Tình trạng khủng hoảng của SKCL ngày càng trầm trọng và hoàn toàn có nguy cơ bị mai một: chương trình Cải lương nhất là diễn nguyên tuồng ngày càng thưa vắng và giảm sút chất lượng nghiê
Trang 1TỪ NĂM 1975 ĐẾN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ: VIỆT NAM HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
Trang 2NGUYỄN TRẦN NGỌC TUYẾT
SÂN KHẤU CẢI LƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI KINH TẾ - XÃ HỘI
Trang 3Tôi cam đoan luận văn “Sân khấu Cải lương Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế - xã hội từ năm 1975 đến nay” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin, kết luận nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Nguyễn Trần Ngọc Tuyết
Trang 41 CĐSKĐA: Trường Cao đẳng Sân khấu - Điện ảnh TP.HCM
2 ĐCTT: Đờn ca tài tử
3 ĐHĐCS: Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam toàn quốc
4 GS.TS: Giáo sư Tiến sĩ
5 HTV: Đài Truyền hình TP.HCM
6 LHSKMT: Liên hoan Sân khấu mùa Thu
7 NHTHT: Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang
8 NSND: nghệ sĩ nhân dân
9 NSƯT: nghệ sĩ ưu tú
10 NTCL: nghệ thuật Cải lương
11 SKCL: sân khấu Cải lương
12 SKCLTP: sân khấu Cải lương TP.HCM
13 TBCN: tư bản chủ nghĩa
14 TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
15 UBNDTP: Ủy ban Nhân dân TP.HCM
16 VHTTDL: Văn hóa, Thể thao và Du lịch
17 XHCN: xã hội chủ nghĩa
Trang 5ĐỀ MỤC TRANG
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Tính cấp bách, cần thiết 4
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 5
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
6 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
7 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 10
8 Giả thuyết nghiên cứu 13
NỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT DIỄN TRÌNH SÂN KHẤU CẢI LƯƠNG TỪ KHI RA ĐỜI ĐẾN NĂM 1975 14
1.1 Sự ra đời của Sân khấu Cải lương 14
1.1.1 Bối cảnh ra đời sân khấu Cải lương 14
1.1.2 Quá trình hình thành sân khấu Cải lương 18
1.2 Quá trình phát triển của sân khấu Cải lương 24
1.2.1 Giai đoạn tự hoàn thiện và khẳng định vị thế (1920 – 1945) 24
1.2.1.1 Sự phát triển lực lượng biểu diễn 24
1.2.1.2 Sự hình thành các thể tài trên sân khấu Cải lương 27
1.2.1.3 Sự lan tỏa của nghệ thuật Cải lương 31
1.2.2 Giai đoạn nhiều thăng trầm của sân khấu Cải lương (1945 – 1975) 35
1.2.2.1 Giai đoạn giao thời (1945 – 1954) 35
1.2.2.2 Giai đoạn đỉnh cao của sân khấu Cải lương (1955 – 1968) 37
Trang 6THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ NĂM 1975 ĐẾN NAY 54
2.1 Thời kỳ đỉnh cao mới của sân khấu Cải lương (1975 – 1985) 54
2.1.1 Bối cảnh phát triển sân khấu Cải lương giai đoạn 1975 – 1985 54
2.1.2 Sự lớn mạnh của sân khấu Cải lương Xã hội chủ nghĩa 56
2.1.2.1 Tình hình hoạt động văn hóa văn nghệ sau giải phóng 56
2.1.2.2 Hoạt động sân khấu Cải lương giai đoạn 1975 - 1985 58
2.2 Sân khấu Cải lương thời khủng hoảng (1986 đến nay) 70
2.2.1 Sự khủng hoảng của sân khấu sàn diễn và sự phát triển của video Cải lương (1986 – 1997) 70
2.2.1.1 Bối cảnh hoạt động sân khấu Cải lương giai đoạn 1986 - 1997 70
2.2.1.2 Sân khấu Cải lương sàn diễn khủng hoảng 74
2.2.1.3 Sự phát triển của video Cải lương 80
2.2.2 Giai đoạn sân khấu Cải lương khủng hoảng toàn diện (1997 đến nay) 86 2.2.2.1 Bối cảnh hoạt động sân khấu Cải lương từ năm 1997 đến nay 86
2.2.2.2 Sân khấu Cải lương biến đổi nhiều về hình thức 92
2.2.2.3 Những phương thức hoạt động mới 97
Tiểu kết 108
CHƯƠNG 3: NGUYÊN NHÂN KHỦNG HOẢNG VÀ GIẢI PHÁP KHÔI PHỤC SÂN KHẤU CẢI LƯƠNG 110
3.1 Nguyên nhân khủng hoảng của sân khấu Cải lương 110
3.1.1 Nguyên nhân khách quan 110
3.1.2 Nguyên nhân chủ quan 112
3.1.2.1 Quản lý yếu kém 112
3.1.2.2 Sự khủng hoảng của các yếu tố cấu tạo nên tác phẩm Cải lương 114 3.1.2.3 Những nguyên nhân khác 124
3.2 Giải pháp cho sân khấu Cải lương hiện nay 127
Trang 7KẾT LUẬN 143
TÀI LIỆU THAM KHẢO 148
Trang 8So về bề dày lịch sử hàng mấy trăm năm của Chèo, Tuồng hay các loại hình nghệ thuật dân tộc khác như Ca trù, Quan họ, Nhã nhạc…, Cải lương, chỉ mới ra đời vào đầu thế kỷ XX, vẫn còn quá “non trẻ” nhưng lại có tốc độ phát triển đáng kinh ngạc Chỉ trong vòng chưa đầy hai thập niên, NTCL đã đi đến độ hoàn thiện về đặc điểm loại hình, xác định những chuẩn mực riêng cho mình trong nền sân khấu dân tộc: kịch bản, âm nhạc, phong cách biểu diễn, thủ pháp sân khấu… Không những thế, từ quê hương Nam Bộ, Cải lương đã lan tỏa mạnh mẽ khắp mọi miền đất nước, nhanh chóng bén rễ và đâm chồi nảy lộc với một sức sống mãnh liệt đến
Trang 9không ngờ trên những vùng đất mà Tuồng, Chèo đã ngự trị hàng mấy thế kỷ Có thể nói, SLCL thể hiện khá rõ nét tính chất “thống nhất trong đa dạng” nổi bật của văn hóa Việt Nam qua khả năng dung hợp cao nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau, thể hiện được nhiều đề tài, thích ứng cao với văn hóa nhiều vùng miền… nhưng vẫn giữ được trọn vẹn tính chất riêng của nó Vì thế, dù: diễn tuồng tâm lý hiện đại hay lịch sử, hương xa, tuồng Tây, tuồng Tàu hay tuồng Ấn Độ, La Mã…; nghệ sĩ hát giọng Nam hay giọng Bắc; sân khấu thể hiện cảnh đấu súng hay đấu gươm, đề tài cách mạng hay chống tham nhũng… đều vẫn là chỉnh thể một tuồng Cải lương chứ không biến thành một loại hình nào khác Mỗi loại tuồng, mỗi phong cách, mỗi vùng miền lại có những nét đặc sắc riêng góp phần tô điểm cho NTCL muôn màu muôn vẻ Đấy chính là sức hấp dẫn của SKCL đồng thời giúp loại hình này ít đối diện với nguy cơ lạc hậu Đặc biệt, tính chất mở và tự thân đổi mới luôn khiến SKCL tìm được cách thích ứng với xã hội và thị hiếu khán giả (dù tính chất này đang lu mờ trong thời điểm hiện nay) Tìm hiểu về SKCL không chỉ là tìm hiểu về một loại hình sân khấu đầy hấp dẫn ở hoạt động chuyên môn lẫn đặc điểm nghệ thuật mà cũng là phần nào tìm hiểu về tâm hồn, đời sống người dân, đặc biệt là con người Nam Bộ khi mà một thời gian dài Cải lương đã hoàn toàn chiếm lĩnh tình cảm và có vị thế vững chắc trong đời sống tinh thần con người nơi đây
Bề dày lịch sử khá ngắn ngủi nhưng quá trình hình thành và phát triển của SKCL lại vô cùng đa dạng, phong phú với nhiều biến động, khúc quanh gắn liền cùng thời cuộc Ngay chính sự ra đời của Cải lương cũng là từ nhu cầu cải cách trên nhiều lĩnh vực của giới trí thức Tây học dưới tác động của tình hình chính trị, hoàn cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX Đặc biệt, sau năm 1975, SKCL đã biến chuyển vô cùng mạnh mẽ dưới sự vận động về chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước nói chung và TP.HCM nói riêng Ngày 30/4/1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông quy về một mối, đất nước thống nhất về lãnh thổ và thể chế chính trị Nghệ thuật biểu diễn nói chung và SKCL ở miền Nam nói riêng đứng trước thử thách không nhỏ khi chuyển hoạt động từ nền kinh tế thị trường TBCN sang nền kinh tế kế hoạch hóa XHCN Với khả năng thích ứng cao, lại gắn bó chặt chẽ với
Trang 10cách mạng từ những ngày đầu kháng chiến (nhiều soạn giả, “bầu” gánh hát, ký giả kịch trường… là cán bộ hoạt động nội thành), SKCL nhanh chóng phục hồi, hòa vào nhịp sống mới và trải qua giai đoạn phát triển “đỉnh cao mới” trong 10 năm sau ngày giải phóng Tuy nhiên sau giai đoạn phát triển rực rỡ 1975 – 1985, SKCL lại
sa sút đến không ngờ khi video Cải lương bùng nổ trong thập niên 90 thế kỷ XX Cuối cùng lâm vào khủng hoảng toàn diện trong thế kỷ XXI và phải “vật lộn” với
đủ phương thức hoạt động, thể nghiệm nhiều hướng đi mới lạ nhằm duy trì nhịp sống giữa xã hội hiện đại… Thực tiễn phong phú và phức tạp đó là hấp lực không nhỏ cho những người thích tìm hiểu về SKCL, trong đó có bản thân học viên Tình trạng khủng hoảng của SKCL ngày càng trầm trọng và hoàn toàn có nguy
cơ bị mai một: chương trình Cải lương (nhất là diễn nguyên tuồng) ngày càng thưa vắng và giảm sút chất lượng nghiêm trọng; thành phần khán giả chủ yếu đã lớn tuổi, lớp khán giả trẻ kế thừa rất ít; giới trẻ ngày càng xa lạ với Cải lương cũng như ít cơ
hội tiếp cận những vở diễn hay; những quan niệm: “Cải lương là sến, là quê mùa,
lạc hậu…” không hiểu từ bao giờ đã ăn vào nếp nghĩ của nhiều bạn trẻ dù rằng họ
chưa hề nghe qua hay xem vở Cải lương nào… Là một người yêu mến NTCL, đã thích thú những tuồng tích, những bài bản Cải lương từ rất nhỏ và đã học hỏi được nhiều điều từ nghệ thuật này, học viên mong muốn thực hiện một đề tài nghiên cứu
có thể giúp bản thân nhìn nhận tổng quát về quá trình vận động của SKCL thời gian qua, cũng như hiểu được thực trạng SKCL Cải lương hiện nay, từ đó có thể phân tích được nguyên nhân và hy vọng nhìn ra được hướng đi phù hợp cho sự phát triển của SKCL thời hiện đại
Có thể nói việc trở thành phóng viên của chuyên mục sân khấu là một may mắn trong nghề nghiệp của học viên khi được theo đuổi lĩnh vực mình yêu thích Đề tài này trước tiên cũng phục vụ cho nghề nghiệp của bản thân học viên, vốn cần tìm hiểu sâu về lĩnh vực này Trong quá trình tác nghiệp, được tiếp xúc với nhiều người gắn bó lâu năm với SKCL, thấy và hiểu được phần nào những cái khó của người làm nghề hiện nay, học viên thực sự đồng cảm với những trăn trở về thực trạng Cải lương của những người vẫn nặng lòng cùng nghệ thuật này dù phải nỗ lực đi tìm
Trang 11từng khán giả Những tình cảm cá nhân với SKCL, với những người làm nghề cũng thôi thúc học viên chọn đề tài này cho luận văn của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Có được cái nhìn tổng quan về diễn trình hoạt động và sự vận động của SKCLTP giai đoạn từ năm 1975 đến nay, từ đó rút ra được những vấn đề nổi bật của SKCL trong giai đoạn này (xuất hiện những nhân tố, những mô hình hoạt động nào mới; có những bước phát triển gì về nghệ thuật chuyên môn, công tác quản lý; những hiệu ứng xã hội đạt được…)
- Chỉ ra được những yếu tố tác động đến hoạt động và sự vận động của sân SKCL; nắm được những chủ trương, đường lối của nhà nước, chính quyền TP.HCM đối với sự phát triển SKCL và những hiệu quả đạt được
- Đánh giá vai trò của SKCL trong giai đoạn này: đáp ứng nhu cầu tinh thần của người dân, phục vụ chính trị, phản ánh xã hội…
- Nhìn nhận về sự khủng hoảng của SKCL ở nhiều khía cạnh: biểu hiện của sự khủng hoảng (hoạt động sàn diễn, tính chuyên nghiệp trong biểu diễn và tác phong người nghệ sĩ, chất lượng chương trình…), nguyên nhân (chủ quan lẫn khách quan),
đề xuất hướng giải quyết…
3 Tính cấp bách, cần thiết
- Hiện nay, những người đã gắn bó và nắm rõ những chuyển biến của SKCL từ năm 1975 đến nay không còn nhiều và cũng đã lớn tuổi Trong vài năm trở lại đây, một loạt những tên tuổi lớn đã ra đi (NSND Phùng Há, NSƯT Minh Phụng, Thanh Thanh Hoa, Tấn Tài, Kim Ngọc, soạn giả Quy Sắc, Ngọc Văn, Nhị Kiều, đạo diễn Minh Quân, Bạch Lan…) Chỉ vài năm nữa thôi nếu muốn nghiên cứu chuyên sâu về SKCL sẽ rất khó khăn trong việc thu thập tài liệu từ những người đã trực tiếp tham gia và hiểu sâu sắc về giai đoạn quan trọng này
- SKCL dần rơi vào khủng hoảng từ thập niên 90 thế kỷ XX Đến nay, qua hơn
20 năm vẫn chưa thấy khởi sắc Việc nghiên cứu, nhìn nhận, đánh giá lại giai đoạn này (từ 1975 đến nay) tại thời điểm hiện nay, với nhiều nỗ lực phục hồi SKCL từ trung ương đến địa phương, là điều hoàn toàn cần thiết
Trang 124 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học:
- Góp thêm một nghiên cứu về SKCL ở phương diện lịch sử
- Góp phần đưa ra những đánh giá về mặt lý thuyết vị trí SKCL trong đời sống văn hóa nước nhà, đặc biệt là trong giai đoạn mới từ 1975 đến nay
- Góp thêm những phân tích lý thuyết về sự tác động của các yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa, vấn đề toàn cầu hóa… đối với SKCL
Trang 13đất nước đổi mới toàn diện từ năm 1986 đưa kinh tế - xã hội nước nhà thoát khỏi khủng hoảng đi lên thì tình hình SKCL lại chuyển động theo chiều ngược lại…
- Không gian: địa bàn TP.HCM – luôn là địa điểm SKCL hoạt động nhộn nhịp nhất khi quy tụ nhiều đoàn hát nhất, lực lượng làm nghề hùng hậu nhất, nhiều nghệ
sĩ tài danh nhất… Sự vận động của đời sống kinh tế - xã hội cũng thể hiện rõ nhất ở TP.HCM và tác động đến SKCL mạnh nhất Nghiên cứu trường hợp của TP.HCM
có những nét đặc thù riêng của sinh hoạt văn hóa ở đô thị lớn nhưng vẫn có những nét tương đồng và có thể suy ra tình hình hoạt động SKCL ở các khu vực khác
- Sỹ Tiến (1984), Bước đầu tìm hiểu Sân khấu Cải lương, Nxb TP.HCM: cung
cấp những thông tin sâu và cụ thể về buổi đầu hình thành NTCL đặc biệt là quá trình Cải lương lan tỏa đến miền Bắc và dần phát triển định hình một “dòng sân khấu Cải lương Bắc” đặc sắc Tác phẩm được viết bởi người trong nghề, “cánh chim đầu đàn” của SKCL Bắc – NSND Sỹ Tiến – nên rất chi tiết và sống động vì đều gắn bó với những sự kiện đã được chính tác giả trải nghiệm Tuy chỉ tập trung vào SKCL miền Bắc, không phải đối tượng nghiên cứu chính của luận văn, nhưng cũng đã giúp học viên có một cái nhìn tổng quan về SKCL thuở sơ khai
- Trương Bỉnh Tòng (1997), Nghệ thuật Cải lương những trang sử, Viện Sân
khấu: thể hiện khá rõ nét những chặng đường của SKCL từ khi ra đời vào đầu thế
kỷ XX đến cuối thập niên 90 Qua từng cột mốc lịch sử, tác giả đã nêu lên hoạt động chủ yếu của SKCL cũng như đặc trưng từng thời kỳ, những gương mặt nghệ sĩ nổi bật Đặc biệt, tác giả đi sâu vào hoạt động đấu tranh yêu nước trên SKCL: hoạt động của các đoàn hát cách mạng ở miền Bắc, trong vùng giải phóng; SKCL đề cao lòng yêu nước, thể hiện khát vọng thống nhất đất nước, khéo léo đấu tranh công
Trang 14khai với kẻ thù ở vùng tạm chiếm… Thể hiện dưới dạng lược sử nên sách chủ yếu liệt kê, mô tả chứ chưa phân tích sâu những yếu tố tác động đến tiến trình SKCL
- Trần Văn Giàu - Trần Bạch Đằng chủ biên (1998), Địa chí Văn hóa TP.HCM
– Tập III: Nghệ thuật, Nxb TP.HCM: phần nghiên cứu về Cải lương với các bài viết Sân khấu Cải lương (Hoàng Như Mai), Hát Cải lương trên chặng đường đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội (Trương Bỉnh Tòng), Nghệ thuật sân khấu Cải lương thực trạng và triển vọng (Nguyễn Phúc) cung cấp một cái nhìn khái quát tương đối đầy
đủ về “đường đi” của SKCL từ khi ra đời đến giai đoạn khủng hoảng Những phân tích về bối cảnh phát triển SKCL trong các giai đoạn đã gợi ý cho học viên phương hướng triển khai nhiều luận điểm trong luận văn
- Trần Trọng Đăng Đàn (1998), 23 năm cuối của 300 năm Văn hóa - Nghệ
thuật Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Văn nghệ: tập hợp các bài tiểu luận,
phê bình, nghiên cứu của tác giả về nhiều vấn đề văn hóa nghệ thuật TP.HCM từ sau năm 1975, nằm trong những xuất bản phẩm kỷ niệm 300 năm Sài Gòn - TP.HCM Với nhiều bài viết về sân khấu TP.HCM nói chung và SKCL nói riêng:
Chặng đường mới của sân khấu TP.HCM (1985),Mấy tín hiệu dự báo về công chúng sân khấu Cải lương, Một câu hỏi về ca nhạc Cải lương, Nhân xem Đoàn Cải lương tuồng cổ Huỳnh Long nghĩ về nghệ thuật Cải lương tuồng cổ (1986), Ghi nhận từ phía lý luận qua thực tiễn Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc 1995…, tác giả đã phân tích khá sâu sát tình hình hoạt động và xu hướng phát triển
SKCL dưới góc nhìn của một nhà lý luận, phê bình Không chỉ mô tả hoạt động, nêu lại các sự kiện mà đi sâu phân tích, đánh giá vấn đề dưới cái nhìn biện chứng, vạch ra những yếu tố xã hội tác động đến sân khấu và cả dự đoán xu thế phát triển
Ví dụ: qua những số liệu thăm dò tỷ lệ người yêu thích SKCL đang có xu hướng giảm dần đặc biệt là ở giới trẻ ngay từ năm 1986, tác giả đã dự cảm về một giai đoạn khó khăn cho SKCL nếu cứ tiếp tục đi theo lối mòn, không đổi mới để có thể đáp ứng nhu cầu của đại bộ phận công chúng mà trình độ học vấn, tiếp nhận thẩm
mỹ ngày càng cao… Những bài viết này đã giúp học viên định hình được cách tiếp cận cũng như hướng phân tích cụ thể cho đề tài luận văn của mình…
Trang 15- Đỗ Dũng (2000), Sân khấu cải lương Nam Bộ, Nxb Trẻ: cũng là một lược sử
về SKCL nêu lên những nét khái quát nhất, những điểm nhấn nổi bật nhất trong hành trình SKCL từ năm 1918 đến 2000 Sách đã cung cấp một cái nhìn tổng quan cho học viên và gợi ý những sự kiện, giai đoạn cần khai thác cho đề tài Tuy nhiên chỉ dừng lại ở việc điểm lại nên tác giả không đi vào chi tiết cụ thể ở từng thời kỳ, cũng như phân tích, đánh giá sâu các giai đoạn (nhất là giai đoạn khủng hoảng)
- Các hồi ký: Nguyễn Ngọc Bạch (2003), Một đời sân khấu, Nxb Trẻ; Mai Quân (2005), Trong sương gió, Nxb Văn nghệ; NSND Bảy Nam (2010), Trôi theo
dòng đời, Nxb Phụ nữ; Trần Văn Khê (2010), Hồi ký Trần Văn Khê, Nxb Trẻ: đều
là những hồi ký về cuộc đời của những nhân vật tài danh đã đóng góp vào diễn trình hình thành và phát triển SKCL Những hồi ký này cung cấp góc nhìn từ “bên trong” chứ không chỉ hiện ra trên sàn diễn Mặc dù chỉ xoay quanh những sự kiện gắn với từng tác giả, nhưng qua đó người đọc vẫn có thể hình dung phần nào những thăng trầm của tiến trình SKCL
- Tuấn Giang (2006), Nghệ thuật Cải lương, Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM:
là một công trình khoa học tập hợp ba đề tài có thể khái quát được đặc trưng chính
của NTCL, cũng được chia làm ba phần trong sách, là: Đặc trưng ngôn ngữ sân
khấu Cải lương, Nghệ thuật biên kịch Cải lương và Thẩm mỹ Cải lương Khác với
nhiều tài liệu khác thường thiên về góc nhìn lịch sử tập trung vào quá trình hình thành và phát triển, hoạt động SKCL với những nhân tố cấu thành (soạn giả, nhạc
sĩ, quản lý – bầu gánh hát, nghệ sĩ…)…, tác giả Tuấn Giang đi sâu vào tìm hiểu bản chất của chính loại hình NTCL nhằm khái quát nên những đặc trưng cốt lõi, những quy tắc cơ bản để khẳng định đấy là Cải lương chứ không phải một loại hình ca kịch nào khác, thể hiện qua những yếu tố: âm nhạc, tình huống kịch, hình tượng nhân vật, ca từ, trang trí, diễn xuất, vũ đạo… Tài liệu đã giúp học viên bổ sung thêm kiến thức lý thuyết về đặc trưng loại hình NTCL
- Vương Hồng Sển (2007), Hồi ký 50 năm mê hát, Nxb Trẻ: với dày đặc sự
kiện được mô tả súc tích dưới góc nhìn thú vị của một “người ham chơi”, tác phẩm thể hiện sinh động diện mạo SKCL từ buổi đầu hình thành đến giai đoạn phát triển
Trang 16rực rỡ vào thập niên 60 (thế kỷ XX) Tuy là một hồi ký, không phải công trình nghiên cứu khoa học, chủ yếu đề cập đến chuyện hậu trường sau cánh màn nhung hơn là những sự kiện chính thức của đời sống sân khấu nhưng đây vẫn là một trong những tác phẩm nổi bật nhất về Cải lương, luôn nằm trong danh mục tài liệu sưu tập của những người thích tìm hiểu nghệ thuật này (nhất là thời kỳ đầu)
- Huỳnh Công Minh, Vang bóng một thời 1, 2, 3, 4, 5, Nxb Văn hóa Sài Gòn:
là năm tập sách ảnh nổi tiếng đăng tải nhiều hình ảnh tư liệu cùng bài viết về thời hoàng kim của SKCL Sài Gòn trước năm 1975 Tuy chỉ là sách ảnh nhưng cũng đã cung cấp nhiều kiến thức về tính chất, đặc điểm của SKCL xưa (đặc biệt là những bức ảnh còn rõ đến chi tiết những hoa văn trang trí trên phông cảnh ngày trước thể hiện phong cách tả thực, sang trọng, lịch lãm của SKCL thời thịnh vượng…) làm cơ
sở để so sánh và nhận thức những chuyển biến chủ yếu về mặt hình thức trên SKCL giai đoạn sau này
- Nguyễn Thị Minh Ngọc - Đỗ Hương chủ biên (2007), 100 câu hỏi về sân
khấu Cải lương, Nxb Văn hóa Sài Gòn: trình bày cô đọng nhất những kiến thức về
NTCL dưới dạng hỏi - đáp, chủ yếu xoay quanh lịch sử hình thành, đặc điểm nghệ thuật, các nhân vật nổi tiếng, những sự kiện sân khấu, vở diễn nổi bật…
- Kỷ yếu tọa đàm khoa học Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật
thể nghệ thuật Đờn ca Tài tử (2010) do Sở VHTTDL TP.HCM tổ chức: với nhiều
tham luận của những nhà nghiên cứu uy tín về ĐCTT: Nghệ thuật Đờn ca Tài tử
trong không gian văn hóa Nam Bộ (GS.TS Trần Văn Khê), Nguồn gốc và quá trình phát triển của nghệ thuật Đờn ca Tài tử (TS Mai Thị Mỹ Liêm), Hệ thống bài bản trong Đờn ca Tài tử (Th.S Huỳnh Khải), Phong cách chơi nhạc Tài tử xưa và nay
(nhạc sĩ Kiều Tấn), Những vấn đề đặt ra từ nghệ thuật Đờn ca Tài tử (TS Mai Mỹ Duyên), Vai trò guitar phím lõm trong dàn nhạc Tài tử (nhạc sĩ Văn Môn)… đã
cung cấp cho học viên những kiến thức khái quát nhất về nguồn gốc, quá trình phát triển và đặc điểm của nghệ thuật ĐCTT – nền tảng âm nhạc của NTCL
- Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế Nghệ thuật Đờn ca Tài tử và những lối hòa
đàn ngẫu hứng (2011) do Bộ VHTTDL tổ chức: với tham luận của nhiều nhà khoa
Trang 17học trong và ngoài nước: Đờn ca Tài tử phác họa mấy chặng đường (PGS.TS Nguyễn Thụy Loan), Tổ chức nghệ thuật Đờn ca tài tử (TS Nguyễn Thị Mỹ Liêm),
Âm nhạc Tài tử - những tiền đề nguồn cội hình thành sân khấu Cải lương (TS Đỗ
Hương), Nhạc Tài tử - Cải lương những nét tương đồng dị biệt (nhạc sĩ Kiều Tấn),
Ngẫu hứng – một đặc điểm nổi bật của các truyền thống âm nhạc: Qua đó để hiểu hơn về Đờn ca Tài tử (GS.TS Yamaguchi Osamu – Nhật Bản), Sức lôi cuốn của âm nhạc Đờn ca Tài tử (GS.TS Sheen Dae Cheol – Hàn Quốc), Âm nhạc Tài tử Nam
Bộ - Một lối tư duy của người phương Nam (GS.TS Gisa Jaehnichen – Đức)… góp
phần khẳng định giá trị nghệ thuật ĐCTT đồng thời giúp học viên nhìn rõ thêm những bước chuyển từ hình thức ĐCTT thính phòng đến loại hình SKCL biểu diễn
- Nguyễn Lê Tuyên - Nguyễn Đức Hiệp (2013), Hát bội, Đờn ca Tài tử và Cải
lương cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, Nxb Văn hóa - Văn nghệ: chủ yếu tập hợp
những tư liệu xưa được lưu giữ ở các thư viện nước ngoài mà người nghiên cứu trong nước ít dịp tiếp xúc Tuy chỉ là những bài báo, ghi chép về ấn tượng của người nước ngoài với nghệ thuật truyền thống Việt Nam qua buổi đầu tiếp xúc nhưng đã góp phần quan trọng phác họa hình ảnh Hát bội, ĐCTT và SKCL hơn 100 năm trước (dù rất sơ lược) Đây là một nguồn tham khảo quý giá vì không dễ có được những tài liệu trực tiếp từ giai đoạn sơ khởi của ĐCTT và SKCL
Ngoài ra còn một bộ phận lớn tài liệu tản mác là những bài báo của những phóng viên văn hóa văn nghệ đã gắn bó lâu năm với lĩnh vực SKCL Rất nhiều bài báo sâu sắc phân tích rõ ràng thực trạng cũng như chỉ ra nguyên nhân sự khủng hoảng sân khấu hiện nay Nhưng chỉ trong khuôn khổ một bài báo và dưới góc độ báo chí nên những vấn đề đều chỉ mới được khơi gợi, liệt kê, chỉ nói lên hiện tượng chứ chưa thể đi sâu như một công trình nghiên cứu khoa học Tập hợp được tất cả những bài báo này thực sự là một nguồn tư liệu phong phú và rất bổ ích
7 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
- Lý thuyết về Nghệ thuật học: với đối tượng nghiên cứu là hoạt động SKCL, những kiến thức nền tảng về Nghệ thuật học thông qua các khái niệm: hình tượng
Trang 18nghệ thuật, chức năng nghệ thuật, thẩm mỹ nghệ thuật, thị hiếu thẩm mỹ… đã giúp học viên định hướng đối tượng nghiên cứu và phương hướng tiếp cận đối tượng hiệu quả Đồng thời giúp nhìn nhận nhiều vấn đề về mặt lý thuyết: sự hình thành và phát triển SKCL phản ảnh rõ sự vận động của đời sống kinh tế - xã hội (nghệ thuật – hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng – do cơ sở hạ tầng quyết định);
lý tưởng thẩm mỹ (khát vọng về sự hoàn thiện, hướng đến “chân - thiện - mỹ”) không hẳn song hành cùng thị hiếu thẩm mỹ (sở thích của con người)…
- Lý thuyết vùng văn hóa (hay văn hóa khu vực): được các nhà nhân chủng học
Mỹ đề ra vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với quan điểm chính: “Văn hóa của
mỗi dân tộc được hình thành trong quá trình lịch sử gắn liền với môi trường xã hội nhất định và trong điều kiện địa lý cụ thể” [67, tr.28] Lý thuyết này làm nền tảng
cho việc tìm hiểu bối cảnh địa - văn hóa cho sự ra đời của SKCL là vùng văn hóa Nam Bộ Đây là không gian văn hóa được hình thành bởi chủ thể là các tộc người Việt, Khmer, Chăm… cùng cộng cư lâu đời trên vùng đất phía Nam Tổ quốc với những điều kiện địa lý, hoàn cảnh tự nhiên riêng biệt và sự giao lưu giữa các cộng đồng đã tạo nên đặc trưng văn hóa riêng phân biệt với các vùng miền khác
- Lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa: ra đời vào cuối thế kỷ XIX chỉ sự tiếp xúc lâu dài của hai nền văn hóa dẫn đến ảnh hưởng lẫn nhau, làm biến đổi một số nét văn hóa của một hoặc cả hai nền văn hóa đó Là vùng đất mới của Tổ quốc với nhiều tộc người: Việt, Khmer, Hoa, Chăm… cùng cộng cư trong thời gian dài, sự giao lưu tiếp biến văn hóa ở Nam Bộ diễn ra mạnh mẽ hơn hẳn các vùng miền khác Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, với sự có mặt của thực dân Pháp, văn hóa Nam Bộ lại có cuộc tiếp xúc sâu sắc với văn hóa Pháp dẫn đến những biến đổi toàn diện trong đời sống văn hóa - xã hội miền Nam Và NTCL là sản phẩm trực tiếp của quá trình giao lưu tiếp biến giữa văn hóa Nam Bộ (vốn đã được cộng hưởng từ nhiều luồng văn hóa) và văn hóa phương Tây Có thể tìm thấy dấu ấn của mọi nền văn hóa trong NTCL: âm nhạc (ngoài nền tảng ĐCTT, còn có nhiều giai điệu mang
âm hưởng nhạc Hoa, Khmer, Tây Bắc, nhạc phương Tây…); tình huống kịch (tiếp thu cả Hát bội lẫn kịch Pháp); đề tài (có khả năng thể hiện mọi bối cảnh)…
Trang 19- Lý thuyết sinh thái văn hóa: chỉ ra quá trình và cách thức con người thích ứng với môi trường tự nhiên lâu dài mà sáng tạo nên những dạng thức văn hóa phù hợp với môi trường sống ấy Với sinh thái đồng bằng châu Thổ màu mỡ, nhiều kênh rạch, Nam Bộ có một hệ sinh thái đa dạng phù hợp phát triển nhiều ngành nghề: nông nghiệp trồng lúa nước lẫn canh tác cây ăn trái, đánh bắt thủy hải sản, giao thương phát triển đô thị… – một không gian sống thật sự cởi mở, khoáng đạt, dễ chịu Một môi trường sống thuận lợi, cùng xuất phát điểm của những người đi mở cõi đã hình thành nên bản tính: hào hiệp, phóng khoáng, sáng tạo và “chịu chơi” của các chủ thể văn hóa (chủ yếu là người Việt, bên cạnh cộng đồng các dân tộc Hoa, Khmer) Chính nhờ những đặc tính đó mà người Nam Bộ đã mạnh dạn tiếp thu cái mới bên ngoài cũng như cách tân những giá trị truyền thống để cho ra đời một loại hình nghệ thuật mới là NTCL nhằm đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ mới
* Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp lịch sử: được thể hiện rõ nét qua kết cấu luận văn trình bày các luận điểm theo trình tự thời gian, có phân tích đối chiếu so sánh cả đồng đại lẫn lịch đại ở nhiều khía cạnh, mối liên hệ đóng góp cho quá trình vận động của SKCL
- Phương pháp liên ngành: đề tài chọn nghiên cứu hoạt động SKCL trong tương quan với bối cảnh kinh tế - xã hội của đất nước (không đi sâu vào lĩnh vực nghệ thuật chuyên môn – học viên chưa đủ năng lực nghiên cứu chuyên sâu vấn đề này) nên bao quát khá nhiều lĩnh vực như: mỹ học, văn hóa học, xã hội học, kinh tế học, lịch sử… Đây cũng là phương pháp nghiên cứu chính của những ngành khoa học xã hội nhân văn như Việt Nam học
- Phương pháp nghiên cứu lời kể: tổng hợp, phân tích thông tin có được qua các thao tác phỏng vấn sâu, phỏng vấn lịch sử qua lời kể từ các nhân vật trực tiếp làm nghề cũng như có hiểu biết sâu sắc về SKCL Đây là nguồn tư liệu có độ chính xác và tin cậy cao được học viên khai thác chủ yếu
- Phương pháp quan sát tham dự: qua những lần có mặt ở những buổi tập tuồng, chạy chương trình, biểu diễn SKCL, học viên đã quan sát và ghi nhận được nhiều thông tin quan trọng Chứng kiến quá trình ra đời một tác phẩm nghệ thuật
Trang 20(thay vì chỉ là sản phẩm hoàn chỉnh) cũng góp phần xóa bỏ định kiến cũng như cái nhìn chủ quan tác động đến việc nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: thu thập thông tin từ nhiều nguồn (sách, báo, internet, bài giảng, truyền hình…) từ đó phân tích, tổng hợp những thông tin thiết thực nhất cho đề tài Sự đa dạng các nguồn thông tin cũng giúp nâng
độ chính xác và khách quan cho nghiên cứu
8 Giả thuyết nghiên cứu
- Cải lương khủng hoảng do tác động của sự cạnh tranh gay gắt với các loại hình giải trí hiện đại đang bùng nổ: ca nhạc, phim ảnh, truyền hình, internet…
- Người làm Cải lương đã làm sai lệch bản chất NTCL
- SKCL đã đánh mất nền tảng chuyên nghiệp của mình
- SKCL cần những người quản lý giỏi để vượt qua khó khăn
- SKCL tìm mọi cách ứng phó với thời cuộc: phát triển Cải lương truyền hình, các hình thức sân khấu hóa lễ hội, tìm khán giả qua các cuộc thi…
Trang 21CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT DIỄN TRÌNH SÂN KHẤU CẢI LƯƠNG
TỪ KHI RA ĐỜI ĐẾN NĂM 1975
1.1 Sự ra đời của sân khấu Cải lương
Nhắc đến Cải lương là nhắc đến loại hình sân khấu truyền thống đặc trưng Nam Bộ Được sản sinh trên vùng đất mới của Tổ quốc, Cải lương thể hiện rõ nét
“cá tính miền Nam” Ra đời và phát triển trong giai đoạn khá ngắn ngủi so với chiều dài lịch sử nước nhà nhưng lại chứng kiến những biến thiên dữ dội nhất trên mọi lĩnh vực, SKCL cũng chịu lắm thăng trầm theo bước tiến xã hội
1.1.1 Bối cảnh ra đời sân khấu Cải lương
a Kinh tế - Xã hội
Sau khi đặt được ách cai trị lên đất nước ta, thực dân Pháp triển khai một chương trình khai thác thuộc địa quy mô lớn từ đầu thế kỷ XX kéo dài đến trước
chiến tranh thế giới lần thứ nhất – “từ 1896 đến 1914 riêng Nhà nước Pháp đã đầu
tư vào Đông Dương, chủ yếu là Việt Nam trên 500 triệu franc vàng” [48, tr.107] –
dẫn đến những biến đổi sâu sắc về mặt kinh tế cũng như xã hội Việt Nam Về nông nghiệp, quyền tư hữu ruộng đất được công nhận đã thúc đẩy quá trình tư hữu hóa và tập trung ruộng đất Từ đó, xuất hiện các đại địa chủ (chủ yếu là người Pháp) cùng tầng lớp điền chủ mới (tư sản kiêm địa chủ) Ngược lại, người nông dân bị bần cùng hóa ngày càng nhiều bởi ruộng đất bị tước đoạt và sưu cao thuế nặng Công nghiệp lớn mạnh ở một số ngành, chủ yếu là kinh doanh xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa (khai mỏ, giao thông, vận tải…) Thương nghiệp có bước tiến nhanh, nhất là ngoại thương…
Trong khi giai cấp công nhân xuất hiện sớm, nhanh chóng trưởng thành cả về lượng lẫn chất (hệ quả từ chính sách bóc lột làm dân nghèo lâm vào cảnh vô sản) thì tầng lớp tư sản dân tộc lại gặp khó khăn Không được hưởng đặc quyền, đặc lợi lại vấp phải sự chèn ép từ tư sản Pháp và tư sản mại bản, tư sản Việt Nam không thể lớn mạnh thành một giai cấp đúng nghĩa có sức mạnh tài chính áp đảo và hệ tư
Trang 22tưởng đại diện cho giai cấp rõ ràng như tư sản nhiều quốc gia khác (cũng như so với chính giai cấp công nhân Việt Nam) Tầng lớp tiểu tư sản – tiểu thương, trí thức, học sinh, sinh viên, viên chức… – cũng ra đời và lớn mạnh Trong đó, bộ phận năng động nhất là giới trí thức, những người đầu tiên tiếp xúc với tư tưởng mới, đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá tư tưởng tiến bộ vào nhân dân
Công cuộc khai thác thuộc địa, tuy có gián đoạn vì thế chiến, đã thay đổi cơ bản diện mạo đất nước Từ một nước thuần nông lạc hậu, kinh tế Việt Nam khởi sắc
rõ rệt với sự phát triển của nhiều lĩnh vực Theo đó là sự ra đời của những tầng lớp, giai cấp mới Tuy nhiên, phần lớn quyền lợi đều nằm trong tay người Pháp, tư sản mại bản, địa chủ kiêm tư sản trong khi người lao động bị bần cùng hóa làm nảy sinh những mâu thuẫn gay gắt trong lòng xã hội: mâu thuẫn giữa nông dân, nhân dân lao động với địa chủ, tư sản, thực dân; mâu thuẫn giữa tư sản dân tộc với tư sản mại bản, tư sản Pháp; mâu thuẫn giữa quyền lợi dân tộc với chế độ thuộc địa Đặc biệt, những giai tầng mới (công nhân, tư sản, tiểu tư sản…) ngày một trưởng thành từng bước nhận thức được những mâu thuẫn xã hội, ý thức về thân phận người dân mất nước cũng như về quyền lợi giai cấp, tất đòi hỏi một sự thay đổi lớn lao
b Giáo dục - Văn hóa
Để hoàn thiện bộ máy cai trị, thực dân Pháp dùng nhiều biện pháp thay thế hệ thống quan lại phong kiến bằng những trí thức Tây học gắn với chính quyền thực dân mà việc cải tạo hệ thống giáo dục giữ vai trò thiết yếu [PL2, (1)] Hoạt động xuất bản sách vở, báo chí được chú ý phát triển Văn hóa tư sản, chủ yếu là văn hóa Pháp, được tuyên truyền rộng rãi Tầng lớp mới đặc biệt là giới trí thức, tiểu tư sản ngày càng xa lạ với văn hóa phong kiến cũ mà thể hiện quan điểm, tâm tư tình cảm, nhu cầu mới gần gũi với văn hóa tư sản Đặc biệt, khi làn sóng những “tân thư, tân văn” du nhập vào nước ta đã tác động mạnh mẽ đến tầng lớp trí thức và được xem như “vũ khí” đấu tranh mới Yêu cầu cải cách toàn diện mọi lĩnh vực trong xã hội được đặt ra cấp thiết Những phong trào yêu nước: Cần Vương, Duy Tân, Đông Du… nổ ra sôi nổi khắp ba kỳ nêu cao ngọn cờ cải cách, chấn hưng đất nước
Trang 23Năm 1865, thực dân Pháp cho xuất bản Gia Định báo bằng chữ Quốc ngữ khai sinh nền báo chí Việt Nam, mở đường cho những: Phan Yên báo (1868), Nông
cổ mín đàm (1901), Lục tỉnh tân văn (1907), Nữ giới chung (1918)… ra đời, cùng
góp công phổ biến chữ Quốc ngữ Trương Vĩnh Ký soạn từ điển Việt - Pháp, Pháp - Việt, dịch các truyện thơ ra chữ Quốc ngữ hay phong trào dịch truyện Tàu (đăng nhiều kỳ trên báo) của Nguyễn An Khương, Nguyễn Chánh Sắt, Trần Phong Sắc… góp phần đưa chữ Quốc ngữ phổ biến rộng rãi trong nhân dân
Văn học chữ Quốc ngữ ra đời và phát triển mạnh Truyện Thầy Lazaro Phiền
của Nguyễn Trọng Quản xuất bản năm 1887 đặt nền móng cho tiểu thuyết miền
Nam Rồi những: Hoàng Tố Anh hàm oan (Trần Chánh Chiếu – 1910), Ai làm được (Hồ Biểu Chánh – 1912), Chăng Cà Mun (Nguyễn Chánh Sắt – 1920)… nhanh
chóng chiếm địa vị quan trọng trên văn đàn miền Nam Ở miền Bắc, nhóm Tự lực văn đoàn xác lập vị thế cho văn xuôi Quốc ngữ Phong trào cải cách thơ ca diễn ra rầm rộ mà đỉnh cao là phong trào Thơ Mới (1930 – 1945) Tiểu thuyết, thơ ca, kịch của Pháp cũng được dịch vào Việt Nam từ rất sớm giúp tuyên truyền lối sống mới, bài trừ hủ tục, đề cao tự do cá nhân và những giá trị bất biến của nhân loại
Trên “mặt trận văn hóa” nảy sinh trận chiến quyết liệt và dai dẳng giữa cái cũ
và cái mới, giữa tư tưởng phong kiến lạc hậu với tư tưởng tư sản tân tiến Xã hội đô thị, đầu mối tiếp xúc những tư tưởng tiến bộ, xuất hiện lớp người mới chịu ảnh hưởng phương Tây đòi hỏi tự do, tiến bộ, chống lễ giáo phong kiến Một phong trào cải cách theo hướng duy tân diễn ra sôi nổi khắp ba kỳ Hàng loạt vấn đề cần “cải
lương” xuất hiện khắp các mặt báo: Nguyễn Chánh Sắt kêu gọi “cải lương nông
nghiệp” với bài Thiết nghiệp yếu luận, Hồ Biểu Chánh viết Văn học thời đàm đề
nghị “cải lương văn học”, viết Việt Nam giáo dục luận đòi “cải lương giáo dục”,
tờ Nữ giới chung muốn “cải lương nếp sống của phụ nữ”… Và nghệ thuật là lĩnh
vực quan yếu cần “cải lương” vì chính nghệ thuật sẽ tác động trở lại xã hội Chủ
trương “cải lương hí nghệ”, cụ thể là Hát bội, được chủ bút tờ Nông cổ mín đàm
Lương Khắc Ninh lên tiếng đầu tiên trong bài diễn thuyết tại Hội Khuyến học Nam
kỳ vào ngày 28/3/1917 (được Trần Phát Văn tường thuật trong bài “Hí nghệ Cải
Trang 24lương” in trên Nông cổ mín đàm số 12, năm thứ 16, ra ngày 19/4/1917) [38, tr.215 -
222] Lúc này, nghệ thuật Hát bội vốn được ưa chuộng nhất Nam kỳ, nhưng:
Với tình hình mới, Hát bội không đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ của người xem vì quanh đi quẩn lại chỉ có vua quan không thể hiện được cuộc đời người dân: tình yêu, lao động… Đặc biệt không thể hiện được nội dung chống Pháp, chống giai cấp bóc lột Những năm đầu thế kỷ XX, đã xuất hiện ngày càng đông đảo những loại người mới, từ bọn thực dân và quan lại công chức Việt Nam cho đến những người thuộc giai cấp tư sản, tiểu tư sản do đó có nhu cầu hình thành một loại kịch chủng phản ảnh được hiện thực xã hội lúc bấy giờ, đồng thời thể hiện được tư tưởng, tình cảm của nhân dân, đó là động lực hết sức quan trọng cho sự ra đời của NTCL [3, tr.152]
Như vậy, sự phát triển của xã hội cùng những chuyển biến sâu sắc trong đời sống văn hóa đã cho ra đời đối tượng khán giả mới có nhu cầu, thị hiếu thẩm mỹ mới phù hợp với bước tiến xã hội Và một loại hình sân khấu cải cách ra đời thay cho Hát bội đại diện cho giá trị phong kiến là bước tiến hiển nhiên
c Nền cảnh địa - văn hóa
Nhưng tại sao quê hương của loại hình nghệ thuật cải cách này lại là miền Nam – vùng đất mới với lịch sử chỉ hơn 300 năm – mà không phải miền Bắc hay miền Trung vốn có lịch sử lâu đời và bề dày văn hiến đã phát triển nhiều hình thức nghệ thuật đặc sắc? Chính bối cảnh địa - văn hóa của Nam Bộ là điều kiện khách
quan tạo nền tảng cho nghệ thuật mới ra đời là SKCL Có thể nói: “Cuối thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XX, trên vùng đất Nam Bộ, ca nhạc Tài tử và sau đó là SKCL ra đời như
là một bước đột phá sáng tạo mới về nghệ thuật trong tiến trình lịch sử phát triển về phương Nam của cộng đồng người Việt và văn hóa Việt” [120] Đến thế kỷ XVI,
Nam Bộ chủ yếu vẫn là vùng đất hoang vu với chỉ những nhóm nhỏ cư dân bản địa (Stiêng, Mạ, Chro…) và người Khmer sinh sống rải rác Phải đến khi di dân Việt, rồi người Hoa xuất hiện, lịch sử vùng đất phương Nam mới thực sự mở ra Dưới sự chung tay khai phá của cộng đồng các dân tộc Việt, Hoa, Khmer…, Nam Bộ từ
Trang 25đồng lầy hoang vu đã trở thành đồng bằng trù phú và những đô thị giao thương nhộn nhịp Được thiên nhiên ưu đãi, sản vật phong phú, đời sống no đủ, người Nam
Bộ nổi tiếng phóng khoáng, phong lưu và “ham chơi” Thêm lưu giữ cá tính của lớp người đi mở cõi khiến sự linh hoạt, sáng tạo, ưa phiêu lưu cũng trở thành nét tính cách nổi trội Bản sắc Nam Bộ còn được kết tinh từ sự giao thoa lẫn nhau giữa các nền văn hóa của các tộc người cùng cộng cư lâu đời khiến nơi đây trở thành vùng đất “mở” đa dạng sắc màu văn hóa và có xu hướng dễ tiếp nhận những giá trị mới Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Nam Bộ cũng là nơi đầu tiên tiếp xúc văn minh phương Tây và nhanh chóng chịu ảnh hưởng khi trở thành thuộc địa của thực dân Pháp Những biến đổi về mặt văn hóa - xã hội ở miền Nam cũng diễn ra dễ dàng và mạnh mẽ hơn miền Bắc, miền Trung vốn nặng tính truyền thống Chính sự cởi mở, không ngại cái mới này đã tạo tiền đề thúc đẩy cải cách toàn diện đất nước trong đó
có “cải cách hát ca”
Về mặt nội sinh, âm nhạc ĐCTT - Cải lương là sự kế thừa hệ thống âm nhạc truyền thống từ miền Bắc, miền Trung theo chân dòng người lưu dân kết hợp với nhiều làn điệu sản sinh trên vùng đất mới Điệu Oán đặc trưng riêng của âm nhạc
ĐCTT là: “sự cộng hưởng giữa âm nhạc truyền thống Việt cùng với dân nhạc
Chăm, Khơme, Hoa… trong quá trình giao tiếp văn hóa khi cộng đồng người Việt khai phá tiến về phương Nam” [120] và cũng thể hiện rõ diện mạo Nam Bộ Sự ra
đời của SKCL là kết quả trực tiếp từ sự giao hòa văn minh Đông - Tây Và chỉ có vùng đất Nam Bộ với sự cộng hưởng đa dạng các nền văn hóa, với những con người
ưa sáng tạo, thích đổi mới kèm một phong cách sống phong lưu, tài tử mới tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự ra đời của loại hình nghệ thuật mới vừa cách tân, mới mẻ nhưng vẫn đậm đà truyền thống như NTCL
1.1.2 Quá trình hình thành sân khấu Cải lương
SKCL là loại hình kịch hát gồm sự hòa quyện của hai yếu tố: ca và kịch Phần
“kịch” là sự kế thừa sân khấu Hát bội truyền thống song song với tiếp nhận kịch nghệ phương Tây (chủ yếu là kịch Pháp) “Ca” là yếu tố chủ đạo bắt nguồn từ loại hình âm nhạc truyền thống đặc trưng Nam Bộ: Đờn ca Tài tử (ĐCTT) Khác với
Trang 26nhạc kịch phương Tây cấu thành từ sáng tác âm nhạc mới, ca kịch Cải lương là đặt lời ca theo hệ thống nhạc sẵn có Và sự hoàn thiện NTCL là kết quả quá trình phát triển lâu dài của nghệ thuật ĐCTT thông qua “bước nhảy” Ca ra bộ cùng việc kế thừa tinh hoa văn hóa dân tộc, cũng như tác động của đời sống xã hội
a Vài nét về Đờn ca tài tử
Phần đông khi nhắc đến ĐCTT thì cho rằng lối nhạc đó không sâu sắc chuyên nghiệp mà mang tính cách giản dị của dân gian hay “a ma tơ” (theo chữ Pháp “amateaur” của những người nghiệp dư) Thực ra “Tài tử” có nghĩa
là người có tài… Người đàn Tài tử không dùng nhạc Tài tử làm kế sinh nhai Khi nào thích đàn thì họp nhau tại nhà một người trong làng rồi cùng nhau đàn chơi, ai biết đàn ca cũng có thể tham gia được Dầu vậy trình độ nghệ thuật của ĐCTT không thấp Ngược lại, họ thường tập luyện rất công phu, phải theo thầy học từ chữ nhấn, chữ chuyền, rao sao cho mùi, sắp chữ sao cho đẹp và tạo cho mình một phong cách riêng… [30]
GS.TS Trần Văn Khê, sinh trưởng trong gia đình bốn đời chơi ĐCTT, đã khái quát đặc trưng của nghệ thuật này như thế Như vậy, ĐCTT sinh ra và lớn lên giữa lòng Nam Bộ, lan tỏa sâu rộng trong dân gian chứ không phục vụ riêng tầng lớp nào Đồng thời, ĐCTT được xem là loại hình âm nhạc bác học bởi sự cổ điển về nhạc lý và hệ thống bài bản phong phú, phức tạp [PL2, (2)]
Theo nhiều nghiên cứu, ĐCTT phát triển từ Nhạc lễ Nam Bộ và Nhã nhạc cung đình Huế Cuối thế kỷ XIX, hưởng ứng phong trào Cần Vương, nhiều Nhạc quan nhà Nguyễn đã chạy vào Nam, mang theo truyền thống đờn ca Huế và truyền dạy khắp Nam kỳ (có: Nguyễn Liêng Phong, Nguyễn Tòng Bá, Trần Quang Thọ, Nguyễn Quang Đại…) Thời kỳ này, Nam Bộ không có dàn đờn cổ nhạc mà chỉ có dàn nhạc lễ chuyên làm nhiệm vụ trong các dịp “quan - hôn - tang - tế” Trong đám
tang, lúc canh khuya, thường thấy các “thầy nhạc”: “… học cùng hòa đờn, tập dượt
ca cho đúng nhịp để đánh cơn buồn ngủ Sau thành thói tục, mỗi dịp quan - hôn - tang - tế, thậm chí lễ mừng tân quan, tân gia, khai bằng, khánh hạ, đám giỗ, đám
Trang 27cưới, đều có mời họ luôn cho rôm đám…” [58, tr.25] Trong những buổi hòa tấu
này, dàn nhạc lễ bỏ bớt trống, kèn, nhạc cụ gõ, chỉ còn “đàn cây” và:
Sinh hoạt âm nhạc “chơi đàn cây” được phổ biến và được nhiều người ưa thích Người ta thi nhau học nhạc cụ, làn điệu bài bản Các tầng lớp đều nô nức học: nông dân, trí thức, nhà nho, tiểu tư sản… Khi sinh hoạt này phổ biến rộng rãi thì đối tượng của nhạc lễ thay đổi: từ đối tượng trước kia là thần linh, chuyển sang đối tượng ngày nay là quần chúng lao động, lần lần tự nó phải thay đổi chất Từ tính chất tế lễ, trang nghiêm chung chung, nhạc lễ chuyển sang chất mới cho phù hợp với đối tượng mới [3, tr.142]
Vậy, ĐCTT ra đời và xem như định hình hoàn chỉnh vào đầu thế kỷ XX
b Ca ra bộ
Khoảng năm 1912 – 1915, ĐCTT có bước phát triển mới khi nảy sinh hình thức Ca ra bộ, xuất phát từ việc đưa ĐCTT lên sân khấu Ông Nguyễn Tống Triều (Tư Triều) – đứng đầu ban ĐCTT nổi tiếng Mỹ Tho, gồm: Tư Triều (đờn kìm), Bảy
Vô (đờn cò), cô Hai Nhiễu (đờn tranh), Chín Quán (độc huyền), Mười Lý (tiêu), cô
Ba Đắc (ca) – được xem là người khởi xướng Ban Tư Triều đã thổi một luồng gió
tươi mới vào phong trào ĐCTT khi thể hiện mới lạ bài Tứ đại oán Bùi Kiệm -
Nguyệt Nga: Tài tử ca là cô Ba Đắc sắm cả ba vai Bùi Ông - Bùi Kiệm - Nguyệt
Nga và làm điệu bộ diễn tả từng nhân vật theo lời ca Trước đó, năm 1906, nhóm đã đưa cổ nhạc Việt Nam đến với Hội chợ Thuộc địa Marseille và được công chúng Pháp hưởng ứng nồng nhiệt [PL1, H1] Trở về, được ông Trần Chánh Chiếu – một luật sư, điền chủ kiêm tư sản dân tộc tiến bộ – mời diễn tấu ở Minh Tân khách sạn (Mỹ Tho) nhằm thu hút khách Thầy Hộ, chủ rạp chiếu bóng Casino (phía sau chợ
Mỹ Tho) cũng mời nhóm diễn mỗi tối thứ Tư và thứ Bảy trước khi chiếu bóng Và:
“Bắt đầu từ đó mới có phụ diễn cổ nhạc trên sân khấu hát bóng Ca nhạc Cải lương bước lên sân khấu đầu tiên là sân khấu hát bóng” [33] Hình thức này lan nhanh
khắp Nam kỳ Ông Trần Văn Khải đã mô tả khá rõ buổi diễn thuở ban sơ ấy:
Cách chưng dọn sân khấu còn đơn sơ Cái màn bạc dùng làm bối cảnh (fond), kế đó có lót một bộ ván, trước bộ ván có để một cái bàn chưn cheo Hai
Trang 28bên sân khấu có để cây kiểng, xem rậm đám và khán giả có cảm giác đứng trước một cái phòng khách sạn trung lưu Cách bài trí sân khấu này tuy đơn giản, nhưng nó gợi cho các nhà dàn cảnh Cải lương mai hậu những ý niệm về việc trang hoàng sân khấu Các tài tử đều ngồi trên bộ ván và mặc Quốc phục xem nghiêm trang… [27, tr.82]
Trước đây, ĐCTT chỉ là thú vui tao nhã của “tao nhân mặc khách”, những người say mê âm nhạc mong tìm “bạn tri âm” qua tiếng đờn lời ca, hay là thú giải trí, thư giãn lúc nhàn rỗi Đây là sinh hoạt văn nghệ dân gian chứ không mang tính chất biểu diễn Việc ông Tư Triều đưa ĐCTT lên sân khấu là bước khởi đầu cho việc phân tách hai dòng nhạc Tài tử: một phát triển thành nhạc Cải lương trên sân khấu và một vẫn giữ chuẩn mực dòng nhạc thính phòng cổ điển đến hôm nay Lối trình diễn cách tân của ban Tư Triều đã mở ra hướng đi mới cho nghệ thuật ĐCTT, manh nha một loại hình mới: Ca ra bộ Theo nhiều tư liệu, người có công hoàn chỉnh hình thức trình diễn Ca ra bộ là thầy Phó Mười Hai Tống Hữu
Định khi: “… sáng kiến đem bài Tứ đại oán Bùi Kiệm mê sắc Nguyệt Nga ra phân
vai, người ca đoạn Bùi Ông, kẻ ca đoạn Bùi Kiệm, người ca đoạn Nguyệt Nga, đối đáp nhau vừa ca vừa ra bộ Do nội dung bài ca có kịch tính lại được người biểu diễn khá linh hoạt nên lớp ca dễ được hoan nghênh, và ngày càng được phổ biến rộng rãi” [3, tr.144] Đó là khoảng năm 1915 - 1916
Năm 1917, tại Sa Đéc, ông André Lê Văn Thận chính thức trương biển “Ca ra
bộ”: “Gánh hát Thầy Thận Cirque Jeune Annam et Ca ra bộ Sadec - Amis” –
chuyên diễn xiếc xen những màn ca Tài tử, Ca ra bộ Đây là gánh hát đầu tiên tổ chức tương đối hoàn chỉnh với đầy đủ: đào - kép (Tư Hương, Bảy Thông, Tám Cang, cô Hai Cúc…) và soạn giả viết tuồng là Mạnh Tư Trương Duy Toản – một nhà yêu nước giỏi chữ nghĩa, hoạt động tích cực trong phong trào Duy Tân Tuồng hát lúc này chỉ là những màn Ca ra bộ đối đáp qua lại được kết nối theo lối kể chuyện thành những chập ngắn nên còn được gọi là “hát chập” Bài bản sử dụng khá hạn chế và toàn “bài lớn” [PL2, (3)] Gánh diễn khắp Nam kỳ, sang cả Nam Vang - Cam Bốt, đến đâu cũng được hoan nghênh
Trang 29c Cải lương ra đời
Khoảng năm 1918, thầy Năm Tú (Pierre Châu Văn Tú) sang lại trọn gánh Thầy Thận khi gánh này rã và khai trương bảng hiệu Gánh hát Thầy Năm Tú Mỹ
Tho với vở diễn ra mắt là Kim Vân Kiều tại rạp Cinéma - Théâtra (sau đổi thành
Rạp hát Thầy Năm Tú Mỹ Tho, nay là rạp Tiền Giang) [7, tr.25] Ông Năm Tú
được xem là người có công bậc nhất trong việc gầy dựng SKCL buổi ban đầu, khi:
Ông mướn thợ vẽ tranh cảnh phỏng theo lối trang trí rạp hát Tây Sài Gòn Ông mua sắm y phục cho đào kép rất chu đáo và cậy nhà văn Trương Duy Toản soạn tuồng Ông cất một cái rạp hát thật lớn và đẹp đẽ gần chợ Mỹ Tho để cho ban ca kịch của ông trình diễn Mỗi tối trước khi khai diễn, ông bày ra lối chưng “tableau vivant” (màn chưng đào kép) để cho công chúng thấy trước những mặt làm tuồng trong đêm hát Điệu hát Cải lương chánh thức thành hình từ đó [50, tr.86]
Gánh hát thường trực tại Mỹ Tho, cuối tuần lên Sài Gòn diễn Soạn giả
Trương Duy Toản tiếp tục cộng tác với gánh: hoàn chỉnh kịch bản cũ là Kim Vân
Kiều, Lục Vân Tiên qua việc liên kết các “chập” và soạn thêm tuồng mới (Hạnh Nguyên cống Hồ, Trang Tử cổ bồn ca…) Thú vị là ở buổi sơ khai, những vở Cải
lương đầu tiên, điển hình là Kim Vân Kiều, phải hát ba đêm mới hết Tác giả không chọn lọc kết nối những chi tiết cần thiết mà thuật lại toàn truyện từng lớp một,
không bỏ sót nhân vật, tình tiết nào Lúc này, tác giả vẫn chưa có kinh nghiệm biên kịch mà chỉ mới ghép bài ca vào tác phẩm văn học gốc
Hãng đĩa Pathé của Pháp, trụ sở tại Sài Gòn, mời gánh thâu tuồng với câu giới
thiệu: “Đây là gánh hát Thầy Năm Tú ở Mỹ Tho hát tuồng… trên đĩa Pathé nghe
chơi” [35, tr.175] Điệu Cải lương phổ biến từ đó Nhiều gánh hát quy mô ra đời:
Đồng Bào Nam của cô Tư Sự, Nam Đồng Ban của ông Hai Cu (Mỹ Tho), Tân Phước Nam của thầy thuốc Minh (Sóc Trăng)… Những huyền thoại của SKCL cũng xuất hiện: “đào” Năm Phỉ, Phùng Há, Tư Sạng, Ba Hui…; “kép” Hai Giỏi, Năm Châu, Tư Út, Từ Anh, Ba Du… Trên thực tế, các gánh kể trên đã diễn Cải lương rồi nhưng về danh nghĩa chưa nơi nào chính thức dùng danh từ “Cải lương”
Trang 30mà gọi là gánh hát “tân thời” hoặc “kim thời” Phải đến năm 1920, gánh hát quy mô đầu tiên tại Sài Gòn là Tân Thinh, của ông Trương Văn Thông (người Sa Đéc), mới chính thức xưng danh: “Đoàn hát Cải lương”, kèm đôi liễn nêu tôn chỉ mục đích của đoàn do hai soạn giả Lâm Hoài Nghĩa và Nguyễn Quốc Biểu soạn:
“Cải cách hát ca theo tiến bộ
Lương truyền tuồng tích sánh văn minh” [PL2, (4)]
Từ đây, tên gọi “Cải lương” chính thức gắn liền với loại hình sân khấu mới đất Nam Bộ SKCL cũng bước vào giai đoạn phát triển nhanh, mạnh đến không ngờ
* Từ bản Dạ cổ hoài lang đến bản Vọng cổ
Năm 1919, khi định chữ nhạc cho Dạ cổ hoài lang chắc hẳn nhạc sĩ Cao Văn
Lầu (1892 – 1976) không thể ngờ rằng đứa con tinh thần của mình lại có sức sống mạnh mẽ đến vậy, càng không ngờ nó sẽ khởi nguồn cho bản Vọng cổ, “bài ca vua”
của SKCL, góp phần đưa NTCL đến đỉnh cao rực rỡ Người nhạc sĩ sáng tác Dạ cổ
hoài lang trong hoàn cảnh rất riêng: nỗi đớn đau, dằn vặt khi bị buộc xa người vợ
hiền vì lễ giáo phong kiến: “tam niên vô tử bất thành thê” Trong tâm trạng nhớ nhung tột độ, ông đặt mình vào vị thế người vợ đang mong nhớ chồng mà sáng tác
nên Dạ cổ hoài lang với giai điệu sâu lắng, lời ca buồn man mác Bài ca nhanh
chóng được giới tài tử đánh giá cao vì giá trị nghệ thuật Nhưng yếu tố quyết định đưa nó đến với mọi người chính là tâm sự riêng của tác giả lại phù hợp với nỗi niềm thời đại Đó là tâm sự của những người vợ có chồng bị bắt lính đi tham chiến tại Pháp trong thế chiến thứ nhất Còn những ai ưu thời mẫn thế lại nhìn thấy ở đấy một nỗi buồn trĩu nặng vì vận nước mà vẫn chứa chan hi vọng [PL2, (5)]…
Về nhạc lý: “mối liên kết giữa các câu nhạc trong bản Dạ cổ hoài lang có tính
tự do hơn các bài bản Tổ, nên bản Dạ cổ hoài lang dễ được mở nhịp để hình thành một bản nhạc khác” [26] Tính “động” này đã giúp Dạ cổ hoài lang phát triển từ
nhịp 2 thành Vọng cổ nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16 và đặc biệt là Vọng cổ nhịp 32 – “bản nhạc vua” của SKCL Sức hút của Vọng cổ đến từ khả năng tự làm mới, luôn linh động cách tân theo yêu cầu phát triển sân khấu Những năm 1960, soạn giả Viễn Châu đã tạo nên “mối lương duyên” kỳ lạ khi kết hợp tân nhạc vào Vọng cổ cho ra
Trang 31đời thể loại “Tân cổ giao duyên” Đã có những nghi ngờ rằng cổ nhạc và tân nhạc khó hòa hợp nhưng các nhạc phẩm (từ dân ca, trữ tình đến nhạc trẻ) được dùng gối đầu khi vô Vọng cổ đều khá “mượt” và làm nó thêm tươi mới, hấp dẫn Soạn giả Viễn Châu cũng sáng tạo nên hình thức Vọng cổ hài, thay đổi quan điểm rằng Vọng
cổ (và cả Cải lương) chỉ phù hợp với cảm xúc “bi” hoặc “hùng” Đặc biệt, cái mới của Vọng cổ đến chính yếu từ người thể hiện Cùng một câu Vọng cổ nhưng mỗi nghệ sĩ lại có cách xử lý làn hơi, nhả chữ riêng, không ai giống ai, cũng không lặp lại chính mình ở mỗi lần biểu diễn Những nghệ sĩ hàng đầu của SKCL đều là những bậc thầy trong nghệ thuật ca Vọng cổ Vọng cổ không chỉ là “bản nhạc vua” trên SKCL mà hoàn toàn có khả năng tồn tại độc lập Tách khỏi vở tuồng, nó vẫn vẹn nguyên sức sống và là hình thức trình diễn được công chúng mến mộ
Rõ ràng, để chuyển hóa Dạ cổ hoài lang – một bản Tài tử với nhịp 2 chậm rãi,
đều đặn, chất nhạc và lời ca buồn da diết mà người trình diễn luôn phải thể hiện
được sự chuẩn mực, khoan thai – thành bản Vọng cổ – đa nhịp, tiết tấu biến hóa phù
hợp với tính hành động trên SKCL – là một quá trình phát triển năng động, sáng tạo
và khoa học của nhiều thế hệ nhạc sĩ, tác giả, nghệ sĩ theo yêu cầu phát triển của âm nhạc dân tộc từ nhạc Tài tử lên nhạc Cải lương [PL2, (6)] Sự ra đời của bản Vọng
cổ là một bước chuyển về “chất” của nghệ thuật Cải lương Từ khi Vọng cổ nhịp 32 phổ biến, NTCL đã lôi cuốn lại càng thêm quyến rũ Từ đây, mọi người cũng mặc định: “phi Vọng cổ bất thành Cải lương” Có thể nói, với sự góp mặt của bản Vọng
cổ, NTCL đã thực sự hoàn thiện và ngày càng phát triển rực rỡ
1.2 Quá trình phát triển của sân khấu Cải lương
1.2.1 Giai đoạn tự hoàn thiện và khẳng định vị thế (1920 – 1945)
1.2.1.1 Sự phát triển lực lượng biểu diễn
Chỉ ba năm ngắn ngủi từ gánh hát Thầy Thận có Ca ra bộ (1917) đến Đoàn hát Cải lương Tân Thinh (1920), SKCL đã cơ bản định hình và bước đầu phát triển trên mọi phương diện Nhiều cái tên đáng nhớ của buổi đầu SKCL cũng xuất hiện
Trang 32Bảng 1: Các ban hát Cải lương buổi ban đầu
Ban hát Giới thiệu sơ lược
Tập Ích Ban
(1921) của ông
Vương Có –
Long Xuyên
- Soạn giả: Nguyễn Trọng Quyền (bút danh Mộc Quán)
- Diễn viên: Bảy Nhiêu, Tư Thới, Sáu Trâm
- Hát tuồng Tàu theo phong cách hát Tiều: Tây Sương Ký,
Châu Trần phải nghĩa, Tình phai phấn lạt…
Văn Hý Ban
(1921) của ông
Huỳnh Kim
Vui – Chợ Lớn
- Soạn giả: Đào Trí Phú (bút danh Đào Châu)
- Diễn viên: Chín Thêu, Năm Phỉ, Tư Thạnh, Kim Hui…
- Chuyên về tuồng Tàu theo phong cách Tiều - Quảng: Kỳ
duyên phổ, Triệu Kinh Nương…
- Diễn viên: Bảy Nhiêu, Năm Phỉ, Tám Danh, Năm Định…
- Bên cạnh tuồng Tàu (Phụng Nghi Đình, Thôi Tử thí Tề quân,
Xử án Bàng Quý Phi…) và tuồng xã hội (Tình chị duyên em,
Tứ đổ tường…), ban chủ trương dựng tuồng phóng tác văn học
phương Tây (Tơ vương đến thác – Trà Hoa Nữ do Ngô Vĩnh Khang chuyển thể, Sĩ Vân công chúa – Tristan và Iseult do
Đặng Công Danh chuyển thể…)
- Giữa năm 1931, sang Pháp biểu diễn tại Hội chợ thuộc địa ở Paris [PL1, H2], [PL2, (7)]
- Diễn viên: Năm Châu, Phùng Há, Tư Út, Từ Anh…
- Chủ trương diễn tuồng Việt và tuồng Tây theo khuynh hướng
tâm lý xã hội: Giá trị và danh dự (phỏng theo kịch cổ điển Le
Cid của Corneille), Tiếng nói trái tim – Nguyễn Thành Châu; Khúc oan vô lượng (phóng tác từ truyện Pháp) [PL1, H3], Lửa
đỏ lòng son – Trần Hữu Trang…
Trang 33Tái Đồng Ban
(1926) của ông
Hai Cu – Mỹ
Tho
- Soạn giả: Nguyễn Công Mạnh
- Diễn viên: Năm Châu, Tư Chơi, Tư Út, Phùng Há…
- Diễn tuồng Tàu pha hát Quảng: Mộc Quế Anh, Phụng Nghi
- Soạn giả: Nguyễn Tri Khương
- Dàn diễn viên toàn nữ: Ba Viện, Năm Hương, Sáu Nhuận, Ba Lợi… đã đưa việc “đào đóng kép” trở thành một khuynh hướng trên SKCL
- Vở diễn: Giọt lệ chung tình
- Hoạt động gây quỹ cho tỉnh bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội Mỹ Tho, bị mật thám theo dõi gắt gao nên chỉ được một năm phải rã gánh [PL1, H4]
Gánh Phụng
Hảo (1936) của
cô Phùng Há
- Diễn viên: Phùng Há, Năm Châu, Ba Du, Tư Út…
- Gây tiếng vang với các vở xã hội: Tô Ánh Nguyệt, Đời cô Lựu (của Trần Hữu Trang), Đoạn tuyệt (Duy Lân)…
- Khai thác yếu tố hấp dẫn hình thức khi diễn tuồng Tàu, tạo cho khán giả cảm giác như đang xem hát tại Thượng Hải,
Hương Cảng Tuồng Việt, tuồng phóng tác lại mang phong
cách hiện thực gần gũi, sử dụng nhiều nhạc mới
Gánh Năm
Châu (1940)
của Nguyễn
Thành Châu
- Diễn viên: Ba Vân, Từ Anh, Bảy Nhiêu, Kim Cúc…
- Chuyên diễn tuồng xã hội có khuynh hướng hiện thực phê
phán (Khi người điên biết yêu, Men rượu hương tình…) và các
vở thể hiện tinh thần yêu nước, tiến bộ (Chiếc áo thiên nga,
Hận chiến trường, Nguyễn Huệ bình Thăng Long…)
- Theo đuổi tôn chỉ xây dựng một SK: “Thật và Đẹp”!…
Trang 34Nhìn chung, SKCL với ưu thế một loại hình nghệ thuật mới phát triển nhanh, mạnh nhưng còn tự phát, thiếu ổn định Gánh hát mọc lên khắp Nam Bộ nhưng phần lớn trong tình trạng “tan - hợp, hợp - tan”, chỉ một số cái tên như: Phước Cương, Trần Đắc, Tân Thinh… có sự ổn định Đây cũng là giai đoạn đánh dấu
sự trưởng thành của SKCL về nhiều mặt: hình thành lực lượng làm nghề (thầy tuồng, thầy đờn, đào - kép…), hoàn thiện nghệ thuật (tuồng tích, diễn xuất…), nhất
là định hình phong cách và tôi luyện năng lực thích nghi với hoàn cảnh
1.2.1.2 Sự hình thành các thể tài trên sân khấu Cải lương
Từ buổi đầu, SKCL đã rất biết cách kế thừa những tinh giá trị đúc kết từ ngàn
năm văn hiến khi hai vở Cải lương đầu tiên là Kim Vân Kiều và Lục Vân Tiên hình
thành từ hai tác phẩm đỉnh cao của nền văn học cổ điển nước nhà Cùng với đó,
những truyện thơ dân gian (Lưu Bình - Dương Lễ, Thoại Khanh - Châu Tuấn, Lâm
Sanh - Xuân Nương…) cũng được đưa lên SKCL Với cốt truyện kịch tính, hình
thức thơ vần điệu, giàu tính nhạc dễ chuyển thành lời ca mượt mà, trữ tình, đây là nguồn kịch bản lý tưởng cho SKCL những ngày đầu (và cả về sau) Từ năm 1919,
xuất hiện những sáng tác mới mang phong vị hoàn toàn khác: Cô Ba lưu lạc (của Nguyễn Phong Sắc), Bội phu quả báo (Phạm Công Bình), Tứ đổ tường (Đặng Công
Danh)… Lần đầu tiên, nhân vật trong tuồng khoác lên người bộ trang phục đương đại để nói về những vấn đề hiển hiện giữa cuộc sống: phong hóa suy đồi, các giá trị đảo lộn trong buổi giao thời, giải phóng phụ nữ… Với đội ngũ tác giả là những trí thức Nho học lẫn Tây học, nguồn kịch bản Cải lương khá phong phú khi tiếp nhận
cả hai nền văn minh Đông - Tây Từ đây, hai trường phái chủ đạo: “tuồng Tàu” (hay tuồng cổ) – được Tập Ích Ban khai thác từ năm 1921 – và “tuồng Tây” (hay tuồng
xã hội) – xuất hiện từ khoảng năm 1925 với nhiều tác giả chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây – hình thành và phát triển song song xuyên suốt lịch sử SKCL
a Dòng sân khấu Cải lương tuồng Tàu (tuồng cổ)
NTCL ra đời từ nhu cầu “cải lương hí nghệ” mà Hát bội là đối tượng chính Theo thời gian, Cải lương càng xa Hát bội mà tiến gần thoại kịch về diễn xuất Nhưng nguồn kịch bản tích lũy hàng trăm năm trên sân khấu Hát bội đã được kế
Trang 35thừa xứng đáng Tuồng pho cùng những tích truyện Tàu đã trở thành nền tảng cho khuynh hướng biểu diễn rất được ưa chuộng: dòng SKCL tuồng Tàu [PL2, (8)] Không chỉ dựa vào tích truyện Tàu, Cải lương tuồng Tàu mang đặc trưng riêng với phong cách biểu diễn ước lệ, kết hợp vũ đạo của Hát bội (đã đơn giản hóa) và âm nhạc chịu ảnh hưởng từ kịch hát Trung Quốc Soạn giả Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền [PL2, (9)] được xem là người mở đường cho dòng SKCL tuồng Tàu
khi:“viết lời Việt và sửa cách phát âm theo lối Việt một số bản nhạc của SK hát
Tiều, hát Quảng để dùng trong tuồng Tàu do ông sáng tác… Ông đã sử dụng lối hát ước lệ và tượng trưng của Hát bội, rút kinh nghiệm của lối hát Tiều và Hý khúc Trung Quốc (thời Nguyên) để biến chế thành một lối hát tuồng Tàu cho các nghệ sĩ Việt Nam” [119] Các gánh: Tập Ích Ban, Văn Hý Ban, Huỳnh Kỳ, Phụng Hảo,
Nam Phi… đều hát theo phong cách trên Về sau, các đoàn: Minh Tơ, Khánh Hồng, Huỳnh Long… nối tiếp phát triển theo hướng “Việt hóa” ngày càng sâu sắc Từ đó, hình thành phong cách biểu diễn Cải lương tuồng cổ, cả tích Tàu lẫn tích Việt, của người Việt Ngoài ra, những vở cổ trang lấy cảm hứng từ truyện thơ, tích truyện dân gian, dã sử Việt cũng được xếp vào dòng sân khấu này, gọi là “tuồng cổ”
b Dòng sân khấu cải lương tuồng Tây (tuồng xã hội)
Ra đời dưới tác động của sự du nhập văn hóa phương Tây, được sự ủng hộ và
đỡ đầu của bộ phận lớn giới trí thức Tây học, SKCL tiếp thu tính hiện đại trong diễn xuất, dàn dựng và phong cách chuyên nghiệp của sân khấu phương Tây cùng nguồn cảm hứng mạnh mẽ đến từ một nền văn hóa mới lạ, giàu sáng tạo Ban Phước Cương và Trần Đắc với những ông chủ từng du học Pháp chủ trương khuyến khích chuyển thể Cải lương những tác phẩm văn học, kịch cổ điển phương Tây Việc để những nhân vật “tóc vàng, mắt xanh” kể chuyện trời Âu bằng bài bản Cải lương tưởng kỳ khôi hóa ra lại quá đỗi ngọt ngào Cũng dễ hiểu khi chủ đề tình yêu say
đắm, trắc trở, chất trữ tình lãng mạn của những Trà Hoa Nữ (được chuyển thể thành
Tơ vương đến thác) hay Tristan và Iseult (trở thành Sỹ Vân công chúa) đều chứa
đựng những giá trị chung của nhân loại, chẳng hề lạ lẫm với tâm tư tình cảm Việt và rất đúng chất Cải lương Chuyển tải tự nhiên những câu chuyện ở một nền văn hóa
Trang 36xa lạ đã làm phong phú thêm nghệ thuật biểu diễn Cải lương đồng thời thể hiện rõ tính linh động, dễ dung hòa các giá trị khác nhau của nghệ thuật này Nhiều tác giả lớn của SKCL chịu ảnh hưởng văn hóa phương Tây (Nguyễn Thành Châu, Trần
Hữu Trang, Huỳnh Thủ Trung, Duy Lân…) đã để lại nhiều tác phẩm giá trị: Tơ
vương đến thác (tức Trà Hoa Nữ của Alexandre Dumas con), Giá trị và danh dự
(Le Cid – Corneille), Bằng hữu binh nhung (Ba người lính ngự lâm – Alexandre Dumas), Túy Hoa vương nữ (Marie Tudor – Victor Hugo)…
“Tuồng Tây” không chỉ nói đến những tác phẩm khai thác kịch bản có nguồn gốc Âu - Mỹ mà thể hiện chính yếu ở phong cách biểu diễn hiện đại: lời thoại, tác phong hành động tự nhiên, gần gũi đời thường, khác hẳn lối diễn xuất ước lệ, tượng trưng của “tuồng Tàu” Đây là phong cách biểu diễn mà NSND Năm Châu xem là tiến bộ và theo đuổi nhằm xây dựng một nền sân khấu Việt: “Thật và Đẹp” Cùng với đó, nhiều bản nhạc Tây cũng được đưa vào SKCL (mà nghệ sĩ Tư Chơi được xem là người tiên phong) Dòng sân khấu này còn ghi nhận các tác phẩm khai thác
đề tài xã hội đương thời, gọi là “tuồng xã hội”, với những sáng tác mới chủ yếu theo hướng hiện thực phê phán hoặc chuyển thể từ tiểu thuyết chữ Quốc ngữ [PL2, (10)] Giới chuyên môn đánh giá dòng sân khấu tuồng Tây đã đóng góp nhiều tác phẩm
vào hàng xuất sắc nhất của SKCL trước năm 1945 (và cả lịch sử SKCL), như: Giấc
mộng cô Đào, Khúc oan vô lượng, Tơ vương đến thác, Tứ đổ tường, Đời cô Lựu, Tô Ánh Nguyệt, Lan và Điệp, Đoạn tuyệt…
Tuy nhiên, sự phân dòng này chỉ là tương đối, chưa có sự thống nhất về học thuật khi bên cạnh hai khuynh hướng chủ đạo này còn những “tiểu dòng” khác theo
sự mở rộng đề tài của SKCL trong quá trình phát triển
c Các dòng sân khấu khác
* Dòng sân khấu tuồng Tiên, tuồng Phật
Năm 1929 – 1933, cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới bùng phát ảnh hưởng nặng nề đến Đông Dương Đời sống người dân điêu đứng Hàng loạt đoàn hát kể cả các đại bang (Trần Đắc, Huỳnh Kỳ, Nghĩa Hiệp…) đều rã gánh Thế nhưng đoàn Tân Thinh của ông Trương Văn Thông vẫn qua “cơn bĩ cực” nhờ nắm bắt tâm lý
Trang 37khán giả Trước thực tế cuộc sống quá u ám, người ta dễ nảy sinh tâm lý chán nản, bất lực, muốn lánh vào tôn giáo (nhiều tôn giáo mới cũng ra đời trong giai đoạn này) mong tìm nguồn an ủi tâm linh Nắm bắt tâm lý này, ông bầu Thông bèn tung
ra loạt tuồng Tiên, tuồng Phật (Phật Tổ giáng sinh, Thích ca đắc đạo, Phật nhập
niết bàn…) với nhiều trò xảo thuật: hoa sen nở theo mỗi bước chân Thái tử Tất Đạt
Đa, tạo cảnh tái thiên lập địa (10 phút đổi 7 cảnh)… Những vở tuồng đầy màu sắc tâm linh nhanh chóng lôi kéo người xem vốn đang tìm cứu rỗi nơi thần đạo Ngay
vở ra mắt Thích ca đắc đạo: “Từ chợ Sài Gòn đến rạp, khán giả đứng đông đặc lề
đường, ngoài đường chen nhau giành mua vé Ba vở diễn liền 12 đêm tại rạp Modern Cinéma chưa đủ thỏa mãn công chúng, Tân Thinh lãi lớn” [35, tr.186] Bắt
chước Tân Thinh, các gánh khác cũng đem Tiên, Phật, yêu quỷ… lên sân khấu và đều đắt khách bất chấp cuộc quay quắt mưu sinh của người dân thời khủng hoảng Tuồng Tiên, tuồng Phật “sống khỏe” và chỉ mất dần sức hút khi khủng hoảng kinh tế qua đi Sự ra đời của dòng sân khấu này là nhằm ứng biến với thời cuộc, tìm cách thích nghi để tồn tại của ông bầu Thông và gánh Tân Thinh nói riêng, của SKCL nói chung Tuy không được đánh giá cao về nghệ thuật nhưng dòng sân khấu này đã là một phần lịch sử SKCL, chứng tỏ NTCL đã biết cách thích ứng để tồn tại
và phát triển trong hoàn cảnh không thuận lợi Tuồng Tiên, tuồng Phật chưa bao giờ trở lại “thời đỉnh cao” nhưng vẫn là một mảng màu góp vào bức tranh SKCL đa sắc
* Dòng sân khấu tuồng kiếm hiệp
Từ năm 1934, đất nước dần thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, đời sống người dân khởi sắc, nhu cầu giải trí trở lại Các đoàn hát khôi phục hoạt động Sẵn sức hút
từ những trò xảo thuật của tuồng Tiên - Phật, dòng sân khấu tuồng kiếm hiệp ra đời tiếp tục tận dụng xảo thuật với những cảnh phi thân, đánh chưởng… ngoạn mục Đồng thời bổ sung tính chất ly kỳ, gay cấn ở cốt truyện và tình tiết vở diễn
Soạn giả Mộng Vân được xem là người mở đường cho dòng sân khấu tuồng kiếm hiệp với những tác phẩm được chuyển thể từ tiểu thuyết kiếm hiệp cốt truyện
kỳ thú (Long hình quái khách, Thiếu Lâm trường hận…) Tuồng kiếm hiệp không
chỉ dựa vào cái lạ từ xảo thuật sân khấu mà trước hết hướng đến việc khai thác sức
Trang 38hút từ những “giọng ca vàng”, đặc biệt là qua bản Vọng cổ Mộng Vân chú trọng tạo nhiều mảng miếng cho nghệ sĩ phô diễn khả năng ca diễn bất chấp logic thông thường (như trước khi chết hay lúc nguy cấp vẫn ca Vọng cổ) Ông đã xây dựng
một công thức biểu diễn độc đáo cho tuồng kiếm hiệp: “đấu poignard, nhảy cửa sổ,
ca Vọng cổ, phựt đèn màu” [PL2, (11)]
Ông còn góp công làm phong phú âm nhạc Cải lương khi sáng tác rất nhiều
bài bản nhỏ – “đủ các sắc độ tình cảm từ những bài tươi vui, nhàn hạ, khoan thai,
rộn rã, ngắn gọn, khẩn trương, giằng co, dồn dập đến những bài buồn lâng lâng, ngang trái, uất ức, đau khổ, thất vọng, oán hờn…” [14, tr.503, nguồn: Lịch sử sân khấu Việt Nam, tập II, trang 100] – để dẫn vào câu Vọng cổ Đến nay, nhiều bài
nhạc của Mộng Vân vẫn được sử dụng phổ biến trên SKCL, như: Giang Tô điểu
ngữ, Phong ba đình, Lạc xuân hoa, Sương chiều, Tú anh…
Dòng sân khấu này còn phát triển theo hướng đa dạng hóa với những tuồng
“kiếm hiệp Tây”: La Mã, Ba Tư, Ấn Độ, Ả Rập…, một lần nữa khẳng định tính
“động” của SKCL Tuy nhiên, có lúc sự phát triển này lại thiếu định hướng dẫn đến
tình trạng “loạn phát”: “trên sân khấu xuất hiện những nhân vật hóa trang kỳ dị:
đầu chít khăn như người Thổ Nhĩ Kỳ, áo sơ mi màu sặc sỡ, cổ đứng như áo cô-dắc, ngoài áo khoác ghi-lê như người Ben-gan-li, quần ống như người Ả Rập” [35,
tr.187], hay: “đưa mọi thứ Âu Mỹ lên SKCL như nhảy đầm, đấu quyền Anh… Có cả
loại kiếm hiệp rừng xanh… diễn các vở phiêu lưu đến những bộ lạc ăn thịt người, đánh nhau với thú dữ, gặp gỡ người rừng” [14, tr.511]…
Có thể nói sự ra đời và phát triển của bản Vọng cổ đã giúp thể loại tuồng kiếm hiệp thăng hoa Ngược lại, cũng có thể cho rằng cùng với đĩa hát, dòng sân khấu tuồng kiếm hiệp đã góp phần đưa Vọng cổ trở thành “bản nhạc vua” của SKCL
1.2.1.3 Sự lan tỏa của nghệ thuật Cải lương
a Cải lương ở miền Bắc
Từ những năm 1918 - 1920, NTCL đã “Bắc tiến” mà: “Ông Nguyễn Văn Súng
tức Sáu Súng là người đầu tiên đem NTCL Nam Kỳ ra giới thiệu trên sân khấu miền Bắc” [70, tr.37, nguồn: Đông Thanh (1950), “Nhìn qua Sân khấu Việt Nam xưa và
Trang 39nay”, báo Xuân khói lửa, Hà Nội] Một lực lượng quan trọng góp công giới thiệu NTCL trên đất Bắc là những sinh viên miền Nam theo học tại đây khi: “… đem
nghiệp cầm ca, bắt chước “thả cầm thơ” như đàn anh trong Nam và truyền bá điệu hát cải-lương ra xứ “ngàn năm văn vật”…” [58, tr.111] Các vở Cải lương do sinh
viên miền Nam biểu diễn: Bội phu quả báo của Phạm Công Bình, được Nguyễn Trọng Quyền nhuận sắc (1923); Châu Trần tiết nghĩa – Nguyễn Văn Tệ (1925);
Trang Tử cổ bồn – Nguyễn Đăng Phong (1926)… được khán giả Hà Nội thích thú
đón nhận Từ năm 1924, Nguyễn Đình Nghị cũng thử nghiệm đưa Cải lương vào Chèo Năm 1926, đã xuất hiện nhiều nhóm tập đàn ca Cải lương tại Hà Nội…
Cuối năm 1927, Nghĩa Hiệp Ban của ông Nguyễn Văn Đẩu – gánh Cải lương quy mô đầu tiên ra Bắc – đã cuốn hút khán giả với những tuồng Tàu “đánh đồ thiệt”: cảnh trí tả thực lộng lẫy, y trang rực rỡ, diễn xuất hấp dẫn, đánh võ thật… Trong khoảng 10 năm (1927 – 1937), hàng loạt cái tên danh tiếng của SKCL Nam Bộ: Phước Cương, Trần Đắc, Tân Thinh, Văn Hý Ban… đều xem miền Bắc là điểm đến ưa thích Công chúng xứ Bắc hoàn toàn bị chinh phục bởi phong cách chuyên nghiệp, nghệ thuật trình diễn điêu luyện, mới lạ của những “ngôi sao” hàng đầu: Năm Phỉ, Phùng Há, Năm Châu, Bảy Nhiêu, Tám Danh, Ba Du, Tư Út, Từ Anh, Tư
Sạng…; với đủ thể loại tuồng: Trảm Trịnh Ân, Phụng Nghi Đình… (tuồng Tàu),
Thế lực kim tiền, Tứ đổ tường… (tuồng XH); Tơ vương đến thác, Giá trị và danh dự… (tuồng Tây), Thích ca đắc đạo… (tuồng Phật) Sức hấp dẫn của loại hình sân
khấu non trẻ đất Nam Bộ là không thể bàn cãi: “… phong trào Cải lương Nam kỳ ở
miền Bắc lan rộng trong quần chúng, quyến rũ từ sinh viên trường cao đẳng, đến học sinh các trường, từ trí thức đến thợ thuyền… đều mở lòng dang tay đón tiếp nghệ thuật của quê hương, của dân tộc một cách nhiệt tình thắm thiết” [70, tr.73]
Và NTCL đã lưu lại mãi trên đất Bắc Từ năm 1926, nhóm Đồng Ấu Quảng Lạc của rạp Quảng Lạc – được xem là ban Cải lương chuyên nghiệp đầu tiên ở Hà Nội – được chia suất diễn với Tuồng, Chèo Tiếp sau, Hà Nội có thêm các ban: Trần Phềnh (1932), Hiệp Thành (1934), Ái Liên (1934), Đồng Ấu Quốc Hoa (1938)…
Từ đây, phong trào diễn Cải lương lan tỏa khắp miền Bắc, nhiều đoàn tỉnh ra đời
Trang 40Ban đầu, Cải lương Bắc vẫn chịu ảnh hưởng của Cải lương Nam, thậm chí nghệ sĩ cũng ca giọng Nam Về sau, NTCL bén rễ sâu trên đất Bắc và định hình, phát triển theo hướng riêng phù hợp phong thổ vùng đất mới SKCL Bắc chịu nhiều ảnh hưởng từ những trào lưu văn học cùng những biến động văn hóa - xã hội đầu thế kỷ XX Đến những năm 1930 thì phát triển mạnh chủ đề cách mạng, yêu nước Sau Cách mạng tháng Tám, chủ đề này càng được củng cố và phát huy đáp ứng yêu cầu của chính quyền cách mạng Đến nay, SKCL Bắc là một dòng chảy mang sắc thái riêng hòa chung vào ngọn nguồn thống nhất NTCL Việt Nam
b Cải lương đến miền Trung
Trên bước đường lưu diễn, trước khi đến miền Bắc, các đoàn Cải lương Nam
Bộ đều tranh thủ dừng lại miền Trung Vì nhiều lý do, các đoàn chia tách, tổ chức lại, hoặc lập hẳn đoàn mới… Một số tiếp tục hành trình ra Bắc, một số trở về Nam, một số ở lại gầy dựng SKCL tại địa phương Từ năm 1921, miền Trung có một số đoàn hát: Phước Hội Ban (Nha Trang); Tân Lập, Phước Lập (Phú Yên); Đồng Ấu Hòa Bình (Đà Nẵng)… Tuy nhiên, so với “quê Chèo” sẵn sàng dung nạp Cải lương thì mảnh đất miền Trung gần như chỉ là một trạm dừng Trước năm 1975, miền
Trung “coi như chỉ là vùng đất cho Cải lương dung thân, chứ tự nó không có một
gánh Cải lương chính thống nào” [7, tr.160] mặc dù khán giả miền Trung chưa bao
giờ kém say mê Cải lương hơn khán giả miền Nam hay miền Bắc
Giai đoạn này, thực dân Pháp dùng chính sách “chia để trị” trên đất nước ta nhằm dễ kiểm soát và đối phó với các phong trào yêu nước Việt Nam được chia thành 3 kỳ với chế độ cai trị khác nhau Nam kỳ là xứ thuộc địa, chịu kiểm soát trực tiếp của chính quyền “mẫu quốc” Bắc kỳ và Trung kỳ là xứ bảo hộ vẫn duy trì bộ máy chính quyền người bản xứ Miền Nam lúc này thoát ly hẳn hệ thống phong kiến mà phát triển nhanh kinh tế TBCN Văn hóa - xã hội vận động nhanh và biến đổi sâu sắc Nhiều giá trị mới liên tục ra đời và trở nên phổ biến mà SKCL là điển hình Cùng là chính quyền bảo hộ nhưng Trung kỳ vẫn còn sự hiện diện của triều đình Huế ít nhiều giữ được tự chủ ở một số lĩnh vực nhất định, còn hệ thống chức sắc cai quản Bắc kỳ đã hoàn toàn hướng theo Pháp Tuy không “lột xác” mạnh mẽ