1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong cách ngôn ngữ của ma văn kháng (trên cứ liệu tiểu thuyết và truyện)

177 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phong cách nghệ thuật, đó là một phạm trù thẩm mỹ, chỉ sự thống nhất, tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THỊ HỒNG LIÊN

PHONG CÁCH NGÔN NGỮ CỦA MA VĂN KHÁNG

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi chân thành cám ơn sâu sắc đối với TS Đỗ Thị Bích Lài cùng với Quý Thầy, Cô Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc Gia TP.HCM trong những năm qua đã tận tình giảng dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức sâu sắc; đã chỉ dẫn, giúp đỡ cho tôi có được nền tảng kiến thức và nguồn tư liệu cần thiết trong quá trình học tập cũng như quá trình thực hiện luận văn này

Ngoài ra, tôi cũng xin được gửi lời cám ơn đến các bạn đồng nghiệp, các bạn Nghiên cứu sinh, các bạn học lớp Cao học đã chân tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học

Xin chân thành cảm ơn phòng tư liệu Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Thư viện Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Dù đã cố gắng trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu một cách nghiêm túc, tuy nhiên trong quá trình phân tích và khảo sát có thể trong nội dung của luận văn sẽ còn nhiều vấn đề chưa được chúng tôi đưa vào hoặc chúng tôi trình bày chưa

rõ, hi vọng những góp ý, hướng dẫn của Quý Thầy, Cô sẽ là cơ sở khoa học để giúp chúng tôi hoàn thiện kiến thức của mình hơn cũng như việc phát triển đề tài về sau

TP Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 10 năm 2013

Người viết

Lê Thị Hồng Liên

Trang 3

MỤC LỤC

DẪN LUẬN 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

4 Lịch sử nghiên cứu đề tài 3

5 Phương pháp nghiên cứu và phạm vi ngữ liệu 7

6 Kết cấu của luận văn 9

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ L THUYẾT CƠ SỞ 10

1.1 Khái niệm phong cách ngôn ngữ và phong cách nhà văn 10

1.1.1 Phong cách ngôn ngữ 10

1.1.2 Phong cách nhà văn 18

1.2 Khái lược về phương tiện từ vựng – ngữ pháp 20

1.2.1 Các lớp từ ngữ giàu màu sắc phong cách 20

1.2.1.1 Từ địa phương 20

1.2.1.2 Từ Hán – Việt 21

1.2.1.3 Từ láy 22

1.2.1.4 Thành ngữ 24

1.2.2 Các phương thức tu từ từ vựng – ngữ nghĩa 24

1.2.2.1 Ẩn dụ 24

1.2.2.2 Hoán dụ 26

1.2.2.3 So sánh tu từ 27

1.2.3 Câu và các thành phần câu 30

1.2.4 Các biện pháp tu từ cú pháp 36

1.2.4.1 Phép đảo ngữ 36

1.2.4.2 Phép điệp 37

1.3 Ma Văn Kháng: nhà văn và phong cách 38

1.4 Tiểu kết 40

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG TIỆN TỪ VỰNG TRONG TÁC PHẨM MA VĂN KHÁNG 41

2.1 Các lớp từ ngữ 41

2.1.1 Từ ngữ địa phương 41

Trang 4

2.1.2 Từ ngữ vay mượn 52

2.1.3 Từ ngữ thi ca 61

2.1.3.1 Từ láy 62

2.1.3.2 Thành ngữ và tục ngữ 73

2.1.3.3 Điển cố 81

2.1.3.4 Thơ ca 84

2.1.4 Từ ngữ hội thoại 85

2.1.4.1 Từ biểu thị mức độ tối đa 87

2.1.4.2 Các kết hợp mang dấu ấn riêng 93

2.2 Các phương thức tu từ từ vựng – ngữ nghĩa tiêu biểu 95

2.2.1 Ẩn dụ tu từ 95

2.2.1.1 Ẩn dụ hình tượng: 95

2.2.1.2 Ẩn dụ bổ sung 98

2.2.1.3 Ẩn dụ tượng trưng 98

2.2.1.4 Ẩn dụ biến thể 99

2.2.2 Hoán dụ tu từ 101

2.2.3 So sánh tu từ 105

2.2.4 Biện pháp triển khai từ ngữ 112

2.3 Sáng tạo nghĩa mới cho từ và tạo từ mới 116

2.3.1 Hiện tượng chuyển loại 116

2.3.2 Kết hợp từ ngữ sáng tạo 121

2.4 Tiểu kết 124

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG TIỆN NGỮ PHÁP TRONG TÁC PHẨM MA VĂN KHÁNG 126

3.1 Kết cấu câu văn và trật tự các thành tố trong câu 126

3.1.1 Kết cấu câu văn 126

3.1.2 Trật tự các thành tố trong câu 132

3.2 Các phương thức tu từ cú pháp tiêu biểu 134

3.2.1 Các kiểu câu giàu màu sắc tu từ 134

3.2.1.1 Kiểu câu chuyển đổi tình thái 134

3.2.1.2 Kiểu câu tách 140

Trang 5

3.2.1.3 Kiểu câu tỉnh lược thành phần 143

3.2.1.4 Kiểu câu đặc biệt 146

3.2.2 Các biện pháp tu từ 153

3.2.2.1 Đảo trật tự thành phần câu 153

3.2.2.2 Câu trùng điệp 156

3.3 Tiểu kết 164

KẾT LUẬN 165

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 169

PHỤ LỤC (đính kèm)

Trang 6

DẪN LUẬN

1 Lí do chọn đề tài

Gamzatốp từng ví văn học với cây đàn panđur, còn các nhà văn như những

sợi dây căng trên cây đàn, “từng dây một có cung bậc riêng, âm điệu riêng, nhưng

tiếng muốn nói đến ở đây là phong cách - chính sự góp mặt của nhiều phong cách

đã làm nên tính đa dạng và tầm vóc riêng của nền văn học Phong cách nghệ thuật,

đó là một phạm trù thẩm mỹ, chỉ sự thống nhất, tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc Nói cách khác, phong cách là quy luật thống nhất các yếu tố của chỉnh thể nghệ thuật, là nét riêng độc đáo lặp đi lặp lại trong nhiều tác phẩm của nhà văn, đem lại sự khác biệt giữa chúng với tác phẩm của các nhà văn khác Trong nghĩa rộng, phong cách là nguyên tắc xuyên suốt, nhất quán trong quá trình xây dựng hình thức nghệ thuật, đem lại cho tác phẩm một tính chỉnh thể, một giọng điệu và sắc thái thống nhất

Trong nền văn học đương đại, Ma Văn Kháng là nhà văn có phong cách rõ nét, ổn định, không lẫn lộn với mọi cây bút khác Ma Văn Kháng là một trong những nhà văn có công đầu tiên mở đường cho sự nghiệp đổi mới văn học Vào những năm đầu 80 của thế kỷ XX, nhiều sáng tác của Ma Văn Kháng đã nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, từ đó tạo nên những cuộc tranh luận sôi nổi trên các diễn đàn văn học Ông cũng là một trong số các nhà văn Việt Nam hiện đại sáng tác thành công ở cả hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết Qua từng tiểu thuyết, truyện ngắn, Ma Văn Kháng không ngừng tìm kiếm những cách thể hiện mới Thời gian và kinh nghiệm nghệ thuật đã tôi luyện ngòi bút Ma Văn Kháng khiến ông luôn gặt hái được những thành tựu đáng kể

Toàn bộ tiểu thuyết của Ma Văn Kháng nhìn chung được sáng tác theo hai mảng đề tài lớn với hai cảm hứng chủ đạo: đề tài về dân tộc miền núi với cảm hứng

sử thi và đề tài về thành thị với cảm hứng thế sự đời tư Trong đó có những tác phẩm được giải thưởng trong nước, quốc tế và được dịch ra tiếng nước ngoài như:

truyện ngắn Xa phủ đoạt giải nhì (không có giải nhất) trong cuộc thi truyện ngắn

Trang 7

của Tuần báo Văn nghệ 1967 - 1968, tập truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1995, giải cây bút vàng cho truyện San Cha Chải trong

cuộc thi truyện ngắn và ký 1996 - 1998 do Bộ Công an và Hội Nhà văn Việt Nam tổ

chức Ngoài Mùa lá rụng trong vườn được giải thưởng Hội Nhà văn năm 1984, Ma

Văn Kháng còn vinh dự nhận được giải thưởng văn học Đông Nam Á (1998) và giải

thưởng Nhà Nước về văn học nghệ thuật (2001) Tiểu thuyết Một mình một ngựa được giải thưởng Hội Nhà văn năm 2009 Gần đây, tiểu thuyết Mùa lá rụng trong

phẩm tiêu biểu cho thể loại tiểu thuyết Việt Nam đương đại Với những thành tựu

kể trên, Ma Văn Kháng đã tự khẳng định vị thế của mình trong nền văn học Việt Nam hiện đại

Ma Văn Kháng là một trong số những tác giả có tác phẩm dịch và in ở nước

ngoài nhiều nhất Các tác phẩm: Mưa mùa hạ, Người đánh trống trường, Mùa lá

ở Pháp Truyện ngắn Hoa gạo đỏ được dịch và in ở Hàn Quốc Truyện ngắn Ngẩu

sự được dịch và in ở Thụy Điển và tiểu thuyết Ngược dòng nước lũ được dịch in ở

Mỹ

Nhiều tác phẩm của Ma Văn Kháng đã được chuyển thành phim như Ngõ hẻm, Côi cút giữa cảnh đời, Anh thợ khóa, Người giúp việc, Cỏ dại, San Cha Chải Gần đây, bộ phim truyền hình nhiều tập Mùa lá rụng được chuyển thể từ hai tiểu thuyết của Ma Văn Kháng: Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá

Trong văn học Việt Nam hiện đại, Ma Văn Kháng là nhà văn giàu nội lực sáng tạo Ông viết văn như một sự thôi thúc nội tâm, từ một trái tim dạt dào xúc cảm Ông là tác giả của nhiều cuốn tiểu thuyết mà cuốn nào cũng gây ấn tượng và tạo được hứng thú tranh luận xoay quanh nó Các tác phẩm đạt đến trình độ điêu luyện trong ngôn ngữ kể và tả, đối thoại và độc thoại Để khắc họa tạo hình nhân vật và chiều sâu trong tư duy, tình cảm và thái độ, thế giới nội tâm và đời sống tâm linh của nhân vật, ông đã huy động sự hiểu biết sâu sắc về lời ăn tiếng nói của các hạng người, cá tính hóa họ trong ngôn ngữ giao tiếp, dòng ý thức

Trang 8

Như vậy, Ma Văn Kháng là một phong cách lớn trong văn xuôi hiện đại Việc đào sâu, tìm hiểu, nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ trong tác phẩm của ông là một điều rất thú vị và cũng rất cần thiết đối với việc giảng dạy và giới thiệu các tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu về đặc điểm phong cách ngôn ngữ của nhà văn Ma Văn Kháng thông qua các tiểu thuyết của ông, mục đích của chúng tôi là khảo sát, thống kê, phân tích, nhận định về các phương tiện ngôn ngữ mà nhà văn đã sử dụng, từ đó có

cơ sở đánh giá toàn diện về phong cách ngôn ngữ của nhà văn Chúng tôi muốn tìm hiểu cụ thể đặc điểm ngôn ngữ trong các tác phẩm của nhà văn ở các cấp độ và phương diện khác nhau, từ cấp độ từ ngữ đến câu và các biện pháp tu từ

3 ngh ho học và thực ti n c đề tài

Các kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị khoa học, góp phần làm sáng rõ phong cách nhà văn Ma Văn Kháng, giúp ích cho việc nghiên cứu về đặc điểm ngôn

từ trong các sáng tác của các nhà văn đương đại cùng thời

Kết quả nghiên cứu của đề tài tạo đà cho việc vận dụng ngôn ngữ tinh tế vào sinh hoạt hàng ngày cũng như trên các phương tiện truyền thông đại chúng

Kết quả nghiên cứu của đề tài còn góp tiếng nói vào trong công cuộc bảo vệ

và gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt

Kết quả nghiên cứu còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc giảng dạy và học tập môn Ngữ văn

4 L ch ử nghiên cứu đề tài

Đầu thế kỉ thứ 20, khoa học ngôn ngữ trên thế giới bước vào một thời kì phát triển mới, mở đầu bằng hệ thống luận điểm trong các bài giảng của giáo sư ngôn ngữ học Thụy Sĩ Ferdinand De Saussure Năm 1908, Albert Sechéhaye, một học trò của De Saussure cho xuất bản ở Paris cuốn “La stylistique théorique” (Phong cách học lí thuyết) Một năm sau, một học trò khác của F De Saussure là Charles Bally (1865 – 1947, cho in cuốn sách Traité de stylistique francaise (Khảo luận về phong cách học tiếng Pháp) Với cuốn sách này, Charles Bally là được xem là một trong

Trang 9

những người đã đề xướng và khai sinh cho ngành phong cách học của nước Pháp và thế giới

Trong cuốn “Khảo luận về phong cách học tiếng Pháp”, Charles Baly quan niệm “Phong cách học nghiên cứu các sự kiện biểu đạt của ngôn ngữ trên quan điểm nội dung biểu cảm của chúng, nghĩa là sự biểu đạt của các sự kiện tình cảm bằng ngôn ngữ và tác động của ngôn ngữ đến tình cảm” Theo tác giả, phong cách

học có nhiệm vụ miêu tả cấu trúc và chức năng của các sự kiện ngôn ngữ trong sự biểu đạt tư tưởng và tình cảm, được gọi là phong cách miêu tả hay phong cách biểu đạt Như vậy, tác giả quan tâm là tính biểu cảm của ngôn ngữ Cùng với quan niệm này, có các tác giả như H.Casares, M.D Kuznetx, O.X.Akhmanov

Ở Việt Nam, phong cách nghệ thuật nói chung, phong cách ngôn ngữ tác giả nói riêng là lĩnh vực mới mẻ nhưng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm

Năm 1964, Đinh Trọng Lạc cho ra đời cuốn “Giáo trình Việt ngữ - tập III –

cách tiếng Việt Đây là công trình đánh dấu sự ra dời của bộ môn khoa học mới – phong cách học

Năm 1974, tập thể các tác giả Cù Đình Tú, Lê Hiển, Nguyễn Nguyên Trứ

cho in cuốn “Tu từ học tiếng Việt - Sơ thảo” thể hiện những tìm tòi về mặt lí thuyết

cũng như ứng dụng phong cách học Công trình nghiên cứu này tương đối đầy đủ và

có tính hệ thống cao

Năm 1983, Cù Đình Tú viết “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt”

phản ánh khá toàn diện về hệ thống lí thuyết và luận điểm về phong cách học tiếng Việt Đây là công trình đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng hệ thống lí thuyết phong cách học, được biên soạn công phu, tập hợp tương đối đầy đủ các tài liệu và dẫn chứng minh họa Trong giáo trình, tác giả nêu bật sự khác biệt giữa các phong cách

Tác phẩm “Dẫn luận phong cách” của Nguyễn Thái Hòa được xuất bản năm

1999 là một công trình tương đối hoàn chỉnh về sự phát triển của ngành phong cách học Trong tác phẩm, tác giả trình bày tóm lược sự ra đời và phát triển của của trường phái phong cách học châu Âu một cách đầy đủ đồng thời khái lược về lí luận

và phát triển phong cách học ở nước ta trong nửa thế kỉ qua

Trang 10

Một trong những công trình nghiên cứu có giá trị về mặt phong cách học là

tác phẩm “Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật” của Đào Thản Trong tác

phẩm này, tác giả cho rằng phong cách ngôn ngữ nghệ thuật nghiên cứu các phương tiện ngôn ngữ được nhà văn, nhà thơ sử dụng để xây dựng nên văn bản nghệ thuật

Vì vậy, việc xác định đặc trưng của phong cách ngôn ngữ rõ ràng là một giá trị lí luận và một ý nghĩa hết sức quan trọng

Ngoài ra, có rất nhiều thành tựu nổi bật trong lĩnh vực phong cách ngôn ngữ

tác giả, chẳng hạn Tìm hiểu phong cách của Nguyễn Du trong truyện Kiều của tác giả Phan Ngọc, Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Phan Cảnh và Phong cách học văn bản

của Đinh Trọng Lạc

Mới nhất là cuốn Phong cách học của hai tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn

Thái Hòa đã đánh dấu sự phát triển của lĩnh vực phong cách học Đây là công trình

có tính chất khái quát rộng rãi và hệ thống các lý thuyết về phong cách học ở Việt Nam

Ngoài ra, hiện tại có khá nhiều các luận văn, khóa luận nghiên cứu về đề tài phong cách ngôn ngữ của các tác giả, tiêu biểu là luận văn thạc sĩ của tác giả

Nguyễn Thị Phương Thảo với đề tài “Tìm hiểu phong cách ngôn ngữ Sơn Nam” do

PGS TS Trần Thị Ngọc Lang hướng dẫn, khóa luận của sinh viên Lê Thị Hồng

Thơm về đề tài “Đặc điểm phong cách ngôn ngữ của một số nhà thơ nữ Việt Nam

4.2 Tình hình nghiên cứu tác phẩm c M Văn Kháng

Nhà văn Ma Văn Kháng là người có riêng một vùng đất thật đặc sắc, một giọng văn độc đáo và một tư duy tiểu thuyết bền chắc theo kiểu truyền thống Ông

được mệnh danh là “nhà văn của núi rừng” Ông lao động văn chương như một

người Hmông trồng bắp trên núi, lặng lẽ, cần cù, kiên nghị Không ồn ào to tiếng với ai Nét mặt ông cũng có cái vẻ chất phác núi rừng, ít nói, ít tranh luận, nghe ai nói nhiều chỉ gật đầu, hơi như ngơ ngác nữa

Ma Văn Kháng là nhà văn hiện đại nổi tiếng nên văn chương của ông đã trở thành đối tượng nghiên cứu của rất nhiều nhà nghiên cứu và phê bình văn học

Về văn phong của Ma Văn Kháng, GS Phong Lê có bài “Trữ lượng Ma Văn

Trang 11

từ “Mưa mùa hạ” trở về sau, làm nên một dấu ấn riêng, khu biệt với nhiều người Một chất liệu hiện thực kiểu Ma Văn Kháng Một cách khai thác kiểu Ma Văn Kháng Một giọng điệu riêng và ngôn ngữ riêng của Ma Văn Kháng Đặc biệt là ngôn ngữ Nếu muốn tìm đến sự phong phú của ngôn ngữ - áp cận được vào thì hiện tại tôi nghĩ cần đọc Ma Văn Kháng Và trước đó - Tô Hoài Đó là hai trong số ít người viết có được cả một kho chữ thật rủng rỉnh để tiêu dùng Và do có cả một cái kho, nên anh là người không ưa dùng những chữ mòn; và ít khi làm cho mòn chữ Dẫu là quen hoặc lạ, chữ nghĩa khi đã qua tay Ma Văn Kháng là cứ ánh chói lên cái nội lực bên trong của nó… Một tiếng nói nghệ thuật từ chính cuộc đời trần trụi,

xù xì, thô nhám, đa sự cất lên; đàng hoàng cất lên tiếng nói riêng để khơi gợi sự đồng tình hoặc tranh luận nơi người đọc” Nhà thơ Anh Chi trong bài tiểu luận

“Ma Văn Kháng và dòng chảy văn chương” có nhận xét: Ma Văn Kháng là nhà văn tài ba trong tạo dựng chi tiết sống, nên những trang viết của anh thật sinh động, và nội dung tác phẩm vào lòng người đọc tự nhiên, thấm thía… Mạnh dạn nhận định, nhà văn Ma Văn Kháng là người đổi mới sớm nhất trong tư tưởng văn chương ở

nhà văn Ma Văn Kháng, như “Một cây bút văn xuôi sung sức, một đời văn cần

Phương Thảo bàn về tiểu thuyết và quan niệm nghệ thuật của Ma Văn Kháng Về

diện mạo truyện ngắn Ma Văn Kháng, có bài viết của GS La Khắc Hòa “Khi nhà

truyện ngắn Ma Văn Kháng có hình hài, diện mạo rất riêng Ngoài ra, có nhiều bài bình luận về tiểu thuyết đề tài miền núi của Ma Văn Kháng như bài viết của Hà

Vinh “Gió rừng - Cuốn tiểu thuyết viết về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở

Tiến Nhà văn Phạm Duy Nghĩa có công trình nghiên cứu về “Phong cách văn xuôi của Ma Văn Kháng”

Về giọng điệu nghệ thuật có các luận văn, luận án tiến sĩ như luận văn của

Phạm Mai Anh (1997) - Đặc điểm truyện ngắn Ma Văn Kháng; Lê Thanh Ngọc (2004) - Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng sau 1975; Đỗ

Trang 12

Phương Thảo (2006) - Nghệ thuật tự sự trong sáng tác của Ma Văn Kháng… Về

ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng có một số công trình

nghiên cứu như luận văn Thạc sĩ của Lê Thanh Hùng (2006) - Tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ đầu Đổi mới (Giai đoạn sáng tác 1980 - 1989); Lê Minh Chung

(2007) - Tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ Đổi mới; Đỗ Thị Thanh Quỳnh (2006) -

sĩ của Nguyễn Thi Huệ (2000) - Những dấu hiệu đổi mới trong văn xuôi của Việt Nam từ 1980 đến 1986 - Qua bốn tác giả: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn

Viết về nhà văn Ma Văn Kháng ở góc độ ngôn ngữ học, có bài “Dấu ấn

Quyền Trong bài viết này, tác giả có nhận định “Ngôn ngữ trong các tác phẩm của ông về đề tài miền núi có sự nhuần nhuyễn trong việc thể hiện giọng điệu, cách nói, cách nghĩ, cách cảm của đồng bào dân tộc vùng cao Điều đó đã tạo nên sắc điệu thẩm mĩ riêng biệt của nhà văn, đặc biệt là trong tiểu thuyết viết về miền núi” Như vậy, đến nay chưa có một công trình nghiên cứu đầy đủ nào về đặc điểm phong cách ngôn ngữ của Ma Văn Kháng

Cái làm nên sức sống lâu bền của tác phẩm không phải là nội dung mà chính

là ngôn ngữ Theo Ma Văn Kháng thì chính là bởi “câu chữ nó hút hồn ta đấy”

Cũng theo nhà văn, trong truyện ngắn, một thể loại mang tính hàm súc, có độ nén

và sự bùng nổ cao thì “câu chữ nó lên men, nó toả hương, nó rủ rê, dẫn dắt, nó

cách ngôn ngữ phù hợp là yếu tố quan trọng hàng đầu làm nên thành công của tác

phẩm Bởi vì “Cái gì đã sống trong ngôn ngữ thì sẽ sống cùng ngôn ngữ”

Tác phẩm Ma Văn Kháng gợi ra nhiều đề tài hấp dẫn là mảnh đất màu mỡ cho người nghiên cứu phương ngữ và phong cách học Tuy nhiên cũng giống như ở lĩnh vực văn học, công trình nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ truyện của ông chưa nhiều Vì thế, đề tài phong cách ngôn ngữ nhà văn là một đề tài mới mẻ, cần được đào sâu, khai thác

5 Phương pháp nghiên cứu và phạm vi ngữ liệu

5.1 Phạm vi ngữ liệu

Trang 13

Do khả năng và thời gian không cho phép tìm hiểu mọi khía cạnh về mọi đặc điểm ngôn ngữ của nhà văn, chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu của mình trong những đặc điểm phong cách ngôn ngữ của nhà văn Ma Văn Kháng thông qua một

số tiểu thuyết, truyện ngắn của ông sau 1975

Chúng tôi chọn khảo sát tiểu thuyết và truyện ngắn được sáng tác sau 1975 của Ma Văn Kháng, cụ thể:

- Về tiểu thuyết:

1 Đồng bạc trắng hoa xòe (591 trang), Nxb Văn học 1980

2 Vùng biên ải (480 trang), Nxb Quân đội Nhân dân 1983

3 Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (244 trang), Nxb Văn học 2001

4 Trăng non (248 trang), Nxb Công an Nhân dân 2003

5 Mùa lá rụng trong vườn (gồm 340 trang), Nxb Phụ nữ 1985

6 Đám cưới không có giấy giá thú (gồm 392 trang), Nxb Lao động 1989

- Về truyện ngắn:

1 Mã Đại Câu, kẻ quét chợ Mường Cang (20 trang), Nxb Công an Nhân dân

1979

2 Ngày đẹp trời (24 trang), Nxb Lao động 1986

3 Lão gác vườn và con chó Phúm (26 trang), Nxb Công an Nhân dân 1987

4 Vệ sĩ của quan châu (18 trang), Nxb Công an Nhân dân 1978

5 Trái chín mùa thu (22 trang), Nxb Phụ nữ 1988

6 Seo Ly, kẻ khuấy động tình trường (26 trang), Nxb Công an Nhân dân

1991

7 Heo may gió lộng (26 trang), Nxb Hội Nhà văn 1992

8 Trăng soi sân nhỏ (22 trang), Nxb Văn học 1995

9 San Cha Chải (25 trang), Nxb Công an Nhân dân 2003

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê:

Khảo sát, thống kê toàn bộ văn bản trên cơ sở đó đưa ra nhận xét về đặc điểm phong cách ngôn ngữ của nhà văn Khi tính độ dài câu (số chữ trong một câu), chúng tôi sử dụng công cụ tính số chữ xuất hiện trong văn bản – Wordcount và phần mềm tính độ dài câu – Counter Từ công cụ Wordcount tính được số chữ xuất

Trang 14

hiện trong văn bản Bằng phần mềm Counter, chúng tôi tính được số câu xuất hiện trong văn bản đó Tỉ lệ trung bình giữa số chữ và số câu trong văn bản cho kết quả

về độ dài câu

- Phương pháp phân tích, miêu tả ngữ pháp, ngữ nghĩa:

Từ những dữ liệu khảo sát, chúng tôi phân tích những thông tin, dữ liệu cụ thể một cách chính xác, tổng hợp những nhận định, quan điểm về phương tiện ngôn ngữ nổi trội trong các tác phẩm của Ma Văn Kháng nhằm rút ra những nhận định khái quát về đặc điểm ngôn ngữ của nhà văn Chúng tôi cũng sử dụng phần mềm thống kê SPSS version 13.0 để kiểm tra độ tin cậy của thông tin đã thống kê

6 Kết cấu c luận văn

Ngoài phần dẫn luận và kết luận, luận văn gồm 154 trang được chia thành 3 chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết cơ sở

Chương 2: Đặc điểm sử dụng các phương tiện từ vựng trong tác phẩm Ma Văn Kháng

Chương 3: Đặc điểm sử dụng các phương tiện ngữ pháp trong tác phẩm Ma Văn Kháng

Luận văn cũng có các trang phụ lục liệt kê các yếu tố từ vựng, ngữ pháp được

sử dụng trong tác phẩm của nhà văn Ma Văn Kháng

Trang 15

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ SỞ

1.1 Khái niệm phong cách ngôn ngữ và phong cách nhà văn

1.1.1 Phong cách ngôn ngữ

Khái niệm phong cách

Về khái niệm phong cách, Nguyễn Văn Tu đưa ra ý kiến “Phong cách là tất

cả mọi phương tiện biểu đạt, tiêu chuẩn hóa mà xã hội hiểu được, do mục đích và đặc điểm của việc trao đổi quy định Cơ sở của phong cách là truyền thống chọn lọc từ, thành ngữ và phương tiện ngữ pháp dùng cho mục đích thông tin nhất định”.

[71; tr.216]

Nhà nghiên cứu Phan Ngọc cho rằng “Phong cách là một hiện tượng thuộc văn hóa, lịch sử chứ không phải thu lại trong một vài quy tắc về hình thức… Phong cách là một cấu trúc hữu cơ của tất cả các lựa chọn tiêu biểu, hình thái một cách lịch sử, và chứa đựng một giá trị lịch sử có thể cho phép ta nhận diện một thời đại, một thể loại, một tác phẩm hay một tác giả”[47; tr.22]

Về khái niệm phong cách học, Cù Đình Tú cho rằng phong cách học là một

bộ phận của ngôn ngữ học nghiên cứu các quy tắc, quy luật lựa chọn và hiệu quả lựa chọn, sử dụng toàn bộ các phương tiện ngôn ngữ nhằm biểu hiện một nội dung

tư tưởng, tình cảm nhất định trong phong cách chức năng ngôn ngữ nhất định Cũng theo tác giả, phong cách học là khoa học về sự thực hiện chức năng xã hội của ngôn ngữ, nó là khoa học ứng dụng và thực hành ngôn ngữ, nó là khoa học

Phong cách học quan tâm đến cái giá trị biểu đạt, biểu cảm – cảm xúc, cái giá trị phong cách của các phương tiện ngôn ngữ trong những hoàn cảnh giao tiếp tiêu biểu, với những điều kiện giao tiếp nhất định Cái mà phong cách học quan tâm không phải là kết cấu mà là chức năng giao tiếp của các đơn vị ngôn ngữ Phong cách học nghiên cứu hiệu quả của việc diễn đạt ngôn ngữ chú ý nhiều đến những sự kiện biểu hiện của ngôn ngữ có tổ chức, đứng về mặt nội dung tình cảm của nó, sự biểu hiện những sự kiện cảm xúc bằng ngôn ngữ và tác dụng của những sự kiện ngôn ngữ tới cảm xúc Không chỉ tìm cái đẹp, cái gợi cảm của ngôn ngữ, phong

Trang 16

cách học còn khai thác mặt tư tưởng của ngôn ngữ thông qua sự biểu hiện của cách dùng từ, lối diễn đạt ý chính xác, mạch lạc, trau chuốt

Trong giáo trình Phong cách học tiếng Việt, Đinh Trọng Lạc đưa ra quan niệm rằng phong cách học nghiên cứu các nguồn phương tiện ngôn ngữ dồi dào và các nguyên tắc lựa chọn, sử dụng những phương tiện này trong việc biểu đạt một nội dung tư tưởng, tình cảm nhằm đạt được những những mục đích thực tiễn, trong những điều kiện giao tiếp nhất định Như vậy, Cù Đình Tú, Đinh Trọng Lạc có cùng chung quan điểm về phong cách học Chúng tôi lấy quan niệm của hai tác giả làm cơ sở cho việc phân tích hiệu lực sử dụng ngôn ngữ của nhà văn được khảo sát

b Đối tƣợng c phong cách

Các nhà ngôn ngữ học đều cho rằng phong cách học là khoa học nghiên cứu

sự vận dụng ngôn ngữ, nghĩa là khoa học về các quy luật nói viết có hiệu lực Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học thống nhất ý kiến cho rằng phong cách học nghiên cứu 3 vấn đề sau Một là nội dung biểu cảm của ngôn ngữ Hai là quy luật lựa chọn,

sử dụng các phương tiên ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp trong nói năng Thứ ba là các phong cách chức năng ngôn ngữ

Theo Charles Bally, phong cách học nghiên cứu tính biểu cảm – gợi cảm ở các yếu tố của hệ thống ngôn ngữ, đồng thời nghiên cứu sự phối hợp các sự kiện lời nói có khả năng tạo nên hệ thống các phương tiện biểu cảm gợi cảm của một ngôn ngữ Đây là quan điểm nhấn mạnh vai trò biểu cảm trong vận dụng ngôn ngữ Tiếng nói của con người khác hẳn mọi hệ thống tín hiệu khác vì có yếu tố biểu cảm Nếu không có yếu tố biểu cảm thì câu nói của chúng ta về mặt nội dung sẽ giống nhau Không có yếu tố biểu cảm thì không có công cụ sáng tác văn học Tài nghệ nói, viết của mỗi người thể hiện rõ nét ở khả năng vận dụng và sáng tạo các yếu tố biểu cảm

Vì những lí do đó mà khảo sát các yếu tố biểu cảm là một trong những nội dung cơ bản của phong cách học

Đối tượng phong cách học còn là các phong cách chức năng ngôn ngữ Phong cách là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá tính chất đúng đắn, tính có hiệu lực của lời nói Thế nên, cũng như những yếu tố biểu cảm, phong cách chức năng ngôn ngữ phải là một trong những nội dung cơ bản nhất của nghiên cứu phong cách

Trang 17

Một số nhà ngôn ngữ coi phong cách học là quy luật lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ M.K.Moren viết: Phong cách học là một ngành ngữ văn độc lập nghiên cứu những nguyên tắc lựa chọn và sử dụng phương tiện ngôn ngữ nhằm biểu đạt một nội dung nhất định trong điều kiện giao tiếp nhất định

Như vậy phong cách học, khoa học về các quy luật nói viết có hiệu lực, về bản chất là khoa học nghiên cứu sự lựa lời, nghiên cứu những quy tắc lựa lời, những quy luật lựa lời Nội dung của sự lựa lời gồm có: lựa các yếu tố biểu cảm, lựa các yếu tố thuộc về phong cách ngôn ngữ chức năng Chúng tôi sẽ dựa vào đối tượng nghiên cứu ngày để khảo sát và đưa ra các nhận định về phong cách của Ma Văn Kháng

c Các hái niệm cơ bản c phong cách

Đối với phong cách học, các khái niệm đặc điểm tu từ (bao gồm màu sắc phong cách, sắc thái biểu cảm), giá trị tu từ, hiệu quả tu từ, phương tiện tu từ, biện pháp tu từ và phong cách ngôn ngữ được xem là những khái niệm cơ bản

* Đặc điểm tu từ

Bất kỳ hình thức biểu đạt cùng nghĩa nào cũng bao gồm hai nội dung biểu hiện Thứ nhất là nội dung cơ sở Nội dung này luôn có mặt trong tập hợp các hình thức biểu đạt cùng nghĩa Nó là cơ sở để cho một hình thức biểu đạt này có thể trở nên cùng nghĩa với một hình thức biểu đạt kia Thứ hai là nội dung bổ sung Đó là phần tin riêng cho một hình thức biểu đạt cùng nghĩa Phần tin riêng gồm có:

- Sắc thái biểu cảm: chỉ thái độ đánh giá tình cảm với đối tượng được nói đến

ở nội dung cơ sở

- Màu sắc phong cách: chỉ rõ phạm vi sử dụng, tức giá trị phong cách của hình thức biểu đạt cùng nghĩa

Đặc điểm tu từ là khái niệm phong cách học chỉ phần tin riêng mang tính chất bổ sung của hình thức biểu đạt cùng nghĩa

* Màu sắc phong cách

Màu sắc phong cách là giá trị phong cách chức năng của đơn vị ngôn ngữ Với khái niệm màu sắc phong cách, ta có thể phân loại các đơn vị ngôn ngữ như sau:

Trang 18

- Đơn vị có màu sắc đa phong cách (đơn vị đa phong cách): có khả năng sử dụng tự do, dùng chung cho mọi phong cách

- Đơn vị có màu sắc đơn phong cách (đơn vị đơn phong cách): có khả năng sử dụng hạn chế, dùng riêng cho một phong cách nhất định

- Các đơn vị không mang sắc thái biểu cảm

- Các đơn vị mang sắc thái biểu cảm

Những cung bậc tình cảm này có thể phản ánh hai thái độ đối lập nhau:

khinh bỉ, miệt thị thường dùng trong phong cách khẩu ngữ

khen ngợi, thông cảm, hân hoan thường dùng trong phong cách ngôn ngữ gọt giũa

Ngoài ra, có các đơn vị mang màu sắc biểu cảm trung hòa

Như vậy sắc thái biểu cảm là phần thông tin bổ sung cho nội dung cơ bản của đơn vị ngôn ngữ Sắc thái biểu cảm có được do sự liên hội – so sánh giữa các hình thức biểu đạt cùng nghĩa và kinh nghiệm vận dụng của người tiếp nhận thông tin Chính nhờ sắc thái biểu cảm, việc biểu đạt ngôn ngữ trở nên phong phú và đa dạng hơn

* Giá trị tu từ

Giá trị tu từ là kết quả của sự đối lập hai hay nhiều yếu tố trong sử dụng ngôn ngữ Giá trị tu từ là kết quả của sự đối lập các yếu tố trong hệ thống đúng - sai

và kết quả của sự đối lập tạm thời trong ngữ cảnh hợp hay không hợp

Có hai loại giá trị:

- Giá trị tuyệt đối: do sự đối lập trong hệ thống

- Giá trị tương đối: do sự đối lập tạm thời trong ngữ cảnh nhưng giá trị tương đối cũng được chấp nhận như giá trị tuyệt đối

Trang 19

* Hiệu quả tu từ

Giá trị tu từ có tính chất khách quan còn hiệu quả tu từ có tính chủ quan do

sự tác động của một hay nhiều yếu tố ngôn ngữ

Ngôn từ có hiệu quả thẩm mỹ nhưng không nên nhầm lẫn hiệu quả với giá trị Hiệu quả thuộc chủ quan người tiếp nhận, giá trị thuộc khách quan Phong cách học không chỉ phát hiện hiệu quả mà còn phát hiện giá trị nếu không thì sẽ trở nên thiên kiến, hẹp hòi

* Phương tiện tu từ

Phương tiện tu từ là các phương tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa cơ bản ra chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ Người ta còn gọi chúng là những phương tiện được tu sức về mặt tu từ hoặc đôi khi những phương tiện được đánh dấu về mặt tu từ, ví dụ: hội tụ, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa…

* Biện pháp tu từ

Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ không kể là có màu sắc tu từ hay không có màu sắc tu từ (không kể là trung hoà hay diễn cảm) trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu

từ (tác dụng gây ấn tượng về hình ảnh, cảm xúc, thái độ, hoàn cảnh ) do sự tác động qua lại giữa các yếu tố trong một ngữ cảnh rộng, ví dụ: điệp ngữ, ngoa dụ, vĩ thanh…

d Phong cách ngôn ngữ

Phong cách hiểu theo nghĩa rộng là phong cách sống, phong cách làm việc, phong cách học tập, phong cách dân tộc, là tất cả những đặc điểm đặc trưng của hoạt động được lặp đi lặp lại nhiều lần và có thể khu biệt với những hoạt động của đối tượng khác

Phong cách ngôn ngữ là hệ thống những đặc trưng sử dụng ngôn ngữ của một

cá nhân nào đó hoặc một môi trường giao tiếp nào đó trong cộng đồng tạo thành biến thể ngôn ngữ trong lòng ngôn ngữ cộng đồng

Theo Hữu Đạt, phong cách ngôn ngữ là sự lặp đi lặp lại một số kiểu lời nói

để tạo thành các khuôn mẫu (hoặc các bộ thói quen) nhất định trong từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể [9; tr.37]

Trang 20

Phong cách ngôn ngữ là tổng hoà những nét đặc trưng của ngôn ngữ cá nhân trong những môi trường giao tiếp khác nhau

Có thể phân chia phong cách ngôn ngữ thành các loại nhỏ sau đây:

Phong cách ngôn ngữ chức năng quy định trong từng môi trường giao tiếp phải sử dụng ngôn ngữ đúng chuẩn mực, không được vi phạm

Phong cách chức năng ngôn ngữ là dạng tồn tại của ngôn ngữ dân tộc biểu thị quy luật lựa chọn, sử dụng các phương tiện biểu hiện tuỳ thuộc vào tổng hợp các nhân tố ngoài ngôn ngữ như hoàn cảnh giao tiếp, đề tài và mục đích giao tiếp, đối tượng tham dự giao tiếp

Ngôn ngữ nghệ thuật là một mã phức tạp hơn là hệ thống tín hiệu thứ hai, được cấu tạo nên từ hệ thống tín hiệu thứ nhất - ngôn ngữ tự nhiên Mỗi yếu tố ngôn ngữ trong tác phẩm là một phương tiện biểu hiện, mỗi yếu tố nhất thiết tham gia vào việc bộc lộ nội dung tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm

Về chức năng xã hội, ngôn ngữ nghệ thuật thực hiện chức năng thẩm mĩ xuất hiện ở bình diện thứ nhất đẩy chức năng giao tiếp xuống bình diện thứ hai Bản thân khái niệm chức năng thẩm mĩ là chức năng nghệ thuật - hình tượng

Về bình diện nghĩa, ngôn ngữ nghệ thuật có 2 bình diện nghĩa Nó có khả năng một mặt hướng vào hệ thống ngôn ngữ văn hoá với những ý nghĩa của các từ, của các hình thức ngữ pháp và mặt khác hướng vào hệ thống các hình tượng của tác phẩm nghệ thuật

Về sự có mặt của các phương tiện ngôn ngữ, ngôn ngữ nghệ thuật là biểu hiện đầy đủ nhất và nổi bật nhất ngôn ngữ văn hoá, và rộng hơn là của ngôn ngữ toàn dân Ngôn ngữ nghệ thuật dựa vào chuẩn mực ngôn ngữ hiện đại, song trong những thể loại có tính lịch sử, nó vượt ra ngoài khuôn khổ của chuẩn và sử dụng những yếu tố cổ như: từ cổ, từ lịch sử Ngôn ngữ nghệ thuật sử dụng cả những từ tiềm năng và những từ ngẫu hợp Trong những phạm vi nhất định, ngôn ngữ nghệ thuật sử dụng cả từ địa phương, tiếng lóng, từ tục

Trang 21

Ngôn ngữ nghệ thuật có các đặc trưng như tính cấu trúc, tính hình tượng, tính cá thế hóa, tính cụ thể hóa

Về tính cấu trúc, mỗi văn bản nghệ thuật tự thân nó là một cấu trúc, trong đó các thành tố nội dung và các thành tố hình thức không những phụ thuộc lẫn nhau

mà phụ thuộc vào hệ thống nói chung Sự lựa chọn, cấu tạo và tổ hợp những thành

tố này bị quy định bởi chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ nghệ thuật

Tất cả các yếu tố trong một văn bản nghệ thuật trở thành “một bản hoà tấu,

đi một từ thay bằng một từ khác là đủ làm hỏng một câu thơ Từ nghệ thuật không sống đơn độc, tự nó, vì nó, từ nghệ thuật đứng trong đội ngũ góp phần mình vào các

“từ đồng đội” khác Tính cấu trúc là điều kiện của cái đẹp Một yếu tố ngôn ngữ chỉ

có ý nghĩa thẩm mĩ khi nằm trong tác phẩm

Về tính hình tượng, trong phong cách học, tính hình tượng hiểu theo nghĩa rộng có thể xác định là thuộc tính của lời nói nghệ thuật truyền đạt không chỉ thông tin logic mà còn cả thông tin được tri giác một cách cảm tính (cảm giác, tri giác, biểu tượng) nhờ hệ thống những hình tượng ngôn từ

Một từ trong tác phẩm nghệ thuật không thể được coi ngang bằng như ngôn ngữ thực hành vì trong văn bản nghệ thuật, từ ngữ có hai bình diện theo khuynh hướng nghĩa của mình, có mối tương quan đồng thời cả với những từ của ngôn ngữ văn hoá chung, cả với những yếu tố của cấu trúc ngôn từ của văn bản nghệ thuật Trong văn bản nghệ thuật bao giờ cũng có những yếu tố có giá trị nghệ thuật bên cạnh những yếu tố không có giá trị đó - những yếu tố được gọi là những “vị trí rỗng” - tức là những vị trí chỉ có giá trị về mặt giao tiếp mà ít có giá trị về mặt nghệ thuật

Về tính cá thể hóa, tính cá thể hoá của ngôn ngữ trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ là dấu ấn phong cách tác giả trong ngôn ngữ nghệ thuật Dấu ấn phong cách tác giả là cái thuộc về đặc điểm bản chất, thuộc về điều kiện bắt buộc của ngôn ngữ nghệ thuật Dấu ấn phong cách tác giả chỉ có thể có trong tác phẩm nghệ thuật với

tư cách là một thể thống nhất của cấu trúc tu từ học kết cấu, một hệ thống tu từ học hoàn chỉnh được liên kết bởi hình tượng tác giả, ý định thẩm mĩ, chủ đề tư tưởng của tác phẩm

Trang 22

Tính cá thể hoá của tác phẩm thể hiện ở tính cá thể hoá của ngôn ngữ tác giả Ngôn ngữ là chung nhưng sự vận dụng ngôn ngữ tuỳ thuộc vào cá nhân Tchekhov

quan niệm: “Mỗi nhà văn phải có lối nói riêng của mình Nếu tác giả nào không có

Đặc biệt là những từ có nghĩa hẹp, có sức gợi hình đậm nét như: phất phơ,

ngữ có nghĩa khái quát là cách tiêu biểu nhất để tạo hình tượng cụ thể, tác động vào

trí tưởng tượng của người đọc Ví dụ từ “xập xè” trong câu thơ của Nguyễn Du:

Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày

không chỉ miêu tả dáng bay của con chim và tiếng kêu lè xè của đôi cánh, còn gợi ra

sự vắng lặng của ngôi nhà cũ trong tâm trạng bơ vơ của chàng Kim

Tóm lại, lời nói nghệ thuật có 4 đặc trưng chung: tính cấu trúc, tính hình tượng, tính cá thể hoá và tính cụ thể hoá Đây là những đặc trưng phân biệt lời nói nghệ thuật với lời nói phi nghệ thuật

e Ngôn ngữ nghệ thuật trong văn xuôi

Ngôn ngữ không ngừng thuyết minh và phân tích những đơn vị mà nó được

xuôi nghệ thuật có một vị trí rất quan trọng Những đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật được khái quát từ khối lượng tác phẩm đồ sộ và từ mọi thể loại phong phú đa dạng của văn xuôi Văn xuôi nói chung gồm nhiều thể loại, song tiêu biểu nhất là tiểu thuyết Ngôn ngữ tiểu thuyết hiện đại thể hiện tập trung nhất, đầy đủ nhất mọi biện pháp nghệ thuật của văn xuôi Về đặc trưng của tiểu thuyết, M Bakhtin (1895

Trang 23

– 1975) cho rằng quan trọng nhất là khả năng chứa đựng nhiều tiếng nói, giọng nói, cách nói khác nhau, tất cả là một khoa học thẩm mỹ của sự sáng tạo lời nói [1;tr.197] Qua tiểu thuyết, ngôn ngữ nghệ thuật có thể phát huy hết mọi khả năng tiềm tàng của mình và hoàn thiện, làm giàu có thêm các phương tiện biểu hiện

Trong văn xuôi, ngôn ngữ nghệ thuật có thể đạt tới một độ chính xác lí tưởng

về mặt miêu tả Ngôn ngữ nghệ thuật cho phép các nhà văn lựa chọn và sử dụng tất

cả mọi yếu tố, phương tiện ngôn ngữ để đạt mục đích thẩm mỹ Mọi biện pháp và phương tiện diễn đạt đều có những chức năng riêng, chỗ đứng riêng Mặt khác, ngôn ngữ nghệ thuật trong văn xuôi không đơn điệu do nó đón nhận những cái sáng tạo riêng của nhà văn và tiếp nhận nhiều sắc thái, giọng điệu, thể hiện trong những khuynh hướng khác nhau Năng lực sử dụng tổng hợp các yếu tố, biện pháp và phương thức miêu tả nghệ thuật khiến cho văn xuôi có xu hướng xích gần với ngôn ngữ hằng ngày, tiếp nhận nhiều yếu tố của khẩu ngữ và đưa chất thơ vào văn xuôi, tiếp nhận nhiều yếu tố của ngôn ngữ thơ

Ngôn ngữ nghệ thuật vừa tôn trọng những chuẩn mực vừa đi lệch những chuẩn mực mang dấu ấn tác giả Ngôn ngữ văn chương khác với ngôn ngữ của các phong cách khác không chỉ ở chức năng thẩm mĩ, không chỉ ở việc sử dụng tổng hợp các phương tiện biểu đạt của tiếng Việt mà còn ở chỗ ngôn ngữ văn chương mang dấu ấn phong cách tác giả

1.1.2 Phong cách nhà văn

Nhà văn Nam Cao từng phát biểu “không nên thấy người ta ăn khoai cũng

Đó là những điểm riêng, độc đáo của riêng từng nhà văn thể hiện ở cách miêu tả, xây dựng hình tượng nghệ thuật thông qua việc sử dụng ngôn ngữ văn học Vì vậy,

theo Đào Thản, phong cách thường được hiểu là những nét biến hóa riêng của tác giả trong việc sử dụng ngôn ngữ nhằm mục đích diễn đạt nội dung Nó bao gồm các yếu tố luôn luôn được tái hiện và hình thành bền vững trong ngôn ngữ tác giả Đối với ngôn ngữ nghệ thuật thì phong cách tác giả là kết quả của sự làm chủ các phương tiện ngôn ngữ khác nhau nhằm thể hiện nội dung tư tưởng với hiệu quả cao nhất [58; tr.51]

Trang 24

Theo giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh, nhà văn phải thật sự có tài năng, phải thật

sự sáng tạo ra những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao mới được xem là nhà văn

có phong cách Phong cách là một chỉnh thể nghệ thuật Mỗi nhà văn có phong cách tạo ra cho mình một thế giới nghệ thuật riêng Thế giới nghệ thuật ấy, dù phong phú, đa dạng thế nào, vẫn có tính thống nhất Phong cách bao gồm những đặc điểm độc đáo của các tác phẩm cả một nhà văn từ nội dung đến hình thức

Phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật có phẩm chất thẩm mĩ thể hiện trong sáng tác của những nhà văn ưu tú Điều đó đòi hỏi nhà văn phải đem một tiếng nói mới cho văn học, độc đáo, đa dạng, bền vững, nhất quán Phong cách phải có phẩm chất thẩm mĩ, nghĩa là đem lại cho người đọc một sự hưởng thụ mĩ cảm dồi dào Phong cách không chỉ là dấu hiệu trưởng thành của một nhà văn, hơn thế nữa, khi nó đã được nở rộ thì đó chính là bằng chứng của một nền văn học đã trưởng thành [44; tr.482]

Phong cách ngôn ngữ tác giả văn chương thường được xem xét trong hai phương diện: một là khuynh hướng ưa thích và sở trường sử dụng những loại phương tiện nào đó của các giả; hai là sự đi lệch chuẩn mực ngôn ngữ của tác giả

Sở trường của nhà văn là sự ưa thích chọn lọc, sử dụng những loại phương tiện ngôn ngữ nhất định, khiến ngôn ngữ của nhà văn khác với mọi người Sự lệch chuẩn ngôn ngữ thể hiện ở sự sáng tạo những cái xã hội chưa có để tạo nên phong cách tác giả Chính cá tính, sở thích, nguyên tắc tổ chức hình thức tác phẩm, phong cách dùng từ, phong cách dùng câu tạo nên phong cách ngôn ngữ cho các tác giả văn chương

Nhà văn Tô Hoài đã từng giãi bày: “Từ lúc mới cầm bút viết một câu, muốn định cho nó là làm một việc nghệ thuật, thì con người mình đã phải trải qua hai lần nghĩ Một lần nghĩ ra cái ý ấy, một lần nắm cái ý ấy mà tìm ra chữ nghĩa để đặt bút xuống Trong sáng tạo ta phải vượt qua hai lần sáng tạo Lúc đầu không mấy ai có

ý thức ấy Nhưng dần dần về sau, viết càng quen, thì cả thói quen lẫn lương tâm ngòi bút mình đã tìm ra cái lần sáng tạo thứ hai Từ khi biết như thế thì chữ nghĩa đối với tôi trở thành một cái ham thích đê mê kích thích, trở thành những khó, cái khổ, cái sợ Cầm bút viết không lúc nào không lo Một chữ phải là một hạt ngọc

Trang 25

trên trang bản thảo, phải là hạt ngọc mới nhất, của mình tìm được, do phong cách văn chương mình mà có được Trang sách mà không có ngọc, trang bản thảo không

có chữ thần, không có tinh hoa thì cái hồn của tác phẩm, từ tư tưởng đến nhân vật, tất cả bao nhiêu ước vọng, khát khao ta gửi gắm vào sáng tác biết lấy gì mà sống được Không có chữ nuôi nó, nó trống rỗng rồi chết héo đi Nghĩ đến sáng tác nghèo nàn, còi cọc, bao giờ cũng giật mình.” Như vậy, thông qua ngôn ngữ cá nhân, những “hạt ngọc mới nhất” ấy góp phần làm phong phú thêm ngôn ngữ chung, thúc đẩy ngôn ngữ chung phát triển

1.2 Khái lược về phương tiện từ vựng – ngữ pháp

1.2.1 Các lớp từ ngữ giàu màu ắc phong cách

là tiếng địa phương”[6; tr.24]

Phương ngữ là một thuật ngữ của ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân và là biến thể của ngôn ngữ này ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một ngôn ngữ khác

Từ địa phương trong văn học nghệ thuật được dùng với dụng ý tu từ, biểu đạt tính chân thực của hình tượng, tâm lý, tính cách của người địa phương

Ví dụ:

Đồng chí mô nhớ nữa

Kể chuyện Bình Trị Thiên

Cho bầy tui nghe ví

Bếp lửa rung rung đôi vai đồng chí

- Thưa trong nớ hiện chừ vô cùng gian khổ, Đồng bào ta phải kháng chiến ra ri

(Nhớ, Hồng Nguyên)

Trang 26

Mô : nào; bầy tui: chúng tôi; ví: với; nớ: đó; hiện chừ: bây giờ; ra ri: như thế

đó Các từ ngữ trên thuộc phương ngữ Trung góp phần thể hiện chân thực tình cảm,

cách nghĩ của các anh vệ quốc thời kháng chiến chống Pháp, làm tăng sự sống động, gợi cảm của tác phẩm

1.2.1.2 Từ Hán – Việt

Trong các loại từ vay mượn tiếng Hán, từ Hán Việt chiếm ưu thế tuyệt đối

Từ Hán – Việt góp phần làm phong phú vốn từ tiếng Việt, góp phần quan trọng trong việc biểu đạt các khái niệm khác nhau của đời sống và nhiều khi không tìm được từ thuần Việt thay thế Theo ước lượng của các nhà nghiên cứu, từ Hán Việt chiếm khoảng trên dưới 70% vốn từ trong phong cách chính luận, khoa học Maspéro thì cho rằng, chúng chiếm tới hơn 60% lượng từ tiếng Việt

Về thuật ngữ từ Hán Việt, từ trước đến nay, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ

học đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau Trong giáo trình Từ vựng học tiếng Việt (bản in năm 1998), nhà Từ vựng học Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Các từ ngữ

Năm 1998, Nguyễn Như Ý trong Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học

đã cho rằng: “Từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán, được nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa

văn bậc Trung học Phổ Thông, “Từ Hán Việt là từ mượn của tiếng Hán, được đọc bằng cách đọc Hán Việt, viết bằng chữ quốc ngữ Cách đọc Hán Việt là hệ thống cách đọc của người Việt đối với chữ Hán, được xây dựng trên cơ sở ngữ âm tiếng Hán thời trung đại (khoảng thế kỷ thứ VII) ” và “nhờ có hệ thống cách đọc Hán Việt mà trong tiếng Việt có một khối lượng khá lớn các từ Hán Việt, ví dụ như: đông, tây, nam, bắc, động, tĩnh, hòa bình, kiến thiết, bình minh ”. Theo Đinh Trọng Lạc – Nguyễn Thái Hòa, trong Phong cách học, từ Hán – Việt bao gồm những từ Hán đã Việt hóa được sử dụng khá rộng rãi trong các phong cách chức năng, nhưng bị hạn chế trong sự kết hợp của các từ tố

Sức sản sinh của từ Hán – Việt lớn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra

từ mới trong tiếng Việt Xét về mặt ngữ nghĩa, từ Hán – Việt diễn đạt ý nghĩa súc

Trang 27

tích, biểu thị đối tượng chính xác Các từ Hán –Việt trong văn xuôi tạo ra các sắc thái tu từ như sắc thái tao nhã, sắc thái trang trọng, sắc thái khái quát, sắc thái cổ Vì vậy, sự xuất hiện của lớp từ Hán – Việt làm phong phú, đa dạng cho hệ thống từ vựng tiếng Việt và giữ một vai trò quan trọng trong việc hình thành phong cách nhà văn

Ví dụ:

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,

Nước còn cau mặt với tang thương

(Thăng Long thành hoài cổ, Bà Huyện Thanh Quan)

Thăng Long thành hoài cổ là một bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ của Bà

Huyện Thanh Quan – một phong cách trang nhã, lịch lãm và sâu lắng Điều làm nên giá trị nổi bật trong thi phẩm của bà được kết tinh bởi nhiều yếu tố mà trong đó phần quan trọng là sự sáng tạo của nhà thơ trong việc sử dụng chuẩn xác, điêu luyện

và kết hợp một cách tài tình hệ thống từ Hán Việt Ở đoạn thơ trên, các từ Hán Việt

như thu thảo, tịch dương, tuế nguyệt được đặt vào vị trí quyết định giá trị của câu

thơ: từ cuối câu, tạo sắc thái trang trọng, khái quát và để lại những dư âm thấm vào tâm hồn người đọc với bao nỗi niềm hoài cổ về một thời đại vàng son, huy hoàng đã qua

Cùng một khái niệm từ láy nhưng có nhiều cách định nghĩa khác nhau:

Nguyễn Tài Cẩn cho rằng từ láy âm là loại từ ghép trong đó theo con mắt nhìn của người Việt hiện nay các thành tố trực tiếp được kết hợp lại với nhau chủ yếu là theo quan hệ ngữ âm Quan hệ ngữ âm được thể hiện ở chỗ các thành tố trực tiếp phải có sự tương ứng với nhau về hai mặt: mặt yếu tố siêu âm đoạn tính (thanh

Trang 28

điệu) và mặt yếu tố âm đoạn tính (phụ âm đầu, âm chính giữa vần và âm cuối vần)

[4; tr.109]

Nguyễn Thiện Giáp gọi từ láy là ngữ láy âm và cho rằng đó là những đơn vị được hình thành do sự lặp lại có sự biến đổi ngữ âm nào đó của từ đã có Chúng vừa có sự hài hòa về ngữ âm, vừa có giá trị gợi cảm, gợi tả [13; tr.86]

Hoàng Tuệ thì cho rằng láy có lẽ chớ nên xem là quan hệ ngữ âm giữa các

âm tiết một cách chung chung, mà nên hiểu là láy khi có một sự hòa phối ngữ âm giữa những yếu tố tương ứng của các âm tiết; đó là một sự hòa phối ngữ âm có tác dụng biểu trưng hóa

Đỗ Hữu Châu trong Từ vựng tiếng Việt định nghĩa từ láy là những từ được tạo ra theo phương thức láy, đặc biệt là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo nguyên tắc biến thanh, tức là quy tắc biến đổi theo hai nhóm: nhóm cao (thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang) và nhóm thấp (thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa

Tất cả những định nghĩa trên đều có quan niệm chung là từ láy là những từ được tạo ra trên cơ sở của phương thức láy và giữa các thành tố có quan hệ ngữ âm với nhau Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập Vì thế, từ láy có một vị trí quan trọng trong việc tạo ra tiết tấu ngữ điệu của câu Hơn nữa, đây là lớp từ giàu giá trị gợi tả, gợi cảm Những nhà văn, nhà thơ lớn trong lịch sử văn học Việt Nam như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Tố Hữu, Nguyễn Tuân,… rất có tài trong việc sử dụng ngôn ngữ, đặc biệt là từ láy

còn thể hiện tâm trạng Từ láy nao nao góp phần diễn tả bức tranh mùa xuân thanh

nhẹ với dòng nước trôi xuôi trong bóng chiều tà mà còn biểu lộ rõ nét tâm trạng con người: tâm trạng bâng khuâng, luyến tiếc, xao xuyến về một buổi du xuân, sự linh cảm về những điều sắp xảy ra – Kiều sẽ gặp nấm mộ Đạm Tiên, gặp Kim Trọng

Trang 29

Cảnh được miêu tả qua tâm trạng của con người, nhuốm màu sắc tâm trạng của con

người Dòng nước nao nao, trôi chậm lưu luyến bên chân cầu nho nhỏ cũng là nỗi

lưu luyến, tiếc nuối của lòng người khi ngày vui chóng qua…

1.2.1.4 Thành ngữ

Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn Từ và nhận diện từ trong tiếng

giá trị gợi tả Tình hình tượng là đặc trưng cơ bản của thành ngữ Thành ngữ biểu thị khái niệm nào đó dựa trên những hình ảnh, những biểu tượng cụ thể Tính hình

Cũng theo tác giả, thành ngữ tiếng Việt có tính dân tộc, bởi thành ngữ chủ yếu biểu thị những hiện tượng thuộc đời sống sinh hoạt của con người như cách sống, phương thức đối nhân xử thế, tính cách, phẩm hạnh của người và vật

Thành ngữ là những cụm từ cố định có kết cấu lớn hơn từ nhưng mang chức

năng của từ, có hình ảnh và giàu màu sắc biểu cảm, ví dụ: mèo mả gà đồng, đầu cua tai nheo, hồn xiêu phách lạc, cạn nước cạn cái…

Theo tác giả Hoàng Văn Hành, thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái – cấu trúc, hoàn chỉnh về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hằng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ

Thành ngữ thuộc về kí hiệu trung gian giữa cấp độ từ và cấp độ câu, nhưng

về mặt nội dung, ý nghĩa, nó luôn có giá trị chức năng như một từ và có thể thay thế

từ về phương diện định danh và tạo câu Đằng sau cái vỏ là ngôn ngữ giao tiếp, thành ngữ ẩn giấu những đặc điểm của một nền văn hóa, phong tục tập quán, phép đối nhân xử thế, tư tưởng tình cảm của dân tộc Khảo sát thành ngữ được sử dụng trong tác phẩm văn học vừa khẳng định được vai trò của văn hóa dân tộc trong văn học nghệ thuật, vừa khẳng định phong cách của tác giả qua ngôn ngữ thể hiện trong tác phẩm

1.2.2 Các phương thức tu từ từ vựng – ngữ ngh

1.2.2.1 Ẩn dụ

Ẩn dụ thực chất là so sánh ngầm, trong đó vế so sánh giảm lược đi chỉ còn lại vế được so sánh Phép ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa của đối tượng này

Trang 30

thay cho đối tượng khác khi hay đối tượng có một nét tương đồng nào đó [37; tr.194]

Nguyễn Văn Tu cho rằng: “ẩn dụ là phép gọi tên một sự vật bằng tên của một sự vật khác theo mối quan hệ gián tiếp Muốn hiểu được mối quan hệ đó chúng

ta phải so sánh ngầm Khác với hoán dụ, phép ẩn dụ, ta theo tưởng tượng của ta mà gọi một sự vật chỉ có vài dấu hiệu chung với sự vật mà từ biểu thị trước thôi Chính nhờ những dấu hiệu chung gián tiếp ấy mà ta thấy mối quan hệ giữa các sự vật khác nhau” [70; tr.159]

Đỗ Hữu Châu trong giáo trình Việt Ngữ quan niệm: “ẩn dụ là cách gọi tên một sự vật này bằng tên một sự vật khác, giữa chúng có mối quan hệ tương đồng” Nguyễn Thiện Giáp cũng cho rằng: “ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự

Đào Thản đã giải thích khá cụ thể, rõ ràng ẩn dụ cũng theo quan niệm như

vậy trong mối quan hệ với sự so sánh: “ẩn dụ cũng là một lối so sánh dựa trên sự giống nhau về hình dáng, màu sắc, tính chất, phẩm chất hoặc chức năng của hai đối tượng Nhưng khác với so sánh dùng lối song song hai phần đối tượng và phần

so sánh bên cạnh nhau, ẩn dụ chỉ giữ lại phần để so sánh” [56; tr.143]

Đinh Trọng Lạc quan niệm: ẩn dụ là sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng, dựa trên sự tương đồng hay giống nhau (có tính chất hiện thực hoặc tưởng tượng ra) giữa khách thể (hiện tượng, hoạt động, tính chất) A được định danh với khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động tính chất) B có tên gọi được dùng chuyển sang cho A [37; tr.52]

Trong luận văn, đối tượng chúng tôi nghiên cứu là ẩn dụ tu từ Đây là cách

cá nhân lâm thời lấy tên gọi biểu thị này dùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên cơ

Ví dụ:

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào

(Tương tư, Nguyễn Bính)

Nhà thơ Nguyễn Bính sử dụng những hình ảnh cau thôn Đoài, giầu không

Trang 31

nhau có những điểm tương đồng với quan hệ giữa trầu và cau Đó là quan hệ giữa những sự vật gắn bó khăng khít với nhau, tồn tại vì nhau, cho nhau, khi hòa hợp thì trở nên thắm thiết

Mỗi sự vật, hiện tượng vốn có nhiều đặc điểm, thuộc tính Do vậy cùng một

sự vật, hiện tượng có thể được tư duy liên tưởng đồng nhất hoá với nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau tuỳ theo đặc điểm, thuộc tính nào cùng có ở chúng được chọn

để làm cơ sở cho sự đồng nhất hoá Quan hệ tương đồng chính là cơ sở cho mọi ẩn

dụ

1.2.2.2 Hoán dụ

Theo nhà nghiên cứu Đinh Trọng Lạc, hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa bằng cách dùng một đặc điểm hay một nét tiêu biểu nào đó của một đối tượng để gọi tên chính đối tượng đó

Trong cuốn “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt”, tác giả Cù Đình

Tú định nghĩa: Hoán dụ tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi của đối tượng này dùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên mối quan hệ liên tưởng lôgích khách quan giữa hai đối tượng” [72; tr.191]

Trong công trình Từ vựng tiếng Việt, GS Nguyễn Công Đức và TS Nguyễn Hữu Chương đã đưa ra khái niệm về hoán dụ như sau: hoán dụ là hiện tượng chuyển đổi tên gọi – tên của đối tượng này được dùng để gọi đối tượng kia – dựa trên quan điểm liên tưởng, tiếp cận

Ví dụ:

Đầu xanh đã tội tình gì

Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi

(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Nhà thơ dùng cụm từ đầu xanh để chỉ tuổi trẻ, tuổi thơ, thanh niên,…; cụm

từ má hồng chỉ người con gái đẹp, mĩ nhân, tố nữ Trong văn cảnh của câu thơ, cụm

từ má hồng còn chuyển nghĩa một lần nữa để nói đến thân phận làm gái lầu xanh của người phụ nữ Như vậy, Nguyễn Du dùng những từ chỉ bộ phận cơ thể đầu, má

để chỉ con người Cách diễn đạt này gợi tình ý sâu xa, đồng thời miêu tả sinh động hơn những cách khác

Trang 32

Khi bàn về mối liên hệ giữa ẩn dụ và hoán dụ, GS Cù Đình Tú đã nói: Cái logic trong ẩn dụ tu từ là cái logic mang tính chủ quan do con người tạo ra, trái lại cái lô-gích trong hoán dụ tu từ lá cái lô-gích có thực, mang tính khách quan do con người nhận thức và phản ánh lại Bởi vậy hoán dụ tu từ mang tính chất khách quan,

có khả năng khắc họa, nhấn mạnh một điểm có thực nào đó của đối tượng được miêu tả Tùy thuộc vào mong muốn riêng và năng lực phát hiện của người nói mà một điểm nào đó của đối tượng định miêu tả được khắc họa, nhấn mạnh

Xét về mặt tu từ, hoán dụ có hai loại: hoán dụ từ vựng và hoán dụ tu từ

Hoán dụ từ vựng là trường hợp đơn giản nhất của hoán dụ, trong đó gọi tên của một khách thể, thường là tên riêng, được chuyển sang chỉ một khách thể khác (Đinh Trọng Lạc) Hoán dụ tu từ là hoán dụ hiện thực hóa mới mẻ, bất ngờ giữa hai khách thể

Xét về mối quan hệ khách quan tạo nên hoán dụ, Đinh Trọng Lạc cho rằng

có 6 mối liên hệ: bộ phận – toàn thể, chủ thể – vật sở thuộc, công cụ lao động – bản thân sức lao động hoặc kết quả của lao động, số ít – số n hiều, giữa con số cụ thể và con số tổng quát, vật chứa đựng và vật được chứa đựng, cái cụ thể – cái trừu tượng

Nhóm hoán dụ bao gồm: hoán dụ, cải danh, cải dung, cải số,… trong đó, hoán dụ là phương thức tiêu biểu Cải danh là phương thức chuyển nghĩa biểu thị mối quan hệ giữa tên riêng và tên chung trong đó tên riêng thay cho tên chung Cải dung là một phương thức hoán dụ chỉ cái chứa đựng thay cho vật chứa đựng Cải số là phương thức chuyển nghĩa biểu thị mối quan hệ số ít và số nhiều, giữa số cụ thể và số tổng quát

Cù Đình Tú cho rằng có 8 mối quan hệ lôgích khách quan tạo nên hoán dụ

đó là mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể, giữa chủ thể và vật sở thuộc, quan hệ giữa hành động và tính chất và kết quả của hành động và tính chất đó, quan hệ giữa hành động và chủ thể, quan hệ giữa số lượng và số lượng, giữa vật chứa đựng và vật được chứa đựng, giữa cái cụ thể và cái trừu tượng, giữa tên riêng, tên nhân vật chính và tính cách con người

1.2.2.3 So sánh tu từ

So sánh là một dạng thức phổ biến trong lời ăn tiếng nói hằng ngày Việc nói bằng một so sánh cụ thể bao giờ cũng làm cho người nghe hiểu nhanh điều mình

Trang 33

nói Trong văn chương, so sánh là một phương thức tạo hình, phương thức gợi cảm

Nói đến văn chương là nói đến so sánh A.Phơrăngxơ định nghĩa: “Hình tượng là gì? Chính là sự so sánh” Định Trọng Lạc phát biểu “Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ của sự liên hội và so sánh nghệ thuật là đôi cánh giúp chúng ta bay vào thế

Như vậy, so sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe

Giữa hai vế so sánh thường xuất hiện từ so sánh: như, tựa, giống, hơn…

Ví dụ : Tiếng khoan như gió thoảng ngoài

So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy, nét giống nhau nào đấy nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng Cách so sánh tu từ là một công cụ cho mỗi cá nhân thể hiện tài năng sáng tạo riêng của mình

Đặc điểm so sánh tu từ là cấu tạo theo quan hệ liên tưởng Trong một văn cảnh cụ thể, từ ngữ có hiện tượng lâm thời chuyển đổi ý nghĩa Nghĩa của từ ngữ vốn biểu thị đối tượng này nay được lâm thời chuyển sang biểu thị đối tượng khác dựa trên một quan hệ liên tưởng nhất định Quan hệ liên tưởng này có thể là liên tưởng tương đồng (khía cạnh giống nhau), liên tưởng có tính khách quan về mối quan hệ thực có thể xảy ra giữa hai đối tượng

So sánh tu từ khác với các phép so sánh luận lí Các đối tượng được đưa ra so sánh là nhằm diễn tả một cách hình ảnh một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng Chính do mục đích diễn tả một cách hình ảnh mà các phép tu từ ít nhiều khập khiễng và mang tính khoa trương Chẳng hạn, làm sao đếm được nỗi sầu nhưng trong ca dao, so sánh tu từ vẫn nói:

Qua cầu ngả nón trông cầu Cầu bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu (Ca dao)

Trong tiếng Việt, có những phép tu từ bao gồm hai đối tượng

Ví dụ:

Hồn anh như hoa cỏ may

Trang 34

Một chiều cả gió bám đầy áo em (Xuân Quỳnh)

Có phép tu từ so sánh có nhiều đối tượng liên kết với nhau

Chúng đã giết, nhưng làm sao giết được Hồn chúng tôi quẩn quanh cùng đất nước Như bóng dừa ôm những xóm làng yêu Như bóng cò bay sớm sớm chiều chiều Như sông lạch vẫn tắm đồng xanh mát Như bóng biển vẫn dập dìu ca hát (Tố Hữu)

Về mặt hình thức, so sánh tu từ khác với mọi cách tu từ cấu tạo theo quan hệ liên tưởng ở chỗ bao giờ cũng công khai phô bày hai vế: vế so sánh và vế được so sánh Mỗi vế gồm một hay nhiều đối tượng Các đối tượng có thể là sự vật, tính chất, hành động Hình thức đầy đủ nhất của phép so sánh bao giờ cũng có các yếu

tố sau:

Các từ so sánh: như (tựa như, chừng như), bao nhiêu, bấy nhiêu, là, hóa, thành, …

Các hình thức so sánh lập thành công thức phổ biến sau:

A như (tựa như, chừng như) B

Ví dụ:

Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng (Trần Đăng Khoa)

A bao nhiêu B bấy nhiêu

Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu (Ca dao)

A là B.

Trong công thức so sánh kiều này, từ “là” có ý nghĩa và giá trị tương đương

từ so sánh “như” nhưng có sắc thái ý nghĩa khác Từ “như” có sắc thái ý nghĩa giả định, còn “là” có sắc thái khẳng định

Rất đậm hương và rộn tiếng chim (Tố Hữu)

A thành/hóa/hóa thành B

Trang 35

So sánh bậc nhất trong văn chương thường được thể hiện theo dạng: còn gì hơn, chưa bao giờ bằng, tuyệt vời,…

Ví dụ:

Không gì vui bằng mắt Bác Hồ cười

So sánh khác biệt

A + từ phủ định + như/là…

Ví dụ:

Giọng của ngươi không phải sấm trên cao

Có những trường hợp đảo trật tự so sánh:

Chòng chành như nón không quai Như thuyền không lái, như ai không chồng (Ca dao)

Có những trường hợp bớt cơ sở, thuộc tính so sánh, hoặc bớt từ so sánh

Đôi mắt người yêu, ôi vực thẳm

1.2.3 Câu và các thành phần câu

1.2.3.1 Câu

V.V Vinogradov định nghĩa “Câu là đơn vị hoàn chỉnh của lời nói được hình thành về mặt ngữ pháp theo các quy luật của một ngôn ngữ nhất định, làm công cụ quan trọng để cấu tạo, biểu thị tư tưởng Trong câu không phải chỉ có sự

Trang 36

truyền đạt về hiện thực mà còn có cả mối quan hệ của người nói với hiện thực” [57; tr.18]

Trong Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt, Nguyễn Kim Thản đưa ra định nghĩa “Câu

là đơn vị ngắn nhất và độc lập của lời nói, có chức năng thông báo sự kiện gì đó, có một tổ chức ngữ páp nhất định, một ngữ điệu nhất định Tính độc lập của câu thể hiện trước hết ở mặt ngữ pháp: nó không cón phhụ thuộc về ngữ pháp vào một yếu

tố nào khác trong lời nói; về mặt ngữ điệu, nó có ngữ điệu độc lập, trước và sau nó

có một quãng im lặng (trên chữ việt quãng im lặng ấy thể hiện bằng một trong những dấu “mạnh”: chấm, chấm than, chấm hỏi).

L C Thompson đưa ra định nghĩa “Ở tiếng Việt, các câu được tách ra khỏi nhau bởi những ngữ điệu kết thúc Một đoạn có một hay nhiều nhóm nghỉ, kết thúc bằng một ngữ điệu kết thúc và đứng sau một sự im lặng hay tiếp một đoạn khác cũng như vậy là một câu Sự độc lập của những yếu tố như vậy, sự phù hiệu hóa trong chữ viết bởi cách dùng một chữ hoa ở đầu câu và một dấu kết thúc (dấu

hình thức

Diệp Quang Ban định nghĩa “câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói hoặc kèm theo thái

độ, sự đánh giá của người nói giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ”

Theo Đỗ Thị Kim Liên, định nghĩa về câu của nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Diệp Quang Ban đáp ứng nhu cầu đầy đủ cả hai mặt nội dung và hính thức cấu tạo nên câu nhưng còn rườm rà Tác giả đã đưa ra định nghĩa về câu như sau:

“Câu là đơn vị dùng từ đặt ra trong quá trình suy nghĩ, được gắn với ngữ cảnh nhất định nhằm mục đích thông báo hay thể hiện thái độ đánh giá Câu có cấu tạo ngữ pháp độc lập, có ngữ điệu kết thúc” [42; tr.101]

Từ đó, tác giả đưa ra các đặc điểm của câu: câu có chức năng thông báo, có cấu tạo ngữ pháp độc lập và có ngữ điệu kết thúc

Theo cấu tạo ngữ pháp, câu được chia thành hai loại: câu đơn và câu ghép Câu đơn được phân chia thành câu đơn hai thành phần, câu đơn đặc biệt

Trang 37

Câu đơn hai thành phần là câu có hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ gắn bó chặt chẽ với nhau thông qua mối quan hệ ngữ pháp C – V và tạo nên một chỉnh thể thống nhất

Câu đơn đặc biệt là câu làm thành từ một từ hoặc một cụm từ (cụm danh, cụm động, cụm tính) Câu đơn đặc biệt được phân thành hai nhóm chính: câu đơn đặc biệt do danh từ (cụm danh từ) đảm nhận và câu đơn đặc biệt do vị từ đảm nhận

Câu ghép gồm hai hoặc hơn hai kết cấu C – V (hoặc hai trung tâm vị ngữ tính) trở lên, trong đó C – V này không bao hàm C – V kia Giữa chúng luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ thành một thể thống nhất về ý nghĩa Đặc điểm của câu ghép thứ nhất là vật liệu xây dựng nên câu ghép là các đơn vị có hai kết cấu C – V hoặc hai trung tâm vị ngữ tính trở lên; thứ hai là các kết cấu C – V (hoặc trung tâm

vị ngữ tính), không tồn tại riêng lẻ, rời rạc mà gắn kết chặt chẽ thành một thể thống nhất về ý nghĩa, không thể tùy ý lược bỏ một trong các vế; thứ ba về hình thức, giữa các nòng cốt C – V có quan hệ từ hoặc ngữ điệu liên kết

Phân loại câu ghép: câu ghép có quan hệ từ liên kết, câu ghép không có quan

hệ từ liên kết Câu ghép có quan hệ từ liên kết bao gồm câu ghép đẳng lập và câu ghép chính phụ Câu ghép không có quan hệ từ liên kết gồm có câu ghép qua lại, câu ghép có ngữ điệu liên kết

Phân loại câu theo mục đích phát ngôn, ta có câu trần thuật, câu nghi vấn, câu mệnh lệnh – cầu khiến, câu cảm thán

1.2.3.2 Các thành phần câu

Thành phần câu trong tiếng Việt được phân định thành phần chính và thành phần phụ Có nhiều tác giả Việt ngữ quan tâm đến việc phân loại các thành phần câu Nhóm tác giả Nguyễn Kim Thản, Lưu Vân Lang, Nguyễn Minh Thuyết, Diệp Quang Ban chia ra thành phần chính, thành phần phụ, thành phần biệt lập Nhóm tác giả Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Văn Hiệp phân chia ra thành phần chính và thành phần phụ Chúng tôi chọn cách phân loại thành phần câu ra thành phần chính và thành phần phụ Thành phần chính bao gồm chủ ngữ và vị ngữ, thành phần phụ bao gồm trạng ngữ, bổ ngữ, đề ngữ, định ngữ, tình thái ngữ, liên ngữ, giải ngữ

Trang 38

Chủ ngữ là thành phần chính của câu hai thành phần Chủ ngữ thường nêu lên nhân vật, sự vật, sự việc, hiện tượng, chủng loại… có quan hệ với vị ngữ, theo quan

hệ tường thuật Chủ ngữ có thể biểu hiện phong phú về từ loại và về cấu trúc Về từ loại, chủ ngữ có thể do danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ… đảm nhiệm

Ví dụ:

Khóm ngải tàn rồi khóm ngải lại xanh Câu hát hết rồi câu hát lại bắt đầu

(San Cha Chải, Ma Văn Kháng)

Về cấu trúc, chủ ngữ có thể là từ, cụm từ hay kết cấu C – V

Ví dụ:

Trên anh, vòm trời xanh thăm thẳm cổ kính, như một linh hồn thanh tao ẩn mật lớn lao đang tỏa xuống xóm thôn San Cha Chải niềm ưu ái thật dịu dàng và

nhân hậu thiết tha (San Cha Chải, Ma Văn Kháng)

Thông thường, chủ ngữ thường đứng trước vị ngữ, nhưng do mục đích tu từ,

vị ngữ có thể đảo lên trước chủ ngữ

Ví dụ:

Vô thanh cả trời đất, xóm làng San Cha Chải, vì từ sau hôm Pao áp điệu Cấu

Văn Kháng)

Vị ngữ là một trong hai thành phần chính của câu hai thành phần Vị ngữ thường nêu lên hành động, tính chất, tình hình của chủ ngữ Vị ngữ được biểu hiện phong phú về từ loại và cấu trúc Về từ loại, vị ngữ thường do động từ, tính từ đảm nhận

Ví dụ:

Nàng tỏa ra một từ trường lôi cuốn Nàng hút hồn tôi Nàng thôi miên mỗi chi tiết trên phố xá! Con ngựa tỉnh ngủ Cái cối đá tự quay Cả lớp rêu xanh màu kim khí bám trên bờ đá cũng khởi sắc Tôi đứng bên nàng như đứng giữa hai cực

tình trường, Ma Văn Kháng)

Vị ngữ do các từ loại khác đảm nhận như danh từ, số từ, đại từ

Trang 39

biên ải, Ma Văn Kháng)

Trạng ngữ là thành phần phụ của câu thường đứng đầu câu Ý nghĩa mà trạng ngữ biểu thị ý nghĩa tình huống, cách thức, thời gian, nơi chốn, mục đích, điều kiện, nhượng bộ, nguyên nhân… nhằm làm rõ thêm cho nội dung thông báo của câu

Ví dụ:

Trên núi, những đám đốt nương khi chiều đã cháy lan thành những vòng

Văn Kháng)

Đề ngữ là thành phần phụ của câu thường đứng trước nồng cốt câu chính để nêu lên một sự việc, sự vật, tình trạng… với mục đích nhấn mạnh như một chủ đề

Ví dụ:

Y miệng méo, chân khoèo, tay lệch, dáng đi ngật ngưỡng, kiểu người tiên

thiên bất túc Thân xác tật nguyền ấy là hệ quả của một đời sóng gió, lăn lóc bất tận trong tranh đấu và trường tình (Seo Ly, kẻ khuấy động tình trường, Ma Văn Kháng)

Liên ngữ thường đứng ở đầu câu để liên kết câu chứa nó và câu đứng ở phía trước

Trang 40

thì sặc sỡ năm mầu biến thành những chiếc chuông nhỏ rung rinh trên các vòm cây

Giải ngữ là thành phần phụ của câu, được chen vào giữ nòng cốt C – V để làm sáng tỏ thêm một phương diện nào đó có liên quan gián tiếp đền cả câu: bình luận, giải thích, xuất xứ, làm rõ thái độ, cách thức, bình chú…

Ví dụ:

Gia đình, giọt nước của biển cả, cá thể của xã hội, liệu có vững vàng trong

vườn, Ma Văn Kháng)

Phố huyện biên giới, trong cuộc sống loạn ly triền miên, nơi hoành hành của thói hung tàn, bạo ngược miền phiên trấn, vốn là nơi tụ lại rồi tan đi, tan đi rồi tụ lại của bao kiếp người lầm than, cơ cực, bị xô đẩy, như hạt cát nhỏ, như những cái

quét chợ Mường Cang, Ma Văn Kháng)

Về định ngữ, Nguyễn Văn Tu định nghĩa “thành phần phụ của cụm danh từ

có chức năng bổ sung thêm cho thành phần chính bằng quanh hệ phụ thuộc, chỉ ra các thuộc tính, tính chất của người, vật, sự vật, hiện tượng do danh từ làm thành phần chính gọi tên”

Nguyễn Minh Thuyết định nghĩa “định ngữ là thành phần phụ có thể đứng trước nồng cốt câu hoặc chen vào giữa chủ ngữ và vị ngữ, có nhiệm vụ biểu thị ý nghĩa hạn định về tình thái hoặc cách thức cho sự tình được nêu trong câu”

Như vậy, định ngữ là thành phần phụ của câu, đứng sau danh từ bổ sung ý nghĩa cho danh từ để cấu tạo nên danh ngữ

Ví dụ:

Seo Ly thật là một điển hình của một cuộc đời phụ nữ Mèo bị vùi dập trong thung lũng đau thương, nhờ ánh sáng cuộc đời mới, nay đã nở hoa trên đỉnh non xanh thắm. (Seo Ly, kẻ khuấy động tình trường, Ma Văn Kháng)

Bổ ngữ là thành phần câu có mặt do có sự đòi hỏi của sự thể nêu ở vị tố (động

từ, tính từ, từ chỉ quan hệ) nằm trong vị ngữ, là phần “nêu cho đủ”, tức là nếu không

có nó thì sự việc diễn đạt trong câu chưa trọn vẹn [42; tr.35-36]

Ngày đăng: 07/05/2021, 18:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w