1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiêu điểm tương phản trong cấu trúc thông tin câu tiếng việt (so sánh với câu tiếng anh)

180 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng phải mất một thời gian rất dài; mãi cho đến khi những công trình nghiên cứu về dụng học được hình thành và phát triển, thì cấu trúc thông tin CTTT và hàng loạt những vấn đề có liên

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

***********

PHẠM NGỌC TRIẾT

TIÊU ĐIỂM TƯƠNG PHẢN TRONG CẤU TRÚC THÔNG TIN CÂU TIẾNG VIỆT

(SO SÁNH VỚI CÂU TIẾNG ANH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS TS TRỊNH SÂM

Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2013

Trang 3

1.3 Lược sử hệ thống lý thuyết về cấu trúc thông tin

1.4 Đóng gói thông tin

1.5 Cấu trúc thông tin

1.6 Cấu trúc tiêu điểm

1.7 Thông tin tương phản

1.7.1 Định nghĩa và phân loại thông tin tương phản 1.7.2 Những cách tiếp cận thông tin tương phản

1.7.2.1 Cách tiếp cận về mặt ngữ âm 1.7.2.2 Cách tiếp cận về mặt ngữ nghĩa 1.7.2.3 Cách tiếp cận về mặt cú pháp 1.7.3 Phân loại tiêu điểm tương phản

1.8 Quan điểm vận dụng của luận văn

1.9 Tiểu kết

CHƯƠNG 2: CẤU TRÚC TIÊU ĐIỂM TƯƠNG PHẢN

2.1 Đặt vấn đề

2.2 Tương phản trên bình diện ngữ âm

2.2.1 Trọng âm tiếng Việt

2.2.1.1 Chức năng ngữ pháp của trọng âm 2.2.1.2 Chức năng ngữ dụng của trọng âm 2.2.2 Ngữ điệu tiếng Việt

2.2.2.1 Định nghĩa ngữ điệu 2.2.2.2 Chức năng của ngữ điệu 2.2.2.3 Ngữ điệu tương phản 2.3 Tương phản trên bình diện từ vựng - ngữ nghĩa

2.3.1 Phụ từ 2.3.2 Trợ từ 2.3.3 Quan hệ từ 2.4 Tương phản trên bình diện cú pháp

Trang 4

2.4.1 Mô hình biến đổi cấu trúc câu đề - thuyết

2.4.1.1 Di chuyển phần thuyết 2.4.1.2 Di chuyển bổ ngữ của chủ ngữ 2.4.1.3 Di chuyển bổ ngữ của vị từ 2.4.1.4 Di chuyển các thành phần phụ của câu 2.4.2 Mô hình biến đổi cấu trúc câu tiêu điểm - tiền giả định - Cấu trúc triển khai

2.4.2.1 Câu triển khai một bậc

2.4.2.1 Cấu trúc triển khai có đề là danh ngữ 2.4.2.1 Cấu trúc triển khai có đề là đại từ 2.4.2.2 Câu triển khai nhiều bậc

2.5 Tiểu kết

CHƯƠNG 3: SO SÁNH CẤU TRÚC TƯƠNG PHẢN TRONG

CÂU TIẾNG ANH VÀ CÂU TIẾNG VIỆT

3.2.2 Ngữ điệu tiếng Anh

3.2.2.1 Cách tiếp cận truyền thống ở cấp độ câu

3.2.2.1 1 Cách tiếp cận theo phong cách Anh 3.2.2.1 2 Cách tiếp cận theo phong cách Mỹ 3.2.2.1 3 Cách tiếp cận theo kiểu Bolinger 3.2.2.1 4 Ngữ điệu tương phản ở cấp độ câu 3.2.2.2 Cách tiếp cận hiện đại ở cấp độ diễn ngôn

3.2.2.2 1 Cách tiếp cận theo phong cách Anh 3.2.2.2 2 Cách tiếp cận theo phong cách Mỹ 3.2.2.2 3 Ngữ điệu tương phản cấp độ diễn ngôn 3.3 Đối chiếu sự tương phản trên bình diện ngữ âm

3.3.1 Những điểm tương đồng 3.3.2 Những điểm khác biệt 3.4 Lớp từ đánh dấu sự tương phản trong tiếng Anh

Trang 5

3.4.2 Trạng từ chỉ mức độ 3.4.2 Trợ động từ ‘to do’

3.5 Đối chiếu sự tương phản trên bình diện từ vựng

3.5.1 Những điểm tương đồng 3.5.2 Những điểm khác biệt 3.6 Cấu trúc câu tiếng Anh không điển dạng

3.6.1 Đưa lên đầu câu

3.6.1.1 Di chuyển tiêu điểm của câu 3.6.1.2 Đề hoá

3.6.2 Thay đổi vị trí bằng phép đảo ngữ 3.6.3 Di chuyển đứng tách rời về bên trái 3.6.4 Cấu trúc triển khai

3.6.4.1 Cấu trúc triển khai It-cleft 3.6.4.2 Cấu trúc triển khai Wh-cleft 3.6.4.3 Cấu trúc triển khai Wh-cleft đảo 3.7 Đối chiếu sự tương phản trên bình diện cú pháp

3.7.1 Những điểm tương đồng 3.7.2 Những điểm khác biệt 3.8 Tiểu kết

KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DẪN NHẬP

Cấu trúc thông tin (CTTT - information structure) đã được trường phái ngôn ngữ học Praha chú ý đến từ rất lâu với đề xuất của V Mathesius (1939, 1941a,b) về cách phân tích chức năng câu (the functional analysis of a sentence), để phân biệt với cách phân tích câu đơn thuần về mặt cú pháp mà các nhà ngữ học hình thức vẫn thường sử dụng để phân tích câu trước đó Theo đề xuất này, câu được chia thành hai bộ phận chức năng Đề-Thuyết (theme-rheme) Phần đề nêu lên đối tượng hay sự vật sẽ được nói đến trong phần thuyết Phần thuyết là những điều được nói về cái đề này Như vậy, thông tin ở phần đề là thông tin đã biết, còn thông tin ở phần thuyết là thông tin mới Từ ý tưởng ban đầu của Mathesius, các học trò của ông, nhất là Jan Firbas (1921-2000), đã nghiên cứu và đem áp dụng vào tiếng Anh (từ thập niên 1950) để phát triển thành lý thuyết về ‘quan điểm chức năng câu’ (The functional sentence perspective - FSP); với khái niệm tỷ lực thông báo là những yếu tố mang thông tin trong câu giúp hiểu được ý nghĩa lời nói Nhưng phải mất một thời gian rất dài; mãi cho đến khi những công trình nghiên cứu về dụng học được hình thành và phát triển, thì cấu trúc thông tin (CTTT) và hàng loạt những vấn đề có liên quan như đề, tiêu điểm thông tin mới và tiêu điểm tương phản mới được tiếp cận một cách đầy đủ và có hệ thống

Những điều vừa trình bày ở trên chỉ đúng với tiếng Anh, còn trong tiếng Việt, các công trình nghiên cứu về cấu trúc thông tin và những vấn đề có liên quan chỉ mới được giới thiệu và nghiên cứu bước đầu, chưa thật đầy đủ

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Nhằm tìm hiểu cơ chế lập mã (encode) và giải mã (decode) của thông tin tương phản, được thể hiện trong cấu trúc thông tin của một câu, nhất là những biểu hiện trên một số phương tiện ngôn ngữ như trọng âm - ngữ điệu, từ vựng - ngữ nghĩa và cú pháp; chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Tiêu điểm tương phản trong CTTT câu tiếng Việt (so sánh với câu tiếng Anh)” làm đề tài nghiên cứu

Trang 7

2 GIỚI HẠN ĐỀ TÀI

Theo K Lambrecth (1994) và những người có cùng quan niệm với ông, CTTT trải dài trên nhiều bình diện ngôn ngữ Tùy theo cách tiếp cận của những nhà nghiên cứu khác nhau mà có những cách phân chia thông tin và phân biệt các thành phần cơ bản thuộc CTTT trong một câu theo những kiểu cách khác nhau Chẳng hạn như cách phân chia thông tin theo mô hình nhị phân, tam phân Nhị phân thì lại còn có nhị phân gián đoạn và nhị phân liên tục Đi kèm với sự phân chia khác nhau này là những thuật ngữ được dùng khác nhau, có khi những thuật ngữ khác nhau này cùng chỉ chung một khái niệm; có khi thuật ngữ được dùng lẫn lộn để chỉ những khái niệm khác nhau Cùng một khái niệm, có khi lại được phân ra nhiều lớp phụ như cách phân loại tiêu điểm thông tin mới, trong đó, tiêu điểm rộng phân biệt với tiêu điểm hẹp; tiêu điểm toàn thể phân biệt với tiêu điểm bộ phận; tiêu điểm câu phân biệt với tiêu điểm tham tố và tiêu điểm vị ngữ [64]

Khi nói đến sự tương phản trong CTTT, thì ngoài đề và tiêu điểm thông tin mới, còn có thêm đề tương phản và tiêu điểm tương phản Đề tương phản có khi cũng chính là tiêu điểm thông tin mới; tiêu điểm thông tin mới có khi lại cùng ở trong một câu có đề tương phản Cũng giống như tiêu điểm thông tin mới, tiêu điểm tương phản lại còn được phân ra thành nhiều lớp phụ Nhìn chung, có thể thấy rằng CTTT là một vấn đề rất rộng

Trang 8

Sự khác biệt về nghĩa giữa hai câu trên chỉ là ở chỗ: trong câu (1), danh ngữ 'xe con' đứng ở vị trí đầu câu với vai trò là đề, được người nói nhấn mạnh khi phát ngôn, đã làm thay đổi nghĩa của câu Còn ở trong câu (2) thì không có sự nhấn mạnh như vậy Cấu trúc thông tin của câu chỉ là cấu trúc đề - thuyết, cấu trúc của loaị câu 'nói về'

Với cách hình dung như trên thì những biểu hiện của thông tin tương phản có trong một câu nói, ngoài cấp độ ngữ âm như vừa được trình bày, cũng có thể có ở cấp độ

từ vựng - ngữ nghĩa và cũng có thể diễn ra ở cấp độ cú pháp

3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Nếu chọn mốc thời gian kể từ M.A.K Halliday (1985) đến K Lambrecht (1994) - chỉ không đầy mười năm, thì các công trình nghiên cứu về CTTT được công bố trên thế giới bằng tiếng Anh đã có hơn hai mươi tác phẩm Riêng tại Việt Nam, nếu không kể đến việc tác giả Nguyễn Thiện Giáp có minh định về nội hàm và ngoại diên của một số khái niệm có liên quan đến CTTT thì có thể xem các tác giả Cao Xuân Hạo (2004) và Nguyễn Hồng Cổn (2001, 2004, 2010) là những nhà tiên phong trong việc đưa ra những nhận xét

và miêu tả về CTTT trong tiếng Việt Thời gian gần đây, có một số luận án Tiến sĩ nghiên cứu về đề tài CTTT trong tiếng Việt theo những chủ điểm nhất định Trong bối cảnh đó,

có thể kể đến “Cấu trúc tiêu điểm thông tin trong câu tiếng Việt và tiếng Anh”, luận án

Tiến sỹ của Nguyễn Thị Thanh Huyền (2011), là công trình đầu tiên nghiên cứu về CTTT một cách khá toàn diện Trên cơ sở của công trình tiên phong này, Nguyễn Thị Mai

(2012) đã vận dụng để mô tả tiêu điểm thông tin trong luận án “Đặc điểm cấu trúc, ngữ

nghĩa, ngữ dụng câu hỏi tiếng Việt” Như vậy, có thể nói CTTT trong tiếng Việt là một

đề tài mới, đã bắt đầu thu hút sự chú ý của giới Việt ngữ học Tuy nhiên, về vấn đề ‘tiêu điểm tương phản’ trong cấu trúc thông tin câu tiếng Việt chưa được nghiên cứu nhiều Trên cơ sở thừa hưởng kết quả nghiên cứu của những người đi trước, luận văn tập trung

nghiên cứu, khảo sát và đối chiếu “Cấu trúc tiêu điểm tương phản trong CTTT câu tiếng

Việt (so sánh với câu tiếng Anh)”

Trang 9

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU & NGUỒN NGỮ LIỆU

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Trong số các thủ pháp thường được áp dụng trong nghiên cứu ngôn ngữ học, luận văn sử dụng những thủ pháp chính sau đây:

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Nếu đề tài này được triển khai tốt sẽ có những đóng góp nhất định:

- Về mặt lý thuyết

Việc đối chiếu câu/phát ngôn có mang thông tin tương phản được thể hiện bởi CTTT của câu tiếng Việt, một ngôn ngữ đơn lập, so sánh với câu tiếng Anh, một ngôn ngữ biến hình, sẽ phát hiện được những đặc điểm vừa mang tính phổ quát nhưng đồng thời cũng mang tính đặc thù giữa hai ngôn ngữ Khắc họa được những đặc điểm này cũng đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ có được những tiêu chí để phân biệt CTTT có thông tin tương phản về mặt loại hình học

- Về mặt thực tiễn

Khi nói đến CTTT của một câu trong đó có chứa thông tin tương phản là nói đến

sự tinh tế của ngôn ngữ trong hoạt động hành chức Một mặt, chúng ta có thể chỉ ra cái cơ chế lập mã và giải mã thông tin tương phản trong câu tiếng Việt và câu tiếng Anh khi nói, khi viết cũng như khi nghe, khi đọc Mặt khác, cái kiến thức mà ta thu lượm được sẽ rất hữu ích cho việc dạy và học ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Việt), và cũng rất hữu dụng trong nghiên cứu và đối chiếu ngôn ngữ

Trang 10

6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Luận văn được chia làm ba chương, không kể phần dẫn nhập và kết luận:

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Chương I đề cập những vấn đề lý thuyết có liên quan Đây chính là tiền đề lý luận,

là xuất phát điểm để nghiên cứu những vấn đề cụ thể ở các chương tiếp theo Chương I bao gồm những vấn đề sau:

1.1 Đặt vấn đề

1.2 Thông tin

1.3 Lược sử hệ thống lý thuyết về cấu trúc thông tin

1.4 Đóng gói thông tin

1.5 Cấu trúc thông tin

1.6 Cấu trúc tiêu điểm

1.7 Thông tin tương phản

1.8 Quan điểm vận dụng của luận văn

1.9 Tiểu kết

CHƯƠNG II CẤU TRÚC TIÊU ĐIỂM TƯƠNG PHẢN 2.1 Đặt vấn đề

2.2 Tương phản trên bình diện ngữ âm

2.3 Tương phản trên bình diện từ vựng- ngữ nghĩa

2.4 Tương phản trên bình diện cú pháp

2.5 Tiểu kết

CHƯƠNG III SO SÁNH CẤU TRÚC TƯƠNG PHẢN TRONG CÂU TIẾNG ANH VÀ CÂU TIẾNG VIỆT 3.1 Đặt vấn đề

Trang 11

3.2 Trọng âm và ngữ điệu tiếng Anh

3.3 Đối chiếu sự tương phản trên bình diện ngữ âm 3.4 Lớp từ đánh dấu sự tương phản trong tiếng Anh

3.5 Đối chiếu sự tương phản trên bình diện từ vựng

3.6 Cấu trúc câu tiếng Anh không điển dạng

3.7 Đối chiếu sự tương phản trên bình diện cú pháp

3.8 Tiểu kết

KẾT LUẬN

Trang 12

tổ chức theo những cách khác nhau Chẳng hạn như cùng một nội dung mệnh đề: [yêu (mẹ tôi, tôi)], câu nói có thể được thể hiện bằng những cách khác nhau như sau:

(1) Tôi / yêu mẹ tôi (I love my mother) S + V + O

Khi nghe thấy những câu nói trên, có thể có người sẽ đặt câu hỏi: "Còn Bố anh thì sao?" Bởi theo lẽ thường, khi có mẹ thì tất phải có cha Thế mà ở đây, người nghe không thấy người nói đề cập chi đến Bố của mình Đó cũng là một dạng thức khác của thông tin tương phản mà luận văn sẽ lần lượt trình bày trong những phần tiếp theo

Trở lại với những ví dụ trên, có thể thấy khái niệm thông tin có liên quan đến việc nói về một sự tình (state of affairs) nào đó Đây cũng chính là tâm điểm trong đề xuất của Mathesius (1939, 1941a,b) về việc phân tích câu theo chức năng của thông tin (cái được nói đến và điều nói về cái đang nói - tình trạng năng động, thay đổi theo từng hành động giao tiếp) được trình bày trong những bài viết của ông để thay thế cho cách phân tích câu theo hình thức (chủ ngữ và vị ngữ - tình trạng tĩnh tại) của các nhà ngữ pháp hình thức Theo cách phân tích chức năng câu của Mathesius, câu được lưỡng phân thành hai bộ

Trang 13

điều nói về cái đang nói là phần thuyết / rheme (cái lõi của thông điệp) Điểm khởi đầu

(đề) thường là điều gì đó đã biết (known) hay dễ dàng nhận biết thông qua câu nói hay

hoàn cảnh phát ngôn Cái lõi (nuclear/focal) của thông điệp (thuyết) thường là điều gì đó

mới (new) hay chưa biết (unknown) ngay tại thời điểm phát ngôn Trình tự tự nhiên của

câu nói là đi từ những thông tin đã biết đến những thông tin chưa biết, và như thế trật tự tuyến tính đề - thuyết là loại trật tự thường được dùng để phát triển diễn ngôn Chẳng hạn như câu:

(4) I / have read the book (theme → rheme)

(Tôi / đã đọc quyển sách) (Đề → Thuyết)

Tuy nhiên, do tính chất luôn thay đổi của hiện tượng lời nói, đôi khi trình tự tự nhiên này không được tuân thủ, chẳng hạn như:

(5) The book, I’ve read (rheme → theme)

(Quyển sách, (thì) tôi đã đọc) (Thuyết → Đề)

Mathesius xem trình tự đề trước - thuyết sau là trật tự khách quan, bình thường,

không đánh dấu và trình tự thuyết trước - đề sau là trật tự chủ quan, mang tính cảm xúc,

có đánh dấu

Đánh dấu và không đánh dấu là khái niệm ngôn ngữ học được dùng để phân biệt tình trạng bình thường hay bất thường, tĩnh hay động, có phản ánh tình cảm, thái độ của ngưới nói đối với sự tình đang diễn ra hay không trong một phát ngôn Việc đánh dấu được thực hiện trên các bộ phận chức năng câu hay trên các thành tố cú pháp của câu bằng nhiều phương thức ngữ pháp khác nhau như trọng âm cường điệu, từ vựng-ngữ nghĩa, trật tự cú pháp hay các cấu trúc cú pháp chuyên biệt

Xét về mặt chức năng thông báo của ngôn ngữ, người ta không thể thông báo cái

gì khác ngoài tư duy của bản thân, và câu nói không thể thông báo gì khác ngoài việc trình bày một ý tưởng hay nêu lên một nhận định về sự tình của thế giới khách quan Những ý tưởng hay nhận định này được tổ chức lại thành một cấu trúc bao gồm phần đề (theme, subject ) và phần thuyết (rheme, predicate) Xét về nội dung của tư duy, giữa hai phần đề và thuyết đó không có phần nào quan trọng hơn phần nào, cái quan trọng nhất ở đây là mối liên hệ được tư duy xác lập giữa hai phần Mối liên hệ đó là cốt lõi của điều

Trang 14

được truyền đạt trong câu Việc lựa chọn phần nào làm điểm xuất phát, làm nội dung khai triển là do ý đồ, mục đích của người nói chứ hoàn toàn không lệ thuộc vào nội dung biểu hiện, tức là vào nội dung và tính chất của câu nói [16, tr.66]

Việc lựa chọn điểm xuất phát cho hành động nhận định của tư duy theo trật tự bình thường (không đánh dấu) phải được khai triển từ người nói, lấy “tôi” làm trung tâm

(egocentric) như trường hợp của câu (4): Tôi / đã đọc quyển sách; với người nói: “tôi”

(đề) là điểm xuất phát để khai triển nhận định về một sự tình trong thế giới khách quan,

sự tình đó là “đọc sách” (thuyết)

Trong khi đó ở câu (5): Quyển sách, (thì) tôi đã đọc; người nói lại chọn một trật

tự ngược lại (có đánh dấu) trong cái quan hệ tôn ti TÔI > ANH > NGƯỜI KHÁC > ĐỘNG VẬT > BẤT ĐỘNG VẬT [16, tr.68] Đối tượng được chọn ở đây là một vật, là quyển sách,

để làm hướng khai triển của tư duy Ý đồ của người nói khi lựa chọn một trình tự ngược lại so với cái quan hệ ‘dĩ ngã vi trung’ là nhằm để nêu lên một sự mới mẻ của nội dung thông báo, cái mới ở đây là sự khác biệt (tương phản) giữa “quyển sách” mà tôi đã đọc so với những quyển sách khác, hay so với các ấn phẩm khác có thể dùng để đọc như báo, tạp chí, truyện…và như thế, ta có thể thêm vào câu (5):

(6) a The book (which you gave me), I’ve read

(Quyển sách (mà anh cho), (thì) tôi đã đọc

b The book, I’ve read, (but not the newspaper)

(Quyển sách, (thì) tôi đã đọc, (chứ không phải là báo)

Xét về mặt cú pháp, câu không đánh dấu có trật tự cú pháp bình thường, điển dạng theo trật tự từ của loại hình ngôn ngữ qui định Chẳng hạn như câu (7) là câu trần thuật tiếng Anh và cũng là câu trần thuật tiếng Việt, với trật tự từ SVO:

(7) I have read the book

subject verb object

( Tôi đã đọc quyển sách) Trật tự S → V → O = Không đánh dấu

chủ ngữ vị từ bổ ngữ

Câu đánh dấu là loại câu có trật tự cú pháp bất thường, là sự di chuyển một thành

tố cú pháp ra khỏi vị trí cố định của nó ở trong câu như trường hợp của câu (8)

(8) The book, I have read

Trang 15

Quyển sách, (thì) tôi đã đọc) Trật tự O → S → V = Đánh dấu

bổ ngữ chủ ngữ vị từ

Cũng cần lưu ý hệ thống lý thuyết về CTTT đương đại là kết quả của quá trình phát triển lâu dài, được cho là khởi đầu từ những nhận định của Henri Weil (1818 - 1909)

về khái niệm thông tin lần đầu tiên được đề cập đến trong luận án của ông: "Trật tự từ

trong ngôn ngữ cổ đối chiếu với ngôn ngữ hiện đại" (De l’ordre des mots dans les

langues anciennes comparées aux langues modernes - Henri Weil 1844) Trong công trình này, ông cho rằng trật tự cú pháp không thể hiện đúng tiến trình tri nhận nội dung của phát ngôn khi con người tham gia giao tiếp Vì lẽ đó, ông đề xuất cách phân chia câu

ra thành những đơn vị thông tin Cách phân chia này rất khác so với cách phân chia truyền thống theo phạm trù cú pháp như chủ ngữ - vị ngữ Theo ông, trong một câu có

"một điểm khởi đầu, một ý niệm đầu tiên, có ở trong cả người nói lẫn người nghe, tạo

nên phần hiểu biết chung (the ground) giữa những người tham gia đối thoại, và một phần khác của câu, tạo nên phát ngôn (statement / l’énonciation) sự phân chia như thế này được nhận ra trong hầu hết mọi lời nói của chúng ta" [229, 19] Như vậy, 'cái phần khác

của câu tạo nên phát ngôn' chính là phần có chứa thông tin

1.2 THÔNG TIN

Khái niệm thông tin có liên quan đến nhu cầu hiểu biết của người nghe Chẳng hạn như trong tình huống, một người phải ngồi làm việc trong phòng kín suốt cả buổi chiều và đang lo lắng cho cảnh Trời mưa đường ngập Thấy một người quen vừa từ ngoài

bước vào liền hỏi: “Bên ngoài trời thế nào?” và nhận được lời đáp: “Đang mưa!”

Câu trả lời đã đáp ứng cho điều mà người đặt câu hỏi đang muốn biết, hay nói cách khác là cái 'lỗ hổng' trong kho kiến thức hiện thời của anh ta đã được lấp đầy Anh

ta đã nhận được 'thông tin' Như vậy có thể cho rằng: “bất cứ phần nội dung nào của câu

nói chuyển tải những ý nghĩa không có sẳn trong kiến thức của người nghe ngay tại thời điểm phát ngôn đều được xem là thông tin”

Thông tin có liên quan đến điều mới, điều mà người nghe chưa biết, xét theo quan điểm của người nói Thế nhưng thông tin trong một phát ngôn không chỉ toàn là điều mới

mà còn có phần thông tin đã biết, là điểm khởi đầu của phát ngôn Dòng chảy thông tin trong một phát ngôn thường được khởi đi từ điều đã biết đến cái chưa biết [152] Việc tổ

Trang 16

chức, sắp xếp thông tin trong một phát ngôn thường được gọi chung bằng thuật ngữ cấu trúc thông tin

1.3 LƯỢC SỬ HỆ THỐNG LÝ THUYẾT VỀ CTTT

Có nhiều cách phân chia khác nhau về CTTT trong một câu với nhiều tên gọi rất khác nhau, tùy theo quan điểm riêng của từng tác giả Sự khác biệt này đôi khi là rất lớn Tuy nhiên, vẫn có một điểm chung mà tất cả các tác giả, cho dù có cách tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu về CTTT đều đồng ý, đó là lượng thông tin trong một câu bao giờ cũng được phân chia thành hai phần: một phần có lượng thông tin ít hơn và một phần có lượng thông tin nhiều hơn Vấn đề còn lại là phân chia ở chỗ nào trong câu và cách phân chia đó được thực hiện như thế nào? Gián đoạn hay liên tục Đi cùng với sự phân chia này là tên gọi các phần đã được phân chia với các thuật ngữ khác nhau Theo Enric Vallduví (1980: 35-53), các cách phân chia đó có thể là:

- Đề - Thuyết (Theme - Rheme )

Amman (1928) chủ trương phân chia CTTT trong một câu thành hai phần đề, thuyết, với phần đề (theme) chứa lượng thông tin ít hơn và phần thuyết (rheme) chứa lượng thông tin nhiều hơn Về sau, các tác giả như Mathesius (1939, 1941a,b), Daneš (1957, 1968), Firbas (1964, 1971, 1975), Halliday (1967), Contreras (1976) đã sử dụng thuật ngữ Theme - Rheme trong các tác phẩm của họ khi nghiên cứu về CTTT trong một câu [183, tr.36]

- Đề - Thuyết (Topic - Comment)

Thuật ngữ topic-comment được Hockett (1958) sử dụng để thay thế cho rheme Theo cách tiếp cận này, câu được chia thành hai phần khác nhau có liên quan đến

theme-‘sự nói về’ Phần đề (topic) thể hiện điều mà người nói muốn ‘nói về’ và phần thuyết (comment) là những điều được người nói nói về cái đề này Chấp nhận quan điểm topic-comment là các tác giả như Strawson (1964), Gundel (1974), Dahl (1974), Li & Thompson (1976), Kuno (1980), Reinhart (1982), Davison (1984)… [183, tr.36]

- Đề - Tiêu điểm (Topic - Focus)

Đây là cách tiếp cận của các nhà ngữ học thuộc trường phái Praha hiện đại như Sgall & Hajičová (1977), Von Stechow (1981), Büring (1995),Sgall, Partee & Hajičová

Trang 17

(1998) Cách tiếp cận này phân chia câu theo tiêu chí: đề (topic) là yếu tố bị ràng buộc với ngữ cảnh, ràng buộc với ngữ cảnh được cho là 'yếu tố mà người nghe dễ nhận biết do

đã được kích hoạt đến một ngưỡng nào đó trong kho kiến thức chung của người tham gia đối thoại' [115, tr.193] Còn tiêu điểm (focus) là yếu tố tự do, không bị ràng buộc với ngữ cảnh Tiêu điểm có thể bao gồm bất cứ bộ phận nào ở trong câu hay cũng có thể là toàn

bộ câu

- Tiêu điểm - tiền giả định (focus - presupposition / open proposition / background): Thuật ngữ tiêu điểm được Halliday (1967) lần đầu tiên sử dụng để chỉ một yếu tố được nêu bật bằng trọng âm nổi trội trong phần thuyết của cấu trúc câu đề-thuyết

Về sau, các nhà ngữ học thuộc trường phái tạo sinh [68] sử dụng thuật ngữ tiêu điểm để chỉ phần thông tin bổ sung cho thông tin tiền giả định của cấu trúc tiêu điểm - tiền giả định Thông tin tiền giả định, theo Jackendoff (1972: 230) là 'phần thông tin trong một câu mà người nói cho rằng cả anh ta và người nghe cùng biết' Còn tiêu điểm là phần thông tin mới bổ sung cho phần tiền giả định để tạo thành một phát ngôn đầy đủ về mặt hình thức, trọn vẹn về mặt nội dung Tiêu điểm là phần thông tin mà người nói cho là người nghe chưa biết Chấp nhận quan điểm tiêu điểm - tiền giả định có thể kể đến các tác giả như Akmajian (1970, 1979), Chomsky (1971), Jackendoff (1972), Dahl (1974), Rochemont (1978, 1986), Wilson & Sperber (1979), William (1981), Prince (1981a,

1984, 1986), Selkirk (1984), Ward (1985), Lambrecht (1987, 1988, 1994), Valima Blum (1988) [185, tr.45]

- Yếu tố vượt trội (dominance)

Đây là cách tiếp cận được nói đến trong các công trình nghiên cứu về CTTT của Erterchik-Shir (1973, 1979, 1986), Erterchik-Shir & Lappin (1979, 1983) [185, tr.52] Khái niệm về yếu tố vượt trội (dominance) của Erterchik-Shir có thể xem như gần giống với khái niệm tiêu điểm Điểm khác biệt là ở chỗ, yếu tố vượt trội không được xác định căn cứ trên sự lưỡng phân câu thành hai bộ phận như các cách tiếp cận khác về CTTT; cũng như không loại bỏ khả năng yếu tố vượt trội là một bộ phận của thông tin đã xuất hiện trước đó trong câu (thông tin tiền giả định)

- Phần nối - tiêu điểm - phần đuôi (link - focus - tail)

Trang 18

Đây là cách tiếp cận được đề xuất bởi E Valduví (1980) và được nói đến trong các công trình nghiên cứu khác của E Valduví & Mólnar (1992); Hendriks (1999) Theo cách tiếp cận này, phần thông tin tiền giả định (phần cơ sở) được tiếp tục phân chia thành phần nối (link) - tương đương với khái niệm đề trong các cách tiếp cận khác - và phần đuôi (tail) là phần thông tin còn lại trong câu

- Phần đề - phần chuyển tiếp - phần thuyết (Theme - transitivity -rheme)

Cách tiếp cận này của Daneš (1968) và Firbas (1964) không phân chia tách bạch thông tin trong câu thành hai phần cũ, mới khác nhau mà đó là dòng chảy liên tục của thông tin từ yếu tố mang tỷ lực thông báo thấp (ít thông tin) đến yếu tố mang tỷ lực thông báo cao nhất, là sự liền lạc của một tiến trình chuyển biến thông tin từ đề đến thuyết

Sự phân chia thông tin trong một câu theo những cách thức khác nhau như vừa trình bày ở trên, cùng với các thuật ngữ đi kèm, được gọi chung là CTTT

1.4 ĐÓNG GÓI THÔNG TIN

Câu là “phương tiện giao tiếp” dùng để truyền đạt thông tin Để cho việc giao tiếp đạt hiệu quả, người nói phải thiết kế câu nói sao cho người nghe có thể tiếp nhận dễ dàng phần thông tin mà người nói cho rằng (theo sự đoán định riêng của người nói) là cần thiết

và phù hợp đối với người nghe Việc tổ chức nội dung thông tin trong câu nói theo những cấu trúc cú pháp khác nhau cho phù hợp với nhu cầu giao tiếp trong một hoàn cảnh cụ thể, phù hợp với sự chú ý và trạng thái tâm lý của người nghe được W Chafe (1976) gọi

là “đóng gói thông tin” (information packaging) Đóng gói thông tin được E Vallduví

(1980: 2) giải thích:

“Nó (đóng gói thông tin) chỉ ra cách thức làm cho thông tin được chuyển tải bằng các

phương tiện ngôn ngữ phù hợp với một ngữ cảnh hay diễn ngôn (phù hợp với trạng thái

tinh thần của người nghe.) (Có nghĩa là) Khi nói ra một câu, người nói sẽ thể hiện câu

nói bằng cái cấu trúc cú pháp mà người nói cho là phù hợp với sự hiểu biết và trạng thái

chú ý của người nghe đối với câu nói đó.”

Đóng gói thông tin là việc mã hóa các yếu tố cú pháp trong một câu trở thành các thành tố thông tin, sao cho câu nói phù hợp với sự chú ý và trạng thái tâm lý của người

nghe Như vậy, đóng gói thông tin có liên quan đến những đơn vị ngôn ngữ thuộc phạm

vi ngữ đoạn hay cú đoạn trong nội bộ câu

Trang 19

1.5 CẤU TRÚC THÔNG TIN (information structure)

Cấu trúc thông tin có liên quan đến cách thức tổ chức thông tin trong một câu / phát ngôn, bao gồm phần thông tin cơ sở và phần thông tin được làm nổi bật trong mối quan hệ với ngữ cảnh phát ngôn Việc sắp xếp này nhằm thể hiện: i) Câu đang nói về điều gì và những gì được nói đến về điều đó ii) Đâu là phần thông tin mới trong câu và đâu là những thông tin đã được nói đến, đã biết hay có thể suy ra được từ ngữ cảnh của phát ngôn iii) Mối quan hệ dụng học giữa các phần thông tin trong câu được biểu hiện thông qua các phương diện của ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, cú pháp như thế nào

Còn cấu trúc thông tin thì theo như K Lambrecht (1994: 5) định nghĩa:

“Cấu trúc thông tin thuộc thành phần cú pháp câu, trong đó các mệnh đề với tư cách là

những biểu hiện mang tính khái niệm về các sự tình kết đôi với các cấu trúc từ vựng

ngữ pháp phù hợp với trạng thái tinh thần của các bên tham gia đối thoại - những người

sử dụng và thể hiện những cấu trúc này như những đơn vị thông tin trong những bối

cảnh diễn ngôn nhất định.”

Theo định nghĩa trên, CTTT thể hiện cách tổ chức các đơn vị thông tin trong một

câu Nói khác đi, CTTT là mã hóa các bộ phận cú pháp câu thành những đơn vị thông tin

trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể

Nhu cầu giao tiếp buộc con người phải sử dụng ngôn từ, nhưng để sử dụng ngôn

từ được chính xác và đạt hiệu quả thì trước tiên, người ta phải tri nhận cho được cái sự tình mà mình muốn truyền đạt dưới hình thức ngôn liệu, đó là những mệnh đề ngôn ngữ tiềm năng; sau đó, mới tổ chức các ngôn liệu này thành những phát ngôn cho phù hợp với các chuẩn tắc ngôn ngữ (các quy tắc ngữ pháp) và trình độ hiểu biết (bằng cách sử dụng

từ ngữ) của người tham gia đối thoại Chẳng hạn các với ngôn liệu {đọc, tôi, Tam Quốc

Chí}, ta có thể tổ chức thành các phát ngôn sau:

(1.1) a Tôi đang đọc Tam Quốc Chí

b Tôi đang đọc Tam Quốc Chí

c Tôi đang đọc Tam Quốc Chí

d Tôi đang đọc Tam Quốc Chí

Trong các ví dụ trên, thông tin mà người nói muốn chuyển tải đến người nghe ở câu (a) là thông tin về cái vật mà tôi đang đọc, câu (b) là thông tin về cái người đang đọc

Trang 20

Tam Quốc Chí, câu (c) là thông tin về công việc tôi đang làm và câu (d) là giải thích sự việc đang xảy ra ngay tại thời điểm phát ngôn Ngữ cảnh của câu (d) không có điểm bắt đầu, thuộc tình thế đột xuất Chẳng hạn như có một ai đó nhìn thấy tôi xanh xao hốc hác, ngơ ngẩn thất thần vì quên ăn quên ngủ để đọc Tam Quốc Chí nhưng không hề biết tại sao tôi lại đến nông nổi đó nên mới hỏi tôi: 'Có chuyện gì xảy ra vậy?' và nhận được lời đáp (d) ở trên

Có thể dễ dàng chứng minh các câu trên có CTTT khác nhau bằng cách chứng minh những câu trên là câu trả lời thích hợp cho những câu hỏi khác nhau

Các câu hỏi có thể là:

(1.1') a’ Anh đang đọc cái gì?

b’ Ai đang đọc Tam Quốc Chí?

c’ Anh đang làm gì?

d’ Có chuyện gì xảy ra vậy?

(Phần in đậm trong các câu (1.1' từ a’đến d’) ở trên là nhu cầu thông tin của người hỏi được đáp ứng bằng các câu trả lời có nội dung thông tin tương ứng trong các câu (1.1từ a đến d)

Các ví dụ trên cho thấy cách thức tổ chức thông tin trong một câu nhằm phục vụ cho những nhu cầu giao tiếp khác nhau Tùy theo từng tình huống mà CTTT có sự biến đổi cho phù hợp để cung cấp thông tin cho từng mục đích giao tiếp cụ thể

1.6 CẤU TRÚC TIÊU ĐIỂM

“Cấu trúc tiêu điểm là sự liên kết qui ước giữa ý nghĩa của tiêu điểm thông tin và

hình thức câu” [146, tr.222] Căn cứ vào mối quan hệ ngữ dụng của tiêu điểm thông tin

trong thành phần cú pháp của một câu, hay nói khác đi là căn cứ vào phạm vi trải rộng của tiêu điểm trong một câu mà K Lambrecht phân chia qui mô tiêu điểm ra thành các loại cấu trúc tiêu điểm khác nhau Theo ông, có ba loại cấu trúc tiêu điểm, đó là: cấu trúc tiêu điểm tham tố, cấu trúc tiêu điểm vị ngữ và cấu trúc câu tiêu điểm Câu có cấu trúc tiêu điểm hẹp là câu có tiêu điểm tham tố, câu có cấu trúc tiêu điểm rộng là câu vị ngữ tiêu điểm và câu tiêu điểm

y Cấu trúc tiêu điểm tham tố

Trang 21

Cấu trúc tiêu điểm tham tố được định nghĩa: “bất kỳ câu nào mà có tiêu điểm

thông tin là một tham tố chứ không phải là phần vị ngữ hay cả câu” [146, tr.224] Tham

tố là những yếu tố trong câu không phải là vị từ, bao gồm các diễn đạt về thời gian, nơi chốn và thể cách Chủ ngữ, bổ ngữ trực tiếp, bổ ngữ gián tiếp, trạng ngữ, giới ngữ đều là

các tham tố và đều có thể trở thành tiêu điểm “Cấu trúc tiêu điểm tham tố xuất hiện dưới

dạng thức câu xác định để xác định một sở chỉ” [146, tr.222] Chẳng hạn như các câu hỏi

và trả lời trong ví dụ (1.1):

(1.1a) Hỏi: Anh đang đọc cái gì?

- Đáp: Tôi đang đọc Tam Quốc Chí

(1.1b) Hỏi: Ai đang đọc Tam Quốc Chí?

- Đáp: Tôi đang đọc Tam Quốc Chí

Chính tôi đang đọc Tam Quốc Chí (chứ không phải là ai khác)

Tiêu điểm tham tố chẳng những không bị hạn chế về thành phần cú pháp trong câu như là một chỉnh thể, mà một phần của một tham tố cũng có thể trở thành tiêu điểm Chẳng hạn như trong ví dụ sau:

(1.2) Hỏi: Anh không đọc sách nữa à?

- Đáp: Đâu có, vẫn (còn đọc.)

• Cấu trúc vị ngữ tiêu điểm

Cấu trúc vị ngữ tiêu điểm được định nghĩa là loại câu có cấu trúc đề - thuyết

“trong loại câu này phần vị ngữ là tiêu điểm thông tin và phần chủ ngữ (cộng thêm với

bất kỳ yếu tố đề nào khác) là thông tin tiền giả định” [146, tr.222] Trong ba loại cấu trúc

tiêu điểm thông tin, cấu trúc vị ngữ tiêu điểm là dạng thức câu có cấu trúc đề - thuyết không đánh dấu Tiêu điểm vị ngữ là phần tô đậm trong ví dụ sau:

(1.1c) Hỏi: Anh đang làm gì?

- Đáp: Tôi đang đọc Tam Quốc Chí

Hỏi: Hôm qua anh làm gì?

- Đáp: Hôm qua tôi đọc Tam Quốc Chí

• Cấu trúc câu tiêu điểm

Trang 22

Cấu trúc câu tiêu điểm được định nghĩa như là “loại câu kể về sự kiện hoặc là

loại câu tồn tại mà trong loại câu này tiêu điểm thông tin trải dài trên cả hai phần chủ ngữ và vị ngữ (loại trừ bất kỳ yếu tố nào không phải là chủ ngữ mà có tính chủ đề)”

[183, 222] Câu tiêu điểm là câu trả lời cho câu hỏi:

(1.1d) Hỏi: Chuyện gì vậy?

- Đáp: Tôi đang đọc Tam Quốc Chí

Điều thú vị trong các ví dụ trên là ở chỗ câu trả lời (1.1a) và (1.1d) được đánh dấu

bằng trọng âm giống nhau 'Tôi đang đọc Tam Quốc Chí' trong cả hai loại cấu trúc tiêu

điểm thông tin: cấu trúc tiêu điểm tham tố và cấu trúc câu tiêu điểm Đây là hai loại cấu trúc tiêu điểm có đánh dấu, và trong nhiều ngôn ngữ khác nhau, cấu trúc câu tiêu điểm và

cấu trúc tiêu điểm tham tố được đánh dấu như nhau Lambrecht cho rằng: “cấu trúc tiêu

điểm tham tố và cấu trúc câu tiêu điểm thường là đồng âm (homophonous) hay gần như đồng âm trong các ngôn ngữ” [146, tr.336]

Cũng cần lưu ý, đánh dấu tiêu điểm và tiêu điểm được đánh dấu là hai khái niệm

hoàn toàn khác nhau Chẳng hạn như trong câu ‘Tôi đang đọc Tam Quốc Chí’ có thể có hai cách thuyết giải vế cấu trúc thông tin trong câu:

(1.1a) [Tôi]Đề [đang đọc Tam Quốc Chí]

(1.1c) Tôi đang đọc [Tam Quốc Chí]

Trong câu (1.1a), phần vị ngữ bao gồm vị từ và bổ ngữ của nó tạo thành một đơn

vị nghĩa hoàn chỉnh, có cấu trúc của câu vị ngữ tiêu điểm, loại cấu trúc tiêu điểm không

đánh dấu (có nghĩa là không có một yếu tố nào thuộc phần vị ngữ được phát âm nhấn

mạnh,) được dùng để nói về việc tôi đang làm Trong khi đó, câu (1.1c) chỉ có phần bổ

ngữ được nhận trọng âm nổi trội (được nhấn mạnh) hay nói khác đi là được đánh dấu

tiêu điểm Việc đánh dấu này làm cho phần vị ngữ bị tách rời và làm cho câu trở thành có

cấu trúc tiêu điểm hẹp, được dùng để nói rõ về cái vật tôi đang đọc hay để chữa lại phát

ngôn trước đó về quyển sách tôi đang đọc 'Tôi đang đọc Tam Quốc Chí (chứ không phải

Thủy Hử.)

Trong cấu trúc câu vị ngữ tiêu điểm, phần vị ngữ là phần thuyết cho phần đề, trật

tự đề-thuyết trong loại câu này không thể bị đảo lộn hay nói khác đi đây là loại câu không

Trang 23

được đánh dấu Toàn bộ phần vị ngữ mang thông tin tiêu điểm của câu và là thông tin tiêu điểm chính (primary focus) Tuy nhiên, bên trong cái hợp phần vị ngữ của loại câu đề-thuyết này, từng thành tố của nó như vị từ, bổ ngữ hoặc cả hai có thể được đánh dấu tùy theo ý đồ dụng học của người nói Cái yếu tố được đánh dấu thêm đó sẽ trở thành tiêu điểm, nhưng đó chỉ là tiêu điểm phụ (secondary focus) với ý nghĩa ngữ dụng bao trùm lên trên câu nói, lên trên cái thành phần thuộc hợp phần vị ngữ nằm trong phạm vi tiêu điểm chính của loại câu này Nếu như việc đánh dấu chỉ xảy ra với từng thành phần của hợp phần vị ngữ, câu sẽ có cấu trúc tiêu điểm hẹp Nếu như đánh dấu cả hai thành phần của hợp phần vị ngữ, câu có cấu trúc tiêu điểm rộng Yếu tố ngữ cảnh sẽ giúp xác định sự khác nhau giữa cấu trúc vị ngữ tiêu điểm không đánh dấu và cấu trúc vị ngữ tiêu điểm có đánh dấu tiêu điểm thứ cấp, loại tiêu điểm hẹp

1.7 THÔNG TIN TƯƠNG PHẢN

Lý thuyết về CTTT hiện đại là sự tổng hợp của những quan niệm khác nhau của các nhà ngữ học trong cách tiếp cận và lý giải về tình trạng thông tin cũ, mới trong một câu/phát ngôn Thế nhưng thông tin trong câu không chỉ bao gồm thông tin cũ và mới mà còn có thông tin tương phản

1.7.1 Định nghĩa và phân loại thông tin tương phản

Về vấn đề tương phản, vẫn còn có sự không thống nhất giữa các nhà ngữ học trong cách nhìn nhận sự hiện diện của thông tin tương phản trong CTTT của một câu/phát ngôn Chẳng hạn như K Lambrecht (1994) xem thông tin tương phản thuộc lĩnh vực hàm

ý hội thoại chứ không thuộc phạm trù CTTT, do ở chỗ thông tin tương phản không được

ký mã rõ ràng bằng những dạng thức cú pháp xác định trong một câu như đề và tiêu điểm

Ngược lại, Halliday (1967a) định nghĩa: “Sự tương phản là điều trái ngược với

điều được tiên đoán hay được nói ra trước đó.” Chẳng hạn như:

(1.3) A: Anh thích loại nhạc rock nào? (What kind of rock do you like?)

B: Tôi không thích nhạc rock (I don't like rock.)

W Chafe (1976: 33) đưa ra định nghĩa về sự tương phản dựa trên ba yếu tố:

(i) Có sự chia sẻ về kiến thức nền của người tham gia đối thoại

Trang 24

(ii) Một nhóm những ứng viên khả dĩ cho yếu tố tương phản

(iii) Sự khẳng định về một trong số những ứng viên của nhóm, việc lựa chọn này sẽ loại bỏ hoàn toàn những ứng viên còn lại Chẳng hạn như:

(1.4) A: Anh ta đã uống gì ở quán bar, bia hay rượu?

(What did he drink at the bar, beer or wine?) [62]

B: Anh ta uống biaTĐTP (He drank beer.)

Phần lớn các tác giả khi nghiên cứu về thông tin tương phản thường cho rằng thông tin mang tính tương phản là thông tin cũ, do đã xuất hiện trước đó ở trong câu như các yếu tố được in đậm trong ví dụ sau:

(1.5) A: Cuối cùng thì em quyết định mua gì? Váy áo hay giày?

(Did you decide to buy the dress or the shoes in the end?) [77, tr.31] B: Sau khi xem lại thì dễ chọn thôi Em mua giàyTĐTP

(After I saw them again it was an easy choice I bought the shoes.)

Câu (1.5B) trả lời cho câu hỏi (1.5A) Trong câu này, ‘giày’ vừa là tiêu điểm thông tin mới cho câu hỏi: ‘Cuối cùng thì em quyết định mua gì?’, đồng thời cũng là tiêu điểm tương phản của câu, bởi ‘giày’ là yếu tố được chọn ra từ một nhóm xác định gồm hai yếu

tố Đó là nhóm ‘giày’ và ‘váy áo’

Ví dụ (1.5) có thể được xem là trường hợp điển hình về tính chất ‘mới’ của tiêu điểm thông tin và tính ‘không mới’ của tiêu điểm tương phản Không mới là do tiêu điểm tương phản thể hiện sự chọn lựa một trong những yếu tố đã biết (giày, váy áo), nhưng cũng không thể vì thế mà cho rằng tiêu điểm tương phản mang thông tin cũ (đã biết) Bởi

cũ thì không thể nào để được gọi là tiêu điểm Cái mới của tiêu điểm tương phản ở đây chính là mới trong mối quan hệ dụng học được xác lập là đối lập hay tương phản giữa

tiêu điểm tương phản với một hay nhiều yếu tố còn lại của nhóm "Sự so sánh hay đối lập

này có thể là tường minh mà cũng có thể là ngầm ẩn, có thể được nói ra mà cũng có khi

là được tiên đoán" [117]

Sự tương phản tường minh được thể hiện rõ ràng bằng những dạng thức cú pháp xác định ở trong câu như trường hợp của các câu (1.3), (1.4) và (1.5) vừa dẫn ở trên

Trang 25

Sự tương phản ngầm ẩn như Halliday (1967a) vừa đề cập có liên quan đến việc chia sẻ kiến thức chung của những người tham gia đối thoại Chẳng hạn như một người A hỏi người B câu: "Nam nó mua xe gì vậy? (What did Nam buy?)" Câu trả lời có thể là như sau:

(1.6) a Nó mua một chiếc Honda (He bought a Honda.)

b Nó mua một chiếc HondaTĐTP (chứ không phải là Yamaha.)

(He bought a Honda, not a Yamaha.)

Tiêu Điểm 'Honda' trong câu (1.6a) là tiêu điểm thông tin mới trong trường hợp đây là thông tin mà người nói và người nghe không cùng chia sẻ, thông tin này lấp đầy khoảng trống thông tin mà người nghe còn thiếu

Tiêu Điểm 'Honda' trong câu (1.6a, b) là tiêu điểm tương phản trong trường hợp cả người nói và người nghe cùng biết rằng Nam rất thích xe Yamaha, và theo họ, nếu Nam mua xe thì ắt hẳn đó phải là xe Yamaha Thế nhưng thực tế thì hoàn toàn trái ngược với điều họ tiên đoán Việc nhấn mạnh vào tiêu điểm 'Honda' để ngầm thể hiện ý tương phản hay hiển ngôn bằng ngữ đoạn đối lập (phần nằm trong ngoặc ở câu 1.6b) chứng tỏ ở trong đầu của người đối thoại có sẵn một nhóm những lựa chọn xác định Nhóm này bao gồm các loại xe gắn máy có bán trên thị trường, trong đó, xe Yamaha là một ứng viên sáng giá

mà theo họ là Nam sẽ chọn mua Đây chính là sự tương phản ngầm ẩn mà Halliday muốn nói đến; bởi trong câu hỏi 'Nam nó mua xe gì vậy? / What did Nam buy?' không hề có bóng dáng của một nhóm xác định của loại xe nào cả

Như vậy, thông tin tương phản được ký mã trong CTTT của một câu có thể là thông tin hiển ngôn, có nghĩa là sự tương phản được thể hiện rõ ràng bởi dạng thức cú pháp của câu, hoặc cũng có thể là thông tin ngầm ẩn, là loại thông tin tương phản được suy ra từ ngữ cảnh của phát ngôn Luận văn chỉ xem xét trường hợp thông tin tương phản hiển ngôn, được thể hiện trong một câu bằng các phương tiện ngữ âm, từ vựng, cú pháp chứ không xét đến loại thông tin tương phản ngầm ẩn

1.7.2 Những cách tiếp cận về thông tin tương phản

1.7.2.1 Cách tiếp cận thông tin tương phản về mặt ngữ âm

Trang 26

Halliday (1967a: 211) cho rằng tiêu điểm thông tin trong một câu có thể mang thông tin mới hay thông tin tương phản Điểm khác biệt chỉ là ở chỗ những thành phần cú pháp trong câu không có khả năng trở thành tiêu điểm (không ở vào vị trí cuối câu, không có sở chỉ xác định như động từ và giới từ, là thông tin cũ) mà lại được nêu bật bằng trọng âm cường điệu để trở thành tiêu điểm của câu thì tiêu điểm đó là tiêu điểm tương phản, chẳng hạn như:

(1.7) a I'm going (not someone else.) [117]

(Tôi sẽ đi (chứ không phải là ai khác).)

b I'm going (Tôi sẽ đi chứ không phải là không đi.) [117]

c I put it on the table (not under it.)

(Tôi để nó ở trên cái bàn (chứ không phải là ở dưới cái bàn).)

d Joe was angry [117]

(Trước đó Joe đã rất giận (nhưng bây giờ thì hết giận rồi).)

Chafe (1974) phân biệt khuôn hình trọng âm (pitch patterns) giữa tiêu điểm thông tin mới và tiêu điểm tương phản Khuôn hình trọng âm của tiêu điểm thông tin mới được thể hiện trong ngữ cảnh người nói đến chơi nhà một người bạn và mua sách để làm quà cho bé Matthew Người nói nói với bố của Matthew:

(1.8) a I brought Matthew a book [61]

(Tôi mang cho Matthew một cuốn sách.)

b I brought Matthew a book, Mary a toy

(Tôi mang cho Matthew cuốn sách, Mary món đồ chơi.)

Theo Chafe (1974: 119), trong ngữ cảnh câu (1.8a) không có sự tương phản khi cả hai tiêu điểm 'Matthew' và 'quyển sách' đều được phát âm nhấn mạnh bằng cách nâng cao

âm vực của giọng nói, cao độ của giọng nói vẫn được duy trì cho đến hết các các yếu tố cần nhấn mạnh

Trong ngữ cảnh câu (1.8b), 'Matthew' và 'quyển sách' trở nên tương phản khi người nói còn mang thêm cho em gái của Matthew một món đồ chơi và nhấn mạnh vào việc đứa trẻ nào sẽ được nhận món quà gì Trong trường hợp này, tiêu điểm 'Matthew' vẫn được phát âm nhấn mạnh, sau đó hạ thấp âm vực xuống một phần trước khi nâng cao

Trang 27

âm vực để nhấn mạnh vào tiêu điểm 'quyển sách' Chafe (1974) cho rằng sự tương phản luôn được thể hiện bằng cách hạ thấp âm vực của giọng nói, tiêu điểm thông tin mới và tiêu điểm tương phản được thể hiện bằng ngữ điệu khác hẳn nhau

Theo Büring (1999, 2003), với nhiều ngôn ngữ trên thế giới, đề của một câu không được phát âm nhấn mạnh nhưng đề tương phản trong một phát ngôn luôn được làm nổi bật bằng việc phát âm nhấn mạnh vào thành tố mang thông tin tương phản Áp dụng mô hình trọng âm A và B của Jackendoff (1972) cho việc xem xét thông tin tương phản trong một câu tiếng Anh, Büring cho rằng tiêu điểm thông tin (F) mới có mô hình trọng âm A: ([F]→ H* L- L% ) còn đề tương phản (CT) có mô hình trọng âm B: ([CT]→ L+H* L- H% ) như trong ví dụ sau:

(1.9) A: Well, what about Fred? What did he eat [130], [60]

(À này, về phần Fred thì sao? Anh ta đã ăn món gì?)

B: Fred ate the beans (Fred ăn món đậu.)

L+H* L- H% H* L- L%

(1.10) A: Well, what about the beans? Who ate them?

(À này, về món đậu thì sao? Ai đã ăn món đậu?)

B: Fred ate the beans (Fred ăn món đậu.) [130], [60]

H* L- L% L+H* L- H%

Chú thích:

- Dấu (*) chỉ âm tiết nhận trọng âm

- (H) là viết tắt của chữ ‘High: cao’ chỉ âm điệu cao/thăng; (L) là viết tắt của chữ

‘Low: thấp’ chỉ âm điệu thấp/giáng; (L+H) chỉ âm điệu kết hợp (thấp-cao/giáng-thăng)

- (L-), (H-) chỉ âm điệu ngữ đoạn thấp hoặc cao

- Dấu (%) chỉ ranh giới ngữ đoạn cùng với âm điệu cao hay thấp ngay tại điểm cuối của ngữ đoạn (H%, L%)

Theo Büring (2003), Fred trong câu trả lời (1.9B) với mô hình trọng âm B là đề tương phản và beans (món đậu) có mô hình trọng âm A là tiêu điểm thông tin mới của câu Trong khi đó, ở câu (1.10B), Fred là tiêu điểm thông tin mới (mô hình trọng âm A)

và beans (món đậu) là đề tương phản (mô hình trọng âm B)

1.7.2.2 Cách tiếp cận thông tin tương phản về mặt ngữ nghĩa

Trang 28

Cách tiếp cận về ngữ nghĩa được đặt cơ sở trên ý tưởng là tiêu điểm luôn gợi ra một nhóm những khả năng chọn lựa và sự tương phản được xem như là một khái niệm phụ thuộc của CTTT Đại diện cho cách tiếp cận này có thể kể đến Bolinger (1961), Chafe (1976), Rooth (1985, 1992), Krifka (1993, 2006), Erteschik-Shir (2007) Các tác giả theo cách tiếp cận về ngữ nghĩa không có sự phân biệt giữa tiêu điểm thông tin mới

và tiêu điểm tương phản

Bolinger (1961) không thấy có lý do gì để định nghĩa thêm về sự tương phản bởi

theo ông, tiêu điểm thông tin cũng chính là tiêu điểm tương phản “…theo nghĩa rộng thì

mọi tiêu điểm thông tin đều mang nghĩa tương phản.” [50, tr.87]

Chafe (1976) cho rằng tiêu điểm có thể chuyển tải thông tin mới hay thông tin tương phản tùy vào vị trí xuất hiện của tiêu điểm ở trong câu cùng với tiêu chí để nhận

biết thông tin tương phản: “Sự tương phản được đặc trưng bởi sự kiện số lượng ứng viên

được giới hạn và câu nói được phát ngôn nhằm đính chính những giả định ngầm ẩn hay tường minh của người nghe.” [62]

Rooth (1985, 1992) cho rằng tiêu điểm và tương phản là những khái niệm có liên quan với nhau, thế nhưng tương phản không liên quan đến nghĩa của tiêu điểm mà liên quan đến cách dùng dụng học của tiêu điểm Rooth không đưa ra sự phân biệt giữa tiêu điểm thông tin mới và tiêu điểm tương phản Tiêu điểm luôn gợi ra một nhóm những khả năng thay thế (alternative set) Nhóm những khả năng thay thế là nhóm phụ của những yếu tố phù hợp bao gồm tiêu điểm và chí ít một yếu tố được thêm vào Yếu tố được thêm vào này sẽ làm thay đổi nghĩa biểu hiện của câu Chẳng hạn như:

(1.11) a John introduced Sue to Mary (John giới thiệu Sue với Mary.) [166]

b John only introduced Sue to Mary (John chỉ giới thiệu Sue với Mary.)

Câu (1.11a) có tiêu điểm là Sue, câu nói này được thuyết giải là 'John giới thiệu Sue với Mary và có thể giới thiệu thêm nhiều người khác với Mary.'

Ở câu (1.11b), tiểu từ only (chỉ) được thêm vào, câu nói này được thuyết giải là

'John giới thiệu Sue với Mary và không giới thiệu bất kỳ một ai khác ngoài nhóm khả năng thay thế là Sue với Mary.'

Trang 29

Krifka (1993, 2006) cũng cho rằng tiêu điểm gợi ra sự thay thế Krifka (2006) đưa

ra sự phân biệt giữa cách dùng nghĩa học và cách dùng dụng học của tiêu điểm, ví dụ sau được Krifka (2006: 24) đưa ra để chứng minh cho cách dùng dụng học của tiêu điểm:

(1.12) A: Mary stole the cookie [139] (Mary đã lấy cắp bánh qui.)

B: (No,) [Peter]Foc stole the cookie!

(Không phải, [Peter]TĐ mới là đứa lấy cắp bánh qui!)

Câu (1.12B) là lời đính chính câu (1.12A), trong đó Peter được đem tương phản với Mary

Cách dùng nghĩa học của tiêu điểm được Krifka đưa ra trong ví dụ sau, ở ví dụ này Krifka xem lời đáp trong câu (1.13b) là tiêu điểm tương phản:

(1.13) A: John wants coffee

(John muốn uống cà phê.)

B: [Mary]Foc wants coffee, too

([Mary]TĐ cũng muốn uống cà phê.)

Câu (1.13B) có chứa từ đánh dấu tiêu điểm cũng (too), theo Krifka, sự hiện diện

của từ ‘cũng’ thể hiện cách dùng theo nghĩa của tiêu điểm Trong câu này, chủ ngữ 'Mary'

mà Krifka (2006) gọi là tiêu điểm tương phản theo các tác giả khác lại xem là đề tương phản Cũng trong cùng bài viết này, Krifka (2006: 32) có nói đến ví dụ sau và cho rằng

đó không phải là trường hợp của tiêu điểm tương phản mà chỉ là tiêu điểm thông tin mới:

(1.14) A: What do you want to drink, tea or coffee?

(Anh muốn uống gì, trà hay cà phê?)

B: I want [tea]Foc (Tôi muốn uống trà.)

Krifka (2006) cho rằng câu được chia thành hai phần đề và thuyết Từ sự phân chia ban đầu này, đề và thuyết lại được tiếp tục phân chia ra thành các phần cơ sở và tiêu điểm Theo cách phân chia này, Krifka (2006) chấp nhận khả năng đề có chứa tiêu điểm

và theo tác giả phần thuyết không nhất thiết phải được xem như tiêu điểm Câu sau là ví

dụ của Krifka (2006) về cách phân chia câu theo đề xuất của ông:

(1.15) A: When did [Aristotle Onassis]Topic marry Jacqueline Kennedy? [139]

Trang 30

([Aristotle Onassis]Đ đã cưới Jacqueline Kennedy từ khi nào?)

B: [He]Topic [married her [in 1968]Focus]Comment

([Ông ấy]Đề [cưới bà ấy [năm 1968]TĐ]Thuyết.)

Chấp nhận quan điểm đề có chứa tiêu điểm, Krifka (2006) xem xét mối quan hệ giữa sự tương phản với đề cũng như đưa ra lời giải thích về đề tương phản Theo Krifka,

đề tương phản là đề có chứa tiêu điểm Câu (1.16B) là trường hợp của đề có chứa tiêu điểm:

(1.16) A: What do your siblings do? (Anh chị em của bạn làm nghề gì?)

B: [My [sister]F]T [studies medicine]F, and [My brother]F]T [is working

on a freight ship]F ([Em gái tôiTĐ]Đ] [học nghành dược], và [anh trai tôiTĐ]Đ] [đang làm việc

trên một chiếc tàu hàng]TĐ.) Câu hỏi (1.16A) là một câu hỏi tổng hợp được xem như có chứa các câu hỏi phụ,

đó là các câu hỏi ‘ anh của bạn làm nghề gì?’(What does your brother do?), ‘Em gái của bạn làm nghề gì?’ (What does your sister do?) Câu trả lời (1.16B) được tổ chức theo cách trả lời những câu hỏi phụ và mang thông tin tương phản Krifka (2006: 44) giải thích rằng, tiêu điểm ‘em gái’ (sister) trong câu (1.16B) chỉ ra sự lựa chọn khác trong chủ đề

‘my sister’ (em gái tôi), đó là ‘my brother’ (anh trai tôi.)

Tóm lại, trong cách thuyết giải về mối quan hệ giữa tương phản với đề và tiêu điểm, Krifka (2006) không có sự phân biệt giữa tiêu điểm thông tin mới và tiêu điểm tương phản mà cho đó là sự khác nhau giữa cách dùng nghĩa học và cách dùng dụng học của tiêu điểm Về khái niệm đề tương phản, ông cho rằng đó chỉ là trường hợp đề có chứa tiêu điểm và cũng không gọi đó là đề tương phản

Büring (1997, 2003) cũng xem xét vấn đề tương phản theo cách tiếp cận về nghĩa, nhưng khác với cách tiếp cận của Rooth và Krifka vì Büring chỉ quan tâm đến mối quan

hệ giữa mô hình trọng âm với các phạm trù của CTTT như vừa trình bày ờ phần (1.6.1.1) Thêm vào đó, Büring còn đề xuất mô hình tôn ty trong tổ chức diễn ngôn được thể hiện qua sơ đồ hình cây diễn ngôn:

Trang 31

Về đề tương phản, Büring cho rằng việc đánh dấu đề tương phản là bắt buộc đối với loại câu hỏi phụ ngầm ẩn, trong khi với loại câu hỏi phụ tường minh thì việc đánh dấu đề tương phản là một tùy chọn, không bắt buộc Ví dụ về việc đánh dấu đề tương phản trong câu hỏi ngầm ẩn được Büring đưa ra trong câu sau:

(1.17) A: What did the pop stars wear? [60] (Các ngôi sao nhạc pop ăn mặc ra sao?)

B: *The female pop stars wore [caftans]F

B1: The [female]CT pop stars wore [caftans]F

([Diễn viên nữ]ĐTP mặc áo [thụng dài]TĐ.)

Câu (1.17A) là câu hỏi tổng hợp được xem như có chứa hai câu hỏi phụ:

i) Các ngôi sao nhạc pop nam ăn mặc ra sao? (What did the male pop stars wear?) ii) Các ngôi sao nhạc pop nữ ăn mặc ra sao? (What did the female pop stars wear?) Câu trả lời (1.17B, B1) chỉ trả lời một câu hỏi phụ của câu hỏi (1.17A) Câu (1.17B) là câu trả lời không thích hợp cho loại câu hỏi ngầm ẩn vì đề trong câu này không được đánh dấu là đề tương phản Câu (1.17B1) mới là câu trả lời thích hợp Sự khác biệt giữa hai câu trả lời (1.17B) và (1.17B1) cho thấy không thể trả lời câu hỏi ngầm

Trả lời Trả lời

Trang 32

ẩn mà không đánh dấu đề tương phản Như vậy có thể cho rằng, trong một câu hỏi được hiểu như có chứa nhiều hơn một câu hỏi ngầm ẩn và câu trả lời chỉ đáp ứng một trong những câu hỏi ngầm ẩn này chứ không trả lời hết tất cả các câu hỏi phụ, câu trả lời đó có chứa đề tương phản

Với câu hỏi tường minh, việc đánh dấu đề tương phản là một tùy chọn như trong câu sau:

(1.18) A: What did the female popstars wear? [60] (Các ngôi sao nhạc pop nữ mặc ra sao?)

B: The [female]CT popstars wore [caftans]F

([Diễn viên nữ]ĐTP mặc [áo thụng dài]TĐ.)

B1: The female popstars wore [caftans]F

(Diễn viên nữ mặc [áo thụng dài]TĐ.)

B2: They wore [caftans]F

(Họ mặc [áo thụng dài]TĐ.)

Khác với câu hỏi (1.18A) có chứa câu hỏi phụ ngầm ẩn, câu hỏi (1.18A) là câu hỏi tường minh Theo Büring, việc đánh dấu đề tương phản trong loại câu hỏi tường minh là một tùy chọn Do vậy, các câu trả lời (1.18B, B1 và B2) đều là câu trả lời thích hợp cho câu hỏi (1.18A)

1.7.2.3 Cách tiếp cận thông tin tương phản về mặt cú pháp

Cách tiếp cận về cú pháp có sự phân biệt giữa đề, tiêu điểm thông tin mới và đề tương phản, tiêu điểm tương phản (L Rizzi 1997, E Kíss 1998, Cinque 1999, Poletto

2000, Steube 2001, Benincà 2001, Belletti 2004, Benincà & Poletto 2004 …) Những nhà ngữ học theo cách tiếp cận về cú pháp cho rằng, có mối quan hệ một đối một giữa vị trí

cú pháp và cách thuyết giải về tiêu điểm Rizzi (1997) đưa ra ví dụ sau để chứng minh cho quan điểm của mình, phần phụ chú C-Foc chỉ ra tiêu điểm tương phản:

(1.19) a [Your book]C-Foc, I have read (not his.) [161] ([Sách của anh]TĐTP tôi đã đọc (chứ không phải sách của hắn ta).)

b I have read [your book]C-Foc (not his.)

Tôi đã đọc [sách của anh]TĐTP (chứ không phải sách của hắn ta.)

Trang 33

Ở câu (1.19a), có tiêu điểm là bổ ngữ của câu xuất hiện ở vị trí đầu câu, trong khi

đó câu (1.19b) có tiêu điểm là bổ ngữ đứng sau vị từ ở vị trí điển dạng Cả hai câu đều là

những trường hợp của tiêu điểm tương phản có chung một tiền giả định, đó là việc ‘người

nghe tin rằng người nói đã đọc quyển sách của một người nào khác chứ không phải của người nghe.’ Lời phát ngôn là sự khẳng định trái ngược với điều người nghe tin tưởng

Rizzi (1997: 287) cho rằng tiêu điểm tương phản có thể được đánh dấu về mặt cú pháp bằng cách di chuyển thành tố tiêu điểm lên vị trí đầu câu hoặc vẫn ở vị trí điển dạng

của Theo Rizzi, cả hai câu trong ví dụ trên đều có chứa tiêu điểm tương phản, và “tiêu

điểm tương phản không phải là câu trả lời thích hợp cho loại câu hỏi với từ hỏi dùng để xác định thông tin mới”, chẳng hạn như câu hỏi 'Anh đã đọc gì trong suốt kỳ nghỉ lễ?'

(What did you read during the holiday?) Loại câu hỏi này không tiền giả định nhóm đối tượng được đem ra đối chiếu, chính vì vậy nên không thể cho ra câu trả lời có chứa tiêu điểm tương phản

É Kiss (1998a) cho rằng cần có sự phân biệt giữa tiêu điểm tương phản và tiêu điểm thông tin, bởi tiêu điểm tương phản có những đặc trưng về ngữ nghĩa và cú pháp mà tiêu điểm thông tin không có và đưa ra định nghĩa về tiêu điểm tương phản như sau:

“Tiêu điểm được xem là tương phản nếu như đó là sự xác nhận về một thực thể trong một

nhóm cố định mà thành viên của nhóm đều được người tham gia diễn ngôn biết rõ” [92,

tr.267] Nói khác đi, tiêu điểm tương phản theo quan niệm của Kiss thể hiện sự lựa chọn duy nhất trong số các khả năng chọn lựa (Molnár 2002, Cohan 2002, Lahousse 2003, Umbach 2004.) Ví dụ sau được É Kiss đưa ra để chứng minh định nghĩa về sự tương phản:

(1.20) A: Has Giorgio broken the vase? [92] (Có phải Giorgio làm vỡ bình hoa không?)

B: [Maria]C-Foc has broken the vase

([Maria]TĐTP đã làm vỡ bình hoa.)

Câu (1.20A) thuộc loại câu hỏi có - không, có tiền giả định là ‘Liệu có phải Giorgio là người làm vỡ bình hoa’ Câu trả lời (1.20B) đính chính lại phát ngôn trước đó

Trang 34

bằng việc cho biết rằng Maria là người làm vỡ bình hoa Maria là tiêu điểm tương phản trong lời đáp, trong đó Maria là đối tượng được tương phản với Giorgio

Ví dụ tiếp theo là một trường hợp khác của tiêu điểm tương phản:

(1.21) A: Which of you two has broken the vase? [92] (Ai trong số hai người đã làm vỡ bình hoa?)

B: [Maria]C-Foc has broken the vase

(Maria đã làm vỡ bình hoa.)

B1: It is [Maria] C-Foc who has broken the vase

(Chính Maria là người đã làm vỡ bình hoa.)

Câu (1.21A) thuộc loại câu hỏi lựa chọn, trong câu hỏi có một nhóm hai thành

viên được chỉ ra bởi ngữ đoạn ‘Ai trong số hai người…’ (Which of you two…) và số

thành viên của nhóm đều được người nói và người nghe biết rõ Câu trả lời (1.21B) lựa chọn một trong số hai thành viên của nhóm, và tương phản nó với thành viên còn lại Theo nghĩa này, Maria trong câu trả lời là tiêu điểm tương phản Tiêu điểm tương phản còn được thể hiện thông qua cấu trúc triển khai It cleft (1.21B1)

Ngoài tiêu điểm tương phản, cách tiếp cận cú pháp còn chú ý đến đề tương phản Benincà & Poletto (2004) có nói đến đề tương phản, nơi mà tiêu điểm của câu được di chuyển lên vị trí đầu câu và được thuyết giải với vai trò là đề tương phản của câu Benincà và Poletto không dùng thuật ngữ ‘đề tương phản’ mà họ gọi đó là ‘trình bày theo

cách liệt kê’ (list interpretation – L.I.) và giải thích như sau: “Cách trình bày theo kiểu

liệt kê này có thể tương ứng với cái mà một vài nhà ngữ học gọi là đề tương phản” [39]

Trình bày liệt kê (L.I.) được định nghĩa như là sự tương phản trong phạm vi của một nhóm xác định, L.I nói lên trường hợp của hai yếu tố cùng chung một danh sách những đơn vị đã biết được đem ra so sánh Ví dụ sau được Benincà và Poletto đưa ra để thể hiện

về đề tương phản:

Ngữ cảnh: Một nông traị sản xuất ra những sản phẩm mà người tham gia đối thoại đều biết rõ Đó là hai mặt hàng trái cây và rau cải

(1.22) We [give the fruit for free], while we [sell the vegetables.] [39]

(Chúng tôi [cho không trái cây], trong khi chúng tôi [bán rau cải].)

Trang 35

Trong câu (1.22), hành động cho (give) được tương phản với hành động bán (sell)

và trái cây (fruit) được tương phản với rau cải (vegetables)

Benincà và Poletto đưa ra hai cách kiểm tra để xác định đề tương phản, đó là kiểm tra bằng cách thay thế và kiểm tra bằng cách di chuyển Trong kiểm tra bằng cách thay thế, nếu hai đơn vị được cho là đề tương phản, chúng có thể được thay thế bằng thuật

ngữ cái trước (the former), cái sau (the latter) như trong câu sau:

(1.23) We [give the ‘former’ for free], while we [sell ‘the latter’.] [39]

(Chúng tôi [biếu không ‘cái trước’], trong khi chúng tôi [bán ‘cái sau’].)

Việc kiểm tra bằng cách di chuyển được thực hiện bằng cách di chuyển đề tương phản về bên trái và bên phải của câu:

- Di chuyển về bên trái

(1.24) The fruitC-Top, we give for free, while the vegetablesC-Top we sell

(Trái cây thì chúng tôi cho không, trong khi rau cải thì chúng tôi bán.)

- Di chuyển về bên phải

Benincà và Poletto cho rằng đề tương phản không phù hợp với việc di chuyển về

bên phải vì như thế sẽ làm cho câu sai ngữ pháp:

(1.25) ??We give for free, the fruit while we sell, the vegetables

(??Chúng tôi biếu không là trái cây, trong khi chúng tôi bán là rau cải.) Cách tiếp cận về cú pháp đưa ra sự phân biệt rõ ràng giữa các khái niệm đề và tiêu điểm thông tin mới với đề tương phản và tiêu điểm tương phản Đi đôi với sự phân biệt này là những thuyết giải về trật tự từ và vị trí cú pháp trong câu của đề tương phản và tiêu điểm tương phản

1.7.3 Phân loại tiêu điểm tương phản

Dik và các cộng sự (1981) còn phân chia tiêu điểm tương phản ra thành nhiều tiểu loại khác nhau như TĐTP lựa chọn (selecting focus), TĐTP hạn định (restricting focus), TĐTP mở rộng (expanding focus) và TĐTP thay thế (replacing focus) Những lớp tiêu điểm tương phản phụ này, cũng giống như TĐTP, luôn có một nhóm những khả năng chọn lựa xác định Choi (1999) thêm vào danh sách lớp TĐTP phụ này của Dik TĐTP song song (parallel focus)

Trang 36

(1.26) Tiêu điểm tương phản lựa chọn [87]

A: Nam uống gì ở buổi tiệc, bia hay rượu?

(What did Nam drink at the party, beer or wine?)

B: Nó uống rượu (He drank wine.)

(1.27) Tiêu điểm tương phản hạn định [87]

A: Hoa mua trứng và bột, chắc định làm bánh

(Hoa bought eggs and flour, she can make a cake.)

B: Đâu có, cô ấy chỉ mua trứng thôi (No, she only bought eggs.)

(1.28) Tiêu điểm tương phản mở rộng [87] A: Chúng ta có chai rượu (We have a bottle of wine.)

B: Chúng ta cũng còn có bia nữa Hãy rủ Bắc tham gia đi

(We also have beer Let's ask Bắc to join us.)

(1.29) Tiêu điểm tương phản thay thế [87]

A: Hoa đã đi du lịch châu Âu (Hoa traveled in Europe.)

B: Đâu có, cô ấy đã đi Trung quốc (chứ đâu phải châu Âu.)

(No, she traveled in China (not in Europe).)

(1.30) Tiêu điểm tương phản song song: [65]

Nam thích bóng đá nhưng Bắc lại thích bóng chuyền

(Nam loves football, but Bắc loves volleyball.)

Các câu trả lời của người nói B từ (1.26) đến (1.28) đều có tiêu điểm tương phản

là yếu tố được chọn lựa từ nhóm lựa chọn được hiển ngôn trong câu hỏi, hay đó là yếu tố được thêm vào hoặc đính chính lại phát ngôn trước đó: câu (1.28) và (1.29), câu (1.30) có hai yếu tố được làm cho tương phản với nhau thông qua liên từ tương phản 'nhưng' (but) Tính tương phản được thể hiện bởi các thành tố tiêu điểm trong từng câu là không giống nhau, nhưng tất cả các thành tố tiêu điểm tương phản ở trong câu đều rất dễ nhận ra do được làm nổi bật bởi nhóm khả năng chọn lựa đã được đề cập đến trước đó trong câu hỏi

1.8 QUAN ĐIỂM VẬN DỤNG CỦA LUẬN VĂN

Từ những điều vừa trình bày ở trên, có thể thấy cách thuyết giải về sự tương phản trong CTTT cũng khá rối rắm như cách định nghĩa về ‘đề’ trong CTTT Vấn đề là ở chỗ,

Trang 37

tùy theo định hướng nghiên cứu của từng nhà ngữ học mà cách tiếp cận và thuyết giải về hiện tượng tương phản cũng có sự khác nhau

Xét câu "Nam đã cho tôi mượn chiếc xe đạp." Trong trường hợp câu nói này bị tách ra khỏi ngữ cảnh phát ngôn thì ở góc độ người thuyết giải về CTTT của câu, căn cứ trên bề mặt của câu chữ, ta chỉ có thể ước đoán được đâu là đề, đâu là tiêu điểm của câu

và nội dung của thông điệp là ‘có một người tên là Nam đã cho người nói câu này mượn

chiếc xe đạp.’ Thế nhưng sự ước đoán này không thật chính xác, bởi ta không biết ‘người

nói’ câu này là ai cũng như mối quan hệ giữa ‘Nam’ và người nói như thế nào? Phát ngôn trên xuất hiện trong hoàn cảnh nào? Bởi vì câu nói trên có thể là câu trả lời thích hợp cho tất cả các câu hỏi sau:

(a) Nam đã cho bạn mượn cái gì?

(b) Ai đã cho bạn mượn chiếc xe đạp?

(c) Nam đã làm gì để giúp bạn?

(d) Có chuyện gì vậy?

Như vậy, rõ ràng là khi tách câu ra khỏi ngữ cảnh của phát ngôn thì sự thuyết giải

về thông tin trong câu không thể nào chính xác, ngoại trừ việc khẳng định những mảng thông tin ở trong câu là thông tin mới!

Ngược lại, ở góc độ người tham gia đối thoại, không cần phải nghe hết câu hay phải căn cứ vào âm nào được nhấn mạnh trong câu, người nghe cũng biết được thông tin vừa tiếp nhận thuộc loại nào? Là thông tin mới hay thông tin tương phản Cái cơ chế giúp người tham gia giao tiếp lĩnh hội được nội dung của phát ngôn chính là nhờ vào kiến thức nền, là những trải nghiệm trong mối quan hệ xã hội, trong giao tiếp và trong cuộc sống

Chính vì vậy mà khi đọc câu mở đầu trong ''Chí phèo" của Nam Cao: “Hắn vừa đi vừa

chửi ”, người đọc không biết ‘hắn’ là ai, phải chờ đến khi tác giả chỉ ra tên hắn thì

người đọc mới biết được đó là ‘Chí phèo’ Giả tỷ như người đọc câu đó là dân ở làng Vũ Đại thì chắc không cần đợi đến khi Nam Cao giải thích, họ sẽ biết ngay ‘hắn’ là ai Tương tự như vậy, khi nghe câu “Nam đã cho tôi mượn chiếc xe đạp”, người tham gia

giao tiếp sẽ nhận biết ngay đó là thông tin mới hay thông tin tương phản

Trang 38

Thông tin chỉ là tương phản khi cả người nói và người nghe cùng biết rằng Nam là người giàu có, trong nhà có không biết bao nhiêu là xe hơi và xe gắn máy Thế mà khi

bạn cần xe đến mượn, thì Nam 'chỉ' cho mượn chiếc xe đạp Hoặc giả như ngữ cảnh xuất

hiện của câu nói trên ở vào thời kỳ bao cấp, chiếc xe đạp là tài sản quý giá mà chỉ một vài người bạn của người đối thoại mới có được, và một trong những người đó là nhân vật tên

'Nam', là người đã cho người nói mượn chiếc xe đạp thì thông tin trong câu mới đúng là

thông tin tương phản Như vậy có thể cho rằng, thông tin tương phản là loại thông tin đòi hỏi phải có sự chia sẻ chung về kiến thức của người tham gia giao tiếp để lĩnh hội được phát ngôn

Về thông tin tương phản, chúng tôi tán thành quan điểm của K Lambretch (1994) khi cho rằng sự tương phản thuộc lĩnh vực hàm ý hội thoại, nhận định này hoàn toàn chính xác theo hướng tiếp cận của tác giả về CTTT ở cấp độ câu Ở cấp độ diễn ngôn, khi câu/phát ngôn chỉ là một mắt xích trong xâu chuỗi của vấn đề đang thảo luận thì thông tin tương phản vẫn được ký mã rõ ràng trong câu/phát ngôn Để lĩnh hội được thông tin tương phản, nguyên tắc 'cộng tác' (cooperation) trong hội thoại của Grice (1975) phải được tôn trọng, cụ thể là nguyên tắc có liên quan (the maxim of relevance) có nghĩa là có

sự chia sẻ về kiến thức chung của người tham gia đối thoại về vấn đề đang thảo luận

Trở lại phát ngôn “Nam đã cho tôi mượn chiếc xe đạp” xuất hiện trong ngữ cảnh

của thông tin tương phản, câu trên có thể được viết lại như sau:

(a) Chiếc xe đạp là thứ Nam đã cho tôi mượn (chứ không phải là xe gắn máy.) (b) Người đã cho tôi mượn chiếc xe đạp là Nam (chứ không phải là Bắc.)

(c) Tôi là người được Nam cho mượn chiếc xe đạp (chứ không phải là ai khác.)

Khi viết lại câu như trên thì rõ ràng bằng cách di chuyển thành tố tiêu điểm, ý tương phản trong câu đã được làm nổi bật Điều này cũng nhất quán với khẳng định của

É Kiss (1998) về việc TĐTP có thể được di chuyển ra khỏi vị trí của nó ở trong câu

Nội dung chính của luận văn nói về sự tương phản được thể hiện trong CTTT của câu tiếng Việt so sánh với câu tiếng Anh Sở dĩ chúng tôi chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ mục tiêu để đối chiếu vì về cơ bản, giữa tiếng Anh và tiếng Việt có những điểm tương đồng về cú pháp với trật tự từ cố định và mô hình câu điển dạng SVO Điểm khác biệt

Trang 39

chính yếu giữa hai ngôn ngữ chỉ là ở chỗ tiếng Anh thuộc loại hình ngôn ngữ phi thanh điệu, có nhịp điệu lời nói theo trọng âm (stress timed language), ngữ điệu là phương tiện chủ yếu được người nói sử dụng để biểu tỏ thái độ, tình cảm và thể thức của phát ngôn thì ngược lại, tiếng Việt là ngôn ngữ thanh điệu, có nhịp điệu lời nói theo vần (syllable timed language), ngữ điệu chỉ là phương tiện thứ yếu được dùng như là một công cụ để phân đoạn câu, để bày tỏ quan điểm, thái độ, tình cảm và thể thức của phát ngôn Bên cạnh ngữ điệu, người Việt thường dùng hệ thống trợ từ, phụ từ và lớp tiểu từ ở vị trí cuối câu gọi chung là lớp từ tình thái có sẵn trong tiếng mẹ đẻ của mình để ký mã phát ngôn như nhận định của Gordina & Bystrov (1984):

“Một ngôn ngữ sử dụng càng nhiều bao nhiêu các phương tiện hình vị cú pháp để thể

hiện thái độ, tình cảm và thể thức của phát ngôn thì việc sử dụng ngôn điệu cho cùng một

chức năng như vậy trong ngôn ngữ đó lại càng ít đi bấy nhiêu.” [107]

Về sự tương phản được thể hiện trong CTTT của câu tiếng Việt, chúng tôi quan niệm rằng, CTTT trong một câu, được thể hiện dưới hình thức một thông điệp, không chỉ chứa thông tin cũ và thông tin mới mà còn có thể mang thông tin tương phản Thông tin tương phản trong câu tiếng Việt được thể hiện bởi đề tương phản và/hay tiêu điểm tương phản Sự thể hiện này được ký mã rõ ràng bằng các phương tiện ngữ âm, từ vựng và cú pháp sẽ được trình bày cụ thể trong các chương tiếp theo của luận văn

1.9 TIỂU KẾT

Khái niệm thông tin và CTTT được các nhà ngữ học trên thế giới chú ý đến từ rất lâuvới đề xuất của Mathesius (1939) về việc phân tích chức năng câu Trải qua quá trình phát triển gần một thế kỷ, đến nay thì CTTT đã được các nhà ngữ học nghiên cứu và ứng dụng trên nhiều bình diện khác nhau của ngôn ngữ Hệ quả là có quá nhiều những thuật ngữ cũng như cách thuyết giải khác nhau về CTTT Tuy là như vậy, nhưng vẫn còn có điểm chung, những nghiên cứu về CTTT đều nhằm thuyết giải cho cách thức tổ chức thông tin trong một phát ngôn ở vào một hoàn cảnh nhất định trong một ngôn ngữ cụ thể

CTTT liên quan đến việc tổ chức thông tin trong một câu theo những mô hình nhất định Mô hình đề-thuyết (theme-rheme) liên quan đến thông tin của sự nói về Đề là đối tượng được nói đến và thuyết là những điều được nói về đề Do đề là đối tượng được nói đến nên sở chỉ của đề luôn luôn xác định, nói khác đi, đề bao giờ cũng là thông tin đã biết

Trang 40

và thuyết là phần thông tin mới Lượng thông tin cũ, mới được chia đều trên hai phần đề, thuyết Do đề là phần thông tin đã biết nên có khi trong một câu, phần đề không cần được

đề cập đến và trong câu chỉ còn có phần thuyết, đó là loại câu không đề Điều này chứng

tỏ quan điểm đề-thuyết (theme-rheme) xem đề và thuyết là hai bộ phận độc lập với nhau

Có tác giả không xem đề, thuyết là hai bộ phận tách rời mà đó là sự diễn biến của một tiến trình liên tục từ thông tin cũ đến thông tin mới hay ngược lại Đó là cách tiếp cận của những nhà ngữ học thuộc trường phái Praha hiện đại với mô hình đề (topic) - tiêu điểm (focus) Theo cách tiếp cận này, lượng tin trong một câu được phân bố theo mô hình

‘Phần đề - phần chuyển tiếp - phần thuyết’ Phần ‘đề’ bao gồm cả đề và phần chuyển tiếp, phần ‘thuyết’ chính là thông tin tiêu điểm

Có tác giả chủ trương tách hẳn tiêu điểm ra khỏi phần còn lại của câu Đó là cách tiếp cận tiêu điểm - tiền giả định Theo cách tiếp cận này, tiêu điểm là phần tập trung thông tin mới của câu, luôn được làm nổi bật khi phát âm bằng cách nhấn mạnh Phần còn lại của câu là phần tiền giả định, mang thông tin cũ và đương nhiên không được phát

âm nhấn mạnh Tiêu điểm và tiền giả định bổ sung cho nhau để làm đầy đủ nội dung một thông điệp

Thông tin tương phản trong CTTT cũng là vấn đề gây tranh cãi, có tác giả xem thông tin tương phản chỉ là hiện tượng dụng học bao trùm lên CTTT của một câu nên cũng không cần thiết phải có thêm thuật ngữ mới như tiêu điểm tương phản và/hay đề tương phản Ngược lại, cũng có tác giả xem sự tương phản được thể hiện trong CTTT của một câu như là một hiện tượng nằm trong mã ngôn ngữ, bởi các công trình nghiên cứu liên ngôn ngữ (cross-linguistics) đã chứng minh, thông tin tương phản được thể hiện rõ ràng trong cấu trúc cú pháp của một câu bằng các phương tiện ngữ âm, từ vựng, cú pháp

Do vậy, ngoài đề và tiêu điểm thông tin mới, cần phải có thêm những khái niệm mới như

đề tương phản và tiêu điểm tương phản để chỉ hiện tượng này Hướng tiếp cận của Luận văn nhất trí với quan niệm xem sự tương phản được thể hiện trong CTTT của một câu là hiện tượng ngôn ngữ Phần tiếp theo của luận văn sẽ trình bày những biểu hiện của thông tin tương phản được thể hiện trên ba bình diện ngữ âm, từ vựng, cú pháp trong cấu trúc thông tin của câu tiếng Việt

Ngày đăng: 07/05/2021, 18:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w