Tác giả cũng nhận định cuốn tiểu thuyết đã mở ra một vùng đề tài mới cho tiểu thuyết Nam Bộ lúc bấy giờ, đồng thời khơi nguồn cho một thể loại mới có ảnh hưởng đến những sáng tác của các
Trang 2Luận văn của tôi có thể hoàn thành được nhờ vào sự giúp đỡ nhiệt tình của rất nhiều người, đặc biệt là sự giúp đỡ của:
1 TS Hà Thanh Vân, người đã rất tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình làm
luận văn
2 Quý thầy cô của trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố
Hồ Chí Minh nhất là PGS.TS Đoàn Lê Giang và TS Võ Văn Nhơn đã tạo
điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn
3 Ban Giám đốc và các anh chị nhân viên thư viện Khoa học Tổng hợp thành
phố Hồ Chí Minh giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình tìm kiếm, sưu tầm tài
liệu
Bên cạnh đó gia đình, người thân, và bạn bè đã động viên, khích lệ tôi nhiều trong thời gian làm luận văn Trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô, gia đình, bạn bè!
Trang 3DẪN NHẬP………1
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu……… 1
2 Giới hạn đề tài và phạm vi nghiên cứu………2
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 3
4 Phương pháp nghiên cứu……….8
5 Đóng góp của luận văn……… 9
6 Kết cấu của luận văn……… 10
CHƯƠNG I: TIỂU THUYẾT TRINH THÁM VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN TRONG BỐI CẢNH VĂN HÓA NAM BỘ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX ……… 11
1.1 Khái niệm tiểu thuyết trinh thám………11
1.1.1 Quan niệm về tiểu thuyết trinh thám……… 11
1.1.2 Đặc trưng của tiểu thuyết trinh thám……… 14
1.1.3 Tiểu thuyết trinh thám ở Việt Nam……….17
1.2 Bối cảnh văn hóa Nam Bộ nửa đầu thế kỉ XX……… 18
1.2.1 Hoạt động báo chí quốc ngữ……… 18
1.2.2 Hoạt động in ấn và xuất bản………20
1.2.3 Sự du nhập của văn hóa nước ngoài………21
1.3 Sự hình thành và phát triển của tiểu thuyết trinh thám ở Nam Bộ nửa đầu thế kỉ XX……… 26
1.3.1 Quá trình phát triển của tiểu thuyết trinh thám ở Nam Bộ nửa đầu thế kỉ XX…26 1.3.2 Vai trò của tiểu thuyết trinh thám ở Nam Bộ nửa đầu thế kỉ XX trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc……… 31
1.3.2.1 Thể loại mới - sự đa dạng về diện mạo của văn học Nam Bộ……… 32
1.3.2.2 Thể loại mới - sự khởi đầu cho thể loại tiểu thuyết trinh thám Việt Nam……34
Trang 42.1.1 Đồng tiền - nguyên nhân của tội ác……… 40
2.1.2 Âm mưu và thủ đoạn - con đường tiến thân……….45
2.1.3 Người dân thuộc địa - những thân phận đáng thương……… 50
2.2 Tình yêu - khúc ca lãng mạn của cuộc sống……… 55
2.2.1 Lãng mạn, nồng nàn, thủy chung - sự thăng hoa của tình yêu……….56
2.2.2 Mối tình tay ba - nỗi đau của người trong cuộc……… 62
2.2.3 Ghen tuông - mặt trái của tình yêu……… 67
2.3 Điều tra án - con đường giải mã sự thật……… 71
2.3.1 Cảnh sát, mật thám - những kẻ thất bại………71
2.3.2 Kẻ cướp - người anh hùng nghĩa hiệp……… 77
2.3.3 Nhân vật thám tử trinh thám - con người của điều tra……… 83
CHƯƠNG III: ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA TIỂU THUYẾT TRINH THÁM NAM BỘ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX………90
3.1 Tiểu thuyết trinh thám Nam Bộ nửa đầu thế kỉ XX – sự dung hợp và kháng cự lối viết phương Tây……… 90
3.1.1 Lối viết phương Tây – sức hấp dẫn không cưỡng lại……… 92
3.1.2 Lối viết truyền thống – sự kháng cự phương Tây………94
3.2 Nhân vật mang màu sắc trinh thám – linh hồn của tác phẩm……….97
3.2.1 Đối thoại và hành động – dấu ấn nhân vật trinh thám……….98
3.2.2 Cải trang – sự thoát xác của nhân vật……….102
3.2.3 Nhân vật – những ẩn số bí mật ……….106
3.2.4 Nhân vật – những trải nghiệm tâm hồn ……….110
3.3 Kết cấu – mạch máu của tác phẩm………114
3.3.1 Tác phẩm – mê hồn trận của những vụ án……….115
Trang 53.4.2 Ngôn ngữ - dấu ấn của tính cách con người Nam Bộ………127
3.5 Không gian nghệ thuật – không gian vụ án……… 129
3.5.1 Không gian mở đậm chất phiêu lưu……… 130
3.5.2 Không gian đô thị - không gian của sự đối đầu……….133
CHƯƠNG IV: VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN TIỂU THUYẾT TRINH THÁM NAM BỘ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX………142
4.1 Tiếp nhận tiểu thuyết trinh thám Nam Bộ giai đoạn đầu thế kỉ XX – 1945…….143
4.2 Tiếp nhận tiểu thuyết trinh thám Nam Bộ giai đoạn 1945 – 1975………153
4.3 Tiếp nhận tiểu thuyết trinh thám Nam Bộ giai đoạn từ 1975 đến nay………… 159
KẾT LUẬN……….172
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….178
PHỤ LỤC………188
Trang 6DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Có thể nói Nam Bộ là mảnh đất khởi nguồn của văn xuôi chữ quốc ngữ cũng là nơi nuôi dưỡng và phát triển nó Với vai trò “là những viên gạch xây móng cho nền văn học hiện đại Việt Nam ra đời, hình thành và phát triển” [3, tr.7], văn xuôi Nam Bộ
đã góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc Là một bộ phận của văn xuôi, tiểu thuyết cũng tham gia việc thực hiện sứ mệnh này Ở những năm đầu thế
kỷ XX, tiểu thuyết Nam Bộ có những bước phát triển rất đáng ghi nhận, mở ra hướng
đi mới cho tiểu thuyết Việt Nam Sự thay đổi trong đề tài, kỹ thuật viết, kết cấu… đã đưa tiểu thuyết Nam Bộ thoát khỏi ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Hoa, đến gần hơn với tiểu thuyết hiện đại Trong sự phát triển của tiểu thuyết ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX,
sự xuất hiện của thể loại tiểu thuyết trinh thám là “luồng gió lạ”, làm đa dạng thêm diện mạo văn xuôi Nam Bộ đầu thế kỷ XX Tuy nhiên khi mới xuất hiện, do dòng tiểu thuyết này nặng về tính giải trí nên ít được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu văn học lúc bấy giờ Cho đến gần đây thể loại tiểu thuyết trinh thám đã dành được sự quan tâm nhiều hơn từ phía các nhà nghiên cứu Đây là một tín hiệu đáng mừng cho thể loại tiểu thuyết còn khá mới này ở Việt Nam
Với đề tài Tiểu thuyết trinh thám ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX, chúng tôi sẽ
tìm hiểu một cách có hệ thống và khoa học về thể loại tiểu thuyết trinh thám ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX, từ đó có một cái nhìn toàn diện, cụ thể hơn về thể loại này trên phương diện quá trình hình thành, phát triển cũng như đặc điểm nội dung và nghệ thuật của nó
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ đặt tiểu thuyết trinh thám Nam Bộ trong bối cảnh văn xuôi Nam Bộ đầu thế kỷ XX để từ đó thấy được những đóng góp, thành tựu của nó trong sự phát triển của văn xuôi Nam Bộ
Trang 72 Giới hạn đề tài và phạm vi nghiên cứu
Đề tài Tiểu thuyết trinh thám ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX hướng đến việc tìm
hiểu một cách có hệ thống và khoa học về dòng văn học trinh thám ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX nên đối tượng nghiên cứu chính sẽ là tiểu thuyết trinh thám ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX
Dựa vào những quan niệm quan niệm tiểu thuyết trinh thám trong sách Từ điển thuật ngữ văn học do Trần Đình Sử chủ biên, chúng tôi nhận thấy những tác phẩm sau
của các nhà văn ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX có thể xếp vào loại tiểu thuyết trinh thám:
1 Biến Ngũ Nhy: Kim thời dị sử - Ba Lâu ròng nghề đạo tặc
2 Bửu Đình: Mảnh trăng thu, Cậu Tám Lọ
3 Dương Minh Đạt: Anh hùng ba mặt (Bí mật phi thường)
4 Nam Đình Nguyễn Thế Phương: Chén thuốc độc, Lửa cháy phiền gan, Giọt lệ
má hồng, Huyết hoa lệ, Khép cửa phòng thu…
5 Phú Đức: Căn nhà bí mật, Châu về hiệp phố, Lửa lòng, Một mặt hai lòng, Non tình biển bạc, Tôi có tội…
6 Sơn Vương: Lỗi về ai?
Chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát những tác phẩm trên, trong đó đặt trọng tâm tìm hiểu những tác phẩm được các nhà nghiên cứu đánh giá là tiêu biểu nhất cho thể loại
tiểu thuyết trinh thám ở Nam Bộ giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX: Kim thời dị sử - Ba Lâu ròng nghề đạo tặc, Mảnh trăng thu, Cậu Tám Lọ, Giọt lệ má hồng, Châu về hiệp phố,
Lửa lòng, Một mặt hai lòng, Tôi có tội, Lỗi về ai? Một điều chúng tôi muốn chia sẻ với mọi người: tiểu thuyết trinh thám thời kì này ở Nam Bộ là những bước đi thử nghiệm cho sự xuất hiện của một thể tài mới nên nó chưa thể đạt đến kỹ thuật viết tiểu thuyết trinh thám hiện đại Vì vậy chúng ta cần có cái nhìn linh hoạt, phù hợp với bối cảnh văn học bấy giờ khi tìm hiểu về thể tài này
Trang 8vào năm 1990 Trong công trình này, khi trình bày về sự phát triển của văn học Nam
Bộ đầu thế kỷ XX, tác giả có đề cập đến tác phẩm Kim thời dị sử của Biến Ngũ Nhy,
cho rằng đây là cuốn tiểu thuyết trinh thám ra đời sớm nhất ở Việt Nam, mặc dù còn chịu ảnh hưởng kết cấu chương hồi của Trung Quốc nhưng yếu tố hiện đại vẫn là chủ đạo do ảnh hưởng của phương Tây Tác giả cũng nhận định cuốn tiểu thuyết đã mở ra một vùng đề tài mới cho tiểu thuyết Nam Bộ lúc bấy giờ, đồng thời khơi nguồn cho một thể loại mới có ảnh hưởng đến những sáng tác của các nhà văn Nam Bộ sau đó và
ở cả các nhà văn ngoài Bắc:
Theo cách bố cục, kết cấu và nội dung trên thì Kim thời dị sử là một tiểu
thuyết trinh thám ra đời sớm nhất của mảng tiểu thuyết trinh thám Việt Nam tuy rằng vẫn còn gần với thứ “hạ hồi phân giải” của Trung Quốc Đây là một tiểu thuyết mở đầu cho hàng loạt tiểu thuyết phiêu lưu, mạo hiểm của Phú Đức, Nam Đình tiếp tục có mặt trên sinh hoạt văn nghệ miền Nam trước năm 1940 Và cũng chính các tiểu thuyết này đã hà hơi tiếp sức cho tiểu thuyết trinh thám ở Hà Nội như Thế Lữ, Phạm Cao Củng… sau đó [47, tr.287]
Cũng trong phần chú thích trang 287 khi giới thiệu về tác giả Phú Đức, Nguyễn
Q Thắng cho rằng Phú Đức là nhà văn có tiếng đương thời ở Sài Gòn, tác phẩm của ông phần lớn thuộc loại phiêu lưu, mạo hiểm nhưng nội dung, chủ đề không có gì xuất sắc
Luận án tiến sĩ của Tôn Thất Dụng Sự hình thành và vận động của thể loại tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt ở Nam Bộ giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến 1932
Trang 9(1993) bảo vệ tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội khẳng định có dòng văn học trinh thám ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX gắn liền với những tên tuổi của Biến Ngũ Nhy, Bửu
Đình, Phú Đức Tác giả Tôn Thất Dụng cũng nhận định: “Tác phẩm Kim thời dị sử
(1917) của Biến Ngũ Nhi có thể xem là cuốn tiểu thuyết trinh thám đầu tiên ở nước ta” [10, tr.75] và “có thể nói rằng tiểu thuyết trinh thám ở nước ta xuất hiện đầu tiên ở Nam Bộ Các sáng tác của Biến Ngũ Nhy, Bửu Đình, Phú Đức… đã đi trước Thế Lữ, Phạm Cao Củng…” [10, tr.75]
Lê Ngọc Thúy trong luận án tiến sĩ Đóng góp của văn học quốc ngữ ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX vào tiến trình hiện đại văn học Việt Nam bảo vệ tại
trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh năm 2001 đã nhìn nhận sự đóng góp vào quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc của văn học Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, và nhấn mạnh đến sự phong phú, đa dạng về đề tài của văn học Nam Bộ thời kì này, trong đó tác giả nhắc tới vùng đề tài khá mới mẻ gắn với hai tác giả Lê
Hoằng Mưu và Biến Ngũ Nhy: đề tài về thế giới “xã hội đen”:
…Có sự xuất hiện đồng loạt, cùng song song tồn tại của các vùng đề tài khác nhau, với những cảm hứng tưởng chừng như ngược chiều, không đồng
bộ
Đó là những sự hiện diện đồng thời của các vùng đề tài lịch sử (tiểu thuyết lịch sử của Phạm Minh Kiên, Nguyễn Chánh Sắt, Tân Dân Tử, Hồ Biểu Chánh), vùng đề tài phong tục, xã hội, đề tài về thế giới “xã hội đen” (Lê Hoằng Mưu, Biến Ngũ Nhy), đề tài của loại “roman passionnel”, mô tả đời sống con người trong thế giới của đam mê, dục vọng (truyện Lê Hoằng Mưu
và một số truyện ngắn) Nhưng gần như tất cả các tiểu thuyết của các vùng
đề tài trên đều được độc giả thời đó tiếp nhận nhiệt tình, được tái bản nhiều lần…[49, tr.118-119]
Khi nói về Kim thời dị sử của Biến Ngũ Nhy, tác giả nhận định tác phẩm được
viết bằng bút pháp phóng sự nhưng vẫn còn bị chi phối bởi luân lý Nho giáo nhất là
Trang 10trong xây dựng nhân vật chính: mặc dù là một tướng cướp nhưng Ba Lâu vẫn “hành hiệp trượng nghĩa”
Cùng ý kiến với Tôn Thất Dụng trong Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX được nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh ấn hành
vào năm 2004 do Nguyễn Kim Anh chủ biên cũng nhận định:
Kim thời dị sử mang dáng dấp của một tiểu thuyết phương Tây hiện đại Giá
trị của nó trong văn học sử đã được ghi nhận và thành quả của Biến Ngũ Nhy, người đi tiên phong mở đường trong lĩnh vực này đã được một số cây bút sau ông như Phú Đức, Nam Đình Nguyễn Thế Phương, Sơn Vương… ở Nam Bộ và Thế Lữ, Phạm Cao Củng… ở miền Bắc tiếp nối [3, tr.163] Trong công trình này, các tác giả cũng đã tiến hành nhận diện một số gương mặt nhà văn viết tiểu thuyết trinh thám ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX, tóm tắt và nêu lên một vài đặc điểm nội dung và nghệ thuật của một số tác phẩm điển hình thuộc thể loại này
Từ đó hé mở cho độc giả thấy vai trò làm phong phú diện mạo văn học Nam Bộ của dòng tiểu thuyết trinh thám: “Có thể nói, ông (Nguyễn Thế Phương) cùng với Biến Ngũ Nhy, Phú Đức và một số tác giả khác đã có công xây dựng nên một dòng tiểu thuyết: tiểu thuyết trinh thám võ hiệp, kỳ tình, phiêu lưu, mạo hiểm làm phong phú thêm bức tranh chân dung đa dạng, nhiều sắc màu phong phú của tiểu thuyết Nam Bộ đầu thế kỷ XX” [3, tr.439]
Nguyễn Thị Thanh Xuân trong bài viết Phú Đức - một mẫu hình nhà văn Nam
Bộ đặc biệt đầu thế kỷ XX, in trong Tạp chí nghiên cứu Văn học, số 7, năm 2006,
ngoài khái quát những nét chính về con người, sự nghiệp viết văn của Phú Đức, còn đưa ra những nhận định về sáng tác của tác giả này về các mặt: đề tài, kỹ thuật viết, kết cấu, không gian nghệ thuật, ngôn ngữ và nhân vật Theo Nguyễn Thị Thanh Xuân thì:
“…trong tiểu thuyết Phú Đức, tính chất trinh thám chỉ mới là nét chấm phá, nhân vật thám tử còn rất gượng như tình hình chung của tiểu thuyết trinh thám Việt Nam” [91],
Trang 11tác giả bài viết cũng cho rằng tiểu thuyết Phú Đức không chỉ nặng tính chất giải trí mà
nó còn hướng con người tới lý tưởng sống tốt đẹp
Nhấn mạnh tính chất lý tưởng sống trong các tác phẩm thuộc dòng văn học trinh
thám, Võ Văn Nhơn trong luận án tiến sĩ Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX bảo vệ vào năm 2008 tại trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành
phố Hồ Chí Minh viết:
…Họ (nhân vật trong tác phẩm - DTH) được xây dựng như những anh hùng
thời đại cứu khốn phò nguy như Bách Si Ma trong Lửa lòng của Phú Đức, như Tấn Phước trong Giọt lệ má hồng của Nam Đình Nguyễn Thế Phương
Đó là những “tướng cướp” có hành tung xuất quỷ nhập thần, sẵn sàng thay mặt cho công lý ra tay diệt gian trừ bạo, giải trừ những bất công của xã hội,
lấy của kẻ giàu cho người nghèo, như Trần Minh Lộng trong Kim thời dị sử của Biến Ngũ Nhy, Hoàn Ngọc Ẩn trong Châu về hiệp phố của Phú Đức, Anh Minh trong Anh hùng ba mặt của Dương Minh Đạt… Họ là những hình
ảnh lý tưởng tượng trưng cho mơ ước của nhà văn về những con người văn
võ song toàn, là những khát khao sâu xa và những tình cảm thầm kín khi ý thức về thân phận nô lệ của dân tộc, những khát khao xa vời của một lớp thanh niên thị dân đang sống tủi nhục dưới ách thống trị của thực dân Công chúng, nhất là thanh niên tìm thấy trong các tác phẩm này những hình mẫu
để học tập, bắt chước cho thỏa cái chí tang bồng của người làm trai Đó cũng là một sự phản ứng đối với một xã hội đang kìm tỏa tự do của họ, là biểu hiện kín đáo của lòng yêu nước, tự hào dân tộc [41, tr.126-127]
Trong công trình nghiên cứu này Võ Văn Nhơn cũng cho rằng: “Tiểu thuyết
trinh thám đầu tiên của Nam Bộ và của Việt Nam là Kim thời dị sử của Biến Ngũ Nhy
được viết năm 1917” [41, tr 125] Tác giả có những phân tích khá kỹ lưỡng về nội
dung cũng như nghệ thuật của Kim thời dị sử để thấy được những thành công và hạn
chế của tác giả này khi thử sức với một thể loại còn rất mới của Việt Nam bấy giờ
Trang 12Thành công lớn nhất của tác phẩm đã xây dựng được một kết cấu khá hiện đại tạo ra được sự ly kì hấp dẫn, lôi cuốn độc giả: “Cốt truyện có những tình tiết ly kì hấp dẫn, thắt mở rất hợp lý, đầy kịch tính và thu hút người đọc từ đầu đến cuối, khả năng trần thuật linh hoạt, mạch lạc, sự việc diễn biến mau lẹ…” [41, tr.125]
Tuy nhiên tác phẩm vẫn còn những hạn chế nhất định như: dấu vết ảnh hưởng của phương Đông còn khá rõ nét, “nhiều chi tiết sắp đặt lộ liễu và sự kiện thiếu lôgíc vấn đề khi phán đoán suy xét” [41, tr.125] Song vượt lên trên, tác phẩm vẫn tạo ra được chỗ đứng nhất định trong lòng văn học Nam Bộ đầu thế kỷ XX, và có ảnh hưởng đáng kể với một số nhà văn phía Bắc như Thế Lữ, Phạm Cao Củng… Đây là điều rất đáng ghi nhận như tác giả công trình đã khẳng định: “Điều đó cũng đủ làm nên tính chất hiện đại trong tác phẩm và là đóng góp lớn của nhà văn - bác sĩ này cho sự phát triển đi lên của nền văn học nước nhà, là một thành công rất đáng ghi nhận trong buổi bình minh của tiểu thuyết hiện đại” [41, tr.125-126]
Với Phú Đức - tác giả được đánh giá là tiêu biểu của dòng tiểu thuyết trinh thám nửa đầu thế kỷ XX ở Nam Bộ, Võ Văn Nhơn có những đánh giá xác đáng về những sáng tác của nhà văn này Võ Văn Nhơn nhận định trong tác phẩm của Phú Đức tính chất trinh thám chỉ là yếu tố phụ, mờ nhạt, yếu tố ái tình và võ hiệp đậm đặc hơn cả, và
chỉ có: “Tôi có tội thật sự là tiểu thuyết trinh thám, là tiểu thuyết thành công nhất của
Phú Đức nếu xét về mặt trinh thám” [41, tr 150]
Trần Ngọc Hồng và Phan Mạnh Hùng trong phần chương ba của Báo cáo tổng kết kết quả đề tài Khoa học công nghệ cấp trọng điểm Đại học Quốc gia thành phố Hồ
Chí Minh: Khảo sát, đánh giá, bảo tồn di sản văn học Nam Bộ 1930-1945 năm 2011
đã đánh giá cao tiểu thuyết trinh thám của Phú Đức khi cho rằng ông là tác giả tiêu biểu cho khuynh hướng tiểu thuyết trinh thám, với những thành công nhất định:
Nội dung chứa đựng nhiều yếu tố li kì, hấp dẫn, gay cấn trong những cuộc phiêu lưu võ hiệp của các nhân vật trai tài, gái sắc, được lồng vào trong những câu chuyện tình thơ mộng, trong sáng của họ Qua việc khắc họa
Trang 13hàng loạt nhân vật, Phú Đức đã vẽ nên hình ảnh của thế hệ thanh niên Việt Nam trong thời đại mới Họ là những thanh niên được đào tạo từ trường Tây, vẫn thấm đượm trong tâm hồn tính chất thuần Việt từ hành động, lời ăn tiếng nói đến lý tưởng đạo đức, phẩm hạnh Không gian của tiểu thuyết rất rộng lớn Từ những phố lầu sang trọng đến những xóm nghèo với những căn nhà lá xiêu vẹo ở ngoại ô Từ khung cảnh Sài Gòn cho đến Pháp quốc Các thành phần nhân vật cũng đa dạng, có mối quan hệ rất mực phức tạp, rối rắm Lời văn nghệ thuật của tác phẩm trong sáng, giản dị gần với tầng lớp trí thức và bình dân đông đảo ở thành thị Nam Bộ lúc bấy giờ [19, tr.67-68] Đồng ý kiến với tác giả Nguyễn Kim Anh, hai tác giả này cho rằng:
Từ thành tựu bước đầu là Kim thời dị sử của Biến Ngũ Nhy cho đến những
sáng tác của Phú Đức giai đoạn sau, tiểu thuyết Nam Bộ đã tạo ra một dòng tiểu thuyết trinh thám võ hiệp đích thực cho văn học Việt Nam hiện đại Và chắc chắn, các cây bút miền Bắc sau này cũng đã thừa hưởng được nhiều kinh nghiệm qu ý báu của các cây bút Nam Bộ tiên phong [19, tr.68]
Nhìn chung, dù có nhiều công trình nghiên cứu về tiểu thuyết trinh thám ở Nam
Bộ nhưng mới chỉ lại ở cấp độ tác giả, tác phẩm rời rạc, hoặc những bài viết mang tính chất khái quát mà chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ nhất về vấn đề này
4 Phương pháp nghiên cứu
- Khi nghiên cứu vấn đề Tiểu thuyết trinh thám ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX,
chúng tôi đặt nó trong quá trình phát triển của thể loại tiểu thuyết ở Nam Bộ nói riêng và ở Việt Nam nói chung để xác định vị trí, vai trò của thể loại này trong dòng chảy tiểu thuyết hiện đại Việt Nam, từ đó thấy được tiểu thuyết trinh thám
ở Nam Bộ là một bộ phận không thể tách rời của văn xuôi Nam Bộ đầu thế kỷ
XX, có tác động khá tích cực trong việc hiện đại hóa văn học Nam Bộ cũng như
Trang 14văn học Việt Nam Cho nên chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử - xã hội và phương pháp hệ thống
- Trong quá trình tìm hiểu vấn đề này chúng tôi có những phân tích để thấy được tiểu thuyết trinh thám Nam Bộ có sự tiếp thu một cách phù hợp tiểu thuyết trinh thám của thế giới, đồng thời có sự đối chiếu với tiểu thuyết trinh thám đầu thế
kỷ XX của phía Bắc với hai tác gia tiêu biểu Thế Lữ và Phạm Cao Củng để thấy được vai trò tiên phong của tiểu thuyết trinh thám Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX trong sự hình thành của tiểu thuyết trinh thám ở Việt Nam Để làm rõ những
luận điểm này chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh - đối chiếu
- Luận văn của chúng tôi tập trung vào tìm hiểu những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của những tác phẩm tiểu thuyết trinh thám Nam Bộ nửa đầu thế kỷ
XX nhằm nêu lên những đóng góp của dòng văn học này trong quá trình hiện
đại hóa văn học dân tộc Vận dụng phương pháp phân tích - tổng hợp và lý thuyết thi pháp học sẽ làm rõ những vấn đề trên
- Thể loại tiểu thuyết trinh thám vốn học tập kỹ thuật viết của phương Tây thế nhưng trong cách viết của các nhà văn Nam Bộ dấu ấn của lối viết Trung Hoa vẫn còn đậm nét Chỉ có thể lý giải vấn đề này nếu chúng ta tiếp cận tiểu thuyết
trinh thám Nam Bộ đầu thế kỷ XX dưới góc nhìn Hậu thuộc địa
- Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các thao tác nghiên cứu như: sưu tầm, thống kê, phân loại nhằm làm rõ những luận điểm mà chúng tôi đưa ra
5 Đóng góp của luận văn
Với đề tài Tiểu thuyết trinh thám ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX, chúng tôi sẽ
nghiên cứu thể loại này một cách hệ thống và khoa học để thấy được quá trình hình thành, phát triển, những thành công và hạn chế về mặt nội dung và nghệ thuật của những tác phẩm thuộc thể loại này Từ đó góp thêm tư liệu trong việc nghiên cứu, tìm hiểu tiểu thuyết trinh thám ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX Cũng qua đề tài này, chúng tôi muốn làm rõ những nét riêng của tiểu thuyết trinh thám ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ
Trang 15XX trong sự tiếp thu những tinh hoa của văn học thế giới (tiểu thuyết trinh thám thế giới)
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Dẫn nhập, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục thì phần Nội
dung của luận văn gồm 4 chương:
Chương I: Tiểu thuyết trinh thám và quá trình phát triển trong bối cảnh văn hóa Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX (26 trang)
Chương này sẽ trình bày về khái niệm, đặc trưng của tiểu thuyết trinh thám, những tiền đề về văn hóa và văn học đưa đến sự hình thành, phát triển của tiểu thuyết trinh thám ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX, đồng thời khái quát về quá trình phát triển của tiểu thuyết trinh thám ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX
Chương II: Đặc điểm nội dung của tiểu thuyết trinh thám Nam Bộ nửa đầu thế kỉ
Chương IV: Tiếp nhận tiểu thuyết trinh thám Nam Bộ đầu thế kỉ XX (28 trang)
Chương này sẽ đặt ra vấn đề tiếp nhận tiểu thuyết trinh thám ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX qua ba giai đoạn: giai đoạn từ đầu thế kỷ XX – 1945, giai đoạn từ 1945 –
1975, giai đoạn từ 1975 đến nay
Trang 16CHƯƠNG I TIỂU THUYẾT TRINH THÁM VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN TRONG BỐI CẢNH VĂN HÓA NAM BỘ
NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
1.3 Khái niệm tiểu thuyết trinh thám
1.3.1 Quan niệm về tiểu thuyết trinh thám
Yếu tố trinh thám xuất hiện từ rất xưa trong vở bi kịch Hy Lạp Oedipe làm vua,
nhưng chỉ đến thế kỷ XIX tiểu thuyết trinh thám mới trở thành một thể loại văn học thực sự và có những thành tựu lớn trong văn học phương Tây Sự ra đời, phát triển của tiểu thuyết trinh thám có liên quan đến sự biến đổi của xã hội và kinh tế Theo Vũ Đức Phúc thì:
Mầm mống, yếu tố của truyện trinh thám xuất hiện trong sáng tác của nhiều nhà văn hiện thực vĩ đại ở Pháp, Mỹ, Anh, Nga, sau khi đế chế của Na-pô-lê-ông I bị sụp đổ, xã hội tư sản với những tệ nạn cố hữu và ngày càng trầm trọng của nó (trộm, cướp, mãi dâm, giai cấp tư sản dùng các thủ đoạn, nhiều khi là những tội ác, để tranh giành quyền lợi về kinh tế hay tranh giành địa
vị xã hội, địa vị chính trị, hoặc để nuốt lẫn nhau), bộ máy cảnh sát mật thám, tòa án, gián điệp của nó một phần để đối phó với bọn tội phạm, nhưng chủ yếu để bảo vệ chính quyền và quyền lợi tư sản chống lại giai cấp công nhân
và nhân dân lao động [74]
Tiền đề xã hội đã làm nảy nở một thể loại mới của văn học thế giới Truyện trinh thám xuất hiện gần như đồng thời ở Pháp, Anh, Mỹ trong nửa đầu thế kỷ XIX, gắn liền với tên tuổi của những nhà văn lớn thời đó như Honore De Balzac, Charles Dickens, Edgar Allan Poe
Trang 17Honore De Balzac (1799 – 1850) được coi là người cha khai sinh truyện trinh
thám ở Pháp Trong một số truyện của ông: Ông già Gô-ri-ô, Một vụ án mờ ám, Những vinh quang và những khổ nhục của các cô gái điếm, yếu tố trinh thám khá đậm nét
Trong truyện, Balzac đã mô tả khá kỹ lưỡng cuộc đấu trí giữa những tên mật thám, cảnh sát cùng bọn lưu manh với rất nhiều mưu mẹo thủ đoạn ở cả hai phía Tuy nhiên, Balzac quan tâm đến những vấn đề xã hội rộng lớn cho nên ngay cả khi viết về đề tài trinh thám ông cũng đặt ra các vấn đề chính trị, xã hội quan trọng của thời đại, mô tả các nhân vật với bút pháp hiện thực sâu sắc Vì vậy tác phẩm của Balzac chỉ dừng lại ở yếu tố trinh thám mà thôi
Sau thời Balzac, ở Mỹ nổi lên Edgar Allan Poe (1809 – 1849) – một nhà văn, nhà
thơ lớn, ông viết nhiều truyện ngắn đi sâu vào kỹ thuật trinh thám như: Hai vụ ám sát ở phố Mooc-gơ, Bí mật của Ma-ri Rô-giê, Con bọ cạp vàng… Ở những tác phẩm đó, ông
tập trung khắc họa sự phân tích sáng suốt của người điều tra để tìm ra sự thật trong các
vụ án “căn cứ vào những dấu vết còn lại và căn cứ cả vào sự phân tích tinh vi tâm lý con người, theo một lôgíc hết sức chặt chẽ” [74] Có thể nói với Edgar Allan Poe
“truyện trinh thám đã được định hình chứ không còn ở dạng yếu tố hoặc hòa tan trong truyện hiện thực lớn như trong sáng tác của Ban-dắc” [74]
Cùng thời điểm đó ở Anh thì Charles Dickens (1812 – 1870) đã đưa yếu tố trinh
thám vào những tác phẩm của mình như: Những hy vọng lớn lao, Ôlivơ Tuýt Mặc dù
ông đi sâu vào cuộc sống của bọn lưu manh, chú ý phân tích tâm lý của bọn lừa đảo, trộm cướp, song ông không quan tâm nhiều đến kỹ thuật trinh thám Ở tác phẩm của ông mới chỉ có yếu tố trinh thám
Trên đây là những nhà văn có công lớn trong việc định hình một thể loại văn học mới trên thế giới để sau đó những nhà văn khác kế thừa và phát triển đến đỉnh cao như Conan Doyle, Agatha Christie, George Simenon…
Thuật ngữ tiểu thuyết trinh thám được dịch từ chữ “roman policier”, nhưng cách hiểu về thuật ngữ này chưa đạt được sự đồng nhất từ phía các nhà nghiên cứu
Trang 18Thomas Narcejac cho rằng: “Tiểu thuyết trinh thám là một truyện kể trong đó sự suy luận tạo nên nỗi khủng khiếp mà nó phải làm cho nguôi dịu đi” [53, tr.363]
Các nhà biên soạn từ điển của H.Mitterand lại phản đối cách hiểu trên bởi nó quá đơn giản và sơ lược Họ tuy không đưa ra một định nghĩa chính xác nhưng đã chỉ ra những yếu tố để xác định tiểu thuyết trinh thám Theo họ tiểu thuyết trinh thám gồm ba thành phần cơ cấu:
Trước hết là xảy ra một vụ phạm pháp, thông thường có nạn nhân bị sát hại hoặc bị mưu sát, có khi chỉ là một vụ trộm cướp quan trọng, kèm theo hoặc không kèm theo bạo lực Thứ hai là có nhân vật làm công việc điều tra, thường là cảnh sát, thám tử nhà nghề, như Maigret; cũng có khi nhân vật điều tra không thuộc diện ấy, mà chỉ là một cá nhân tiến hành công việc một cách tự do, tài tử, như trường hợp Rouletabille Cuối cùng là quá trình tìm ra
và truy nã thủ phạm trên cơ sở lập luận theo các chứng cớ [53, tr.363] Cách hiểu này có vẻ đã bao quát hết đặc điểm của tiểu thuyết trinh thám, và các
tác giả trong công trình Từ điển thuật ngữ văn học cũng triển khai theo hướng này khi
giới thiệu khái niệm tiểu thuyết trinh thám
B.Vercier lại tỏ ra cực đoan khi cho rằng:
Mọi tiểu thuyết trinh thám đều được xây dựng trên hai vụ án mạng, mà vụ thứ nhất, do kẻ sát nhân gây ra, chỉ là cơ hội cho vụ thứ hai, trong vụ này hắn là nạn nhân của kẻ giết người trong trắng và không thể bị trừng trị, của thám tử bắt hắn chết, không phải bằng một trong những cách thức bỉ ổi mà hắn đã sử dụng, như thuốc độc, dao găm, súng giảm thanh hay chiếc tất lụa
để thắt cổ, mà bằng cách phơi bày sự thật (…) Thám tử là con của kẻ giết người, Oedipe, không những vì anh ta giải được một điều bí ẩn, mà còn vì anh ta giết kẻ nhờ có hắn anh ta mới có danh phận của mình, không có hắn thì anh ta không tồn tại như anh ta hiện nay [53, tr.364]…
Trang 19Có nhiều cách diễn giải khác nhau về tiểu thuyết trinh thám nhưng chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất là: “Tiểu thuyết trinh thám là một thể loại nghệ thuật xác định tội phạm chủ yếu dựa vào phương pháp suy luận – một trình độ động não ở cấp cao – trong quá trình nghiên cứu và phát hiện tội phạm Nó là một thể loại văn học duy
lý và kì ảo” [87]
Tiểu thuyết trinh thám thuộc văn học đại chúng, khi mới ra đời thể loại này chưa được nhìn nhận đúng với giá trị của nó, thậm chí còn xếp vào loại “cận văn học” (paraliterature), coi như “một thể loại cặn bã” [53, tr.380], “một thể loại lai tạp và hơi quái gở” [53, tr.381] Nguyên nhân của cách nhìn nhận đó là do người ta cho rằng tiểu thuyết trinh thám là loại sách dễ dãi, chủ yếu đáp ứng nhu cầu giải trí tầm thường Song sự tồn tại, phát triển của tiểu thuyết trinh thám, nhất là trong xã hội hiện đại với
số lượng độc giả lớn, đã chứng tỏ đó là một thể loại văn học với những giá trị nghệ thuật độc đáo, có những đóng góp cho sự phát triển của văn học thế giới
Nói đến tiểu thuyết trinh thám cũng cần có sự phân biệt với tiểu thuyết tình báo Hai loại tiểu thuyết này có những điểm gặp gỡ nhau ở chỗ: có hai phe đối đầu nhau, có quá trình khám phá, điều tra để tìm ra sự thật song về cơ bản vẫn có sự khác biệt lớn Ở tiểu thuyết trinh thám, các thám tử đối lập với kẻ phạm tội, không loại trừ trường hợp chính cảnh sát điều tra hay thám tử lại là thủ phạm Còn trong tiểu thuyết tình báo, tuỳ theo trận tuyến các điệp viên chính là kẻ phạm tội hoặc là nhân vật anh hùng thực hiện
sứ mệnh cao cả Một bên là loại tiểu thuyết liên quan đến tội phạm hình sự, còn bên kia
là loại tiểu thuyết liên quan đến chiến tranh Vì vậy việc đánh giá tiểu thuyết trinh thám
có sự đồng thuận cao từ phía người đọc, còn tiểu thuyết tình báo do liên quan đến những trận tuyến khác nhau, nên các nhân vật điệp viên cũng chịu sự phán xét trái ngược từ nhiều phía liên quan đến hành vi của họ
1.3.2 Đặc trưng của tiểu thuyết trinh thám
Qua việc tìm hiểu quan niệm của các nhà nghiên cứu về tiểu thuyết trinh thám ta
có thể rút ra một số đặc điểm sau:
Trang 20Thứ nhất, tiểu thuyết trinh thám là truyện viết về tội phạm, về vụ án Trước tiên phải có một vụ án xảy ra, có thể là nạn nhân bị sát hại, hoặc bị mưu sát, cũng có khi chỉ
là một vụ trộm cướp có hoặc không kèm theo bạo lực Nạn nhân chính là đầu mối quy
tụ mọi tình tiết lắt léo nhất, là mấu chốt vấn đề, từ đó truyện dần được triển khai, cuốn hút sự theo dõi của độc giả Nạn nhân hầu như thường xuất hiện trước một bước so với các nhân vật khác, họ có thể đã bị giết, mới được phát hiện chưa rõ tung tích, làm cho việc điều tra thêm khó khăn Trường hợp này, xác chết được nhà văn mô tả khá tỉ mỉ, khủng khiếp, gắn liền với quang cảnh rùng rợn, đáng sợ tạo ra hiện trường vụ án với biết bao nghi vấn, tác động mạnh đến thần kinh người đọc, khiến người đọc luôn trong trạng thái thấp phỏm, lo sợ nhưng vẫn hết sức tò mò Đây cũng là cơ sở dữ liệu ban đầu
để cảnh sát, thám tử điều tra Hoặc nạn nhân có thể là những người đang bị đe dọa tấn công lo sợ mất mạng lúc nào không biết hoặc lo mất tài sản quý phải nhờ đến sự can thiệp, bảo vệ của pháp luật Nạn nhân trong tác phẩm càng nhận được những thiện cảm, đồng cảm của người đọc thì càng khiến người đọc muốn hối thúc điều tra sớm tìm ra thủ phạm
Thứ hai, xây dựng cốt truyện trinh thám phải giữ đến cùng những bí mật của tội phạm, nhờ vào đó tiểu thuyết trinh thám mới tạo nên sức hấp dẫn, khiến người đọc luôn ở trạng thái căng thẳng, kích thích trí tò mò của họ Xây dựng cốt truyện như vậy không hề dễ dàng Trình Tiểu Thanh – tác gia tiểu thuyết trinh thám nổi tiếng của Trung Quốc nửa đầu thế kỷ XX, cho rằng:
Viết một vụ án phức tạp, cần bố trí bốn đường dây, trong đó chỉ có một đường có thể dẫn tới đích tìm ra chân tướng, còn ba đường kia đều là đường giả và như thế thì tiên sinh Bao Lãng mệt óc để mà suy nghĩ Nghệ thuật của tiểu thuyết trinh thám là về mặt kết cấu, chẳng khác gì bày một mê hồn trận Ngòi bút của tác giả phải có sức hấp dẫn, dẫn dắt độc giả vào tới hạt nhân của mê hồn trận, vòng vo loanh quanh một hồi không tìm được lối ra để đến
Trang 21kết thúc cuối cùng, đột nhiên mở cánh cửa bí mật của mê hồn trận ra, làm cho bạn đọc bừng tỉnh ngộ, như thế mới có thể gọi là thành công [5, tr.996] Bản thân Phạm Cao Củng – tác giả viết tiểu thuyết trinh thám ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, chia sẻ trong hồi kí của mình xây dựng cốt truyện tiểu thuyết trinh thám là không hề dễ dàng
Để giữ bí mật nhà văn chậm cho biết thậm chí chưa cho biết hung thủ gây ra tội nhằm lôi cuốn sự chú ý độc giả và gây cảm giác hồi hộp cho các nhân vật trong tác phẩm cũng như người theo dõi Chỉ đến khi gần kết thúc truyện mới công bố rõ thủ phạm là ai Vấn đề truy bắt thủ phạm, đưa ra xét xử chiếm những trang còn lại Thường thì khâu này gắn bó với nhau và dùng để kết thúc tác phẩm bởi lẽ đến lúc này mọi nút thắt đã được mở hết, trí tò mò của độc giả được thỏa mãn Tuy mô hình chung là vậy nhưng trong quá trình viết mỗi người lại có sự biến đổi một cách linh hoạt để đem lại những trải nghiệm mới mẻ cho độc giả
Thứ ba, truyện trinh thám luôn tồn tại trục ba nhân vật: nạn nhân, hung thủ và các cơ quan pháp luật có thể là cảnh sát hoặc thám tử điều tra Trong đó nhân vật thám
tử được chú trọng xây dựng bởi nhân vật này sẽ dẫn dắt độc giả đi đến cùng của sự thật Nhân vật này thường có óc suy luận khoa học hợp logic dựa trên tài năng đặc biệt sắc bén về mặt quan sát để khám phá bí mật còn nằm trong bóng tối Khi đọc tác phẩm chúng ta thường hay hòa mình vào với kiểu nhân vật này, hồi hộp theo dõi công việc của họ trên đường vén tấm màn bí ẩn Chúng ta không chỉ dõi theo bước chân của họ
mà còn tham gia cùng nhân vật đó, vận dụng các biện pháp nghiệp vụ, nhất là sự suy luận để tìm ra manh mối Độc giả hoàn toàn bị cuốn hút vào đó mà không hề hay biết Cũng có trường hợp tác giả để cho người đọc biết trước thủ phạm là ai, tình tiết vụ án
ra sao trong khi nhân vật thám tử không hề biết gì, để người đọc không bị cuốn vào tấn thảm kịch mà đứng ngoài sáng suốt theo dõi quá trình điều tra của nhân vật thám tử Với tiểu thuyết trinh thám, nhân vật thám tử có vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của cốt truyện, làm nên thương hiệu cho tác phẩm tiểu thuyết trinh thám
Trang 22Trên đây là ba đặc điểm cơ bản của tiểu thuyết trinh thám Trong quá trình làm luận văn, chúng tôi sẽ căn cứ vào những đặc điểm này, có sự vận dụng một cách linh hoạt, phù hợp vào bối cảnh văn học Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX ở nước ta để nhận diện tác phẩm thuộc thể loại này
1.3.3 Tiểu thuyết trinh thám ở Việt Nam
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX dưới ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, một số nhà văn Nam Bộ đã mô phỏng cốt truyện hình sự - điều tra trong truyện trinh thám nước ngoài, để từ đó manh nha một thể loại văn học mới: tiểu thuyết trinh thám Tác
phẩm đậm chất trinh thám đầu tiên phải kể đến là Kim thời dị sử - Ba Lâu ròng nghề đạo tặc của Biến Ngũ Nhy, được đánh giá là cuốn tiểu thuyết trinh thám đầu tiên của Việt Nam Sau Kim thời dị sử một loạt những tác phẩm mang màu sắc trinh thám ra đời
ở Nam Bộ như: Căn nhà bí mật, Châu về hiệp phố, Lửa lòng… của Phú Đức; Mảnh trăng thu, Cậu Tám Lọ của Bửu Đình; Khép cửa phòng thu, Giọt lệ má hồng… của
Nam Đình Nguyễn Thế Phương… Trong đó Phú Đức được đánh giá là nhà văn viết tiểu thuyết mang màu sắc trinh thám nhiều nhất ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX Song phải đến cuối thập niên 1930 đến trước 1945 khi miền Bắc xuất hiện những tên tuổi như Phạm Cao Củng, Thế Lữ, Bùi Huy Phồn… thì tiểu thuyết trinh thám Việt Nam mới thật sự đạt đến kỹ thuật viết tiểu thuyết trinh thám hiện đại Những năm gần đây nước ta cũng có một số tên tuổi khá thành công về mặt thể loại này nhưng nhìn chung tiểu thuyết trinh thám ở nước ta vẫn còn rất “nghèo nàn và đơn điệu” [97] Hi vọng trong tương lai không xa tiểu thuyết trinh thám Việt Nam sẽ có một tương lai sáng lạn hơn
Như vậy “tiểu thuyết trinh thám Việt Nam đã có một thời vàng son trước năm 1945” [96], nhưng dưới sự tác động của hoàn cảnh lịch sử nước nhà mà thể loại này không có được sự phát triển liền mạch Đến nay tiểu thuyết trinh thám Việt Nam tuy đã
có những bước phát triển nhất định song so với tiểu thuyết trinh thám thế giới vẫn còn
Trang 23một khoảng cách rất xa “Liệu có thể bắt đầu một thời kì khác cho văn học trinh thám Việt Nam?” [96] Câu hỏi này dành cho những nhà văn của tương lai của đất nước
1.4 Bối cảnh văn hóa Nam Bộ nửa đầu thế kỉ XX
1.2.1 Hoạt động báo chí quốc ngữ
Tại Nam Bộ đầu thế kỷ XX báo chí quốc ngữ phát triển mạnh, trở thành “bà đỡ mát tay cho văn học quốc ngữ và đã góp phần hình thành nên đời sống văn học hiện đại” [101] Khởi đi từ báo, tiểu thuyết quốc ngữ ngày càng phát triển hoàn thiện hơn, đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Vai trò của báo chí với văn học quốc ngữ nói chung và tiểu thuyết nói riêng thể hiện ở những điểm sau:
Báo chí là mảnh đất ươm mầm và nuôi dưỡng văn chương quốc ngữ Chính từ
báo chí người ta học được cách thức, phương pháp viết văn chữ quốc ngữ Vai trò này
thể hiện rõ nét ở tờ Gia Định báo (1865) thời Trương Vĩnh Ký làm chủ bút Công lao của Trương Vĩnh Ký và tờ báo Gia Định đối với văn chương quốc ngữ Nam Bộ đầu
thế kỷ XX có thể tóm lại trong lời nhận xét của Bùi Đức Tịnh: “Năm 1870 với Trương Vĩnh Ký làm chánh tổng tài, những bài trích tuyển nhằm mục tiêu trình bày tác dụng
của Gia Định báo trong giai đoạn chuyển tiếp từ văn chương cổ điển sang văn chương
hiện đại: cổ động cho việc sử dụng chữ quốc ngữ (thay cho chữ Hán, chữ Nôm), khuyến khích lớp trí thức buổi giao thời viết báo viết văn bằng chữ quốc ngữ” [50,
tr.48] Tiếp tục vai trò của Gia Định báo trong những năm Trương Vĩnh Ký làm chủ bút, Thông loại khoá trình (1888) cũng do ông làm chủ bút “đã làm được cái việc dạy
cho độc giả biết chữ nghĩa văn chương và tập viết văn chương” [3, tr.87] Cũng với
mong muốn xây dựng một nền tiểu thuyết hiện đại, báo Nông cổ mín đàm do Trần Chánh Chiếu làm chủ bút đã phát động cuộc thi sáng tác tiểu thuyết có tên Quốc âm thí cuộc trong số báo 262 ra ngày 23-10-1906 với những tiêu chí, quy định cụ thể về thể
loại, về bố cục bài viết, về ngôn ngữ, đặc biệt nhấn mạnh tính có thực của sự việc Và cũng chính từ cuộc thi này báo hiệu “báo chí chính là mảnh đất màu mỡ cho các thể
Trang 24loại văn chương ra đời, trong đó mạnh nhất có thể nói đến đoản thiên tiểu thuyết và tiểu thuyết” [3, tr.92]
Báo chí cũng là “bà đỡ” của những cuốn tiểu thuyết hiện đại ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX Nhờ những nỗ lực hết mình của Trương Vĩnh Ký và Trần Chánh Chiếu mà
những năm cuối thập niên đầu thế kỷ XX xuất hiện một số tác phẩm văn xuôi quốc ngữ
song chỉ đến năm 1912, Hà Hương phong nguyệt của Lê Hoằng Mưu xuất hiện trên Nông cổ mín đàm mới thật sự mang dáng dấp tiểu thuyết hiện đại Tác phẩm khi mới ra đời đã thu hút sự đón xem của độc giả, trở thành “một best seller đương thời”, đồng
thời cũng là tâm điểm của búa rìu dư luận vì nội dung bị xem là đồi trụy, cuối cùng bị
tịch thu và tiêu hủy Sau Hà Hương phong nguyệt, Nông cổ mín đàm tiếp tục cho đăng
nhiều tiểu thuyết khác trong đó có cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của Nguyễn Chánh Sắt là
Nghĩa hiệp kỳ duyên
Sau Nông cổ mín đàm, hai tờ báo Lục tỉnh tân văn và Công luận báo cũng có
những đóng góp nhất định cho sự hình thành của thể loại tiểu thuyết quốc ngữ ở Nam
Bộ Hai tờ bào này đã có nhiều hoạt động thúc đẩy sự phát triển của tiểu thuyết quốc ngữ như việc cho đăng rất nhiều tiểu thuyết của Lê Hoằng Mưu, Biến Ngũ Nhy, Hồ Biểu Chánh, Phú Đức, Nam Đình Nguyễn Thế Phương… Những tác phẩm của các tác giả này đều được công chúng yêu thích, đón nhận nồng nhiệt Thông qua việc đăng các tiểu thuyết quốc ngữ trên báo, báo chí đã hình thành lớp công chúng cho riêng mình,
đó cũng là bước chuẩn bị để hình thành lớp công chúng mới cho nền văn học hiện đại
Báo chí đem đến cho độc giả một nhu cầu mới bên cạnh nhu cầu thông tin: đọc văn chương Từ đó hình thành thói quen thưởng thức tác phẩm văn học trên báo trong quần chúng Vì lẽ đó mà Nguyễn Thị Thanh Xuân trong công trình Chữ quốc ngữ, báo chí, công chúng và văn học Nam Bộ đầu thế kỷ XX khẳng định: “Công chúng văn chương
bắt nguồn từ công chúng báo chí” [111]
Báo chí cũng là nơi nuôi dưỡng đội ngũ nhà báo – nhà văn cho nền văn chương quốc ngữ Từ sự khuyến khích động viên mọi người tham gia viết bài gửi báo
Trang 25của Trương Vĩnh Ký đến cuộc thi sáng tác tiểu thuyết trên báo Nông cổ mín đàm do
Gilbert Trần Chánh Chiếu tổ chức, đã có những tác động không nhỏ trong việc đào tạo một lớp trí thức hoạt động trong lĩnh vực báo chí, văn học Ba mươi năm sau lời kêu gọi của Trương Vĩnh Ký đã có một đội ngũ khá đông đảo cộng tác với các báo trong đó
có cả những cây bút nữ Ở đây báo chí chính là môi trường đào tạo và nuôi dưỡng tài năng văn chương của lớp trí thức trẻ bấy giờ
Báo chí có vai trò hết sức quan trọng trong sự hình thành và phát triển của nền văn học quốc ngữ ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Đó là nơi chuẩn bị những nhân tố cho nền văn học hiện đại, là “môi trường tốt nhất cho các nhà văn rèn luyện ngòi bút của mình, là nơi kích thích sự sáng tạo của họ, giúp họ nhanh nhạy nắm bắt thị hiếu của công chúng độc giả Báo chí cũng góp phần định hình quan niệm về thể loại,
đa dạng hoá các thể tài của tiểu thuyết đầu thế kỷ XX” [101] Không có báo chí thì chưa hẳn đã có nền văn học hiện đại Việt Nam ngày nay
1.2.2 Hoạt động in ấn và xuất bản
Trước khi là thuộc địa của Pháp, in ấn ở Nam Bộ rất lạc hậu, hoạt động thủ công nên hiệu quả không cao Sau khi thực dân Pháp đặt ách thống trị, để phổ biến các văn bản, chính sách của nhà nước thuộc địa đến nhân dân, họ đã chú trọng đến in ấn Từ đó nghề in phát triển mạnh với phương tiện, kỹ thuật hiện đại Vượt ra ngoài mục đích chính trị ban đầu, in ấn phát triển mạnh đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của nền văn học quốc ngữ ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX Đi liền với nghề in thì hoạt động xuất bản cũng diễn ra khá sôi nổi Ở Sài Gòn những năm 1918 đến 1932 xuất hiện nhiều nhà xuất bản tư nhân như Phát Toán, Nguyễn Văn Của, Tín Đức thư xã, Xưa Nay… Các nhà in và nhà xuất bản hoạt động bám sát theo thị hiếu của độc giả thông qua thị trường báo chí, nên sách họ xuất bản đều là những tác phẩm văn học đã từng đăng báo được công chúng ưa thích, do đó thu về lợi nhuận cao Đây cũng là động lực để thôi thúc nhà văn sáng tác
Trang 26Hoạt động in ấn và xuất bản phát triển mạnh ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX đã có tác động tích cực đến sự phát triển của nền văn học quốc ngữ lúc này Nhờ in ấn, xuất bản, các tiểu thuyết quốc ngữ được phát hành rộng rãi, mọi người đều dễ dàng tiếp cận được
Từ đó mối quan hệ giữa độc giả và nhà văn gần hơn, định hướng cách viết cho nhà văn
Có thể nói in ấn và xuất bản đã góp phần “tích cực vào quá trình vận động của thể loại tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt ở Nam Bộ, đưa tiểu thuyết tiến nhanh vào con đường hiện đại…” [10, tr.30]
1.2.3 Sự du nhập của văn hóa nước ngoài
Văn học Việt Nam nói chung và văn học Nam Bộ nói riêng giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một giai đoạn văn học mang tính chất giao thời, bắt đầu có sự tiếp cận với văn học phương Tây song vẫn còn chịu ảnh hưởng khá đậm nét của văn học Trung Hoa Nam Bộ sớm rơi vào tay thực dân Pháp, trở thành đất thuộc địa của chúng nên có sự tiếp nhận văn hoá phương Tây sớm hơn cả những vùng khác, bên cạnh đó văn học Trung Hoa ngự trị ở Việt Nam trong một thời gian dài đã để lại dấu ấn đậm nét trong văn học Nam Bộ Hai yếu tố đó kết hợp với nội lực của văn học dân tộc
là bước đệm thúc đẩy quá trình hiện đại hóa văn học Nam Bộ, trong đó có tiểu thuyết
Trần Thị Phương Phương trong công trình Người thất chí của Hồ Biểu Chánh – một hiện tượng phóng tác, nhìn từ quan điểm loại hình lịch sử đã nhấn mạnh:
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong điều kiện khắc nghiệt bi kịch của một dân tộc bị trở thành thuộc địa, Việt Nam bắt đầu cuộc giao lưu mạnh
mẽ với thế giới phương Tây Đó cũng là thời kỳ chuyển mình của văn học Việt Nam từ loại hình truyền thống, cổ điển sang loại hình cận đại Trong bước đầu cận đại hóa đó, vai trò của những tác động từ bên ngoài rất quan trọng đối với việc hình thành những cái mới, trong đó có thể loại tiểu thuyết văn xuôi [77]
Trang 27Chính “những ảnh hưởng từ bên ngoài, nhất là từ những nền văn học tiên tiến, đi trước trong quá trình cận đại hóa luôn là những kích thích tố rất cần thiết thúc đẩy những yếu tố dân tộc nội sinh” [77]
Nam Bộ đầu thế kỷ XX vừa có sự tiếp cận với văn hóa Trung Quốc vừa tiếp cận với văn hóa phương Tây, nhờ đó các nhà văn có điều kiện học tập kỹ thuật viết, mở rộng vùng đề tài văn học … Độc giả qua những tác phẩm văn học nước ngoài mà hình thành thói quen đọc tác phẩm văn học và làm quen dần với những đặc điểm của thể loại mới Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng lại khác nhau Nếu tiểu thuyết Trung Quốc ảnh hưởng đậm nét đến tiểu thuyết Nam Bộ, nhất là chặng đường đầu của quá trình hiện đại hóa văn học Nam Bộ thì tiểu thuyết phương Tây lại ảnh hưởng không mạnh bằng, song chính ảnh hưởng của nó là nhân tố quyết định đưa văn học Nam Bộ giai đoạn này thoát
ra khỏi thời kỳ văn học trung đại xích đến gần thời kỳ văn học hiện đại Như vậy bên cạnh văn học truyền thống thì văn học Trung Quốc và văn học phương Tây cũng có những tác động không nhỏ trong việc hình thành và phát triển của tiểu thuyết hiện đại
ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX Điều này làm nên nét riêng biệt, thú vị trong cách viết của các nhà văn Nam Bộ thời kỳ này: có sự giao thoa, đan xen giữa chất phương Đông và phương Tây, “kim cổ giao duyên”
Văn hóa nước ngoài du nhập vào Nam Bộ đầu thế kỷ XX chủ yếu qua con đường
truyền dẫn và chuyển hóa văn chương Đây là phương thức khá phổ biến cả phương
Đông lẫn phương Tây trong giai đoạn chuyển mình từ thời kì trung đại sang hiện đại Ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX phương thức truyền dẫn và chuyển hóa văn chương thể hiện qua hình thức dịch thuật, phóng tác văn chương hay sân khấu hóa tác phẩm văn học nước ngoài… nhờ đó mà Nam Bộ sớm có điều kiện tiếp xúc với nền văn hóa thế giới
để thực hiện cuộc cách tân văn học
Nam Bộ đầu thế kỷ XX – mảnh đất nở rộ phong trào dịch thuật truyện, tiểu thuyết Trung Quốc và phương Tây
Trang 28Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Nam Bộ phong trào dịch thuật truyện Trung Quốc phát triển khá mạnh một phần do có sự tác động của bàn tay thực dân với ý đồ phổ biến chữ quốc ngữ, phần khác do cơn khát tiểu thuyết của người Nam Bộ mà văn học trong nước chưa thể đáp ứng được Trương Vĩnh Ký là người có công đầu tiên trong việc dịch sách Nho học ra chữ quốc ngữ, song người dịch tác phẩm văn học
Trung Quốc ra chữ quốc ngữ phải nói đến Huỳnh Tịnh Của với Chuyện giải buồn (1885) bao gồm nhiều truyện dịch từ tác phẩm Trung Quốc như: Cao sĩ truyện, Trang
Tử, Chiến quốc sách, Liêu trai chí dị Đến năm 1901, trên báo Nông cổ mín đàm xuất hiện bản dịch hoàn chỉnh một tác phẩm cổ điển của Trung Quốc là Tam Quốc chí tục dịch (số 1 ra ngày 1-8-1901) dưới kí tên là Canavaggio Năm 1904 Huỳnh Tịnh Của dịch tiếp cuốn Tống Tử Vân, năm 1905 thì có bản dịch Truyện Nhạc Phi do Nguyễn
Chánh Sắt và Phụng Hoàng San dịch Kể từ đó về sau phong trào dịch thuật truyện Trung Quốc nở rộ với số lượng tác phẩm được dịch nhiều, số người tham gia dịch thuật đông đảo Trong số đó có những dịch giả nổi tiếng như Nguyễn An Khương, Nguyễn
Chánh Sắt, Trần Phong Sắc được mệnh danh “những tay dịch thuật trứ danh của Nam Kỳ”
Nếu việc dịch truyện và tiểu thuyết Trung Quốc ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX phát triển thành một phong trào rầm rộ thì việc dịch tiểu thuyết phương Tây (cụ thể là Pháp) diễn ra sớm hơn tuy có vẻ trầm lắng, song lại tạo được những chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống văn học Nam Bộ giai đoạn này Nhất là từ sau 1925 khi
mà ảnh hưởng truyện Trung Quốc phai nhạt dần thì tiểu thuyết phương Tây càng có điều kiện “bám rễ vào đời sống văn học Việt Nam” [10, tr.46] để từ đó “đâm chồi và phát triển” [10, tr.46] mạnh mẽ
Trương Minh Ký vào năm 1884 đã cho dịch và xuất bản cuốn Truyện Phan Sa diễn ra quốc ngữ, rồi năm 1885 khởi đăng Phú bần truyện diễn ca trên Gia Định báo (từ số 47 ngày 22-11-1884), đến 1887 Trương Minh Ký tiếp tục dịch cuốn Les aventures de Telemaque của Fénelon ra chữ quốc ngữ có nhan đề Chuyện Tê Lê Mặc
Trang 29gặp tình cờ dưới dạng văn vần, theo thể thơ lục bát Có thể nói Trương Minh Ký là
người đầu tiên dịch tác phẩm văn học Pháp sang chữ quốc ngữ nhiều ở Nam Bộ bấy
giờ Tiếp nối đà đó đến 1886 Truyện Robinson (tức Robinson Crusoe) được dịch và đăng trên Gia Định báo (số 6 ngày 24-4-1886) Ngoài ra còn có bản dịch Gia huấn của lão Vincent của Trần Nguyên Hanh dịch từ tác phẩm Les conseils du Père Vincent
Sang đầu thế kỷ XX việc dịch tiểu thuyết phương Tây ra chữ quốc ngữ có nhiều khởi
sắc hơn Nhiều tác phẩm nổi tiếng của phương Tây đã được dịch và xuất bản như: Le Comte de Monte Cristo của A.Dumas cha do Trần Chánh Chiếu dịch có tên Tiền căn hậu báo (1907), Les trois mousquetaires (Ba người ngự lâm pháo thủ) của Dumas cha
do Trần Chánh Chiếu dịch đăng trên Lục tỉnh tân văn năm 1914, Lê Hoằng Mưu dịch
cả truyện Mỹ, Nga qua bản dịch tiếng Pháp ra chữ quốc ngữ với tên Chồng bắt chạ vợ,
Lê Vi giết vợ đăng trên Nông cổ mín đàm…
Việc dịch và phổ biến tiểu thuyết phương Tây ra chữ quốc ngữ giúp người Nam
Bộ có điều kiện tiếp xúc với một thể loại tiểu thuyết mới với kỹ thuật viết văn hiện đại,
có ảnh hưởng lớn đến sự chuyển mình của văn học giai đoạn này
Phóng tác – hiện tượng tiêu biểu trong sáng tác của các nhà văn Nam Bộ đầu thế kỷ XX
Sau bước dịch thuật thì việc phóng tác các tác phẩm văn học nước ngoài của các nhà văn Nam Bộ cũng là bước đi quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa văn học quốc ngữ Nam Bộ Qua đó “…các nhà văn lãng mạn sơ kỳ của Việt Nam lấy mô hình của văn chương lãng mạn phương Tây làm mẫu (đồng thời lắp ghép với những mô hình cổ điển truyền thống)” [76]
Ở Nam Bộ thế kỷ XX nhà văn phóng tác nhiều nhất và thành công nhất phải nói đến Hồ Biểu Chánh Phóng tác của ông thành công đến mức độc giả đọc mà không hề
có cảm giác đó là một câu chuyện nước ngoài, trái lại thấy rất thuần túy Việt Nam từ con người, khung cảnh, tâm lý nhân vật, chỉ đến khi đọc tác phẩm nước ngoài mới biết
Hồ Biểu Chánh đã phóng tác.Theo chính Hồ Biểu Chánh thống kê thì trong số những
Trang 30tiểu thuyết mà ông viết có tới 12 tiểu thuyết được phóng từ tiểu thuyết châu Âu Ngoài
ra còn một số tác phẩm khác nữa như truyện thơ Vậy mới phải phóng tác theo vở kịch
Le Cid của Corneille, tiểu thuyết đầu tay Ai làm được cũng được cho là phóng tác từ André Cornelis của Paul Bourget Nhìn vào sự nghiệp văn chương của Hồ Biểu Chánh
ta nhận thấy phóng tác tập trung chủ yếu ở những năm 1910, 1920, 1930 nhưng số lượng giảm dần để đến năm 1940 và 1950, Hồ Biểu Chánh không còn phóng tác nữa Điều này phù hợp với quy luật giao lưu văn hóa trên tinh thần trở về với cội nguồn văn hóa dân tộc
Ngoài Hồ Biểu Chánh, còn một số nhà văn cũng phóng tác như trường hợp Lê
Hoằng Mưu phóng tác cuốn tiểu thuyết Pháp Le Comte de Monte Cristo của A.Dumas với nhan đề Tiền căn báo hậu (1920), hay dựa trên tiểu thuyết Hương Thái Căn cải trang gian dâm mệnh phụ (Tây Hồ Ngư Ẩn chủ nhân) để sáng tác tiểu thuyết Người bán ngọc (1925) Cuốn tiểu thuyết Người vợ hiền (1929) của Nguyễn Thời Xuyên được phóng tác từ cuốn Une honnête femme của Henry Bordeaux Những tiểu thuyết phiêu
lưu và trinh thám của Biến Ngũ Nhy, Nam Đình Nguyễn Thế Phương, Phú Đức… cũng có sự mô phỏng các tác phẩm của các nhà văn trinh thám nổi tiếng phương Tây như: Conan Doyle, Maurice Leblanc…
Phóng tác tác phẩm văn học nước ngoài, đặc biệt là tiểu thuyết phương Tây ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX đã giúp các nhà văn làm quen với thể loại mới, từ đó học tập
kỹ thuật viết hiện đại của phương Tây để đổi mới cách viết Về phía người đọc, việc tiếp cận với tiểu thuyết phóng tác giúp họ dần thích nghi với một thể loại còn rất mới
mẻ ở Việt Nam bấy giờ, đồng thời cũng hình thành những suy nghĩ mới trong cảm thụ văn chương
Phong trào dịch thuật và phóng tác tiểu thuyết nước ngoài đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hiện đại hóa văn học Nam Bộ, tạo ra những tiền đề thúc đẩy việc đổi mới văn chương nói chung và tiểu thuyết nói riêng Thông qua kinh nghiệm dịch thuật và phóng tác tiểu thuyết nước ngoài các nhà văn Nam Bộ đầu thế kỷ
Trang 31XX dần từ bỏ hình thức "diễn Nôm", cũng rời bỏ hình thức văn xuôi biền ngẫu chữ Hán để làm quen với thứ văn phong mới viết bằng chữ quốc ngữ, với lối viết, kỹ thuật viết văn hiện đại đậm dấu ấn phương Tây Phong trào đó cùng với báo chí đã góp phần hoàn thiện hơn chữ quốc ngữ, đem đến thứ ngôn ngữ văn học giản dị, gần gũi với cuộc sống hàng ngày
Có thể khẳng định, việc tiếp thu những ảnh hưởng của cả văn học Trung Quốc lẫn văn học phương Tây đem đến nét thú vị trong cách viết của các nhà văn thời kỳ này: sáng tác của họ mang dấu ấn phương Tây nhưng vẫn bàng bạc chất cổ điển phương Đông
1.5 Sự hình thành và phát triển của tiểu thuyết trinh thám ở Nam Bộ nửa đầu
Bộ là tiểu thuyết Kim thời dị sử - Ba Lâu ròng nghề đạo tặc của Biến Ngũ Nhy được đăng trên Công luận báo từ 1917 đến 1920 Với tác phẩm này tên tuổi ông đặc biệt
được chú ý, trở thành “một hiện tượng đặc biệt trong văn học hiện đại” [18, tr.159] Tác phẩm được viết theo thể loại tiểu thuyết trinh thám với những nút thắt, mở rất hợp
lý, bất ngờ và đầy kịch tính, kích thích trí tò mò, sự hồi hộp nơi độc giả Dấu ấn phương Tây rất rõ trong tác phẩm
Truyện được chia thành nhiều phần khác nhau, kể về thành tích ăn trộm của tên tướng cướp Trần Minh Lộng (biệt danh là Ba Lâu) Ba Lâu - tên cướp tài giỏi luôn khiến nhà chức trách phải đau đầu, chuyên đi cướp của nhà giàu bất chính để giúp người nghèo, người bất hạnh; luôn bênh vực những con người yếu thế và trừng trị những kẻ bất lương Hành động của Ba Lâu đầy tính nghĩa hiệp Tác phẩm cũng hé mở
Trang 32thực trạng xã hội đương thời: một xã hội với đầy rẫy tệ nạn, đạo đức con người dần bị tha hoá, luật pháp chỉ bảo vệ kẻ có tiền có quyền
Kim thời dị sử - Ba Lâu ròng nghề đạo tặc mang dáng dấp phương Tây Chất
phương Tây thể hiện ngay ở nhan đề tác phẩm Theo tìm hiểu của các tác giả trong
công trình Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX thì Kim thời dị sử chỉ
là cách định danh thể loại còn tên gọi thật sự của tác phẩm là Ba Lâu ròng nghề đạo tặc Nhan đề đem đến cho người đọc một cảm giác “lạ” “Lạ ở cái tên “dị sử” rất cổ
kính đi với hai chữ “kim thời” rất hiện đại” [3, tr.169-170], và “bằng cái tên ấy dường như tác giả muốn “trình chánh” (chữ dùng của Phan Khôi) cho người đọc một loại tiểu
thuyết mới” [3, tr.170] “Lạ” cũng vì tác phẩm viết ra không phải để thực hiện chức năng giáo dục mà để “giải trí, thoả mãn được trí tò mò, óc tưởng tượng” [3, tr.170] của
người đọc “Lạ” ở cốt truyện được xây dựng “với những tình tiết ly kỳ hấp dẫn, thắt
mở rất hợp lý, đầy kịch tính…” [3, tr.169] Tất cả những cái đó tạo thành “một luồng gió lạ” quét qua làng văn Nam Bộ đem đến những trải nghiệm mới mẻ cho độc giả và ngay lập tức “đã thu hút được đông đảo người đọc và tên tuổi của Biến Ngũ Nhy đã được làng văn Nam Bộ ghi nhận như một hiện tượng đặc biệt” [3, tr.170]
Kết cấu trinh thám của phương Tây được tác giả vận dụng khá thành công trong tác phẩm khi xây dựng một cốt truyện li kỳ, hấp dẫn với những cảnh ăn trộm đầy mạo hiểm, những chiêu thức cải trang cực kì tài tình để thoát khỏi sự truy đuổi của nhà chức trách… Cách xây dựng bố cục như vậy khiến người đọc luôn ở trạng thái hồi hộp, lo sợ
mà lại vô cùng thích thú
Nhân vật chính Ba Lâu chịu nhiều ảnh hưởng của nhân vật Arsène Lupin trong tiểu thuyết trinh thám của Maurice Leblanc (1864 – 1941) “Nhân vật này mang trong mình những phẩm chất “siêu phàm” của người thám tử trong xã hội phương Tây” [18,
tr.166]: hành tung bí ẩn, phong thái hào hoa, có nhiều tài lẻ,… Nếu chỉ dừng lại ở đó
thì Ba Lâu hẳn xa lạ với người Nam Bộ bấy giờ Ở nhân vật này, chất Nam Bộ thấm nhuần bởi nhân vật được xây dựng gắn với tiêu chí cụ thể về một người anh hùng xuất
Trang 33chúng, hành hiệp trượng nghĩa Những tiêu chí đó sau này trở thành khuôn mẫu để các tác giả thuộc dòng văn học trinh thám học tập từ đó xây dựng những mẫu hình nhân vật anh hùng cho sáng tác của mình
Văn phong trong tác phẩm khúc chiết, sáng rõ, lời văn giản dị, mộc mạc, đậm chất Nam Bộ rất gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của quần chúng Đối thoại cũng được tác giả sử dụng thành công trong việc bộc lộ tính cách nhân vật, làm cho câu chuyện thêm sinh động hơn
Tuy vẫn còn hạn chế nhất định về mặt thể loại song tác phẩm đã khơi nguồn mạch cho sự ra đời của một thể tài tiểu thuyết mới ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX để rồi sau
đó một loạt những tác phẩm thuộc thể loại này ra đời gắn với tên tuổi: Bửu Đình, Phú Đức, Nam Đình Nguyễn Thế Phương… trong đó Phú Đức được đánh giá là tác giả tiêu biểu nhất Sự góp mặt của ông trong quá trình phát triển văn học quốc ngữ Nam Bộ là một điều rất đáng ghi nhận Bằng tài năng, phong cách của mình Phú Đức đã tạo nên
“một kiểu nhà văn đô thị mang nhiều nét đặc trưng của nền văn học mới” [91]
Châu về hiệp phố là bộ tiểu thuyết trinh thám, võ hiệp, kì tình nổi tiếng nhất của
Phú Đức, được độc giả say mê nhất và có ảnh hưởng lớn đến phong trào cải lương ở
Nam Bộ lúc bấy giờ Tiểu thuyết được khởi đăng trên Trung lập báo năm 1926 nửa chừng được chuyển sang đăng trên Công luận báo từ số 371 (1926) với tên Hoàn Ngọc
Ẩn đến số 374 thì đổi thành Châu về hiệp phố Năm 1952 - 1953, tác phẩm được đăng lại trên tờ Thần chung, cuối thập niên 50 được đăng trên tờ tuần báo Bình dân Năm
1970, tác phẩm tái xuất hiện trên báo Đuốc nhà Nam và đến năm 1988 nhà xuất bản
Tiền Giang đã cho tái bản toàn tập gồm ba cuốn Tác phẩm được đăng đi đăng lại nhiều lần như vậy chứng tỏ nó có một sức sống mãnh liệt trong lòng độc giả Theo như
Nguyễn Văn Y thì “Châu về hiệp phố là bộ tiểu thuyết nổi tiếng nhứt của Phú Đức,
được in đi in lại nhiều lần, từng được người Việt ở miền Nam say mê tìm đọc, làm
vang danh tác giả một thời” [12, tr.6] Tác phẩm có độ dài khá lớn, số lượng nhân vật
nhiều, xây dựng không gian nghệ thuật rộng lớn bao gồm nhiều vùng đất khác nhau từ
Trang 34Nam Kỳ cho đến Ấn Độ, Hồng Kông Chuyện kể về mối tình thủy chung, thơ mộng của đôi trai tài gái sắc Hoàn Ngọc Ẩn và Lệ Thủy Sau bao nhiêu trắc trở, vào sinh ra
tử, Hoàn Ngọc Ẩn đã cưới được người con gái tuyệt sắc đồng thời giúp nàng có được gia tài lớn do cha nàng để lại Đan xen vào câu chuyện tình lãng mạn ấy là những mảnh đời, những số phận khác nhau, những cuộc điều tra phá án, những màn đấu trí, đấu súng, những pha hành động vô cùng mạo hiểm được tác giả dàn dựng đầy hấp dẫn, lôi cuốn đem đến cho độc giả những trải nghiệm căng thẳng, hồi hộp “Vô số những tình tiết ngổn ngang được chuyển tải trong tác phẩm với mục đích tô đậm yếu tố ly kì, phiêu lưu, mạo hiểm bất chấp yếu tố thực của đời sống” [3, tr.629]
Mặc dù còn những khiếm khuyết nhất định song đặt trong bối cảnh văn học nước
ta lúc bấy giờ, tác phẩm vẫn có những đóng góp cho việc khẳng định sức sống của một
dòng văn học rất mới ở Nam Bộ thời đó: tiểu thuyết trinh thám
Ngoài những tác phẩm mang màu sắc trinh thám của Biến Ngũ Nhy, Phú Đức có
thể kể đến những tác phẩm khác như: Anh hùng ba mặt (1927) của Dương Minh Đạt, Mảnh trăng thu (1930), Cậu Tám Lọ (1931) của Bửu Đình, Khép cửa phòng thu (1931), Giọt lệ má hồng (1932)… của Nam Đình Nguyễn Thế Phương, Lỗi về ai? (1932) của
Sơn Vương… Dòng văn học trinh thám ra đời góp phần điểm tô thêm sự phong phú cho "vườn hoa" văn học Nam Bộ lúc bấy giờ Nhìn vào các sáng tác trên, ta thấy được thời đại của tiểu thuyết trinh thám Nam Bộ kéo dài từ năm 1917 đến năm 1935, đạt đến đỉnh cao vào khoảng những năm 1925 đến 1931 Nhưng từ đó về sau số lượng sáng tác theo thể loại này ngày càng ít đi, đến năm 1935 không thấy có tác giả nào viết tiểu thuyết trinh thám ở Nam Bộ nữa Phải đến cuối thập niên 1930, tiểu thuyết trinh thám tái xuất hiện ở miền Bắc với những tên tuổi: Phạm Cao Củng, Thế Lữ, Bùi Huy Phồn, còn ở Nam Bộ cuối những năm 50, 60 của thế kỷ này có xuất hiện một vài truyện trinh thám đăng rải rác trên các báo song không tạo được sự chú ý Tại sao tiểu thuyết trinh thám Nam Bộ lại có sự phát triển đứt đoạn như vậy?
Trang 35Theo chúng tôi sự “trầm xuống” của tiểu thuyết trinh thám Nam Bộ từ năm 1935 trở về sau, là bởi những nguyên nhân sau:
Thời cuộc xã hội lúc bấy giờ ảnh hưởng quyết định đến sự “suy tàn” của tiểu thuyết trinh thám Nam Bộ Theo Ngọa Long – học trò của Phú Đức, thì những năm
1936 – 1940, Nam Bộ rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng về kinh tế Khủng hoảng khiến nhiều người mất việc trở thành thất nghiệp phải rời bỏ đô thị , khiến cho
“độc giả mệt mỏi mà thiên hạ không còn đọc và mê tiểu thuyết như trước nữa” [64] Khủng hoảng cũng làm cho báo chí điêu đứng Đó là thời kỳ “thê lương, điêu tàn của làng báo Sài Gòn” [64], độc giả gần như quay lưng lại với báo chí Những người viết báo thời này không khỏi xót xa Trong khi đó tiểu thuyết trinh thám hầu như “sống được” dựa vào báo chí, nên trong thời buổi này cũng không tránh khỏi sự lao đao, nguy khốn
Kinh tế khủng hoảng, chính trị cũng có những biến động lớn ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của văn học Nam Bộ bấy giờ, trong đó có tiểu thuyết trinh thám
Tư tưởng Mác xít được tuyên truyền rộng rãi ở Nam Bộ, phong trào đấu tranh cách mạng rầm rộ đã dấy lên trong quần chúng ý thức, trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc, đất nước Từ đó người dân quan tâm nhiều tới tình hình đất nước, đấu tranh để thoát ra khỏi gông cùm nô lệ Vì vậy những cái tên các nhà cách mạng, lãnh tụ lao động xuất hiện trên báo nhiều trở thành “cứu tinh của một thế hệ, của một xã hội đang oằn oại vì nạn kinh tế khủng hoảng ngày thêm trầm trọng và cũng là cứu tinh của một dân tộc vùng lên để thoát ra ngoài gông cùm nô lệ” [64] Người dân chú ý quan tâm đến những vấn đề liên quan tới đời sống thực tế nhiều hơn bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của họ, nên họ cũng dần bỏ thói quen đọc tiểu thuyết Ngọa Long rất có lý khi cho rằng: “tiểu thuyết chỉ “phồn thạnh” trong xã hội thanh bình, hay không thì cũng là có phần nào ổn định; chớ trong thời kỳ có nhiều xáo trộn mạnh về kinh tế chánh trị đó là
cả một thế giới bị lôi kéo vào chiến tranh thì dĩ nhiên là loại tiểu thuyết võ hiệp kỳ tình
Trang 36trừu tượng tự nó đã làm mất cái thực tế của nó rồi” [64] Tiểu thuyết trinh thám là một
bộ phận của tiểu thuyết nên cũng không tránh khỏi kết cục buồn
Điểm nữa khiến mọi người không còn hứng thú với tiểu thuyết trinh thám là do đời sống văn học lúc này ở Nam Bộ có sự chuyển biến mạnh mẽ dẫn đến xuất hiện nhu cầu đổi mới văn học, từ đó nhiều sự kiện văn học mới ra đời gây được hứng thú cho lớp công chúng có trình độ cao Trong khi đó tiểu thuyết trinh thám nặng về giải trí, lại thêm viết theo hình thức feuilleton nên các tác giả thường viết cẩu thả, không có sự trau chuốt về ngôn từ, không có những sáng tạo mới mẻ, gây sự nhàm chán nơi độc giả, nhất là độc giả có trình độ cao Từ đó người đọc xa dần thể loại này
Đây là những lý do cơ bản nhất dẫn đến sự giảm sút số lượng tiểu thuyết trinh thám ở Nam Bộ để từ đó trong những năm 1935 – 1947 không còn thấy ai viết tiểu thuyết trinh thám nữa Sự đứt quãng của tiểu thuyết trinh thám Nam Bộ là một điều đáng tiếc, bởi đây là cái nôi khởi nguồn cho thể loại này và trong thời gian tồn tại đã có được những thành công đáng ghi nhận, đóng góp cho quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết Nam Bộ nói riêng và tiểu thuyết Việt Nam nói chung
1.3.2 Vai trò của tiểu thuyết trinh thám ở Nam Bộ nửa đầu thế kỉ XX trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX văn học trên mảnh đất Nam Bộ đã nảy sinh hàng loạt cái mới, đó là những tiền đề cần thiết để ra đời nền văn học hiện đại, trong đó phải
kể đến sự xuất hiện đa dạng nhiều thể loại gắn với nền văn học hiện đại: tiểu thuyết, thơ, ký, nghiên cứu, phê bình,… Có thể nói trong quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc, Nam Bộ đã giữ vai trò tiên phong trong việc thử nghiệm những thể loại văn học mới Tiểu thuyết quốc ngữ ra đời với sự phong phú về mặt thể tài, có những thể tài chưa từng có trong văn học truyền thống: tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết tôn giáo, tiểu thuyết khoa học… đã đóng góp cho sự phát triển của văn học Nam Bộ bấy giờ Tiểu thuyết trinh thám là một bộ phận của tiểu thuyết cũng góp sức cho quá trình hiện đại hóa của tiểu thuyết
Trang 371.3.2.1 Thể loại mới - sự đa dạng về diện mạo của văn học Nam Bộ
Nam Bộ là nơi khởi đầu cho rất nhiều thể loại văn học mới sau đó được các nhà văn phía Bắc kế tục và phát triển Điều này đã được ghi nhận: “Công cuộc hiện đại hóa nền văn học dân tộc là cả một quá trình gồm nhiều chục năm, trong đó cần ghi nhận vai trò tiên phong mang ý nghĩa đột phá thuộc về các nhà văn Nam Bộ…” [81] Đầu tiên
phải kể đến là thể loại tiểu thuyết mới với cuốn Thầy Lazarô Phiền (1887) của Nguyễn
Trọng Quản – cuốn tiểu thuyết bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam, như “một hạt giống lạ về mặt cảm hứng nghệ thuật, giọng điệu nghệ thuật và kĩ thuật tiểu thuyết Bút pháp của Nguyễn Trọng Quản rất gần với tiểu thuyết của chúng ta hôm nay, trên việc xây dựng tâm lý nhân vật, trên kết cấu và ngôn ngữ văn học […] “một đột phá về
kỹ thuật” và có những đặc điểm cách tân hết sức rõ ràng” [90] Sau đó là thể loại kịch
nói ra đời với tác phẩm đầu tiên Tuồng Joseph (1887) của Trương Minh Ký Tiến trình
hiện đại hóa văn học Nam Bộ tiếp nối với sự xuất hiện của thơ Mới, của phê bình văn học… Sự xuất hiện gần như đồng loạt của những thể loại văn học mới chứng tỏ văn học Nam Bộ đang chuyển biến mạnh mẽ để bứt khỏi văn học trung đại tiến vào quỹ đạo văn học hiện đại Đúng như Nguyễn Thị Thanh Xuân nhận định: “Trong khoảng thời gian từ 1865 đến 1932 ở mảnh đất Sài Gòn Nam Bộ, trên địa hạt văn học đã ra đời hàng loạt cái mới cần và đủ cho một nền văn học Việt Nam hiện đại” [90]
Từ sau cuốn tiểu thuyết Thầy Lazarô Phiền, phải mất một thời gian khá dài đến
năm 1920, tiểu thuyết Nam Bộ bắt đầu có sự phát triển mạnh, ngày càng có nhiều tiểu thuyết mới ra đời Điều này thể hiện qua cách gọi tên hết sức đa dạng, phong phú của
các tác phẩm tiểu thuyết lúc bấy giờ: kim thời tiểu thuyết, ái tình tiểu thuyết, trinh thám tiểu thuyết, tâm lý tiểu thuyết trinh thám, kiếm hiệp tiểu thuyết, lịch sử tiểu thuyết, lý tưởng tiểu thuyết… Cách định danh tác phẩm tiểu thuyết đa dạng như vậy bên cạnh
việc phản ánh sự chưa ổn định về mặt thể loại, nó cũng thể hiện tính chất phong phú về mặt thể loại Mỗi thể tài tiểu thuyết đều đem đến cho người đọc những trải nghiệm mới
mẻ chưa từng có nên thu hút độc giả đón đọc Tiểu thuyết tâm lý lấy nguồn cảm hứng
Trang 38đời tư cá nhân, tập trung vào những vấn đề của cuộc sống hàng ngày của con người, trong đó đề cập cả đến tính dục, rất phù hợp tâm lý con người hiện đại Tiểu thuyết lịch
sử ra đời như một cách phản ứng của lòng tự trọng dân tộc trước sự xâm lăng của văn hoá nước ngoài, là tiếng lòng của cả một dân tộc đang đau đớn dưới gót giày xâm lược, lại được nhìn dưới góc độ đời tư nên có được sự đồng cảm lớn từ người đọc Tiểu thuyết võ hiệp vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc của tiểu thuyết võ hiệp Trung Hoa, nội dung
đề cập đến việc bênh vực những con người nhỏ bé, bất hạnh, lên án bất công, thể hiện khát vọng hạnh phúc, gắn với hình tượng người anh hùng hảo hớn hết lòng vì dân vì nước, tuy không có gì mới mẻ song lại rất phù hợp với tính cách con người Nam Bộ nên cũng chiếm vị trí quan trọng trong lòng độc giả… Bên cạnh những thể tài trên, tiểu thuyết trinh thám ra đời đem đến cảm xúc lạ cho người đọc Lạ ở đề tài rất mới mẻ: truyện trinh thám, xã hội đen Lạ ở cốt truyện ly kỳ, hấp dẫn với những tình tiết giật gân, với quá trình điều tra phá án đầy bí ẩn, với những số phận ẩn ngầm, những cuộc phiêu lưu rộng khắp vượt ra khỏi ranh giới quốc gia… Tất cả đưa người đọc vào một thế giới của phiêu lưu, mạo hiểm, của sự khám phá, giải mã những ẩn số trong trạng thái thần kinh luôn căng thẳng, hồi hộp, lo sợ bởi cạm bẫy phía trước Người đọc chưa bao giờ có được những cảm giác như vậy trong văn học trước kia, họ thấy vô cùng
thích thú Ngay từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên của thể loại này Kim thời dị sử - Ba Lâu ròng nghề đạo tặc, độc giả tỏ ra rất thích thú, họ đón chờ để đọc tác phẩm trong mỗi số
báo Điều này khích lệ những nhà văn sau đó tiếp tục thử sức với thể loại này và họ đã
có được danh tiếng, có được nguồn thu nhập cao từ viết tiểu thuyết trinh thám Trong
số đó, Phú Đức là người thành công nhất, ông không chỉ viết tiểu thuyết trinh thám với
số lượng lớn, mà dung lượng tác phẩm rất đồ sộ, và lượng “người hâm mộ” cũng rất lớn Tiểu thuyết trinh thám của ông hấp dẫn “không chỉ ở cốt truyện ly kỳ kết hợp giữa
võ hiệp và trinh thám, kỳ tình, phiêu lưu mạo hiểm […] mà còn bởi khả năng thể hiện tâm lý tinh tế sắc sảo, nghệ thuật xây dựng nhân vật với những mẫu hình lý tưởng trở
Trang 39thành khát vọng của bao nhiêu người, không gian nghệ thuật rộng lớn vượt biên giới quốc gia, thoả mãn trí tò mò và sức tưởng tượng của người đọc…” [93]
Có cách viết gần giống Phú Đức là Nam Đình Nguyễn Thế Phương Tiểu thuyết của ông thường đề cập đến những vụ án bí ẩn, những vụ giết người rùng rợn, những nhân vật anh hùng tài giỏi hành hiệp trượng nghĩa… Không gian hoạt động của nhân vật rộng mở từ Sài Gòn, Nam Kỳ lục tỉnh sang cả xứ Cao Miên, Ai Lao, thậm chí sang
1.3.2.2 Thể loại mới - sự khởi đầu cho thể loại tiểu thuyết trinh thám Việt Nam
Tiểu thuyết trinh thám khai sinh ở Nam Bộ gắn với tên tuổi của Biến Ngũ Nhy, Bửu Đình, Phú Đức, Nam Đình Nguyễn Thế Phương… Tác phẩm của họ mới chỉ dừng lại ở màu sắc trinh thám, chưa thể xây dựng được nhân vật thám tử lừng danh như các bậc thầy trinh thám trên thế giới hay những cây bút trinh thám phía Bắc sau này; mà chỉ là những anh hùng thời đại cứu khốn phò nguy, có chí khí, kỳ tài võ nghệ, học vấn thông tuệ vì một lý do nào đó mà trở thành kẻ cướp hoặc thám tử Nhưng chính nhờ những nỗ lực bước đầu đó đã “hà hơi tiếp sức cho tiểu thuyết trinh thám ở Hà Nội như Thế Lữ, Phạm Cao Củng…sau đó” [28, tr.287] Và hẳn “các cây bút miền Bắc sau này cũng đã thừa hưởng được nhiều kinh nghiệm quý báu của các cây bút Nam Bộ tiên phong” [63, tr.68]
Trang 40Tiếp nối dòng mạch tiểu thuyết trinh thám ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX, các nhà văn phía Bắc đã có những cách tân đưa tiểu thuyết trinh thám Việt Nam phát triển lên một nấc cao hơn, rút ngắn khoảng cách với văn học trinh thám thế giới Phạm Cao Củng, Thế Lữ, Bùi Huy Phồn, là những nhà văn có đóng góp quan trọng cho tiểu thuyết trinh thám Việt Nam
Bùi Huy Phồn (1911 – 1990) được biết đến với những tác phẩm: Lá huyết thư (1931), Gan dạ đàn bà (1942), Mối thù truyền kiếp (1942), Tờ di chúc (1945) Tác
phẩm của ông chủ yếu thuộc loại dã sử và vụ án nên tính chất trinh thám vẫn còn mờ
nhạt Người được chú ý hơn là Thế Lữ với series truyện về thám tử Lê Phong: Lê Phong phóng viên (1937), Mai Hương và Lê Phong (1937), Gói thuốc lá (1940)… đã
dựng nên hình ảnh chàng phóng viên trinh thám tài ba không thua kém gì những nhà trinh thám đại tài của Âu Mỹ Bằng sự quan sát tỉ mỉ, óc phán đoán khoa học, kết hợp phương pháp suy luận, Lê Phong đã khám phá rất nhiều vụ án phức tạp mà đến cả Sở liêm phóng, thanh tra mật thám cũng phải bó tay, trở thành thần tượng của nhiều bạn trẻ đương thời Nhưng nhà văn trinh thám thành công nhất lại là Phạm Cao Củng với
series truyện về Kỳ Phát: Vết tay trên trần (1936), Chiếc tất nhuộm bùn (1938), Kỳ Phát giết người (1941), Đôi hoa tai của bà chúa (1942),… và series truyện về Tám Huỳnh Kỳ: Máu đỏ lòng son, Chiếc gối đẫm máu (1951), Bàn tay sáu ngón… Vũ
Ngọc Phan đánh giá cao sáng tác trinh thám của ông: “Trong các tiểu thuyết trinh thám như của Thế Lữ, Bùi Huy Phồn (thường ký là B.H.P) và Phạm Cao Củng chỉ có tiểu thuyết của Phạm Cao Củng là có phần đặc sắc hơn” [5] Nếu series truyện Kỳ Phát hấp dẫn người đọc ở khung cảnh bí hiểm, gắn với những câu chuyện lắt léo, rùng rợn, với những nhân vật liên quan đến các băng đảng trong truyện kiếm hiệp, những nhân vật thám tử tài hoa nghĩa hiệp, những số phận bí ẩn sẽ được soi sáng dưới óc điều tra sáng suốt của nhân vật chính… thì series truyện Tám Huỳnh Kỳ lại mở ra không gian nhuốm màu rùng rợn, mạo hiểm với những băng nhóm trộm cướp táo tợn, liều lĩnh chuyên thực hiện những vụ cướp giật, thanh toán lẫn nhau Nổi lên là nhân vật Tám