Tác giả hy vọng góp một phần nhỏ bé trong kết quả nghiên cứu của mình để làm kiến thức bổ ích cho thế hệ tương lai và cho những người đang là cha mẹ nhận biết rõ vấn đề mình đang quan tâ
Trang 1- -
Nguyễn Công Danh
QUAN NIỆM SINH CON VÀO
NĂM TỐT CỦA NGƯỜI VIỆT
[TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2013
Trang 2- -
Nguyễn Công Danh
QUAN NIỆM SINH CON VÀO
NĂM TỐT CỦA NGƯỜI VIỆT
[TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
Chuyên ngành: Việt Nam học
Mã số: 60.31.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS Nguyễn Văn Lịch
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Từ khi bắt tay vào nghiên cứu đề tài cho đến khi kết thúc và có được kết quả nghiên cứu như ngày hôm nay thật sự là một nỗ lực rất lớn từ bản thân và sự giúp đỡ, động viên của những người thân
Sự giúp đỡ đầu tiên, mà tôi phải kể đến, đó là thầy PGS TS Nguyễn Văn Lịch, thầy đã giúp tôi, chỉ cho tôi những khiếm khuyết, góp ý, kinh nghiệm, cũng như những lời động viên trong suốt quá trình làm luận văn Tôi xin gửi đến thầy lời tri ân sâu sắc nhất
Qua đây, tôi cũng xin cảm ơn đến quý lãnh đạo Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình Tp HCM, bệnh viện Từ Dũ, bệnh viện Đại Học Y Dược, bệnh viện Hùng Vương, trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, đã tạo điều kiện cho tôi được khảo sát và thu thập số liệu tại quý cơ quan Và đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn đến quý bác sĩ tại các bệnh viện phụ sản đã dành thời gian quý báu của mình để đưa ra những ý kiến, nhận định cho đề tài của tôi
Sau cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm khoa Việt Nam học, cùng toàn thể quý thầy cô trong khoa thuộc trường Đại học Khoa học xã hội
và Nhân văn đã tạo cơ hội cho tôi hoàn thành tốt khóa học
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
BV Bệnh viện CTV Cộng tác viên
ĐH Đại học GDP Tổng sản phẩm quốc nội ILO Tổ chức lao động quốc tế LHQ Liên hiệp quốc
PV Phỏng vấn THCS Trung học cơ sở THPT Trung học phổ thông
Tp HCM Thành phố Hồ Chí Minh UNDP Chương trình phát triển Liên hiệp quốc UNFPA Quỹ dân số Liên hợp quốc
UNVN Liên hợp quốc tại Việt Nam
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Tính cấp bách, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 11
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 14
6 Giả thuyết nghiên cứu 15
7 Cấu trúc luận văn 15
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG QUAN NIỆM SINH CON VÀO NĂM TỐT 17
1.1 Các khái niệm cơ bản 17
1.1.1 Âm dương, ngũ hành và hệ can chi 17
1.1.2 Năm tốt và năm xấu 22
1.1.3 Tử vi và vận mệnh 26
1.1.4 Quan niệm con một bề 29
1.1.5 Quan niệm nam nhâm nữ quý 30
1.2 Cơ sở lý luận về con người 31
1.2.1 Quan niệm phương Đông về vận mệnh của con người 31
1.2.2 Quan niệm chọn năm tốt 33
1.2.3 Sinh thái văn hoá 37
1.2.4 Nhân học văn hóa và trường phái chức năng 39
1.3 Cơ sở thực tiễn 40
1.3.1 Bối cảnh chung của việc chọn năm tốt để sinh con của người Việt 40
Trang 61.3.2 Những vấn đề liên quan đến phát triển con người trong thời đại mới 44
Tiểu kết chương 1 48
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SINH CON VÀO CÁC NĂM ĐƯỢC CHO LÀ TỐT 50 2.1 Thực trạng chung về quan niệm sinh con vào năm tốt trong cả nước và một số nước trong khu vực 50
2.2 Thực trạng sinh con vào các năm được xem là tốt ở Tp HCM 57
2.3 Những trường hợp tác động khác tồn tại ngoài khung khảo sát 67
2.4 Thực trạng "dân số vàng" tại Việt Nam 72
2.5 Xu hướng sinh con vào năm tốt của người dân Tp HCM 76
Tiểu kết chương 2 79
CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA DÂN SỐ QUA QUAN NIỆM SINH CON VÀO NĂM TỐT VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TP HCM HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 81
3.1 Các yếu tố tác động đến sự lựa chọn sinh con vào các năm được xem là tốt của người dân tại Tp HCM 81
3.2 Những tác động của tăng trưởng dân số 84
3.2.1 Trên lĩnh vực kinh tế 84
3.2.2 Trên lĩnh vực văn hóa, xã hội 91
3.3 Kiến nghị 100
3.3.1 Truyền thông về dân số 100
3.3.2 Phát triển nguồn nhân lực 104
3.3.3 Đảm bảo an sinh xã hội 107
Tiểu kết chương 3 109
KẾT LUẬN 111
Kiểm định giả thuyết 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
Trang 7PHỤ LỤC 1
Phụ lục 1: MẪU BẢN HỎI PHỎNG VẤN SÂU 1
Phụ lục 2: DANH MỤC NGƯỜI ĐƯỢC PHỎNG VẤN 3
Phụ lục 3: BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU 7
Phụ lục 4: HÌNH ẢNH MINH HỌA 92
Trang 8xã hội Đây cũng chính là nhân tố quan trọng cho việc phát triển kinh tế của một đất nước nên cần được quan tâm nghiên cứu.[5, tr.167]
Trong quá trình tìm hiểu tác giả đã nhận thấy việc chọn năm tốt để sinh con với mong muốn đứa con khi sinh ra sẽ có được cuộc sống tốt đẹp và thừa hưởng những gì tốt đẹp nhất của cuộc sống đang là mối quan tâm của các bậc cha mẹ Những câu hỏi được đặt ra xung quanh vấn đề này mà chưa có giải đáp thích đáng, đã làm cho tác giả cảm thấy thú vị trong việc đi làm rõ, lý giải những vấn đề xung quanh quan niệm sinh con vào năm tốt Phần tìm hiểu này không chỉ giải quyết những thắc mắc, mà còn mở rộng hơn sự hiểu biết cho tác giả và cho những người đang quan tâm đến nó Vấn đề này cũng đang được sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân và của chính quyền trong
cả nước
Hơn nữa, nhiều người vẫn tin vào tướng số, vận mệnh, ngày, giờ, năm tốt xấu, hên xui, nên người ta bị nó chi phối rất nhiều trong đời sống Đây cũng là vấn đề mà tác giả muốn tìm hiểu và đề cập trong luận văn này Việc tin vào năm tốt xấu đã chi phối con người trong cách nghĩ và đưa đến hành động Những tác động đến đời sống của quan niệm năm tốt năm xấu tưởng chừng như rất đời thường nhưng nó đã chi phối con người và để lại hậu quả không nhỏ cho xã hội và cho nhà chức trách
Trang 9Tác giả hy vọng góp một phần nhỏ bé trong kết quả nghiên cứu của mình để làm kiến thức bổ ích cho thế hệ tương lai và cho những người đang là cha mẹ nhận biết rõ vấn đề mình đang quan tâm là đúng hay không đúng trước khi đi đến quyết định chọn năm tốt để sinh con
Từ những lý do bên trên, tác giả đã quyết định chọn đề tài nghiên cứu "Quan niệm sinh con vào năm tốt của người Việt" và tự tin tiếp cận vấn đề cần nghiên cứu và
cố gắng giải quyết nó theo hướng tốt nhất
2 Tính cấp bách, ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Tính cấp bách
Vấn đề này nếu chậm nghiên cứu, thì hậu quả để lại sẽ trở thành gánh nặng cho
xã hội vì sự mất cân bằng về giới, sự chênh lệch tỉ lệ sinh giữa các năm, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của đất nước, thêm vào đó là một loạt các gánh nặng về dân số và nguồn nhân lực cho tương lai cần phải giải quyết
Ý nghĩa khoa học
Với nghiên cứu này, tác giả sẽ đưa ra nhận định và lý giải về năm tốt, năm xấu và việc chọn năm tốt để sinh con Với hy vọng sẽ là những kiến thức bổ ích góp phần thay đổi cách nhìn nhận của người dân về vấn đề này, cũng như với kết quả nghiên cứu mới này sẽ gợi mở cho những người đi sau phát triển thêm và không ngừng hoàn thiện nó
Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu sẽ nhằm vào mục đích phục vụ cho công tác tuyên truyền để góp phần thay đổi quan niệm sinh con vào năm tốt của người dân, phục vụ cho việc học tập và giảng dạy tại các trường cao đẳng, đại học trong cả nước Đồng thời giải quyết những tác động tiêu cực của nó lên đời sống xã hội, phát huy những mặt tích cực
Trang 10vào phát triển kinh tế của đất nước và phát triển con người phục vụ cho sự phát triển của xã hội Việt Nam
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Mục đích của tác giả, trước hết là làm rõ quan niệm sinh con vào năm tốt của người dân Kế đến, xác định mức độ tác động và ảnh hưởng của quan niệm này trong đời sống xã hội Cuối cùng là đưa ra giải pháp để từng bước khắc phục tình trạng trên Điều này sẽ giúp tác giả định hướng trong quá trình thực hiện, và mục tiêu đặt ra sẽ được triển khai, giải quyết đúng theo tính hệ thống và khoa học vốn có của nó Cụ thể như sau:
- Định hướng phát triển nguồn nhân lực là bằng con đường giáo dục
- Thay đổi quan niệm vận mệnh tương lai của một con người là do năm sinh tốt xấu
- Đưa ra những giải pháp phù hợp cho các ban ngành liên quan thực hiện công tác tuyên truyền về dân số
- Góp phần giải quyết vấn đề mất cân bằng giới tính
- Góp phần giải quyết vấn đề thừa nhân lực nhưng vẫn thiếu nhân lực trình độ cao.
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là quan niệm sinh con vào năm tốt của người Việt và được đặt trong các mối liên hệ với quá khứ, hiện tại, và tương lai
Trang 11Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian
Tác giả chọn ra 12 năm trở lại đây trong chu kỳ của 12 con giáp ứng với một hội (60 năm) của hệ đếm can chi, để làm nổi bật lên những năm người Việt cho là tốt để sinh con Cụ thể là nghiên cứu này chỉ tập trung tìm hiểu giai đoạn từ năm 2000 đến
2012, tức từ năm Canh Thìn đến năm Nhâm Thìn theo âm lịch Trong khoảng thời gian
đã định, tác giả sẽ chọn ra những năm mà theo quan điểm của người nghiên cứu lịch pháp là năm tốt để so sánh, đối chiếu với những năm được cho là không tốt
Về không gian
Không gian của vấn đề nghiên cứu là tại Tp HCM (được giới hạn cụ thể tại 3 bệnh viện phụ sản gồm Từ Dũ, ĐH Y Dược, Hùng Vương; và 2 địa điểm khác là Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình Tp HCM, trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương), vì Tp HCM là một trung tâm kinh tế lớn nhất trong cả nước, dân số đông nhất nước, hội đủ điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu được thực hiện một cách dễ dàng và hiệu quả
Về nhiệm vụ
Tác giả chỉ thực hiện việc nghiên cứu của mình trong giới hạn là tìm ra nguồn
gốc, nguyên nhân, thực trạng, mức độ tác động và giải pháp cho quan niệm sinh con
Trang 12- Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình Tp HCM, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Tp HCM và trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương: phỏng vấn 3 người
- Các hộ gia đình (vợ/chồng): phỏng vấn 48 người đang sống và làm việc tại Tp HCM, đã lập gia đình và trong độ tuổi sinh sản Phỏng vấn trực tiếp tại nhà riêng hoặc tại những bệnh viện phụ sản đã nêu ở trên
Kiểm soát sai lệch lựa chọn:
Phỏng vấn viên sẽ tiến hành điều tra vào thời điểm thích hợp đối với từng đối tượng được chọn Đối với các cặp vợ chồng, sẽ tiến hành phỏng vấn trực tiếp tại bệnh viện hoặc nhà riêng từ thứ hai đến thứ sáu trong tuần để thuận tiện cho việc thu tập kết quả
Nghiên cứu thử trước 10 trường hợp là đối tượng bị tác động trực tiếp bởi quan niệm sinh con vào năm tốt và điều chỉnh bộ câu hỏi trước khi điều tra chính thức
Biến số nghiên cứu cho vợ và chồng:
Nhóm tuổi: 18-40 và mở rộng đến 45
Dân tộc: Việt
Tôn giáo: Phật giáo, Công giáo, không, khác
Trình độ học vấn: mù chữ, tiểu học (lớp 1 đến lớp 5), trung học cơ sở (từ lớp 6 đến lớp 9), trung học phổ thông (từ lớp 10 đến lớp 12), từ trung cấp chuyên nghiệp trở lên
Nghề nghiệp: nhân viên, công nhân, buôn bán, nội trợ, nông dân, khác
Số con dự sinh: nhỏ hơn 2 con, lớn hơn 2 con
Áp lực gia đình: từ chồng, gia đình chồng, trẻ có khả năng làm nhiều tiền, trẻ có cuộc sống sung túc, sinh con một bề
Trang 13Ý định sinh con trai: thích con trai, không thích con trai, con nào cũng được Chọn năm tốt sinh con: thích chọn năm tốt, năm nào cũng được
Thu thập dữ liệu:
Dùng phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc
Phỏng vấn trực tiếp tại cơ quan hoặc tại nhà riêng
Gặp trực tiếp đối tượng tại cơ quan, nếu thuận tiện sẽ tiến hành phỏng vấn tại thời điểm gặp Nếu không thì xin một cuộc hẹn và sẽ quay lại phỏng vấn sau Mỗi cuộc phỏng vấnsẽ được tiến hành trong thời gian khoảng 15 phút
Bộ câu hỏi gồm: bộ câu hỏi dành cho bác sĩ tại bệnh viện phụ sản, Chi cục Dân số
- Kế hoạch hóa gia đình Tp HCM, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Tp HCM, Trung tâm Lý học Đông phương, vợ hoặc chồng Bộ câu hỏi này sẽ được đính kèm trong phần phụ lục của bài nghiên cứu
Thời gian thu thập số liệu: từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2012
Một số điều tuân thủ trong thực hiện nghiên cứu:
Thông báo cho người được phỏng vấn biết mục đích nghiên cứu Phỏng vấn chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của người tham gia phỏng vấn
Kết quả phỏng vấn sẽ được tổng hợp, xử lý và sử dụng trong luận văn
Người được phỏng vấn có quyền từ chối không tham gia nữa sau khi đã đồng ý tham gia phỏng vấn
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khi đi tìm hiểu những nghiên cứu xung quanh vấn đề này, chúng tôi tìm thấy luận văn Thạc sĩ của Lưu Hoàng Chương (2008) bàn về triết lý âm dương trong văn hóa dân gian người Việt, điểm chính của luận văn này là vận dụng triết lý âm dương vào giải
Trang 14thích bản chất của vũ trụ và con người, qua đó, ứng dụng nó vào trong đời sống tập thể, đời sống cá nhân, giải thích các ứng xử của con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội và tác giả luận văn này cũng chỉ ra những ứng dụng của triết lý âm dương ở một số lĩnh vực như nhân tướng học, kiến trúc, y học và những hạn chế của nó trong thời đại hiện nay Những vấn đề mà tác giả bàn đến trong luận văn này chỉ dừng lại ở việc tổng hợp và khái quát vấn đề mà chưa đi sâu vào giải quyết những vấn đề cụ thể, thiết thực trong đời sống Đặc biệt là những vấn đề nổi trội mà đang được xã hội quan tâm
Một số tác giả của các cuốn sách như: Làm chủ tư duy thay đổi vận mệnh của Adam Khoo và Stuart Tan (2009), Làm chủ vận mệnh của Viên Liễu Phàm (2011),
Tam quốc của Thành Quân Ức (2009), Tạo lập tính cách con người của Dick Lyles
(2007) đều bàn về tính cách của con người, số phận của con người trong cuộc sống được đặt trong mối tương quan với môi trường xung quanh Các tác giả này đều đưa ra nhận định rằng tất cả các vấn đề xảy ra trong suốt cuộc đời của con người không phải
do số phận định đoạt, do trời đất định đoạt hay do sinh vào ngày, tháng, năm đó định đoạt, mà tất cả đều do chính con người chúng ta tự định đoạt lấy, tự tạo lập ra cho chính mình Và do đó, chúng ta có thể thay đổi tính cách hay số phận của chúng ta bất
cứ khi nào chúng ta muốn
Các tác giả Đặng Thu, Doãn Mậu Diệp, Hoàng Xuân Quyến, bàn về vấn đề Quan
niệm và tâm lý sinh con của một số dân tộc theo chế độ gia đình mẫu hệ ở Tây Nguyên
(tạp chí Dân tộc học số 2 - 1987), đặt trong sự so sánh sự yêu thích sinh con gái với sự yêu thích con trai giữa các dân tộc Tây Nguyên với nhau và giữa các dân tộc Tây Nguyên với người Việt Kết quả của quá trình khảo sát đã cho nhóm tác giả này kết luận là người Việt thích con trai hơn, còn những dân tộc ở Tây Nguyên thích con gái hơn Số người thích sinh nhiều con ở các dân tộc Tây Nguyên nằm ở trình độ học vấn chưa hết lớp 7, nên các tác giả này đề nghị cần phải nâng cao trình độ học vấn của
Trang 15đồng bào các dân tộc Tây Nguyên để thay đổi những quan niệm và tâm lý xã hội truyền thống của họ trong việc sinh con Và không chỉ với các dân tộc Tây Nguyên cần phải thay đổi mà người Việt cũng cần phải thay đổi
Tác giả Phạm Thị Hoài Nam, Trần Mạnh Đức trong cuốn Bước đầu tìm hiểu nghề
bói toán ở Hà Nội (1998), chỉ ra rằng phần lớn người dân đều quan tâm đến việc xem
ngày giờ khi có việc lớn, trong đó một phần coi trọng và tự mình đi xem, một phần không hẳn tin, nhưng cũng làm theo lệ vì chẳng mất gì, một phần không làm theo nhưng cũng không phản đối người nhà đi xem Trong số đối tượng mà các tác giả này khảo sát thì những người theo đạo Công Giáo tin vào vấn đề này chiếm tỉ lệ thấp nhất,
và đa phần những người tin vào vấn đề này họ có cùng nhu cầu về gia đình, con cái và những người này không theo đạo Công Giáo Vấn đề tin vào bói toán trước khi thực hiện công việc hệ trọng của người dân trong cuộc sống hằng ngày hoàn toàn không ảnh hưởng gì lớn đến xã hội và cũng không ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân, các tác giả này đã đưa ra nhận định như thế
Các tác giả thuộc nhóm xã hội học đi luận giải vấn đề về sự phát triển con người hoàn toàn dựa trên hoàn cảnh sống của từng cá thể Hay nói khác đi là môi trường sống
và điều kiện sống sẽ tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của con người Cũng
từ đó mà tính cách con người sẽ được hình thành và lớn lên từng ngày, nó chi phối trong cách nghĩ, trong cách ứng xử với những người xung quanh Thành công hay không là do con người và môi trường tạo nên và con người có thể hành động để quyết định số phận tương lai của mình
Vấn đề sinh con vào năm tốt là vấn đề đang được toàn xã hội quan tâm Nên một
số lượng lớn báo điện tử trong và ngoài nước mà chúng tôi thu thập được cũng đã bàn luận về vấn đề này theo các chiều hướng khác nhau Những vấn đề giữa được và mất, giữa tốt và xấu, giữa thực và hư khi quyết định chọn năm tốt để sinh con, cũng như
Trang 16phản ánh tình hình chạy đua sinh con vào năm tốt của người dân trong những năm trở lại đây
Tất cả những kết quả nghiên cứu mà chúng tôi tổng kết được của những nhà nghiên cứu đi trước mặc dù có đi sâu phân tích và giải thích vấn đề về số phận của một con người từ khi sinh ra cho đến khi mất đi Nhưng những kết quả nghiên cứu này vẫn chưa chỉ ra được lý do tại sao lại như vậy? Có thật sự sinh con vào năm tốt thì cuộc đời tương lai của một con người sẽ tốt không? Vấn đề này sẽ đặt con người vào giữa hai thái cực tin hay không tin Và chúng ta cũng không thể hiểu rõ được những thông tin
đa chiều và mơ hồ như thế Cho nên để tìm ra một công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề chọn năm tốt để sinh con thì thật sự là chưa có, mà nó chỉ dừng lại ở việc khái quát chung xung quanh vấn đề này
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tài liệu: chúng tôi thu thập, xử lý, phân tích và tổng hợp nguồn tài liệu
thành văn rất phong phú về những vấn đề liên quan đến việc chọn năm tốt để sinh con Đồng thời, để khảo sát quan niệm sinh con vào năm tốt của người Việt, trong phạm vi luận văn thạc sĩ, điều kiện thời gian và khả năng giới hạn, chúng tôi tự tiến hành điều tra và dựa vào tài liệu thống kê của Tổng cục thống kê và Cục thống kê Tp HCM Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phân tích, tổng hợp: khi sử dụng phương pháp này vấn đề nghiên cứu và kết quả
nghiên cứu sẽ được phân tích và tổng hợp dựa trên một trình tự hệ thống cụ thể, nhờ đó
mà vấn đề được xử lý một cách triệt để và hiệu quả
Thống kê số liệu: phương pháp này được sử dụng để thống kê các số liệu thu
thập được từ các bệnh viện và tổng cục thống kê dân số về tỉ lệ sinh theo từng năm Đồng thời xử lý số liệu thu thập được từ những lần khảo sát của chính tác giả
Trang 17Nghiên cứu định tính: thông quan việc phỏng vấn sâu các đối tượng nghiên cứu
để tìm ra nguyên nhân và hướng giải quyết phù hợp cho đề tài Thành phần được phỏng vấn gồm vợ hoặc chồng trong độ tuổi điều tra, bác sĩ tại bệnh viện phụ sản, viên chức làm việc trong Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình Tp HCM, trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: phương pháp này giúp tác giả tiếp cận và
tổng hợp những lý thuyết, kết quả nghiên cứu của chuyên ngành chính là Việt Nam học
và các chuyên ngành liên quan như xã hội học, văn hóa học, nhân học, dân tộc học, kinh tế học, để làm cơ sở lý thuyết và cơ sở thực tiễn cho đề tài nghiên cứu của mình
Phương pháp so sánh, đối chiếu: giúp tìm ra nguyên nhân và kết quả, so sánh
đồng đại giữa các đối tượng nghiên cứu trong một năm và so sánh lịch đại kết quả tìm được giữa các năm với nhau trong khoảng mốc thời gian đã chọn
6 Giả thuyết nghiên cứu
Sinh con vào năm tốt là không có căn cứ xác thực nhưng nó đã thực sự chi phối cuộc sống của con người và khiến cho nhiều người tin vào điều này
Rất nhiều cặp vợ chồng đã cố gắng sinh con vào các năm mà người dân cho là năm tốt
Quan niệm sinh con vào năm tốt sẽ để lại gánh nặng cho xã hội và kiềm hãm sự phát triển kinh tế của đất nước, mà không giúp cho thế hệ tương lai tốt đẹp hơn
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận được thể hiện ở phần đầu và phần cuối, phần trọng tâm nghiên cứu của luận văn này được thể hiện bởi những nội dung sau:
Trang 18Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn trong quan niệm sinh con vào năm tốt
Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày khái quát các khái niệm, các thuật ngữ chuyên ngành liên quan đến đề tài để người đọc hiểu rõ hơn vấn đề và giúp chúng tôi trong việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu của mình Bên cạnh đó, chúng tôi còn đưa ra những cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn để làm nền tảng và định hướng trong suốt quá trình nghiên cứu Trên nền tảng cơ sở đó, chúng tôi sẽ tìm ra nguồn gốc và nguyên nhân của quan điểm sinh con vào năm tốt
Chương 2: Thực trạng sinh con vào các năm được cho là tốt
Những vấn đề đưa ra ở chương 1 sẽ được vận dụng trong chương này để tìm ra xu hướng nhận thức của người dân về vấn đề sinh con vào năm tốt Qua đó, chúng tôi xác định thực trạng dựa trên phân tích kết quả để lý giải cho những nguyên nhân của các chiều hướng nhận thức trong mối tương quan với kinh tế, văn hóa và xã hội hiện nay Đồng thời, chúng tôi so sánh quan niệm này với quan niệm của một số nước khác để tìm ra mức độ của nhận định
Chương 3: Tác động của dân số qua quan niệm sinh con vào năm tốt với sự phát
triển kinh tế - xã hội Tp HCM hiện nay và một số kiến nghị
Từ kết quả tìm được ở chương 2, chương này sẽ thể hiện mức độ tác động của quan niệm sinh con vào năm tốt của người dân trên phương diện đạo đức, đời sống, kinh tế Chúng tôi so sánh mức độ tác động giữa các năm và trong cùng một năm để đưa ra những đánh giá sau cùng so với giả định ban đầu Đồng thời, chúng tôi cũng đưa
ra những giải pháp để khắc phục những hệ lụy của quan niệm, cũng như phát huy những mặt tích cực của nó trong đời sống Chúng tôi sẽ kết hợp kết quả tìm kiếm được của hai chương 1, 2 để đưa ra những diễn giải khoa học cho quan niệm sinh con vào năm tốt
Trang 19CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG QUAN NIỆM SINH
CON VÀO NĂM TỐT
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Âm dương, ngũ hành và hệ can chi
Âm dương
Khi nói đến yếu tố âm dương là nói đến sự đối lập của hai nhân tố tồn tại trong mọi sự vật hiện tượng, đối lập nhau nhưng không loại trừ lẫn nhau mà bổ sung cho nhau cùng phát triển Mối quan hệ giữa âm và dương thể hiện qua hai quy luật chung nhất Quy luật 1: không có gì hoàn toàn âm hoặc không có gì hoàn toàn dương, trong
âm có dương và trong dương có âm; quy luật 2: âm và dương luôn gắn bó mật thiết với nhau và chuyển hóa cho nhau: âm cực sinh dương và dương cực sinh âm Triết lý âm dương còn là sản phẩm trừu tượng hóa từ ý niệm và ước mơ của cư dân nông nghiệp về
sự sinh sản của hoa màu và của con người.[49, tr.111-118]
Trong cuốn Ứng dụng dịch học trong dự đoán tương lai (2011), tác giả Nguyễn
Tiến Đích nhận định âm dương là một khái niệm chỉ sự thống nhất của 2 mặt đối lập, không chỉ một cái gì cụ thể Âm dương là hai yếu tố tương phản nhưng luôn dựa vào nhau, chuyển hóa lẫn nhau, cực âm tất dương, cực dương tất âm, làm cơ sở cho nhau tồn tại và phát triển Nam nữ hợp thì vạn vật hóa sinh Lão Tử viết: "Thảy là tương đối, nghĩa là bao giờ cũng có phần đối đãi của cái tốt và xấu, thiện và ác, thị và phi, dài và ngắn, cao và thấp Thiên hạ đều biết tốt là tốt thì đã có xấu rồi; đều biết lành là lành thì đã có cái chẳng lành rồi" [13, tr.27-28]
Các tác giả như Thái Luân Thi trong cuốn Tướng mặt ngũ hành giải mệnh (2011), tác giả Quốc Khanh trong cuốn Chiêm tinh học là gì?(2008) Đều thể hiện chung một
quan điểm về âm dương đó là sự mâu thuẫn trong thống nhất, chuyển hóa lẫn nhau, trong âm có dương và trong dương có âm
Trang 20Chung quy lại, âm dương là hai yếu tố cùng tồn tại song song trong cùng một sự
vật hiện tượng và được người xưa định hình từ hai cặp đối lập đầu tiên mẹ - cha và đất
- trời Âm dương trong cùng một sự vật hiện tượng không khắc lẫn nhau mà hỗ trợ cho
nhau cùng phát triển, nơi nào có sự kết hợp hài hòa giữa âm và dương nơi đó sẽ có sự sinh sôi phát triển của đất trời Đối với nền sản xuất nông nghiệp lúa nước sự kết hợp giữa âm và dương tạo ra sự sinh sôi nảy nở thì việc này lại càng hệ trọng Nên khi so sánh chúng ta cần phải đặt sự vật hiện tượng trong từng trường hợp cụ thể và tương ứng với đối tượng so sánh của nó để xác định thuộc tính âm dương của sự vật hiện tượng, dù cho việc làm đó chỉ mang tính tương đối
Ngũ hành
Trong cuốn Tướng mặt ngũ hành giải mệnh (2011), tác giả Thái Luân Thi cho
rằng, thuyết âm dương ngũ hành đã được đề cập đến trong tác phẩm Kinh dịch của người Trung Hoa Kinh dịch là một tác phẩm thu thập kiến thức và quan niệm của người xưa từ thời Phục Hy cho đến thời Khổng Tử Tuy nhiên, Khổng Tử là người có công góp nhặt, suy diễn một hệ thống và ghi lại thành văn bản cho hậu thế
Căn cứ theo ý nghĩa thông thường có thể hiểu rằng, với các ý nghĩa tượng trưng: Kim là tất cả các chất kim thuộc; Mộc là mọi thực vật trên mặt đất; Thủy là các dạng chất lỏng; Hỏa là lửa và hơi ấm; Thổ là đất đá và các loại khoáng chất trừ kim loại
Về phương diện siêu hình, ngũ hành gồm: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ tượng trưng cho tính cách tương sinh, tương khắc trong sự biến hóa của muôn vật [59, tr.60-62]
Một số tác giả như Nguyễn Tiến Đích trong cuốn Ứng dụng dịch học trong dự
đoán tương lai, Quốc Khanh trong cuốn Chiêm tinh học là gì? Nguyễn Lư trong cuốn Khai vận đỏ đều có cùng quan điểm về ngũ hành là bao gồm 5 nguyên tố Kim, Mộc,
Thủy, Hỏa, Thổ; sự phát triển, vận động của vạn vật là do sự tác động qua lại lẫn nhau của 5 nguyên tố này
Trang 21Tóm lại, ngũ hành là một quan niệm được người xưa đúc kết dựa trên thực tiễn, thông qua mối quan hệ tương sinh tương khắc của 5 nguyên tố, mà luận giải các vấn đề trong cuộc sống, cũng như sự tồn tại và phát triển của vạn vật Ngũ hành bao gồm 5 hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ
Mối quan hệ tương sinh của ngũ hành: Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim và Kim sinh Thủy; mối quan hệ tương khắc của ngũ hành: Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy (xem hình 1.1)
Hình 1.1: Ngũ hành tương sinh tương khắc [Nguồn: http://hocathuysinh.vn]
Hệ can chi
Theo tác giả Nguyễn Lư trong cuốn Khai vận đỏ (2011) cho rằng thiên can địa
chi1 là một hệ thống các cách ghi ngày, giờ, tháng, năm, trong đó dùng 10 can kết hợp
1 Can được tạo thành bởi sự kết hợp giữa 5 hành và âm dương mà thành, số 5 là số lẻ nên can dương ứng với thiên, chi được tạo thành từ 4 hành cộng với hành thổ (phân thành âm thổ và dương thổ) mà
Trang 22với 12 chi, gọi là thời gian can chi Kết hợp 10 can và 12 chi sẽ tạo ra một vòng tuần hoàn 60 năm, cho biết ngày, giờ, tháng, năm [31, tr.107]
Cách tính thứ tự và gọi tên các đơn vị thời gian, người xưa dùng một hệ đếm gọi
là can chi Hệ can gồm 10 yếu tố (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỉ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) Cách kết hợp được mọi người sử dụng rộng rãi hiện nay của hệ can kết hợp tương ứng với ngũ hành là do người Trung Hoa quy định, có từ đời Hán (theo đó: Mộc
≡ Giáp - Ất, Hỏa ≡ Bính - Đinh, Thổ ≡ Mậu - Kỉ, Kim ≡ Canh - Tân, Thủy ≡ Nhâm - Quý) Chi có 12 yếu tố (Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi) Tên mỗi chi ứng với một con vật, toàn là những con vật sống trên mặt đất, gần gũi với cuộc sống của người nông dân Tương ứng chi - hành: Tý và Hợi ≡ Thủy, Tỵ
và Ngọ ≡ Hỏa, Dần và Mão ≡ Mộc, Thân và Dậu ≡ Kim, Sửu và Mùi ≡ Âm Thổ, Thìn
và Tuất ≡ Dương Thổ [49, tr.176-177]
Chúng tôi xin tổng kết lại sự kết hợp giữa can chi và ngũ hành theo bảng 1.1 sau:
Bảng 1.1: Sự kết hợp tương ứng giữa can chi với ngũ hành
Thổ
Thiên can Giáp - Ất Bính - Đinh Nhâm - Quý Canh - Tân Mậu - Kỉ
Địa chi Dần - Mão Tỵ - Ngọ Tý và Hợi Thân - Dậu Sửu - Mùi Thìn - Tuất
[Nguồn: Nguyễn Công Danh]
Phối hợp các can với nhau ta được hệ đếm gồm 60 đơn vị với các tên gọi như Giáp Tý, Ất Sửu, Quý Hợi, gọi là hệ Can chi hay Lục giáp Khác hẳn với hệ đếm 60 (giờ - phút - giây) của phương Tây, đây là một hệ đếm 60 đặc biệt, được tạo ra trên cơ
Trang 23sở triết lý âm dương theo nguyên tắc chỉ ghép các can chi "đồng tính" (dương với dương, âm với âm), nghĩa là một nửa số kết hợp không dùng đến Cứ 60 năm gọi là một hội Hội đầu tiên sau công nguyên bắt đầu năm thứ 4, hội hiện thời bắt đầu năm
1984 (từ đầu công nguyên đến nay đã có 33 hội trôi qua) [49, tr.179]
Việc kết hợp âm dương, ngũ hành, cùng hệ đếm can chi, mà người phương Đông cho ra tính cách, tài năng, tình duyên, hôn nhân, cũng như dự đoán vận mệnh của mỗi con người qua các năm
Chúng tôi xin khái quát lại định nghĩa hệ can chi như sau:
Hệ can chi là hệ đếm xác định thời gian theo chu kỳ 60 năm của người xưa, xuất
xứ từ Trung Quốc rồi lan truyền sang các nước Đông Á Trong đó can dương được gọi
là thiên can gồm 10 yếu tố (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỉ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) kết hợp với chi âm được gọi là địa chi gồm 12 yếu tố (Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi) dùng để tính giờ, ngày, tháng, năm Sự kết hợp này tạo ra một chu kỳ 60 năm gọi là một hội hay lục thập hoa giáp1
Tam hợp và tứ hành xung: là sản phẩm kết hợp của can, chi và sự tương sinh
tương khắc của ngũ hành để giải thích sự tương sinh tương khắc giữa các can và chi trong hệ đến can chi
Việc áp dụng tam hợp, tứ hành xung vào việc xem xét mối quan hệ giữa con người, ứng với các can, chi, hành ấy trong quan hệ bạn bè, hôn nhân, con cái Khi sinh con, người Việt thường xem tuổi cha mẹ với tuổi con nếu hợp họ sẽ chọn năm đó
để sinh
1Lục thập hoa giáp: lục thập hoa giáp là hệ số đếm cổ đại kết hợp 6 chu kỳ hàng can với 5 chu kỳ
hàng chi Lục thập hoa giáp còn có tên là Lục thập giáp tý tức bắt đầu là Giáp Tý, kết thúc là Quý Hợi [22, tr.18]
Trang 24Hình 1.2: Chi hợp và xung khắc [Nguồn: Trần Ngọc Thêm 194: 49]
Hình 1.3: Can hợp và xung khắc [Nguồn: Trần Ngọc Thêm 194: 49]
1.1.2 Năm tốt và năm xấu
Khi luận bàn về năm tốt năm xấu, có nhiều điều mà chúng tôi cần phải quan tâm Thứ nhất là quan điểm để xác định năm tốt năm xấu, thứ hai tính xác thực của quan điểm, thứ ba sự nhất quán trong việc vận dụng quan điểm Với ba điều này trong quá trình tìm hiểu chúng tôi nhận thấy không thể tìm ra căn cứ xác thực để chứng minh cho việc có năm tốt năm xấu Có chăng chỉ là một thói quen lâu ngày trở thành cách ứng xử thông dụng mà thôi Ví như năm Mậu Tý (2008), mọi người đều cho rằng đó là năm chuột vàng, vì dựa theo bảng 1.1 thiên can Mậu thuộc hành thổ có màu biểu là màu vàng nên vàng là may mắn, thông minh, nhanh như chuột; năm Kỷ Sửu (2009) thì cho
là trâu vàng vì dựa theo thiên can Kỉ thuộc thổ và dựa theo địa chi Sửu thuộc Âm thổ,
Trang 25màu biểu cũng có màu vàng nên tin trẻ sinh ra sẽ khỏe mạnh, giàu có; rồi đến năm Canh Dần (2010) thì cho là cọp trắng; năm Tân Mão (2011) thì cho là mèo trắng vì thiên can Canh thuộc kim tức thể hiện sự giàu có vì sau này sẽ tích lũy được nhiều kim trong nhà chính là vàng bạc; năm 2012 là năm Nhâm Thìn, Nhâm và Thìn đều thuộc thổ nên đều có vàng và hơn nữa Thìn còn là biểu tượng cho sức mạnh và quyền lực, có móng vuốt và thân hình rất khỏe; năm 2013 là năm Quý Tỵ mà Quý thuộc thổ nên cũng là năm tốt Thậm chí năm 2007 là năm Đinh Hợi, nếu căn cứ theo thiên can Đinh thuộc hỏa, căn cứ theo địa chi Hợi thuộc thủy, thế hỏa với thủy gặp nhau theo thuyết ngũ hành là tương khắc không hợp nhau nhưng vẫn được cho là năm để sinh heo vàng thì chúng tôi không biết người Việt căn cứ vào đâu?
Khi cho năm Đinh Hợi là năm tốt để sinh con thì người xưa cũng có một sự giải thích khác, nếu không dựa vào âm dương ngũ hành, thiên can và địa chi để xem năm tốt năm xấu thì dựa vào vận khí1 (khí sắc và vận mạng) của từng năm để mà luận giải Năm Đinh Hợi được xem như là năm đại vận và chỉ 60 năm mới xuất hiện một lần Vì vậy ứng với chu kỳ một hội sẽ có 12 năm đại vận gồm: Kỉ Sửu, Kỷ Mùi đại vận Thổ;
Ất Mão, Ất Dậu đại vận Kim; Bính Thìn, Bính Tuất đại vận Thủy; Đinh Tỵ, Đinh Hợi đại vận Mộc; Mậu Tý, Mậu Ngọ đại vận Hỏa thiếu âm; Mậu Dần, Mậu Thân đại vận Hỏa thiếu dương
Bên cạnh dùng 12 con giáp để định ra năm tốt năm xấu, hợp hay không hợp với những người trong gia đình, thì 12 con giáp còn được người Việt dùng để định ra giờ, ngày, tháng tốt xấu trước khi quyết định làm một công việc gì 12 con giáp sẽ được gán
Trang 26cho 12 thời trong ngày (1 thời là 2 giờ, tức 12 thời là 24 giờ, 1 khắc là 15 phút), bắt đầu bằng giờ Tý từ 23 giờ đến 1 giờ sáng (chính Tý là 12 giờ đêm) và kết thúc là giờ Hợi
từ 21 giờ đến 23 giờ (chính Hợi là 22 giờ)
Sự tổng hợp nhận định về con người qua năm sinh từ các cuốn sách như: Bí ẩn
đời người và 12 con giáp do Bùi Xuân Mỹ chủ biên (2008), Tìm hiểu tính cách con người qua năm sinh của Tiến Thành (2008), 12 con giáp của Phạm Khang (2009), Vận thế đời người qua 12 con giáp của Hoàng Anh (2011), chúng tôi nhận thấy việc đưa ra
tính cách hay dự đoán tương lai, số phận của con người dựa trên việc gán cho năm sinh một con vật tượng trưng, tuy có căn cứ về âm dương, ngũ hành kết hợp với can chi, nhưng chỉ mang tính tương đối Rất nhiều tính cách, vận mệnh tương lai hay tài năng của mỗi người ứng với mỗi năm can chi được đưa ra, thì người sinh vào năm đó không đúng với điều này thì cũng đúng với điều khác Chúng tôi không đề cập đến việc đúng hay sai của phương pháp này, nhưng nếu chỉ dựa vào 12 con giáp để luận về tương lai
và số phận của một con người thì thật sự là chưa đủ
Những nhận định trên cũng chỉ là suy đoán từ tính cách của các con vật tượng trưng cho từng năm, lấy âm dương ngũ hành để tính ra sự tương sinh tương khắc giữa chúng, rồi kết hợp với hệ can để đưa ra nhận định Nhưng dẫu sao đối với người Việt chúng ta vẫn tin vào nếu không đúng thì cũng chẳng sao, nếu đúng mà tránh đi được
những điều bất lợi trong cuộc sống thì càng tốt, nên ông bà ta bảo: có kiêng tất có
lành.1
Theo những cách trên, khi xác định được năm tốt năm xấu, người ta chọn làm một việc gì tất sẽ thành công, đặc biệt là chọn năm tốt để sinh con Vấn đề đặt ra là
1Vua Trần Minh Tông chọn ngày làm an táng cho mẹ: Năm 1332 Hoàng Thái Hậu mất, Trần Minh
Tông bảo các quan định ngày chôn cất Có người thưa rằng: chôn năm nay tất hại người tế chủ Minh Tông nói: Người biết sang năm ta nhất định chết ư? Người này thưa: không biết Minh Tông lại hỏi: Nếu sang năm ta chắc chắn không chết thì hoán việc chôn mẫu hậu lại, nếu sang năm ta chết thì lo xong việc chôn cất mẫu hậu chẳng hơn là chết mà chưa lo được việc đó ư? [81, tr.6]
Trang 27không lẽ tất cả mọi người sinh vào năm tốt đều thành đạt và giỏi giang? Dĩ nhiên chuyện thành công hay thất bại, may mắn hay bất hạnh trong cuộc sống của mỗi con người còn chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tốt khác Trong truyện Kiều, Nguyễn Du đã từng viết:
Cho hay muôn sự tại trời
Trời kia đã bắt làm người có thân
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao
Có đâu thiên vị người nào
Nguyễn Du nghĩ rằng thân phận con người trên thế gian này đều do trời định và khó lòng có thể thay đổi được
Ngay cả Nguyễn Công Trứ cũng tin rằng số mạng của con người là do trời định:
chung cuộc thì chỉ cũng tại trời Nên trong dân gian vẫn truyền tai nhau những câu
như: số giàu tay trắng cũng giàu, số nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo; số giàu
đưa đến dửng dưng; hay cây khô tưới nước cũng khô, phận nghèo đi đến xứ mô cũng nghèo
Từ những phân tích trên, chúng tôi nhận thấy việc xác định năm tốt năm xấu được người Việt căn cứ theo âm dương ngũ hành ứng với thiên can hoặc địa chi, vận khí của từng năm, cũng như số kiếp thiên định Chỉ cần thỏa một trong ba điều này, người Việt
có thể dựa vào để cho đó là năm tốt hay năm xấu và chọn lấy năm tốt để thực hiện các công việc dự định của mình đặt trong mối tương quan giữa con người với tự nhiên và giữa con người với xã hội
Trang 281.1.3 Tử vi và vận mệnh
Tử vi
Theo quan niệm dân gian của Trung Quốc, tử vi nghĩa là hoa tường vi màu đỏ và
từ thời cổ đại họ thường dùng hoa tường vi màu đỏ để bói toán, cũng có quan niệm cho rằng tử là tím, vi là huyền diệu hay tên gọi này có nguồn gốc từ sao tử vi Người Hoa dựa vào can chi, ngũ hành để đưa ra thuật xem tử vi Đây là lối đoán số khá thịnh hành
ở Việt Nam, gốc từ Trung Hoa, do Trần Doãn (tự là Đồ Nam, hiệu Hi Di) đời Tống soạn ra [84, tr.1]
Trong hệ thống tử vi, toàn bộ các mặt quan hệ, hoạt động của con người được
chia thành 12 cung (ứng với 12 chi), hợp thành 2 nhóm Nhóm cá nhân: bản thân, tiền kiếp, bệnh tật, nhà cửa, của cải, sự nghiệp, đi lại, nhóm quan hệ xã hội: cha mẹ, anh
em, vợ chồng, con cái, bạn bè Để lập lá số, cần tiến hành an sao, tức là dựa vào giờ, ngày, tháng, năm sinh mà xếp 110 sao (thực chất là một hệ thống 110 mô hình tính cách, hình dáng, đặc điểm con người) theo 12 cung - đây là một công việc phức tạp nhưng tuân theo những quy tắc rất chặt chẽ Khó khăn hơn là việc giải đoán: tùy thuộc vào người với khả năng giải đoán khác nhau mà kết quả giải đoán có thể sẽ có mức độ sai đúng rất khác nhau
Với những quy định như thế, cách đoán số thịnh hành nhất là tử vi cũng còn rất nhiều khiếm khuyết: Nó chỉ mới mô hình hóa được một thông số duy nhất là thời gian Chính vì vậy mà hiệu quả giải đoán theo tử vi nhìn chung còn rất thấp; những người có khả năng giải đoán cao đều do đã kết hợp tử vi với việc dùng một vốn tri thức tổng hợp (Dịch học và những tri thức xã hội khác), thậm chí không nhất thiết phải dùng đến tử
vi [49, tr.195-196]
Theo tác giả Nguyễn Phát Lộc trong cuốn Tử vi tổng hợp (1974), khi dùng tử vi
để tìm hiểu số phận của một ai đó thì phải tuân thủ những quy tắc như chỉ xem cho người còn sống, con người toàn diện, con người của thế tục, tức sẽ không luận bàn về
Trang 29tướng số của những trường hợp như: bào thai, người chết, ái nam ái nữ, tu sĩ và thuật
Yếu tố giờ sinh: căn cứ theo âm lịch có 12 giờ trong ngày
Yếu tố ngày sinh: tìm số ngày sinh trong tháng để nhân với số tháng trong năm, với số năm trong giáp, với số giờ trong ngày và với hệ số âm dương để cho ra tích số mong muốn hoặc tìm số ngày trong giáp (bao gồm 60 năm và số tháng) rồi nhân với số giáp và hệ số âm dương
Yếu tố tháng sinh: tính 12 tháng trong một năm theo tỷ lệ tháng đủ và tháng thiếu, với tỷ lệ 7/5 thì năm đó có 355 ngày, tỷ lệ 6/6 thì năm đó có 354 ngày
Yếu tố năm sinh: căn cứ theo hệ can chi với sự kết hợp 10 can và 12 chi tạo ra chu kỳ nối tiếp nhau 60 năm Và khởi điểm của một giáp có thể lấy bất kỳ ở năm nào tức mỗi giáp đều có khởi đầu và kết thúc [30, tr.11-19]
Chung quy lại, tử vi là lối đoán số dựa trên sự kết hợp âm dương, can chi và ngũ hành với giờ, ngày, tháng và năm sinh để lập ra những lá số nhằm dự đoán số phận của con người hay hiểu một cách nôm na là tử vi dùng số để đoán số phận, vận mạng
Vận mệnh
Theo từ điển Việt Hán hiện đại, vận mệnh là chỉ sinh tử, giàu nghèo, những gì biến đổi trong cuộc sống và tất cả cái mà con người gặp phải Người trước cho rằng, vận mệnh chỉ là tương lai gặp phải, người sau thì cho rằng vận mệnh là quỹ đạo do trời cao đã định [59, tr.49]
Trang 30Vận mệnh bao gồm hai hàm nghĩa: Một là mệnh, tức là sinh mệnh hoặc tính mệnh; Hai là vận, tức vận khí và vận may Sinh mệnh có sinh tử, thọ yểu, bệnh tật, thương tàn; vận khí có giàu nghèo, họa phúc, thịnh suy Mệnh càng nhiều thì chỉ tính
tự nhiên hoặc tính bẩm sinh, tức là tất cả những việc sinh tử, thọ yểu, tình trạng bệnh tật, thương tàn và kết cục, xu hướng thì có hoặc có thể tồn tại Vận càng nhiều tức là mức độ, khả năng con người thích ứng và thích nghi với môi trường sống càng cao Vận mệnh là kết cục của sinh, tử, thọ, yểu, giàu sang, nghèo hèn, chúng vừa chịu
sự hạn chế của bẩm sinh vừa chịu ảnh hưởng của cuộc đời Mối quan hệ nhân quả cùng với xu thế cuối cùng và kết cục cuối cùng của tất cả những gì con người gặp phải Những người thiếu trình độ văn hóa thì rất khó chọn cho mình một công việc hoặc lĩnh vực kinh doanh phù hợp; không những không làm nên sự nghiệp mà còn bị khuynh gia bại sản, vận mệnh long đong, lận đận Như vậy, từ góc độ xã hội, vận mệnh chính là mức độ thuận theo quy luật của cuộc sống [59, tr.50-52]
Người xưa cho rằng, thân thể con người là do cái khí của âm dương ngũ hành trong vũ trụ sinh ra Dựa vào sự cảm ứng với trời đất, tác dụng lẫn nhau của âm dương ngũ hành và sự biến hóa của sự sống và cái chết, vượng và suy, từ đó phản ánh cát-hung, phúc-họa của con người và dự đoán vận mệnh cũng như thay đổi vận mệnh của con người [31, tr.144]
Người xưa tính một đại vận mệnh kéo dài trong 10 năm và tính ra trung bình một đời người sẽ trải qua khoảng 8 đại vận mệnh, tức khoảng 80 năm Những năm đại vận quan trọng là lúc con người ở độ tuổi từ 20 đến 50, nó quan trọng chính vì đây là giai đoạn trưởng thành và là giai đoạn con người thể hiện hết khả năng của mình trong cuộc sống
Như vậy, vận mệnh chính là mức độ thích ứng của con người với quy luật tự nhiên và quy luật xã hội Con người sẽ bị chi phối bởi mệnh bên trong và vận bên
Trang 31ngoài và chịu tương tác bởi quy luật âm dương ngũ hành trong vũ trụ Dựa vào sự tương tác này mà người ta có thể dự đoán và thay đổi số phận của mỗi con người
1.1.4 Quan niệm con một bề
Theo cách hiểu hiện nay, sinh con một bề là gia đình sinh toàn con trai hoặc toàn con gái, thường thì được tính từ hai con trở lên Tức khi đến con thứ hai mà chỉ toàn con trai hoặc toàn con gái thì đã lộ rõ sự lo lắng của các ông bố bà mẹ
Vì miệng lưỡi thế gian nên nhiều nhà sinh thêm để cho có nếp có tẻ (có cả con trai và con gái) cho bằng với người ta không thì bị chê cười, nhưng quan trọng hơn là
kiếm cho được con trai vì nặng truyền thống: "nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô"
Thấy gia đình có toàn con gái thì dèm pha nói kháy: yếu hay ăn ở thế nào mà sinh toàn con gái Đây cũng chính là những nguyên nhân làm tăng dân số và chênh lệch giới tính
Theo Sỹ Hào trên báo Pháp Luật và Xã Hội (website: www.phapluatxahoi.vn)
đăng ngày 29/03/2013, tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại nên việc sinh con
một bề vẫn đang là chuyện không nhỏ đối với nhiều cặp vợ chồng, đặc biệt với những
gia đình chỉ có một người con trai hoặc có vai vế trưởng tộc Họ thường phải chịu những lời gièm pha, hay những lời giễu cợt khiến nhiều cặp vợ chồng, nhiều gia đình (ở cả nông thôn lẫn thành thị) bị áp lực đè nặng lên cuộc sống.1
Hiện nay, người Việt vẫn còn nặng chuyện nối dõi tông đường, vẫn còn nặng chuyện sinh con trai trong văn hóa gốc nông nghiệp, khiến cho không ít ông bố bà mẹ phải khổ sở trong việc sinh và nuôi dạy con Dẫu cho vẫn có những lời khuyên xung
quanh điều này: Chọn trai chọn gái mà chi, đứa nào có nghĩa có tình vẫn hơn nhưng
1 phat-1-trieu-dong-lai-mot-quy-dinh-cho-vui.htm
Trang 32http://phapluatxahoi.vn/2013032908227684p0c1002/xuc-pham-nguoi-sinh-con-mot-be-co-the-bi-vẫn còn nặng truyền thống có nếp có tẻ, nên người Việt không chấp nhận cảnh con một
bề trong gia đình
1.1.5 Quan niệm nam nhâm nữ quý
Người xưa quan niệm thời gian thích hợp để sinh con trai hoặc con gái, phụ thuộc vào sự hài hòa âm dương và có sự kết hợp âm dương thì con người khi sinh ra sẽ đạt được những điều tốt đẹp trong cuộc sống Tuy nhiên, xoay quanh vấn đề này vẫn có
những quan niệm trái ngược nhau như: Nam Nhâm gái Quý thì sang; Trai Đinh Nhâm
Quý thì tài, gái Đinh Nhâm Quý qua hai lần đò
Theo triết lý âm dương thì những số lẻ đại diện cho dương, số chẵn đại diện cho
âm vì bản thân âm tuy một mà hai rồi nên khi kết hợp với hệ can chi sẽ có sự hài hòa
âm dương, nếu cùng dương hoặc cùng âm thì sẽ không có sự sinh sôi nảy nở và phát triển của vạn vật, nhưng cũng có quan niệm ngược lại là nam đại diện phải là dương,
nữ đại diện phải là âm Nên người xưa đã có những nhận định khác nhau về chọn năm
để sinh con như: Nam Nhâm gái Quý thì sang, vì Nhâm là can dương đại diện cho nam,
Quý âm đại diện cho nữ Nếu xét trên khía cạnh trong dương đã có dương rồi thì không
cần dương nữa hay trong âm đã có âm rồi nên không cần âm nữa thì câu nói: Trai Đinh
Nhâm Quý thì tài, gái Đinh Nhâm Quý qua hai lần đò, các can Đinh, Quý thuộc âm so
với hệ can, can Nhâm so với hệ can là dương nhưng so với ngũ hành thuộc Thủy sẽ là
âm nên khi chọn những năm này để sinh con trai thì sẽ tốt vì có sự hài hòa âm dương
Với truyền thống nặng quan niệm Nho Giáo, khi lập gia đình thuyền theo lái gái
theo chồng, phải phụ thuộc vào chồng: Xuất giá tòng phu Sinh vào những năm Đinh,
Nhâm, Quý con người sẽ có tính khí mạnh mẽ, thông minh, thành đạt, tính tự lập cao
Do đó, khi xưa những điều này chỉ dành cho nam không dành cho nữ
Trang 33
1.2 Cơ sở lý luận về con người
1.2.1 Quan niệm phương Đông về vận mệnh của con người
Với quan niệm vận mệnh đã làm cho con người có tâm lý là khi làm bất kể việc gì
dù là việc lớn hay việc nhỏ đều phải chọn cho được ngày lành tháng tốt vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả cuối cùng Việc định ngày sẽ dựa trên tuổi của gia chủ, khí tiết của trời đất và sự tương quan giữa gia chủ với vạn vật xung quanh Từ việc tậu trâu, cưới vợ, làm nhà, tang ma cho đến việc xuất hành, khai trương, đều phải xem ngày Đối với cư dân nông nghiệp lúa nước việc chọn thời điểm tốt để sinh con là một việc vô cùng hệ trọng, nó không chỉ tác động đến tương lai của đứa trẻ mà còn ảnh hưởng tới cả gia tộc, cả cộng đồng Đặc biệt đối với người Việt, là một dân tộc sống bằng tinh thần lạc quan đặt niềm tin vào một tương lai tươi sáng, thời trẻ khổ thì tin
rằng về già sẽ sướng, suốt đời khổ thì tin rằng đời con mình sẽ sướng: Không ai giàu
ba họ, không ai khó ba đời Tin vào sự thay đổi của vận mệnh: Sông có khúc người có lúc [49, tr.125]
Đối với các triết gia cổ đại Trung Quốc đề cao vai trò con người nhưng vẫn thể hiện mối tương quan hài hòa giữa con người với thiên nhiên và xã hội Khổng Tử cho rằng bản chất của con người là do Trời chi phối và định đoạt, giữa Trời với người có mối quan hệ hợp nhất Mạnh Tử thì cho rằng tính thiện con người là do sinh ra đã có,
và trong quá trình phát triển con người trở nên tốt hay xấu là do tác động bởi truyền thống, vì vậy cần phải tu dưỡng rèn luyện để trở thành những con người tốt Tuân Tử cho rằng giữa con người và Trời không có mối tương quan, mặc dù con người là do Trời tạo ra, con người sinh ra đã là ác nên cần phải tu dưỡng, rèn luyện, và con người
có thể thắng được Trời Lão Tử cho rằng con người sinh ra từ Đạo nên phải sống phù hợp với lẽ tự nhiên vốn có của nó Tuy quan điểm có khác nhau, nhưng các triết gia vẫn có điểm chung là vận mệnh của con người đều có thể thay đổi được và thay đổi sao cho phù hợp với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội mà con người đang sống
Trang 34Triết học Ấn Độ thì thiên về tâm linh, dùng tôn giáo để giải thoát con người, để
có thể đồng nhất tinh thần cá nhân với tinh thần vũ trụ So với các trường phái triết học
Ấn Độ thì Phật giáo cũng tin vào thuyết luân hồi và nghiệp, cũng tìm con đường giải thoát ra khỏi vòng luân hồi Trạng thái chấm dứt luân hồi và nghiệp gọi là Niết bàn Nhưng Phật giáo khác các tôn giáo khác ở chỗ chúng sinh thuộc bất kỳ đẳng cấp nào cũng được giải thoát Phật giáo nhìn nhận thế giới tự nhiên cũng như nhân sinh bằng sự phân tích nhân - quả Mối quan hệ nhân quả được gọi là nhân duyên với ý nghĩa là một kết quả của nguyên nhân nào đó sẽ là nguyên nhân của một kết quả khác Vận mệnh của con người tốt hay xấu đều có nguyên nhân, có thể do kiếp này gây ra hay tồn tại từ kiếp trước mà thành Thuyết nhân quả trong đạo Phật nói rất rõ về điều này, gieo nhân nào thì gặt quả nấy, muốn quả tốt thì phải có nhân tốt [5, tr.30-36]
Trong cuốn Nghiên cứu văn hóa truyền thống phương Đông: Tinh tú với con
người của Vũ Đức Huynh (2008) và cuốn Tam quốc của tác giả Thành Quân Ức (2009)
đều có chung nhận định về vận mệnh, vận mệnh của con người một phần do trời định
nhưng phần còn lại là do con người tạo ra: Mệnh trời những cũng quyền ta, không thể mãi há miệng chờ sung rụng mà phải tự thay đối số phận của mình dựa trên năng lực
mà trời ban cho, không thể đổ lỗi cho số phận
Kinh Thánh của Công giáo có một đoạn kể về dụ ngôn Người gieo giống: Có
người ra đi gieo giống Khi đương gieo, một phần giống rơi dọc đường, chim bay xuống và ăn Một phần khác rơi nhằm chỗ đất đá sỏi, chỉ có ít đất thịt, bị lấp không sâu liền mọc lên; song khi mặt trời mọc, thì bị đốt, và vì không có rễ, nên phải héo Một phần khác rơi nhằm bụi gai, gai mọc rậm lên, nên phải chết nghẹt Một phần khác nữa rơi vào chỗ đất tốt, thì sinh trái; có hạt ra được ba chục, có hạt ra được sáu chục,
có hạt ra được một trăm Điều này ám chỉ cuộc sống con người, khi sinh ra ai cũng
giống ai, nhưng do hoàn cảnh và điều kiện sống khác nhau sẽ tạo ra những con người khác nhau, ngay cả những người sinh ra trong cùng một hoàn cảnh, điều kiện giống
Trang 35nhau nhưng kết quả cũng không giống nhau Như những hạt giống kia được gieo vào đất tốt nhưng sinh ra số hạt không giống nhau [Matthew 13 1-23]
Chung quy lại, vận mệnh theo quan điểm của triết lý phương Đông là mối liên hệ qua lại giữa hai yếu tố vận và mệnh Mệnh là cái trời sinh, chính là đạo trời, kết hợp với vận, chính là đạo người và đạo đất, tạo ra sự phát triển hài hòa của muôn loài trong trời đất Do đó, con người muốn tồn tại và phát triển phải tuân theo quy luật của tạo hóa Vận mệnh của mỗi con người sẽ không hoàn toàn giống nhau ngay cả sinh cùng thời khắc trong vũ trụ, nó sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như khả năng con người lĩnh hội khí của trời đất, nắm bắt được thời cơ, hình thành cái tâm, tạo dựng tính cách, đặt niềm tin vào tương lai, tìm ra nguyên nhân để từ đó có thể biến đổi vận Vận thay đổi kéo theo mệnh thay đổi dẫn đến con người cũng thay đổi
1.2.2 Quan niệm chọn năm tốt
Theo quan niệm của người Việt trong chu kỳ 60 năm sẽ có những năm được cho
là tốt và những năm được cho là xấu Với cuộc sống tin vào những điều tốt đẹp trong tương lai thì việc chọn năm tốt đối với người Việt là thật sự cần thiết
Ứng với mỗi năm như vậy sẽ có một ý nghĩa đặc trưng riêng Năm Tý biểu tượng của sự no đủ; năm Sửu đại diện cho sự cần cù, chăm chỉ; năm Dần đại diện cho sự quyền lực, mạnh mẽ; năm Mão đại diện cho sự may mắn, loại bỏ được cái ác; năm Thìn đại diện cho quyền lực, sang trọng; năm Tỵ đại diện cho sự hung tợn, khí phách; năm Ngọ đại diện cho sức khỏe, thành công; năm Mùi đại diện cho sự sung túc; năm Thân đại diện cho sự năng động; năm Dậu đại diện cho những điều tốt đẹp trong tương lai; năm Tuất đại diện cho sự bảo hộ, giữ gìn tài sản; năm Hợi đại diện cho sự an nhàn, thảnh thơi Với ý nghĩa của từng năm, người Việt đã thể hiện sự ước mong vào tương lai, sự ấm no, yên bình, và phát triển của cả cộng đồng [89, tr.3-4]
Xét từ khía cạnh một nền sản xuất nông nghiệp lúa nước, phụ thuộc phần lớn vào điều kiện tự nhiên, chúng tôi nhận thấy việc chọn năm tốt đối với người Việt là vô
Trang 36cùng hệ trọng Năm tốt thì điều kiện thời tiết sẽ tốt, kéo theo sự sinh sôi nảy nở của muôn loài, đặc biệt là đối với con người, chọn năm tốt để sinh con là vì sự phát triển tương lai của cả gia tộc, của cả cộng đồng Người Việt luôn mong sao cho mùa màng bội thu và gia đình đông đúc, tức là quan tâm đến sự sinh sôi nảy nở của hoa màu và con người với hai cặp đối lập Mẹ - Cha và Đất - Trời Nghề lúa nước mang tính thời vụ rất cao, do vậy cần nhiều sức người (đông tay hơn hay làm)
Việc chọn năm tốt trở thành quan niệm của một bộ phận trong cộng đồng người Việt, và được sử dụng một cách rộng rãi Việc này được coi là việc hệ trọng và liên quan tới cả cộng đồng1 chứ không còn là chuyện của một vài cá nhân, kể cả hôn nhân
là lĩnh vực riêng tư nhất Việc hôn nhân tuy là của hai người nhưng lại kéo theo việc xác lập quan hệ giữa hai gia tộc Vì vậy, điều cần làm đầu tiên chưa phải là lựa chọn một cá nhân cụ thể, mà là lựa chọn một dòng họ, một gia đình xem cửa nhà hai bên có tương xứng không, có môn đăng hộ đối không, rồi sau đó mới tính đến chuyện đôi trai gái có hợp tuổi nhau hay không
Hơn nữa, hôn nhân là một công cụ duy nhất và thiêng liêng để duy trì dòng dõi và phát triển nguồn nhân lực Để đáp ứng nhu cầu nhân lực của nghề trồng lúa, khi xem xét con người trong hôn nhân, người nông nghiệp Việt Nam quan tâm trước hết đến năng lực sinh sản của họ
Người xưa rất coi trọng con trai, có con trai không chỉ thêm sức lao động cho gia đình mà còn để nối dõi tông đường, dòng họ Bởi vậy, những cặp vợ chồng không sinh được con trai thì thường đi cầu tự với mong muốn giữ ổn định cho gia đình và hy vọng tương lai tốt đẹp cho con cái
Trang 37Việc chọn năm tốt còn liên quan đến tuổi của những người trong gia đình so với năm hiện hành Năm đó có thể tốt với người này mà không tốt với người kia Ví như trẻ sinh ra gặp tuổi xung khắc với bố mẹ, sống với bố mẹ thường ốm đau quặt quẹo, nên bố mẹ tìm một người nào đó hợp tuổi với con mình để cho làm con nuôi Người ta thường kiếm những gia đình đông con, có cả con trai và con gái, và con cái đều mau lớn, khỏe mạnh, để đứa bé dựa vào những đứa kia cho mau lớn, khỏe mạnh và may mắn [42, tr.85-86]
Việc chọn năm để sinh con không lý gì người Việt lại chọn năm xung khắc với tuổi của mình, ngoại trừ những trường hợp bất khả kháng Việc chọn năm tốt sẽ mang lại phú lộc cho gia đình, nên được cân nhắc rất kỹ, mà không nghĩ đến việc con người sinh ra còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố1, trong đó tướng tốt xấu còn ở cái tâm con người: tướng tùy tâm sinh - Tướng tuỳ tâm diệt [94, tr.5]
Việc chọn năm tốt để sinh con còn được xét dưới góc độ giới tính, nghĩa là năm tốt dành cho nam như những năm có can Nhâm, năm tốt dành cho nữ như năm có can Quý Ngoài ra, người Việt tránh không sinh con gái vào năm tuổi Dần, tránh không sinh con vào năm tuổi Thân vì có âm tiết giống "tủi thân" hay tuổi Mão tức con vật đại diện là con mèo, mèo có tiếng kêu meo meo có âm tiết giống "nghèo" nên đây là điều tối kỵ khi chọn năm
1 Theo sự giải thích của triết học Mác-Lênin, thì mọi sự vật hiện tượng diễn ra trong tự nhiên đều có nguyên nhân và kết quả của nó Khi nguyên nhân sinh ra kết quả sẽ phụ thuộc vào nhiều điều kiện và hoàn cảnh khác nhau Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra, một nguyên nhân trong những điều kiện khác nhau cũng có thể sinh ra những kết quả khác nhau, nếu nhiều nguyên nhân cùng tồn tại
và tác động cùng chiều trong một sự vật thì chúng sẽ gây ảnh hưởng cùng chiều đến sự hình thành kết quả, làm cho kết quả xuất hiện nhanh hơn Ngược lại nếu những nguyên nhân tác động đồng thời theo các hướng khác nhau, thì sẽ cản trở tác dụng của nhau, thậm chí triệt tiêu tác dụng của nhau [5, tr.105- 107]
Trang 38Việc chọn năm tốt không chỉ diễn ra ở Việt Nam, mà một số nước khác trên thế giới, như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore cũng có quan niệm tương đồng
Thực ra không có năm nào hoàn toàn tốt và cũng không có năm nào hoàn toàn xấu cả Có năm sẽ thực sự thành công, nhiều điều may mắn đưa đến, có năm vất vả cực nhọc, không được gì còn tai họa ở đâu trên trời rơi xuống, không lường trước được Chúng tôi xin điểm qua một số nhân vật lịch sử, một số nhân vật nổi tiếng ở Việt Nam và trên thế giới, qua đó xác định xem liệu sự thành công và thất bại của họ có thật
sự là do sinh vào năm tốt hay không Thành Cát Tư Hãn lập ra đế chế Mông Cổ sinh năm Nhâm Ngọ (1162); Đại thi hào Nguyễn Du danh nhân văn hóa thế giới sinh năm
Ất Dậu (1766); Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh năm Canh Dần (1890) Những năm trên nếu luận theo can chi kết hợp với âm dương ngũ hành thì không phải là năm tốt theo quan niệm của triết lý phương Đông, nhưng sự thành công của họ chúng ta không thể chối cãi được
Theo Hàn Phi và Tường Vi trên báo vnexpress.net, các nhân vật sinh năm Thìn như ông Trần Khải Hòa sinh năm 1988 (Mậu Thìn) - Chủ tịch hội đồng quản trị công
ty chứng khoán Phương Nam, ông Nguyễn Đức Thụy sinh năm 1976 (Bính Thìn) - Chủ tịch hội đồng quản trị tập đoàn chứng khoán Xuân Thành, ông Nguyễn Đức Kiên sinh năm 1964 (Giáp Thìn), người thì rơi vào vòng lao lý, kẻ thì sự nghiệp kinh doanh đang trên bờ vực phá sản Cũng theo triết lý phương Đông thì sinh năm thìn là năm tốt, người sinh vào năm này sẽ có sức khỏe phi thường, có chân mệnh đế vương, nhưng họ cũng đã thất bại trong cuộc sống
Chúng tôi xin đưa ra dẫn chứng trong lịch sử Việt Nam có liên quan đến năm Thìn, cùng với những thăng trầm trong năm đó Năm Bính Thìn (1916): thiên tai, bão lụt, mất mùa, đói kém xảy ra, vua Duy Tân mất ngôi và bị đi đày, những người dân,
Trang 39những nhà cách mạng theo phong trào Duy Tân đều bị bắt, người thì bị tù đày, người thì bị xử chém
Theo lý giải của phép biện chứng duy vật, những điều này thuộc về cái tất nhiên
và cái ngẫu nhiên, hai yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau, trong tất nhiên có ngẫu nhiên và ngược lại1 Nhưng đối với người Á Đông thì quan tâm nhiều hơn đến việc tốt xấu của năm, để nhằm tốt cho bản thân và tốt cho gia đình của mình, tức chỉ quan tâm đến cái tất nhiên mà xem nhẹ cái ngẫu nhiên
1.2.3 Sinh thái văn hoá
Việt Nam là một nước nằm trong khu vực Đông Nam Á với khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng Với điều kiện khí hậu nắng lắm, mưa nhiều đã giúp cho việc phát triển một nền nông nghiệp lúa nước từ khá sớm đại diện đó là nền văn hóa Hòa Bình và văn hóa Bắc Sơn Việc lựa chọn cách sống phù hợp với môi trường thiên nhiên, tận dụng môi trường tự nhiên, trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt như Việt Nam đã làm cho con người sống trong môi trường ấy có khả năng thích nghi và thích ứng rất cao
Sinh thái văn hóa chính là cách mà con người sử dụng văn hóa để thích nghi với môi trường thiên nhiên cụ thể trong bối cảnh nền văn hóa của họ Con người thích ứng với sinh thái tự nhiên tại chỗ để sinh tồn là những quan điểm được sử dụng nhiều trong nghiên cứu nhân học sinh thái hiện nay
J Steward dùng khái niệm thích nghi, thích ứng để giải thích hành vi văn hóa
của con người đối với môi trường tự nhiên Sự biến đổi và thích ứng văn hóa là một quá trình tương tác giữa văn hóa với môi trường tự nhiên, xác định vai trò và vị trí con
1 Tất nhiên là phạm trù chỉ cái do những nguyên nhân cơ bản bên trong của kết cấu vật chất quyết định
và trong những điều kiện nhất định nó phải xảy ra như thế chứ không thể khác được
Ngẫu nhiên là phạm trù chỉ cái không do mối liên hệ bản chất, bên trong kết cấu vật chất, bên trong sự vật quyết định mà do các nhân tố bên ngoài, do sự kết hợp nhiều hoàn cảnh bên ngoài quyết định Do
đó, nó có thể xuất hiện, có thể không xuất hiện, có thể xuất hiện như thế này, hoặc có thể xuất hiện khác đi [5, tr.108-110]
Trang 40người trong hệ sinh thái tự nhiên và xác lập mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Ông quan tâm đến những điểm chung của các nền văn hóa cách nhau về mặt địa lý, để đưa ra cách tiến hóa khác nhau của các nền văn hóa dựa trên quá trình lịch sử và đặc biệt là dựa trên tác động của môi trường lên quá trình biến đổi văn hóa [57, tr 13] Nhìn chung, sinh thái văn hóa hướng đến việc làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa
và môi trường từ quan điểm coi con người là thực thể tồn tại thích ứng với môi trường thông qua văn hóa, đến lượt mình, văn hóa chịu ảnh hưởng và tác động lớn của các loại tài nguyên môi trường do con người sử dụng
Tác giả Trần Quốc Vượng nhận định việc thích nghi của con người với môi trường là bằng chiến lược thích nghi, tức thích nghi có sự tác động qua lại chứ không phải thích nghi một cách thụ động Chính chiến lược thích nghi này tác động không nhỏ tới việc hình thành những nét đặc thù của bản sắc văn hóa Sự khác nhau về văn hóa giữa các dân tộc hay các nhóm, cộng đồng người được quy định bởi nhiều yếu tố trong đó yếu tố con người và yếu tố môi sinh giữ vai trò quyết định Chính từ sự khác nhau về môi sinh này đã giúp cho các nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam trong và ngoài nước khẳng định sự hiện hữu của một nền văn minh và văn hóa Việt Nam bên cạnh nền văn minh Hoàng Hà, văn hóa Trung Hoa Bản sắc văn hóa của từng cộng đồng, từng dân tộc được khắc họa bởi những điều kiện lịch sử, xã hội và tâm lý dân tộc [74, tr.15-32]
Tóm lại, con người tồn tại trên trái đất này chịu sự chi phối của nhiều yếu tố trong
đó phải kể đến đó là yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội và yếu tố lịch sử Tác động của tự nhiên làm con người phải thích nghi, nhưng đến lượt mình con người cũng tác động ngược lại đối với tự nhiên, làm thay đổi tự nhiên và bắt tự nhiên phục vụ mình Tác động của xã hội làm cho cá nhân trong xã hội phải biến đổi phù hợp với truyền thống của cả cộng đồng, hòa mình vào cái chung nhất, mà không bao giờ tách riêng ra được nếu muốn tồn tại và phát triển Tác động của lịch sử chính là truyền thống văn hóa lâu