nội dung các tác phẩm này có nội dung phản ánh được những khía cạnh khác nhau của mối quan hệ mẹ ghẻ-con chồng và những nhân tố tác động đến mối quan hệ đó Không chỉ vậy, hầu hết các tiểu thuyết trên đều nhận được sự đánh giá cao của các nhà nghiên cứu về tính hiện thực của nội dung tác phẩm Thứ ba, tác giả của những tiểu thuyết này đều là những nhà văn có vị thế quan trọng trong nền văn học nước nhà nói chung và trong giai đoạn 1930-1945 nói riêng Không chỉ vậy họ còn là những tác giả được giới nghiên cứu đánh giá cao ở thể loại tiểu thuyết phong tục Những phản ánh về đối tượng nghiên cứu trong những tác phẩm này có khả năng phản ánh được hiện thực trong xã hội đương thời, nhờ đó tạo nên tính thuyết phục cao hơn đối với người đọc

Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng một nguồn tư liệu quan trọng cho luận văn

là tục ngữ, ca dao, truyện cổ tích có phản ánh quan hệ mẹ ghẻ con chồng

Để phong phú hơn về nguồn tài liệu chúng tôi còn khai thác nguồn tài liệu thành văn của các tác giả có nghiên cứu liên quan đến đối tượng Các tài liệu đã được công

Trang 14

bố cũng như các tài liệu mang tính chất tham khảo Ngoài ra, người thực hiện còn tiến hành khai thác các bài nghiên cứu, các tài liệu được đăng tải trên các báo, tạp chí, internet,

Trang 15

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Một số vấn đề lý luận

1.1.1 Gia đình

1.1.1.1 Khái niệm gia đình

Gia đình xuất hiện từ rất sớm nhưng đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về khái

niệm gia đình Bởi lẽ “các xã hội và nền văn hóa khác nhau có những quy tắc khác nhau về việc nên tính ai là người trong gia đình và quan hệ cụ thể giữa các thành viên” [dẫn theo Mai Huy Bích 2010: 15] Không chỉ vậy gia đình còn là một định

nghĩa mang tính lịch sử Trải qua lịch sử phát triển xã hội, gia đình luôn có sự thay đổi

từ hình thái, cấu trúc cho đến chức năng để phù hợp Chính vì vậy gia đình là một định nghĩa mang tính chất động, khác nhau trong từng thời điểm, từng bối cảnh và góc nhìn của từng nhóm chủ thể

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình nhưng thật khó để có được sự thống nhất giữa các nền văn hóa khác nhau Như theo nhận định của nhà nghiên cứu

Tương Lai: “Không có loại gia đình đồng nhất, không có một gia đình giống nhau ở mọi nơi và mọi thời điểm… Những đặc điểm này có thể thay đổi không chỉ từ nền văn hóa này đến nền văn hóa khác mà còn từ gia đình này đến gia đình khác trong cùng một nền văn hóa” [Tương Lai 1996: 9] Do đó, chúng tôi không chọn một định nghĩa

cụ thể để áp dụng cho quá trình nghiên cứu mà qua quá trình phân tích các định nghĩa chúng tôi chọn ra những đặc trưng để nhận diện thế nào là một gia đình mà thôi

Theo định nghĩa của Từ điển xã hội học Oxford: “Gia đình là một nhóm thân thuộc hợp thành từ những người có liên hệ với nhau bằng những ràng buộc dòng máu, bạn tình hay những ràng buộc pháp luật” Theo nhà nghiên cứu Lê Ngọc Văn: “Gia đình là một nhóm người có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nghĩa dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung sống, có ngân

Trang 16

sách chung” [Lê Ngọc Văn 2011: 38] Nhìn chung các định nghĩa cho rằng điều kiện

cần để được gọi là gia đình khi có sự tồn tại của mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng và điều kiện đủ là những nhóm cá nhân đó phải phụ thuộc lẫn nhau về không gian sống và ngân sách sinh hoạt Các định nghĩa thường nhấn mạnh sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình với nhau Theo nghĩa thông thường, đã là gia đình thì mọi thành viên luôn sống trong cùng một nhà từ ông bà, cha mẹ cho tới con cháu Không chỉ vậy họ còn phụ thuộc vào nhau bởi nguồn ngân sách sinh hoạt Có lẽ trong thời đại quốc tế hội nhập như hiện nay thì việc các thành viên một gia đình không chung sống cùng nhau trong một không gian ngày càng trở nên phổ biến Nên tiêu chí cùng chung không gian sống và nguồn ngân sách sinh hoạt không còn thiết yếu để định nghĩa gia đình

Từ đó, chúng tôi lựa chọn và ủng hộ các định nghĩa có quan điểm cho rằng gia đình được tạo dựng và gắn kết với nhau bởi hai mối quan hệ chính đó là: quan hệ hôn nhân và huyết thống Bên cạnh đó có thể có hoặc không sự chung nhau về không gian sống và nguồn ngân sách sinh hoạt

1.1.1.2 Văn hóa gia đình

Tương tự như khái niệm gia đình, khái niệm văn hóa gia đình hiện nay cũng được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Tuy các định nghĩa không khác nhau về mặt bản chất nhưng phạm vi của nó thì còn nhiều ý kiến trái ngược nhau Khi nói đến văn hóa gia đình người ta thường hay nhắc đến thuần phong mỹ tục, nề nếp trong gia đình như:

tư cách, đạo đức, tác phong của người làm cha, làm mẹ, làm vợ, làm chồng; gia phong, gia quy, cách ứng xử giữa các thành viên trong gia đình với nhau; các phong tục diễn

ra trong phạm vi gia đình, Một cách khái quát, văn hóa gia đình được hiểu là biểu hiện cụ thể những giá trị văn hóa của quốc gia dân tộc trong một phạm vi nhất định, cụ thể là phạm vi gia đình Bên cạnh đó, nó cũng góp phần hình thành và làm phong phú thêm các giá trị bản sắc văn hóa của cả dân tộc Mỗi thành viên trong gia đình là chủ

Trang 17

nhân sáng tạo và gìn giữ những giá trị của văn hóa gia đình nói riêng và văn hóa dân tộc nói chung

Một số tác giả như Tạ Văn Thành, Vũ Ngọc Khánh định nghĩa văn hóa gia đình bằng cách liệt kê hàng loạt các yếu tố văn hóa thuộc phạm vi gia đình như: các mối quan hệ đạo lý, chuẩn mực, khuôn phép trong sinh hoạt, các quan hệ tình cảm vợ chồng, việc chăm sóc giáo dục con cái, việc thờ cúng tổ tiên, quan hệ giữa gia đình với các nhóm xã hội khác,… Những khái niệm theo hướng liệt kê trở nên quá rộng và có

xu hướng bao chứa tất cả các vấn đề, các hiện tượng có liên quan đến gia đình Mặc khác, phương pháp liệt kê các yếu tố không chỉ ra được những đặc trưng bản chất của khái niệm văn hóa gia đình, đồng nhất văn hóa gia đình với tất cả những biểu hiện của đời sống và sinh hoạt gia đình Một số nhà nghiên cứu khác như Lê Minh, Lê Như Hoa lại cho rằng văn hóa gia đình chỉ bao gồm những giá trị, chuẩn mực tốt đẹp của đời sống gia đình Ở đây văn hóa gia đình dùng để nói đến những cái đúng, cái tốt, cái đẹp, đối lập với những cái sai, cái không tốt, cái xấu Nhóm tác giả này cho rằng văn hóa gia đình là một mục tiêu tốt đẹp mà mỗi gia đình cần phải phấn đấu để đạt tới

Nhà nghiên cứu Lê Ngọc Văn cho rằng “Văn hóa gia đình là hệ thống những giá trị, chuẩn mực khu biệt đặc thù điều tiết mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và mối quan hệ giữa gia đình với xã hội, phản ánh bản chất của các hình thái gia đình đặc trưng cho các cộng đồng, các tộc người, các dân tộc và các khu vực khác nhau được hình thành và phát triển qua lịch sử lâu dài của đời sống gia đình, gắn liền với những điều kiện phát triển kinh tế, môi trường tự nhiên và xã hội” [Lê Ngọc Văn

2011; 66] Văn hóa gia đình cũng là một bộ phận của văn hóa dân tộc, nó cũng bao gồm tất cả những gì làm cho gia đình của cộng đồng người này, xã hội, dân tộc, khu vực này khác với gia đình của các cộng đồng, xã hội, dân tộc, khu vực khác Văn hóa dân tộc cũng được phản ánh qua những giá trị văn hóa gia đình Văn hóa gia đình Việt Nam truyền thống được hình thành trên cơ sở kết hợp giữa các yếu tố văn hóa bản địa

Trang 18

với hệ thống tư tưởng Nho giáo Trung Hoa và triết lý đạo Phật về gia đình Xã hội càng phát triển, sự giao lưu tiếp xúc văn hóa càng tăng lên Gia đình Việt Nam không chỉ tiếp xúc với mô hình gia đình Nho giáo mà sau này còn tiếp xúc với văn hóa phương Tây nên văn hóa gia đình Việt Nam cũng có sự tiếp thu những giá trị tích cực lẫn tiêu cực từ những nền văn hóa đó Nhưng trên con đường phát triển thì luôn có sự chọn lọc

để phát huy những giá trị tốt đẹp và hạn chế sự phát triển của các giá trị không phù hợp

1.1.1.3 Chức năng của gia đình

Gia đình đóng vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống của mỗi người và tầm quan trọng đó thể hiện qua những chức năng mà gia đình đảm nhận đối với mỗi cá nhân và toàn xã hội như sau:

Chức năng kinh tế: đóng vai trò tạo ra tài sản của cải để gia đình tồn tại và phát

triển Gồm 3 hoạt động cơ bản là kiếm sống tạo thu nhập; tiêu dùng; cung cấp lực lượng lao động và của cải cho xã hội Thực hiện chức năng sản xuất kinh tế nhằm tạo điều kiện vật chất đảm bảo sự tồn tại và nâng cao chất lượng sống cho các thành viên trong gia đình, đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao của xã hội Trong quá trình thực hiện chức năng kinh tế, gia đình không chỉ là đơn vị sản xuất kinh tế mà còn là đơn vị tiêu dùng sản phẩm Xét về một khía cạnh khác, chính chức năng sản xuất kinh

tế đã tạo nên sự bất bình đẳng trong gia đình Vì một khi thành viên nào trong gia đình tạo ra nguồn của cải, nguồn thu nhập chính cho gia đình thì sẽ có quyền quyết định mọi việc trong gia đình buộc mọi thành viên phải tuân theo

Chức năng duy trì nòi giống: Đây là một chức năng đặc biệt của gia đình mà

không thiết chế xã hội nào có thể thay thế được Chức năng này đảm bảo sự duy trì nòi giống của gia đình từ thế hệ này qua thế hệ khác và đảm bảo việc cung cấp nguồn lao động cho xã hội Mặc dù không cần có gia đình thì quá trình tái sản xuất con người vẫn

có thể được thực hiện nhưng chỉ khi có gia đình thì việc tái sản xuất con người mới được thực hiện một cách có tổ chức và thoát khỏi tính bản năng tự nhiên và mang tính

Trang 19

văn hóa cao hơn Dựa vào sự có hay không mối quan hệ hôn nhân giữa người cha và người mẹ để xác định những đứa con là con ngoài giá thú hay những đứa con hợp pháp

Xã hội và pháp luật truyền thống chỉ thừa nhận những đứa con được sinh ra từ những cặp vợ chồng mà mối quan hệ hôn nhân của họ đã được thừa nhận mà thôi Còn những đứa con ngoài giá thú thì sẽ bị xã hội phân biệt, miệt thị thậm chí có cả sự khinh rẻ và không thừa nhận Trong xã hội truyền thống với sự hà khắc của lễ giáo phong kiến thì những bậc cha mẹ sinh ra những đứa con như vậy sẽ mang trọng tội với gia tộc, làng xóm Chính vì vậy gia đình là nơi thực hiện chức năng tái sản xuất con người một cách hợp pháp và được xã hội thừa nhận

Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý và tình cảm: Đây được xem là chức

năng có tính văn hóa – xã hội của gia đình Nó đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống tinh thần đối với tất cả các thành viên trong gia đình Gia đình là nhóm xã hội đặc thù trong đó chứa đựng tình yêu thương, tình ruột thịt, lòng biết ơn giúp cho khả năng tái sản xuất sức lao động của con người được thực hiện một cách tốt nhất Đối với người Việt Nam, gia đình còn được gọi là tổ ấm – là nơi che chở, bảo bọc cho mọi thành viên trong gia đình mỗi khi họ gặp những khó khăn, thất bại trong cuộc sống

Chức năng giáo dục: đây là một trong những chức năng quan trọng của gia đình

Có thể nói những mầm mống ban đầu của nhân cách, sở thích, cách hành xử trong cuộc sống của mỗi con người đều được hình thành ngay từ trong gia đình Giáo dục trong gia đình thường thiên về giáo dục đạo đức, nhân phẩm, cách đối nhân xử thế trong gia đình và ngoài xã hội Do vậy gia đình trở thành một mắt xích quan trọng của hệ thống giáo dục xã hội Trong xã hội hiện nay, bản chất của giáo dục gia đình vẫn không thay đổi tuy nhiên về mức độ thực hiện thì có phần giảm đi khá nhiều Các gia đình gần như quá chú tâm vào việc thực hiện chức năng kinh tế để tạo ra của cải mà không còn nhiều thời gian cho việc giáo dục, bồi đắp tình cảm gia đình cho con trẻ Chính vì vậy, chức

Trang 20

năng giáo dục trong gia đình dần dần được chuyển sang cho nhà trường và các tổ chức

xã hội chuyên trách

Bên cạnh bốn chức năng cơ bản nêu trên gia đình còn đảm nhiệm những chức

năng khác cũng không kém phần quan trọng như chức năng văn hóa trong đó gia đình

là nơi bảo lưu truyền thống văn hóa của dân tộc Các phong tục tập quán của cộng đồng làng xã được thực hiện trước hết và chủ yếu trong gia đình rồi sau đó dần dần phổ biến trở thành những tục lệ của cả cộng đồng Gia đình không chỉ là nơi thực hiện mà

còn là nơi tạo nên các chuẩn mực và giá trị văn hóa mới Ngoài ra gia đình còn là một

đơn vị chính trị xã hội với nghĩa vụ thực hiện luật pháp của nhà nước và các tục lệ của làng xã Nếu không có gia đình thì pháp luật của nhà nước và luật lệ của làng sẽ rất khó

có hiệu lực trong thực tiễn

1.1.1.4 Các hình thái gia đình

Để phân loại hình thái gia đình có thể dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau, cụ thể như: phân chia theo trục thời gian, theo hôn nhân, theo phân chia quyền lực, theo cách tính dòng dõi, theo số lượng thành viên, số người tham gia vào hôn nhân, …

 Dựa vào trục thời gian: có Gia đình truyền thống và Gia đình hiện đại

Gia đình truyền thống: là hình thái gia đình xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử,

đã từng tồn tại phổ biến trong xã hội suốt một thời gian dài Có thể thấy gia đình truyền thống người Việt phần lớn chịu ảnh hưởng của Nho giáo nhưng vẫn giữ được những nét đặc trưng riêng của dân tộc mình Gia đình truyền thống trong xã hội Việt Nam thường có từ ba thế hệ trở lên sinh sống cùng nhau gồm: ông bà, cha mẹ và con cái Đối với gia đình truyền thống càng nhiều thế hệ sinh sống cùng nhau thì chứng tỏ rằng

đó là gia đình thịnh vượng, hạnh phúc “Một khi 5 thế hệ trong gia đình cùng chung sống dưới một mái nhà, hòa thuận cùng nhau, thì quan huyện sở tại phải ghi nhận và hàng năm báo cáo lên nhà Vua để được ban thưởng.” [Nguyễn Thừa Hỷ 2011: 141]

Trang 21

Gia đình hiện đại là kiểu gia đình được hình thành và tồn tại chịu ảnh hưởng của

văn minh công nghiệp Gia đình hiện đại thường có cấu trúc mở, không có bất cứ quy định nào về số lượng thành viên sinh sống trong gia đình Con cái khi đến tuổi trưởng thành nếu chúng muốn có thể sống chung với cha mẹ hoặc sống tự lập bên ngoài Cấu trúc gia đình hiện đại có phần gọn nhẹ hơn nhưng nó cũng đang đứng trước nguy cơ

“lỏng lẻo hóa” các mối quan hệ trong gia đình, dòng tộc

 Dựa vào số thế hệ trong gia đình: Gia đình hạt nhân và gia đình mở

rộng

Gia đình hạt nhân: là gia đình thường có hai thế hệ sinh sống cùng nhau gồm

một cặp vợ chồng và con cái chưa kết hôn của họ Đây là kiểu gia đình phổ biến trong

xã hội ngày nay Trước đây nó là đơn vị gia đình nhỏ nhất nhưng ngày nay đã xuất hiện nhiều hình thái gia đình có phạm vi hẹp hơn nữa như gia đình cha/mẹ đơn thân, gia đình góa phụ, gia đình khuyết thiếu, …

Gia đình mở rộng: gồm có mở rộng theo chiều dọc bao gồm các thành viên của

thế hệ thứ 3 trở lên (như bố mẹ chồng hoặc bố mẹ vợ) hay mở rộng theo chiều ngang (vợ chồng của anh chị em) Gia đình mở rộng của người Việt thường có từ ba đến bốn thế hệ cùng nhau chung sống Đôi khi gia đình mở rộng không chỉ có những người cùng quan hệ huyết thống mà còn có cả những thành viên khác trong gia đình, trong dòng tộc cùng chung sống với nhau

 Dựa vào cách tính người chủ gia đình: Gia đình mẫu hệ và gia đình phụ

hệ

Gia đình mẫu hệ: Đây là hình thái gia đình tồn tại vào buổi đầu của lịch sử loài

người Đối với hình thái gia đình này đứa trẻ sinh ra được tính theo dòng dõi người mẹ Hiện nay, kiểu gia đình này vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi như châu Phi, Nam Mỹ, đồng bào thiểu số ở Việt Nam như Chăm, Êđê, Gia rai, Raglai, Chu ru… Trong gia đình mẫu

hệ, người mẹ và những người con gái có được quyền cao hơn trong việc thừa kế tài sản,

Trang 22

quyền kết hôn và quyền quyết định những việc quan trọng trong gia đình, Đặc biệt trong gia đình mẫu hệ, hầu hết các thế hệ thành viên nữ trong gia đình sau khi có chồng thì cùng chồng chung sống với gia đình mình chứ không có sự tách riêng hay sinh sống với gia đình chồng

Gia đình phụ hệ: Trong gia đình phụ hệ con sinh ra được tính theo dòng dõi

người cha và mang họ cha Họ hàng bên bố (họ “nội” là trong) được coi là gần gũi, có quan hệ huyết thống sâu sắc hơn so với họ hàng người mẹ (họ “ngoại” là ngoài) Trong gia đình phụ hệ thì người đàn ông có vai trò quyết định những công việc quan trọng của gia đình, người vợ chỉ là người đóng góp ý kiến và thực hiện những quyết định của người chồng

 Dựa vào quan hệ hôn nhân: Gia đình đa hôn và gia đình đơn hôn

Gia đình đơn hôn: là gia đình chỉ tồn tại duy nhất một mối quan hệ hôn nhân

trong một gia đình Hiện nay, loại hình gia đình này tồn tại phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Pháp luật và xã hội tuyệt đối không thừa nhận nhiều hơn một quan hệ hôn nhân cùng một lúc hoặc sự chung sống của những người đã có gia đình với một người khác như vợ chồng Tuy nhiên sau khi cả người vợ và người chồng đều đồng ý

và tự nguyện chấm dứt hôn nhân thì họ đều có quyền thiết lập mối quan hệ hôn nhân

với một người khác Đó được gọi là tái hôn, các nhà xã hội học phương Tây gọi là “chế

độ nhiều lần lấy một vợ một chồng” [Mai Bích Huy 2011: 64]

Gia đình đa hôn: là hình thái gia đình có từ ba người trở lên tham gia vào mối

quan hệ hôn nhân Nghĩa là sẽ có hai trường hợp xảy ra, hoặc có nhiều người đàn ông tham gia vào quan hệ hôn nhân với một người phụ nữ, được gọi là chế độ đa phu; Hoặc một đàn ông có mối quan hệ hôn nhân với nhiều người phụ nữ và được gọi là chế độ đa thê

Trên đây là cách phân chia gia đình dựa vào những tiêu chí nhất định Nhưng nhìn chung những hình thái gia đình tồn tại phổ biến trong thực tế xã hội hiện nay gồm

Trang 23

có: gia đình hạt nhân, gia đình phụ hệ, gia đình khuyết thiếu, gia đình tái tổ chức… Bên cạnh kiểu thức gia đình truyền thống một vợ một chồng thì ngày nay còn xuất hiện

các kiểu thức gia đình mới như “gia đình chỉ có một mẹ hoặc một cha, gia đình tái hôn, nam nữ sống chung mà không cưới, vợ chồng không có con; mẹ kế, cha dượng; cha mẹ

và con nuôi; gia đình mở rộng hoặc đa thế hệ; đa thê (hoặc đa phu); gia đình đồng tính luyến ái…” [Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý 2007: 25]

Trong đó trọng tâm đề tài đi sâu nghiên cứu mô hình gia đình đa hôn, gia đình tái

hôn có sự tồn tại của mối quan hệ mẹ ghẻ-con chồng Gia đình tái hôn hay còn được

gọi với những tên gọi khác như gia đình tái tổ chức, gia đình ghép nối,… Gia đình tái hôn là loại hình gia đình trong đó có ít nhất một người đã từng tham gia vào mối quan

hệ hôn nhân với một người khác trước đó nay đã chấm dứt Gia đình tái hôn sẽ bao gồm nhiều mối quan hệ và tính chất các mối quan hệ cũng phức tạp hơn so với những gia đình kết hôn lần đầu Ngoài mối quan hệ hôn nhân giữa người vợ và người chồng còn có quan hệ giữa người vợ với con riêng của chồng (quan hệ mẹ ghẻ - con chồng), quan hệ giữa người chồng với con riêng của vợ (quan hệ cha dượng - con vợ), mối quan hệ giữa các anh em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha và mối quan hệ cùng cha mẹ, quan hệ giữa bà con dòng tộc của cha mẹ mới và cha mẹ ruột, …

1.1.2 Quan hệ văn hóa - văn học và hướng nghiên cứu văn hóa văn học

Tác giả Trần Ngọc Thêm đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội” [Trần Ngọc Thêm 2006: 25] Theo định nghĩa này, văn hóa là một hệ thống bao

gồm nhiều yếu tố cấu thành thì văn học sẽ là một bộ phận trong hệ thống đó Cùng tồn tại trong một hệ thống thì giữa các yếu tố thành phần luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau

Trang 24

Xét về mối quan hệ giữa văn học và văn hóa, chúng ta nhận thấy văn học là một phần của văn hóa, thuộc về văn hóa; đồng thời cũng có sự chi phối ảnh hưởng của văn học đến văn hóa Văn học bằng những công cụ đặc thù của mình phản ánh những đặc trưng văn hóa trong những bối cảnh xã hội từ đó góp phần điều chỉnh, định hướng văn hóa chống lại những cái xấu và phát huy những đặc điểm tích cực Chính vì vậy văn học có vai trò quan trọng trong việc phản ánh, lựa chọn, phê phán và sáng tạo văn hóa

Có thể thấy rằng không có tác phẩm văn học nào không chứa đựng trong đó ít nhất một đặc trưng văn hóa của dân tộc Khi xem xét văn học trong mối quan hệ với văn hóa, các nhà nghiên cứu đều cho rằng văn học có vai trò quan trọng trong việc phản ánh, lựa chọn, phê phán và sáng tạo văn hóa Tác phẩm văn học không phải là một tấm gương phản ánh toàn bộ đời sống văn hóa mà văn học phản ánh một cách có chọn lọc những vấn đề mang tính xã hội, những đề tài có tính thời sự hay những đề tài về những đặc trưng văn hóa vùng miền,…

Văn hóa được hình thành trong một bối cảnh xã hội nhất định và được tạo nên bởi những chủ thể của nền văn hóa đó Do vậy, các giá trị văn hóa sẽ mang trong mình những nét đặc trưng của từng giai đoạn lịch sử, từng tộc người cụ thể Hơn nữa, các giá trị văn hóa vừa có tính ổn định, tồn tại từ thế hệ này qua thế hệ khác tạo nên những giá trị truyền thống nhưng cũng vừa có sự biến đổi tạo ra những giá trị mới nhằm thích nghi với điều kiện thực tế khi có sự tác động của những yếu tố khách quan bên ngoài Như vậy, văn hóa và các tác phẩm văn học trong một thời đại nhất định luôn có

sự tác động qua lại lẫn nhau Văn hóa phần nào quy định đến chủ đề, nội dung, thể loại sáng tác của các tác phẩm văn học Các tác phẩm văn học phản ánh những nét đặc

trưng văn hóa gắn với bối cảnh nó được ra đời Như Bakhtin đã cho rằng: “văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa và không thể hiểu nó bên ngoài bối cảnh văn hóa tổng thể của một thời đại cụ thể” [Nguyễn Văn Hiệu dịch, 2006] Như vậy ta

có thể đặt các tác phẩm văn học vào một bối cảnh văn hóa cụ thể để hiểu một cách sâu

Trang 25

sắc hơn về những tác phẩm đó Ngược lại để hiểu rõ hơn những đặc điểm văn hóa trong một giai đoạn nhất định thì các tác phẩm văn học cũng là một nguồn cứ liệu phong phú và đáng tin cậy

Bên cạnh những cách tiếp cận văn hóa qua lịch sử học, xã hội học, nhân học, dân tộc học,… thì nghiên cứu văn hóa qua nguồn tư liệu văn học cũng giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về một đặc điểm văn hóa hay một thời kỳ văn hóa nào đó Một khuynh hướng văn học bao giờ cũng xuất hiện trên cơ sở những tiền đề xã hội nhất định Chẳng hạn, khi xem xét văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945, chúng ta có thể nhận thấy rõ sự xâm nhập của văn hóa phương Tây vào xã hội Việt Nam ở thời kỳ này hoặc thấy được khoảng cách văn hóa giữa phương Tây và phương Đông; hay sự mâu thuẫn trong gia đình và các giai cấp trong xã hội, sự bần cùng của người nông dân trong xã hội Việt Nam khi có sự tiếp biến giữa truyền thống và hiện đại, giữa cái cũ và cái mới, giữa phương Tây và phương Đông… đều được phản ánh một cách sinh động qua những sáng tác của các nhà văn có sáng tác mang tính hiện thực trong giai đoạn này như: Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Hồ Biểu Chánh, nhóm Tự lực văn đoàn…

Những mâu thuẫn gia đình, dân tộc và mâu thuẫn giai cấp trong xã hội Việt Nam thời kỳ 1930-1945, những ảnh hưởng qua lại trên lĩnh vực ý thức hệ những tác phẩm hiện thực chủ nghĩa trong các thế kỷ trước và trong thời kỳ cận đại, đó là những tiền đề khách quan giúp cho khuynh hướng văn học hiện thực phê phán hình thành và phát triển Xã hội thực dân phong kiến ở nông thôn cũng như thành thị ngày càng bộc lộ những xung đột đang ở giai đoạn cao trào Đặc biệt trên lĩnh vực gia đình cũng tồn tại không ít mâu thuẫn gay gắt khi những giá trị văn hóa phương Tây có phần không phù hợp với gia đình truyền thống Việt Nam vậy mà nó vẫn đang ngày càng ăn sâu vào không ít gia đình phá vỡ đi những giá trị vốn có của gia đình người Việt Sự không phù hợp này đã làm cho gia đình đối mặt với những biến đổi gây nên sự xung đột mạnh mẽ

Trang 26

giữa các thế hệ Đặc biệt mối quan hệ giữa mẹ kế-con chồng trong giai đoạn này cũng

có những đặc điểm khác biệt Người phụ nữ trong gia đình nói chung và người mẹ kế trong những gia đình phong kiến nói riêng đang bị “Tây hóa” khiến cho họ có lối sống, lối hành xử hoàn toàn khác so với truyền thống Dựa vào những cứ liệu văn học, kết hợp với nghiên cứu về những vấn đề có liên quan để thấy được đặc trưng của mối quan

hệ mẹ ghẻ-con chồng trong giai đoạn này Ngoài ra còn thấy được sự tương đồng, khác biệt của đối tượng nghiên cứu trong giai đoạn này với những giai đoạn khác trong tiến trình văn hóa Việt Nam

Trên tinh thần đó, việc căn cứ vào những dữ liệu văn học để tìm hiểu về những đặc điểm văn hóa của một thời đại là hoàn toàn có cơ sở Thực tiễn văn học có thể cung cấp những cứ liệu đáng tin cậy cho khoa học nghiên cứu văn hóa Giữa văn học

và văn hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau nên hướng nghiên cứu văn hóa văn học

là một hướng đi cần thiết và có triển vọng

1.1.3 Khái quát về tiểu thuyết

Tiểu thuyết là một thể loại cũng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên địa hạt văn học Việt Nam nói chung Tên gọi “tiểu thuyết” xuất hiện trong thư tịch Trung Quốc từ rất sớm nhưng ở Việt Nam vào khoảng đầu thể kỷ XX tiểu thuyết mới xuất hiện một cách chính thức Tuy nhiên mầm mống tiểu thuyết cũng đã bắt đầu xuất hiện

ở những thế kỷ trước đó Tiêu biểu như Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái và

Thánh Tông di thảo vào khoảng thế kỷ XIV - XV; Truyền kỳ mạn lục vào khoảng

thế kỷ XVI… Đặc biệt là sự ra đời của Hoàng Lê nhất thống chí đã đánh dấu bước

ngoặt quan trọng cho sự ra đời của tiểu thuyết Cho đến những thập niên đầu của thế kỷ

XX, tiểu thuyết mới được hình thành theo đúng nghĩa của nó với những sáng tác của các nhà văn tiêu biểu như Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Trọng Thuật, Hồ Biểu Chánh, Đặc biệt giai đoạn 1930-1945 đánh dấu mốc thời kỳ phát triển cực thịnh của tiểu thuyết

Trang 27

Trong văn xuôi thường có các thể loại như: bút ký, truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài Tiểu thuyết được hiểu theo nghĩa thông dụng là câu chuyện dài Có thể

hiểu tiểu thuyết theo khái niệm: “Tiểu thuyết là một thể loại lớn nằm trong phương thức tự sự có khả năng phản ánh hiện thực đời sống một cách bao quát ở mọi giới hạn không gian và thời gian, khả năng khám phá một cách sâu sắc những vấn đề thuộc về thân phận con người thông qua những tính cách đa dạng, phức tạp và khả năng tái hiện những bức tranh mang tính cách đa dạng, phức tạp và khả năng tái hiện những bức tranh mang tính tổng thể rộng lớn về đời sống xã hội” [Hà Minh Đức 2008: 236]

Các khái niệm truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài và tiểu thuyết thực chất là các tên gọi khác nhau của một loại hình văn học Các thuật ngữ này trong văn học Việt Nam hoàn toàn đồng nghĩa với các thuật ngữ đoản thiên tiểu thuyết, trung thiên tiểu thuyết và thiên tiểu thuyết trong văn học Trung Quốc Tên gọi giữa các khái niệm này

chỉ nhằm phân biệt chúng về dung lượng: “Từ truyện đến tiểu thuyết là hai giai đoạn phát triển của cùng một loại hình văn học Trong Tiếng Việt hiện đại, người ta dùng thuật ngữ “tiểu thuyết” để chỉ các tác phẩm truyện có quy mô lớn, còn quy mô nhỏ và vừa vẫn gọi là truyện nhưng thực chất vẫn là một.” [Trần Đình Sửu 2012: 292]

 Đặc trưng của tiểu thuyết

Đặc trưng trước hết của tiểu thuyết đó là phản ánh cuộc sống mang tính chất cá nhân, đời tư Đây là đặc trưng nhằm phân biệt tiểu thuyết với các thể loại có dung lượng tương đương với tiểu thuyết đó là Sử thi – phản ánh lịch sử dân tộc Những niềm vui, nỗi buồn, những bi kịch, hay sự đau khổ, bất hạnh là nguồn cảm hứng sáng tác

của các nhà tiểu thuyết Có nhận định cho rằng: “Không quá vô lý khi nhiều người cho rằng, tiểu thuyết bao giờ cũng xoay quanh phạm vi đời tư: tình yêu, hôn nhân gia đình, dòng họ ” [Hà Minh Đức 2008: 241-242] Sự hấp dẫn của tiểu thuyết thể hiện ở khả

năng xoáy sâu khai thác những biến cố của đời sống cá nhân Giá trị của tiểu thuyết còn thể hiện ở khả năng đi sâu vào những cảnh ngộ riêng mang tính chất tiêu biểu của

Trang 28

từng cá nhân hoặc những biến cố trong phạm vi gia đình mang tính chất điển hình Tóm lại, tiểu thuyết là thể loại văn học có nội dung xoay quanh để tài về đời tư thế sự,

đề tài tình yêu, bi kịch gia đình hay bi kịch cá nhân

Đặc trưng thứ hai của tiểu thuyết đó là tính chất hiện thực Các nhà tiểu thuyết thường miêu tả cuộc sống một cách gần gũi, phản ánh hiện thực một cách sâu sắc Các tiểu thuyết được ra đời dựa vào sự phản ánh những hiện tượng có thực trong xã hội Các nhân vật trong tiểu thuyết là những con người của sự trải nghiệm chứ không phải mẫu người lý tưởng, hình mẫu anh hùng hay những con người hành động, đó là đặc trưng thứ ba của thể loại tiểu thuyết Các nhân vật trong tiểu thuyết cũng có thể được tạo nên từ những mẫu người có thật trong đời sống kết hợp với sự tổng hợp sáng tạo theo cách riêng của tác giả Do vậy, sự từng trải, kinh nghiệm sống của bản thân nhà tiểu thuyết đóng vai trò rất quan trọng trong việc khắc họa thành công các nhân vật tiểu thuyết Bên cạnh đó, tiểu thuyết còn có các đặc trưng khác như: phần thành công của tiểu thuyết được đánh giả ở sự khắc họa tính cách nhân vật chứ không nằm ở cốt truyện; sự hóa thân của người trần thuật vào nội dung được phản ảnh khiến cho các tác

phẩm tiểu thuyết mang tính dân chủ cao Như vậy “Tiểu thuyết là thể loại tự sự dân chủ, năng động và giàu khả năng phản ánh đời sống nhiều mặt bậc nhất trong các thể loại văn học” [Trần Đình Sửu 2012: 307]

1.2 Gia đình và những vấn đề nội hàm

1.2.1 Mâu thuẫn trong gia đình

Mâu thuẫn là một hiện tượng mang tính tất yếu tồn tại trong mọi thể chế xã hội

và chính mâu thuẫn là động lực của sự phát triển Gia đình cũng là một tổ chức xã hội thu nhỏ vì vậy gia đình cũng luôn tiềm ẩn những mâu thuẫn giữa các thế hệ, giữa các

thành viên với nhau “Trong một gia đình có thể có sự khác nhau thậm chí đôi khi là đối lập nhau về nghề nghiệp, trình độ văn hóa, thu nhập, địa vị xã hội, sở thích, khoảng cách thế hệ, phân công lao động trong gia đình, quyền lợi về tài sản… khiến

Trang 29

cho các mối quan hệ trong gia đình cũng luôn đứng trước những mâu thuẫn, xung đột xảy ra bất cứ lúc nào.” [Lê Thị Quý 2011: 201]

 Bản chất mâu thuẫn trong gia đình

Vấn đề quyền thế trong gia đình: Mặc dù gia đình luôn đề cao sự dân chủ nhưng

các thành viên trong gia đình cũng được chia thành những nhóm cá nhân đối lập nhau một cách vô hình Trong gia đình có thể hình thành hai nhóm cá nhân cơ bản đó là nhóm nắm giữ quyền lực và nhóm phụ thuộc Nhóm nắm giữ chủ yếu quyền lực thường là những người chủ gia đình, những người có vai trò quyết định mọi việc, những người tạo ra của cải và nắm quyền về kinh tế,… Còn những người phụ thuộc là những thành viên không có khả năng độc lập về kinh tế, không có vai trò quyết định trong gia đình hoặc đối tượng chưa đến tuổi lao động, không còn sức lao động…

Trong xã hội phong kiến khi gia đình chịu sự tác động của mô hình gia đình Nho giáo thì vai trò của người chủ gia đình được đề cao tuyệt đối Mọi việc trong gia đình đều do người chủ gia đình quyết định, các thành viên còn lại phải thực hiện theo mà không có bất kỳ quyền bày tỏ ý kiến nào Do vậy không tránh khỏi những mâu thuẫn, bất đồng xảy ra giữa hai bên Những mâu thuẫn đó có thể dừng ở những bất đồng nhỏ trong nội bộ gia đình nhưng nếu không được giải quyết triệt để và cứ tiếp diễn từ thế hệ này qua thế hệ khác thì chắc hẳn nó sẽ dẫn đến những xung đột gây hệ quả khó lường

có thể xảy ra

Sự tranh chấp về quyền lợi: Mỗi thành viên trong gia đình đều có những quyền

và nghĩa vụ khác nhau Quyền lợi của mỗi thành viên không giống nhau và luôn tồn tại

sự mất cân bằng tương đối Trong gia đình, quyền lợi có thể là sự thừa hưởng tài sản từ cha mẹ để lại như đất đai, của cải, nhà cửa,… hoặc có thể là vị thế có sự ảnh hưởng trực tiếp đến các thành viên còn lại trong gia đình Điểm đặc biệt về việc thừa kế trong gia đình là thường dựa trên mối quan hệ tình cảm Việc thừa kế nhiều hay ít phụ thuộc vào tình cảm của người để lại thừa kế đối với từng thành viên trong gia đình Đôi khi

Trang 30

do tuân theo luật tục đã trở thành quy cũ như con trưởng hoặc con út sẽ được thừa kế phần nhiều hơn,… Điều đó tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể nhưng phần lớn đều

là do sự tự nguyện giữa bên cho và bên thừa hưởng chứ không có bất cứ sự ràng buộc nào Do vậy với một số gia đình, sự kế thừa không làm thỏa mãn các thành viên cũng dẫn đến những mâu thuẫn và xung đột cũng có thể nảy sinh Một khi những mâu thuẫn xảy ra dẫn đến xung đột trong gia đình thì hậu quả sẽ rất khó lường

Sự khác biệt về khoảng cách thế hệ: Có lẽ chiếm tỷ lệ lớn nguyên nhân gây ra các

mâu thuẫn trong gia đình chính là sự khác biệt về khoảng cách giữa các thế hệ Mỗi thế

hệ có một cách hiểu, cách nhìn nhận khác nhau về mọi việc xung quanh Đặc biệt, ở mỗi lứa tuổi khác nhau sẽ có sự khác nhau về thói quen sinh hoạt, sở thích, cách ứng

xử, cách nhìn nhận vấn đề,… Từ đó mâu thuẫn giữa những thành viên thuộc các thế hệ khác nhau rất có thể xảy ra như mâu thuẫn giữa cha mẹ với con cái, giữa ông bà với con cháu, giữa anh chị em với nhau,… Bên cạnh đó sự phân biệt, đối xử giữa các thành viên trong gia đình như giữa con ruột và con nuôi, giữa con trai và con gái, giữa cha

mẹ vợ và cha mẹ chồng,…cũng khiến cho những mâu thuẫn nảy sinh dẫn đến xung đột

có thể xảy ra Nhìn chung một số mâu thuẫn mang tính phổ biến và để lại những hậu quả khó lường cho gia đình và xã hội đáng quan tâm là: mâu thuẫn vợ - chồng, mẹ chồng - con dâu, chị dâu - em chồng, mẹ ghẻ - con chồng, cha dượng – con vợ,… Cuộc sống với nhiều áp lực như hiện nay, nó đã khiến cho quan hệ giữa các thành viên trong gia đình đối mặt với nhiều nguy cơ dẫn đến những mâu thuẫn Từ việc đảm bảo điều kiện kinh tế cho gia đình, chăm sóc giáo dục con cái, ổn định công việc phát triển sự nghiệp,… Tất cả những áp lực đó bản thân mỗi người vợ hay người chồng đều phải trải qua Trong cuộc sống nếu vợ chồng không thể hiểu thông cảm cho nhau thì mâu thuẫn rất dễ có thể xảy ra dẫn đến những xung đột Từ đó cũng dẫn đến những biểu hiện tiêu cực của các mối quan hệ trong gia đình, sự gia tăng của hiện tượng ly

Trang 31

hôn, sự xấu đi trong các mối quan hệ cha con, anh em, trong đó phổ biến nhất vẫn là những mâu thuẫn trong mối quan hệ vợ chồng

1.2.2 Nguồn gốc quan hệ mẹ ghẻ-con chồng

1.2.2.1 Lịch sử hình thành gia đình

Trong phần này chúng tôi xin tóm lược về lịch sử hình thành và tiến trình phát triển của gia đình qua các giai đoạn xã hội Một trong những khó khăn của quá trình này là những tài liệu nghiên cứu về gia đình thời kỳ sơ khai còn quá hạn chế thậm chí

là không có tài liệu nào nghiên cứu hay ghi chép một cách chính xác về giai đoạn đó

Để thực hiện được việc này chúng tôi dựa vào nguồn tư liệu của các ngành khoa học có liên quan như Lịch sử, Dân tộc học, Nhân học, Triết học,… nghiên cứu về các giai đoạn phát triển lịch sử nhân loại nói chung và những tiểu mục nghiên cứu về gia đình nói riêng thì cũng mang lại những kết quả đáng tin cậy Nhìn chung các nguồn tài liệu đều dựa vào 5 giai đoạn phát triển của lịch sử loài người để từ đó phân chia các giai đoạn phát triển của gia đình

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng gia đình xuất hiện từ rất sớm Ngay từ buổi đầu khi con người ở vào thời kỳ mông muội nhất thì đã xuất hiện sự sinh sống quần cư và mối quan hệ giao phối, sinh con đẻ cái Khi xã hội loài người ở vào thời kỳ công xã nguyên thủy thì con người sống theo bầy đàn Sự phân chia sản phẩm lao động trong thời kỳ này được tính theo chủ nghĩa bình quân đầu người, nghĩa là của cải làm ra đều thuộc sở hữu chung và mọi thành viên có nhu cầu đều có quyền sử dụng những của cải

đó như nhau Đời sống tính dục diễn ra là sự tạp giao một cách ngẫu nhiên giữa giống đực và giống cái Còn về quá trình hình thành dòng tộc thì thế hệ sau luôn được tính theo mối liên hệ dòng dõi của người mẹ Bởi lẽ trong xã hội lúc bấy giờ, quan hệ tính giao giữa nam và nữ mang nặng tính tự nhiên và khi người phụ nữ sinh con thì đứa con chỉ biết dòng dõi họ mẹ chứ không biết cha mình là ai nên không có bất cứ mối liên hệ nào với dòng dõi phía người cha Phụ nữ là người làm gia tăng sức mạnh của bộ lạc

Trang 32

bằng cách gia tăng số lượng các thành viên, chăm lo giáo dục thế hệ sau, chăm lo cuộc sống cho cả bộ tộc Như vậy trong xã hội công xã nguyên thủy, xã hội loài người tồn tại thành từng nhóm nhỏ và đó chính là thị tộc, bộ lạc

Cho đến khi trình độ sản xuất trong trồng trọt và chăn nuôi phát triển khiến cho khối lượng sản phẩm dư thừa tăng lên đáng kể Cũng chính từ đây làm xuất hiện tư tưởng chiếm đoạt tài sản chung cho một nhóm cá nhân là những người nắm giữ quyền lực, thường là những trưởng thị tộc, bộ lạc Khi của cải có sự tư hữu thì trong bộ lạc xuất hiện những mâu thuẫn khiến con người cũng nảy sinh nhu cầu sở hữu lẫn

nhau.“Chính sự chiếm hữu con người đã tạo ra gia đình (…) Nguồn gốc tạo ra gia đình như Engel đã nêu lên, không phải bởi tình yêu nam nữ đơn thuần mà bởi sự hình thành chế độ tư hữu và nhà nước cùng có sự phân chia đẳng cấp, giới ngày càng sâu sắc” [Lê Thị Quý 2011: 27] Như vậy mầm mống gia đình đã được hình thành từ khi

xã hội xuất hiện chế độ tư hữu và có sự đối kháng giai cấp Từ đó cho đến nay gia đình trải qua những hình thức cơ bản sau:

+ Gia đình huyết tộc: loại hình gia đình này chưa có tổ chức chặt chẽ và hoàn

toàn mang tính bản năng Gia đình huyết tộc dựa trên cơ sở sự quần hôn giữa các anh

chị em ruột và anh chị em trong cùng dòng họ “Trên thực tế thì gia đình huyết tộc đã tiêu vong từ lâu rồi Ngay ở những thời mông muội nhất mà lịch sử nói đến cũng không cung cấp cho chúng ta những ví dụ xác đáng về hình thức gia đình đó Nhưng hình thức gia đình đó nhất định đã tồn tại” [Dẫn theo Lê Trọng Ân 2004: 40] Những nguy

cơ do gia đình huyết tộc gây ra đối với chất lượng nòi giống ngày càng trở nên phổ biến Chính điều này là động lực thúc đẩy một loại hình gia đình mới ra đời

+ Gia đình Punaluan: là gia đình có “Chung chồng, chung vợ với nhau trong

phạm vi một gia đình nhất định, nhưng phải loại trừ những anh em trai của các người vợ; mặt khác, cũng phải loại trừ cả những chị em gái của các người chồng” [Dẫn theo

Lê Trọng Ân 2004: 42] Gia đình Punaluan dựa trên sự quần hôn giữa vài chị em ruột

Trang 33

Hoặc có thể là vài chị em họ với những người chồng của mỗi người trong số chị em đó

mà những người chồng chung không nhất thiết phải có quan hệ thân thuộc với nhau Hoặc giữa anh chị em ruột, anh chị em họ với vợ của những anh em đó mà những người vợ không nhất thiết phải có quan hệ huyết thống với nhau

+ Gia đình đối ngẫu hay còn gọi Gia đình cặp đôi: là loại hình gia đình “trong

số vợ rất đông của mình, người đàn ông có một vợ chính và trong số nhiều người chồng khác, anh ta là người chồng chính của người đàn bà ấy” [dẫn theo Lê Trọng Ân

2004: 48-49] Gia đình đối ngẫu có tính bền vững yếu vì người chồng sinh sống với người vợ chính trong một thời gian nhất định và giữa họ không có sự chung nhau về cơ

sở kinh tế hay bất cứ của cải nào Do đó mối quan hệ vợ chồng có thể do một trong hai bên chủ động kết thúc và khi đó con cái vẫn thuộc về dòng họ bên người mẹ

+ Gia đình phụ hệ: Gia đình phụ hệ hay còn được gọi gia đình gia trưởng là gia

đình gồm người chồng gắn kết bằng quan hệ hôn nhân với những người vợ khác nhau

Họ cùng nhau chung sống với những đứa con được sinh ra từ những mối quan hệ hôn nhân đó Tất cả những người con đó đều có chung một người cha và đều được tính theo dòng họ cha

+ Gia đình một vợ một chồng: là gia đình dựa trên quan hệ hôn nhân giữa một

người đàn ông với một người đàn bà Quan hệ hôn nhân đó là duy nhất và mang tính chất bền vững Gia đình một vợ một chồng theo chế độ phụ hệ, con sinh ra được tính

theo dòng họ cha Tuy nhiên quan niệm một vợ một chồng “chỉ riêng đối với người đàn bà, chứ không phải đối với người đàn ông” [Lê Trọng Ân 2004: 58] Cho đến nay

đây là hình thức hôn nhân tiến bộ, ưu việt và mang tính phổ biến toàn nhân loại

1.2.2.2 Sự xuất hiện quan hệ mẹ ghẻ-con chồng

Để xác định thời điểm xuất hiện mối quan hệ mẹ ghẻ - con chồng chúng tôi bắt

đầu bằng việc tìm hiểu, đánh giá vị thế - vai trò và sự biến đổi vị thế - vai trò của người

phụ nữ trong gia đình, xã hội qua các giai đoạn lịch sử Bên cạnh đó đặt vai trò của

Trang 34

người phụ nữ vào mối quan hệ hôn nhân qua từng giai đoạn xã hội để từ đó xác định được khi nào thì những mâu thuẫn giữa người vợ với người con riêng của chồng bắt đầu xuất hiện Về cơ bản có thể chia gia đình thành hai hình thái là gia đình mẫu hệ và gia đình phụ hệ Người phụ nữ trong gia đình mẫu hệ có vai trò trách nhiệm quan trọng trong gia đình, có quyền ưu tiên về thừa kế tài sản, quyền quyết định trong gia đình nhưng về lĩnh vực quan hệ xã hội, giao tiếp bên ngoài cộng đồng thì chính người đàn ông đóng vai trò chủ đạo

Trong chế độ thị tộc, đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng hình thức thị tộc mẫu quyền hình thành đầu tiên trong lịch sử gia đình Trong chế độ thị tộc này vẫn có sự xuất hiện của chế độ quần hôn – cả quần hôn nội tộc và quần hôn ngoại tộc thì con cái được sinh ra chỉ biết có mẹ và theo dòng họ mẹ mà thôi Con sinh ra không chỉ có một người mẹ mà tất cả những người chị em của mẹ và cả những người chị em

họ hàng bên mẹ đều được gọi là mẹ Những người được gọi là mẹ đó đều có trách nhiệm phải chăm sóc, nuôi dưỡng những đứa con chung như là trách nhiệm của từng

cá nhân đối với cả thị tộc Song song với trách nhiệm nuôi dưỡng thì trong xã hội mẫu

hệ thị tộc, quyền quyết định tất cả tài sản và của cải đều thuộc về người vợ Những người con sẽ được tính theo dòng họ bên vợ, làm người bên vợ, tạo của cải tài sản cho bên vợ… Như vậy có thể khẳng định, trong chế độ mẫu hệ hoàn toàn chưa xuất hiện khái niệm mẹ kế hay dì ghẻ

Mối quan hệ giữa những người vợ với những người con của chồng bắt đầu có những biến đổi khi lịch sử nhân loại chuyển sang chế độ phụ hệ Trong giai đoạn này người đàn ông có quyền lấy nhiều vợ và những người vợ này có thể xuất thân từ nhiều thị tộc khác nhau chứ không còn cùng chung thị tộc như trước đây nữa Nó đồng nghĩa rằng giữa những người con của chồng với những người vợ (ngoài mẹ ruột) không hề có mối quan hệ ràng buộc nào về dòng tộc Cũng có trường hợp, những người vợ có cùng chung thị tộc nhưng giữa họ không hề có mối quan tâm hay trách nhiệm chung nào đối

Trang 35

với thế hệ sau của thị tộc cả Vì những người con đã thuộc về dòng họ cha hay nói cách khác, ở chế độ phụ hệ người con không còn là mối quan tâm chung của những người

mẹ về việc nối dõi cho chính dòng tộc của mình Cũng từ đây giữa những người vợ và những người con riêng của chồng bắt đầu nảy sinh những mâu thuẫn

Như vậy không phải chế độ đa thê tạo ra người mẹ kế như chúng ta vẫn thường nghĩ vì trước đây trong thời công xã thị tộc thì tất cả những người vợ có chung một vài người chồng đều sống hòa hợp cùng nhau Chỉ khi bước sang chế độ phụ hệ thì mới xuất hiện mầm mống những mâu thuẫn giữa các người vợ với con riêng của chồng Giữa họ luôn tiềm ẩn những xung đột liên quan đến quyền lợi của chính bản thân mình

Như vậy có thể thấy rằng chính sự tan rã của chế độ mẫu hệ là mốc lịch sử đánh dấu

sự xuất hiện người mẹ ghẻ và mối quan hệ mẹ ghẻ - con chồng

Đến đây một câu hỏi đặt ra là người nào được gọi là mẹ kế Vấn đề này đã được

nhà folklore học người Nga-E.M.Mêlêtinxki trong công trình Nhân vật truyện cổ tích

thần kỳ-nguồn gốc các hình tượng đã nêu lên cách thức xác định người mẹ kế hay

người bố dượng như sau: “Nếu các người em trai của cha tôi là những cha của tôi, các người em gái của mẹ tôi là những người mẹ của tôi thì việc hôn nhân giữa những người em trai của cha và những người em gái của mẹ là việc hôn nhân bình thường Nhưng nếu việc hôn nhân bình thường này bị vi phạm, có nghĩa: một trong những người cùng họ với cha lấy một người không cùng họ (không có quan hệ huyết thống) với mẹ thì người vợ của anh ta được gọi là mẹ kế (dì ghẻ) Mặt khác, nếu chồng của người cùng họ với mẹ không phải là người cùng họ với cha thì anh ta được gọi là bố dượng” Như vậy người mẹ kế là người vợ của cha và không có quan hệ huyết thống

với mẹ chứ không phải bất kỳ người vợ nào của người cha khác người mẹ ruột Nếu người cha có nhiều vợ mà những người vợ đó có quan hệ huyết thống với nhau thì trong trường hợp đó không được gọi là mẹ kế Tuy nhiên trong quan niệm của xã hội

Trang 36

hiện nay thì “mẹ kế” dùng để chỉ tất cả những người vợ của cha mà người vợ đó khác người mẹ ruột của mình

Qua những truyện cổ tích có đề cập đến mối quan hệ mẹ ghẻ-con chồng ở nhiều dân tộc khác nhau, chân dung người dì ghẻ trong hầu hết các nền văn hóa đó đều có sự tương đồng Thông qua những mô-tip truyện cổ tích mang tính phổ quát ở nhiều nền văn hóa thấy được tính cách và đặc điểm người dì ghẻ trong quan niệm của người dân gian xưa Người dì ghẻ luôn được xây dựng bằng hình ảnh độc ác, mưu mô, xảo quyệt

và đầy thủ đoạn Nếu bỏ qua những đặc điểm về tính cách, những điểm cá biệt, những mặt tích cực, những trường hợp cụ thể của mỗi người mà chỉ cần nghe đến từ “Dì ghẻ” thì ngày lập tức hình ảnh người phụ nữ nguy hiểm, độc ác, mưu mô mang hình dáng

mụ phù thủy hiện lên trong tâm trí của tất cả mọi người

Câu hỏi được đặt ra là tại sao người dì ghẻ lại luôn gắn với hình ảnh xấu xa như vậy trong khi chắc chắn vẫn có những trường hợp ngoại lệ Đó không phải là sự sáng tạo và gán ghép một cách vô cớ của dân gian mà chắc hẳn phải có một nguyên nhân sâu xa nào đó Việc người dì ghẻ không yêu thương con chồng là điều dễ hiểu nhưng

để giải thích được sự độc ác, thủ đoạn mang tính chất huyền bí của người mẹ kế thì không thể lý giải một cách cảm tính mà cần có cơ sở nhất định

Trước hết, chúng ta phải thừa nhận rằng chính sự vi phạm hình thức hôn nhân nguyên thủy, phá vỡ sự thuần nhất về quan hệ huyết thống trong gia đình đã làm nảy sinh những xung đột trong mối quan hệ giữa mẹ ghẻ và con chồng Đó cũng là cơ sở lý giải sự độc ác, tàn nhẫn của người mẹ ghẻ Dì ghẻ là người ngoại tộc đối với những người thuộc dòng tộc người chồng Chính đặc điểm này đã giúp cho E.M Mêlêtinxki

qua công trình Nhân vật truyện cổ tích thần kì-Nguồn gốc hình tượng đã có những lý

giải thuyết phục về việc người dì ghẻ vì sao lại luôn được gắn với hình ảnh độc ác, thủ đoạn như những mụ phù thủy trong tâm thức dân gian Tác giả của công trình trên đã đưa ra những bằng chứng để lý giải rằng: trong các xã hội công xã nguyên thủy thì

Trang 37

những người thuộc các bộ lạc khác nhau được xem là những kẻ thù thực sự, những bọn

ăn thịt người, là kẻ không chỉ có những bản chất hiếu chiến mà còn mang tính chất ma quỷ, thù địch lại với bộ lạc này Tác giả đã chứng minh được rằng trong một số ngôn

ngữ cổ xưa, các từ “người bộ lạc khác” và “kẻ ăn thịt người” là những từ hoàn toàn đồng nghĩa với nhau Sụ đồng nhất giữa những người ngoại tộc như những “kẻ ăn thịt người” được lý giải như sau: trong chế độ công xã thị tộc, mỗi thị tộc có cuộc sống

khép kín cô lập riêng, không có bất kỳ sự tiếp xúc giao lưu nào đối với bên ngoài nên

họ nhìn những người lạ, những người ngoại tộc là những người thần bí, nguy hiểm và

đe dọa trực tiếp đến sự sống còn của chính thị tộc mình

Khi lịch sử loài người chuyển sang chế độ hôn nhân ngoại hôn thị tộc lưỡng hợp theo chế độ quần hôn thì người mẹ kế là người hoàn toàn xa lạ Do vậy người đàn bà

đó luôn ẩn chứa những mối đe dọa nguy hiểm đối với thị tộc của mình và đó là người

có những quyền lực siêu nhiên đen tối không khác gì những mụ phù thủy Cũng như những mụ phù thủy để thực hiện được mục đích của mình thì người dì ghẻ sẵn sàng thực hiện mọi thủ đoạn, mọi âm mưu Sự bất chấp đó sẽ trở thành mối đe dọa đối với

sự tồn vong của cả bộ lạc Từ đó về sau, người dì ghẻ trong tâm thức của mọi người luôn là một con người độc ác, xấu xa, đầy mưu mô và xảo quyệt như một mụ phù thủy Xét về nguồn gốc tên gọi Dì ghẻ trong tiếng Việt, dì ghẻ là một từ ghép có yếu tố gốc là từ “dì” Trong tiếng Việt, dì dùng để chỉ em gái (hoặc chị gái) của mẹ Dì gần gũi với mẹ và nhiều khi người dì hoàn toàn có thể đảm đương vai trò của một người

mẹ đối với con Tục ngữ cũng có câu “Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì” để nhấn mạnh

tình cảm yêu thương, chăm sóc của người dì dành cho cháu cũng như chính tình cảm người mẹ dành cho con vậy Vì vậy, khi người đàn ông không may vợ mất, hay vì một

lý do nào đó phải chia tay vợ cũ để lấy vợ mới, các con của người chồng thường gọi vợ mới của cha là dì ghẻ Gọi là dì vì người vợ đó được xem như là người chị em của mẹ

và có vai trò không khác gì một người mẹ Theo đúng nghĩa vốn có của từ “dì” thì nó

Trang 38

hoàn toàn tốt đẹp, người vợ mới này sẽ trở thành người mẹ thứ hai và thay thế người

mẹ ruột yêu thương, chăm sóc con cái của chồng Nhưng mọi việc không hề đơn giản như vậy khi mối quan hệ này luôn ẩn chứa những chiều kích phức tạp PGS.TS Phạm

Xuân Tình cho rằng: “Không rõ từ “dì ghẻ” có mặt trong kho từ vựng tiếng Việt từ khi nào Nhưng tra Từ điển Việt - Bồ - La của A de Rhodes (1651) thì lúc đó tiếng Việt mới có duy nhất một từ “dì” đơn độc Xuất hiện sớm muộn thế nào thì ta cần có thêm

tư liệu, nhưng điều chắc chắn là, nghĩa của chữ “ghẻ” (tức ghẻ lạnh) làm cho nhân vật… trở nên phiến diện và rất thiếu thiện cảm trước mắt mọi người”

Như vậy theo đúng vai trò của mình thì người mẹ kế sẽ là người thay thế mẹ ruột

để yêu thương, chăm sóc, nuôi dạy con của chồng nên người bằng tình cảm của một người mẹ Nhưng trên thực tế, do một số nguyên nhân nhất định khiến mối quan hệ này không được như mong muốn Nên giữa người mẹ kế và người con chồng luôn có sự ganh ghét, đố kỵ lẫn nhau khiến cho những ý nghĩa tốt đẹp đó không còn nữa Chính vì vậy tên gọi được ấn định thêm từ “ghẻ” để thể hiện được bản chất của chính nhân vật này

1.2.3 Khái lược quan hệ mẹ ghẻ-con chồng trong một số bình diện văn hóa

1.2.3.1 Quan hệ mẹ ghẻ - con chồng trong văn học dân gian

 Truyện cổ tích

Nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh cho rằng truyện cổ tích được ra đời trong điều kiện xã hội có giai cấp Nội dung truyện phản ánh những mâu thuẫn trong xã hội, mâu thuẫn giai cấp trong đó sự đối kháng giai cấp và ý nghĩa đấu tranh xã hội có nội dung

phổ biến nhất “Trong truyện cổ tích bao giờ cũng có vấn đề xã hội và những vấn đề đấu tranh xã hội thường chiếm ưu thế Điều đó rất dễ hiểu: đại đa số truyện cổ tích đã hình thành trên cơ sở những vấn đề xã hội, trước hết là những mâu thuẫn giai cấp dưới chế độ phong kiến” [Đinh Gia Khánh tuyển tập 2007: 382] Mô-típ truyện Tấm Cám

có tính phổ biến rộng rãi và nó phản ánh một trong những mâu thuẫn mang tính phổ

Trang 39

quát ở nhiều nền văn hóa: “Truyện Tấm Cám phản ánh mâu thuẫn gia đình, mâu thuẫn

xã hội dưới chế độ phong kiến, phản ánh những tập tục, những tín ngưỡng, những cảnh sinh hoạt của dân tộc ta, những cuộc đấu tranh của nhân dân ta…” [Đinh Gia

Khánh tuyển tập 2007: 370]

Có lẽ khi nhắc đến mối quan hệ ghẻ - con chồng không ai không liên tưởng đến truyện Tấm Cám Truyện Tấm Cám không chỉ quá quen thuộc với người dân Việt Nam

mà còn nhiều dân tộc trong khu vực và cả trên thế giới Dễ dàng nhận thấy mô-típ

truyện Tấm Cám xuất hiện ở nhiều nền văn hóa khác nhau từ Đông sang Tây “Tính chất quốc tế thể hiện rõ hơn cả ở chủ đề “dì ghẻ con chồng”, chủ đề có ý nghĩa đấu tranh xã hội Điều này rất dễ hiểu: nếu vấn đề chung của mọi xã hội có giai cấp, có tư hữu và gia đình riêng lẻ thì chủ đề dì ghẻ con chồng có thể và đã là chủ đề chung của truyện cổ tích trong các xã hội đó.” [Đinh Gia Khánh 1968: 74]

Ở rất nhiều quốc gia, dân tộc cũng tìm thấy những cốt truyện tương tự Tấm Cám với những bản chính và cả các dị bản Số lượng cốt truyện thuộc môtip Tấm Cám đã được nhà nghiên cứu văn học dân gian người Nga Mêlêtinxki thống kê lên đến con số

trên 500 dị bản được công bố trong công trình “Nhân vật trong truyện cổ tích thần kỳ Nguồn gốc hình tượng” xuất bản năm 1958 Chỉ trong phạm vi châu Âu vào khoảng

cuối thế kỷ XIX nhà sưu tầm truyện dân gian người Anh M.R.Cox đã tập hợp được 345

cốt truyện Cô Tro Bếp và cho ra đời cuốn sách với nhan đề “Truyện Cô Tro Bếp - ba trăm bốn mươi lăm dị bản” xuất bản năm 1893 Riêng ở Việt Nam chỉ qua tập hợp sơ

bộ của nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi trong bộ sách Kho tàng truyện cổ tích Việt

Nam xuất bản năm 1993 thì ngoài truyện Tấm Cám của người Việt còn có không ít

những truyện có môtip này ở nhiều dân tộc khác như: Tày, Thái, H’Mông, Xơrê, Hơrê,

Chăm Dựa vào sự phổ biến như vậy của môtip truyện Tấm Cám, nhận định cho rằng mối quan hệ mẹ ghẻ-con chồng là mối quan hệ xuất hiện ở hầu hết các cộng đồng dân tộc trên thế giới là hoàn toàn có cơ sở Tuy nhiên tính chất những mâu thuẫn, mức độ

Trang 40

những xung đột và biểu hiện những xung đột đó còn chịu sự chi phối của văn hóa ứng

xử, phong tục, tập quán của mỗi dân tộc

Nhân vật người dì ghẻ hiện lên xuyên suốt trong câu chuyện là nhân vật “vô danh” và thường được gọi theo tên của người con- “mẹ Cám” Ngay từ đầu người dì ghẻ đã hiện lên với hình ảnh luôn yêu thương con mình và ghét bỏ đứa con chồng Những biểu hiện ban đầu đó càng được khắc họa đậm nét hơn khi người dì ghẻ tìm mọi cách để hành hạ người con chồng, cho đến những nguồn vui nhỏ nhoi, không hề ảnh hưởng gì đến lợi ích của mình thì bà ta cùng tìm cách giết chết nó – con cá bống Xuyên suốt câu chuyện, người dì ghẻ luôn ganh ghét, hãm hại Tấm một cách vô cớ Những tai họa đó hoàn toàn xuất phát từ sự đố kỵ của chính người mẹ kế chứ bản thân Tấm luôn làm theo ý dì ghẻ và không làm gì để bà ta phải phật ý Tấm càng ngoan ngoãn nghe lời thì bà ta càng căm ghét, càng tìm cách hành hạ Tấm nhiều hơn Người con chồng trở thành nạn nhân của những âm mưu sát hại với tâm địa man rợ của người

dì ghẻ

Bên cạnh truyện cổ tích Tấm Cám mang tính chất hư cấu về những thủ đoạn tàn

ác của người dì ghẻ đối với con chồng thì trong kho tàng truyện cổ tích người Việt còn

có hai câu chuyện cổ tích khác cũng lên án sự mưu mô, ác độc của người mẹ ghẻ, đó là:

Chim đa đa, Sự tích con dế hay Người dì ghẻ ác nghiệt (theo bản kể của Nguyễn Đổng

Chi 2000: 1655-1659) Trong câu chuyện cổ tích Chim đa đa, người mẹ kế là người

hai mặt, trước mặt chồng thì tỏ ra yêu thương, chăm sóc con chồng như chính con mình nhưng trong lòng bà ta hết sức căm ghét đứa con riêng của chồng Không những ghét bỏ mà người dì ghẻ còn đánh mắng, hành hạ đến nỗi bữa ăn chỉ có cơm thừa canh cặn Không chỉ vậy, mụ ta còn độc ác hơn khi cơm cho con chồng ăn ở dưới là cát được phủ lên trên là cơm trắng trông hết sức ngon lành Chén cát phủ cơm đó chính là biểu hiện của âm mưu nhằm hãm hại người con chồng và âm mưu của người dì ghẻ đã

Ngày đăng: 07/05/2021, 18:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w