1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng cái cách của lê thánh tông

169 46 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với sự nắm bắt nhanh nhạy tình hình thời cuộc, cùng với trí tuệ sáng suốt và khát khao xây dựng một quốc gia thái bình thịnh trị, Lê Thánh Tông đã cố gắng vượt qua hạn chế do điều kiện l

Trang 3

Lời đầu tiên tôi xin gởi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu Nhà trường, Ban Chủ nhiệm Khoa Triết học, Phòng Sau Đại học, Phòng Tổ chức Cán bộ, Thư viện… Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, sinh hoạt, nghiên cứu trong suốt khóa học

Xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô thuộc Chương trình Sau đại học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM đã tận tâm hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học

Đặc biệt, tôi xin tỏ lòng tri ân Tiến sĩ Nguyễn Anh Quốc – Phó Trưởng Khoa Triết học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM, người đã trực tiếp hướng dẫn cho tôi thực hiện thành công luận văn thạc sĩ Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi luôn được Thầy động viên, chỉ bảo rất mực tận tình, chu đáo

Xin trân trọng cảm ơn các thành viên của Hội đồng chấm Luận văn Thạc sĩ Triết học đã đóng góp ý kiến và dành nhiều ưu ái cho tôi Tôi cũng không quên cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đã luôn ủng

hộ, đồng hành và giúp đỡ tôi rất nhiệt tình trong quá trình học tập, nghiên cứu, thực hiện luận văn

Nguyễn Quỳnh Trang

Trang 4

Tôi cam đoan đây là luận văn do tôi nghiên cứu, thực hiện Đề tài luận văn này không trùng lặp với các công trình khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc Kết quả nghiên cứu của luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố

Người cam đoan

Nguyễn Quỳnh Trang

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG 1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI, VĂN HÓA - GIÁO DỤC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG 13

1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG 22

1.3 KHÁI QUÁT VỀ THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA LÊ THÁNH TÔNG 49

Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ, BÀI HỌC LỊCH SỬ TRONG TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG 2.1 NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG 57

2.2 GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ TRONG TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG 107

KẾT LUẬN 144

PHỤ LỤC 147

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 154

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lịch sử Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, qua bao thăng trầm, hưng vong của các triều đại, dân tộc Việt Nam đã hình thành nên tư tưởng và truyền thống văn hóa quý báu có giá trị Đó là, truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, và tư tưởng cải cách, canh tân, đổi mới đất nước

Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, tư tưởng cải cách, canh tân, đổi

mới đất nước xuất hiện như một yêu cầu tất yếu của lịch sử, “đã trở thành quy luật sinh tồn và phát triển của dân tộc ta” [36,18] Nó xuất hiện ở những thời

điểm, triều đại khác nhau nhưng mục đích chung là phục vụ yêu cầu, nhiệm

vụ phát triển đất nước Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, đã từng xuất hiện nhiều cuộc cải cách của các vương triều như: Khúc Hạo năm 907, Lý Thái Tổ đầu thế kỷ XI, Hồ Quý Ly cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, Lê Thánh Tông nửa cuối thế kỷ XV, Minh Mệnh nửa đầu thế kỷ XIX…

Trong những cuộc cải cách trên, thì cuộc cải cách của vua Lê Thánh Tông là khá thành công, có tác động lớn, mà kết quả của nó đã làm chuyển biến lịch sử phong kiến Việt Nam ở nửa cuối thế kỷ XV Với sự nắm bắt nhanh nhạy tình hình thời cuộc, cùng với trí tuệ sáng suốt và khát khao xây dựng một quốc gia thái bình thịnh trị, Lê Thánh Tông đã cố gắng vượt qua hạn chế do điều kiện lịch sử và thách thức của thời đại, tiến hành một loạt cải cách trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Sự thành công của cuộc cải cách này đã giúp Lê Thánh Tông đưa Đại Việt thành quốc gia ngang tầm với các nước trong khu vực và ông đã ghi tên mình như một trong những ngôi sao đế vương sáng trong lịch sử phong kiến Việt Nam

Trong giai đoạn hiện nay, sự gia nhập vào các tổ chức quốc tế tạo cho Việt Nam nhiều thời cơ, tuy nhiên, song hành với thuận lợi ấy là những thách

Trang 7

thức mà sự hội nhập đặt ra, đó là vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vừa phải giữ cho được bản sắc văn hóa dân tộc, hòa nhập mà không bị hòa tan Trước làn sóng đổi mới về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, đã xuất hiện nhiều nhân tố mới, kèm theo đó là những bất cập, sự chưa phù hợp ở một số lĩnh vực của luật pháp, quy chế hiện hành điều này đòi hỏi chúng ta phải tiến hành đổi mới đất nước Để công cuộc đổi mới đạt được kết quả tốt nhất thì một mặt phải khắc phục được những hạn chế, yếu kém, bất cập mặt khác phải phát huy được lợi thế, ưu điểm, đặc biệt là tiếp thu, kế thừa những bài học về đổi mới, canh tân đất nước trong lịch sử

Trải qua hơn 500 năm, nhưng đến nay bài học về sự thành công trong cuộc cải cách của Lê Thánh Tông vẫn thể hiện rõ giá trị vì sự cách tân mang tính chất thời đại của ông Càng đi sâu nghiên cứu tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông, chúng ta càng nhận thấy giá trị của nó và cách tiến hành táo bạo, phù hợp khi áp dụng vào tình hình thực tiễn của đất nước Vì vậy, việc nghiên cứu tư tưởng cải cách của vua Lê Thánh Tông không những giúp chúng ta hiểu sâu sắc tư tưởng tiến bộ của ông, mà còn có thể rút ra bài học kinh nghiệm quý báu góp phần bổ sung cơ sở lý luận cần thiết đối với quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Chính vì những lý do đó, tôi chọn đề tài “Tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông” làm luận văn thạc sĩ triết học của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Lê Thánh Tông – một trong những vị vua có tài, có đức trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam Với tầm nhìn chiến lược và lòng yêu nước mãnh liệt, ông đã tiến hành cải cách trên nhiều lĩnh vực, đem lại cho đất nước nền thái bình, thịnh trị, văn trị vũ công vững mạnh Tư tưởng cải cách và sự nghiệp của Lê Thánh Tông là đề tài được các nhà khoa học rất quan tâm

Trang 8

nghiên cứu ở những lĩnh vực khác nhau với nhiều công trình đã được công

bố

Thứ nhất, tư tưởng cải cách qua các công trình nghiên cứu về cuộc đời

và sự nghiệp của Lê Thánh Tông.“Đại Việt sử kí toàn thư” tập 2 (2003), Bản

in nội các quan bản, Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội, “Việt sử cương mục tiết yếu” (2000) của Đặng Xuân Bảng, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội, và “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” (2009) tập 1, của Viện sử học, Nxb

Giáo dục (quyển thứ 19 đến quyển 24) đã trình bày cụ thể những hoạt động cải cách trên mọi lĩnh vực trong 38 năm trị vì của Lê Thánh Tông, tuy nhiên các tác phẩm chỉ trình bày dưới dạng ghi chép những sự kiện riêng lẻ, chứ

không tổng hợp, khái quát trong từng lĩnh vực Tác phẩm “Lịch sử Việt Nam

cổ trung đại” của Tiến sĩ sử học Huỳnh Công Bá (2011), Nxb Thuận Hóa,

nêu một cách khá toàn diện về tình hình nước Đại Việt thời Lê Sơ, trong đó

tác giả cũng đề cập đến những điểm cách tân của Lê Thánh Tông, “Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến năm 1884” (2000) của Giáo sư Nguyễn Phan

Quang và Tiến sĩ Võ Xuân Đàn, Nxb Tp Hồ Chí Minh, đã trình bày về điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội thời Lê, đồng thời khái quát các nét chính trong lĩnh vực hành chính, quốc phòng, pháp luật, kinh tế dưới triều Lê Thánh

Tông “Lược sử Việt Nam” (2009) của Trần Hồng Đức, Nxb Văn hóa thông

tin đã khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Lê Thánh Tông trong những năm trị vì như canh nông, thuế lệ, sửa phong tục, vẽ địa đồ… Tác giả cho

rằng “Những sự văn trị và võ công ở nước ta không có đời nào thịnh hơn đời Hồng Đức” [30,304]; để kỷ niệm 500 năm ngày mất của Lê Thánh Tông, Viện văn học đã biên soạn quyển sách “Hoàng đế Lê Thánh Tông – nhà chính trị tài năng, nhà văn hóa lỗi lạc, nhà thơ lớn” (1998) do Nguyễn Huệ Chi

(chủ biên), Nxb Khoa học xã hội Hà Nội Tác phẩm tổng hợp, sưu tầm và giới thiệu những bài viết của nhiều tác giả trình bày về thân thế, sự nghiệp

Trang 9

chấn hưng đất nước; bảo vệ biên cương, mở mang bờ cõi; sự nghiệp văn hóa, giáo dục; và sự nghiệp văn học của Lê Thánh Tông

Các bài viết “Lê Thánh Tông – Con người và sự nghiệp rạng rỡ một thời” (1997) của tác giả Trương Hữu Quýnh, Tạp chí nghiên cứu Lịch sử số 6; “Vài ý kiến về cải cách của Lê Thánh Tông” (1997) của tác giả Phan Đại

Doãn, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 295, cũng đề cập đến cuộc cải cách của

Lê Thánh Tông trên các lĩnh vực, nhưng chỉ giới hạn ở mức độ bài viết, các tác giả chưa đi sâu phân tích nội dung cải cách

Bài viết “Đệ nhất minh quân Lê Thánh Tông – nhà văn hóa lớn của đất nước Đại Việt” của GS NGND Nguyễn Đình Chú, tác giả đã phân tích về

những hoạt động của Lê Thánh Tông trên các lĩnh vực: văn hóa, giáo dục, pháp luật Tác giả cho rằng trong mọi chính sách, hành vi, lĩnh vực của Lê Thánh Tông để đưa đất nước đến sự cường thịnh sánh ngang các nước trong khu vực đương thời và để lại một dấu ấn, một mốc son chói lọi trong lịch sử xây dựng phát triển đất nước, đều thấm đậm chất văn hóa cao đẹp

Ngoài ra, còn có một số tác phẩm và bài viết về con người, sự nghiệp,

tư tưởng của Lê Thánh Tông như: “Nhân vật họ Lê trong lịch sử Việt Nam” (1999) của Phạm Ngô Minh – Lê Duy Anh, Nxb Đà Nẵng; “Lê Thánh Tông - Tao đàn nguyên súy” (1991) của Bùi Văn Nguyên, Nxb Văn hóa Hà Nội;

“Đại cương lịch sử triết học Việt Nam” (2010) của GS,TS Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội;“Tìm hiểu tư tưởng chính trị Nho giáo Việt Nam từ Lê Thánh Tông đến Minh Mệnh” (2002) của tác giả Nguyễn Hoài Văn, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội; “Việt sử lược” (2005) của Trần Quốc

Vượng (phiên dịch và chú giải), Nxb Thuận Hóa, Trung tâm văn hóa ngôn

ngữ Đông Tây; “Giản yếu sử Việt Nam” (2007) của Đặng Duy Phúc, Nxb Hà Nội; “Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX” (2011) của Đào Duy Anh, Nxb Khoa học xã hội; “Lịch sử và văn hóa Việt Nam Tiếp cận và bộ

Trang 10

phận” (2007) của Phan Huy Lê, Nxb Giáo dục; “Lịch sử Việt Nam giản yếu”

(2000) do GS Lương Ninh (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Bài

viết “Lê Thánh Tông – cuộc đời và sự nghiệp qua nhận xét, đánh giá của một

số nhà sử học nước ngoài” của PGS,TS Nguyễn Văn Kim được trích dẫn trong tác phẩm “Nhật Bản với Châu Á – Những mối liên hệ lịch sử và chuyển biến kinh tế – xã hội” (2003), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội

Các công trình khoa học này đã trình bày và phân tích điều kiện lịch sử

xã hội thời nhà Lê hồi thế kỷ XV, qua đó làm rõ cơ sở hình thành tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông Các tác giả cũng nêu lên những lĩnh vực cải cách của Lê Thánh Tông, nhưng phần lớn chỉ là dừng lại ở mức độ khái quát, chưa

đi sâu vào nghiên cứu từng lĩnh vực cụ thể

Thứ hai, tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông qua các công trình nghiên cứu về chính trị, pháp luật trong lịch sử Việt Nam thời nhà Lê “Mười cuộc cải cách, đổi mới lớn trong lịch sử Việt Nam” (2012) của Văn Tạo, Nxb

Đại học sư phạm, tác giả nêu lên 10 cuộc cải cách, đổi mới lớn trong lịch sử Việt Nam, trong đó có cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông được trình bày ở trang 105-145 Tác giả đã phân tích điều kiện lịch sử, xã hội, kinh

tế hình thành cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông và trình bày sơ qua về cải cách pháp luật, giáo dục khoa cử Theo nhận định của tác giả về

cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông, đó là “Một cuộc cải cách sâu sắc nhất, thành công nhất trong lịch sử trung đại Việt Nam” [98,106]; “Tổ chức chính quyền thời kỳ phong kiến ở Việt Nam” (2006) của ThS Nguyễn

Minh Tuấn, Nxb Tư pháp Hà Nội, trình bày về cách tổ chức hành chính dưới

triều Lê, tác giả cho rằng “Về cơ bản, công cuộc cải tổ của Lê Thánh Tông là nhằm tập trung tuyệt đối quyền lực vào tay nhà vua, tăng cường sức mạnh của bộ máy quan liêu” [116,59] Đồng thời, tác phẩm cũng khái quát những

điểm nổi bật của Bộ luật Hồng Đức, cụ thể là 4 lĩnh vực pháp luật điển hình:

Trang 11

hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, pháp luật tố tụng; “Lịch sử Việt Nam”

(tập 3 thế kỷ XV - XVI) (2007) do Tạ Ngọc Liễn (chủ biên), Nxb Khoa học

xã hội Hà Nội, tác phẩm trình bày những nét tiêu biểu về điều kiện lịch sử xã hội thế kỷ XV, và cách tổ chức bộ máy nhà nước, quân đội, quốc phòng,

chính sách đối ngoại, pháp luật, kinh tế thời Lê Thánh Tông; “Gợi mở những giá trị truyền thống của tư tưởng chính trị pháp lý Việt Nam” (2005) của TS

Lê Quốc Hùng, Nbx Tư pháp Hà Nội, tác giả khái quát về cuộc cải cách hành chính và pháp luật của Lê Thánh Tông ở trang 101-113 Tác giả cho rằng đường lối trị nước kết hợp giữa đức trị và pháp trị là nền tảng để Lê Thánh

Tông tiến hành cuộc cải cách, và “nhiệm vụ trung tâm của cải cách hành chính là xây dựng cho được một cơ cấu tổ chức hành chính đáp ứng được yêu cầu độc lập, tự chủ và phát triển” [43,108] Trên bình diện đức trị, Lê Thánh

Tông đã dùng lễ nghĩa để giáo dục con người, từ đó ứng dụng trong giáo dục, khoa cử Trên bình diện pháp trị, ông đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống

pháp luật thống nhất trên cả nước Và tác giả đánh giá “Lê Thánh Tông là nhà

tư tưởng cách tân vĩ đại” [43,102], “Lê Thánh Tông – vị vua anh minh nhà cách tân vĩ đại” (2007) của Lê Đức Tiết, Nxb Tư pháp Hà Nội, đã đề cập về

cải cách hành chính, kinh tế, pháp luật, quân sự của Lê Thánh Tông, đồng thời tác giả phân tích và nhận định một cách sâu sắc về tư tưởng cách tân của ông Theo lời đồng chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản

Việt Nam “Với quan điểm lịch sử, với cách tư duy theo phép biện chứng, căn

cứ vào những sự kiện được ghi chép rải rác trong các nguồn sử liệu quốc gia, tác giả đã xâu chuỗi lại nhằm giúp người nghiên cứu nhìn nhận, đánh giá được sự nghiệp của Lê Thánh Tông có tính toàn diện và hệ thống hơn” [112,6] “Chính sách đào tạo sử dụng quan lại thời Lê Thánh Tông và công tác cán bộ hiện nay ” (2012) của PGS,TS Nguyễn Hoài Văn và ThS Đặng

Duy Thìn, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật Hà Nội Các tác giả đã trình bày

Trang 12

một cách có hệ thống những chính sách, biện pháp thực hiện và kết quả đạt được trong việc đào tạo và sử dụng quan lại thời Lê Thánh Tông, từ đó rút ra

ý nghĩa thực tiễn với công tác cán bộ hiện nay ở Việt Nam Các tác giả cho

rằng chính sách đào tạo và sử dụng quan lại thời Lê Thánh Tông “đã trở thành khuôn phép, xem như mẫu mực cho việc tổ chức và xây dựng bộ máy nhà nước vững mạnh” [117,5], “Dưới thời Lê Thánh Tông chế độ quan lại được phát triển đến đỉnh cao bằng hệ thống luật pháp, được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc trong phạm vi toàn quốc” [117,128]

Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử của Hoàng Việt (2006) Tính dân tộc

và tính nhân văn trong pháp luật thời Lê Sơ (1428 – 1527), Trường Đại học

Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đi sâu nghiên cứu sự phát triển của hệ thống pháp luật thời Lê Sơ, phân tích làm nổi bật tính dân tộc và tính nhân văn thể hiện trong pháp luật, mà chủ yếu tập trung vào Bộ luật Hồng Đức được ban hành dưới triều đại Lê Thánh

Tông Luận văn thạc sĩ khoa Luật của Lương Văn Tuấn (2008) Những giá trị đương đại của Bộ luật Hồng Đức, Đại học quốc gia Hà Nội, tác giả phân tích

những nội dung cơ bản, nhận diện những giá trị đương đại của Bộ luật Hồng Đức về điều chỉnh các quan hệ hình sự, tố tụng, sở hữu, hợp đồng, thừa kế, hôn nhân gia đình, các quan hệ liên quan đến quan chế, hoạt động công vụ và các giá trị về kỹ thuật lập pháp

Bài viết “Những giá trị tích cực của Nho giáo trong Bộ luật Hồng Đức”

(2004) của Nguyễn Minh Tuấn (Tạp chí khoa học; Đại học quốc gia Hà Nội; Chuyên san Kinh tế - Luật, T.XX, No 4, (tr.39-44) phân tích sự ảnh hưởng

tích cực của Nho giáo trong Bộ luật Hồng Đức Tác giả nhận định “Đây là bộ luật chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, là bộ luật ra đời trong thời điểm Nho giáo có mức độ, điều kiện và phạm vi ảnh hưởng rộng rãi, sâu sắc nhất”

[132] Theo tác giả, triều đại Lê Thánh Tông nhờ việc vận dụng hợp tình, hợp

Trang 13

lý giá trị truyền thống văn hoá dân tộc và tiếp thu có chọn lọc giá trị của Nho giáo nên đã xây dựng được Bộ luật Hồng Đức có nét riêng biệt, thể hiện tính độc đáo mang bản sắc dân tộc và tính độc lập của một quốc gia có chủ quyền

Bài viết “Nét độc đáo của quy phạm pháp luật trong Bộ luật Hồng Đức”

(3/2008) của Nguyễn Minh Tuấn trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 33 (118), Hiến kế Lập pháp (tr.49- 51); nói về sự độc đáo của Bộ luật Hồng Đức trong cách diễn đạt quy phạm pháp luật, theo tác giả phân tích thì các điều

trong Bộ luật Hồng Đức “được xây dựng theo phương thức cả ba bộ phận là giả định, quy định và chế tài đồng thời xuất hiện trực tiếp, thậm chí ngay trong cùng một điều luật” [131], tác giả cũng ca ngợi cách quy định chế tài của các nhà làm luật triều Lê Thánh Tông, “với mỗi một vi phạm cụ thể thì có một hình phạt cụ thể tương ứng; mức độ tăng nặng hay giảm nhẹ cũng được quy định ngay sau đó một cách cụ thể, rõ ràng” [131], tác giả cho rằng các

nhà làm luật triều Lê đã rất khéo léo khi dự kiến các tình huống phát sinh xảy

ra xung quanh một vụ việc nào đó khi ban hành một điều luật nhất định

Bài viết “Luật Hồng Đức – thực chất và giá trị lịch sử ” của Mai Ước,

in trong tác phẩm “Tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX” (2011)

do PGS,TS Doãn Chính (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật Hà Nội Tác giả phân tích những nét tiến bộ của Bộ luật Hồng Đức, chẳng hạn như quy định trách nhiệm bảo vệ đường biên, vùng biển, cửa quan; quy định việc trừng phạt những hành vi vi phạm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và định đoạt ruộng đất của người nông dân; quy định những điều nhằm bảo vệ quyền sở hữu ruộng đất cho trẻ em và người nghèo… Tác giả đưa ra nhận xét:

“Đây là bộ luật đã khẳng định được giá trị và vị thế của mình trong lịch sử

hệ thống pháp luật của dân tộc bởi những giá trị tiến bộ của nó vượt trước thời đại, và mang tính nhân văn sâu sắc của người Việt” [13,191-192]

Trang 14

Bài viết “Công cuộc cải tổ và xây dựng nhà nước pháp quyền thời kỳ

Lê Thánh Tông” (1992) của Trương Hữu Quýnh trên Tạp chí Nghiên cứu lịch

sử số 265 Tác giả đã giới thiệu những nét lớn trong cải tổ chính quyền thời

Lê Thánh Tông, trình bày từ việc cải tổ cấu trúc, chấn chỉnh quy tắc làm việc

cho đến việc hoàn thiện đội ngũ Theo tác giả, điều đáng chú ý là “Khi cải tổ chính quyền của mình Lê Thánh Tông chưa hề mất đi tư tưởng độc lập dân tộc” [93,3]

Bài viết “Tìm hiểu tư tưởng trị nước của vua Lê Thánh Tông” (2003)

của Phan Quốc Khánh trên Tạp chí Khoa học Xã hội số 61, trình bày và phân tích những ảnh hưởng của đức trị (Nho gia) và pháp trị (Pháp gia) đến tư tưởng của Lê Thánh Tông, tác giả cho rằng tư tưởng trị nước của Lê Thánh

Tông “đã khắc phục những hạn chế của tư tưởng đức trị và tiếp thu những cái hay của tư tưởng pháp trị” [49,41]

Bài báo khoa học “Chính sách của nhà nước trung ương thời Lê Thánh Tông đối với bộ máy quản lý cấp xã” (2008), của PGS,TS Nguyễn Cảnh

Minh và ThS Phan Ngọc Huyền, Khoa Lịch sử, Trường Đại học sư phạm Hà Nội Các tác giả đã trình bày việc cải tổ của Lê Thánh Tông đối với bộ máy quản lý cấp xã: thay đổi chức danh Xã quan thành Xã trưởng; tiêu chuẩn bầu chọn, thực hiện chế độ khảo hạch và quy trách nhiệm đối với Xã trưởng; đặt thêm chức danh Thôn trưởng để cùng Xã trưởng quản lý làng xã…

Ngày 17-18/3/2007 tại hội thảo Khoa học cấp quốc gia “Quốc triều hình luật – những giá trị lịch sử và đương đại góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam” được tổ chức tại thành phố Thanh Hóa, các nhà khoa

học đã phân tích những nội dung, giá trị cần kế thừa từ Bộ luật Hồng Đức của

Lê Thánh Tông để góp phần làm tốt hơn nữa công tác lập pháp, hành pháp trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Trang 15

Thông qua các công trình ở hướng nghiên cứu thứ hai này, chúng ta thấy rõ được tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông trong các lĩnh vực hành chính, pháp luật và kinh tế Qua đó, chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn về ý tưởng cải cách đất nước của Lê Thánh Tông

Thứ ba, tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông qua các công trình nghiên cứu về văn hóa, giáo dục trong lịch sử Việt Nam thời nhà Lê Bài viết

“Lê Thánh Tông với sự nghiệp giáo dục” (2002) của Nguyễn Đăng Tiến, Tạp

chí Giáo dục số 47 đã chỉ ra những hình thức Lê Thánh Tông thực hiện để mở rộng các hoạt động giáo dục, động viên các sĩ tử chăm chỉ học tập Tác giả

nhận định “Lê Thánh Tông có công lớn đưa nền giáo dục Nho giáo vươn tới đỉnh cao trong lịch sử giáo dục phong kiến của đất nước ta” [108,11], tác phẩm “Lịch sử giáo dục Việt Nam trước cách mạng tháng 8 năm 1945”

(1996) của Nguyễn Đăng Tiến (chủ biên), Nxb Giáo dục, ở chương 3 trình bày về giáo dục Việt Nam dưới thời Lê Sơ; chỉ ra mục đích và nội dung của giáo dục thời kỳ đó, các tác giả dành riêng từ trang 90-97 để nói về vai trò của

Lê Thánh Tông đối với giáo dục thời Lê Sơ, đó là việc chăm lo, phát triển giáo dục, hoàn thiện hệ thống thi cử như viết “Dụ khuyến học”, lập Bí thư khố, tổ chức và chủ trì nhiều kỳ thi trong nước, soạn 24 điều huấn dụ nhân

dân; và các tác giả đưa ra nhận định “Lê Thánh Tông là một nhà chính trị lỗi lạc, một ông vua tài năng và quyết đoán” [109,95] “Khảo cứu về văn hiến Đại Việt qua trường hợp Hoàng Đế Lê Thánh Tông” (2011) của tác giả Trần

Trọng Dương, Tạp chí Nghiên cứu và phát triển số 6 (89)

Các công trình ở hướng nghiên cứu này giúp chúng ta hiểu được tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục Để từ đó thấy được, tại sao thời Lê Thánh Tông là thời kỳ nền giáo dục nước ta bước vào giai đoạn khá hưng thịnh trong lịch sử phong kiến Việt Nam

Trang 16

Nhìn chung, về bản thân Lê Thánh Tông, cùng với tư tưởng cải cách của ông luôn là đề tài dành được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học nghiên cứu Các công trình trên đã nghiên cứu khá đầy đủ về con người và các lĩnh vực cải cách của Lê Thánh Tông Kế thừa và tham khảo, tác giả đã tổng hợp và đi vào nghiên cứu tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông trên các lĩnh vực tiêu biểu như: kinh tế, hành chính, pháp luật, và quốc phòng Những công trình trên là nguồn tài liệu quý giá để tác giả tham khảo và hoàn thành luận văn của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Mục đích của luận văn là nghiên cứu và trình bày một cách có hệ thống

về tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông; từ đó đánh giá, rút ra ý nghĩa lịch sử của nó

Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ cơ bản sau:

- Làm rõ điều kiện kinh tế, chính trị – xã hội và những tiền đề lý luận hình thành tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông

- Phân tích và trình bày những nội dung cơ bản trong tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông

- Làm rõ giá trị và hạn chế trong tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông,

từ đó rút ra bài học cho sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Phạm vi nghiên cứu: trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, tác giả không thể đi sâu vào trình bày toàn bộ hệ thống nội dung cải cách của Lê Thánh Tông, mà chỉ trình bày nội dung cơ bản về tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông qua các lĩnh vực tiêu biểu như: kinh tế, hành chính, pháp luật và quốc phòng

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Cùng với

Trang 17

đó, tác giả còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học như: phân tích và tổng hợp, so sánh và đối chiếu, lịch sử và logic, khái quát để làm sáng

tỏ các vấn đề mà mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Về lý luận, nội dung của luận văn góp phần hệ thống hóa tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông và làm rõ, chỉ ra ý nghĩa lịch sử của nó

Về thực tiễn, kết quả của luận văn là một tài liệu bổ ích, có thể làm tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên, học viên cao học chuyên ngành triết học quan tâm đến lịch sử tư tưởng cải cách Việt Nam nói chung, tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông nói riêng

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo thì nội dung chính luận văn được kết cấu thành hai chương, năm tiết

Trang 18

Chương 1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ – XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG

1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI, VĂN HÓA – GIÁO DỤC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG

Mỗi nhà tư tưởng triết học xuất hiện bao giờ cũng là sản phẩm của những điều kiện kinh tế – xã hội nhất định, do đó nghiên cứu tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông không thể không nghiên cứu điều kiện kinh tế – xã hội cho sự xuất hiện tư tưởng ấy

Điều kiện về kinh tế cho sự hình thành tư tưởng cải cách của Lê Thánh

Tông, đó là thời kỳ mà lĩnh vực kinh tế có bước chuyển biến, đặc biệt là tư hữu về đất đai chiếm phần lớn so với đất công

Giai đoạn cuối thế kỷ XIV đến đầu thế kỷ XV đã xuất hiện bước chuyển sâu sắc trong quan hệ sở hữu ruộng đất phong kiến Đây là thời kỳ tan

rã của chế độ kinh tế điền trang, thái ấp với hình thái sở hữu ruộng đất của tầng lớp quý tộc, thay vào đó là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của kinh tế địa chủ với chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất

Trước đó, Hồ Quý Ly đã ban hành chế độ hạn điền nhằm hạn chế sở hữu ruộng đất của quý tộc, sở hữu tư nhân của địa chủ đồng thời củng cố sở hữu nhà nước về đất đai Tuy nhiên, chế độ hạn điền vẫn chưa tạo bước chuyển lớn trong cải cách kinh tế – xã hội Sau khi hoàn thành công cuộc giải phóng đất nước, vua Lê Thái Tổ cho điều tra để nắm chắc tình hình ruộng đất

và tài sản trong nước Ông quyết định tịch thu toàn bộ ruộng đất của quan lại nhà Minh, thổ quan theo giặc, quý tộc nhà Trần, các gia đình bị tuyệt tự và ruộng đất bỏ hoang… sung làm của công Những ruộng đất mới tịch thu ấy cùng với ruộng quốc khố, ruộng đất công của xã thôn trước kia để lại, tạo

Trang 19

thành bộ phận ruộng đất công, đặt dưới quyền sở hữu tối cao của nhà nước phong kiến “Do đó, trong cơ cấu sở hữu ruộng đất vào đầu thời Lê Sơ, hình thái sở hữu nhà nước được mở rộng thêm và chiếm vị trí ưu thế” [55,345]

Từ đó, vua Lê Thái Tổ ban hành chính sách ruộng đất, sử dụng ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nước dùng để thưởng cho các công thần trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, phát cho các quan lại cấp cao trong triều, chế độ này gọi là lộc điền; giao đất cho các xã để phân cho nhân dân cày cấy gọi là quân điền; phần còn lại nhà nước quản lý gọi là ruộng quốc khố và đồn điền

Trải qua sự suy tàn của chế độ đại điền trang cùng các chính sách kinh

tế và xã hội của Hồ Quý Ly như phép hạn điền, phép đạc điền, một phần lớn ruộng đất của vương hầu đại quý tộc, địa chủ thường, nhà chùa đã chuyển thành công điền Trong thời nhà Minh đô hộ và trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, phần lớn ruộng công bị bọn quan lại hàng đầu và bọn cường hào chiếm lấy Năm 1429, Lê Thái Tổ định phép quân điền “Phàm ruộng công ai đã nhân loạn ly mà chấp chiếm đều phải trả lại, ruộng đất của các ngụy quan, ruộng đất trong trại của các thế gia thời Trần mà đã tuyệt nghiệp, ruộng đất tư và chủ nhân lưu tán hay chết chóc mà bỏ hoang, đều bị sung làm của công, cùng với ruộng nhà nước thời trước và ruộng đất hoang nhàn, để làm công sản của nhà nước đem phân cấp cho quan và dân” [1,336-337]

Những biến chuyển về kinh tế từ thời Hồ Quý Ly sang thời Lê Sơ là điều kiện giúp nhà Lê xây dựng một nhà nước phong kiến tập trung hơn ở thời trước Thương nghiệp và kinh tế tiền tệ dần dần phát triển trong thời Lý – Trần, đến thời Hồ sang thời Lê Sơ càng lay chuyển mạnh nền kinh tế tự nhiên Nông nghiệp cũng phát đạt nhờ chính sách trọng nông được đặc biệt chú ý

Trang 20

Trải qua thời Lý – Trần, chế độ tư hữu ruộng đất đã phát triển Số địa chủ mới và nông dân tự canh có tư điền sang thời Lê lại đông thêm Quan lại được cấp ruộng công hoặc mua ruộng tư hay lấn đất công mà ruộng đất tư hữu tăng lên Pháp luật nhà Lê từ đời Lê Nhân Tông đã quy định việc mua bán, cầm cố và kế thừa ruộng đất rất chu đáo, điều ấy chứng tỏ ruộng đất tư hữu ở thời Lê Sơ đã chiếm một phần tương đối lớn so với diện tích đất công

Do sự điêu tàn của các đại điền trang và phép hạn nô của Hồ Quý Ly, chế độ nông nô đã suy yếu hẳn Sang thời Lê Sơ thì ruộng công của nhà nước, ruộng cấp cho các đại quý tộc và quan lại, cho đến ruộng tư của địa chủ, đều

do nông dân nghèo lĩnh canh theo chế độ tá điền Người lĩnh canh phải nộp

tô, có khi phải làm việc không công cho địa chủ, nhưng thân phận của họ là tự

do, không phải suốt đời bám chặt lấy đất cày như nông nô Quan hệ sản xuất

cơ bản của chế độ phong kiến ở thời Lê Sơ là quan hệ giữa địa chủ và tá điền

Về điều kiện chính trị – xã hội cho sự ra đời tư tưởng cải cách của Lê

Thánh Tông, có thể nói ở buổi đầu nhà Lê là thời kỳ mà xã hội Việt Nam có

sự chuyển biến khá mạnh mẽ Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1428) thắng

lợi đã mở ra một trang mới trong lịch sử phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam, thời kỳ xây dựng nhà nước phong kiến tập quyền cao độ, nền độc lập dân tộc được khôi phục và giữ vững, nạn ngoại xâm phương Bắc bị đánh bại

hoàn toàn

Trang 21

Sau đại thắng quân Minh, họa xâm lăng đã bị diệt trừ, đáng lẽ triều đình nhà Lê đoàn kết, hòa thuận để xây dựng đất nước trong nền thái bình bền vững, nhưng thực tế lại diễn ra khá phức tạp Ngay trong những năm đầu trị vì đất nước của vua Lê Thái Tổ (1428-1433) đã xuất hiện mầm mống khủng hoảng trong nội bộ triều Lê Vua Lê Thái Tổ với uy tín lớn vẫn kiểm soát, quản lý được đội ngũ công thần và điều hành mọi việc triều chính Tuy nhiên, nội bộ công thần lại phân hóa thành 2 phe, một là số quan chức xảo quyệt như

Lê Quốc Khí, Trình Hoành Bá, Lê Đức Dư, Đinh Ban Bản, phe này đã lợi dụng cơ hội để xu nịnh, xúc xiểm các đại thần và nhà vua; hai là những công thần trung nghĩa như Nguyễn Chích, Lê Sát, Lê Ngân, Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo từng nằm gai nếm mật, vào sinh ra tử cùng Lê Thái Tổ thuở hàn vi, vẫn giữ trọn đạo làm tôi, trung với vua nhưng lần lượt đều bị khép vào tội tử hình vì những nguyên cớ khác nhau, thậm chí có thời gian vua còn hạ ngục cả bậc đại công thần Nguyễn Trãi Như trong Đại Việt sử ký toàn thư cũng đã có lời bàn về vua Lê Thái Tổ: “Thái Tổ từ khi lên ngôi đến nay, thi hành chính sự, thực rất khả quan, như ấn định luật lệnh, chế tác lễ nhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ, xây dựng quan chức, thành lập phủ huyện, thu thập sách

vở, mở mang trường học… cũng có thể gọi là có mưu kế xa rộng, mở mang

cơ nghiệp Song đa nghi, hiếu sát, đó là chỗ kém” [24,477] Chính những hành xử sai lầm của Lê Thái Tổ đã gây ra sự bất bình ở một số công thần trong triều đình và dân chúng Những nhân tố tiêu cực âm ỉ, ngấm ngầm đợi

cơ hội và khi Lê Thái Tổ từ trần là lúc bọn loạn quan bùng phát, gây nên sóng

gió cho những vua đầu triều thời Lê Sơ

Năm 1433, Lê Thái Tông lên nối ngôi khi mới 10 tuổi Đại tư đồ Lê Sát, Tư khấu Lê Ngân và Đô đốc Phạm Vấn làm phụ chính Nhưng do khả năng học hành của các vị phụ chính hạn chế, nên khi tham gia vào công việc triều chính thì thường tỏ thái độ chuyên quyền, ghen ghét người hiền tài, kết

Trang 22

bè cánh, thao túng triều đình Đến lúc vua Lê Thái Tông trực tiếp điều hành triều chính đã nhanh chóng trừ khử bè đảng của bọn quyền thần, nhưng do ưa

xu nịnh nên những kẻ mưu mô, xảo quyệt, cơ hội đã lợi dụng để làm hại người tốt, tìm đường tiến thân

Vua Lê Thái Tông có bốn người con trai, lúc đầu ông phong tước kế vị cho con cả là Nghi Dân Việc phong tước kế vị cho con trưởng là thông lệ của các vương triều phong kiến Việt Nam Nhưng chẳng bao lâu sau, do sự tác động của Thần phi Nguyễn Thị Anh cùng lũ hoạn quan nên Lê Thái Tông phế truất ngôi kế vị của con cả, và đặt Bang Cơ lên địa vị thừa kế ngôi vua Nghi Dân và mẹ đều bị khép tội khi quân, bị giáng xuống làm thứ dân và buộc phải rời khỏi cung cấm Những quan, tướng ai dám can ngăn, làm trái lệnh vua đều

bị giết chết hoặc mất chức, lưu đày đi nơi xa “Hành vi của Lê Thái Tông bị xem là đi ngược với quan điểm truyền thống của Nho giáo, ngược với đạo lý lâu đời của ý thức hệ phong kiến, và cũng chính hành động này của ông là mầm mống của họa loạn tranh giành ngai vàng về sau” [112,15] Việc phế lập Thái tử không như thông lệ, truyền thống đã tạo cơ hội cho bọn quyền thần mưu đồ lợi dụng gây dựng thế lực Lê Thái Tông đã làm tình hình đất nước,

xã hội lún sâu thêm vào sự rối ren về chính trị

Lê Thái Tông chết, Bang Cơ lên ngôi vua khi mới 2 tuổi Nguyễn Thị Anh nắm quyền nhiếp chính Bà cùng với anh trai Nguyễn Phù Lộ và bọn nịnh quan lập thành phe phái khống chế, chi phối, lũng đoạn mọi công việc triều chính Nạn tham quan đục ruỗng kèo cột nước nhà Mấy năm liền mất mùa, người tha phương cầu thực, chết đói nhan nhản đầy đường, trộm cướp nổi lên như ong Chốn triều đình, người có đức, có tài xa lánh Bọn vô tài, không đức tha hồ nhũng nhiễu dân lành

Nội bộ suy yếu nên bọn giặc ngoài được dịp tràn đến Ở phía Nam và suốt dọc bờ biển phía Đông từ Bắc chí Nam, giặc Chiêm Thành kéo đến Ở

Trang 23

phía Tây, giặc Lảo Qua, Bồn Man cũng nổi lên Nhân dân các vùng suốt từ Hưng Hóa, Thanh Hóa đến Nghệ An trong nhiều năm bị khốn đốn vì sự quấy nhiễu, cướp phá, giết người không chùn tay của những đám cướp rừng Ở vùng biên giới phía Bắc, bọn xâm lược bành trướng muốn quên đi hội thề Đông Quan Chúng xúi giục, chia rẽ, lôi kéo một số tù trưởng phản động nổi lên chống lại triều đình, đem đất, đem dân làng nộp cho chúng Nhiều vùng lãnh thổ của đất nước đã rơi vào tay kẻ thù “Nguy cơ mất nước vì nạn ngoại xâm ngày càng lớn dần Xáo trộn nội bộ cũng đạt đến giới hạn đổ vỡ Tình hình xã hội ngày càng khó kiểm soát” [112,17]

Bài Trung hưng ký năm Quang Thuận viết về thời kỳ này như sau:

“…Vua đàn bà mắt quáng buông rèm ngồi chốn thâm khuê, bọn họ ngoại lòng tham, khoác lác hoành hành khắp cõi, kẻ thân yêu nắm quyền vị, nạn hối

lộ được công khai Bậc túc nho như Lý Tử Tấn, Trình Thuấn Du thì đẩy vào chỗ nhàn, phường dốt đặc ồn ào như ong đàn nổi dậy, như chó chuột nhe răng Tể thần như Lê Sủng, Lê Sát thì ngu si không phân biệt sáu loại súc vật… Bậc lương thần như Trịnh Khả, Khắc Phục thì kèn cựa mà giết đi, người tài sĩ như Nguyễn Mộng Tuân thì đẩy vào vòng tai họa… Hiền tài là rường cột của triều đình mà sạch không như quét đất Văn chương là khí vận của nhà nước mà im ắng tựa cỏ khô Bọn xiểm nịnh được tin dùng, kẻ đao bút được tiến cử …” [24,605-606]

Vào cuối năm 1459, Nghi Dân cùng bọn đồ đảng nửa đêm bắc thang trèo thành, lẻn vào cung cấm giết vua Lê Nhân Tông và Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh rồi tự xưng làm vua Trong 8 tháng trị vì, do tính tình tàn bạo, hay chém giết vô cớ, nên quần thần oán giận Tháng 6 năm 1460, các đại thần trong triều đình tổ chức đảo chính, Nghi Dân cùng bọn tay chân đã

bị giết

Trang 24

Con thứ ba của vua Lê Thái Tông là Cung vương Khắc Xương được triều thần bàn định tôn lên ngôi vua, nhưng Khắc Xương đã từ chối Các quan liền đem xa giá đến rước người con út của Lê Thái Tông là Tư Thành Lúc ấy

Tư Thành đang ẩn náu tại An Bang cùng mẹ là Thứ phi Ngô Thị Ngọc Dao

Có thể nói, Tư Thành lên làm vua trong điều kiện đất nước suy tàn, nội bộ triều Lê khủng hoảng, tranh quyền, tước vị diễn ra làm cho lòng dân oán thán Điều đó đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ là phải cải cách, canh tân đất nước để vua tôi trên dưới giữ được tôn nghiêm, phép nước được kỷ cương Và bằng những cải cách phù hợp và táo bạo Tư Thành đã đưa đất nước vượt qua bao khó khăn thách thức

Khủng hoảng về chính trị và chuyển biến về kinh tế đã làm cho kết cấu

giai cấp ở thời nhà Lê có sự phân hóa không ngừng diễn ra Cơ bản trong xã

hội có 2 giai cấp chính là địa chủ phong kiến và nông dân Giai cấp địa chủ phong kiến được chia thành 2 tầng lớp chính là quý tộc, quan chức trung, cao cấp và địa chủ thường Bộ phận quý tộc dòng họ vua, tuy được ban cấp nhiều ruộng đất nhưng vẫn không thể cấu thành một lực lượng có điền trang và thế lực chính trị ở địa phương Một số lớn công thần khai quốc được ban họ vua (quốc tính) song không hình thành một tầng lớp quý tộc Các quan lại trung, cao cấp do được ban nhiều ruộng lộc mà trở thành địa chủ, nhưng không cách biệt với các địa chủ thường hoặc nhân dân và phần lớn xuất thân từ khoa cử Trong lúc đó, tầng lớp địa chủ thường hầu như rải rác ra ở các làng, xã, dần

dần trở thành những người chủ về mọi mặt

Vào thời Lê Thái Tổ thì những người có công trong cuộc kháng chiến chống quân Minh được phong làm các bậc đại công thần trong triều đình chủ yếu là quan võ Sau này triều đình đã mở rộng khoa thi cử cho mọi người, vì vậy, tầng lớp quan lại mới xuất thân từ Nho sĩ ngày càng đông Điều này làm xuất hiện mâu thuẫn giữa quan võ với tầng lớp Nho sĩ trong xã hội

Trang 25

Nho giáo đóng vai trò như dòng tư tưởng chính trong xã hội, nên mọi hoạt động hay nghi thức, nghi lễ của quan lại, dân chúng đều bị kiểm soát và hành động theo chuẩn mực Nho giáo Điều này càng làm cho chính quyền càng trở nên quan liêu và chuyên chế hơn

Tầng lớp quan lại là đẳng cấp cầm quyền, cai trị đồng thời cũng là rường cột của quốc gia Đây là tầng lớp được lựa chọn kỹ càng thông qua thi

cử, họ là những người hiểu biết, được nhà vua rèn luyện kiểm soát chặt chẽ Đây cũng là giai cấp có những đặc quyền, đặc lợi, trong tiêu chuẩn sinh hoạt được ban cấp ruộng đất, lương bổng… [14,22]

Do đặc thù nền kinh tế nông nghiệp nên nông dân chiếm số lượng đông đảo nhất trong xã hội Giai cấp nông dân gồm có 2 bộ phận: một là nông dân

tự do, gồm những người có chút ít ruộng đất riêng, bộ phận này không nhiều

và địa vị kinh tế xã hội rất bấp bênh, bởi giai cấp địa chủ luôn tìm cách chiếm ruộng đất của họ; hai là nông dân tá điền, gồm những người lĩnh canh ruộng đất của nhà nước và địa chủ để sản xuất, đây là bộ phận đông đảo nhất của giai cấp nông dân, họ bị bóc lột khá nặng và thường có nguy cơ bị đẩy xuống hàng gia nô hoặc tôi tớ

Tầng lớp gia nô vốn là tàn dư của xã hội trước nhà Lê Lực lượng này không đáng kể, họ được bổ sung thêm chút ít bởi những người bị phá sản phải bán thân làm gia nô Gần như tương đồng địa vị với gia nô là tôi tớ, gồm những người vì nghèo khổ mà phải đi ở đợ với những thời hạn dài ngắn khác nhau

Tầng lớp thợ thủ công và thương nhân chiếm một tỷ lệ nhỏ so với các giai tầng khác Tầng lớp này có một lịch sử hình thành khá lâu nhưng phải đến thời Lê Sơ thì họ mới là một lực lượng xã hội, dù số lượng còn rất bé nhỏ

Họ bị chính sách “Trọng nông ức thương” của nhà Lê hạn chế hoạt động và phát triển Nô tì cũng là một tầng lớp đáng kể trong xã hội

Trang 26

Nói chung, hai giai cấp cơ bản trong xã hội phong kiến thời Lê là địa chủ và nông dân Mâu thuẫn cơ bản trong xã hội là mâu thuẫn giữa hai giai cấp ấy Mức độ phát triển mâu thuẫn này chủ yếu là tùy thuộc ở mức độ bóc lột địa tô của địa chủ với tá điền

Điều kiện về văn hóa, giáo dục cũng tác động mạnh mẽ đến sự hình

thành tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông Có thể nói, tư tưởng cải cách của

Lê Thánh Tông không chỉ xuất phát từ điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội mà

còn ra đời trên cơ sở của văn hóa, giáo dục ở thế kỷ XV

Do yêu cầu phát triển của bộ máy phong kiến, nhà Lê đã mở rộng chế

độ giáo dục, thi cử nhằm đào tạo một đội ngũ trí thức Nho học đáp ứng yêu cầu phát triển bộ máy quan lại của chế độ quân chủ tập quyền Ngay từ năm

1428 khi lên ngôi Hoàng đế, Lê Thái Tổ đã hạ lệnh dựng lại Quốc tử giám ở kinh đô, mở trường ở các lộ, phủ, ban chiếu “cầu hiền” Giáo dục tuy được

mở rộng cho con em mọi tầng lớp nhân dân, nhưng vẫn có sự phân biệt về giai tầng Quốc tử giám chỉ dành riêng cho con em tầng lớp quý tộc quan lại

và một số học sinh được tuyển chọn ở các địa phương; còn các trường ở lộ, phủ thì mở rộng cho con em của mọi tầng lớp bình dân có điều kiện học tập Thầy giáo ở các trường đều do nhà nước lựa chọn cẩn thận và bổ nhiệm, gọi chung là giáo quan Giáo quan Quốc tử giám được chọn trong số những người

có học vấn lỗi lạc; giáo quan ở các trường lộ, phủ là những nhà Nho có tiếng

ở địa phương Năm 1435, dưới triều Lê Thái Tông, các giáo quan ở kinh đô

và các lộ được tập hợp về kinh để khảo hạch, ai yếu kém thì bị sa thải

Cùng với sự phát triển của nền giáo dục, chế độ thi cử cũng được tổ chức thường xuyên và quy định thành thể lệ nhất quán Lê Thái Tông cho các quan bàn định thể lệ thi cử, dự kiến đến năm 1438 mở khoa thi Hương ở địa phương và năm sau đó mở khoa thi Hội ở kinh đô Từ đó 3 năm một lần ai thi

đỗ Hội đều được phong là Tiến sĩ xuất thân Tuy nhiên, phải đến năm 1442,

Trang 27

nhà nước mới mở được khoa thi Hội đầu tiên Nói chung, chế độ giáo dục và thi cử thời Lê Sơ có mở rộng hơn trước, cho phép con em mọi tầng lớp nhân dân tham dự

Tất cả những điều kiện về chính trị – xã hội, kinh tế, văn hóa, giáo dục thời kỳ đầu nhà Lê là cơ sở cho sự hình thành tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông

1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG

Bất kỳ một tư tưởng nào xuất hiện cũng là sản phẩm của thời đại ấy Tư tưởng tiến bộ xuất hiện không chỉ phản ánh đúng với quy luật vận động lịch

sử ở giai đoạn đó mà nó còn chịu sự ảnh hưởng tác động, kế thừa lý luận của những thời đại trước đó Tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông cũng không ngoại lệ Mặc dù tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông xuất hiện do yêu cầu, nhiệm vụ của thời đại đặt ra nhưng nó cũng được thừa hưởng truyền thống cải cách của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tư tưởng Nho, Phật, Lão

Một trong những tiền đề lý luận ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành

tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông phải kể đến truyền thống văn hóa, tư

tưởng canh tân, đổi mới trong lịch sử tư tưởng Việt Nam

Sau một thiên niên kỷ đấu tranh chống lại sự thống trị của thực dân phương Bắc, những năm cuối thế kỷ IX – đầu thế kỷ X, thời cơ đã đến với nước ta Lúc này, lực lượng của dân tộc đã mạnh hơn xưa, còn quân xâm lược thì đã suy yếu do cuộc khủng hoảng Hậu Đường (821-907) và sự phản kháng mạnh mẽ của dân tộc ta đem lại Tận dụng thời cơ này, Khúc Thừa Dụ đã lãnh đạo nhân dân nổi lên giành được quyền làm chủ đất nước

Năm 907, Khúc Thừa Dụ mất, con là Khúc Hạo lên thay Ông đã kế thừa sự nghiệp của cha mình, chọn con đường cải cách về nhiều mặt để ổn

định, phát triển, xây dựng một quốc gia độc lập, tự chủ Với những “biện

Trang 28

pháp cải cách sáng suốt” [98,23], chính sách phù hợp, dựa vào sự ủng hộ của

nhân dân, Khúc Hạo đã thực hiện cuộc cải cách thành công đưa kinh tế phát triển, nền độc lập của đất nước ngày càng được củng cố vững chắc

Về chính trị, Khúc Hạo bãi bỏ bộ máy hành chính đô hộ cũ của nhà Đường để thành lập một bộ máy quản lý đất nước của triều đại mình Dưới thời thuộc Đường, chính quyền đô hộ xây dựng theo hệ thống các cấp: châu – huyện – hương – xã Khúc Hạo đã đổi hương làm giáp, đứng đầu có chức Quản giáp và Phó tri giáp, đặt thêm nhiều giáp mới tổng cộng có 314 giáp [55,203] Đơn vị hành chính thấp nhất là xã có các chức Chánh lệnh trưởng,

Tá lệnh trưởng Tiếp đó, để nắm được số dân trong nước, Khúc Hạo đã cho lập sổ hộ khẩu, bắt dân đinh phải “kê rõ họ tên, quê quán” và giao cho giáp trưởng coi giữ [95,101]

Về kinh tế, Khúc Hạo chủ trương “bình quân thuế ruộng, tha bỏ lực dịch” để giảm nhẹ mức bóc lột đối với nhân dân, xóa bỏ mâu thuẫn do chính

quyền đô hộ gây ra Về văn hóa, xã hội thời đó, sử sách đã tóm lược ngắn gọn

và rất rõ ràng trong câu “Chính sự cốt chuộng khoan dung giản dị Nhân dân đều được yên vui”

Với những biện pháp, bước đi hợp lý, cuộc cải cách do Khúc Hạo tiến hành đã tăng cường uy tín của chính quyền tự chủ và khả năng kiểm soát trực tiếp của chính quyền trung ương với các địa phương trong nước, xóa bỏ chế

độ áp bức, bóc lột nặng nề của chính quyền đô hộ cũ, nền độc lập được củng

cố, lãnh thổ được giữ vững Chính sự thành công của cuộc cải cách đã từng bước củng cố, phát triển kinh tế – xã hội, tạo tiền đề để thực hiện công bằng

xã hội, khoan nới sức dân, giúp nhân dân ổn định sản xuất Đây cũng là điều kiện để tập hợp lực lượng yêu nước dưới ngọn cờ cứu nước của họ Khúc để bảo vệ chủ quyền, tạo thuận lợi cho con đường phát triển sau này của đất nước Chính sách cải cách “khoan giản an lạc” do Khúc Hạo đề ra đã tạo tiền

Trang 29

đề cho tư tưởng cải cách tiến bộ được thực hiện vào các thời Ngô, Đinh, Lê,

Lý, Trần sau này

Cuộc cải cách của Khúc Hạo năm 907 là một biểu hiện về nền độc lập

tự chủ của dân tộc ta, thể hiện khát vọng xây dựng một chính quyền tự chủ, một đất nước độc lập thống nhất, tách khỏi phạm vi thống trị của chính quyền phong kiến phương Bắc Cuộc cải cách đã thực sự đáp ứng được mong muốn của nhân dân, nên được mọi người đồng tình ủng hộ Cải cách của Khúc Hạo tuy dựa trên những thiết chế đã có từ thời thuộc Đường, nhưng đã vượt qua hạn chế của nó, thể hiện rõ tinh thần của một quốc gia độc lập, có quyền tự

chủ Có thể nói, Khúc Hạo là nhà cải cách đầu tiên trong lịch sử Việt Nam

[55,212], cuộc cải cách này có ý nghĩa to lớn, mở đầu cho lịch sử tư tưởng cải cách và các cuộc cải cách sau này trong lịch sử Việt Nam

Sau thời họ Khúc, Ngô Quyền với chiến thắng Bạch Đằng lừng lẫy đã chính thức kết thúc 1000 năm Bắc thuộc của dân tộc, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự chủ Tiếp đó là sự phát triển của các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý

Khủng hoảng xã hội, mâu thuẫn nơi cung đình nhà Lê đến đỉnh điểm, thì việc nhà Lý lên thay như một tất yếu của lịch sử Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi, đã nhanh chóng tiến hành công cuộc khôi phục và xây dựng đất nước

Trước yêu cầu xây dựng đất nước trên quy mô lớn, đẩy mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế, mở mang văn hoá thì vào Thuận Thiên năm thứ 1 (1010),

Lý Công Uẩn đã tự tay viết chiếu để bày tỏ ý muốn dời kinh đô Ông đã mượn những kinh nghiệm trong sử sách của các bậc vua chúa để nói lên mục đích

của mình:“Ngày xưa, nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu

đến Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam đại ấy theo ý riêng

tự dời đô xằng bậy đâu Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa,

Trang 30

làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu

có tiện thì dời đối, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh” [23,358]

Chính vì mong muốn “mưu nghiệp lớn”, cho nên các quan thần đều tuân theo Các nhà sử gia đều đánh giá cao điều này: “Vua nhận mệnh sâu sắc lặng lẽ, dời đô yên nước, lòng nhân thương dân, lòng thành cảm trời” [98,43] Chính vì xuất phát từ mong muốn làm cho nhân dân ấm no, đất nước giàu mạnh, thiên hạ thái bình nên việc dời đô của Lý Công Uẩn đã được mọi người đồng tình Và sự thật đã minh chứng rõ ràng, với việc dời đô, nền kinh tế đất nước có những bước khởi sắc, tạo tiền đề thuận lợi cho đổi mới về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của Đại Việt dưới triều Lý

Lý Công Uẩn lên ngôi và tiến hành cải cách đất nước là một tất yếu, thuận theo yêu cầu của lịch sử lúc bấy giờ Nhờ đổi mới mà đất nước đã có bước phát triển đáng kể, đạt được những thành tựu to lớn Điều này chính là nền tảng giúp nhà Lý xây dựng đất nước phồn thịnh và tồn tại hơn 200 năm (1010-1225), trở thành một triều đại trị vì lâu dài trong lịch sử phong kiến Việt Nam

Chiến lược cải cách của Lý Công Uẩn không dừng lại sau khi ông mất,

mà nó được các vị vua hậu bối kế thừa và tiếp tục công cuộc cải cách về: luật pháp, quân đội, kinh tế… nhằm xây dựng vương triều nhà Lý hùng mạnh

Nửa sau thế kỷ XIV, Đại Việt thời kỳ cuối vương triều Trần đã lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Mất mùa liên tiếp, thuế khóa nặng nề, đời sống của nhân dân vô cùng khổ cực, lầm than, quý tộc nhà Trần từng có công trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, bảo vệ tổ quốc, giờ đây quay lại thẳng tay bóc lột nhân dân, chỉ lo ăn chơi hưởng lạc, bắt nhân dân xây dựng thành quách, cung điện cho mình Trong triều việc chia bè kéo cánh, tranh giành quyền lực xảy ra liên miên Nhà Trần lúc này lâm vào tình thế vô cùng quẫn bách, vừa phải đối phó

Trang 31

với những cuộc nổi dậy của nhân dân, và phải dè chừng cuộc xâm lược ngày càng đến gần của quân Minh

Trước tình hình đó, sau nhiều năm âm thầm củng cố lực lượng, vào năm 1400, Hồ Quý Ly đã truất ngôi vua Trần và lên ngôi Hoàng đế, lập ra nhà Hồ Đổi niên hiệu đất nước là Đại Ngu, và tiến hành xây dựng một vương triều mới

Đứng trước tình thế bất lợi, Hồ Quý Ly đã nhận rõ sự đổ vỡ, suy sụp của triều Trần nên tiến hành công cuộc cải cách đất nước Việc chấn hưng đất nước bằng con đường cải cách lúc này là một việc làm hết sức khó khăn vì, trong bối cảnh sự phân hóa giàu nghèo, quan lại nhà nước thì chia phe phái, nhân dân bất bình với triều đình, nhưng Hồ Quý Ly vẫn đưa ra một quyết sách hết sức táo bạo, đó là cải cách toàn diện đất nước từ kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng… từ trung ương đến địa phương

Sự nghiệp cải cách đất nước của Hồ Quý Ly không phải mới bắt đầu khi lên làm vua, mà thực tế tư tưởng cải cách đất nước đã được ông chuẩn bị

và ấp ủ trong suốt 35 năm nắm quyền ở triều Trần và triều Hồ Tuy nhiên, do không gần dân, không được lòng dân nên Hồ Quý Ly vấp phải sự phản kháng của các tầng lớp nhân dân Vì vậy, cuộc cải cách của ông cũng không thành công và hậu quả là nhà Hồ đã để đất nước rơi vào tay xâm lược nhà Minh

Xét nội dung cải cách của Hồ Quý Ly, phải thừa nhận rằng ông là một người có tài, có tính quyết đoán, và có tầm nhìn sáng suốt Ông nhận thức được sự nguy hại của cuộc khủng hoảng cuối đời Trần, nên đã nhanh chóng thực hiện cuộc cải cách trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, giáo dục nhằm tăng cường củng cố chế độ quân chủ tập quyền, đồng thời giải quyết các vấn đề về kinh tế – xã hội lúc bấy giờ Tuy nhiên, do Hồ Quý Ly không thấy được vai trò to lớn của nhân dân, không lấy được lòng dân, không

Trang 32

tập hợp được sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc, nên cuộc cải cách của ông

đã khép lại bằng sự sụp đổ của nhà Hồ năm 1407

Sự xuất hiện tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly vào cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV đã tạo tiền đề cho bước phát triển mới của lịch sử dân tộc trong quá trình xây dựng, củng cố quốc gia phong kiến trung ương tập quyền Với

tư tưởng cải cách của mình, Hồ Quý Ly đóng vai trò “là người mở đầu thời điểm cải cách quan trọng trong lịch sử trung đại Việt Nam” [50,192] Tư

tưởng cải cách của Hồ Quý Ly đã góp phần định hướng tiến trình vận động của xã hội Việt Nam trong những thế kỷ tiếp theo

Các cuộc cải cách trên dù thực hiện nhiều biện pháp khác nhau và thất bại hay thành công, đều xuất phát từ mục đích duy nhất, là xây dựng một đất nước giàu mạnh, bảo đảm độc lập, tự chủ, tự cường, đem lại cuộc sống ấm

no cho nhân dân Những cuộc cải cách trên là bài học kinh nghiệm cho các

vị vua hậu bối học tập và rút kinh nghiệm trong quá trình xây dựng vương triều mình

Lê Thánh Tông là người đi sau, ông đã kế thừa, phát huy những thành tựu, khắc phục những hạn chế của các quan điểm về cải cách từ Khúc Hạo, Lý Công Uẩn và Hồ Quý Ly phù hợp với yêu cầu cấp thiết của lịch sử lúc bấy giờ Kế thừa và phát triển tư tưởng tiến bộ của ông cha, xuất phát từ lòng yêu nước sâu sắc của mình, Lê Thánh Tông đã hình thành tư tưởng cải cách đất nước Bên cạnh đó, tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông còn được kế thừa trực tiếp tư tưởng của Nguyễn Trãi Cho nên, khi nghiên cứu tiền đề lý luận hình thành tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông không thể không nói đến Nguyễn Trãi – nhà tư tưởng kiệt xuất của dân tộc

Vào nửa đầu thế kỷ XV, Phật giáo lún dần vào con đường suy thoái, và Nho giáo đang bùng lên mạnh mẽ Nguyễn Trãi lựa chọn hệ tư tưởng Nho giáo làm nền tảng tinh thần xã hội, vì Nho giáo là đạo nhập thế, là đạo đề cập

Trang 33

đến vấn đề kinh bang tế thế, có thể giúp ông thực hiện được lý tưởng cứu dân, giúp nước

Nguyễn Trãi rất tin vào mệnh trời, vận trời; ông coi đó như là một lực lượng siêu hình có sức mạnh, có ý chí, quy định trật tự xã hội Ông quan niệm, mệnh trời được thể hiện trong vận nước, mệnh vua, trong cuộc sống giàu sang, nghèo hèn, trong thành bại… Vận nước, mệnh vua là do trời quy định Nếu một ông vua có nhân, có đức, có tấm lòng yêu nước thương dân thì

sẽ được trời giúp, “nước thịnh hay suy, quan hệ ở trời” [125,130] Vì thế, ông

đã răn dạy thái tử “giúp đỡ cho người có đức là trời, khó biết không thường cũng lại là trời” [124,396] Nhưng đồng thời, Nguyễn Trãi cũng tin vào sự tuần hoàn của trời, của thiên đạo: rằng hết xuân hạ đến thu đông, hết cơn bĩ cực đến hồi thái lai, cuộc đời luôn xoay vần chứ không bao giờ đứng yên Nguyễn Trãi còn tin ở chu kỳ xoay vần của trời đất, vào việc con người nếu biết tuân theo lẽ trời, mệnh trời có thể yếu biến thành mạnh, bại chuyển thành thắng [13,103] Ngược lại, nếu con người không theo “ý trời”, “lòng trời” thì

có thể “biến thân thiết làm thù địch, chuyển yên thành nguy” và “tự rước họa

vào thân” [125,174-175] “Tư tưởng mệnh trời đã được Nguyễn Trãi sử dụng như là cơ sở quan trọng để khẳng định nền độc lập tự chủ của đất nước hay củng cố lòng tin của nhân dân vào cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, bảo vệ

tổ quốc” [62,66]

Trong tư tưởng triết lý nhân sinh của Nguyễn Trãi, nội dung nổi bật sâu sắc nhất là quan điểm về nhân nghĩa Nội dung chủ yếu trong khái niệm nhân nghĩa của Khổng Tử và Mạnh Tử có tính chất bảo thủ, tôn sùng quá khứ và gắn với mục đích phục vụ giai cấp thống trị “bình thiên hạ” không phải bằng

vũ lực mà bằng đạo đức (đức trị) Đạo nhân nghĩa chỉ là đạo của đấng trượng phu, bậc quân tử, còn những kẻ tiểu nhân, tức là quần chúng đông đảo thuộc các tầng lớp dưới thì không thể có đạo nhân được Còn đối với Nguyễn Trãi,

Trang 34

trước hết “nhân nghĩa cốt ở an dân – nhân nghĩa chi cử vụ tại an dân” [125,77], là “dùng quân nhân nghĩa cứu dân khổ, đánh kẻ có tội”, là “đại đức hiếu sinh, thần vũ bất sát, đem quân nhân nghĩa đi đánh dẹp cốt để an dân” [125,153,187] Như vậy, nhân nghĩa chính là yêu nước, thương dân, đánh giặc, trừ bạo cứu nước, an dân

Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi còn tiến xa hơn nữa, đó là lý tưởng xây dựng một đất nước thái bình, bên trên vua thánh tôi hiền, bên dưới

“thôn cùng xóm vắng không còn tiếng hờn giận oán sầu” [13,115] Theo Nguyễn Trãi một đất nước thái bình là đất nước có cuộc sống phồn vinh, tươi đẹp, đồng thời có sự hòa thuận, yên vui với các nước khác, và ông cho đó là nguyện vọng thiết tha của mọi người, mọi tầng lớp, mọi dân tộc

Đối với dân, Nguyễn Trãi coi dân là gốc nước, dân có quan hệ tới sự an nguy của triều đại Bởi vì theo ông, dân là số đông, là cơ sở của xã hội, là lực lượng có vai trò quyết định đến sự ủng hộ hoặc phế truất nền thống trị của

một triều đại, một ông vua, “Mến người có nhân là dân, mà chở thuyền và làm lật thuyền cũng là dân” [110,87] Theo ông, mọi chủ trương, đường lối,

chính sách của triều đình đều phải lấy lợi ích của nhân dân làm đầu, phải đem lại cho dân cuộc sống ấm no, hạnh phúc, và triều đình phải được lòng dân Vì nếu được sự ủng hộ của nhân dân thì việc gì cũng thành công, còn nếu không thì trước sau cũng bị thất bại Cho nên đối với Nguyễn Trãi “yêu nước là thương dân, để cứu nước phải dựa vào dân, và cứu nước là để cứu dân, đem lại thái bình cho dân, cho mọi người” [102,14] Vượt lên các nhà trí thức Nho học đương thời, Nguyễn Trãi đã có một cái nhìn mới, một nhận thức mới về

dân, và tư tưởng thân dân của ông đã trở thành tư tưởng vĩ đại nhất trong lịch

sử tư tưởng Việt Nam thời phong kiến [25,59]

Về lý luận đạo đức trong các quan hệ xã hội như: vua – tôi, cha – con, chồng – vợ, anh – em, bạn bè, Nguyễn Trãi đặc biệt chú trọng đến mối quan

Trang 35

hệ vua – tôi Theo quan điểm của ông, bề tôi phải có nghĩa vụ “trung” với vua nhưng không phải là “trung” một cách cứng nhắc theo kiểu “trung thần bất sự nhị quân” hay “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” Ông cho rằng trung thần là người phải biết chọn vua để thờ, biết làm cho vua có đức có tài như Nghiêu, Thuấn, biết giúp vua đưa đất nước đến chỗ thái bình, thịnh trị [107,277] Như vậy, quan niệm về “trung” của Nguyễn Trãi tiến bộ hơn rất nhiều so với quan điểm của Nho giáo Bậc bề tôi nhất thiết là phải “trung” với vua, nhưng đó phải là vị vua anh minh, phải biết chăm lo cho nhân dân, đất nước chứ không phải là một vị vua bạc nhược, vô tài Nguyễn Trãi đã sống đúng đạo trung thần của mình Ông từ bỏ nhà Trần để đi theo nhà Hồ, rồi khi giặc Minh xâm lược, ông lại theo phò Lê Lợi Chính vì nhận thức được ở những vị vua có khả năng đem lại lợi ích, hạnh phúc cho đất nước, cho nên ông mới hết mực “trung” với vị vua đó

Quan điểm Nguyễn Trãi về thiên mệnh, trung dung, tam cương ngũ thường, nhân nghĩa, về thời thế… mang nhiều nội dung vượt lên trên Nho giáo có tính kinh viện Những quan điểm ấy đã được ông sử dụng một cách uyển chuyển, linh hoạt phù hợp với hoàn cảnh của dân tộc, nó mang màu sắc

và cốt cách mới Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là chuẩn mực của

nguyên tắc đối xử trong giải quyết mọi việc Nó thực sự là một nền tảng phương pháp luận của suy nghĩ và hành động [21,92] Quan điểm này được

ông mở rộng ra trong việc đối xử với nhân dân, thể hiện sự coi trọng nhân dân

“nước lấy dân làm gốc”, hay ước muốn thực hiện một mối quan hệ tốt giữa người trị nước và nhân dân nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là xây dựng một xã hội tốt đẹp trong đó nhân dân sống bình đẳng, hòa bình và hạnh phúc

[119,300] Tư tưởng tiến bộ đó của Nguyễn Trãi mang đậm sắc thái của tinh thần yêu nước truyền thống của người Việt Nam

Trang 36

Tư tưởng của Nguyễn Trãi về nhân nghĩa, lấy dân làm gốc, thực hiện luân lý, đạo đức trong phép trị nước… là những quan điểm tiến bộ phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của thực tiễn đặt ra Quan điểm này có ý nghĩa, giá trị lịch sử sâu sắc đã được Lê Thánh Tông tiếp thu kế thừa trong việc thực hiện

công cuộc cải cách của mình

Tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông không chỉ được kế thừa một cách sáng tạo từ tư tưởng cải cách trong lịch sử dân tộc Việt Nam mà còn tiếp thu những hạt nhân hợp lý quan điểm của Nho giáo về phép trị nước, về nhân trị, lễ trị…

Nho giáo là một trong những trường phái triết học lớn của Trung Quốc

do Khổng Tử (551-479 Trước Công Nguyên) – nhà tư tưởng, nhà chính trị, nhà giáo dục lớn sáng lập Quá trình hình thành và phát triển của Nho giáo, từ thời Xuân Thu – Chiến Quốc đến thời kỳ phong kiến có thể khái quát thành

ba giai đoạn chính, đó là Nho thời kỳ Tiên Tần, Nho thời kỳ Lưỡng Hán, và Nho thời kỳ Tống – Minh – Thanh

Nho thời kỳ Tiên Tần là học phái đại biểu cho lợi ích của giai cấp chủ

nô đang suy tàn thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc Người sáng lập ra Nho gia là nhà tư tưởng nổi tiếng Khổng Tử và nhân vật đại biểu thứ hai là Mạnh Tử Khổng Tử thiết lập một hệ thống triết học bắt đầu từ sự đề cao đạo “trung hòa”, “trung dung”, đi đến quan điểm “thiên lý”, “thiên mệnh”, coi đó là lý màu nhiệm lưu hành trong trời đất, chi phối vạn vật Từ đó, ông nhấn mạnh quan điểm tri mệnh, úy mệnh, thuận mệnh và tin vào số mệnh “tử sinh hữu mệnh, phú quý tại thiên” [12,489] Điểm chú ý trong tư tưởng Khổng Tử là tư tưởng “đức trị” hay “nhân trị”, “vi chính dĩ đức”, tức là lấy cái đức để làm chính trị, dùng đức nhân để thu phục thiên hạ, thi hành rộng rãi với phương pháp lễ trị, để trị nước với cương lĩnh “khắc kỷ phục lễ” nhằm phục hồi chế

Trang 37

độ tông pháp nhà Chu, bảo vệ lợi ích và địa vị thống trị của giai cấp quý tộc chủ nô

Đứng trên lập trường của giai cấp quý tộc chủ nô, Mạnh Tử (372-289 Trước công nguyên) đã chủ trương thực hiện “nhân chính” – một học thuyết chính trị đặc sắc Vấn đề then chốt trong tư tưởng nhân chính của Mạnh Tử là học thuyết về tính thiện Tính thiện là bản nguyên tinh thần vốn có, là thiên lý trời phú cho con người Nó được thể hiện qua bốn đức lớn là nhân, nghĩa, lễ,

trí Trong phép trị nước, Mạnh Tử chủ trương thực hiện nhân chính

Đại biểu Nho gia thời kỳ Lưỡng Hán là Đổng Trọng Thư (179-104 Trước công nguyên) Ông đã có công khôi phục và hệ thống hóa tư tưởng Nho học thời kỳ Tiên Tần, nhất là phần triết lý đạo đức nhân sinh Triết lý nhân sinh ấy có sự kết hợp tư tưởng Nho học với chủ nghĩa thần bí trong thuyết âm dương ngũ hành, phục hồi lý luận chính trị thần quyền thời Tây Chu, tạo nên hình thái mới của Nho học, nó được coi là hình thức phát triển mới của Nho gia và trở thành hệ tư tưởng thống trị của xã hội phong kiến thời

kỳ Lưỡng Hán về sau

Nho học thời kỳ Tống về sau có sự kế thừa, dung hợp với Lão và Phật, nhưng Nho là dòng chủ lưu (969-1840) Để duy trì và củng cố nền thống trị phong kiến tập quyền, giai cấp thống trị đời Tống về sau đã chủ trương độc tôn Nho học, phản đối Pháp gia, cạnh tranh kế thừa tư tưởng của các học phái Phật giáo, Đạo gia, sáng tạo nên một hình thức mới của Nho giáo gọi là Lý học hay Đạo học Nó đã phát triển tư tưởng của Nho giáo qua hệ thống các nguyên lý, các cặp phạm trù trên các lĩnh vực bản thể luận, nhận thức luận và đạo đức nhân sinh như “đạo” và “khí”, “lý” và “khí”, “tâm” và “vật”, “tri” và

“hành”, “trí tri cách vật”, “thiên lý”, “nhân dục, “tam cương ngũ thường” với các nhà tư tưởng tiêu biểu như Trình Hạo, Trình Di, Chu Hi, Lục Cửu Uyên, Vương Thủ Nhân, Đới Chấn, Nhan Nguyên

Trang 38

Những quan điểm có giá trị của Nho giáo được du nhập vào Việt Nam khá sớm nhưng tư tưởng Tống Nho có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành

tư tưởng cải cách của Lê Thánh Tông Tài liệu lịch sử đã ghi nhận Nho giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm Ngay từ thời Bắc thuộc, những hoạt động xã hội mang màu sắc Nho giáo như việc mở các trường học dạy kinh điển Nho gia, tiến hành các nghi thức cúng tế thần linh đã xuất hiện Nho giáo vào Việt Nam từ thời Tây Hán, tức khoảng năm thứ 110 Trước công nguyên đến năm 39, khi đó Thái thú Giao Chỉ là Tích Quang lấy nghĩa dạy dân, Thái thú Cửu Chân là Nhâm Diên dạy dân bằng lễ [37,86] Từ 187-226, Thái thú Giao Châu là Sỹ Nhiếp giỏi Thi, Thư, Kinh Xuân Thu đã giáo hóa dân chúng trên nền tảng của các kinh đó, và ông được dân ta tôn là Nam Giao học tổ

Từ thời nhà Tấn đến nhà Lương, xã hội Trung Quốc loạn lạc Giai đoạn này Lão giáo là hệ tư tưởng chủ lưu ở Trung Quốc, nên sự ảnh hưởng Nho học ở Việt Nam thời kỳ này hầu như không có bước tiến bộ nào đáng kể Đến thời kỳ Tùy – Đường, khi Trung Quốc thống nhất trở lại, chính sách đồng hóa của phong kiến phương Bắc lại được tiếp tục đẩy mạnh, sự ảnh hưởng của Phật giáo và sự truyền bá Nho giáo, Hán học vào Việt Nam phát triển thêm một bước Nhìn tổng thể, thời Bắc thuộc, Nho giáo ít đi vào các tầng lớp xã hội bản xứ

Đến thời Lý – Trần – Hồ thì Nho giáo khẳng định vị thế ngày một rõ trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng và có vai trò quan trọng trong thực tế, đặc biệt

là đường lối trị nước

Ở Việt Nam từ thời Lý (giữa và cuối thế kỷ XI) xuất hiện yêu cầu xây dựng nhà nước quân chủ trung ương tập quyền, nên việc thực hiện và mở rộng chế độ giáo dục, thi cử để đào tạo quan lại đã đưa đến sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của Nho giáo Các triều Lý – Trần đều mở trường Quốc tử

Trang 39

giám (Quốc học) với nội dung học tập là Nho giáo Thi cử được thể chế hóa Những người đỗ đạt cao, thấm nhuần sâu sắc đạo Khổng – Mạnh ngày càng nhiều, ngày càng nắm giữ những chức vụ quan trọng trong triều chính Con

em nhân dân đến trường học, tiếp thụ Nho giáo cũng ngày càng đông (thông qua các trường công ở các lộ, đạo, và trường tư ở các làng xã) [82,152]

Đặc điểm mới của Nho giáo thời Lý – Trần là việc mở mang giáo dục thi cử theo Nho học với tốc độ ngày càng tăng, quy mô ngày càng lớn Nhà Trần có ý thức lấy giáo dục thi cử để tuyển dụng nhân tài, bởi vậy tầng lớp Nho sĩ ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Tầng lớp Nho sĩ với số lượng ngày càng tăng khiến cho văn học, tư tưởng càng thêm phong phú, ngành sử học ra đời

Ảnh hưởng của Nho giáo trong dân chúng ngày càng tăng, nhất là vào thời Trần – Hồ Sự phát triển của Nho giáo vào thế kỷ XIV dần dần lấn át Phật giáo

Các vua thời Trần đã phê phán bệnh giáo điều của Nho giáo, cuối thời Trần còn xuất hiện khuynh hướng cải cách Nho giáo cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam mà người đại diện tiêu biểu là Hồ Quý Ly Ông đã tiến hành một loạt cải cách, trong đó có thi cử học hành, nhận thức lại Nho giáo [37,293] Năm 1396, Hồ Quý Ly ra lệnh sa thải bớt tăng đồ, bắt tất cả các nhà

sư chưa đến 50 tuổi phải hoàn tục và tổ chức thi giáo lý nhà Phật, ai thông hiểu mới được ở lại làm sư Nhà Hồ cũng ngăn cấm và xử phạt nặng những người làm nghề phương thuật [94,254-255] Để tăng cường sức mạnh cho nhà nước quân chủ tập trung, Hồ Quý Ly có ý thức “Nho giáo hóa” đời sống xã hội và trọng dụng các Nho sĩ có tài, kể cả Nho sĩ lớp dưới Năm 1397, qua vua Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly lệnh cho các lộ phủ đều được đặt chức học quan để đôn đốc việc học ở các địa phương và hàng năm tiến cử người ưu tú cho triều đình Năm 1400, vừa mới thiết lập triều chính xong, Hồ Quý Ly đã

Trang 40

cho mở kỳ thi Thái học sinh, lấy đỗ 20 người, trong đó có Nguyễn Trãi Thái

độ đối với Nho giáo và Nho sĩ của Hồ Quý Ly đã có tác dụng rất lớn trong dân chúng Và có thể thấy dưới thời nhà Hồ, Nho giáo được nhà nước khuyến

khích mạnh mẽ hơn bất cứ lúc nào trước đó Điều chắc chắn là đến nhà Hồ, Nho giáo đã chiếm ưu thế tuyệt đối trong bộ máy nhà nước [32,71]

Đến thời kỳ kháng chiến chống quân Minh, Nho giáo trở thành một vũ khí tư tưởng lợi hại theo nghĩa “gậy ông đập lưng ông”, làm tan vỡ hàng ngũ quân thù Khi Lê Lợi lên ngôi vua, do muốn độc tôn Nho giáo, loại trừ kiểu thức tam giáo, đả kích Phật giáo nên đã “ra lệnh chỉ cho tăng đạo, người nào thông kinh điển, trong sạch, giữ tiết hạnh, hẹn đến ngày 20 tháng này tới sảnh đường trình diện, để xét duyệt cho thi, ai đỗ thì cho làm tăng đạo, ai không đỗ thì bắt hoàn tục” [24,467] Thi cử là hình thức kiểm tra sự ghi nhớ và nhận thức các kinh điển, từ chương Phật giáo, nghĩa là về phương diện sách vở có sẵn để xem xét trình độ Phật giáo

Nho giáo ở thời Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông cũng được tôn sùng Việc sử dụng bùa chú, các hành vi phù thủy như yểm, trừ tà, cầu xin ân đức, thờ cúng các ngẫu tượng… đều bị coi là trọng tội Lối sống của các quan lại,

kể cả các công thần khai quốc đều được định hướng ý thức theo hướng Nho hóa lối sống [18,31-32]

Ở văn bia khắc Bài ký đề tên Tiến sĩ khoa Quý Mùi (1463) niên hiệu

Quang Thuận thứ 4 do Hàn lâm viện thị giảng Đông các Hiệu thư Đào Cử soạn năm Giáp Thìn (1484), niên hiệu Hồng Đức thứ 15, đã nhận xét khái quát về vị trí ngày càng được đề cao của Nho giáo dưới thời vua Thái Tông, Nhân Tông như sau:

“Đức Thái Tông, Văn Hoàng đế mở mang thêm quy mô, tập hợp hết anh hùng, đặt khoa thi chọn người giỏi, tiến cử bậc Nho gia chân chính để phụ giúp việc trị nước…” “Đức Nhân Tông Hoàng đế, theo khuôn phép cũ, nối

Ngày đăng: 07/05/2021, 18:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w