1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học (điển cứu tại trường tiểu học nguyễn huệ và trường tiểu học lê lợi, huyện thống nhất, tỉnh đồng nai)

268 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 268
Dung lượng 2,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát hiện của nghiên cứu cho thấy quyết định của cha mẹ có ảnh hưởng khá nhiều đến việc trẻ có tham gia hoạt động ở trường không.Nhà thờ có vai trò vượt trội hơn UBND xã trong việc đáp ứ

Trang 1

-

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC EURÉKA

LẦN THỨ XV NĂM 2013

TÊN CÔNG TRÌNH

VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH, NHÀ TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI

TRONG VIỆC ĐÁP ỨNG NHU CẦU GIẢI TRÍ

CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC

(Điển cứu tại trường tiểu học Nguyễn Huệ và Lê Lợi, Huyện Thống Nhất, Tỉnh Đồng Nai)

Phan Kiều Khanh (CN)

Nguyễn Thị Nguyên

Nguyễn Thị Phương Thảo

Nguyễn Thị Hoài Thu

Hoàng Nguyễn Đình Hưng (CTV)

Lưu Thanh Hưng (CTV)

ThS Nguyễn Thị Hồng

LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: Xã hội và nhân văn

CHUYÊN NGÀNH : Xã hội học

Mã số công trình : ………

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TÓM TẮT ĐỀ TÀI 1

PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU 2

PHẦN 2: NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 9

1.1 Lý thuyết áp dụng 9

1.2 Cách tiếp cận 12

1.3 Một số khái niệm liên quan 13

1.4 Vài nét về địa bàn và mẫu nghiên cứu 14

CHƯƠNG 2: NHU CẦU GIẢI TRÍ CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC 16

2.1 Trong hoạt động vui chơi 16

2.2 Trong hoạt động nghệ thuật 23

CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH, NHÀ TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI TRONG VIỆC ĐÁP ỨNG NHU CẦU GIẢI TRÍ CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC………31

3.1 Vai trò của gia đình trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học 31

3.2 Vai trò của nhà trường trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học 43

3.3 Vai trò của xã hội trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học 57

3.4 Liên kết giữa gia đình – nhà trường – xã hội trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học 74

PHẦN BA: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

PHỤ LỤC 95

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TCN: Trước công nguyên

TH: Tiểu học

THCS: Truong học cơ sở

TNTP: Thiếu niên tiền phong

UBND: Ủy ban nhân dân

Trang 4

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Mục tiêu của đề tài là tìm hiểu nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học ở hai trường tiểu học trong mẫu điển cứu, bên cạnh đó tìm hiểu vai trò và khả năng đáp ứng nhu cầu giải trí cho trẻ từ phía gia đình, nhà trường và xã hội, từ đó nêu lên những suy nghĩ mang tính khuyến nghị nhằm giúp nhu cầu giải trí của trẻ được thỏa mãn đầy đủ hơn

Trong đề tài này, lý thuyết cấu trúc chức năng, lý thuyết lựa chọn hợp lí và lý thuyết nhu cầu được sử dụng xuyên suốt.Bên cạnh đó, đề tài sử dụng cách tiếp cận lối sống và tiếp cận văn hóa.Về phương pháp nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp thu thập thông tin định tính (thu thập tư liệu sẵn có, phỏng vấn sâu, quan sát) và thu thập thông tin định lượng (phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi) trên 200 học sinh của hai trường TH Nguyễn Huệ và Lê Lợi Đồng thời đề tài kết hợp phương pháp mã hóa và xử lí thông tin Thông tin thu được từ cuộc nghiên cứu đã cho thấy nhu cầu giải trí của học sinh trong khu vực điển cứu là khá lớn, tuy nhiên việc đáp ứng nó lại chưa thực sự tốt từ phía gia đình, nhà trường và xã hội Những khó khăn và kinh tế và sự giới hạn trong nhận thức

đã làm cho cha mẹ không thể đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con Đối với nhà trường, những khó khăn xuất phát từ nguồn kinh tế eo hẹp và sự liên kết giữa các bộ phận trong nhà trường chưa chặt chẽ cùng sự thay đổi thất thường của thời tiết đã làm giảm đi khả năng đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh Phát hiện của nghiên cứu cho thấy quyết định của cha mẹ có ảnh hưởng khá nhiều đến việc trẻ có tham gia hoạt động ở trường không.Nhà thờ có vai trò vượt trội hơn UBND xã trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học thông qua những hoạt động và sự quan tâm đến các em.Cuối cùng, nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa ba môi trường gia đình – nhà trường – xã hội chưa chặt chẽ để tạo được điều kiện tốt nhất cho trẻ thỏa mãn nhu cầu giải trí của mình.Bên cạnh đó, việc đạt chuẩn Quốc gia có thuận lợi cho nhà trường trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh.Tuy nhiên điều đó đồng nghĩa với việc áp lực học tập của học sinh nặng nề hơn khiến các em không tận dụng được hết lợi ích từ những hoạt động nhà trường tổ chức

Trang 5

Theo lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh, trẻ em như búp trên cành, biết ăn biết ngủ biết học hành là ngoan, trẻ em mà trong đó đặc biệt là các em ở độ tuổi học sinh tiểu học

là một thành phần cần nhận được nhiều sự quan tâm của cả xã hội Góp phần tạo nên sự phát triển toàn diện cho trẻ ở lứa tuổi này ngoài việc thỏa mãn các nhu cầu ăn, ngủ, học tập… của các em còn là việc đáp ứng những nhu cầu giải trí Bởi đây là độ tuổi chuyển đổi từ lứa tuổi mẫu giáo sang lứa tuổi nhi đồng, và hoạt động vui chơi giải trí đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách của trẻ Các nhà khoa học trên thế giới cũng đều nhất trí rằng, trẻ em phát triển và hình thành thể chất, trí tuệ, nhân cách một

cách toàn diện một phần là nhờ tham gia các hoạt động vui chơi - giải trí phù hợp

Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012-2020 đã nhấn mạnh đến các hoạt động văn hóa, thể thao, giải trí… đối với sự phát triển toàn diện của trẻ, cũng như vai trò của gia đình, nhà trường và cộng đồng trong việc đáp ứng những nhu cầu này Gia đình – nhà trường – xã hội là ba giai đoạn xã hội hóa trong cuộc đời của mỗi con người Gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên và quan trọng nhất, là nơi trẻ tiếp xúc đầu tiên để học những bài học vỡ lòng, là nơi có ảnh hưởng quan trọng nhất đến việc phát triển toàn diện và hình thành nhân cách của trẻ Đứa trẻ bắt đầu học về thế giới xung quanh ngay từ khi nó được sinh ra, và vì thế mà những người trong gia đình đã trở thành một thành phần trong xã hội ban đầu của đứa trẻ Chính trong gia đình này, đứa trẻ được người ta cung cấp những nhu cầu bằng cách cho bú, vệ sinh, ẵm bồng và vỗ về1 Gia đình cũng là nơi có vai trò trong việc đáp ứng những nhu cầu giải trí của trẻ Nhà trường là môi trường xã hội hóa có vai trò quan trọng khi trẻ đến tuổi đi học Ở đây, trẻ được học văn hóa, học về những giá trị và tập quán của xã hội, học kiến thức Ở độ tuổi này, nhà

1Richard T Schaefer (2005), Xã hội học, Nhà xuất bản Thống kê, trang 131

Trang 6

trường giữ vai trò quan trọng trong việc giáo dục trẻ, bởi đây là môi trường trẻ tiếp xúc hằng ngày, là nơi trẻ dành phần lớn thời gian để phát triển cả trí lực và thể lực Bên cạnh gia đình và nhà trường, xã hội mà trong đó là hệ thống các thiết chế cũng như các tổ chức

xã hội khác mà trẻ tham gia cũng góp phần quan trọng tác động đến quá trình xã hội hóa

cá nhân của trẻ Như vậy, cùng với nhau, gia đình – nhà trường – xã hội luôn có một vai trò quan trọng nhất định nào đó trong việc giúp trẻ phát triển một cách toàn diện, trong đó việc đáp ứng nhu cầu giải trí là một ví dụ điển hình

Theo số liệu nghiên cứu của Tổng cục dân số - Kế hoạch hóa gia đình, năm 2005 Việt Nam có Tỷ lệ thanh thiếu niên đã từng được đi học ở thành thị là 98,6% và 95,4% ở nông thôn Vấn đề đặt ra là với tỉ lệ trẻ em ở nông thôn được đi học ít hơn trẻ em ở thành thị có làm giảm khả năng đáp ứng nhu cầu giải trí cho trẻ từ phía nhà trường hay không Bước đầu tìm hiểu về nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học, những câu hỏi được đặt

ra là Thực trạng việc giải trí hiện tại của học sinh tiểu học được diễn ra như thế nào? Trẻ

có nhu cầu giải trí như thế nào? Có hay không sự khác nhau về nhu cầu giải trí giữa những nhóm học sinh có một số đặc điểm nhân khẩu xã hội khác nhau? Gia đình – nhà trường – xã hội có vai trò như thế nào trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học? Chính những câu hỏi nêu trên đã thôi thúc chúng tôi thực hiện đề tài “Vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc đáp ứng nhu cầu của học sinh tiểu học”

(Điển cứu tại trường tiểu học Nguyễn Huệ và trường tiểu học Lê Lợi, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai)

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Việc học tập và vui chơi giải trí của trẻ em là lĩnh vực được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Trong đó, những nghiên cứu tập trung chủ yếu vào từng vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học

2.1 Vai trò của gia đình trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của trẻ em

Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Anh (2008) đã đề cập đến vai trò của gia đình trong việc giáo dục đạo đức của thế hệ trẻ, chính tại gia đình, qua những câu chuyện được kể, trẻ nhận biết được những việc nên làm và không nên làm trong cuộc sống, nhận biết cái thiện

và cái ác, và từ đó nhận thức và hình thành nên những “hàng rào miễn dịch” chống lại những hành vi xấu ở trẻ Đây là một tác dụng tích cực từ việc vui chơi giải trí đến việc hình thành nhân cách của trẻ Hơn thế nữa, sự quan tâm của cha mẹ có ảnh hưởng lớn

Trang 7

đến kết quả học tập của con cái Trong nghiên cứu của Phan Thị Thu Hiền (2006) đã thể hiện được hoạt động cùng tham gia của cha mẹ trong học tập của con cái ở nhà như giúp

đỡ con làm bài tập, giải đáp thắc mắc các môn học cho con, làm không gian và thời gian học tập cùng con, đây là một yếu tố thúc đẩy cho việc học tập của con cái có kết quả tốt hơn, vì cha mẹ là nguồn động viên tinh thần to lớn, cũng như là nguồn kiểm soát và tạo động lực cho con cái học tập hiệu quả, do đó, chính sự tương tác chặt chẽ đó, cha mẹ là những người nắm bắt được nhu cầu giải trí của con cái nhiều nhất và nếu thiếu vai trò của cha mẹ trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học là một thiếu hụt khá lớn Góp phần khẳng định vai trò của gia đình đối với hoạt động giải trí của trẻ, nghiên cứu của Lê Mỹ Dung (2010) đã đưa ra nguyên nhân của vẫn đề khó khăn tâm lí trong hoạt động học tập của học sinh lớp 3, đó là chính do trẻ không nhận được sự quan tâm chăm sóc thường xuyên về vật chất lẫn tinh thần, tình cảm và sự giáo dục của cha mẹ, nên trẻ không có sự phát triển tốt nhất về vật chất lẫn tinh thần Gia đình sẽ là nơi có ảnh hưởng lớn đến đời sống tâm lí của trẻ, và như vậy hoạt động vui chơi ở gia đình phải được coi trọng Kĩ năng sống ở gia đình được tác giả Tạ Thị Ngọc Thanh (2010) nhắc đến, cha mẹ cần phải hiểu rõ những kĩ năng sống cần được dạy cho trẻ như lễ phép, cha mẹ cần chơi chung với trẻ và chuyện trò nhiều hơn để tăng hiệu quả giáo dục kĩ năng sống và góp phần thỏa mãn nhu cầu được giải trí, giao lưu tình cảm ở trẻ Chính sự quan tâm từ cha

mẹ đối với trẻ sẽ giúp trẻ phát triển và hoàn thiện nhân cách và thỏa mãn nhu cầu tinh thần

Tuy gia đình có vai trò quan trọng đối với trẻ trong hoạt động giải trí, nhưng khả năng đáp ứng của gia đình về vấn đề này vẫn còn nhiều khập khiễng, thiếu sự quan tâm Bàn về vấn đề này, tác giả Nguyễn Hữu Minh(2006) đã làm rõ điều kiện kinh tế kém của gia đình, như: gia đình không đầy đủ, thiếu cha hoặc thiếu mẹ hay li dị, cha mẹ có trình

độ học vấn thấp,sự gắn kết trong gia đình, những xung đột trong gia đình, cha mẹ nghiện rượu, say xỉn đây là nguyên nhân làm gia tăng nguy cơ xuất hiện những vấn đề về tổn hại tinh thần cho các em vị thành niên, qua đó cho thấy yếu tố gia đình là một chỗ dựa tinh thần to lớn để các em hình thành nhân cách cũng như được đáp ứng những nhu cầu

cơ bản nhất Một vấn đề nữa đang tồn tại chính yếu trong nhiều gia đình hiện nay chính

là khác biệt giới, trong nghiên cứu của tác giả Trịnh Hòa Bình (2005) đã làm rõ về việc hiểu con cái của cha mẹ, cụ thể tỉ lệ nữ hiểu về con cái cao hơn nam (với nữ là 65.1% và nam là 65.8%), từ đó đã làm nổi lên đặc điểm, nữ giới giành nhiều thời gian quan tâm

Trang 8

đến con cái hơn người nam, lí do được nhiều người đồng ý do vai trò giáo dục con cái là nhiệm vụ nghiêng về nữ giới, sự chênh lệch về sự quan tâm và hiểu con cái giữa cha và

mẹ đã ảnh hưởng nhiều đến chất lượng giáo dục con cái Tác giả còn tìm hiểu về sự khác nhau giữa nông thôn và thành phố về những điều kiện đáp ứng nhu cầu của con cái, theo

đó, trẻ em ở khu vực nông thôn chịu thiệt thòi hơn ở khu vực thành thị, bởi vì cha mẹ chúng phải lo nhiều vấn đề “cơm áo gạo tiền” và không còn nhiều thời gian, điều kiện để quan tâm con cái, hơn thế nữa, cha mẹ ở thành thị có tỉ lệ hiểu biết con cái nhiều hơn nông thôn (69% ở thành thị và 59.58% ở nông thôn)

Hoạt động giải trí trong nhà trường còn có vai trò hình thành kĩ năng sống và gia tăng vốn xã hội cho học sinh Vũ Minh Tuấn (2010) khi nghiên cứu về việc giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh tiểu học đã cho thấy, thông qua hoạt động ngoại khóa, giáo viên tổ chức hình thức hoạt động vui chơi giải trí tạo một môi trường thân thiện, hòa đồng và cùng phát triển Ngoài việc vui chơi để giảm căng thẳng, vui chơi để tăng tính cộng đồng và đoàn kết thì hoạt động này còn hướng đến giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh là hướng đi mới trong việc nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay Cùng quan điểm này, tác giả Trương Quang Dũng (2008) đánh giá rằng nhu cầu giải trí của trẻ em là tương đối cao nhưng các em còn ngại tham giao vào các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Một số học sinh có năng lực thì dành thời gian chủ yếu chuyên tâm vào việc học văn hóa, số còn lại chưa tích cực thì dành thời gian vào việc vui chơi giải trí, nhất là các trò chơi điện tử, các thông tin lệch lạc trên mạng

Nguyễn Thị Mai Hà (2006) cho rằng học sinh tiểu học không chỉ tiếp thu kiến thức,

kĩ năng qua hoạt động vui chơi có tính chất kinh nghiệm mà chủ yếu thông qua các chương trình các môn học có tình hệ thống và khoa học Thông qua đó, chúng ta cũng có thể ngầm hiểu rằng trẻ em cần được chú trọng vào những môn khoa học mang tính hệ thống cao Cũng theo ý kiến này thì hoạt động vui chơi giải trí cho trẻ em không phải là vấn đề quan trọng như những tác giả trước đó có bày tỏ quan điểm của mình Cũng trong một nghiên cứu vào năm 2006 về các học sinh nữ trung học phổ thông dân tộc thiểu số, Nguyễn Thị Mai Hà đã cho thấy rằng học sinh nữ ở những nơi này thường có mối quan

hệ xã hội hạn chế Các em ít tiếp xúc, rụt rè, ngại tham gia vào các hoạt động xã hội Điều đó cho thấy nhu cầu tham gia các hoạt động cộng đồng nói chung và các hoạt động giải trí tập thể nói riêng là rất cần thiết để các em có thể tự tin hơn vào chính mình khi

Trang 9

bước vào đời sống xã hội Chính vì vậy, nhu cầu giải trí của các em cần được quan tâm hơn nữa

Bên cạnh những nghiên cứu, bài báo khoa học về hai chủ đề gia đình và nhà trường trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học, nhóm nghiên cứu còn tổng quan những đề tài liên quan đến vấn đề vai trò của xã hội trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của trẻ em nói chung và học sinh tiểu học nói riêng

2.2 Vai trò của xã hội trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của trẻ em

Nước ta có khoảng 23,63 triệu trẻ em, chiếm 27,5% dân số, trong đó 1,53 triệu em

có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Số lượng trẻ em tăng dần theo từng năm (dự báo sau năm 2020 tỷ lệ dân số trẻ em sẽ tăng lên 30%) Trong khi đó, số lượng điểm vui chơi, giải trí tăng không đáng kể Năm 2003, hệ thống nhà văn hóa thiếu nhi cấp tỉnh và cấp huyện là 274, năm 2005 tăng lên 304, năm 2008 tăng lên 307 Hiện cả nước mới có khoảng 148 điểm vui chơi cấp tỉnh, hơn 770 điểm vui chơi cấp huyện, khoảng 4.200 điểm vui chơi cấp xã, phường, 3.673 nhà văn hóa cấp xã, 37.134 nhà văn hóa thôn, bản điều này cho thấy, việc đáp ứng nhu cầu giải trí cho các em còn quá hạn chế

Nói sâu hơn về nhu cầu giải trí của trẻ em hiện nay, tác giả Anh Khôi (2012) cũng đưa ra những bằng chứng chứng minh: nhu cầu này ở trẻ em là rất lớn nhưng chưa được quan tâm đúng mức Trẻ em ở ngoại thành vẫn phải lấy hồ, ao làm nơi tập bơi, lấy diện tích công cộng hiếm hoi còn sót lại làm sân bóng đá Trên thực tế, ở vùng nông thôn, miền núi, các em phải tự tìm sân chơi cho mình với những trò chơi: đá cầu, nhảy dây, bắn

bi … hoặc rủ nhau tắm ở sông, suối, hồ, ao; chơi ở ven đường quốc lộ đi qua thôn với nhiều nguy hiểm rình rập khi không có sự giám sát của người lớn Tại thành phố, khi thành phố càng mở rộng, càng hiện đại thì sân chơi càng thu hẹp, nhường chỗ cho các công trình xây dựng nhà chung cư, các khu biệt thự, khu công nghiệp… Do không có sân chơi, nhiều em đã dùng vỉa hè làm sân bóng, sa đà vào các trò chơi nguy hiểm, hay game online không lành mạnh Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của các em Tại các khu đô thị, các huyện, các tỉnh, nhà thiếu nhi không phải nơi nào cũng có;

có nơi có địa điểm nhưng lại không dung nạp được nhu cầu của giới trẻ Điều này lại một lần nữa khẳng định vui chơi giải trí là một nhu cầu văn hóa không thể thiếu của con người, đặc biệt đối với trẻ em Các hoạt động vui chơi, giải trí lành mạnh rèn luyện cho trẻ những phẩm chất cơ bản về trí tuệ, đạo đức, thể chất theo quy luật của cái đẹp Cũng cần tăng cường tổ chức các hoạt động sinh hoạt tập thể tại các trung tâm học tập cộng

Trang 10

đồng, nhà văn hoá thôn, cụm dân cư để các em giao lưu, kết bạn, tham gia các hoạt động

xã hội, giúp các em có điều kiện hiểu biết thêm về cuộc sống Xây dựng mạng lưới các trung tâm vui chơi, giải trí, các nhà thiếu nhi cấp tỉnh và cấp huyện, điểm vui chơi giải trí cấp xã hoặc liên xã dành cho trẻ em các khu đô thị, các trung tâm thương mại phải có khu vực vui chơi, giải trí dành cho trẻ em; khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư xây dựng cơ sở văn hóa, vui chơi, giải trí, thể dục, thể thao dành cho trẻ em cần

mở nhiều lớp học kỹ năng cho các em như võ thuật, cờ vua, bóng đá, bơi, thể dục nhịp điệu, thanh nhạc, organ, guitar, piano, múa, mỹ thuật; các chương trình đào tạo kỹ năng khám phá, thể hiện cảm xúc, giao tiếp, ứng xử, kỹ năng thuyết trình…điều này cho thấy nhu cầu mong muốn được tham gia những lớp học như vậy của trẻ là rất cao Thế nhưng vấn đề này chưa được đáp ứng nên mới có những cuộc họp và khuyến nghị mở cửa các sân chơi cho trẻ

Việc đáp ứng những nhu cầu của trẻ về vấn đề giải trí của xã hội nhìn chung còn rất hạn chế Vẫn còn nhiều tư tưởng cho rằng đây không phải là vấn đề quan trọng nên những nơi trẻ có thể vui chơi không hề được đề cao như thế nào là tốt cho trẻ và như thế nào là một sân chơi an toàn cho sự phát triển của trẻ Tuy nhiên, bên cạnh đó còn rất nhiều chương trình cũng như kế hoạch được đưa ra thực hiện nhằm giải quyết những khó khăn trong việc giải trí của trẻ em

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học ở hai trường tiểu học Nguyễn Huệ

và Lê Lợi

- Tìm hiểu khả năng đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học từ phía gia đình, nhà trường và xã hội

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp thu thập thông tin

Đề tài thu thập thông tin bằng phương pháp:

+ Phân tích tư liệu sẵn có Dựa vào những tài liệu thu thập được liên quan đến đề tài

và những tài liệu của địa phương, nhóm nghiên cứu tiến hành phân tích những tư liệu liên quan đóng góp cho nội dung của đề tài

+ Bảng hỏi Đề tài thực hiện khảo sát ý kiến 200 học sinh bằng 200 bảng hỏi

Trang 11

+ Phỏng vấn sâu Đề tài thực hiện 12 cuộc phỏng vấn sâu với các tiêu chí như sau: 3 học sinh nữ, 1 học sinh nam, 2 tổng phụ trách, 1 chủ khu vui chơi nhà văn hóa xã, 1 phó chủ tịch xã, 2 phụ huynh học sinh, 1 giáo viên chủ nhiệm

4.2 Phương pháp chọn mẫu

Đề tài lựa chọn cách chọn mẫu xác suất không đều (một hình thức của mẫu hạn ngạch) Dung lượng mẫu là 200, trong đó mỗi trường thuộc khu vực điển cứu là 100 Mỗi khối của mỗi trường điển cứu chọn ra 20 học sinh bằng phương pháp ngẫu nhiên hệ thống

Trang 12

PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Lý thuyết áp dụng

1.1.1 Lí thuyết cấu trúc chức năng của Talcott Parson

Lí thuyết cấu trúc chức năng chú trọng tính liên kết chặt chẽ giữa các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể thống nhất Trong mỗi chỉnh thể như vậy, mỗi bộ phận sẽ đảm nhiệm chức năng nhất định, mỗi bộ phận không chỉ tồn tại độc lập mà còn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, tạo ra cỗ máy hệ thống xã hội vận hành nhịp nhàng ổn định, bền vững

Là người có công lớn trong việc xây dựng nên chủ thuyết này, Talcott Parsons cho rằng chức năng là những nhu cầu, là những yêu cầu, những đòi hỏi của hệ thống đối với từng

bộ phận cấu thành của nó

Thuyết hệ thống xã hội của T.Parsons, “xã hội là một kiểu hay loại hệ thống xã hội

đáp ứng được tất cả các đòi hỏi chức năng cơ bản của sự tồn tại lâu bền từ các nguồn lực bên trong của nó Hệ thống xã hội là hệ thống của các quá trình tương tác giữa các tác nhân, do đó, Parsons cho rằng, cấu trúc của hệ thống xã hội về cơ bản là cấu trúc của các mối liên hệ giữa các tác nhân tham gia vào quá trình tương tác” 2 Theo đó, hệ

thống xã hội sẽ gồm nhiều tiểu hệ thống, mỗi tiểu hệ thống sẽ đảm nhiệm một chức năng riêng biệt và có sự tác động khá chặt chẽ với nhau trong việc đáp ứng nhu cầu xã hội Để minh chứng cho lí thuyết của mình, Parsons đã đưa ra sơ đồ lý thuyết hệ thống xã hội viết tắt là AGIL theo bốn chữ cái của bốn tiểu hệ thống, tương ứng với bốn lại nhu cầu hay bốn loại chức năng cơ bản của hệ thống xã hội

Một là: thích ứng (Adaptation – kí hiệu là A) với môi trường tự nhiên –vật lí xung quanh

Hai là: Hướng đích (Goal Attainment- G) - huy động các nguồn lực nhằm vào các mục đích đã xác định

Ba là: Liên kết ( Integration – I) phối hợp các hoạt động, điều hòa và giải quyết những khác biệt, mâu thuẫn

Bốn là: Duy trì khuôn mẫu lặn (Latent – Pattern Maintenance – L) – tạo ra sự ổn định, trật tự

2 Lê Ngọc Hùng (2010), Lịch sử và lí thuyết xã hội học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia

Hà Nội

Trang 13

Trong hệ thống xã hội, tiểu hệ thống (A) có chức năng cung cấp các phương tiện, nguồn lực và năng lượng để thực hiện các mục đích đã xác định Trong hệ thống xã hội, đây là tiểu hệ thống kinh tế

Tiểu hệ thống mục đích (G) đóng vai trò xác định các mục tiêu và định hướng cho toàn bộ hệ thống vào việc thực hiện mục đích đã xác định Tiểu hệ thống hướng đích trong xã hội chính là hệ thống chính trị với các tổ chức đảng phái và các cơ quan chính quyền trung ương và chính quyền địa phương cùng các cơ quan quyền lực khác

Tiểu hệ thống liên kết (I) thực hiện chức năng gắn kết các cá nhân, các nhóm và tổ chức xã hội, đồng thời kiểm soát xã hội thông qua giám sát, kiểm tra, điều chỉnh, trừng phạt để giải quyết các quan hệ mâu thuẫn, xung đột nhằm tạo nên sự ổn định, sự đoàn kết

và trật tự xã hội Tiểu hệ thống liên kết gồm các cơ quan pháp luật, cơ quan hành chính

và bộ máy an ninh xã hội

Để tồn tại một cách ổn định và trật tự, mỗi xã hội cần phải có tiểu hệ thống bảo tồn

(L) thực hiện chức năng kích thích, động viên các cá nhân và nhóm xã hội, đồng thời

đảm nhiệm chức năng quản lí và bảo trì các khuôn mẫu hành vi, ứng của của các thành viên Tiểu hệ thống L bao gồm gia đình, nhà trường, tổ chức văn hóa, tôn giáo, khoa học, nghệ thuật Thông qua các cơ chế xã hội hóa, hợp thức hóa và thiết chế hóa hệ các giá trị, chuẩn mực xã hội có khả năng đáp ứng nhu cầu duy trì các kiểu hành động, các khuôn mẫu hành vi để đảm bảo trật tự, ổn định, cân bằng và an toàn xã hội Gia đình, nhà trường, và các tổ chức xã hội thuộc tiểu hệ thống bảo tồm L, điều đó đã tạo cơ sở cho việc xác định vai trò của 3 thiết chế này đối với học sinh tiểu học trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí

Áp dụng lí thuyết này vào việc tiếp cận lí giải đề tài cho thấy gia đình, nhà trường

và xã hội thực nằm trong nhóm Liên kết (L) đảm nhiệm vai trò trong việc quản lí, tạo điều kiện cho các cá nhân thỏa mãn những nhu cầu của mình, góp phần tuân thủ theo những quy tắc được xã hội coi trong, như thế ba môi trường này không những góp phần vào cho cá nhân phát triển mà còn đảm bảo tính vận hành tốt của toàn hệ thống xã hội Mỗi môi trường này được coi như một tiểu hệ thống góp phần quản lí và đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh Trong mỗi trường gia đình, nhà trường và xã hội với những đặc tính chuyên biệt của mình, các tiểu hệ thống này có vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của trẻ một cách toàn diện nhất

1.1.2 Lí thuyết lựa chọn hợp lí

Trang 14

Thuyết lựa chọn hợp lí với nội dung trọng tâm trong việc luôn cho rằng con người luôn luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ tính toán hợp lí dựa vào những nguồn lực đang có của bản thân để đạt được kết quả tối ưu nhất Theo Marx, mục đích tự giác của con người như là quy luật quyết định toàn bộ cấu trúc, nội dung, tính chất, phương pháp của hành động và ý chí của con người

Thuyết lựa chọn hợp lí không chỉ giải thích thành viên của xã hội trên cấp độ vi mô – hành động cá nhân Thuyết này được xây dựng, phát triển để xem xét hoạt động chức năng của các hệ thống và thiết chế kinh tế, xã hội, tức là trên cấp độ vĩ mô Nó được dùng làm phương pháp tiếp cận hành động của cá nhân, của nhóm và chức năng của cả hệ thống

Qua đó, nếu muốn đánh giá, phân tích giữa nhu cầu và hoạt động giải trí thực tế của trẻ học sinh phải dựa trên đánh giá về các nguồn lực mà chính bản thân trẻ đang có, cũng như xem xét những yếu tố khác về điều kiện gia đình, sự phổ biến của các loại hình giải trí Về phía các nhóm xã hội, khả năng đáp ứng nhu cầu giải trí của trẻ cũng dựa trên những tiêu chí nhất định về vốn đầu tư, con người quản lí, cơ sở vật chất, để có thể đánh giá một cách toàn diện nhất trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học

1.1.3 Lí thuyết nhu cầu của Maslow

Tháp nhu cầu của Maslow (1970) được nhà tâm lí học Abraham Maslow đưa ra vào năm 1943 Theo Maslow, về văn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao

Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lí của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ, những nhu cầu này là những nhu cầu thiết yếu nhất đối với con người, vì nếu những nhu cầu này không được đáp ứng thì con người khó có thể tồn tại và duy trì cuộc sống

Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, vui vẻ, địa vị

xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân,

Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên trước so với những nhu cầu bậc cao

Đồng thời nhu cầu vừa mang tính sinh học (đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển sinh hoạt của con người), vừa mang tính xã hội (được đáp ứng nhờ nền sản xuất xã hội) bị quy định bởi văn hóa cộng đồng, mỗi nền văn hóa thì nhu cầu khác nhau Chẳng hạn, ở mỗi nhóm dân tộc sẽ có nhu cầu về thức ăn, loại trang phục khác nhau,

Trang 15

Tháp nhu cầu của Maslow 3

Cấu trúc tháp nhu cầu có 5 tầng, trong đó, những nhu cầu con người được liệt kê theo một thứ tự bậc hình tháp kiểu kim tự tháp

Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy phải được thỏa mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thỏa mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới đã được đáp ứng đầy đủ

Theo tháp nhu cầu trên, thì nhu cầu giải trí thuộc phạm vi nhu cầu văn hóa, nhu cầu tinh thần gồm nhu cầu được giao tiếp, thưởng thức, vui chơi, giải trí, và như vậy nhu cầu giải trí thuộc nấc thang thứ ba là nhu cầu xã hội Nhu cầu giải trí là một nhu cầu thiết yếu của con người, đặc biệt trong lứa tuổi tiểu học, giải trí không chỉ để thỏa mãn nhu cầu tinh thần mà còn là cách để trẻ tiếp nhận bài học cuộc sống cần thiết cho sự phát triển toàn diện

1.2 Cách tiếp cận

1.2.1 Cách tiếp cận lối sống

Lối sống của con người là các chiều cạnh chủ quan của văn hóa, là quá trình hiện thực hóa các giá trị văn hóa thông qua hoạt động sống của con người Lối sống bao gồm tất cả những hoạt động sống và phương thức tiến hành các hoạt động sống được một bộ phận lớn hoặc toàn thể nhóm hay cộng đồng người chấp nhận và thực hành trong một khỏang thời gian tương đối ổn định, đặt trong mối tương tác biện chứng của các điều kiện sống hiện hữu và trong các mối liên hệ lịch sử của nó4

Như vậy, mỗi cộng đồng người, mỗi nhóm xã hội đều có những lối sống khác nhau đặc trưng bởi hoạt động sản xuất kinh tế cũng như yếu tố văn hóa Không chỉ gói gọn trong những hoạt động mang tính chất thiết yếu như ăn uống, ngủ nghỉ, mà lối sống còn chi phối khá lớn đến việc thỏa mãn nhu cầu vui chơi, cũng như trong việc đáp ứng của các thiết chế liên quan đang chịu ảnh hưởng từ lối sống đó Trong cách tiếp cận này, khi

đề cập đến nhu cầu vui chơi của học sinh tiểu học, cần làm rõ về đặc điểm lối sống của khu vực các em đang sinh sống, trong đó liên quan đến yếu tố vùng miền, tôn giáo, đồng thời, phải đặt gia đình, nhà trường và xã hội trong mối liên hệ với lối sống

3 Theo Wikimedia (http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1p_nhu_c%E1%BA%A7u_c%E1%BB%A7a_Maslow)

4 Phạm Hồng Tung (2007), Nghiên cứu về lối sống: Một số vấn đề về khái niệm và cách tiếp cận , Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 23 (2007) 271-

278

Trang 16

của địa phương để làm rõ được vai trò của các môi trường này như thế nào trong việc thỏa mãn nhu cầu giải trí của trẻ một cách kĩ lưỡng

1.2.2 Cách tiếp cận văn hóa

Theo định nghĩa của UNESCO: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp

của những đặc trưng về tinh thần, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả các phong cách sống, các lối chung sống, các hệ thống giá trị, các truyền thống và đức tin” Văn

hóa bao trùm mọi hoạt động của đời sống xã hội Ở mỗi xã hội cụ thể, văn hóa luôn được thể hiện sâu sắc đến hoạt động của con người, nếu muốn có những đánh giá chính xác nhất về hành động thì phải gắn liền với việc phân tích sự ảnh hưởng của văn hóa trong những hoạt động ấy Văn hóa được hình thành suốt một chặng đường lâu đời từ hình thành đến sự phát triển khu dân cư

Văn hóa là yếu tố luôn gắn liền mật thiết với lối sống, tạo nên tính đặc thù của lối sống Chính sự ảnh hưởng to lớn từ văn hóa đến mọi lĩnh vực của đời sống như vậy, cho nên khi phân tích những nhu cầu vui chơi từ phía trẻ em và khả năng đáp ứng nhu cầu vui chơi đó thì phải phân tích dựa trên các yếu tố văn hóa của khu vực như về văn hóa tôn giáo, văn hóa gia đình, văn hóa làng xã đã ảnh hưởng như thế nào đến việc vận hành nhà nước tại địa phương và hoạt động của người dân nơi đây, cụ thể hoạt động giải trí của học sinh tiểu học và việc đáp ứng nhu cầu đó

1.3 Một số khái niệm liên quan

1.3.1 Nhu cầu

Mọi hành vi của con người đều do sự thúc đẩy của những nhu cầu nào đó Nhu cầu thể hiện sự lệ thuộc của mỗi cơ thể sống vào môi trường bên ngoài, thể hiện thành những ứng xử tìm kiếm khi cơ thể thiếu những điều kiện tồn tại và phát triển Thỏa mãn được nhu cầu, con người cảm thấy thích thú hài lòng Không thỏa mãn được, con người cảm thấy bị hụt hẫng và có thể đi tới các hành vi chống lại sự trở ngại 5 Nhu cầu của con người là điều tất yếu để con người tồn tại và phát triển

1.3.2 Giải trí

Theo từ điển Xã hội học, Giải trí là một dạng hoạt động của con người, đáp ứng những nhu cầu phát triển con người về các mặt thể chất, trí tuệ, và mỹ học Giải trí không chỉ là nhu cầu của từng cá nhân, mà còn là nhu cầu giải trí của đời sống cộng đồng

5Nguyễn Khắc Viện (1994), Từ điển Xã hội học, Nxb Thế giới, tr 221

Trang 17

Giải trí được thể hiện dưới nhiều hính thức khác nhau: có thể là hoạt động vui chơi, xem chương trình cả nhạc, chơi thể thao, sáng tác nghệ thuật, Giải trí đảm bảo tính duy trì cuộc sống ở trạng thái cân băng, giúp con người tránh khỏi những căng thẳng từ công việc, học hành,

Như vậy, dựa vào hai định nghĩa nhu cầu và giải trí, Nhu cầu giải trí là nhu cầu về việc thỏa mãn của con người trong các lĩnh vực thể chất, trí tuệ và mỹ học Nhu cầu giải trí được nảy sinh trong quá trình sống của con người, nhất là trong điều kiện các điều kiện vật chất được ổn định và đảm bảo thì nhu cầu giải trí ngày càng cao

Trong bài nghiên cứu này của chúng tôi sẽ thao tác hóa khái niệm nhu cầu giải trí thành 6 lĩnh vực chính:

 Nhu cầu sáng tạo nghệ thuật không chuyên

 Nhu cầu thưởng thức nghệ thuật không chuyên

 Nhu cầu tham gia trò chơi

 Nhu cầu về hoạt động thể thao giải trí

 Nhu cầu du lịch dã ngoại

 Nhu cầu giao tiếp

1.3.3 Vai trò

Vai trò được coi như tập hợp những ứng xử của mỗi cá nhân mà người khác chờ đợi

ở nó.6

Một định nghĩa khác, vai trò là một khái niệm then chốt trong lý thuyết xã hội học

Nó nhấn mạnh những kì vọng xã hội gắn với những vị thế hay vị trí nhất định trong xã hội và nó phân tích sự vận hành của những kì vọng ấy.7

Gia đình, nhà trường và xã hội đều đảm nhiệm một vai trò khác nhau trong xã hội Đối với việc đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học, mỗi môi trường này sẽ đảm nhiệm vai trò cụ thể để đáp lại kì vọng về việc được giải trí của trẻ

1.4 Vài nét về địa bàn và mẫu nghiên cứu

1.4.1 Địa bàn nghiên cứu

Xã Quang Trung thuộc huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai với diện tích 36,28 km2 Đây là một xã thuộc vùng nông thôn, đang trong quá trình thực hiện chương trình phát

6Nguyễn Khắc Viện (1994), Từ điển Xã hội học, Nxb Thế giới, tr 335

7Bùi Thế Cường – Đặng Thị Việt Phương – Trịnh Huy Hóa (2010), Từ điển Xã hội học

Oxford, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 18

triển nông thôn mới của Đảng và Nhà nước.Được thành lập vào năm 1984, xã hiện nay

có 7 ấp, có quốc lộ 20 chạy xuyên qua Xã có 4541 hộ gia đình với dân số là 22134 người, có thể nói đây là một xã có số dân khá đông trong địa bàn Huyện Thống Nhất Tình hình kinh tế của xã phát triển tương đối mạnh so với những xã vùng lân cận, tỉ lệ việc làm của người dân trong xã : 65% dân số hoạt động sản xuất nông nghiệp, 10% làm nghề thương mại dịch vụ, 20% sản xuất công nghiệp, 5% làm trong lĩnh vực khác Với tỉ

lệ dân số hoạt động trong sản xuất nông nghiệp vẫn còn cao cho thấy xã Quang Trung vẫn là một xã mang tính thuần nông

Địa bàn xã bao gồm 4 giáo xứ và 3 trường tiểu học, trong đó trường tiểu học Nguyễn Huệ và Lê Lợi thuộc giáo xứ Ninh Phát và Hưng Bình nằm ở khu vực khá ít dân

và xa trung tâm hành chính của xã nhất Trường TH Nguyễn Huệ và TH Lê Lợi là hai trường nằm ở ấp Nguyễn Huệ 1 và Lê Lợi 1, đây là hai trường nằm xa trung tâm hành chính của xã nhất (khoảng 3km) Hai trường này tiền thân là trường cấp 2,3 Quang Trung, được tách ra vào năm 1987 thành hai trường tiểu học Lê Lợi và Nguyễn Huệ cùng với trường THCS Quang Trung Tổng số học sinh năm học 2012-2013 của trường TH Nguyễn Huệ là 680, nhiều hơn trường tiểu học Lê Lợi (406 học sinh) Từ năm 2012, trường TH Nguyễn Huệ được công nhận là trường chuẩn Quốc gia cấp độ 1, trường TH

Lê Lợi đang trong quá trình phấn đấu đạt chuẩn Quốc gia

1.4.2 Mô tả mẫu nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã khảo sát 200 học sinh trong độ tuổi tiểu học (6-10 tuổi), trong đó 100 em học sinh trường tiểu học Lê Lợi và 100 em học sinh trường tiểu học Nguyễn Huệ Trong mẫu nghiên cứu, tỉ lệ nam chiếm 47,5%, nữ chiếm 52,5% Đây được xem là một tỉ lệ khá cân bằng 71,5% học sinh tham gia cuộc khảo sát có học lực khá – giỏi, 25,5% học sinh có học lực trung bình – yếu 100% học sinh tham gia khảo sát là người dân tộc Kinh, trong đó 93,5% theo Thiên Chúa giáo, 6,5% còn lại theo đạo Phật, ngoài ra không có tôn giáo nào khác Chỉ có 3,5% học sinh sống chung với người nuôi dưỡng, tỉ lệ còn lại sống chung với cha mẹ 42,5% học sinh sống trong gia đình chỉ

có từ 1 đến 2 con

Trang 19

CHƯƠNG 2:

NHU CẦU GIẢI TRÍ CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC

Nhóm nghiên cứu tiến hành tìm hiểu thực trạng giải trí của học sinh tiểu học trong mẫu nghiên cứu đang diễn ra như thế nào thông qua ba hình thức biểu hiện chính của nhu cầu giải trí: hoạt động vui chơi, hoạt động nghệ thuật và hoạt động giao tiếp

2.1 Trong hoạt động vui chơi

Vui chơi là hoạt động của con người nhằm để thỏa mãn nhu cầu, hứng thú và sở thích của cá nhân Nó là một dạng giải trí nhưng đồng thời thông qua những hoạt động vui chơi hợp lí, con người thiết lập được cho mình những mối quan hệ và góp phần phát triển các chức năng trí tuệ cũng như hoàn thiện về nhân cách.Chơi là nhu cầu không thể thiếu của trẻ em.Hoạt động vui chơi chính là hình thức thể hiện thái độ tích cực của trẻ

em với môi trường xung quanh, tạo điều kiện cho trẻ em biểu hiện xúc cảm tinh tế, tự nhiên trong cuộc sống8.Như vậy, hoạt động vui chơi có một vai trò rất quan trọng trong

sự phát triển của trẻ Thực hiện nghiên cứu trên 200 phiếu khảo sát, 12 cuộc phỏng vấn sâu tại địa bàn nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy nhu cầu vui chơi của học sinh tiểu học ở hai trường Nguyễn Huệ và Lê Lợi rất cao Nó được biểu hiện thông qua số lượng, loại hình, cách thức tổ chức những hoạt động vui chơi cũng như thời gian, không gian vui chơi của trẻ.Đồng thời nhu cầu này cũng được nhìn thấy thông qua mức độ hứng thú, sự yêu thích và mức độ tham gia của các em vào những hoạt động vui chơi hiện có ở địa phương nghiên cứu

Theo kết quả nghiên cứu, trẻ em nơi đây có rất nhiều hoạt động vui chơi đa dạng, phong phú.Nó không chỉ phong phú về số lượng trò chơi mà còn về chất lượng cũng như địa điểm vui chơi; quy mô hay cách thức tổ chức các hoạt động vui chơi này

Thứ nhất, chúng tôi muốn đề cập đến địa điểm diễn ra hoạt động vui chơi của các em.Sở dĩ nói phong phú bởi lẽ nó không chỉ diễn ra ở một địa điểm mà diễn ra ở rất nhiều địa điểm khác nhau Thông thường, theo cách nhìn của lí thuyết xã hội hóa, trẻ ở độ tuổi tiểu học sẽ tiếp xúc ở hai môi trường gia đình và nhà trường hầu hết thời gian của mình

8 Xem thêm: Đề tài nghiên cứu khoa học khoa Giáo dục học- Đại học sư phạm Hà Nội, “ Biện pháp chỉ đạo hoạt động vui chơi cho học sinh của hiệu trưởng trường tiểu học Hồ Tùng Mậu – Thành phố Nam Định ”, 2010, trang 12

Trang 20

Chính vì thế, các hoạt động vui chơi của chúng cũng sẽ diễn ra phần lớn ở đây Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy, ngoài hai khu vực này, các em còn vui chơi ở nhà văn hóa, những khu vui chơi tư nhân, khu đất trống, ngoài vườn, con đường hẻm hay ở nhà thờ… những nơi vui chơi này của trẻ không phải là những khu công viên, không phải những khu vui chơi như Thảo Cầm Viên hay Suối Tiên và Đầm Sen… đây chỉ là những khoảng đất rộng và trống không được xây dựng cho mục đích vui chơi, có không gian tương đối thoải mái để các em có thể tổ chức những trò chơi thường xuyên nên còn nhiều hạn chế trong việc đảm bảo an toàn cũng cho các em vui chơi các trò chơi: đuổi bắt ở những khu vườn nhà, chơi đá banh ở những khu đất trống, chạy xe đạp ở những con hẻm vắng hay sườn dốc…

“Nè đi đồi nè, đạp xe đạp lòng vòng nè, thường thường đi đạp xe đạp, Tụi con đạp

xe đạp lên dốc rồi thả dốc xuống với gần nhà con”

(Nữ, học sinh lớp 4)

Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy trẻ em khu vực này có rất nhiều không gian để lựa chọn tổ chức các trò chơi ngoài giờ học

Bảng 1 Nơi trẻ em thường xuyên chơi ngoài giờ học

Nguồn: Số liệu cuộc khảo sát 200 học sinh trường Nguyễn Huệ và Lê Lợi

Trong tổng số 200 người trả lời, có 93 em thường chơi ở nhà của nhau (46%), 40 em trả lời chơi ở sân nhà thờ (20%), 95 em thường chơi ở sân trường (47,5%) và có 14 em chơi ở khu đất trống (7%) Mặc dù số các em chơi ở khu đất trống còn ít, nhưng nó cũng thể hiện nhu cầu muốn chơi ở những không gian rộng và thoải mái để các trò chơi được lựa chọn có thể diễn ra tốt hơn Tuy nhiên, do điều kiện địa lí và kinh tế khu vực nên các

em còn chịu nhiều thiệt thòi, không được tiếp xúc với những sân chơi như những khu vực thành thị khác

Chơi ở nhà thờ/nhà chùa 40 20

Trang 21

Thứ hai muốn đề cập đến loại hình vui chơi của các em học sinh tiểu học Tưởng rằng những trò chơi dân gian trước đây sẽ bị mất đi khi xã hội ngày càng phát triển nhiều hình thức giải trí mới mang tính công nghệ cao Thế nhưng kết quả nghiên cứu lại cho thấy, những trò chơi dân gian đang dần phát triển mạnh hơn nữa cùng những trò chơi hiện đại trong các hoạt động vui chơi của học sinh tiểu học khu vực này

“Ở trường đã được tổ chức cho nó chơi, ngày xưa thì có môn đá banh rồi cầu lông

và nhiều thứ khác nữa Còn bây giờ đang hướng về trò chơi dân gian là chủ yếu, ví dụ như là cướp cờ nè, rồi ô quan, rồi chơi cờ ô quan, ô quan bằng người, rồi chơi keo, chơi

cờ tướng, rồi mấy trò như nở nụ trồng hoa.Đã một thời gian nó bị bỏ qua và bây giờ họ đang khơi gợi lại giống như ngày xưa”

(Nữ, 45 tuổi, Phụ trách thiếu nhi Giáo xứ Hưng Bình)

Cũng theo kết quả phỏng vấn sâu, trẻ em trong khu vực này thường chơi những trò chơi dân gian như lò cò, năm mười, nhảy dây, đá banh, kéo co, bịt mắt bắt dê, đuổi bắt là chủ yếu

Bên cạnh đó, các em còn tham gia các trò chơi có sử dụng những vật dụng vui chơi

hỗ trợ trên trường như xích đu, cầu trượt, dây quay và chơi búp bê, đồ lắp ghép, đồ hàng

ở nhà Hầu hết các em đều nói đến hoạt động chơi các trò chơi vận động cùng với các bạn trong lớp vào những giờ ra chơi (nam 56,2%, nữ 43%) Chúng ta có thể nhận thấy trẻ em nam thường tham gia chơi các trò chơi vận động nhiều hơn các em nữ Ở đây liệu có sự khác biệt gì về giới trong sự lựa chọn các trò chơi này? Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn này là do đâu? Chúng tôi sẽ làm rõ khía cạnh này trong phần vai trò và khả năng đáp ứng nhu cầu giải trí của nhà trường

Đa phần chúng tôi sẽ nhận được câu trả lời “chơi búp bê”, “chơi đá banh”, “chơi đồ hàng”,… khi hỏi về các trò chơi ở nhà thường chơi thông qua phỏng vấn sâu học sinh

“Em thường đi chơi cầu trượt với các bạn và chơi cò cò dí”

Bảng 2 Tương quan giữa giới tính và hoạt động giờ ra chơi của học sinh

Trang 22

Ngồi nói chuyện với

Nguồn: Số liệu cuộc khảo sát 200 học sinh trường Nguyễn Huệ và Lê Lợi

Qua bảng phân tích chúng ta có thể nhận thấy, vào giờ ra chơi trẻ em nam thường chơi các trò chơi vận động nhiều hơn (56,2%) so với trẻ em nữ (43%) trong tổng số người trả lời Những hoạt động khác như vào thư viện, ngồi học bài… dường như không tìm thấy với những mức thống kê có ý nghĩa Ngoài ra, thường thấy các em nữ có xu hướng quan tâm hơn đến chơi những trò chơi có sự hỗ trợ của các vật dụng như xích đu, cầu trượt… như vậy, chúng ta cũng có thể nhận xét các em nam có thể năng động hơn các em nữ thông qua việc tham gia các trò chơi vận động tại trường vào giờ ra chơi

Ở một khía cạnh khác, cách thức tổ chức các trò chơi cũng trở nên đa dạng hơn với những khoảng thời gian đa dạng hơn cũng tạo điều kiện để các em có thể vui chơi nhiều hơn: các em có thể tự chơi một mình ở nhà vào các ngày nghỉ, rủ bạn đến nhà chơi cùng (35,5%), tham gia các buổi vui chơi tập thể ở các cơ sở tư nhân vào những này lễ tết, đăng kí vào sinh hoạt với những câu lạc bộ ở trường, tham gia các cuộc thi về hoạt động vui chơi do nhà thờ vào cuối tuần, các hoạt động vui chơi, giao lưu ở nhà trường hay nhà văn hóa tổ chức vào các dịp lễ hội, đi tham quan do nhà trường tổ chức (33%)… Các hình thức tổ chức thi đua giữa các cá nhân, tập thể với nhau là một cách thức để khuấy động các hoạt động vui chơi này cho các em Những cách thức này cũng phần nào tăng cường hoạt động vui chơi sao cho phù hợp hơn với nhịp độ sinh hoạt hiện nay Tuy nhiên, kết quả khảo sát cho thấy hầu như vẫn chưa có nhiều sự kết hợp giữa các đơn vị, tổ chức để tổ chức các chương trình giao lưu giữa các trường, tổ chức thi các trò chơi dân gian, thi đua các họat động vui chơi giải trí giữa các khối lớp… trong khu vực nghiên cứu

“Nếu mà muốn giao lưu giữa trường này với trường kia thì khó khăn lắm Kinh phí tốn kém mà nhà trường nhiều khi họ cũng không có kinh phí để bọn mình hoạt động và tổ chức”

Trang 23

(Nam, 33 tuổi, tổng phụ trách đội)

Chính vì vậy đây là một thiệt thòi cho các em thiếu nhi trong các hoạt động vui chơi

tập thể Qua hiện trạng này chúng ta cũng có thể nhận thấy lí do các em thường rủ bạn về

nhà chơi, chơi với nhau trên trường và sinh hoạt bên nhà thờ là chủ yếu là do còn ít các

hoạt động để các em chơi chung và giao lưu với nhau

Bảng 3 Tương quan giữa giới tính và mức độ thường xuyên dẫn bạn về nhà chơi

Nguồn: Số liệu cuộc khảo sát 200 học sinh trường Nguyễn Huệ và Lê Lợi

Qua bảng chúng ta có thể nhận thấy, để cùng vui chơi với nhau, ngoài thời gian chơi

ở trường, các em nữ thường dẫn bạn về nhà chơi nhiều hơn (40%) so với các em nam

(30,5%) Bên cạnh đó, khi so sánh về thích các hoạt động do nơi nào tổ chức nhất, trẻ em

nam lại có sự yêu thích nhất là các hoạt động vui chơi do gia đình tổ chức (40%) Tuy

vậy lại không dẫn bạn về nhà chơi nhiều như các em nữ Như vậy chúng ta cũng có thể

nhận thấy các em nam thích chơi ở nhà nhiều hơn, hơn nữa lại chơi một mình hoặc chơi

với anh chị em trong gia đình Việc vui chơi với bạn bè ở tại nhà dường như không nhiều

Bảng 4 Mối tương quan giữa nơi tham gia hoạt động giải trí và giới tính

Trang 24

Ngoài thời gian có thể chơi trong ở trường, chơi lúc về nhà, vui chơi tại các cơ sở giáo lí hàng tuần còn có đến 91% trong tổng số các em trả lời đã được đi chơi xa cùng với gia đình vào những dịp hè, tết ở những địa điểm du lịch như Vũng Tàu, Đà Lạt, Mũi

Né, Đại Nam, Đầm Sen, Suối Tiên… Có 33% các em tham gia vào những kì vui chơi tham quan do nhà trường tổ chức

Nhìn chung, cả về hình thức tổ chức và loại hình vui chơi của học sinh tiểu học tại địa phương đều rất đa dạng và phong phú để cả trẻ em nam và nữ có thể lựa chọn những trò chơi phù hợp với bản thân mình Có thể đó chính là một điều kiện mở để các em có thể tham gia nhiều hơn vào hoạt động vui chơi đáp ứng nhu cầu giải trí vốn rất cần thiết của lứa tuổi này

Tiếp theo, nhu cầu vui chơi của các em còn được đánh giá là cao thông qua những chỉ báo về mức độ yêu thích, tham gia và mức độ hứng thú với các hoạt động vui chơi này Dựa vào số liệu phân tích, tuy không phải ở mức độ tuyệt đối cao, nhưng nó đã cho thấy bên cạnh việc học tập giữ vai trò chủ đạo ở lứa tuổi này thì các em vẫn cần và coi vui chơi là hoạt động không thể thiếu

Trên thực tế, những học sinh trong phạm vi nghiên cứu đều cho thấy những mong muốn được tham gia hoạt động vui chơi thông qua mức độ tham gia vào các trò chơi, độ hứng thú với những hoạt động này với những con số khá cao Chúng ta có thể thấy mức

độ yêu thích của các em khi tìm hiểu về những hoạt động vui chơi được yêu thích cũng

đã chứng minh điều này khi trên 50% các đáp án trả lới đều có thang điểm tối đa là 10 Mặt khác, các kết quả phỏng vấn sâu cũng cho thấy các em rất hứng thú với các hoạt động vui chơi ở cả nhà trường, nhà thờ cũng như các cơ sở vui chơi khác: rủ nhau đi chơi ngoài giờ lên lớp ở nhà của nhau, các em cũng thường rủ nhau chơi những trò chơi tập thể trong những giờ ra chơi… Các em đều cho biết sẽ có hứng thú học tập nhiều hơn bình thường nếu trong các tiết học có lồng ghép các trò chơi vận động Hầu hết các cuộc phỏng vấn sâu đều nhận được câu trả lời là rất hứng thú hay rất thích học những tiết học như vậy

Bên cạnh đó các em cũng rất thích thú khi được tham gia các ngày vui chơi ngoại khóa trong trường cùng với các bạn

“Hầu như làmột trăm phần trăm các em tham gia Các em nó rất hào hứng Ví dụ

các em nói thầy ơi, thứ hai tới hay thứ sáu tới, thầy cứ ở nhà thầy tổ chức cho tụi con đi,

Trang 25

tụi con thấy rằng mỗi lần đi lên trườngđược chơi và tham gia các hoạt động đấy tụi con thích lắm”

“Có bạn chơi trốn tìm, có bạn chơi nhảy dây”

Tham gia các cuộc thi thể thao

Tham gia cắm trại, picnic

Sinh hoạt đội

Chơi trò chơi cùng bạn bè

Sử dụng internet

Điểm

trung bình

Nguồn: Số liệu cuộc khảo sát 200 học sinh trường Nguyễn Huệ và Lê Lợi

Điểm trung bình cho hoạt động vui chơi cùng với gia đình là 4,3 là cao nhất trong khi đó, những hoạt động khác có số điểm yêu thích rất ít: sinh hoạt đội (2,36), tham gia cắm trại, picnic (2,34).Mặt khác, vào các ngày lễ tết, các em thường đi chơi với gia đình (69,5%) là chủ yếu Những hoạt động vui chơi khác dường như không được tham gia nhiều vào những dịp lễ tết

Có thể nói, nhu cầu vui chơi của trẻ em tại địa phương này nói riêng được thể hiện trên cả ba mặt: nhận thức, thái độ và hành vi Như đã phân tích ở trên, chúng ta có thể

Trang 26

nhận thấy cụ thể: các em rất thích những hoạt động vui chơi; khi bước vào mỗi trò chơi thái độ của các em là rất hứng thú; những trò chơi các em yêu thích, các em thường rủ nhau chơi trong mỗi giờ ra chơi, những ngày nghỉ Chính vui chơi là một hình thức hấp dẫn và có sức lôi kéo, ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của học sinh tiểu học10 Do

đó vui chơi là nhu cầu của học sinh tiểu học cần được quan tâm để ý không kém gì học tập và các hoạt động khác của trẻ.Tất cả những điều đó thể hiện mong muốn được vui chơi của các em Thông qua đó cũng cho thấy nhu cầu vui chơi của các em rất cao so với những khả năng được vui chơi thực tế nên rất cần đến sự hỗ trợ của các đơn vị xã hội khác nhau trong việc tạo điều kiện để các em có thể vui chơi nhiều hơn nữa

Để hiểu rõ hơn thực trạng hoạt động giải trí của các em học sinh tiểu học tại đây qua phần phân tích những hoạt động nghệ thuật không chuyên và hoạt động giao tiếp của các

em khi tham gia các hoạt động giải trí

Bên cạnh việc tham gia những trò chơi, việc tham gia vào hoạt động nghệ thuật được phân tích ở ngay sau đây sẽ cho thấy rõ hơn thực trạng nhu cầu giải trí của học sinh

ở khu vực điển cứu

2.2 Trong hoạt động nghệ thuật

Đối với các em học sinh ở lứa tuổi tiểu học, nghệ thuật là một trong những hình thức để các em giải trí sau những giờ học căng thẳng, làm cho tinh thần của các em được thoải mái, hưng phấn hơn Bên cạnh đó, thông qua nghệ thuật có thể phát hiện ra được những tài năng còn tiềm ẩn trong mỗi con người.Trong phần này, nhóm nghiên cứu xin

đề cập đến hai khía cạnh chính: sáng tác nghệ thuật không chuyên và thưởng thức nghệ thuật

2.2.1 Sáng tác nghệ thuật không chuyên

Sáng tác nghệ thuật không chuyên ở đây được hiểu là các hoạt động như: sáng tác thơ, văn gởi báo tường hoặc báo thiếu nhi, tham gia các cuộc thi văn nghệ, thi hát, thi vẽ… của các em học sinh được diễn ra dưới nhiều hình thức và địa điểm khác nhau Đối với các cuộc thi văn nghệ ở trường: có 52 em ( 26%) tham gia, trong đó có 19 học sinh nam (20.0%) và 33 học sinh nữ ( 31.4%) tham gia hoạt động này Số lượng học sinh nữ tham gia thi văn nghệ nhiều hơn nam một phần là do đặc điểm tâm sinh lí của trẻ

10Xem thêm: chương III_vai trò và khả năng đáp ứng của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học

Trang 27

Các em ở lứa tuổi tiểu học có hệ cơ đang trong thời kì phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa nhưng đa số các em nam thích các trò chơi vận động mạnh, mang tính đối kháng, tranh đua giữa hai phe như bóng đá, đuổi bắt, cướpcờ… các em nữ thì thường tham gia các trò chơi nhẹ nhàng hơn con trai Hơn nữa, ngay từ nhỏ các em nữ vốn đã được dạy dỗ là phải nết na, lễ phép, hiền thục, chăm chỉ… trong khi đó tất cả các em học sinh tham gia thi văn nghệ phải tập luyện thường xuyên nên các em nữ sẽ dễ dàng tiếp xúc, cảm nhận vàthamgiathivăn nghệnhiều hơncácemnam – vốnkhông thích bị gò bó trong khuôn khổnhấtđịnh

Bảng 6: Mối tương quan giữa hoạt động do nhà trường tổ chức và giới tính

Cáchoạtđộng

Giớitính

Tổng Nam Nữ

Nguồn: Số liệu cuộc khảo sát 200 học sinh trường Nguyễn Huệ và Lê Lợi

Dù có sự khác nhau giữa nam và nữ trong hoạt động thi văn nghệ nhưng khi so sánh với các hoạt động khác ở trường thì số lượng học sinh tham gia vào thi văn nghệ khá đông (trên 50% tổng số học sinh có tham gia các hoạt động do nhà trường tổ chức) Số lượng học sinh tham gia văn nghệ đông là do các em yêu thích hoạt động này Khi được hỏi về mức độ yêu thích các hoạt động thì hoạt động văn nghệ đứng thứ 2 trong tổng số 4 hoạt động được đề cập đến, điểm trung bình cho hoạt động văn nghệ là 6.99

Bảng 7 Mức độ yêu thích các hoạt động

Các hoạt động Văn nghệ Hội chợ Dã ngoại Cắm trại

Nguồn: Số liệu cuộc khảo sát 200 học sinh trường Nguyễn Huệ và Lê Lợi

Trang 28

Bên cạnh đó, những thông tin từ phỏng vấn sâu cũng cho biết đa số các em học sinh

thích văn nghệ tuy nhiên không phải em nào cũng được tham gia

“Con thích…Muốn lắm mà không được tham gia…”

Cùng với văn nghệ thì làm báo tường cũng là một hình thức của sáng tác nghệ thuật

không chuyên Tuy nhiên, hoạt động thi làm báo tường ở trường thu hút được rất ít số

lượng học sinh tham gia, chỉ có 5 em (2.5%) tham gia trong khi đó có tới 108 em (54%)

có tham gia các hoạt động do nhà trường tổ chức Số lượng học sinh tham gia ít bởi hoạt

động thi báo tường khá giới hạn số người tham gia bởi em nào có các điều kiện như viết

chữ đẹp, viết văn hay, vẽ tốt thì mới được tham gia nhưng ở lứa tuổi tiểu học thì ít nhất

phải lớp 4 trở lên các em mới ý thức được điều mình cần làm

“Các em lớp 4, lớp 5 là đã sưu tầm, đã có ý thức trang trí báo ảnh cho mình Còn

đối với các em sao nhi đồng, tức là khối 1, khối 2, khối 3 thì cho các em thi các cuộc thi

khác, ví dụ như văn nghệ; tổ chức cho các em chơi các trò chơi dân gian: kéo co, nhảy

bao bố và một số trò chơi khác”

(Nam, 27 tuổi, Tổngphụtrách)

Kết quả điều tra bảng hỏi cho biết số lượng các em học các lớp năng khiếu ngoài

nhà trường cũng rất khiêm tốn: có 16 em học vẽ, 10 em học đàn và chỉ có 6 em học

hát.Như vậy, ngoài văn nghệ thì các hoạt động còn lại của sáng tác nghệ thuật không

chuyên luôn có số lượng học sinh tham gia thấp bởi mức độ yêu thích của trẻ đối với các

hoạt động này cũng rất thấp Khi tiến hành khảo sát, các em học sinh được chọn 5 hoạt

động mà em yêu thích nhất trong 14 hoạt động và xếp theo thứ tự ưu tiên từ 1 đến 5 với 1

là thích nhất thì ta thu được kết quả như sau:

Bảng 8: Mức độ yêu thích các hoạt động

Tham gia thi vẽ 2.91

Sáng tác thơ văn gởi báo tường, báo nhi đồng 1.5

Nguồn: Số liệu cuộc khảo sát 200 học sinh trường Nguyễn Huệ và Lê Lợi

Mức độ yêu thích của trẻ đối với hoạt động sáng tác thơ, văn gởi báo tường hoặc

báo nhi đồng là thấp nhất, số điểm trung bình chỉ có 1.5, tham gia thi vẽ là 2.92 và thi hát

Trang 29

là 2.77 Nhìn chung, các hoạt động sáng tạo nghệ thuật không chuyên nhận được ít nhất

sự yêu thích của trẻ Điều này được thể hiện thông qua mức độ yêu thích đối với các hoạt động thì hoạt động sáng tạo nghệ thuật không chuyên chiếm được số điểm trung bình ít nhất sự yêu thích của trẻ (5.56)

2.2.2 Thưởng thức nghệ thuật

Nói đến nghệ thuật là nói đến cái hay cái đẹp để con người cảm nhận và hưởng thụ Quá trình này được diễn ra dưới nhiều dạng khác nhau như: xem xiếc, ca nhạc, cỗ vũ văn nghệ, xem tivi hoặc đọc báo…

Nhà văn hóa xã là nơi tổ chức các hoạt động cac nhạc, hội chợ, xiếc nhưng chưa thật

sự thu hút được số lượng học sinh ở cấp bậc tiểu học tham gia: chỉ có 65 em tham gia trong tổng số 200 em được khao sát

Bảng 9 Tần suất trẻ tham gia những hoạt động do nhà văn hóa xã tổ chức

Tần số Tỉ lệ (%) Hoạt động

Nguồn: Số liệu cuộc khảo sát 200 học sinh trường Nguyễn Huệ và Lê Lợi

Trong ba hoạt động được học sinh tham gia ở nhà văn hóa xã thì ca nhạc và xiếc nhận được khá ít người tham gia: chỉ có 12 em xem chương trình ca nhạc và 20 em xem xiếc So với tổng số 200 em (100%) được khảo sát thì chỉ có 6.0% trẻ tham gia vào hoạt động ca nhạc, 10% trẻ xem xiếc

Mặt khác, học sinh có sự đánh giá của riêng mình đối với mức độ yêu thích các loại hình giải trí mang tính thưởng thức nghệ thuật, ta thu được kết quả như sau:

Bảng 10 Mức độ yêu thích các hoạt động

Đọc truyện tranh, báo thiếu nhi 3.21

Xem tivi, sử dụng các thiết bị kĩ thuật số 3.01

Xem chương trình ca nhạc và xiếc ở nhà văn hóa xã 2.84

Nguồn: Số liệu cuộc khảo sát 200 học sinh trường Nguyễn Huệ và Lê Lợi

Trang 30

Điểm trung bình càng cao thì mức độ yêu thích đối với hoạt động đó càng nhiều Các hoạt động thưởng thức nghệ thuật như: đọc truyện tranh, báo nhi đồng đạt 3.21 điểm (đứng thứ 2); xem tivi, sử dụng các thiết bị kĩ thuật số đạt 3.01 điểm (đứng thứ 3); xem các chương trình ca nhạc và xiếc ở nhà văn hóa xã đạt 2.84 điểm ( đứng thứ 4) Nhìn chung, các hoạt đông nghệ thuật được diễn ra dưới hình thức thưởng thức đã nhận được nhiều sự yêu thích của trẻ

Như vậy, có thể nhận thấy rằng hoạt động nghệ thuật khá phong phú, được biểu hiện dưới nhiều hoạt động khác nhau như: văn nghệ, hội chợ, xiếc, ca nhạc, đàn, hát … việc tham gia những hoạt động nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí của trẻ được biểu hiện dưới những mức độ tham gia các hoạt động sáng tạo nghệ thuật không chuyên và thưởng thức nghệ thuật nhưng nhìn chung còn khá thấp

Bên cạnh tham gia hoạt động trò chơi và hoạt động nghệ thuật, nhu cầu giải trí của trẻ còn được thể hiện qua việc tham gia những hoạt động giao tiếp

2.2.3 Trong hoạt động giao tiếp

Khái niệm giao tiếp được nêu ra từ thời cổ đại bởi các nhà triết học có tên tuổi như Platon (428 – 347 TCN), Socrate (460 – 399 TCN).Họ coi đối thoại là sự giao lưu trí tuệ

của những người biết suy nghĩ.Hiện nay, giao tiếp có thể được hiểu là tiếp xúc tâm lý có

tính đa chiều và đồng chủ thể giữa người với người được quy định bởi các yếu tố văn hóa, xã hội và đặc trưng tâm lý cá nhân Giao tiếp có chức năng thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, trao đổi thông tin, cảm xúc, định hướng và điều chỉnh nhận thức, hành vi của bản thân và của nhau, tri giác lẫn nhau, tạo dựng quan hệ với nhau và tác động qua lại lẫn nhau 11

Hoạt động giao tiếp của học sinh tiểu học được diễn ra dưới nhiều hình thức như gặp gỡ và vui chơi với bạn bè, tham gia các câu lạc bộ - đội – nhóm, tham gia các cuộc thi… để qua hoạt động giao tiếp này, trẻ có sự giao lưu và thỏa mãn nhu cầu của bản thân, gặp gỡ bạn bè tạo tâm lí thoải mái cho việc học tập và rèn luyện Tìm hiểu về thực trạng hoạt động giao tiếp của trẻ, trước tiên chúng tôi tìm hiểu việc trẻ có thường xuyên

11Nguyễn Văn Đồng, 2009, Tâm lý học giao tiếp (phần lý thuyết), nhà xuất bản chính trị - hành chính, trang 11

Trang 31

dắt bạn về nhà chơi hay không, từ đó sẽ cho thấy phần nào mức độ trẻ giao tiếp có nhiều hay không

Hình 1 Mức độ thường xuyên dắt bạn về nhà chơi của trẻ 12

Nguồn: Số liệu cuộc khảo sát 200 học sinh trường Nguyễn Huệ và Lê Lợi

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 35,5% học sinh thường xuyên dẫn bạn về nhà chơi, 26,5% thỉnh thoảng mới dẫn bạn về nhà chơi, 26% ít khi dẫn bạn về nhà chơi và 12% học sinh không bao giờ dẫn bạn về nhà chơi Trong 12% học sinh không dẫn bạn về nhà chơi này, có các em khi được hỏi về nguyên nhân đã trả lời vì ở nhà không có không gian để chơi và thích đến nhà bạn chơi hơn Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy có nhiều em không dẫn bạn về nhà chơi với lí do cảm thấy không cần thiết, thích ở nhà tự chơi với anh chị

Trang 32

em và đồ chơi ở nhà hơn Như vậy, ít nhất có 88% học sinh có sự giao tiếp thường xuyên với bạn bè thông qua hoạt động dắt bạn về nhà chơi

Bên cạnh đó, hoạt động được trẻ thực hiện trong giờ ra chơi cũng thể hiện mức độ giao tiếp của trẻ đối với những người xung quanh Kết quả nghiên cứu cho thấy có 61,3% học sinh tham gia chơi trò chơi vận động với bạn bè, 25,6% ngồi nói chuyện với bạn

Hình 2 Hoạt động trong giờ ra chơi của học sinh phân theo giới tính (%)

Nguồn: Số liệu cuộc khảo sát 200 học sinh trường Nguyễn Huệ và Lê Lợi

Với tỉ lệ học sinh tham gia chơi trò chơi vận động và ngồi nói chuyện với bạn bè như trên là khá cao, cho thấy mức độ giao tiếp với bạn bè ở trường của trẻ là khá tốt Tìm hiểu sự khác nhau về giới tính trong hoạt động ở giờ ra chơi cho thấy những học sinh nam có xu hướng tham gia chơi trò chơi vận động nhiều hơn trong khi học sinh nữ có xu hướng ngồi nói chuyện với bạn bè nhiều hơn (Hình 2) Trong số những học sinh tham gia chơi trò chơi vận động cùng bạn bè có 56,6% là nam và 43,4% là nữ Trong khi đó đối với hoạt động ngồi nói chuyện với bạn bè, nữ chiếm tỉ lệ cao hơn với 68,6% so với nam giới là 31,4% Điều này có thể được lí giải bởi học sinh nam có tính hiếu kì và năng động hơn trẻ em nữ, nên yêu thích những hoạt động mang tính chất vận động nhiều hơn Ở hoạt động làm bài tập và ngồi một mình, học sinh nam lại chiếm tỉ lệ cao hơn, lần lượt là

36

64

66,7 28,6 33,3

71,4

Trang 33

72,7% và 66,7% trong tổng số trẻ tham gia những hoạt động này Điều này trên thực tế không mâu thuẫn với nhận định vừa nêu ở trên bởi con số thống kê là rất nhỏ và không

có ý nghĩa chính xác

Những câu lạc bộ do nhà trường tổ chức được xem là nơi giao lưu gặp gỡ, là một môi trường lành mạnh giúp trẻ phát triển khả năng giao tiếp và sức khỏe cả tinh thần và vật chất của mình Hiện nay, các câu lạc bộ được 2 trường tiểu học này thành lập và duy trì bao gồm câu lạc bộ trò chơi dân gian, câu lạc bộ âm nhạc, câu lạc bộ mỹ thuật và câu lạc bộ thể dục thể thao; các hoạt động đội/ nhóm bao gồm đội nghi thức, đội sao đỏ, đội sinh hoạt sao Kết quả nghiên cứu cho thấy có đến 90 học sinh (45%) học sinh không tham gia vào câu lạc bộ, đội/nhóm nào của trường, trong đó học sinh lớp 3 chiếm tỉ lệ lớn nhất (27,8%) Việc không tham gia vào các câu lạc bộ/đội/nhóm của trường là một thiệt thòi đối với học sinh bởi thông qua những hoạt động này, hoạt động giao tiếp được mở rộng, các em làm quen được nhiều bạn mới, tạo được niềm vui trong học tập

“Thầy thấy nó cũng khác đấy, những em mà tham gia hoạt động Đội thì thường

là nó à nhanh nhẹn hơn, rồi một số kĩ năng, nó sẽ nhanh hơn các bé không sinh hoạt đội, xét về học thì không nói, mà về cách giao tiếp, là thấy nó không bằng rồi”

(Nam, 33 tuổi, tổng phụ trách)

Trang 34

CHƯƠNG 3:

VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH, NHÀ TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI TRONG VIỆC ĐÁP ỨNG NHU CẦU GIẢI TRÍ

CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC

3.1 Vai trò của gia đình trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học

Gia đình là nơi con người sinh ra và lớn lên, là môi trường xã hội hóa đầu tiên đối với trẻ Nó có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển và hoàn thiện nhân cách trẻ, nhất là đối với trẻ em đang trong độ tuổi tiểu học.Việc đáp ứng nhu cầu giải trí của trẻ cũng thật sự trở nên quan trọng trong sự phát triển của trẻ về cả thể chất lẫn tinh thần của chúng sau những giờ học căng thẳng và mệt mỏi Chính vì thế nhu cầu được giải trí của trẻ là chính đáng.Vấn đề cần xem xét ở đây là vai trò và khả năng đáp ứng nhu cầu giải trí của trẻ từ phía gia đình đã và đang diễn ra như thế nào?

3.1.1 Tổ chức các hoạt động vui chơi cho trẻ em

Vui chơi là một trong những hình thức hoạt động của giải trí Theo kết quả khảo sát chúng ta thấy được việc tổ chức các hoạt động giải trí ở môi trường gia đình là nơi trẻ thích nhất (41%) Qua đó không chỉ thấy được vai trò của gia đình trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí cho các em mà nó còn cho chúng ta thấy được những hoạt động giải trí ở gia đình có một sự ảnh hưởng lớn đến mức độ yêu thích của các em khi tham gia

Tìm hiểu về số lần đi chơi xa của trẻ cùng gia đình, kết quả khảo sát cho thấy đa số các em ở khu vực này thường được đi chơi xa cùng với gia đình vào những khoảng thời gian khác nhau trong năm như lễ tết, nghỉ hè

“Đi chơi xa thì cũng có nhưng mà chỉ những dịp hèlà chủ yếu, hay là cái dịp Tết,

thường năm là hai dịp Bình thường là Tết, Tết thì… cũng có năm đi Đầm Sen, cũng có năm đi Vũng Tàu, đấy rồi cũng có năm đi ngoài Phan Thiết, Mũi Né”

(Nam, 45 tuổi, phụ huynh học sinh)

Bảng 11 Mức độ thường xuyên đi chơi xa cùng gia đình của học sinh tiểu học

Số lần đi chơi xa cùng gia đình Tần số Tỉ lệ (%)

Trang 35

1 lần 53 26,5

Nguồn: Số liệu cuộc khảo sát 200 học sinh trường Nguyễn Huệ và Lê Lợi

Trong tổng số 200 em tham gia khảo sát có 183 em cho biết đã được đi chơi xa cùng

gia đình (91,5%) Trong đó, mức độ đi chơi nhiều hơn 2 lần chiếm tỉ lệ cao nhất (33%)

Chỉ có 10% trong số đó, các em được đi chơi xa ít hơn một năm 1 lần Điều này chứng tỏ

gia đình có sự quan tâm đến nhu cầu vui chơi của trẻ, đồng thời cũng nói lên điều kiện

kinh tế của gia đình có nhiều tiến triển nên có thể cùng con đi chơi xa nhiều lần trong một

năm Địa điểm đến chủ yếu của gia đình thường là các khu du lịch Vũng Tàu, Mũi Né…

vào những dịp lễ tết, và trong mỗi lần đi thời gian đi kéo dài khoảng 1- 2 ngày Mặt khác,

vào các dịp lễ tết, các em cũng thường đi chơi với gia đình (69.5%) Con số này cao hơn

những hoạt động đi chơi với bạn bè (21%) và các hoạt động vui chơi khác Điều này

được lí giải bởi: các dịp lễ, tết là thời gian các bậc phụ huynh được nghỉ làm nên có nhiều

thời gian dành cho con cái hơn Trong thời gian này, các thành viên trong gia đình cùng

nhau đi thăm viếng ông bà hoặc đi tham quan du lịch nhiều hơn Bên cạnh đó, yếu tố

được đi chơi xa của các em cùng gia đình vào những dịp này còn có mối liên hệ với tình

trạng học lực của các em trong quá trình học tập Được tham gia vào những hoạt động

vui chơi giải trí có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của các em Bởi lẽ nếu các em

chỉ mải mê học thôi mà không được vui chơi giải trí thì tinh thần của các em gặp rất

nhiều áp lực Chơi mà học, học mà chơi sẽ tạo cho trẻ tinh thần thoải mái để có hứng thú

học tập sau những giờ học căng thẳng Với các trò chơi vận động, trẻ em sẽ được tăng

cường thể lực khi tham gia thường xuyên

“Nhiều chứ! Vui chơi ví dụ như… mình vui chơi thể lực nó sẽ giúp cho mình có sức

khỏe cường tráng thì mới giúp cho trí não phát triển bình thường thôi Chứ còn mình học

không thì cơ thể sẽ yếu mình không học được.”

(Nam, 37 tuổi, phụ huynh học sinh)

Và nếu học lực giỏi, các em sẽ được thường xuyên tham gia vào các hoạt động vui

chơi giải trí

“Nếu học giỏi mẹ sẽ chở lên nhà văn hóa cho chơi đu quay, xe đụng”

(Nữ, học sinh lớp 4)

Trang 36

Điều này cũng không sai khi tìm hiểu mối liên hệ giữa học lực với số lần đi chơi xa cùng gia đình

Bảng 12: Tương quan giữa số lần đi chơi và học lực người trả lời

Học lực người trả lời Tổng Khá-giỏi Trung bình- yếu Tần

số

Tỉ lệ (%) Tần số Tỉ lệ (%) Tần số Tỉ lệ (%)

Nguồn: Số liệu cuộc khảo sát 200 học sinh trường Nguyễn Huệ và Lê Lợi

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong tổng số 183 em được đi chơi xa cùng gia đình,

có 129 em đạt học lực khá giỏi được đi chơi xa cùng với gia đình (70.5%), trong khi đó

số lượng này ở học sinh trung bình- yếu chỉ chiếm 29,5% Qua bảng trên chúng ta cũng

có thể thấy các em học sinh có học lực khá giỏi sẽ tham gia đi chơi nhiều lần trong năm hơn số các em có học lực trung bình Mức độ tham gia thường xuyên của học sinh khá-giỏi cũng nhiều hơn, rất ít các em trong số đó đi chơi ít hơn 1 lần trong năm (8,5%) Số còn lại, được đi chơi nhiều hơn 2 lần chiếm tới 41,1% Mức được đi chơi xa cùng với gia đình nhiều nhất đối với học sinh trung bình-yếu là 2 lần trong năm (chiếm 31,5%) Điều này chứng tỏ giữa việc tham gia vui chơi giải trí và việc học tập của trẻ có một mối liên

hệ khá chặt chẽ Khi tham gia đi chơi xa cùng với gia đình, các em sẽ học hỏi được nhiều điều mới ở địa điểm du lịch Khi tham gia các trò chơi, trẻ em sẽ trở nên năng động hơn, hoạt bát hơn

Mặt khác, khi trẻ tham gia nhiều vào hoạt động vui chơi giải trí, trẻ có thể mở mang trí tuệ, tạo sự thư giãn để trẻ có thể học tập tốt Như vậy, đi chơi cũng là một trong những động lực thúc đẩy con em học tập tốt hơn Và để phát triển mối quan hệ này cha mẹ cũng thường có những chế tài để cân bằng giữa việc học tập và vui chơi của các em thiếu nhi Nếu các em học tập đạt kết quả tốt thì sẽ cho các em đi chơi nhiều hơn, trao cho trẻ phần thưởng để khuyến khích tinh thần học tập

“Chơi thì dễ, ví dụ như con tôi lớp1, khi mà nó thuộc bảng cửu chương là tôi cho nó

đi chơi rồi Chơi những gì mà nó thích nhất là tự nhiên nó thuộc hết Đó là một phần

Trang 37

động lực Ngoài ra nếu như những động lực đó không còn tốt thì mình chuyển, chuyển sang thứ khác để tạo động lực mới để nó thích… thì lúc nào cái động lực mình đưa ra cũng là theo hướng tốt nhất Nhiều khi thì trẻ chơi miết nó cũng chánthì mình đổi sang động lực khác để nó có thể tốt hơn.”

(Nam, 37 tuổi, phụ huynh học sinh)

3.1.2 Hoạt động Giải trí tại nhà

Bên cạnh tổ chức các buổi đi chơi xa, thăm quan dã ngoại thì sự đáp ứng nhu cầu giải trí của trẻ ngay tại nhà là yếu tố cốt lõi để xem xét và đánh giá vai trò – khả năng đáp ứng nhu cầu giải trí từ phía gia đình Vai trò của gia đình trong khía cạnh này được thể hiện qua mức độ cùng tham gia giải trí với con cái, tạo những điều kiện cần thiết về không gian cũng như vật dụng để trẻ vui chơi tại nhà Cung cấp những vật dụng chơi, xây dựng những mối quan hệ đáp ứng nhu cầu vui chơi tại nhà

3.1.2.1 Tạo điều kiện cho trẻ vui chơi giải trí tại nhà

3.1.2.1.1 Cung cấp đồ chơi cho trẻ

Ở độ tuổi tiểu học, nhu cầu vui chơi giải trí của trẻ rất cao, đặc biệt là tham gia vào các trò chơi Có nhiều trò chơi chúng ta không cần đến những vật dụng hỗ trợ khi tham gia chơi như đuổi bắt, trốn tìm, nhảy bước,… thế nhưng bên cạnh đó, các trò chơi như đá banh, nhảy dây, cầu lông, đồ hàng, lắp ghép búp bê, bắn bi…lại cần đến nhiều loại vật dụng hỗ trợ mới có thể tham gia chơi Kết quả khảo sát đã phân tích trước đó đã cho thấy

ở nhà, trẻ thường tham gia vào những trò chơi có sử dụng vật dụng hỗ trợ Như vậy, việc cung cấp đồ chơi cho trẻ là một vai trò rất quan trọng của gia đình nhằm đáp ứng những nhu cầu cần thiết để trẻ tham gia vào hoạt động vui chơi tại nhà

Trong quá trình nghiên cứu, khi khảo sát về mức độ thường xuyên được ba mẹ mua

đồ chơi, chúng tôi thu nhận kết quả ở bảng sau:

Bảng 13 Mức độ được ba mẹ mua đồ chơi 13

Trang 38

Nguồn: Số liệu cuộc khảo sát 200 học sinh trường Nguyễn Huệ và Lê Lợi

Kết quả cho thấy trong tổng số 199 em tham gia trả lời khảo sát này có tới 25,6% các em ít khi được mua đồ chơi và 12,1% các em không bao giờ được mua đồ chơi Qua

đó chúng ta thấy có một số lượng không phải nhỏ các em không được ba mẹ hỗ trợ đồ chơi để chơi ở nhà như các bạn khác (42,2% thỉnh thoảng được ba mẹ mua đồ chơi) Thực tế này được giải thích khi kiểm định mối tương quan giữa độ tuổi và mức độ thường xuyên mua đồ chơi ở trẻ

Bảng 14 Tương quan giữa khối lớp và mức độ mua đồ chơi

Đơn vị tính: %

Nguồn: Số liệu cuộc khảo sát 200 học sinh trường Nguyễn Huệ và Lê Lợi

Khi so sánh mức độ thường xuyên được mua đồ chơi theo khối lớp tương ứng với

độ tuổi tăng dần, chúng tôi nhận thấy con số ít khi và không bao giờ được mua đồ chơi sẽ rơi vào những em có độ tuổi càng lớn (khối lớp 3,4,5) Các em khối lớp 1, con số không bao giờ chỉ chiếm 4,2%, trong khi con số này ở lớp 4 là 20,8% và khối lớp 5 là 29,2% Điều này khẳng định, càng lớn, cha mẹ sẽ càng ít mua đồ chơi cho các em Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy trước đó trẻ đã được mua đồ chơi nhưng giờ lớn rồi thì ba mẹ hạn chế hoặc không mua đồ chơi cho trẻ như trước nữa

“Dạ Lớn rồi mẹ không mua cho con nữa …Búp bê, đồ chơi nấu ăn của búp bê”

(Nữ, học sinh lớp 4)

Ngoài ra, độ tuổi lớn dần thì đồ chơi của trẻ cũng ít được mua và thay vào đó là các dụng cụ, tài liệu học tập Những thông tin phỏng vấn sâu cũng có thể minh chứng cho vấn đề này:

Khối lớp

Mức độ ba mẹ mua đồ chơi Thường

xuyên

Thỉnh thoảng Ít khi

Không bao giờ

Trang 39

“Hồi nó còn nhỏ thì tôi hay mua mấy thứ như đàn piano bé tí đánh đồ rê mi pha sol, chó bông, theo tôi cảm thấy cái gì giúp trẻ phát triển thì tôi mua Còn bây giờ thì ít mua lắm, mua tài liệu học tập là chủ yếu”

(Nam, 37 tuổi, phụ huynh học sinh)

Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi chưa tìm ra những số liệu mang tính thống kê chứng tỏ loại hình giải trí của các em có sự thay đổi hoặc giảm sút theo độ tuổi Chính vì vậy, những số liệu về mức độ cha mẹ ít khi,không bao giờ mua đồ chơi cho các em vẫn cho thấy rằng sự quan tâm của cha mẹ đến nhu cầu vui chơi của con cái còn nhiều hạn chế trong khi nhu cầu chơi của các em còn nhiều Đây không chỉ là một thiệt thòi cho các em khi tham gia vào các trò chơi ở nhà mà nó còn là một trong những nguy

cơ tiềm ẩn dễ khiến các em tham gia vào những loại hình giải trí không lành mạnh

3.1.2.1.2 Không gian chơi ở nhà

Không gian chơi ở nhà cũng được xem là một chỉ báo để kiểm tra vai trò của gia đình trong việc đáp ứng nhu cầu vui chơi của trẻ ở nhà Chúng ta cũng nhận thấy khi hoạt động vui chơi diễn ra nếu không có không gian phù hợp để chơi thì hiệu quả trò chơi cũng không có Hơn thế, thiếu không gian là một trong nhũng nguyên nhân kìm hãm nhu cầu vui chơi của trẻ Nói cách khác, nếu không có không gian chơi thì trẻ không thể chơi các trò chơi Chính vì thế, tạo điều kiện để trẻ có được một không gian chơi ở nhà là một vai trò rất lớn đối với gia đình Nó không chỉ tạo ra sân chơi mà nó còn tạo ra nhiều tác dụng khác khi trẻ được vui chơi thoải mái (tinh thần tốt hơn, học tập đạt kết quả cao hơn, hoạt bát và năng động hơn…)

Để kiểm chứng chỉ báo này, khi tìm hiểu về nơi vui chơi chủ yếu ở nhà của trẻ, kết quả cho thấy nơi vui chơi chủ yếu ở nhà của trẻ là ngoài sân (69%) Tuy nhiên, cũng có tới 16,5% các em chơi ở phòng riêng và 11,5% chơi ở phòng sinh hoạt chung

Mặt khác, kết quả phỏng vấn sâu cũng cho thấy, khi vui chơi ở ngoài sân trẻ có thể thoải mái chơi các trò chơi vận động (nhảy dây, đá banh, rượt bắt…) mà không ngại đụng

đồ bể hoặc không gian chật hẹp gò bó, ở ngoài sân các em có thể vui chơi thoải mái:

“Đảm bảo an toàn về kinh tế, nó không làm bể tivi các thứ chẳng hạn.”

(Nam, 37 tuổi, phụ huynh học sinh)

Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy không gian chơi tại nhà của các em mặc dù không được đảm bảo về chất lượng nhưng các em vẫn có thể chơi tại nhà với những không gian sinh hoạt chung cùng gia đình Đó có thể là một thiệt thòi khi không có không

Trang 40

gian riêng để vui chơi nhưng đó cũng là một thuận lợi để cha mẹ có thể vui chơi cùng với các em ở những nơi sinh hoạt chung này

3.1.2.2 Tạo điều kiện cho trẻ xây dựng các mối quan hệ vui chơi tại nhà

3.1.2.2.1 Cha mẹ tham gia giải trí cùng trẻ

Khi bàn về vai trò của gia đình trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của trẻ thì không thể không nói đến sự tham gia của cha mẹ vào hoạt động vui chơi giải trí cùng với con

Nó không chỉ thể hiện sự quan tâm của cha mẹ đối với con cái mà nó còn là môi trường

để cha mẹ có thể kiểm soát và uốn nắn con cái thông qua các trò chơi

Những học sinh tham gia khảo sát cho cũng cho biết mức độ cha mẹ tham gia vào các hoạt động vui chơi tại nhà của các em như sau:

Bảng 15 Mức độ cha mẹ cùng tham gia giải trí ở nhà với trẻ 14

Nguồn: Số liệu cuộc khảo sát 200 học sinh trường Nguyễn Huệ và Lê Lợi

Kết quả cho thấy, có tới 23% các bậc phụ huynh không bao giờ tham gia chơi cùng con và 18,5% cha mẹ ít khi chơi các trò chơi với con cái tại nhà Điều này được lí giải do tính chất công việc, có nhiều phụ huynh phải đi làm xa nhà; mặt khác, thời gian lao động

ở ngoài quá nhiều, cần được nghỉ ngơi nên nhiều cha mẹ không thể tham gia cùng với con cái trong những lúc chúng chơi tại nhà Kết quả phỏng vấn sâu cũng làm rõ hơn khía cạnh này:

“Dạ, ba đi làm xa, tuần về một lần nên để yên cho ba nghỉ ngơi Mẹ con chơi nhưng mẹ mắc công chuyện nên mẹ không chơi”

(Nữ, học sinh lớp 4)

Bên cạnh đó, cũng có một phần lớn cha mẹ có tham gia chơi cùng với con cái trong thời gian hoạt động giải trí tại nhà Tuy nhiên, việc vui chơi cùng con chỉ ở mức thỉnh thoảng (39%)

14Rất thường xuyên = Hàng ngày, Thỉnh thoảng = vài lần một tuần, Ít khi = vài lần một tháng

Ngày đăng: 07/05/2021, 18:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w