1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề an ninh lương thực của các nước asean

200 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 200
Dung lượng 3,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đảm bảo an ninh lương thực đang được đặt ra cấp bách đối với từng quốc gia và cũng là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu được các nhà lãnh đạo cấp cao ASEAN thường xuyên đưa ra b

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

_

PHẠM THỊ KHUÊ

VẤN ĐỀ AN NINH LƯƠNG THỰC

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÂU Á HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC _

PHẠM THỊ KHUÊ

VẤN ĐỀ AN NINH LƯƠNG THỰC

CỦA CÁC NƯỚC ASEAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CHÂU Á HỌC

Mã số: 60.31.50

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS NGUYỄN NGỌC DUNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn: “Vấn đề an ninh lương thực của các nước

ASEAN” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nếu có vấn đề gì, tôi hoàn toàn

chịu trách nhiệm

TP Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 09 năm 2013

Tác giả luận văn

Phạm Thị Khuê

Trang 4

L ời tri ân

Để hoàn thành được luận văn này, bên cạnh những nỗ lực của bản thân, tác giả may mắn nhận được sự yêu tương động viên hết mực từ gia đình, sự tận tình giúp

đỡ của quý thầy cô và tình cảm ấm áp của những người bạn kính mến

Con xin cám ơn cha mẹ đã sinh thành, nuôi dưỡng và chắp cánh cho những ước mơ của con, tình thương yêu vô vàn của cha mẹ vẫn sẽ mãi là nguồn sức mạnh nâng đỡ con trên mọi ngả đường

Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt những tri thức quý báu cho em và Lớp CAH08; trân trọng cảm ơn PGS.TS Hoàng Văn Việt, Ban chủ nghiệm Khoa Đông Phương, Phòng Sau Đại học và Ban lãnh đạo nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập

Em vô cùng biết ơn TS Trần Nam Tiến và Văn phòng Khoa Quan Hệ Quốc Tế

đã nhiệt tình giúp đỡ em trong việc sưu tầm những tài liệu tham khảo liên quan đến

đề tài

Đặc biệt, em xin gửi lời tri ân chân thành nhất đến giảng viên hướng dẫn – PGS TS Nguyễn Ngọc Dung về sự quan tâm, động viên, giúp đỡ em với tất cả sự tận tụy, lòng đam mê, sự nghiêm túc và tâm huyết trong hướng dẫn nghiên cứu khoa học của một người thầy

Cuối cùng, xin cảm ơn những người bạn thân yêu đã cùng tôi sẻ chia những bài học bổ ích, những kinh nghiệm trong học tập và cuộc sống, cho tôi nhiều kỷ niệm thân thương trong những ngày cùng đến lớp

Chân thành và trân trọng!

Phạm Thị Khuê

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

-

-

TP.HCM, ngày tháng năm 2013

Trang 6

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

-

-

TP.HCM, ngày tháng năm 2013

Trang 7

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 10

5 Mục đích và phương pháp nghiên cứu 11

6 Nội dung nghiên cứu vấn đề 11

CHƯƠNG 1 ASEAN VÀ VẤN ĐỀ AN NINH LƯƠNG THỰC 13

1.1 Vài nét về tình hình thế giới – những thách thức mới về an sinh và môi trường 13

1.1.1 Toàn cầu hóa và những vấn đề của thế giới đương đại 13

1.1.2 Những thách thức đặt ra cho an sinh và môi trường 14

1.2 Khái niệm an ninh lương thực 23

1.2.1 Các khái niệm có liên quan và cách tiếp cận về an ninh lương thực 23

1.2.2 An ninh lương thực là gì? 32

1.3 An ninh lương thực trên bình diện quốc gia - khu vực và thế giới 38

1.4 ASEAN đối với vấn đề an ninh lương thực trong khối 42

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ AN NINH LƯƠNG THỰC TRONG KHỐI ASEAN 47

2.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp ở Đông Nam Á 47

2.1.1 Nhóm nước có thế mạnh sản xuất – xuất khẩu lương thực: 48

2.1.1.1 Campuchia 48

2.1.1.2 Lào 49

2.1.1.3 Myanmar 50

2.1.1.4 Thái Lan 50

2.1.1.5 Việt Nam 53

2.1.2 Nhóm nước nhập khẩu lương thực 53

Trang 8

2.1.2.1 Brunei Darussalam 53

2.1.2.2 Indonesia 56

2.1.2.3 Malaysia 60

2.1.2.4 Philippines 61

2.1.2.5 Singapore 64

2.2 Chính sách lương thực của các nước ASEAN 66

2.2.1 Brunei nỗ lực nhắm đến tự cung tự cấp lương thực trong dài hạn 67

2.2.2 Campuchia kỳ vọng trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới 70

2.2.3 Indonesia đặt mục tiêu từ tự đảm bảo đến dư thừa lương thực 71

2.2.4 Lào tập trung xóa đói giảm nghèo và cải thiện an ninh lương thực 77

2.2.5 Malaysia thực hiện các mục tiêu để đảm bảo ANLT quốc gia 79

2.2.6 Myanmar gắn ANLT với chuyển đổi kinh tế xã hội và phát triển bền vững 81

2.2.7 Philippines phát triển sản xuất nhằm tự cung tự cấp lương thực 82

2.2.8 Singapore tối đa hóa sản xuất nông nghiệp bằng khoa học công nghệ 86

2.2.9 Thái Lan hiện đại hóa nông nghiệp và thương mại hóa sản xuất lúa gạo 88

2.2.10 Việt Nam coi trọng an ninh lương thực và đầu tư vào nông nghiệp như việc làm tiên quyết trong thời kỳ đổi mới đất nước 91

2.3 Chương trình an ninh lương thực của ASEAN 96

2.4 Những nhận xét đánh giá 100

CHƯƠNG 3 CHÍNH SÁCH AN NINH LƯƠNG THỰC CỦA ASEAN TRONG THẬP NIÊN TỚI 104

3.1 Các thách thức về mặt xã hội - môi trường sống 104

3.1.1 Tình trạng tăng dân số và nghèo đói 104

3.1.2 Thách thức về môi trường sống 108

3.1.3 Các thách thức khác 119

3.2 Quan điểm của mỗi nước ASEAN 121

3.3 Định hướng chung của ASEAN 126

PHẦN KẾT LUẬN 130

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 137 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ADB Asian Development Bank

(Ngân hàng phát triển Châu Á)

ASEAN Association of South East Asian Nations

(Hiệp hội các nước Đông Nam Á)

AERR ASEAN Emergency Rice Reserve

(Quỹ dự trữ gạo khẩn cấp ASEAN)

AIFS ASEAN Integrated Food Security

(An ninh lương thực tích hợp ASEAN)

AMAF ASEAN Ministers on Agriculture and Forestry

(Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về Nông nghiệp và Lâm nghiệp)

AFPPS Agreement on ASEAN Agriculture and Forestry Products Promotion

Scheme

(Hiệp định về chính sách quảng bá sản phẩm Nông nghiệp và Lâm nghiệp ASEAN)

AFTA ASEAN Free Trade Area

(Khu vực tự do thương mại ASEAN)

AFSIS ASEAN Food Security Information System

(Hệ thống thông tin anlt ASEAN)

AFSR ASEAN Food Security Reserve

(Dự trữ an ninh lương thực ASEAN)

BAS Bureau of Agricultural Statistics

(Cục Thống kê nông nghiệp Philippines)

CEPT Common effective preferential tariff

(Ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung)

EAERR East Asia Emergency Rice Reserve

(Quỹ dự trữ gạo khẩn cấp Đông Á)

ESCAP The United Nations Economic and Social Commission for Asia and the

Pacific

(Ủy ban kinh tế xã hội của Liên Hợp quốc tại Châu Á Thái Bình Dương)

GAP Good Agriculture Practice

(Sản xuất nông nghiệp tốt)

GDP Gross Domestic Product

Tổng sản phẩm quốc nội)

GEL General Exclusion List

(Danh mục loại trừ chung)

IMF International Monetary Fund

(Quỹ tiền tệ quốc tế)

Trang 10

IRRI International Rice Research Institute

(Viện nghiên cứu lúa quốc tế)

FAF ASEAN Cooperation in Food, Agriculture and Forestry

(Hợp tác ASEAN về Thực phẩm, Nông nghiệp và Lâm nghiệp)

FAMA Portal Rasmi Lembaga Pemasaran Pertanian Persekutuan

(Ủy ban tiếp thị nông nghiệp liên bang Malaysia)

FAO Food and Agriculture Organization of the United Nation

( Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc )

IFA International Fertilizer Industry Association

(Hiệp hội ngành sản xuất phân bón quốc tế)

IPCC International Panel on Climate Change

(Ban Quốc tế về biến đổi khí hậu)

MFN Most favoured nation

(Nguyên tắc tối huệ quốc)

OPEC Organization of Petroleum Exporting Countries

(Tổ chức hiệp hội các nước xuất khẩu dầm mỏ)

OREC Organization of Rice Exporting Countries

(Tổ chức hiệp hội các nước xuất khẩu gạo)

PRB Population Reference Berau

(Cục điều tra dân số Mỹ)

SOM-AMAF ASEAN Senior Officials' Meeting - ASEAN Ministerial Meeting on

Agriculture and Forestry

(Hội nghị các Quan chức Cao cấp AMAF)

SPA-FS Strategic Plan of Action on Food Security

(Kế hoạch hành động chiến lược cho việc đảm bảo ANLT ASEAN)

TEL Temporary Exclusion List

(Danh mục loại trừ tạm thời)

UAPs Unprocessed Agricultural Products

(Sản phẩm nông nghiệp chưa qua chế biến)

UNDP United Nations Development Programme

(Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc)

UNEP United Nations Environment Programme

(Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc)

UNFPA United Nations Population Fund

(Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc)

USDA United States Department of Agriculture

(Bộ nông nghiệp Mỹ)

WTO World Trade Organization

(Tổ chức thương mại thế giới)

Trang 11

Đảm bảo an ninh lương thực đang được đặt ra cấp bách đối với từng quốc gia

và cũng là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu được các nhà lãnh đạo cấp cao ASEAN thường xuyên đưa ra bàn thảo trên bàn nghị sự khu vực Tuy nhiên, đối với phần lớn nhiều người vẫn còn chưa hiểu rõ và chưa có những nhận thức đúng mức về tầm quan trọng của vấn đề này Vì vậy, việc tăng cường hiểu biết về an ninh lương thực của Việt Nam nói riêng và ASEAN nói chung là điều vô cùng cần thiết và có vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là khi các nước đang ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh

tế khu vực và thế giới

Bản thân tác giả nhận thấy, đề tài “Vấn đề an ninh lương thực của các nước ASEAN” không những rất phù hợp với chuyên ngành Châu Á học mà mình đang theo

đuổi mà còn có ý nghĩa rất lớn về mặt khoa học và thực tiễn Việc thực hiện đề tài thực

sự là một cơ hội tốt để tác giả học hỏi, nghiên cứu, nâng cao khả năng hiểu biết của mình, đồng thời thông qua đó cũng góp phần chia sẻ đối với những ai có cùng mối quan tâm đến vấn đề này

ASEAN hiện nay bao gồm 10 nước thành viên (Đông Timo chưa gia nhập) Mặc dù vẫn còn những hạn chế, nhưng hiện các quốc gia của khu vực này được đánh giá là phát triển năng động và tổ chức khu vực ASEAN cũng được đánh giá là có nhiều

Trang 12

sáng kiến quan trọng đóng góp vào sự phát triển của khu vực Châu Á và thế giới Chính vì vậy, đối với một vấn đề mang tầm vóc toàn cầu như vấn đề an ninh lương thực, việc nghiên cứu về nó tại các nước ASEAN sẽ có sức ảnh hưởng mạnh mẽ

Trên đây là những lý do khiến tác giả chọn đề tài: “Vấn đề an ninh lương thực của các nước ASEAN”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Viết về vấn đề an ninh lương thực không phải là việc làm mới song cũng chưa hẳn là chủ đề cũ Trải qua thập niên đầu của thế kỷ XXI với nhiều biền động về tình hình khu vực cũng như thế giới, vấn đề này càng thu hút được sự quan tâm của nhiều người, trong đó có giới truyền thông và một số nhà khoa học trong nước cũng như quốc tế Tại Việt Nam, tiêu biểu phải kể đến bài viết “Một số vấn đề về an ninh lương thực ở Đông Nam Á” của PGS TS Phạm Đức Thành, được đăng trên Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á số 8, 2008 Trong bài viết này, tác giả đã đề cập đến một số khía cạnh quan trọng của an ninh lương thực ở Đông Nam Á như vấn đề nông nghiệp - nông thôn - nông dân; chiến lược phát triển theo hướng công nghiệp hóa hướng ra xuất khẩu của nhiều nước tuy có mặt tích cực là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhưng khó tránh khỏi hạn chế sự phát triển của nông nghiệp; cùng một vài đề cập về vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân của Việt Nam Tuy nhiên, do đây chưa phải là công trình nghiên cứu khoa học nên nó còn chưa đầy đủ và sâu sắc về những điểm chính yếu khác liên quan đến an ninh lương thực của các nước trong khu vực Đông Nam Á

Trên trường quốc tế, một số cuốn sách viết về các vấn đề liên quan đến an ninh lương thực khu vực Đông Nam Á xuất hiện trong thời gian gần đây như: “Trusting Trade and the Private Sector for Food Security in Southeast Asia” (Tin cậy thương mại

và khu vực tư nhân đối với an ninh lương thực trong khu vực Đông Nam Á) của Alavi, Hamid R được phát hành tháng 12/2011 trên website http://elibrary.worldbank.org Song cuốn sách này chủ yếu đề cập đến yếu tố thương mại và chưa phải là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề an ninh lương thực ở khu vực này Đáng chú ý

Trang 13

nhất có thể kể đến tài liệu “Sustainable Agriculture and Food Security in Asia and the Pacific” (Nông nghiệp bền vững và an ninh lương thực ở châu Á Thái Bình Dương) của Ủy ban Kinh tế Xã hội Liên hiệp quốc - khu vực châu Á Thái Bình Dương (gọi tắt

là ESCAP) Tài liệu này cung cấp khá nhiều thông tin quan trọng xoay quanh vấn đề

an ninh lương thực như nghèo đói, nông nghiệp, thương mại, khủng hoảng giá cả, vận chuyển lương thực ở khu vực châu Á Thái Bình Dương Tuy nội dung sách đề cập đến những vấn đề liên quan thộc khu vực châu Á Thái Bình Dương nói chung, nhưng cũng có thể coi đây là một trong những tài liệu tham khảo hữu ích liên quan đến bài viết về vấn đề an ninh lương thực ASEAN

Ngoài ra, vấn đề an ninh lương thực cũng được nhắc đến hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng và nhiều nguồn thông tin khác mà chúng ta có thể đọc được, xem được, nghe được như sách, báo, tạp chí chuyên ngành và không chuyên, trên mạng internet hay trên các phương tiện truyền thông như đài phát thanh, truyền hình v.v Nhưng hầu hết những thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng vẫn còn tản mạn và rời rạc, chỉ phản ánh một khía cạnh, góc độ hoặc nhắc đến vấn đề

an ninh lương thực tại một khu vực nhất định, các bài viết vẫn còn chưa chuyên sâu Đặc biệt, tôi chưa thấy công trình nào nghiên cứu kỹ lưỡng về những vấn đề cốt lõi trong an ninh lương thực của các nước ASEAN một cách có hệ thống, khoa học và lý giải được nhiều vấn đề mà cộng đồng quan tâm Vì vậy, việc thực hiện đề tài này là rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu về an ninh lương thực thế giới nói chung và của các nước ASEAN nói riêng là một đề tài rộng, lớn và khó Vì vậy, đối tượng và phạm vi nghiên cứu đã

được giới hạn như tên gọi của luận văn là “Vấn đề an ninh lương thực của các nước ASEAN” Theo đó, tác giả tiến hành xác định nội dung nghiên cứu bao gồm những

khía cạnh liên quan đến việc nhận thức của tổ chức khu vực ASEAN cũng như cộng đồng quốc tế đối với vấn đề an ninh lương thực; thực trạng của vấn đề an ninh lương

Trang 14

thực trong khối ASEAN; các hành động, biện pháp, chính sách… cho vấn đề an ninh lương thực của ASEAN trong những năm tới; đồng thời trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả cũng nêu lên một số ý kiến đánh giá về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của an ninh lương thực đối với sự phát triển của mỗi quốc gia cũng như toàn khu vực

An ninh lương thực là vấn đề rộng, có tính thời sự cao Trong khôn khổ của luận văn này, bằng việc vận dụng những phương pháp, kiến thức đã học, phát triển nguồn tài liệu quý báu đã thu thập được, kết hợp tư duy của bản thân, tác giả đi nghiên cứu về một số vấn đề cơ bản trong an ninh lương thực của các nước ASEAN, từ đó đưa ra một số nhận định, đánh giá mới ở các khía cạnh quan tâm

Việc thực hiện đề tài này đòi hỏi sự đầu tư công sức, tìm tòi công phu và sáng tạo trong việc giải quyết vấn đề, tác giả hy vọng có thể phát triển đề tài này cao hơn nữa trong tương lai

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Như đã trình bày ở trên, nghiên cứu những vấn đề liên quan đến an ninh lương thực của các nước ASEAN là một việc làm cần thiết Nó không chỉ cho thấy một lĩnh vực tối quan trọng của đời sống xã hội mà còn cho thấy những ý nghĩa hết sức to lớn

từ việc đảm bảo lĩnh vực này đối với sự phát triển của mỗi quốc gia cũng như từng khu vực và rộng hơn là trên toàn thế giới Việc nghiên cứu này giúp chúng ta nhận thức đúng, đầy đủ và sâu sắc về vai trò của an ninh lương thực, đồng thời thấy rõ trách nhiệm của mỗi cá nhân cũng như cả cộng đồng trước những thách thức của toàn nhân loại

Quan trọng hơn, nghiên cứu về vấn đề an ninh lương thực còn góp phần giúp cho các nhà hoạch định chính sách phát triển có những hành động phù hợp, kịp thời để cải thiện những điểm chưa được, khắc phục những hạn chế, phát triển những mô hình sản xuất ưu việt để nhằm đảm bảo tốt nhu cầu lương thực ở mỗi nước cũng như góp phần vào việc giải quyết vấn đề toàn cầu này ở cấp độ quốc tế Việc sản xuất ra lương thực thực phẩm tốt, năng suất chất lượng cao, an toàn không chỉ giúp các nước đảm

Trang 15

bảo tốt các nhu cầu về an sinh xã hội mà còn là bước đệm cho sự phát triển của những ngành nghề, lĩnh vực quan trọng khác Ngoài ra, lương thực sau khi đảm bảo nhu cầu của xã hội, làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến còn là nguồn xuất khẩu quan trọng mang về nguồn thu cho các quốc gia, góp phần phát triển kinh tế

5 Mục đích và phương pháp nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm tổng hợp, hệ thống lại một cách khoa học những kiến thức, thành quả của những nghiên cứu đi trước, bổ sung thêm những nguồn tư liệu rời rạc, phân tích các số liệu và cố gắng tìm ra hướng đi mới để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu Từ đó, tăng cường sự hiểu biết, rút ra những nhận xét, những ý kiến có tính thực tiễn, chia sẻ với những người cùng quan tâm tìm hiểu về vấn đề này cũng như góp phần vào tiến trình hội nhập và phát triển kinh tế của Việt Nam

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thực hiện đề tài, đó là:

- Phương pháp tổng hợp, thu thập thông tin từ các nguồn khác nhau nhằm phục vụ cho việc làm rõ vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp đối chiếu so sánh những dữ liệu đã có nhằm chọn lọc những dữ liệu phù hợp nhất cho mục đích nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp phân tích, đi từ lý luận đến thực tiễn và từ thực tiễn sinh động đến nhận định cụ thể

- Ngoài ra, các phương pháp quan trọng như: lịch sử, khu vực học, thống kê, hệ thống hóa các số liệu…cũng được sử dụng để thực hiện bài viết

6 Nội dung nghiên cứu vấn đề

Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục, nội dung của Luận văn được thiết

kế gồm 3 chương như sau:

Chương 1: ASEAN và vấn đề an ninh lương thực Chương này nhằm

tổng quan lại tình hình thế giới nói chung, những thách thức mới hiện nay; đồng thời nêu các khái niệm liên quan đến vấn đề an ninh, trong đó có an ninh lương thực như

Trang 16

là một phần quan trọng; nhìn nhận vấn đề này trên bình diện quốc gia, khu vực và thế giới; cũng như nhận thức của ASEAN đối với vấn đề an ninh lương thực trong khối

Chương 2: Thực trạng vấn đề an ninh lương thực trong khối ASEAN

Như tên gọi, chương này cho biết hiện trạng vấn đề an ninh lương thực tại các nước ASEAN trên các góc độ về sản xuất nông nghiệp, chính sách lương thực và những chương trình an ninh lương thực trong khối Qua hiện trạng này, tác giả rút ra những nhận xét đánh giá

Chương 3: Chính sách an ninh lương thực của ASEAN trong thập niên tới Trong chương này, tác giả trình bày các thách thức về mặt xã hội, môi

trường sống, quan điểm riêng của mỗi nước thành viên và định hướng chung của ASEAN đối với vấn đề an ninh lương thực trong các năm tiếp theo

Trong các phần trình bày, tác giả đều cố gắng làm rõ vấn đề, đồng thời đưa ra các quan điểm nhận xét, đánh giá cũng như giải pháp cho từng quốc gia cũng như toàn khu vực về vấn đề mình nghiên cứu

Trang 17

CHƯƠNG 1 ASEAN VÀ VẤN ĐỀ AN NINH LƯƠNG THỰC

1.1 Vài nét về tình hình thế giới – những thách thức mới về an sinh và môi trường

1.1.1 Toàn cầu hóa và những vấn đề của thế giới đương đại

Từ sau chiến tranh lạnh, thế giới bước vào kỷ nguyên mới với đặc điểm nổi bật là xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển; thông qua các tổ chức khu vực và thế giới, nguy cơ chiến tranh thế giới được nỗ lực “đẩy lùi”; toàn cầu hóa nổi lên mạnh mẽ như một xu thế lớn và tất yếu của thời đại, làm “thay đổi” tất cả các mặt “trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới”

(Toàn cầu hóa được cho là "tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc

gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế, v.v trên quy mô toàn cầu” 1) Tuy nhiên, không vì thế mà loài người cảm thấy an toàn hơn Bởi lẽ, bên cạnh chiến tranh cục

bộ, xung đột sắc tộc và tôn giáo, bóng dáng của một cuộc chạy đua vũ trang mới, nguy cơ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; thế giới còn phải tiếp tục chứng kiến sự xuất hiện của một loạt các vấn đề toàn cầu mới nảy sinh được nhìn nhận với nhiều mức độ khác nhau, đó là những nguy cơ mới đối với hòa bình và an ninh quốc tế

Chính vì vậy, ở một khía cạnh quan trọng nào đó, người ta cho rằng “Toàn cầu hóa” xuất hiện cũng đồng nghĩa với sự xuất hiện của “những vấn đề toàn cầu” Nhìn từ góc độ triết

học, những vấn đề toàn cầu của thế giới đương đại được định nghĩa là “tổ hợp các mâu thuẫn

gay gắt nhất giữa giới tự nhiên với xã hội và con người, giữa xã hội với con người và giữa các xã hội (các quốc gia) với nhau, đụng chạm đến toàn thể thế giới và cùng với nó là các khu vực, các quốc gia riêng biệt”2

Người ta từng nhắc đến nhiều vấn đề toàn cầu mà nhân loại đang phải đối đầu ngày nay như: vấn đề chiến tranh hạt nhân, chiến tranh hủy diệt và bảo vệ hòa bình; vấn đề khắc

1 Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Toàn cầu hóa, nguồn:

2

Nguyễn Trọng Chuẩn chủ biên (2006), Những vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI, NXB

Chính Trị Quốc Gia Hà Nội, trang 15

Trang 18

phục tình trạng đói nghèo, lạc hậu và kém phát triển; vấn đề việc làm cho mọi người lao động trên thế giới; vấn đề bất công xã hội và phân hóa giàu nghèo giữa các quốc gia; vấn đề xung đột tộc người, sắc tộc và tôn giáo; vấn đề nhân quyền và bình đẳng giới; vấn đề văn hóa, giáo dục và gia đình; vấn đề khan hiếm năng lượng và bảo đảm nguồn năng lượng; vấn đề cung cấp nguồn nước sạch cho sản xuất và tiêu dùng; vấn đề cung cấp lương thực và thực phẩm cho con người; vấn đề biến đổi khí hậu, sinh thái và bảo vệ môi trường sống; vấn đề sử dụng phức hợp và hợp lý các đại dương và không gian vũ trụ; vấn đề bùng nổ dân số của thế giới

và việc duy trì sự phát triển bền vững khi khai thác các nguồn tài nguyên đáp ứng cho nhu cầu của sự bùng nổ dân số đó; vấn đề thực phẩm biến đổi gien và an toàn thực phẩm; vấn đề sức khỏe con người và các bệnh tật mang tính thời đại của nhân loại; vấn đề chống các loại tội phạm quốc tế, tội phạm công nghệ cao; nạn sản xuất và buôn bán ma túy, tham nhũng và rửa tiền, buôn bán phụ nữ và trẻ em, cướp biển có tổ chức, phá rừng và buôn bán trái phép động vật quý hiếm… cùng hàng loạt vấn đề khác nữa vẫn đang phát sinh Những vấn đề này không nằm tách biệt nhau mà ảnh hưởng, liên hệ lẫn nhau như một chuỗi tác động tiêu cực, đe dọa đến các cộng đồng tộc người và sự phát triển của thế giới Theo GS Nguyễn Trọng Chuẩn,

“chưa có một giai đoạn nào trong lịch sử nhân loại mà bất kỳ một hành động có quy mô lớn

nào tại một điểm nào đó của hành tinh chúng ta đều có thể kéo theo những hậu quả ở những điểm khách nhau trên hành tinh như trong thời hiện đại”

Có thể nói, sự xuất hiện và gia tăng nhanh chóng của các vấn đề cũng như mức độ phức tạp của chúng cho thấy tình hình thế giới tồn tại nhiều bất ổn Nhân loại đang phải đối đầu với vô số thách thức, trong đó đáng chú ý nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến an sinh và môi trường

1.1.2 Những thách thức đặt ra cho an sinh và môi trường

Thách thức về an sinh và môi trường ở đây được hiểu là các vấn đề, các yếu tố nảy sinh do tự nhiên hoặc nhân tạo ảnh hưởng đến môi trường nói chung, trong đó có môi trường sống của con người; tác động xấu đến hoạt động sản xuất, đời sống, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên

Trong số các vấn đề toàn cầu đã được kể đến, mặc dù tất cả chúng là một chuỗi có sự liên quan lẫn nhau, nhưng vẫn có thể nhận thấy những thách thức chủ yếu đặt ra cho an sinh

và môi trường trên toàn thế giới thuộc vào các nhóm vấn đề chính như sau:

- Nhóm vấn đề thứ nhất: Gia tăng dân số, đói nghèo, giải quyết việc làm, đô thị hóa,

Trang 19

lạc hậu và kém phát triển, bất công xã hội và phân hóa giàu nghèo giữa các quốc gia

Gia tăng dân số hiện là sự kiện nóng được nhắc đến nhiều nhất trên toàn thế giới trong thời gian gần đây Ngày 31/10/2011 được coi là cột mốc để thế giới ghi nhận công dân thứ 7

tỷ Kể từ ngày đầu tiên xuất hiện trên trái đất, loài người mất khoảng 200.000 năm để đạt dân

số 1 tỉ người vào năm 1804, nhưng từ cột mốc 6 tỉ (ngày 12/10/1999) đến 7 tỉ thì chỉ có 12 năm3 Dân số 7 tỷ người ngoài những mặt tích cực như làm cho lực lượng lao động trở nên đông đảo hơn để “tiếp liệu” cho nền kinh tế thế giới… thì mặt trái của nó là một áp lực vô cùng lớn, liên đới đến rất nhiều vấn đề khác

Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) cho rằng dân số thế giới 7 tỉ người sẽ thật sự là một thách thức Với tốc độ tăng dân số hiện tại, mỗi năm dân số toàn cầu sẽ tăng thêm khoảng

78 triệu người Theo dự báo, dân số thế giới còn có thể đạt trên 9,3 tỷ người vào năm 2050 và vượt trên 10 tỷ người vào cuối thế kỷ này Mức tăng này sẽ làm tăng nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên, gia tăng khoảng cách giàu nghèo và tạo ra những áp lực ngày càng lớn trên nhiều mặt của đời sống kinh tế xã hội

Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc, trong một phần tư thế kỷ tới, tăng dân số hầu như

sẽ chỉ diễn ra ở các thành phố, mà phần lớn thuộc các nước kém phát triển Đến năm 2030, hơn 60% dân số thế giới sống ở các đô thị Đô thị hoá nhanh đang bộc lộ những thách thức sâu sắc từ đói nghèo, thất nghiệp cho đến tội phạm và ma tuý4

Tiếp đến là các vấn đề về giải quyết việc làm cho người lao động, lạc hậu và kém phát triển, bất công xã hội và phân hóa giầu nghèo Dân số thế giới tăng mạnh sẽ cho chúng ta một nguồn lao động dồi dào Tuy nhiên, lực lượng lao động đông đảo nhưng phần đông lại là lao động phổ thông, trong khi xu hướng phát triển chung của thế giới là tìm ra những công nghệ mới để tiết kiệm sức lao động của con người, sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học công nghệ đang cho ra đời nhiều ngành sản xuất mới đòi hỏi trình độ và tay nghề nhân công cao hơn mà chỉ có một bộ phận nhỏ lực lượng lao động có thể đáp ứng các yêu cầu công việc, các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động ngày càng thu hẹp khiến cho sức ép cạnh tranh việc làm ngày càng lớn, đe doạ trực tiếp tới vấn đề đảm bảo thu nhập cho mỗi cá nhân Thêm vào đó,

Trang 20

khoảng cách giữa nhóm người giàu nhất và nghèo nhất tiếp tục gia tăng Hiện vẫn còn tới 1,3

tỉ người sống dưới 1 đô la Mỹ một ngày – tức dưới mức cực kỳ nghèo và dự báo sẽ còn tăng lên 1,9 tỷ vào năm 2015; còn dưới mức 2 đô la là từ 3 tỷ tăng lên 5 tỷ5 Các mức cảnh báo có thể là bi quan, nhưng chắc chắn một điều rằng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới ngày nay không đồng nghĩa với việc tạo sự bình đẳng về cơ hội kinh tế cho mọi quốc gia, mọi cộng đồng6

Chung quy lại, những sức ép đáng kể từ tình trạng gia tăng dân số là không thể phủ nhận Ngoài việc liên đới tới các vấn đề đảm bảo đời sống (như việc làm, nghèo đói) thì gia tăng dân số chính là nguyên nhân dẫn đến nhiều hệ lụy về khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên, lượng tiêu thụ vật chất và năng lượng, ô nhiễm môi trường… được trình bày trong nhóm thách thức thứ (2) dưới đây

- Nhóm vấn đề thứ hai: Biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường (đất - nước - không

khí), suy giảm đa dạng sinh học, suy thoái hệ sinh thái và nguồn tài nguyên; khan hiếm năng lượng; sức khỏe con người và các bệnh tật mang tính thời đại của nhân loại

Biến đổi khí hậu và hiện tượng môi trường toàn cầu có chiều hướng ngày càng xấu đi đang đặt nhân loại trước những thách thức lớn Người ta cảnh báo rằng, nếu trừ chiến tranh hạt nhân ra thì sự biến đổi của khí hậu là mối đe dọa lớn nhất với sự tồn vong của loài người

và tương lai của quả đất Cảnh báo này hoàn toàn có cơ sở Trái đất đang ngày càng nóng dần lên Theo kịch bản A2 của Ủy ban quốc tế về biến đổi khí hậu IPCC (International Panel on Climate Change, do Tổ chức Khí tượng Thế giới WMO - World Meteorological Oganization cùng với Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc UNEP – United Nations Environment Programme đồng thành lập năm 1988), đến năm 2100 nhiệt độ sẽ tăng lên trong khoảng từ 2 – 5,4o

và mực nước biển tăng từ 26 – 59cm so với mức của năm 1900 (sau 200 năm)7 Theo một thống kê khác, từ năm 1950-1990, lượng CO2 tăng lên 4 lần làm mặt trái đất

5

Nguyễn Trọng Chuẩn chủ biên (2006), Những vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI, NXB

Chính Trị Quốc Gia Hà Nội, trang 31

Trang 21

nóng lên từ 0,5- 4o

C, nước biển dâng cao từ 25 – 140 cm do lượng băng tan, dự tính đến năm

2050 trái đất sẽ ngập thêm 1m trong nước8 Như vậy, sẽ có nhiều vùng của trái đất bị ngập thêm trong nước Thêm vào đó, khi đại dương ấm lên, các cơn bão sẽ xuất hiện thường xuyên hơn, lũ lụt và hạn hán sẽ tàn phá nặng nề hơn ở nhiều nơi Hiện tượng suy giảm tầng ôzôn (tầng ngăn tia cực tím UV có hại của bức xạ mặt trời đến trái đất) do khí thải, nhất là CO2 gây

ra sẽ dẫn đến nhiều hệ quả nặng nề cho con người và hệ sinh thái

Nguyên nhân sâu xa của các biến đổi xấu đó là do con người đã tác động vào môi trường, khai thác giới tự nhiên quá mức nhằm tìm kiếm các nguồn tài nguyên phục vụ cho những mục đích khác nhau mà không chú ý đúng mức đến việc bảo vệ môi trường hoặc chạy theo lợi nhuận Trong thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, tuy sự khai thác thiên nhiên nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đạt được những thành tựu lớn, nhưng con người “đã làm cho cơ thể trái đất bị lâm bệnh nặng” Cường độ tức thời, sức mạnh, sự tác động trong các hoạt động của con người đến thiên nhiên và môi trường sống của chính mình cũng chỉ thua kém sức phá hoại của chiến tranh Song có khác với các cuộc chiến tranh đã từng xảy ra ở chỗ hoạt động khai thác thiên nhiên của con người diễn ra thường xuyên, liên tục, kéo dài và ở khắp mọi nơi trên trái đất, cho nên phạm vi tác động rộng hơn và thời gian dài hơn gấp nhiều

lần Rõ ràng, “thế giới này không tự kiềm chế được mình Phát triển dân số, tàn phá rừng, tiêu

dùng năng lượng đều gia tốc đến mức có thể làm rối loạn bộ máy đẹp đẽ diệu kỳ của thế giới sinh vật”9

Cường độ phá hoại thiên nhiên và môi trường sống vẫn tăng lên cùng với việc khai

thác thiên nhiên của con người nhằm phát triển kinh tế Chính vì vậy, nguy cơ khủng hoảng

hay thảm họa sinh thái nghiêm trọng trên diện rộng đang hiện ra trước mắt, trong đó sự biến đổi khí hậu, nạn ô nhiễm môi trường sống (đất – nước – không khí) và đặc biệt là nạn thiếu nước là đáng chú ý nhất

* Ô nhiễm đất: Hiện tượng này đang có xu hướng tăng trên toàn thế giới do con người quá lạm dụng các chất hóa học vào canh tác nông nghiệp khiến tài nguyên đất bị tác động phụ của việc sử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu, chất diệt cỏ và các chất kích thích sinh trưởng khác Mỗi năm, trên thế giới có hàng nghìn hóa chất mới được đưa vào sử dụng trong khi con

Trang 22

người vẫn chưa hiểu biết hết tác động phụ của chúng đối với hệ sinh vật; hơn nữa việc không

xử lý đúng kỹ thuật các chất thải công nghiệp và sinh hoạt khác của người và súc vật hoặc các xác sinh vật chết cũng gây ra ô nhiễm đất Hậu quả là làm giảm năng suất và chất lượng cây trồng, hủy diệt sự sống một số sinh vật trong những khu vực ô nhiễm nặng, đe dọa đến sức khỏe con người thông qua vật nuôi, cây trồng, thậm chí gây ra biến dạng sinh thái và di truyền nặng nề cho hệ sinh thái

* Ô nhiễm nước: Hiện nay, có từ 40 - 50% lưu lượng ổn định của các dòng sông trên trái đất bị ô nhiễm Độ ô nhiễm nguồn nước trên thế giới có thể tăng 10 lần trong vòng 25 năm tới Bên cạnh đó, theo ước tính của giới khoa học, có khoảng 96,5% nước trên quả đất là nước mặn nằm trong các đại dương và chỉ có 2,53% tổng lượng nước là nước ngọt có thể dùng được cho trồng trọt và sinh hoạt của con người Trong khi đó, nhu cầu tiêu dùng nước sạch lại ngày càng tăng nhanh do sự gia tăng dân số và yêu cầu phát triển sản xuất Có thể nói sau nguy cơ về dầu mỏ, loài người đã, đang và sẽ phải đối mặt với nguy cơ phổ biến là thiếu nguồn nước sạch cần thiết để duy trì và phát triển đời sống kinh tế xã hội của mình Hiện có khoảng trên ½ quốc gia và khu vực trên thế giới đang bị thiếu nước với các mức độ khác nhau, trong đó có khoảng 50 quốc gia thiếu nước nghiêm trọng Có tới 80% bệnh tật liên quan trực tiếp do nguồn nước bị nhiễm bẩn, mỗi năm có 25 triệu trẻ em đã chết vì dùng nước không sạch10

Báo cáo của UNEP từ năm 2003 cũng cho hay, 40% dân số thế giới ở hơn 80 quốc gia

bị thiếu nước nghiêm trọng, tình hình thiếu nước sẽ còn xấu hơn khi dân số tăng nhanh và sự nóng lên toàn cầu tiếp tục phá vỡ kiểu mưa tự nhiên Mặt khác, chất lượng nước mặt và cả nước ngầm cũng đang bị suy giảm nghiêm trọng do hậu quả của phát triển kinh tế vĩ mô (chất thải công nghiệp, phân bón, thuốc trừ sâu, chất diệt cỏ trong nông nghiệp), đô thị hóa và nước thải sinh hoạt với nhiều loại hóa chất khác nhau Hơn nữa, việc tiêu dùng nguồn nước cũng đang bất bình đẳng giữa các quốc gia… Theo cảnh báo của các nhà nghiên cứu, về lâu dài nguy cơ thiếu nước và bất bình đẳng về nước ngọt sẽ có thể là nguyên nhân của nhiều cuộc xung đột mới Nguồn nước ngọt cho sự sống của con người và sự phát triển kinh tế nói chung đang và sẽ là thách thức lớn cho nhân loại

10

Trung Giang (tổng hợp), Những thách thức lớn của môi trường toàn cầu, trang thông tin khoa học, truy cập

tại: http://www.khoahoc.com.vn/print/15396.aspx , ngày cập nhật 02/6/2007

Trang 23

* Ô nhiễm không khí: Sự phát triển công nghiệp và đời sống đô thị dựa trên “nền văn

minh dầu mỏ” đang làm không khí bị ô nhiễm bởi các chất khí thải, độc tố chì, khói, bụi…

sinh ra trong quá trình đốt cháy nhiên liệu hay các chất cháy khác Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, hiện có tới 50% dân số thành thị trên thế giới sống trong môi trường không khí có mức khí SO2 vượt quá tiêu chuẩn và hơn 1 tỉ người đang sống trong môi trường có bụi than, bụi phấn vượt quá tiêu chuẩn cho phép Những năm gần đây, lượng khí thải ngày càng tăng lên (trong vòng 20 năm tới sẽ tăng gấp 15 lần so với hiện nay) Sự ô nhiễm không khí có thể trực tiếp giết chết hoặc hủy hoại sức khỏe của con người cũng như các sinh vật sống khác, gây

ra “hiệu ứng nhà kính” và các trận mưa a xít không biên giới làm biến dạng và suy thoái môi trường, hủy diệt hệ sinh thái

* Biển đang bị khai thác bừa bãi và rừng cũng bị thu hẹp dần cùng sự gia tăng đất bị hoang mạc hóa, kéo theo những tai họa khổng lồ mang tính toàn cầu như làm cạn kiệt tài nguyên, biến dạng hệ sinh thái, tăng nguy cơ khan hiếm nước ngọt, biến đổi khí hậu và gia tăng các tai họa thiên nhiên… Hoang mạc hóa sẽ đưa đến những hệ lụy sâu sắc trên nhiều mặt

Các vấn đề ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm phóng xạ, bức xạ, sự mất ổn định về khí hậu đều gây hại trực tiếp và lâu dài đến sức khỏe và di truyền của sinh vật sống, đặc biệt là của con người với những hậu quả khó lường Những tổn thất về con người và vật chất do môi trường suy thoái gây ra đã và đang vượt quá tổn thất về người và của do các biến động xã hội

và từ chiến tranh Nhiều cảnh báo được đưa ra nhằm mục đích thức tỉnh để con người mau chóng có những hành động tích cực với môi trường, vì môi trường và vì sự sống của chính mình

Nếu vào đầu những năm 1990, người ta chú ý nhiều đến cuộc chạy đua kịch liệt giữa thuốc trừ sâu và tính kháng thuốc của sâu trong việc bảo vệ mùa màng, hay lưu tâm nhiều nhất tới loại bệnh thế kỷ SIDA; thì ngày nay mối quan ngại được mở rộng sang những vấn đề phức tạp hơn, các loại vi khuẩn gây bệnh cho người có trên rau quả và các loại bệnh dịch ngày càng xuất hiện nhiều, phát sinh một cách khó lường và gây hậu quả trầm trọng với biến chứng phức tạp, lây lan nhanh chóng và dẫn đến tử vong trên diện rộng trong một thời gian rất ngắn như thể đó là cái giá phải trả cho một sự “tiến bộ” đi ngược với giới tự nhiên và phá vỡ những cân bằng sinh thái từ nhiều thiên niên kỷ

Thách thức về nguồn năng lượng cho sản xuất và tiêu dùng cũng là một vấn đề quan trọng Ngoài những nguồn năng lượng khai thác trên tự nhiên, người ta tìm đến những guồn

Trang 24

năng lượng mới để tránh tình trạng khan hiếm, đó là năng lượng sinh học, năng lượng nguyên tử Một mặt các nguồn năng lượng nhân tạo này giúp bổ sung cho sản xuất, nhưng rõ ràng mặt trái của nó cũng không ít thách thức

Với nguồn năng lượng sinh học Ethanon – thứ được coi là khá an toàn, không làm thay đổi hiệu ứng nhà kính, tuy nhiên nếu không thực thi hợp lý thì sẽ trở thành “phản đạo lý” bởi lẽ nó biến nguồn lương thực thành chất đốt trong lúc vẫn còn hơn 1 tỷ người trên thế giới phải chịu cảnh đói (ví dụ: để đổ đầy một bình xăng ethanol 94,5 lít thì phải tốn 204 ký ngô, đủ nuôi 1 người trong một năm)11, hoặc diện tích trồng các loại cây nhiên liệu sinh học cũng sẽ chiếm sang phần lớn diện tích đất trồng cây lương thực nếu không được kiểm soát đúng mức Bên cạnh đó, nguồn năng lượng nguyên tử vốn tiềm ẩn nhiều nguy cơ nghiêm trọng Gần đây, người ta còn chưa hết kinh hoàng sau khi nhà máy điện hạt nhân Fukushima I của Nhật Bản bị trận động đất và sóng thần ngày 11/3/2011 tàn phá, gây nên cuộc khủng hoảng hạt nhân nghiêm trọng nhất thế giới sau thảm họa Chernobyl vào ngày 26/4/1986 tại Pripyat, Urkraina Do các máy phát điện chính và dự phòng đều không hoạt động, nhiên liệu hạt nhân của ba trong số 6 lò phản ứng nóng chảy khiến phóng xạ rò rỉ ra ngoài gây nên cuộc khủng hoảng khiến hàng chục ngàn người phải sơ tán Mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp giảm thiểu tác hại nhưng mức cảnh báo về an toàn nguyên tử vẫn được nâng lên mức cao nhất từ trước đến nay khi một hội đồng chuyên gia của Ủy ban năng lượng Nguyên tử Nhật Bản kết luận nhà máy điện hạt nhân này phải cần ít nhất 30 năm để ngừng hoạt động hoạt động hoàn toàn12 Theo các nhà sinh thái học, sự ảnh hưởng của các rò rỉ phóng xạ đối với môi trường sống và con người trên trái đất là khá lớn và tiềm tàng nhiều mối nguy hiểm

- Nhóm vấn đề thứ ba: Sự tồn tại dai dẳng và căng thẳng của những vấn đề chính trị -

xã hội toàn cầu; nguy cơ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; Nạn khủng bố và các tội phạm quốc tế khác

Tuy nguy cơ chiến tranh thế giới có vẻ “được đẩy lùi’, khả năng xảy ra các cuộc chiến tranh qui mô lớn là rất thấp, nhưng không thể cho rằng nguy cơ và thảm họa của các cuộc

11Đỗ Tuyết Khanh, Khủng hoảng lương thực thế giới và nông nghiệp Việt Nam, nguồn:

Trang 25

chiến tranh lớn là hoàn toàn bị loại trừ trong điều kiện thế giới hiện nay Trên thực tế, thế giới vẫn thường xuyên phải chứng kiến những cuộc chiến tranh do một số nước lớn tiến hành chống lại các nước khác nhỏ hơn nhưng được che đậy một cách khéo léo dưới nhiều chiêu bài khác nhau, nhưng thực chất vấn đề cũng chỉ là do sự tranh giành địa vị thống trị, tranh giành quyền lợi cùng các nguồn tài nguyên, kéo theo sự chết chóc của những thường dân – những con người vô tội và hủy hoại khủng khiếp môi trường thiên nhiên Các cuộc chiến tranh ở thập niên cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI là những ví dụ Chẳng hạn như cuộc chiến tranh

do Mỹ tiến hành ở vùng Vịnh chống Irắc vào năm 1991 nhân danh Liên hợp quốc, cuộc chiến tranh do Mỹ đứng đầu chống Taliban ở Ápganixtan vào năm 2001, cuộc chiến tranh của Mỹ - Anh chống Irắc lần hai lật đổ Saddam Hussein vào năm 2003 và gần nhất là cuộc chiến của liên minh quân sự gồm Mỹ - Anh – Pháp và một số quốc gia khác do Mỹ xây dựng để chống lại quốc gia bắc Phi Libya (thực chất để lật đổ Moammar Gadhafi) vào đầu năm 2011… Tình hình chiến sự càng làm gay gắt thêm vấn đề sinh thái, môi trường, nguyên liệu, năng lượng, lương thực, dân số, bệnh tật, an ninh không chỉ ở các khu vực xảy ra, mà còn nan rộng đến cả các khu vực khác trên thế giới Chiến tranh ảnh hưởng tiêu cực đến tất cả những vấn đề toàn cầu khác mà trực tiếp và trước hết là đến sức khỏe và sự tồn tại của con người, đặc biệt là những người trực tiếp tham gia các cuộc chiến tranh đó Nhân loại phải gánh chịu những thảm khốc “nhân tạo” do chính con người gây lên, cuộc sống trên hành tinh càng trở nên mong manh hơn

Bên cạnh đó, nhân loại cũng đang phải đối mặt với các loại vũ khí đã được cải tiến đến mức rất hoàn hảo hoặc các loại vũ khí hoàn toàn mới có mức độ hủy diệt rất cao và trên diện rộng Ngoài các loại vũ khí thông thường nhưng có sức công phá lớn hơn nhiều lần sức công phá của những vũ khí cùng loại trước đây, nhiều loại vũ khí phi truyền thống đã ra đời nhờ khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại, chẳng hạn: vũ khí sinh thái (các chất độc phá hủy thảm xanh thực vật của những cánh rừng như chất độc mà da cam; các công cụ có thể tạo ra động đất, sóng thần, làm ra các trận mưa cực lớn gây nên lụt lội, làm thay đổi khí hậu cục bộ như kính hội tụ; hoặc có thể tạo ra những lỗ thủng tầng ôzôn như tia lazer ), vũ khí sinh học (virus tạo ra các loại bệnh như bệnh đậu mùa, bệnh than; hoặc còn có những nghiên cứu quái đản đầy tham vọng là chế tạo ra vũ khí di truyền học, tạo ra loại bom mà khi phát nổ chỉ tìm diệt những tộc người thuộc một nhóm gien nhất định mà không có hại với các loại gien được lựa chọn phải bảo vệ ); vũ khí hóa học (các chất cực độc và nguy hiểm đối với tính mạng con người và thiên nhiên, có khả năng gây ra rối loạn hệ thần kinh và các quá trình trong cơ thể

Trang 26

người ); vũ khí hạt nhân (là thứ vũ khí có sức hủy diệt vô cùng lớn và gây hậu quả lâu dài đối với sự di truyền của con người cũng như đối với thiên nhiên)

Thực trạng và nguy cơ tiếp diễn nạn khủng bố quốc tế cũng đang đe dọa đến tính mạng con người khắp nơi trên thế giới Sau vụ 11/9 ở Mỹ làm hàng ngàn người thiệt mạng, các vụ tấn công khủng bố ở Bali Indonesia khiến 200 người chết, rồi ở ga tàu điện ngầm ở London Anh hay trên tầu hỏa ở Madrid Tây Ban Nha làm hàng trăm người tử nạn đồng thời gây ra nhiều di hại, thiệt hại nặng nề về tinh thần và vật chất13

Vấn đề giải quyết các tệ nạn, các loại tội phạm mang tính quốc tế cũng là một thách thức cho an sinh con người trong tình hình mới, chẳng hạn vấn nạn buôn lậu ma túy – thứ kích thích hủy hoại tinh thần và sức khỏe của con người, xói mòn nền tảng văn hóa kinh tế xã hội của các quốc gia; buôn bán phụ nữ và trẻ em gây ra những xáo chộn đe dọa cuộc sống của con người và gây ra các vấn đề xã hội nghiêm trọng

- Những vấn đề khác: Thêm vào đó, con người cũng đang phải chứng kiến một thế

giới với nhiều biến động về kinh tế vĩ mô Sự xuất hiện liên tục kéo dài và thay phiên nhau của các cụm từ “khủng hoảng tài chính”, “khủng hoảng kinh tế”, “khủng hoảng nợ công”…

đi kèm nhiều hình ảnh minh họa thực tế trên tất cả các phương tiện truyền thông cho thấy tình hình ảm đạm ở nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới, điểm đáng chú ý là hầu hết các cuộc khủng hoảng này đều bắt nguồn từ những “đàu tàu” kinh tế của thế giới Chẳng hạn cơn bão khủng hoảng tài chính được bắt nguồn từ Mỹ – nền kinh tế hàng đầu thế giới và Mỹ cũng là nơi đầu tiên cảm nhận được sức phá hoại của cuộc khủng hoảng này Tính đến giữa năm

2009, Mỹ đã có 33 ngân hàng hàng đầu phá sản Trung tâm tài chính phố Wall chứng kiến một cảnh tượng chưa từng có là các nhà đầu tư đua nhau bán tháo cổ phiếu Hàng loạt công ty phá sản hoặc nộp đơn xin bảo lãnh phá sản, trong đó có cả GM (hãng sản xuất ô tô hàng đầu thế giới); Casino ở Los Angeles (niềm tự hào về sự giàu sang của nước Mỹ) Đội quân thất nghiệp gia tăng cực nhanh Như một hiệu ứng domino, khủng hoảng tài chính đã tàn phá nền kinh tế thế giới Với tính liên thông cao của hệ thống ngân hàng, tài chính, cuộc khủng hoảng này ngay lập tức ảnh hưởng nặng nề tới các nền kinh tế hùng mạnh ở châu Âu, châu Á như: Đức, Anh, Pháp, Nhật, Singapore v.v… Toàn bộ kinh tế thế giới bị đẩy vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng, hầu hết các nước đều có mức tăng trưởng âm Tiếp đến là cuộc khủng

13

GS TS Nguyễn Văn Luật, An ninh lương thực và an ninh quốc gia, trang tin Cây lương thực, truy cập tại:

Trang 27

hoảng nợ công xảy ra ngay trong lòng liên minh Châu Âu (EU) – tổ chức được coi là hình mẫu phát triển cao của thế giới hiện đại Những số liệu được làm giả để đối phó với các điều kiện khắt khe của EU và khoản nợ chính phủ thực tế vượt mức trên 100% GDP là “thủ phạm” làm sập nền kinh tế Hy Lạp; khủng hoảng tại Ireland là do hệ thống ngân hàng quá yếu kém lại không được kiểm soát tốt Ngoài ra, Châu Âu còn lo ngại về nguy cơ phá sản ở một số nền kinh tế khác như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Italia Hiện tại, tất cả các quốc gia trên thế giới đều đang duy trì một mức nợ nước ngoài nhất định Tuy nhiên, tình trạng khủng hoảng nợ công tại châu Âu đang khiến nỗi lo sợ vỡ nợ lan nhanh ra hầu khắp các khu vực v.v… Như vậy, các cuộc khủng hoảng ngày nay đều có nguy cơ lan rộng trên phạm vi toàn cầu, hậu quả của chúng gây ra ở nhiều mức độ khác nhau, song đều được thể hiện ra thông qua sự gia tăng tình trạng thất nghiệp, suy giảm thu nhập, tăng tình trạng nghèo đói, hàng hoá không bán được, ngân sách sụt giảm, an sinh xã hội bị ảnh hưởng

Tóm lại, các thách thức về an sinh và môi trường của nhân loại trong bối cảnh thế giới ngày nay là khá nhiều và phức tạp mà thực chất chúng là hệ quả của một phức hợp các vấn đề toàn cầu Tính chất gay gắt của các vấn đề toàn cầu cho thấy bản chất các mâu thuẫn và xung đột xã hội, các cuộc chiến tranh và sự tàn phá thiên nhiên của con người, sự khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên tự chúng không chỉ là tồi tệ mà còn đe dọa cả sự tồn tại của con người lẫn sự tồn tại của cả hành tinh Các vấn đề về biến đổi khí hậu, suy thoái hệ sinh thái, ô nhiễm môi trường sống, tình trạng thiếu năng lượng, nguyên liệu cùng các nguồn nước sạch cho sản xuất và đời sống; sự gia tăng dân số, đói nghèo, bệnh tật và tội phạm quốc

tế, sự căng thẳng của những vấn đề chính trị - xã hội toàn cầu, vấn đề chiến sự, khủng bố, nguy cơ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, vấn đề khủng hoảng và nguy cơ của các cuộc khủng hoảng trên diện rộng v.v… mà loài người hàng ngày phải đối mặt đang làm cho bối cảnh thế giới càng trở nên gay gắt hơn và diễn biến theo chiều hướng xấu hơn, việc giải quyết những vấn đề toàn cầu và đảm bảo an ninh vì thế càng trở thành nhiệm vụ cấp bách

1.2 Khái niệm an ninh lương thực

1.2.1 Các khái niệm có liên quan và cách tiếp cận về an ninh lương thực

Như đã trình bày trong phần 1.1, kể từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, tình hình thế giới có nhiều biến chuyển Tuy có nhiều mặt tích cực nhưng cũng không ít vấn đề mang tính toàn cầu mới nổi lên, đặt ra những thách thức không nhỏ đối với việc đảm bảo an ninh, đặc biệt là an ninh cho con người Đứng trước thực trạng này, vấn đề an ninh ngày nay càng được

Trang 28

quan tâm một cách toàn diện hơn và các khái niệm, định nghĩa về an ninh cũng có nhiều thay đổi để phù hợp với tình hình thực tiễn

“Ở góc độ chính trị, an ninh là một khái niệm chỉ sự ổn định, an toàn đối với một quốc gia hoặc một chế độ chính trị, nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của quốc gia hay chế độ chính trị đó Đây là vấn đề tự nhiên của mỗi quốc gia – dân tộc, một nhu cầu trộn lẫn cả yếu

tố bản năng và ý thức”14

Tuy nhiên về phương diện này, an ninh mới chỉ là vấn đề đặt ra trên

bình diện của mỗi quốc gia – dân tộc Ngày nay, vấn đề an ninh mang ý nghĩa rộng hơn và vượt ra ngoài biên giới, lãnh thổ của một nước Vậy khái niện an ninh trong thời đại mới có nên chăng cần được hiểu là sự ổn định và đảm bảo an toàn trước những vấn đề có tính chất đe dọa hoặc có khả năng đe dọa rõ ràng trong tương lai đối với lợi ích sống còn hay những giá trị

cơ bản của con người, cộng đồng dân tộc, quốc gia, khu vực và thậm chí là cả thế giới? Các khái niệm, định nghĩa về an ninh cũng theo đó mà rất phong phú và đa dạng, liên quan đến nhiều vấn đề của thời đại mới

Khi bàn về an ninh, có một số khái niệm cơ bản và phổ biến, bao gồm “an ninh truyền

thống” (Traditional Security), “an ninh phi truyền thống” (Non-Traditional Security), “an ninh toàn diện” (comprehensive security), “an ninh con người” (human security) Trong đó,

khái niệm an ninh truyền thống được coi là xuất phát điểm để làm nổi bật khái niệm an ninh phi truyền thống Và với sự mở rộng khái niệm an ninh phi truyền thống đã làm xuất hiện khái niệm an ninh con người Từ góc độ an ninh con người, tiếp tục làm xuất hiện nhiều khái niệm về an ninh, trong đó an ninh lương thực là một phần quan trọng Ngoài ra, còn có khái

niệm an ninh toàn diện xuất hiện dường như tổng hợp tất cả các khái niệm về an ninh, bao

gồm cả an ninh lương thực, nhưng trên thực tế nó lại có logic đặc thù riêng và chưa hẳn có chung một cơ sở lý luận Nói cách khác, để hiểu biết sâu sắc về các vấn đề lý luận của an ninh lương thực, trước hết cần xác định cách tiếp cận của nó cũng như các khái niệm an ninh có liên quan An ninh lương thực nằm trong nhóm tiếp cận an ninh phi truyền thống Vì vậy, trên

cơ sở sự tương tác giữa lý luận và thực tiễn, việc tìm hiểu và so sánh cách tiếp cận an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống là hết sức cần thiết để làm bối cảnh cho việc tiếp tục xem xét hai khái niệm phổ biến “an ninh con người”, “an ninh toàn diện” mà an ninh lương

14

Nguyễn Ngọc Dung, Các yếu tố bản địa của an ninh khu vực Đông Nam Á, nguồn:

19/11/2011

Trang 29

thực có mối quan hệ với, đồng thời đây cũng là điều kiện cần và đủ để tăng cường hiểu biết về những vấn đề xung quanh khái niệm an ninh lương thực

Tại nhiều nơi trên thế giới cũng như ở khu vực châu A'-Thái Bình Dương (CÁ-TBD) nói chung và ASEAN nói riêng, “an ninh truyền thống” và “an ninh phi truyền thống” là hai khái niệm lớn thường được giới học giả và các chính trị gia nhắc nhiều nhất khi nói đến vấn

đề an ninh

* Trong lịch sử chiến tranh và hòa bình, “an ninh truyền thống” được đồng nhất với

an ninh quân sự và chủ yếu tập trung vào an ninh của quốc gia hoặc nhà nước Quan niệm này

luôn “coi an ninh quốc gia, theo nghĩa hẹp, là bảo vệ đất nước trước các mối đe dọa hoặc tấn

công quân sự từ bên ngoài; theo nghĩa rộng, là bảo vệ đất nước trước các mối đe dọa cả từ bên ngoài lẫn bên trong” (PGS TS Hà Mỹ Hương, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia

Hồ Chí Minh) Như vậy, an ninh truyền thống nói về các mối đe dọa đối với chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, xung đột vũ trang… Để bảo vệ an ninh, nhà nước chú trọng sử dụng sức mạnh thuần túy về quân sự Do đó, trừ các cuộc chiến tranh thế giới, an ninh truyền thống có phạm vi ảnh hưởng hẹp mang tính cục bộ Với quan niệm này, an ninh của nhà nước là điều kiện tiên quyết duy trì cuộc sống tốt đẹp cho từng cá nhân sống trong một quốc gia, hay cũng

có nghĩa rằng nhà nước là nhân tố đảm bảo an ninh cho các công dân ít nhất là trong phạm vi lãnh thổ của mình Mối đe dọa cơ bản đối với an ninh của người dân có thể bắt nguồn từ các quốc gia (nhà nước) khác bên ngoài hoặc cũng có thể là từ ngay chính các xung đột trong nước, và yếu tố an ninh gắn liền với sự tồn vong của quốc gia Chung quy lại, theo cách hiểu

truyền thống này, an ninh mới chỉ là đơn phương vì nó đi liền với sự đảm bảo về sức mạnh

quân sự và tình trạng quốc phòng của một đất nước, đồng thời an ninh của quốc gia (nhà nước) cũng đồng nghĩa với an ninh của các cá nhân những thành viên sống trong quốc gia đó

* Sau thế chiến thứ 2 và nhất là kể từ khi chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới bước vào thời kỳ mới – hợp tác phát triển kinh tế với xu hướng toàn cầu hóa một mặt mang đến nhiều

cơ hội cho sự tăng trưởng và phồn thịnh của các vùng lãnh thổ, mặt khác làm nảy sinh nhiều vấn đề mới đe dọa đến sự tồn vong của những cộng đồng người, những quốc gia, dân tộc, thậm chí là cả nhân loại, kể từ đây những nhận thức về an ninh cũng thay đổi rất nhanh chóng

“Sự tuỳ thuộc vào nhau trong thế giới ngày nay mạnh đến nỗi tình trạng biệt lập của mỗi quốc gia không thể tìm thấy sự bênh vực từ bất cứ phương diện nào Cho nên, quá trình chuyển từ trạng thái an ninh đơn phương sang an ninh đa phương là một quy luật tất yếu đối với mỗi quốc gia hoặc tổ chức khu vực” (PGS TS Nguyễn Ngọc Dung) Rõ ràng, toàn cầu

Trang 30

hóa với những thách thức từ các vấn đề toàn cầu gắn liền với khái niệm “an ninh phi truyền thống”

Năm 2002, trong Bản tuyên bố chung ASEAN – Trung Quốc tại Phnom Penh, khái niệm “an ninh phi truyền thống” với những nội hàm của nó cũng đã xuất hiện khi các nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc bày tỏ “sự quan ngại về những vấn đề an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng như buôn lậu, ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ em, cướp biển, khủng

bố, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, tội phạm kinh tế quốc tế và tội phạm công nghệ cao” 15

Trong bài viết “Studying Non-Traditional Security in Asia”, Nhà nghiên cứu Amitav Acharya đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn: “Các vấn đề an ninh phi truyền thống là các thách thức đối với sự tồn vong và chất lượng cuộc sống của con người và nhà nước có nguồn gốc phi quân sự như thay đổi khí hậu, khan hiếm nguồn nguyên liệu, bệnh dịch, thiên tai, di

cư không kiểm soát, thiếu lương thực, buôn người, buôn ma túy, và tội phạm có tổ chức.”16

Như vậy có thể hiểu, “an ninh phi truyền thống” bao hàm nhiều quan niệm mới về an ninh trong thời đại toàn cầu hóa (như môi trường suy thoái, nguồn nguyên liệu khan hiếm, các

bệnh dịch, thảm họa thiên nhiên, thiếu hụt lương thực, tội phạm quốc tế, khủng bố…), nhưng mặt khác khái niệm này cũng bao hàm những yếu tố an ninh và bất an vốn có từ lâu đời (như

thiên tai, nạn đói, dịch bệnh, chiến tranh…) Giống như quy luật phủ định của phủ định trong triết học, khái niệm “an ninh phi truyền thống” ra đời không hẳn đối lập hoàn toàn với khái niệm “an ninh truyền thống” và sự phân biệt giữa chúng cũng không rạch ròi vì ngay cả các vấn đề được xem như thuộc về khái niệm an ninh phi truyền thống ngày nay như nạn đói, hải tặc, buôn lậu…cũng không phải là chưa từng xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử Hơn nữa, không chỉ là an ninh quân sự thuần túy của từng quốc gia/ nhà nước để đảm bảo an toàn cho công dân của mình, quan điểm an ninh phi truyền thống còn bàn về nhiều vấn đề rộng lớn và toàn diện hơn, liên quan đến sự bảo an trước những thách thức đối với sự tồn tại và duy trì hạnh phúc của con người và các nhà nước Như vậy, điểm phân biệt chính giữa hai khái niệm

15Vũ Dương Ninh, An ninh con người và sự bất an trong cuộc sống hôm nay (ngày 22 – 23/7/2008), Kỷ yếu Hội

thảo khoa học an ninh con người ở Đông Nam Á, Bộ môn Quan hệ quốc tế, Trường ĐHKH X& NV TP HCM, trang 118 – 125

Trang 31

này là an ninh phi truyền thống chú trọng đa phương và chủ yếu nhấn mạnh các yếu tố phi

quân sự, các vấn đề có phạm vi ảnh hưởng xuyên quốc gia, đòi hỏi sự hợp tác quốc tế cũng

như áp dụng các biện pháp tổng thể từ chính trị đến kinh tế, xã hội, ngoại giao để đối phó Tất nhiên, trong các hoạt động đó, lực lượng vũ trang có thể vẫn được sử dụng An ninh phi truyền thống bao gồm cả 2 đối tượng là nhà nước và các cá nhân trong xã hội17, nhưng trong

đó mỗi người dễ trở thành nạn nhân trực tiếp đầu tiên của một cuộc tấn công từ bên ngoài nhằm vào một quốc gia18 Vì thế, ngoài việc bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, nhà nước còn phải mở rộng hoạt động để chống lại các yếu tố tác động tiêu cực đến đời

sống của con người và tính chất “phi truyền thống” trong cách tiếp cận mới về an ninh này là

ở chỗ nó mở rộng phạm vi hơn, coi con người làm trung tâm

Trên thực tế các thách thức trong tình hình mới cho thấy, bên cạnh nhiều mối đe dọa quân sự vẫn còn tiềm tàng, các vấn đề an ninh phi truyền thống đang và sẽ là những nguy cơ hiện hữu đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế trong thế kỷ XXI Thách thức an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không một quốc gia nào có khả năng tự giải quyết được mà không cần đến sự hợp tác và phối hợp của cộng đồng quốc tế Cuộc đấu tranh chung chống lại những nguy cơ an ninh mới này đòi hỏi các cơ chế đa phương, sự hợp tác phối hợp hành động của các quốc gia, vai trò quan trọng của các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức khu vực và quốc tế An ninh phi truyền thống lấy con người làm trung tâm trên tất cả các cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế và cách tiếp cận này trở thành xu thế khi khái niệm an ninh con người chính thức xuất hiện

* Ý tưởng về "an ninh con người" có từ năm 1945, nhưng đặc biệt từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, khái niệm an ninh con người được quan tâm sâu sắc hơn về tư duy và định nghĩa Khái niệm an ninh trước đây được giải thích theo nghĩa quá hẹp do theo cách suy nghĩ truyền thống, chủ thể của nó cần được đảm bảo an ninh là quốc gia hay nhà nước; an ninh chỉ liên quan đến việc bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ lợi ích quốc gia hoặc những giá trị cơ bản của quốc

17 Định nghĩa về nhà nước cũng có thể bao gồm đất nước (state) và cơ quan/ hệ thống chính trị cụ thể (tức chế độ

chính trị và các bộ máy, luật lệ của nó) Định nghĩa về các cá nhân cũng có thể là người dân thường, hoặc cá nhân các nhà lãnh đạo

18

Tạ Minh Tuấn, An ninh con người trong các thuật ngữ an ninh khác (ngày 22 – 23/7/2008), Kỷ yếu Hội thảo

khoa học an ninh con người ở Đông Nam Á, Bộ môn Quan hệ quốc tế, Trường ĐHKH X& NV TP HCM, trang

64 – 69

Trang 32

gia; phương tiện trước tiên được sử dụng là duy trì lực lượng quân sự; sự an toàn của con người ít được quan tâm tới Vì thế, quan niệm mới về an ninh con người thuộc nhóm tiếp cận của an ninh phi truyền thống, chú trọng khái niệm an ninh theo nghĩa rộng và xác định có rất nhiều mối đe doạ tiềm tàng đối với con người Theo Báo cáo 1994 về phát triển con người của UNDP, các mối đe dọa bao gồm: thất nghiệp, nghiện ngập, tội ác, ô nhiễm, vi phạm nhân quyền, lo lắng về chiến tranh và bạo lực có tổ chức, v.v Báo cáo lập luận rằng đảm bảo an ninh cho con người thoát khỏi thèm muốn và sợ hãi “là cách tốt nhất” để xử lý vấn đề an ninh

toàn cầu Định nghĩa an ninh con người được đưa ra là "sự an toàn của con người trước

những mối đe doạ kinh niên như nghèo đói, bệnh tật và đàn áp, và những sự cố bất ngờ, bất lợi trong đời sống hàng ngày" Báo cáo cũng đưa ra 7 nội dung chủ yếu của an ninh con người, gồm: (1) an ninh kinh tế; (2) an ninh lương thực; (3) an ninh sức khoẻ; (4) an ninh môi trường; (5) an ninh cá nhân; (6) an ninh cộng đồng; và (7) an ninh chính trị

Trên cơ sở định nghĩa và những nội dung trên, báo cáo đã nêu ra những đặc tính cơ bản của an ninh con người là: (1) an ninh con người là mối quan tâm chung; (2) các nội dung của an ninh con người quan hệ mật thiết và phụ thuộc lẫn nhau; (3) an ninh con người được đảm bảo dễ dàng bằng biện pháp ngăn ngừa sớm hơn là bằng biện pháp can thiệp sau đó; và

(4) an ninh con người lấy con người làm trung tâm An ninh con người nhấn mạnh tính chất

phụ thuộc lẫn nhau giữa các khía cạnh của an ninh Mối đe dọa đối với an ninh của con người

ở một nơi trên thế giới có ý nghĩa đối với tất cả các quốc gia Nhiều mối đe dọa hiện nay như nạn đói, bệnh tật, ô nhiễm, tội ác, khủng bố, xung đột sắc tộc và tan rã về xã hội không còn là những sự kiện biệt lập Những vấn đề toàn cầu khi trở thành mối đe doạ đối với an ninh chung của nhân loại thì cần có sự phối hợp hành động và hợp tác của nhiều quốc gia

Báo cũng chỉ rõ, an ninh con người không đồng nghĩa với phát triển con người vì khái niệm sau mang ý nghĩa rộng hơn, tuy nhiên giữa hai khái niệm này có mối liên quan chặt chẽ Đồng thời, an ninh con người cũng không đồng nghĩa với những vấn đề nhân quyền, nhưng giữa chúng cũng có những mối liên quan An ninh con người mang tính tích cực vì có hiệu quả và khả thi hơn khi tiến hành các biện pháp phòng ngừa hơn là can thiệp khi khủng hoảng

đã nổ ra Về phương diện này, an ninh con người được coi là phát triển con người Do đó, bảo đảm phát triển con người bền vững là nhằm đảm bảo an ninh con người

Tuy nhiên, một số người chủ trương an ninh con người cho rằng sự nhấn mạnh đến việc đảm bảo an ninh quốc gia làm phương hại đến an ninh con người Họ cho rằng những mối quan tâm chính đáng đối với những người dân bình thường tìm kiếm an ninh trong cuộc

Trang 33

sống hàng ngày thường bị lãng quên; đối với nhiều người dân, an ninh tức là được bảo vệ khỏi bị bệnh tật, nghèo đói, thất nghiệp, tội ác, xung đột xã hội, đàn áp chính trị và huỷ hoại môi trường Họ chứng minh bằng thực tế lịch sử, thông thường khi tăng cường an ninh của quốc gia thì trực tiếp làm hại đến an ninh và đời sống của công dân Do đó, họ lập luận rằng khái niệm an ninh cần phải thay đổi từ chỗ chỉ nhấn mạnh đến an ninh lãnh thổ sang nhấn mạnh nhiều hơn đến an ninh con người Đây là một quan điểm khá cực đoan và không toàn diện, cần được lưu tâm trong quá trình nghiên cứu về các vấn đề an ninh đối với con người, trong đó có an ninh lương thực

* An ninh toàn diện cũng là một trong những khái niệm an ninh được sử dụng rộng rãi

ở khu vực châu A'-Thái Bình Dương Thuật ngữ này được chính thức đưa ra ở Nhật Bản dưới thời chính phủ Ohira vào giữa thập kỷ 70 và được các quốc gia ĐNA ủng hộ, đặc biệt là

Indonesia, Malaysia và Singapore Tiền đề cơ bản của nó là an ninh phải được hiểu một cách

toàn diện, bao gồm cả các mối đe dọa quân sự và phi quân sự đối với toàn bộ đời sống của một quốc gia Tuy nhiên, nó được sử dụng và giải thích theo nhiều cách khác nhau ở các nơi

khác nhau trong khu vực Theo khái niệm của Nhật Bản, "an ninh quốc gia toàn diện" được phát triển nhằm thay thế cho khái niệm "an ninh quốc gia" trong thời kỳ trước và sau CTTG

II Sau một loạt công trình nghiên cứu của chính phủ về vấn đề này, Báo cáo về An ninh quốc gia toàn diện được đệ trình lên chính phủ của Thủ tướng Suzuki năm 1980 đã định nghĩa một

cách khái quát về an ninh toàn diện, đồng thời nhấn mạnh nhu cầu duy trì sự sẵn sàng về

quân sự và các liên minh, xác định những mục tiêu như an ninh năng lượng, an ninh lương thực và các biện pháp đối phó với thiên tai Ý niệm về an ninh toàn diện của Nhật Bản về bản

chất mang tính chất đa phương của các mối đe dọa hiện nay hay các thách thức mà một quốc

gia phải vượt qua như các vấn đề kinh tế, thương mại, thiên tai cũng như kẻ thù có vũ trang và nhất là an ninh lương thực Khái niệm của Nhật Bản cũng nhấn mạnh nhiều đến chính sách phi quân sự đối với những thách thức an ninh như sử dụng các nguồn lực chính trị, kinh tế, ngoại giao Công cụ hàng đầu mà Nhật Bản sử dụng để đạt được an ninh quốc gia toàn diện là sức mạnh kinh tế to lớn Do Nhật Bản sử dụng ODA phần lớn là để đảm bảo ổn định về lương thực và năng lượng, nên có thể hiểu Nhật Bản "theo đuổi an ninh toàn diện thông qua

viện trợ" Cách tiếp cận an ninh toàn diện của Nhật Bản mở rộng khái niệm an ninh sang các

lĩnh vực an ninh phi truyền thống, nhưng vẫn nhấn mạnh vai trò của an ninh quân sự Có ý

kiến cho rằng, đưa ra khái niệm an ninh toàn diện có lợi cho chính phủ Nhật Bản ở chỗ: nó làm giảm sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước đối với khía cạnh quân sự truyền thống

Trang 34

trong chính sách an ninh của họ, giúp tạo thuận lợi cho việc phát triển và hiện đại hoá lực lượng phòng vệ (LLPV), và làm giảm tranh luận về các vấn đề phòng thủ và vai trò của LLPV

ASEAN nhiệt tình ủng hộ khái niệm này, nhưng cách giải thích của Hiệp hội khác với Nhật Bản Với Nhật Bản, “an ninh toàn diện” gần như chỉ đề cập đến các mối đe dọa từ bên ngoài vì Nhật Bản là quốc gia dễ bị các yếu tố bên ngoài tác động Cách đề cập của ASEAN tập trung vào các mối quan tâm bên trong trong thời kỳ chiến tranh lạnh, nhưng từ khi xuất hiện các cuộc đối thoại an ninh đa phương ở Châu Á – Thái Bình Dương thì khái niệm an ninh toàn diện của ASEAN được giải thích ở cấp độ khu vực Việc thành lập ARF đánh dấu

"sự chuyển biến ý tưởng về an ninh toàn diện của ASEAN dựa trên thuyết ZOPFAN (Tuyên

bố Kualalumpur năm 1971 về Khu vực Hòa bình – Tự do – Trung lập) Việc ASEAN đã vươn tới Bắc Á và bao gồm các quốc gia không cùng chung suy nghĩ là cách tiếp cận "an ninh hợp tác" mới An ninh hợp tác có thể được xem như phương tiện để đạt được những mục tiêu trong khái niệm an ninh toàn diện

Năm 1996, Nhóm công tác về An ninh toàn diện và An ninh hợp tác của Đại hội đồng Hội đồng An ninh Châu Á – Thái Bình Dương (CSCAP), do Malaysia, New Zealand và Trung Quốc đồng chủ toạ, công bố “Bản ghi nhớ CSCAP số 3” về An ninh toàn diện và An ninh hợp tác Bản ghi nhớ đã mở rộng nghĩa của khái niệm này, mong muốn tạo một khái niệm mang tính chỉ đạo để kiểm soát an ninh ở khu vực có thể được các quốc gia nhất trí Bản

ghi nhớ nhấn mạnh "an ninh đối với các lợi ích an ninh sống còn và các giá trị cơ bản vượt ra

ngoài phạm vi quân sự, và an ninh toàn diện chỉ đạt được trên cơ sở lợi ích chung" Cách tiếp

cận an ninh toàn diện nêu trong bản ghi nhớ cho rằng khả năng quân sự chỉ nên mang tính chất "phòng thủ" và không đe dọa; kiểm soát vũ khí và các biện pháp công khai hoá là yếu tố quan trọng của an ninh toàn diện Theo bản ghi nhớ, an ninh toàn diện không chủ trương thành lập liên minh, kể cả liên minh hình thành sau chiến tranh lạnh không có địch thủ rõ ràng Về sự khác nhau giữa các vấn đề an ninh và phi an ninh, bản ghi nhớ lập luận rằng an

ninh phải mang tính toàn diện, "một vấn đề được coi là vấn đề an ninh khi người ta nhận thấy

nó mang tính chất đe dọa hoặc có khả năng đe dọa rõ ràng trong tương lai đối với lợi ích sống còn hay những giá trị cơ bản của con người, cộng đồng hoặc quốc gia" Như vậy, mặc

dù khái niệm về an ninh toàn diện trong bản ghi nhớ của CSCAP vẫn mang đậm “các yếu tố bản địa” nhưng rõ ràng đã được mở rộng hơn khái niệm của Nhật Bản và ASEAN

Trang 35

Nhìn chung về cách tiếp cận an ninh toàn diện trong các lập luận trên thì an ninh vẫn được coi là an ninh quốc gia gắn liền với chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh của nhà nước

và nhân dân Để đảm bảo an ninh toàn diện, nhà nước vẫn đóng vai trò chủ đạo Tuy nhiên, nhận thức về những vấn đề an ninh phi truyền thống (phi quân sự) như vấn đề môi trường và sinh thái, căng thẳng xung đột sắc tộc và tôn giáo, hoạt động tội phạm xuyên quốc gia, an ninh năng lượng và lương thực, an ninh con người… đã ngày càng tăng lên (mặc dù trong nhiều trường hợp, các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống quan hệ mật thiết với nhau, thậm chí không thể phân biệt được); không chủ trương hình thành liên minh quân sự, bác bỏ chính sách răn đe và can thiệp từ bên ngoài, thúc đẩy các biện pháp xây dựng lòng tin và kiểm soát vũ khí

Như vậy, thông qua việc tìm hiểu, so sánh các khái niệm trên đây cho thấy rõ nhiều khía cạnh của vấn đề an ninh Trong đó, góc độ tiếp cận “phi truyền thống” đề cập đến “an ninh đối với các lợi ích an ninh sống còn và các giá trị cơ bản vượt ra ngoài phạm vi quân sự”, bao gồm an ninh trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường, ngoại giao - đối thoại - hợp tác quốc tế trong xu thế mới… chứ không thuần túy là vấn

đề quân sự và cũng không thể giải quyết được bằng cách “đặt giải pháp quân sự lên trên giải pháp phi quân sự” Trong xu thế mới, để đối phó với những thách thức mới nảy sinh và giải quyết vấn đề an ninh thì tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới không thể chỉ đơn phương hành động mà phải cần đến những biện pháp song phương và đa phương; Sức mạnh quân sự quốc phòng vẫn là tối cần thiết để phòng vệ cho an ninh quốc gia nhưng rõ ràng không thể đạt được an ninh chỉ bằng ưu thế về quân sự Đứng trước hàng loạt các vấn đề an ninh mới, sức mạnh quân sự đã không phải là công cụ chính đáng để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia Tuy nhiên, cũng phải khẳng định rằng, trong nhiều trường hợp các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống quan hệ mật thiết với nhau và nhiều khi không thể phân biệt rạch ròi được

Qua những khái niệm an ninh được trình bày, ngoài các vấn đề có liên quan đến yếu tố quân sự như nội hàm của an ninh truyền thống và các vấn đề khác mới xuất hiện kể từ sau chiến tranh lạnh thuộc về an ninh phi truyền thống, trong đó vấn đề an ninh lương thực đã được đề cập đến như một phần quan trọng của khái niệm “an ninh quốc gia toàn diện” của Nhật Bản theo “Báo cáo về an ninh quốc gia toàn diện” được đệ trình lên chính phủ của Thủ tướng Suzuki năm 1980; như một khía cạnh được quan tâm trong khái niệm “an ninh toàn diện” của ASEAN nói riêng và khu vực Châu Á –Thái Bình Dương nói chung; hay như một

Trang 36

trong bảy “nội dung chủ yếu” của an ninh con người theo quan điểm chính thức của Liên

Hiệp Quốc được ghi nhận trong “Báo cáo phát triển con người” năm 1994

Theo quan điểm của Nhật Bản, vấn đề an ninh lương thực mang tính đặc trưng riêng

và vì mục đích quốc gia – phù hợp với tình hình thực tế của Nhật Bản và chiến lược cũng như chính sách nhằm “đảm bảo nguồn lương thực” phục vụ cho nước Nhật Vì thế, khái niệm an ninh lương thực ở đây mới chỉ mang nghĩa hẹp - đứng trên bình diện quốc gia Với Châu Á – Thái Bình Dương, nhận thức về an ninh lương thực ở mức độ cao hơn, như một khía cạnh phi quân sự – phi truyền thống và trên bình diện khu vực trước tình hình mới Trong khi đó, “an ninh lương thực” theo quan điểm của Liên Hiệp Quốc lại là một lĩnh vực quan trọng trong “an ninh con người”, đây là vấn đề mang tính chất quốc tế cao và có ý nghĩa với toàn nhân loại Thông qua các cách tiếp cận trên có thể thấy, an ninh lương thực có mối quan hệ và ảnh hưởng qua lại với nhiều vấn đề an ninh khác; là vấn đề lớn mang tính quốc gia, khu vực và toàn cầu

1.2.2 An ninh lương thực là gì?

Được xếp vào nhóm tiếp cận phi truyền thống, là một trong những yếu tố của an ninh

toàn diện, có mối liên hệ mật thiết với khái niệm an ninh con người và chỉ thực sự xuất hiện

với ý nghĩa đầy đủ hơn kể từ năm 1994 – trong Báo cáo phát triển con người của Liên Hiệp

Quốc, tuy nhiên khái niệm an ninh lương thực cũng có một quá trình lịch sử hình thành riêng

Đây là một khái niệm linh hoạt, vốn được thể hiện khác nhau trong nhiều định nghĩa của các nghiên cứu và chính sách Trong cả một thập kỷ trước đó, xoay quanh vấn đề an ninh lương thực đã có khoảng 200 định nghĩa trong các bài viết được xuất bản (S Maxwell & M Smith, 1992)19 Vì thế, khái niệm này được diễn giải theo nhiều cách khác nhau Năm 1996, nhà nghiên cứu Simon Maxwell cho rằng bất cứ khi nào khái niệm này được đề cập đến trong tiêu

Trang 37

đề của một nghiên cứu thì nên đưa ra các định nghĩa rõ ràng hoặc ngầm định cho sát với thực

tế 20

Theo các học giả, an ninh lương thực là khái niệm chỉ mới xuất hiện vào giữa những năm 70 trong các thảo luận về tình hình lương thực thế giới và là phản ứng trước cuộc khủng

hoảng lương thực toàn cầu lúc đó Quan tâm ban đầu chủ yếu tập trung các vấn đề cung

lương thực - đảm bảo nguồn cung cấp và ở một mức độ nào đó là ổn định giá cả của nguồn thực phẩm chủ yếu ở cấp độ quốc gia và quốc tế Mối quan ngại về cung của các tổ chức quốc

tế bắt nguồn từ việc thay đổi tổ chức của nền kinh tế lương thực toàn cầu và điều này đã gây

ra khủng hoảng Sau đó đã diễn ra các vòng đàm phán quốc tế dẫn đến việc tổ chức Hội nghị lương thực thế giới năm 1974 và các hệ thống thể chế mới liên quan đến thông tin, nguồn lực

để đảm bảo an toàn lương thực và các diễn đàn thảo luận chính sách

Hội nghị thượng đỉnh lương thực thế giới năm 1974 định nghĩa an ninh lương thực là:

“availability at all times of adequate world food supplies of basic foodstuffs to sustain a steady

expansion of food consumption and to offset fluctuations in production and prices” 21, tạm dịch là “sự sẵn sàng cung cấp đủ cho thế giới vào mọi lúc các sản phẩm lương thực thiết yếu

để duy trì được sự tiêu dùng lương thực tăng thêm đều đặn và bù đắp cho những thay đổi bất thường trong sản xuất và giá cả”

Năm 1983, FAO mở rộng quan điểm này, tính thêm cả việc đảm bảo cho những người

dễ bị tổn thương tiếp cận được với các nguồn cung cấp sẵn có, hàm ý rằng cần phải quan tâm

đến sự cân bằng giữa cầu và cung trong “phương trình” an ninh lương thực: “should be to

ensure that all people at all times have both physical and economic access to the basic food they need” 22, tạm dịch là “đảm bảo cho tất cả mọi người vào mọi thời điểm đều có thể tiếp cận được về cả mặt tự nhiên và kinh tế với các sản phẩm lương thực thiết yếu mà họ cần”

20

Simon Maxwell, Food security: a post-modern perspective, Food Policy, Volume 21, Issue 2, May 1996 (also

published as IDS Working Paper No 9, October 1994), truy cập tại địa chỉ:

21

United Nations, Report of the World Food Conference, Rome 5-16 November 1974, truy cập tại địa chỉ:

http://www.eclac.org/cumbres/3/43/FAORLC-41001WorldFoodConference.doc , ngày truy cập 20/11/2011.

22

FAO, World Food Security: a Reappraisal of the Concepts and Approaches (article 67), Director General’s

Report, Rome, 1983, truy cập tại:

Trang 38

Sau đó, Báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB) năm 1986 với tiêu đề “Đói nghèo” đã tập trung vào tính linh hoạt theo thời gian của mất an ninh lương thực Báo cáo này đã đưa ra

sự phân biệt giữa mất an ninh lương thực kinh niên - gắn liền với các vấn đề về nghèo khổ lâu năm hoặc nghèo khổ cơ cấu và thu nhập thấp khiến người dân không có khả năng tiếp cận cũng như tự sản xuất các sản phẩm lương thực thiết yếu; và mất an ninh lương thực đang chuyển đổi hoặc tạm thời - liên quan đến các giai đoạn bị thiên tai, kinh tế sụp đổ hoặc xung đột gây ra các sức ép lớn dẫn đến mất ổn định về giá cả và sản xuất Sự phân tích này đã được chấp thuận rộng rãi và quan niệm về an ninh lương thực được cụ thể hoá hơn theo nghĩa:

“Food security has to do with access by all people at all times to enough food for an active and healthy life” 23, tạm dịch: “An ninh lương thực phải làm được với sự đảm bảo cho tất cả mọi người vào bất cứ lúc nào cũng tiếp cận được với lượng lương thực đầy đủ cho một cuộc sống khoẻ mạnh và năng động”

Đến giữa những năm 1990, an ninh lương thực được xem là mối quan ngại nghiêm trọng, trải qua nhiều cấp độ từ cấp cá nhân lên đến cấp toàn cầu Đồng thời, vấn đề “tiếp cận” trong an ninh lương thực không chỉ là cung cấp đủ lương thực mà còn bao gồm cả việc cung cấp nguồn thực phẩm cần thiết để con người không bị thiếu đói và suy dinh dưỡng lượng protein Việc mở rộng quan niệm bao gồm các khía cạnh an toàn lương thực, cân bằng dinh dưỡng cũng cho thấy quan ngại về thành phần lương thực, thực phẩm gồm các điều kiện về dinh dưỡng vi mô và vĩ mô cần thiết cho một cuộc sống năng động và khoẻ mạnh Người ta cũng khuyến cáo các hộ gia đình cần đảm bảo cho con em mình có cân bằng dinh dưỡng và thực phẩm, đặc biệt trong giai đoạn phát triển ban đầu Các tổ chức quốc tế liên quan đến các vấn đề về lương thực và y tế như Tổ chức nông lương thế giới (FAO), Tổ chức y tế thế giới (WHO), Chương trình lương thực thế giới (WFP), Viện nghiên cứu và chính sách lương thực thế giới (IFPRI) và nhiều tổ chức khác kêu gọi phát triển nguồn lương thực, thực phẩm cân bằng và đời sống khoẻ mạnh Người ta cũng quan tâm nhiều hơn đến sở thích đối với lương

Trang 39

thực, thực phẩm theo truyền thống văn hoá hoặc xã hội.v.v… Mức độ cụ thể theo từng hoàn cảnh của an ninh lương thực cho thấy rằng khái niệm này không hề đơn giản và tự nó không phải là mục đích mà là một loạt các hành động trung gian nhằm đạt được một đời sống năng động và khoẻ mạnh

Như đã trình bày ở phần đầu, “Báo cáo phát triển con người” của UNDP năm 1994 cổ

vũ cho quan điểm về an ninh con người, bao gồm một loạt các khía cạnh trong đó có an ninh lương thực Quan điểm này cũng liên quan chặt chẽ đến quan điểm về quyền con người trong phát triển đã có ảnh hưởng đến nhiều thảo luận về an ninh lương thực

Tiếp đó, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về lương thực năm 1996 đã đưa ra một định

nghĩa khác đầy đủ ý nghĩa hơn: “Food security, at the individual, household, national,

regional and global levels [is achieved] when all people, at all times, have physical and economic access to sufficient, safe and nutritious food to meet their dietary needs and food preferences for an active and healthy life” 24 , tạm dịch “an ninh lương thực ở các cấp độ cá

nhân, gia đình, quốc gia, khu vực và toàn cầu [được đảm bảo] khi tất cả mọi người, tại mọi thời điểm, đều có thể tiếp cận được về mặt tự nhiên và kinh tế đối với nguồn lương thực đầy

đủ, an toàn và đảm bảo dinh dưỡng, phù hợp với chế độ ăn uống và sở thích của họ nhằm đạt tới một cuộc sống năng động và khoẻ mạnh”

Những định nghĩa sau này của khái niệm an ninh lương thực đã kế thừa và phát triển

cả bề rộng lẫn chiều sâu, cho thấy sự quan tâm nghiên cứu ngày càng kỹ lưỡng hơn đối với vấn đề này Báo cáo về tình trạng mất an ninh lương thực năm 2001 của FAO định nghĩa

rằng: “Food security [is] a situation that exists when all people, at all times, have physical,

social and economic access to sufficient, safe and nutritious food that meets their dietary needs and food preferences for an active and healthy life” 25, tạm dịch “An ninh lương thực là tình trạng khi tất cả mọi người, tại mọi thời điểm, đều tiếp cận được về mặt tự nhiên, xã hội và kinh tế đối với nguồn lương thực đầy đủ, an toàn và đảm bảo dinh dưỡng, phù hợp với chế độ

ăn uống và sở thích của họ nhằm đạt tới một cuộc sống năng động và khoẻ mạnh” Như vậy,

24

FAO, Rome Declaration on World Food Security and World Food Summit Plan of Action, World Food

Summit 13-17 November 1996, Rome - Italy, truy cập tại:

25

FAO, The State of Food Insecurity in the World, Rome, 2011, truy cập tại:

Trang 40

ngoài tự nhiên và kinh tế, FAO đã nhấn mạnh thêm vai trò của yếu tố mang tính xã hội của an

ninh lương thực

Theo định nghĩa đầy đủ nhất về an ninh lương thực của FAO ở trên, có bốn yếu tố cơ

bản ảnh hưởng đến an ninh lương thực, đó là: sự sẵn có, sự tiếp cận, sự sử dụng, sự ổn định

Các yếu tố này được định nghĩa trên thực tế như sau:

* Sẵn có lương thực: đảm bảo có đủ khối lượng lương thực ở một mức độ chất lượng

phù hợp thông qua các nguồn sản xuất trong nước hoặc đầu vào khác như nhập khẩu, hay bao gồm cả viện trợ lương thực

* Tiếp cận lương thực: khía cạnh tiếp cận lương thực của an ninh lương thực liên quan

đến khả năng của các cá nhân tiếp cận được với nguồn tài nguyên và các tài sản sở hữu khác

để có được một lượng lương thực thích hợp với chế độ ăn uống dinh dưỡng “Tài sản sở hữu”

là một loạt hàng hoá mà một người có thể thiết lập được quyền kiểm soát đối với chúng trong bối cảnh luật pháp, chính trị, kinh tế và xã hội của cộng đồng nơi người đó đang sinh sống, bao gồm cả các quyền truyền thống như sử dụng các nguồn tài nguyên chung

* Sử dụng lương thực: tiêu dùng lương thực thông qua các chế độ ăn uống hợp lý, sử

dụng nước sạch, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và vệ sinh y tế để đảm bảo dinh dưỡng khi tất cả các nhu cầu tâm sinh lý được đáp ứng Yếu tố này cho thấy các yếu tố phi lương thực cũng có vai trò quan trọng đối với an ninh lương thực

* Ổn định lương thực: Khía cạnh này hàm ý một dân tộc hoặc một hộ gia đình hoặc

một cá nhân lúc nào cũng phải tiếp cận được với nguồn lương thực phù hợp Những người này không gặp phải rủi ro không tiếp cận được với lương thực do các cú sốc bất thường (như khủng hoảng khí hậu hoặc kinh tế) hoặc các hiện tượng chu kỳ (như mất an ninh lương thực

theo mùa) Tuy nhiên, đáng chú ý nhất là việc xem an ninh lương thực như một hiện tượng

liên quan đến từng cá nhân, tức xem tình trạng dinh dưỡng của các thành viên trong gia đình như mục tiêu cuối cùng Vậy nên, rủi ro thứ nhất là việc không đạt được tình trạng này thoả đáng hoặc tình trạng thoả đáng này bị suy giảm, rủi ro thứ hai phản ánh sự tổn thương của các

cá nhân trong bối cảnh này Các tổn thương có thể xuất hiện như các hiện tượng kinh niên hoặc tạm thời Tuy nhiên, người ta ít quan tâm đến tình trạng mất an ninh lương thực tạm thời

và rủi ro khủng hoảng lương thực Theo WB, nguyên nhân chính của mất an ninh lương thực tạm thời là sự thay đổi hàng năm của giá nông sản quốc tế, nguồn ngoại tệ thu được, tình hình sản xuất lương thực trong nước và thu nhập của các hộ gia đình Các yếu tố này thường liên quan với nhau Còn FAO thì cho rằng, khả năng của người dân sản xuất hoặc mua lương

Ngày đăng: 07/05/2021, 18:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w