Trải qua nhiều năm sinh sống, cho đến nay người Hoa ở Cần Thơ ít nhiều vẫn giữ được các nét phong tục văn hoá truyền thống, có đời sống ngày càng phong phú, ổn định, họ cũng cùng với các
Trang 1ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH
………
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC EURÉKA
LẦN THỨ XIV NĂM 2013
TÊN CÔNG TRÌNH:
LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CHUYÊN NGÀNH: ĐÔNG PHƯƠNG HỌC – DÂN TỘC HỌC
Thực hiện: Trần Thị Thanh (CN)
Lê Thị Hồng Diễm Huỳnh Ngọc Huệ Nguyễn Thị Bé Tư PGS.TS Hoàng Văn Việt hướng dẫn
Mã số công trình:
Trang 2MỤC LỤC
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1
NỘI DUNG CÔNG TRÌNH 2
CHƯƠNG 1: CẦN THƠ – ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA, KINH TẾ - XÃ HỘI 10
1.1.Điều kiện địa lý tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội 10
1.2.Lịch sử hình thành dân tộc Hoa ở thành phố Cần Thơ 14
1.3 Đời sống kinh tế - xã hội và văn hoá của cộng đồng người Hoa 19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI HOA TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ THÀNH PHỐ CẦN THƠ 29
2.1 Chính sách chính quyền nhà nước trong lịch sử dối với người Hoa 29
2.2.Tổ chức hệ thống chính trị địa phương 34
2.3.Sự phân bố đội ngũ cán bộ người Hoa trong hệ thống chính trị tại thành phố Cần Thơ 37
2.4Chất lượng đội ngũ cán bộ người Hoa trong hệ thống chính trị thành phố Cần Thơ 51
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI HOA TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
57
3.1 Cơ sở lý thuyết và thực tiễn về xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số 57
3.2 Cơ sở thực tiễn 60
3.3 Giải pháp và kiến nghị 67
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC 75
Trang 3
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Thành Phố Cần Thơ giữ vị trí chiến lược đối với Đồng bằng sông Cửu Long, sự phát triển kinh tế, nguồn lực… của nó đều có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển chung của vùng Trải qua quá trình lịch sử lâu dài, đây là nơi tập trung nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống, gồm người Khmer, người Hoa, người Chăm, người Tày, người Nùng… Các dân tộc đã sát cánh chung tay góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước, giữ gìn ổn định, phát triển lâu bền
Người Hoa ở Cần Thơ cũng là một bộ phận không nhỏ ở vùng đất này, họ có quá trình hình thành từ rất sớm, đóng góp công sức cho sự nghiệp chung của vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và thành phố Cần Thơ nói riêng Trải qua nhiều năm sinh sống, cho đến nay người Hoa ở Cần Thơ ít nhiều vẫn giữ được các nét phong tục văn hoá truyền thống, có đời sống ngày càng phong phú, ổn định, họ cũng cùng với các dân tộc khác đóng góp vào sự phát triển của thành phố, cụ thể là trở thành một trong những nguồn lực trong bộ máy quản lý của địa phương, với số lượng tham gia vào các cơ quan Nhà nước, các Tổ chức chính trị - xã hội tại thành phố ngày càng đông
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được trong kinh tế, về mặt tiếp cận và tiếp nhận về chính sách dân tộc ở thành phố Cần Thơ vẫn chưa được thực hiện tốt, thiếu sự gần gũi, tiếp xúc giữa cán bộ và cộng đồng dân tộc người Hoa, chưa nhận được sự hài lòng từ phía người dân
Đội ngũ cán bộ người Hoa vẫn còn nhiều điểm yếu kém, chưa phát huy được khả năng và chưa được quan tâm bồi dưỡng, đào tạo hợp lý Nội dung của bài nghiên cứu này là làm rõ thực trạng đội ngũ cán bộ người Hoa tại thành phố Cần Thơ về số lượng, chất lượng cũng như những nhận xét, đánh giá của đồng bào người Hoa đối với cán bộ, cán bộ người Việt đánh giá cán bộ người Hoa và cán bộ người Hoa tự đánh giá
họ Qua đó có thể thấy được các điểm yếu, điểm mạnh để phát huy cũng như sửa chữa, hạn chế, nâng cao hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước ở địa phương
Bài nghiên cứu cũng đưa ra các hướng giải pháp nhằm nâng cao đời sống cho người Hoa, vì tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo của người Hoa tại thành phố Cần Thơ không nhiều nhưng để phát triển ổn định, lâu dài, cần có các chính sách, biện pháp nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của họ, để xã hội, cộng đồng có sự phát triển tương đối bình đẳng, sẽ dễ dàng hơn trong quản lý Việc chăm lo, phát triển về mặt giáo dục cho đồng bào người Hoa cũng hết sức quan trọng, cần thiết phải nâng cao trình độ học vấn, nâng cao hiểu biết để giúp cho công tác tuyên truyền, vận động thuận lợi hơn, cũng như khi trình độ được nâng cao thì việc phát triển kinh tế, tiếp thu khoa học kỹ thuật, vận dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất, kinh doanh đat hiệu quả hơn Chính vì vậy cần có sự điều chỉnh và phân bố cũng như có những phương thức tiếp cận mới của đội ngũ cán bộ với cộng đồng người dân tộc thiểu số nói chung và người Hoa nói riêng
Trang 4NỘI DUNG CÔNG TRÌNH
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Cần Thơ là thành phốtrực thuộc trung ương có diện tích tự nhiên là 1.389,59 km2 và dân số là 1.209.192 người (năm 2011), được biết đến như “Tây Đô”( thủ đô của miền Tây) của một thời rất xa Sau hơn 120 năm phát triển, thành phố là trung tâm quan trọng nhất của vùng Đồng bằng sông Cửu Long về kinh tế văn hóa, khoa học và kĩ thuật Người Hoa là một trong ba thành phần dân tộc chủ yếu tại thành phố Cần Thơ, đã có những đóng góp quan trọng trong các hoạt động kinh tế thương mại – dịch vụ tại vùng đất này Theo các nguồn tư liệu lịch sử, người Hoacó mặt ở Nam Bộ cách đây đã hơn 300 năm, cùng với các dân tộc khác ở thành phố Cần
Thơ đã đóng góp không ít cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước
Trong các ban ngành đoàn thể tại thành phố Cần Thơ, một bộ phận người Hoa
đã tham gia vào các tổ chức Đảng, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc khẳng định đường lối nhất quán của Đảng, Nhà nước về vấn
đề dân tộc, công tác dân tộc và đại đoàn kết toàn dân Như các dân tộc khác, các cán
bộ người Hoa được sử dụng dựa trên cơ sở năng lực và phẩm chất đạo đức của mình Theo đó những người có đủ tiêu chuẩn được ứng cử, đề cử vào các cơ quan dân cử, vào ban chấp hành các đoàn thể Nhân dân các cấp và tham gia vào bộ máy quản lý nhà nước các cấp, được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Việt Nam theo quy định, điều lệ Đảng Như vậy, đội ngũ cán bộ người Hoa đã góp phần không nhỏ vào quá trình
hoàn thiện bộ máy nhà nước
Theo đà phát triển và đổi mới của đất nước, theo định hướng của Đảng, nhà nước và chính phủ, đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ vừa đảm bảo chất lượng, vừa đông đảo về số lượng, đồng thời có sự đa dạng về thành phần dân tộc, cùng chung tay đóng góp, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước Tuy nhiên, trong sự chuyển đổi đó đã có sự bộc lộ những điểm thuận lợi và những điểm yếu của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số nói chung, cũng như cán bộ người Hoa nói riêng Vì vậy, việc nghiên cứu về đội ngũ cán bộ nói chung là hết sức cần thiết, cần được quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu
Trang 52 Tổng quan tài liệu
Từ lâu việc nghiên cứu về các dân tộc ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu của nhiều nhà khoa học, cả trong và ngoài nước Đã có nhiều cuốn sách, nhiều bài viết đã được công bố, nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện Việc nghiên cứu, tìm hiểu đó diễn ra mạnh mẽ ở tất cả các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long, đặc biệt là những vùng có nhiều dân tộc sinh sống như Sóc Trăng, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cần Thơ…Trong tổng thể đó thì đồng bào người Hoa cũng giống như cộng đồng các dân tộc thiểu số khác cũng là một đối tượng nghiên cứu dành được sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà khoa học Tuy nhiên các vấn
đề mà các tác giả quan tâm chủ yếu là liên quan đến đời sống văn hoá, kinh tế, xã hội của những cộng đồng này và các mối quan hệ của họ với các nhóm dân cư khác Hầu như vẫn chưa có một công trình cụ thể nào đề cập một cách hệ thống và sâu sắc đến khía cạnh nhân học chính trị tộc người – chính là việc sử dụng đội ngũ cán bộ người Hoa và sự tham gia của họ vào các hoạt động chính trị và quan hệ xã hội
Nói về tình hình nghiên cứu cộng đồng người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long,
có thể kể đến giai đoạn trước và sau năm 1975, đã có những công trình nghiên cứu được công bố, có sự đóng góp của các tác giả trong và ngoài nước Các tác giả người Pháp, Mỹ và nước ngoài viết về người Hoa tại đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung rất ít Các vấn đề mà họ đề cập đến chỉ mang tính phổ thông, chủ yếu giới thiệu và mô
tả về văn hoá tộc người
Người Pháp đã sớm chú ý đến việc tìm hiểu các dân tộc cư trú ở Nam Bộ, trong
đó có cộng đồng người Hoa Những năm đầu thế kỉ XX chính quyền thuộc địa Pháp đã thực hiện các chuyên khảo địa phương tại các tỉnh Nam Kỳ Nội dung chuyên khảo chủ yếu đề cập đến các vấn đề lịch sử, ruộng đất, kinh tế…trong đó phần ghi chép về cộng đồng người Hoa, người Khmer, người Chăm…chiếm tỉ lệ đáng kể Các tác giả người Pháp Tsai Mau Kuay, C Barrault, P Gouour,…đã dành nhiều bài viết giới thiệu
về người nông dân ở miền Nam Việt Nam, trong đó có người Hoa
Trước năm 1975, các tác giả người Việt chưa có điền kiện nghiên cứu về cộng đồng các dân tộc ở Nam bộ nói chung và người Hoa nói riêng Có một số công trình đã
Trang 6được công bố về những nghiên cứu về người Hoa như: Khương Hữu Điểu với nghiên cứu “Người Việt gốc Hoa và nền kinh tế Việt Nam” (T/c Cấp Tiến, Sài Gòn, xuất bản năm 1970), Tsai Mau Kuay viết “ Người Hoa ở Nam Bộ”, xuất bản năm 1968, viết về
những vấn đề chung của người Hoa tại Nam Bộ Nguyễn Văn Huy viết “Người Hoa tại Việt Nam”, Nxb NBC, Paris, 1973
Các công trình nghiên cứu trên cũng chỉ chú ý tới các khía cạnh về văn hoá, kinh tế và đời sống của cộng đồng người Hoa là chủ yếu
Từ sau năm 1975, việc nghiên cứu về người Hoa ở đồng bằng Sông Cửu Long
có nhiều chuyển biến mới, có nhiều điều kiện khảo cứu hơn Có nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện, nội dung phong phú và toàn diện hơn
Nghiên cứu về người Hoa có các tác giả của nhiều cuốn sách,các luận văn, luận
án, các chương trình nghiên cứu trọng điểm như: Phan An, Phan Xuân Biên, Nguyễn Duy Bính, Ngô Văn Lệ, Trần Hồng Liên, Châu Thị Hải, Huỳnh Ngọc Đáng, Nguyễn Đệ…đã bao quát khá sâu sắc đến đời sống sinh hoạt văn hoá, kinh tế, xã hội của cộng đồng cư dân ngươi Hoa ở Đồng bằng sông Cửu Long, đến chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người Hoa,…
Nghiên cứu các vấn đề chung về người Hoa có các công trình tiêu biểu sau:
“Người Hoa ở Nam Bộ” do PGS.TS Phan An xuất bản năm 2005, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội Nguyễn Cẩm Thúy viết “Định cư của người Hoa trên đất Nam bộ (từ thế
kỷ 17 đến năm 1945)”, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội, 2000 “Người Hoa ở Nam Bộ”
của tác giả Ngô Văn Lệ - Nguyễn Duy Bính, nhà xuất bản Đại Học Quốc gia thành
phố Hồ Chí Minh, 2005 Châu Hồng Liên (Châu Thị Hải), Các loại hình liên kết khác nhau trong cộng đồng người Hoa ở Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XVII đến nửa đầu thế
kỷ XX, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2 – 1991 Sơn Nam với bài viết “Người Hoa” in trên Tạp chí Xưa và nay, Nxb Trẻ, 1998 Tác giả Nguyễn Đức Hiệp với bài viết: “ Vài nét về lịch sử người Minh Hương và người Hoa ở Nam Bộ” đăng vào 06/2011 trên báo
điện tử www.trungbinh.net
Các khía cạnh về đời sống văn hoá, xã hội, kinh tế, chính sách,…của cồng đồng
người Hoa cũng đạt được các kết quả như: Công trình “Hôn nhân và gia đình của
Trang 7người Hoa ở Nam Bộ”, luận án tiến sĩ Lịch sử, Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí
Minh của Nguyễn Duy Bính, nghiên cứu về lĩnh vực đời sống văn hoá của người Hoa
ở Nam bộ Về kinh tế có tác giả Châu Thị Hải viết về “Vị trí kinh tế người Hoa ở các nước ASEAN” Nghiên cứu Đông Nam Á, xuất bản năm 1998 Tác giả Trần Khánh với : Chính sách của nhà nước phong kiến Việt Nam đối với dân Trung Hoa di cư,
Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6, 2000
Về chính sách của nhà nước đối với cộng đồng người Hoa có các công trình:
Chính sách của chính quyền Đàng Trong đối với người Hoa (từ năm 1600 đến năm
1777, Huỳnh Ngọc Đáng, Luận văn Thạc sĩ khoa học Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Thành phố Hồ Chí Minh, 1999 Thạch Phương viết “ Sự hình thành cộng đồng người Hoa di cư thời các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong thế kỉ XVII- XVIII”, Kỷ yếu Hội thảo Nam Bộ và Nam Trung Bộ – Những vấn đề lịch sử thế kỉ
XVII- XIX, 2002
Các khía cạnh về đời sống xã hội, văn hoá, kinh tế, tộc người hầu như đã được phản ánh tương đối qua các công trình nghiên cứu, tuy nhiên có một khía cạnh quan trọng liên quan đến sự tham gia của đại diện dân tộc người Hoa vào các hoạt động quản lí xã hội trong hệ thống chính trị của Đảng và Nhà Nước rất ít được quan tâm nghiên cứu
Tại thành phố Cần Thơ, vấn đề này cho đến nay vẫn chưa có một công trình cụ thể nào nghiên cứu, chỉ có trong các tham luận, các văn kiện thông qua các Đại Hội Đại biểu các dân tộc thiểu số có nhắc đến tình hình đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người Hoa trong hệ thống chính trị thành phố nhưng vẫn mang tính chất sơ sài, chỉ là các văn bản báo cáo đơn thuần, và những thông tin này chỉ mang tính chất nội
bộ địa phương, chưa được xác nhận trên diễn đàn khoa học Gần đây nhất có đề tài nghiên cứu cấp trọng điểm quốc gia đã hoàn thành của PGS.TS Hoàng Văn Việt
“ Thực trạng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số và luận cứ khoa học cho việc xây dựng chính sách cán bộ dân tộc thiểu số ở Đồng bằng sông Cửu Long” nghiên cứu trên tổng
thể các vấn đề về cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nhưng không đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề của cán bộ người Hoa ở thành phố Cần Thơ
Trang 83 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Cung cấp thông tin về thực trạng đội ngũ cán bộ người Hoa, góp phần thể hiện đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước về chính sách dân tộc
- Đưa ra những kiến nghị góp phần vào việc nâng cao hiệu quả của đội ngũ cán
bộ người Hoa nói riêng và các cán bộ dân tộc thiểu số nói chung tại thành phố Cần Thơ
- Tăng thêm nguồn tài liệu về người Hoa ở thành phố Cần Thơ
3.2 Nhiệm vụ đề tài
Đề tài được thực hiện để giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những đặc điểm về đời sống vật chất, tinh thần của đội ngũ cán bộ người Hoa cũng như của cộng đồng người Hoa tại thành phố Cần Thơ
- Đi sâu tìm hiểu đội ngũ cán bộ người Hoa trong hệ thống chính trị thành phố Cần Thơ về số lượng, chất lượng,…
- Đưa ra những kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả của đội ngũ cán bộ người Hoa phù hợp với tình hình phát triển của địa phương
4 Cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận:
Nghiên cứu đề tài dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mácxít Lêninít, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về đội ngũ cán bộ, quan điểm của Đảng trong việc sử dụng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong một xã hội đa tộc người, nhiều thành phần dân tộc cũng như quan điểm về công tác dân tộc và Đại đoàn kết dân tộc
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp lịch sử, logic: dựa vào những nghiên cứu lịch sử để biết được
quá trình hình thành tộc người Hoa ở thành phố Cần Thơ như thế nào và nó gắn với quá trình đấu tranh, bảo vệ và xây dựng Đất nước để hình thành nên vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và vùng đất Cần Thơ nói riêng Cộng đồng người Hoa tại
Trang 9thành phố Cần Thơ là một bộ phận không thể tách rời công đồng các dân tộc tại đây, trải qua các thời kỳ khác nhau trong lịch sử, cho đến nay điều đó càng được thể hiện rõ ràng hơn Việc nghiên cứu đội ngũ cán bộ người Hoa trong hệ thống chính trị phải được làm rõ trong một quá trình liên tục
+ Phương pháp phân tích hệ thống, thu thập tài liệu: thu thập các tài liệu
nghiên cứu về người Hoa, các công trình, số liệu về đội ngũ cán bộ ở thành phố Cần Thơ, tiến hành phân tích, xử lý thông tin
+ Phương pháp nghiên cứu Xã hội học:
- Phương pháp định tính: phỏng vấn, tiếp cận đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp định lượng: điều tra bằng bảng hỏi cho đối tượng cán bộ cán bộ người Hoa và cán bộ các dân tộc khác tại thành phố Cần Thơ, kết hợp với điều tra bảng hỏi đối với cán bộ người Việt để khảo sát về chất lượng, đánh giá lẫn
nhau giữa các cán bộ người Việt và cán bộ dân tộc
Đề tài tập trung nghiên đội ngũ cán bộ trong các ban ngành, đoàn thể trong địa bàn thành phố Cần Thơ trong giai đoạn hiện nay, gồm các quận, huyện sau:
- Quận Ninh Kiều
- Quận Cái Răng
- Quận Bình Thủy
- Quận Ô Môn
- Quận Thốt Nốt
- Huyện Phong Điền
- Huyện Thới Lai
- Huyện Cờ Đỏ
- Huyện Vĩnh Thạnh
Trang 10Chủ yếu thực hiện khảo sát ở quận Ninh Kiều – thành phố Cần Thơ, đối với các quận huyện khác nghiên cứu thông qua các số liệu và thông tin địa phương cung cấp
Việc nghiên cứu được thực hiện trên các địa bàn trên với các khách thể nghiên cứu sau:
- Các cơ quan Đảng ( Ban tổ chức, Ban tuyên giáo, Ban kiểm tra, )
- Các cơ quan Nhà nước ( Ban dân tộc – Tôn giáo,Sở Nội Vụ,…)
- Các trường chính trị, các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công nhân viên
chức
- Các tổ chức chính trị - xã hội ( Mặt trận Tổ Quốc, Hội Liên Hiệp Phụ Nữ,
Đoàn Thanh Niên Cộng Sản, Hội Nông Dân, Hội Cựu Chiến Binh,…)
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các cán bộ, công nhân viên chức nói chung
và các cán bộ người dân tộc thiểu số nói riêng, cụ thể là cán bộ người Hoa đang công tác trong các cơ quan Đảng, cơ quan Nhà Nước và các tổ chức chính trị - xã hội nêu trên
5 Kết quả nghiên cứu
Ngoài phần Mở đầu và kết luận nội dung đề tài có 3 chương:
Chương 1- Cần Thơ – Vùng đất đa dân tộc, đa văn hoá
Nội dung của chương này là khái quát các đặc điểm về điều kiện địa lý tựnhiên
và kinh tế xã hội của thành phố Cần Thơ để thể hiện sự đa dạng về văn hoá do vùng đất có nhiều dân tộc cùng sinh sống Vấn đề thứ 2 là khái quát về lịch sử hình thành và đời sống kinh tế - xã hội, văn hoá của cộng đồng ngườiHoa tại thành phố Cần Thơ Điều đó thể hiện những mặt thuận lợi cũng như những khó khăn nhất định trong việc quản lý và xây dựng, phát triển thành phố trong giai đoạn mới
Chương 2- Thực trạng đội ngũ cán bộ thiểu số trong hệ thống chính trị địa phương ở Đồng bằng Sông Cửu Long
Trang 11Nội dung của chương này đề cập đến các chính sách của chính quyền nhà nước đối với cán bộ người Hoa qua các thời kỳ lịch sử, tìm hiểu về tổ chức chính trị địa phương và thực trạng đội ngũ cán bộ người Hoa trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội tại thành phố Cần Thơ
Chương 3 - Xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ người Hoa tại thành phố Cần Thơ
Nội dung của chương 3 là chỉ ra những vấn đề liên quan đến đội ngũ cán bộ người Hoa, trình bày những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn trong việc xây dựng và nâng cao hiệu quả đội ngũ cán bộ người Hoa đồng thời đưa ra những kiến nghị cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ người Hoa trong hệ thống chính trị thành phố Cần Thơ
Trang 12CHƯƠNG 1: CẦN THƠ – ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ ĐẶC ĐIỂM
VĂN HÓA, KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội
1.1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên
Thành phố Cần Thơ là đô thị trực thuộc Trung ương, nằm ở cửa ngõ của vùng
hạ lưu sông Mê Kông, là trung tâm kinh tế, văn hóa, đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc tế của đồng bằng sông Cửu Long cũng như của cả nước Phía Bắc Cần Thơ giáp An Giang, phía Nam giáp Hậu Giang, phía Tây giáp Kiên Giang, phía Đông giáp Vĩnh Long và Đồng Tháp với diện tích tự nhiên 1.390,0 km2 (số liệu năm 2003), dân số năm 2005 là 1.135,2 nghìn người, mật độ 492 người/km2.1
Cần Thơ được chia thành 5 quận (Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn, Thốt Nốt) và 4 huyện (Phong Điền, Cờ Đỏ, Thới Lai, Vĩnh Thạnh) với tổng số 4 thị trấn, 30 phường và 34 xã
Khí hậu: Cần Thơ có khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt Mùa mưa từ
tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình trong năm là 27 độ C, lượng mưa trung bình là 1.500 – 1.800 mm/năm, tổng số giờ nắng trong năm là 2.300 – 2.500 giờ, độ ẩm trung bình đạt 83%
Thủy văn: Cần Thơ nằm ở khu vực bồi tụ phù sa nhiều năm của sông Mê Kông,
có địa hình đặc trưng cho dạng địa hình đồng bằng Nơi đây có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt Trong đó sông Hậu là con sông lớn nhất với tổng chiều dài chảy qua thành phố là 65 km, sau đó là sông Cái (20 km) và sông Cần Thơ (16 km) Hệ thống sông và kênh rạch dày đặc cho nước ngọt suốt 2 mùa mưa nắng, tạo điều kiện cho nhà nông làm thủy lợi và cải tạo đất
Tài nguyên thiên nhiên:
1Số liệu trích từ báo cáo Truyền thống cách mạng người Hoa của Cần Thơ qua các thời kỳ lần thứ
V năm 2011- Ban dân tộc thành phố Cần Thơ.
Trang 13Tài nguyên đất: Cần Thơ có nguồn tài nguyên đất đai màu mỡ, nhất là khu vực phù sa ngọt được bồi đắp thường xuyên, thích hợp cho canh tác lúa, cây hoa màu, cây lương thực, tạo điều kiện để Cần Thơ phát triển nền nông nghiệp theo hướng toàn diện
Tài nguyên khoáng sản của Cần Thơ không nhiều, chủ yếu là sét (gạch, ngói), sét dẻo, than bùn và cát sông
Tài nguyên sinh vật: thảm thực vật của Cần Thơ tập trung trên đất phù sa ngọt, gồm các loại cỏ, rong tảo, trâm bầu, dừa nước, rau má, rau dền lửa, các loại bèo, rong đuôi chồn, bình bát…Trên vùng đất phèn có các loài tràm, chà là nước, mây nước, điên điển, sen, súng… Về động vật, trên cạn có gà nước, le le, trích nước, giẻ giun, trăn, rắn, rùa… Dưới nước có các loài cá như cá lóc, cá mè, cá lăng, cá sặc rằn, cá trê,
cá bống, cá linh, cá ba sa, cá chép, cá đuống, tôm càng xanh, tép bạc, tép cỏ, tép đất,
Cần Thơ nằm ở vị trí trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long, mang những đặc trưng cơ bản về điều kiện tự nhiên của cả vùng sông Cửu Long như địa hình bằng phẳng, đất đai màu mỡ, hệ thống kênh rạch dày đặc, tạo điều kiện cho nơi này phát triển nền kinh tế toàn diện Thêm vào đó, thành phố Cần Thơ chính là đầu mối giao thông quan trọng, là trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị của vùng Đồng bằng sông Cửu Long Những điều kiện thuận lợi cơ bản về tự nhiên là ưu thế để Cần Thơ phát triển nền kinh tế cũng như văn hoá xã hội
1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Thành phố Cần Thơ, đô thị loại I trực thuộc trung ương là một trong 4 tỉnh thành đồng bằng sông Cửu Long thuộc vùng kinh tế trọng điểm của quốc gia Với vị trí trung tâm của toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long, thành phố có nhiều lợi thế để phát triển trong sự liên kết với các khu vực, vùng miền trong cả nước
Thành phố Cần Thơ, một đô thị đặc trưng vùng sông nước với hệ thống sông rạch đa dạng, đan xen với các khu vực sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và đô thị Cùng với việc xây dựng hoàn thiện các hệ thồng hạ tầng đối nội và đối ngoại, đã từng bước kết nối đô thị Cần Thơ với các khu vực nông thôn, các đô thị lớn, các vùng miền
và quốc tế
Trang 14Cần Thơ có thế mạnh về thương mại du lịch, giáo dục đào tạo, hệ thống công trình phúc lợi xã hội, nông nghiệp và du lịch sinh thái
Tăng trưởng GDP của Cần Thơ trong 5 năm qua luôn duy trì ở mức độ cao và
ổn định trong khoảng 15,12% Thu nhập bình quân đầu người năm 2009 đạt 1,957 USD/năm
- Thương mại, dịch vụ:
Năm 2011 vừa qua tuy có gặp nhiều khó khăn nhưng thương mại thành phố Cần Thơ vẫn đạt được nhiều thành tựu đáng kể và đạt được tăng trưởng cao Theo Sở Công thương thành phố Cần Thơ, năm 2011 giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố dù chỉ đạt 98,8% kế hoạch năm nhưng đã tăng hơn 15,9% so với năm 2010; tổng kim ngạch xuất khẩu và doanh thu dịch vụ thu ngoại tệ năm 2011 đạt 1,3 tỉ USD; vượt 24% kế hoạch năm và tăng gần 16% so với năm trước; tổng mức hàng hóa bán ra tăng 18,3% và tổng mức hàng hóa bán lẻ tăng hơn 20% so với năm trước Thành phố tiếp tục duy trì xu hướng xuất siêu, với kim ngạch xuất siêu năm 2011 đạt 843,4 triệu USD Năm qua, cơ sở hạ tầng thương mại của thành phố tiếp tục được đầu tư nâng cấp
và phát triển; công tác quản lý thị trường và giúp doanh nghiệp kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc được các ngành chức năng quan tâm, tạo an tâm cho người tiêu dùng và thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc lưu thông hàng hóa, phát triển sản xuất kinh doanh…
- Phát triển công nghiệp:
Mở rộng và phát triển các khu công nghiệp ven sông Hậu, phấn đấu lấp đầy khu công nghiệp Trà Nóc 315 ha, khu công nghiệp Hưng Phú 575 ha, khu công nghiệp Thốt Nốt 150 ha, sẽ thu hút 200.250 công nhân lao động thường xuyên Đặc thù của Cần Thơ nói riêng và đồng bằng sông Cửu Long nói chung có những ưu thế để phát triển các ngành nhiều nhân lực như chế biến nông thủy sản, may mặc, … từ đó tạo tích lũy để tiến lên công nghệ điện tử, công nghệ cao Nghiên cứu mô hình công nghiệp đa chức năng ở khu vực phía Tây Bắc trung tâm thành phố, ven sông Hậu tại phường Phước Thới và phường Thới Long quận Ô Môn với mô hình như là khu đô thị tổng
Trang 15hợp, trong đó có công nghệ cao, dịch vụ thương mại, viện nghiên cứu, nhà ở, vui chơi giải trí, …
Phát triển hạ tầng tại Thành phố Cần Thơ cần phải đặt trong quan hệ vùng, cả nước và quốc tế Thúc đẩy các thành phần kinh tế tham gia đầu tư cũng như tranh thủ
sự hỗ trợ của Chính phủ, các bộ ngành trung ương, các tổ chức quốc tế đầu tư hạ tầng
kĩ thuật, hạ tầng xã hội như: nhanh chóng mở rộng sân bay Trà Nóc thành sân bay quốc tế, phải có đường bộ, đường sắt, đường thuy nối liền khu vực và cả nước, sớm hoàn thành xây dựng cảng Cái Cui thành cảng quốc tế, hoàn thành đưa vào sử dụng bệnh viện đa khoa cấp vùng, mở rộng trường đại học Cần Thơ, đầu tư xây dựng đại học Y dược và các điểm trường chuyên ngành, các viện nghiên cứu giống nông nghiệp, khoa học công nghệ, phát triển các dịch vụ thương mại
- Đời sống văn hóa, giáo dục, xã hội:
Tổng số lao động xã hội của thành phố là 696.000 người; trong đó lao động trong lĩnh vực công nghiệp là 44.599 người, dịch vụ 295.870 người, nông nghiệp 355.530 người Cơ cấu lao động của thành phố Cần Thơ chưa phản ánh được cơ cấu lao động của thành phố là đô thị trên 60% lao động phi nông nghiệp Lao động dịch vụ tại các quận nội thành chiếm 62,89% là quá cao phản ánh đúng thực tế thành phần phi chính quy chiếm tỉ lệ cao trong các đô thị Việt Nam nói chung và các nước đang phát triển nói riêng
Trongquá trình phát triển kinh tế xã hội, thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ, các dòng di dân từ nông thôn ra thành thị tìm việc, nhưng do thiếu trình độ tri thức và tay nghề nên tìm việc làm khó khăn Vấn đề thất nghiệp, sự nghèo túng có tác động tiêu cực đến chất lượng sống ở đô thị Theo thống kê, 14.000 đến 16.000 lao động trong các khu công nghiệp Trà Nóc thì có đến 2/3 chưa có nhà ở, phải thuê mướn chỗ ở tạm bợ, trong khu vực nội ô có khoảng 19.000 hộ nghèo về cơ sở hạ tầng đô thị, chiếm 27% dân số thành thị
Theo số liệu thống kê của Ban Dân tộc thành phố Cần Thơ tính đến tháng 11 năm 2011, dân số chung của thành phố Cần Thơ là 1.188.435 người, trong đó các dân tộc thiểu số là 36.133 người, chiếm 3,04% Đây là nơi tập trung các dân tộc ít người
Trang 16như Chăm, Hoa, Khmer, Mường, Dao, Tày, Nùng, Thái, Chăm, cùng với cộng đồng người Kinh chung sống và có mối quan hệ hài hoà, hợp tác với nhau
1.2 Lịch sử hình thành dân tộc Hoa ở thành phố Cần Thơ
Người Trung Quốc bắt đầu di cư vào Việt Nam kể từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên Trong 2 thiên niên kỷ kể từ đó, nhiều làn sóng người Trung Quốc, gồm lính, quan, dân, tội phạm đã đến định cư tại Việt Nam Nhiều thế hệ người Trung Quốc định cư tại Việt Nam đã có quan hệ hợp hôn với người Việt bản xứ và con cháu họ trở thành người Việt Nam Trải qua nhiều thế kỉ, người Hoa đã xuất hiện trên khắp ba miền của nước ta, tuy nhiên, những người Hoa di cư đến miền Bắc chủ yếu là quan lại
và binh lính của các đội quân xâm lược nhiều hơn là thương nhân đến buôn bán (ngoại trừ một bộ phận người Hoa ở Phố Hiến, Thăng Long), do vậy ở miền Bắc nước ta, những cộng đồng người Hoa thường nhỏ lẻ, không có quy mô lớn và tiêu biểu như ở
miền Trung và miền Nam
Vào cuối thế kỷ XVII, tại Trung Quốc, sự sụp đổ của nhà Minh dẫn đến làn sóng người Hoa trung thành với nhà Minh và không thần phục nhà Thanh bỏ quê hương di dân sang vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.Trên vùng đất Nam bộ Việt Nam đã hình thành ba trung tâm tụ cư của người Hoa.2
Trung tâm tụ cư đầu tiên của người Hoa là vùng Biên Hòa - Sài Gòn, với nòng cốt là nhóm di dân của Trần Thượng Xuyên.3Năm Kỷ Mùi 1679, Tổng binh thành Long Môn tỉnh Quảng Tây tên là Dương Ngạn Địch, Phó tướng Huỳnh Tấn (Hoàng Tiến) và Tổng binh Châu Cao, Châu Lôi và Châu Liêm tỉnh Quảng Đông là Trần Thượng Xuyên, Phó tướng Trần An Bình cử binh chống đánh nhà Thanh nhằm khôi phục nhà Minh (bị nhà Thanh tiêu diệt hoàn toàn vào năm 1766) không địch nổi, hai Tổng binh đem tướng sỹ xuống thuyền chạy sang hải phận nước Nam, ban đầu cầu cứu Chúa Trịnh, sau đó dẫn tuỳ tùng quân lính theo đường thuỷ đến Đà Nẵng đầu hàng Chúa Nguyễn và xin Chúa Nguyễn nhận làm dân Việt Chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần cho họ vào miền Nam khai khẩn đất hoang Dương Ngạn
Trang 17Địch và Huỳnh Tấn theo dòng sông Cửu Long cắm trại ở Định Tường (Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang), Trần Thượng Xuyên vào cửa Cần Giờ ngược dòng sông Đồng Nai cắm trại ở đất Ban Lân Cù Lao Phố (Biên Hòa), và Đông Phố (Gia Định) chuyên
lo việc thương mại và canh nông4 Những cộng đồng người Hoa này được gọi là người Minh Hương Chữ "hương" ban đầu dùng chữ 香 có nghĩa là "thơm" khi kết hợp với chữ Minh 明 có nghĩa là hương hỏa nhà Minh (明香) , đến năm 1827 thì vua Minh
Mạng cho đổi chữ Hương 香 sang chữ Hương 鄉 nghĩa là "làng" để tránh đụng chạm với nhà Thanh, từ đó Minh Hương (明鄉) có thể hiểu là "làng của người Minh" và cũng có thể hiểu là "làng sáng sủa".Năm 1698, ở vùng Phiên Trấn - Bến Nghé - Sài Gòn đã hình thành nên làng Minh Hương ở Gia Thạnh, Chợ Lớn cũ
Trung tâm tụ cư thứ hai củangười Hoa là vùng nằm từ bờ Bắc sông Tiền và sông Hậu mà tập trung là ở Mỹ Tho và hướng về phía Tây Bắc với các tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long, Khởi đầu trung tâm này là nhóm người Hoa của Dương Ngạn Địch và Hoàng Tiến chỉ huy tách ra từ đoàn di dân 3.000 người cùng Trần Thượng Xuyên đến Việt Nam vào năm 16795
Trung tâm tụ cư thứ ba củangười Hoa là khu vực Hà Tiên và phía Tây sông Hậu6 Nhóm người Hoa đầu tiên đến vùng đất Hà Tiên do sự dẫn dắt của Mạc Cửu, một thương nhân Quảng Đông.Năm 1671, Mạc Cửu và gia đình đến vùng đất Mang Khảm (nay là Hà Tiên), khi đó vẫn thuộc quyền kiểm soát của vương quốc Khmer Mạc Cửu đã mở rộng quyền kiểm soát ra các vùng lân cận, và quy thuận chúa Nguyễn
Từ trung tâm ban đầu đó, người Hoa tiếp tục nhập cư và mở rộng khu vực cư trú ra hầu hết các vùng đất Nam bộ Có thể xem Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch, Mạc Cửu và những lớp di dân người Hoa đến Nam trong khoảng cuối thế kỷ XVII - XVIII - là những thế hệ người Hoa đầu tiên trên đất Nam bộ Những thế hệ di dân người Hoa đầu tiên này rõ ràng là những người tiên phong, dũng cảm và ít nhiều
Trang 18mạo hiểm khi lựa chọn vùng đất định cư ở Nam Bộ vào thời điểm lịch sử lúc đương thời
Cũng như người Hoa ở các nước Đông Nam Á khác, người Hoa đến Việt Nam trải qua một quá trình sinh sống và buôn bán lâu dài, họ đã lập nên những làng, những phố của mình, hình thành nên những cộng đồng người Hoa ổn định và phát triển, trở thành một bộ phận cư dân của cộng đồng dân tộc Việt
Dưới thời Gia Long tổ chức xã hội của người Hoa gồm 4 bang Đến thời Tự Đức điều chỉnh thành 7 bang Từ đời Hàm Nghi về sau, dựa vào cộng đồng địa lý, cộng đồng ngôn ngữ đã cải tổ, sắp xếp lại còn 5 bang gồm: Quảng Đông, Triều Châu, Phước Kiến, Hẹ và Hải Nam
Hầu hết họ là những người lao động nghèo khổ bị áp bức hay những binh sĩ trung thành với nhà Minh tránh sự đàn áp của triều đình Mãn Thanh di cư tìm vùng đất mới sinh sống
Vùng đất Cần Thơ về mặt địa chất được hình thành cách nay khoảng 2000 –
2500 năm cùng với sự hình thành của đồng bằng châu thổ sông Cửu Long Sau giai đoạn phát triển rực rỡ của vương quốc Phù Nam và văn hóa Óc Eo kéo dài 6 thế kỷ đầu Công nguyên, do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt và những biến động địa lý khắc nghiệt thời đó, vùng đồng bằng này trở nên hoang vu, dân cư thưa thớt trong một thời gian dài.Đến thế kỷ XVI, XVII, khi các tập đoàn lưu dân kéo đến khai khẩn, vùng đất phương Nam mới thực sự bước sang một tiến trình lịch sử mới với một mô thức văn hóa khác7
Trong tiến trình đó, Cần Thơ xưa là “lõm” đất chẳng những được khai phá có phần muộn màng so với miệt trên Đồng Nai - Sài Gòn mà cả với miệt dưới (Hà Tiên)
Cuối thế kỷ XVII, Mạc Cửu vốn là người Châu Lôi, tỉnh Quảng Đông – Trung Quốc không thần phục nhà Thanh, cùng tùy tùng và dân cư theo đường biển kéo vào miệt Hà Tiên giáp xứ Chân Lạp (Campuchia) mở vùng đất mới,khai khẩn, lập nghiệp Ông “Chiêu mộ dân phiêu tán về Hà Tiên, Phú Quốc, Lũng Kỳ, Cần Bột, Vũng Thơm,
7 http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/lich-su-hinh-thanh-thanh-pho-can-tho.232440.html
Trang 19
Rạch Giá, Cà Mau lập làm 7 xã thôn…” Lúc đầu ông Mạc Cửu xin thần phục vương quốc Chân Lạp, nhưng sau này bị quân Xiêm đánh phá liên tiếp mà triều đình Chân Lạp thì không đủ sức che chở, nên ông quyết định sai thuộc hạ là Trương Cầu, Lý Xá
đệ biểu văn trần tình đến kinh đô Phú Xuân, xin dâng bảy xã thôn mình khai phá cho Chúa Nguyễn Mùa thu tháng 8 năm Mậu Tý (1708), Chúa Nguyễn Phước Chu sắc phong cho ông Mạc Cửu làm Tổng binh trấn Hà Tiên.Dưới sự bảo hộ của chúa Nguyễn, được phong làm Tổng binh trấn Hà Tiên, từ đó cư dân qui tụ ngày càng đông Năm 1732, toàn bộ đất phương Nam được Chúa Nguyễn chia làm 3 Dinh và 1 Trấn gồm : Trấn Biên Dinh (vùng Biên Hòa ngày nay), Phiên Trấn Dinh (Gia Định), Long
Hồ Dinh (Vĩnh Long) và Trấn Hà Tiên8
Năm 1735, Tổng trấn Mạc Cửu mất.Sau khi Mạc Cửu mất, con ông là Mạc Thiên Tích (trước đó có tên là Mạc Thiên Tứ) được phong làm Tổng trấn nối nghiệp cha.Từ Hà Tiên, ôngđẩy mạnh công cuộc khai khẩn ra vùng hữu ngạn sông Hậu, đến năm 1739 thì hoàn tất với 4 vùng đất mớimà “ Gia Định thành thông chí” gọi là “đạo” gồm: Long Xuyên (Cà Mau), Kiên Giang (Rạch Giá), Trấn Giang (Cần Thơ), Trấn Di (Bạc Liêu) được sáp nhập vào đất Hà Tiên Đây là điểm mốc đánh dấu sự xuất hiện của cộng đồng ngườiHoa ởCần Thơ
Nhận thấy Trấn Giang (Cần Thơ) có một vị trí chiến lược để làm hậu cứ vững chắc cho Hà Tiên chống lại quân Xiêm và Chân Lạp thường xuyên xâm lấn, Mạc Thiên Tích tập trung xây dựng về mọi mặt: quân sự, kinh tế, thương mại và văn hóa
Từ 1753, được sự đồng tình của Chúa Nguyễn, Mạc Thiên Tích cùng với đại thần Nguyễn Cư Trinh đã đưa Trấn Giang phát triển thành một “thủ sở” mạnh ở miền Hậu Giang9
Hơn ba thế kỷ về trước, vùng đất Nam bộ hãy còn bạt ngàn là rừng rậm và đầm lầy, sông ngòi chằng chịt Đó là một vùng đất đầy tiềm năng, nhưng cũng đầy thách đố với những người tiên phong khai phá bởi sự khắc nghiệt của thiên nhiên hoang dã Những thế hệ di dân người Hoa tìm đến đất Nam bộ đã phải đối diện và khắc phục biết
8 http://livecantho.com/du-lich-can-tho/tim-hieu-can-tho/lich-su-vung-dat-can-tho
9 http://tailieu.vn/view-document/vung-dat-can-tho-lich-su-hinh-thanh.232437.html?lang=en
Trang 20
bao gian nan vất vả để có thể kiến tạo cho một cuộc sống ổn định, lâu dài Tuy nhiên, những thế hệ người Hoa đầu tiên này cũng gặp không ít may mắn, thuận lợi trong việc khai mở mảnh đất mưu sinh Trước hết là sự gặp gỡ của những di dân người Hoa với người Việt và Khmer trên vùng đất Nam bộ Đó cũng là cuộc gặp gỡ của những người nông dân, thợ thủ công, những kẻ lưu lạc nghèo đói, đành phải rời bỏ quê hương của người Việt ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ của người Khmer ở đầu châu thổ, phía thượng nguồn sông Mê Lông thuộc đất Chân Lạp xưa Những người lao động nghèo khổ này
đã tìm đến Nam Bộ để tạo dựng một cuộc sống mới, mong mỏi thoát kiếp nghèo đói.Người Hoa sống xen kẽ với người Việt, người Khmer đoàn kết bên nhau cùng khai phá vùng đất phì nhiêu nhưng đầy thú dữ, rắn độc, cá sấu và còn bỏ hoang với một diện tích lớn.Chính cái thân phận nhọc nhằn, khổ đau ấy đã kết nối người Hoa, người Việt, người Khmer cùng các tộc người anh em khác trên đất Nam bộ từ thuở ban đầu
Đó cũng chính là sức mạnh cho người Hoa, người Việt, người Khmer trong công cuộc chinh phục vùng đất Nam bộ trong những thế kỷ tiếp theo
Trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945, người Hoa sống ở Việt Nam với thân phận là kiều dân còn gọi là Hoa Kiều Sau 1945, quá trình hội nhập của người Hoa phát triển nhanh Đồng bào Hoa không chỉ hội nhập vào cuộc sống đời thường với người Việt, người Khmer mà còn hoà nhập về chính trị văn hoá xã hội với cộng đồng các dân tộc Việt Nam Đến định cư ở Nam bộ, người Hoa đã tạo dựng cho mình một đời sống tinh thần, một văn hóa Hoa ở Việt Nam Ngày nay văn hóa Hoa là một bộ phận cấu thành của văn hóa các dân tộc Việt Nam Những lưu dân Trung Hoa đến
Nam bộ, trong hành trang của mình, đã mang theo một vốn văn hóa Trung Hoa, là một
văn hóa lớn ở châu Á Trong quá trình sinh tụ trên đất Nam bộ, người Hoa một mặt tiếp nhận các ảnh hưởng văn hóa của các cộng đồng cư dân như Việt, Khmer Mặt khác, văn hóa của người Hoa cũng tác động và ảnh hưởng đến người Việt, người Khmer và các dân tộc anh em ở Việt Nam Trên vùng đất Nam Bộ, có thể thấy khá rõ nét những ảnh hướng, kết quả của quá trình giao lưu văn hóa Hoa - Việt, Hoa - Khmer mà ngay từ những thế hệ người Hoa đầu tiên đã đem đến vùng đất này Sự giao lưu văn hóa đó diễn ra trên nhiều mặt của cuộc sống vật chất, tinh thần của người dân Nam bộ.Tuy nhiên, đồng bào Hoa vẫn giữ được bản sắc văn hoá riêng và có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
Trang 21Bản sắc đặc trưng của cộng đồng người Hoa thể hiện ở tín ngưỡng, phong tục tập quán Về tín ngưỡng mang tính hỗn hợp gần với dân gian hơn tôn giáo chính thống Trong tín ngưỡng có những yếu tố của đạo Lão, đạo Khổng, đạo Phật, đó là những tôn giáo trước đây đã từng giành nhau địa vị thống trị trên lục địa Trung Hoa nhiều thế kỷ Trong vô số các vị thần thánh và tôn giáo cổ truyền của mình, người Hoa chỉ lựa chọn một số thần thánh nhất định để thờ tự, chiêm bái tại tư gia và ở chùa miếu Đây là những vị thần mà theo suy nghĩ của mọi người đó là những vị thần bảo trợ cho tâm trạng và số phận của người di dân đến vùng đất mới.Tại gia đình việc thờ cúng phổ biến có: thờ Tổ tiên ông bà, thờ Thổ Công (Thần Đất), thờ Táo Quân (Thần Bếp), thờ Thần Tài Ở chùa miếu thì thờ Quan Thánh Đế Quân, Bổn Đầu Công, Bảo Sanh Đại
Đế, Bắc Đế, Lâm Thái Sư thường gọi là chùa Ông Thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, Cửu Thiên Huyền Nữ, Chúa Sinh Nương Nương, Quan Âm Nương Nương thường gọi là chùa Bà Thật ra, nói là chùa Ông hay chùa Bà cũng chỉ ước lệ, lấy vị thần chính của ngôi chùa để gọi chứ phần lớn các ngôi chùa đếu phối tự, tòng tự nhiều vị thần Ngoài
ra, do cộng cư với người Khmer một số ngôi chùa còn thờ Néak Tà
Tài sản công cộng của các bang người Hoa đó là các nghĩa địa, trường học, hội quán, chùa miếu, gần đây được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước Trung tâm Văn hóa của người Hoa cũng được xây dựng và đi vào hoạt động đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí, sinh hoạt văn hóa của nhân dân
1.3 Đời sống kinh tế - xã hội và văn hoá của cộng đồng người Hoa
1.3.1 Đời sống kinh tế - xã hội
Người Hoa ở thành phố Cần Thơ hiện có 3.297 hộ, 14.199 người chiếm tỷ lệ 1,19 %, so với dân số thành phố10.Người Hoa sinh sống bằng nhiều ngành nghề, về cơ cấu kinh tế thì thương mại, dịch vụ có 75 %, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 10 %, sản xuất nông nghiệp, thủy sản 13 %, ngành nghề khác 2% Với chủ trương, chính sách thông thoáng của Đảng và Nhà nước đã khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi để
bà con người Hoa yên tâm sản xuất kinh doanh, nhiều ngành nghề truyền thống được
10Báo cáoTruyền thống cách mạng người Hoa của Cần Thơqua các thời kỳ lần thứ V năm 2011 –
Ban dân tộc thành phố Cần Thơ
Trang 22ều tra khảo Hoa tại thàn
ả sau về đờ
: Mức sống
đồ 1 có thể
số lượng ccuộc sống c
Cổ phần ma
y Trách nh
Á Châu , vào công tá.Riêng ngư
í mới, chiếm
97 hộ ngườisát được th
u quả như:
ay xuất khẩuhiệm hữu hạ
đã giải quy
ác giảm nghười Hoa đến
m tỷ lệ 2,3
i Hoa thànhhực hiện và
u Meko, Cô
ạn cơ khí Tyết việc làmhèo chung c
Đủ Tư
Sun Mis
át gạo, bánrang thiết bngày càng phựa Cần Thông ty TráchThế Vân, C
m, tăng thucủa thành p
Thơqua các th
t nghèo hèo sống ương đối khá
ng túc ssing
h kẹo, ngàn
bị công nghphát triển, n
hơ, Xưởng n
h nhiệm hữCông ty Cổ
u nhập cho phố và đóng
àu hơn 90%
hèo, chiếm
trong cộng dân tộc Ho
h họ chỉ đủ
và 7.1% , chưa thực sự
hời kỳ lần thứ
nh cơ
hệ sản những nhôm
ữu hạn phần hàng
g góp
%, còn
tỷ lệ
đồng oa) đã
sống,
có thể
ự phát
ứ V năm
Trang 23gì thay đổicuộc sống c
ệt và chỉ ở mmột số bộ p
ộ nghèo và
an dân tộc th
Không bằn 10túc hoặc kh
của gia đình
nh có thay đ
g bằng, 34.3
i, 4.3% cảmcủa các giamột bộ phậnphận trong c
m thấy khó
a đình ngườ
n nhỏ trongcộng đồng
a thời điểm
không kể từ
g mức sốngtrả lời câu
ời Hoa có
g cộng đồngvẫn còn hạ
Trang 24Quận, huyện Tổng số hộ Số hộ nghèo người
Hoa
Số hộ cận nghèo người Hoa
Bảng 1: Số liệu hộ nghèo và cận nghèo người Hoa tại thành phố Cân Thơ năm 2012
Số hộ nghèo người Hoa chiếm khoảng 0,025%, số hộ cận nghèo chiếm 0,017%
Trong đó số lượng hộ nghèo và cận nghèo ở quận Ninh Kiều chiếm đa số
1.3.2 Đời sống văn hoá
Đời sống văn hóa của người Hoa ờ Cần Thơ vô cùng phong phú và đa dạng,
bao gồm đời sống văn hóa vật chất và tinh thần
Văn hóa vật chất: Đi từ trang phục, ẩm thực, kiến trúc, nghệ thuật trang trí và
điêu khắc Mỗi lĩnh vực đều có đặc sắc riêng không lẫn vào đâu được, trở thành nét
riêng của người Hoa và của Cần Thơ
Trang phục: Ngày nay, để thuận tiện cho mọi sinh hoạt trong gia đình, trang
phục thường ngày của người Hoa cũng là những bộ đồ bộ may bằng vải ka-tê, vải thun
giống như người Việt Còn đối với trang phục cưới, Cô dâu người Quảng Đông mặc
một bộ áo cưới màu đỏ - màu của sự tốt đẹp, may mắn Áo may bằng vải phi, cổ đứng
xẻ giữa, nút thắt to, tay áo dài và rộng để lộ chiếc áo trắng bên trong, hoa văn được
may viền ở cổ áo, lai áo, dọc 2 bên đường xẻ giữa và 2 bên ngực Ngày nay, theo quan
niệm thẩm mĩ hiện đại, các kiểu trang phục này hầu hết không còn được sử dụng nữa
Trang 25Thay vào đó, người Hoa ở Cần Thơ mặc Âu phục giống như người Kinh Đây là một biểu hiện của sự hòa nhập về đời sống sinh hoạt của người Hoa với người dân bản địa
Ẩm thực: Ẩm thực là một lĩnh vực thuộc cả vật chất lẫn tinh thần nên từ sớm rất được người Hoa chú trọng Một số món ăn của người Hoa bị ảnh hưởng bởi ẩm thực người Việt và Khmer Tuy vậy, vẫn còn một số món ăn được sử dụng phổ biến và trở thành đặc trưng của người Hoa ở Việt Nam nói chung và ở Cần Thơ nói riêng: heo quay, vịt quay, há cảo (sủi cảo), các món canh, cháo trắng ( với hột vịt muối, hột vịt bắc thảo), màn thầu…
Thức uống: Người Hoa thường dùng trà hơn rượu và bia, thỉnh thoảng có dùng nước ngọt, cà phê Trà thì có trà sâm, trà thanh nhiệt, trà hoa cúc Đặc biệt, người Hoa không có thói quen uống nước lã hay nước sôi để nguội mà thường nấu trà uống suốt ngày thay cho nước lạnh Đôi khi người Hoa cũng ngâm rượu thuốc để trong nhà uống nhằm bồi bổ cho cơ thể Trong những dịp tiệc tùng, người Hoa cũng uống bia nhưng rất ít
Kiến trúc, nghệ thuật trang trí nhà ở: Ở ngay phía trên của cửa chính người Hoa thường treo bùa bát quái bằng gỗ hay bằng giấy, hoặc tấm kính hình “ Tử vi đại đế” của đạo Lão với sự tin tưởng những vật linh đó có tác dụng giải trừ, ngăn chặn những ảnh hưởng xấu, những điều không tốt đẹp tác động vào nhà cửa Việc bố trí vật dụng, trang trí nhà cửa đều gắn liền với tín ngưỡng thờ cúng thần linh, ông bà tổ tiên, Treo câu đối cầu chúc sự may mắn hoặc xua đuổi tà ma quỷ dữ
Kiến trúc và nghệ thuật trang trí, điêu khắc chùa: Kiểu kiến trúc chùa Hoa kế thừa đường nét truyền thống ở Trung Quốc nhưng đồng thời có sự kết hợp hài hòa với kiểu kiến trúc bản địa Một số công trình kiến trúc, trang trí nổi bật của người Hoa ở Cần Thơ: Chùa Ông (Quảng Triệu Hội Quán) - Đường Hai Bà Trưng, Quận Ninh Kiều, Hiệp Thiên Cung - Đường Lê Bình, Quận Cái Răng Điều đặc biệt là trang trí trong chùa ở mỗi khu vực thể hiện tiềm lực kinh tế của khu vực đó
Lăng mộ: Không giống như người Hoa ở Kiên Giang có nhiều khu lăng mộ của
cả dòng họ có quy mô lớn, mộ táng của người Hoa ở Cần Thơ chủ yếu tập trung ở nghĩa địa, hoặc khu lăng mộ quy mô nhỏ
Trang 26Văn hóa tinh thần:
Tín ngưỡng,tôn giáo và phong tục tập quán:Từ các hình thức tính ngưỡng trong gia đình như thờ cúng ông bà, thần bếp, các vị thần giữ cửa và những vị thần khác…Cho đến những tín ngưỡng thờ cúng trong xã hội - cộng đồng như: Bà Thiên Hậu, Ngọc hoàng thượng đế, Quan công xích đế…
Phong tục tập quán: Nghi thức vòng đời (sinh đẻ, lễ đầy tháng, thôi nôi, kết hôn, tang ma…), ban đầu những tín ngưỡng mang tính nghi thức này còn được thực hiện phức tạp, rườm rà, mang đậm nét văn hóa người Hoa, về sau, càng ngày càng được đơn giản hóa, dễ thực hiện và gần với người Việt hơn
Theo khảo sát trong cộng đồng người Hoa về mức độ quan trọng của các đối tượng trong đời sống của mình, 4.6% cho rằng gia đình là quan trọng nhất, 10% coi trọng nhất là họ hàng, 20% đánh giá cao mức quan trọng của quan hệ cộng đồng, 15.4% xếp mối quan hệ với chính quyền các cấp ở mức cao nhất, 9.6% tin tưởng vào thần linh và 15.4% cho rằng các chức sắc tôn giáo rất quan trọng Qua đó có thể thấy, cuộc sống của người Hoa cũng không thể tách rời những phong tục, tôn giáo và tín ngưỡng của mình, thể hiện bản sắc của riêng mình
Nghệ thuật tiêu biểu: Người Hoa ở Cần Thơ có nghệ thuật múa lân – sư - rồng Múa lân – sư - rồng là một nét văn hóa- nghệ thuật rất đặc trưng của người Hoa Theo
họ việc múa lân - sư - rồng trong những ngày lễ tết sẽ mang lại sự may mắn, tốt lành cho gia đình, dòng họ Vì thế mà, cho đến ngày nay nghệ thuật múa lân - sư - rồng vẫn phát triển hết sức rực rỡ, trở thành một môn nghệ thuật đỉnh cao
Đời sống tinh thần của người Hoa ở Cần Thơ cũng có sự thay đổi tích cực, không như trước đây họ chỉ lo tập trung phát triển kinh tế mà không quan tâm tới giải trí, sức khoẻ, thì nay, với điều kiện kinh tế có sự thay đổi, họ đã chú ý hơn tới vấn đề này Theo khảo sát, vào thời gian rảnh rỗi, người Hoa thường xem ti vi (70.5% ở mức rất thường xuyên, chỉ có 1.6% ở mức không thường xuyên), xem video (12% rất thường xuyên xem), xem phim và biểu diễn nghệ thuật (12% đi xem thường xuyên), đi tham quan du lịch (26% thường đi), thăm viện bảo tàng, phòng tranh (5.8% thường xuyên đi), giao lưu với bạn bè (27.3% thường xuyên làm điều nay), giao lưu với họ
Trang 27hàng (26.9% thường xuyên đến thăm và gặp gỡ bạn bè), chơi thể thao (2% ở mức thường xuyên), khiêu vũ, đi nhậu, đi nhà hàng, đi đình chùa, cúng bái, tham gia các hoạt động xã hội… Điều đó cho thấy sự thay đổi về đời sống tinh thần của người Hoa tại thành phố Cần Thơ trong thời gian qua
Do mang nặng ảnh hưởng của Nho giao, Đạo giáo, lại rất giỏi thích nghi trong môi trường mới Đời sống xã hội của người Hoa ở Cần Thơ không ngừng biến đổi nhưng vẫn giữ được bản sắc của riêng mình
1.3.3 Tổ chức quản lý xã hội truyền thống
Việc tổ chức quản lý xã hội truyền thống của người Hoa được đi từ việc tổ chức đời sống gia đình mở rộng ra đến việc tổ chức xã hội trong cộng đồng Đặc điểm về tổ chức xã hội truyền thống của người Hoa tại thành phố Cần Thơ cũng tương tự như cộng đồng người Hoa ở các nơi khác
Đầu tiên là về tổ chức gia đình, người Hoa ở Nam Bộ nói chung đã có mặt tại đây hơn 300 năm, một số thói quen sinh hoạt đã có thể thay đổi để hoà nhập với cư dân bản địa Tuy nhiên, về cơ bản, tư tưởng của người Hoa ở Nam Bộ nói chung cũng như của người Hoa ở thành phố Cần Thơ nói riêng vẫn còn ảnh hưởng nhiều bởi tư tưởng Nho giáo
Gia đình người Hoa theo chế độ phụ hệ và phần lớn mang tính phụ quyền rất cao Bên cạnh đó tính tông tộc trong các gia đình người Hoa cũng phát triển mạnh Họ rất coi trọng mối quan hệ giữa những người cùng họ, luôn sẵn sàng giúp đỡ hỗ trợ nhau khi khó khăn Mỗi dòng họ thường có từ đường để thờ cúng, hằng năm vào một ngày nhất định, mọi người cùng dòng họ tập trung tại đây để làm giỗ tộc họ Thực tế không phải những người Hoa cùng họ đều là bà con huyết thống với nhau Nhưng khi sang định cư ở đây, cuộc gặp gỡ những người cùng họ có vai trò đặc biệt Trước hết,
họ cảm thấy có một sự thiêng liêng về dòng máu, nhất là những người mang dòng máu hoàng tộc, quý tộc ở Trung Hoa như nhóm các họ Trần, Dao, Hồ, Lưu, Điều… Họ cho rằng mình là con cháu của vua Nghiêu, vua Thuấn đã từng khởi nghiệp từ đất Hồ Nam, Trung Quốc và từ đó họ cảm thấy tất cả những người cùng họ dù ở những địa phương khác nhau của Trung Hoa đều có mối quan hệ khắng khít
Trang 28Theo tư tưởng Nho giáo, người Hoa, đặc biệt là người Hoa ở Cần Thơ rất coi trọng trật tự trên dưới trong gia đình Con cháu phải tôn trọng, yêu kính, lễ phép với ông bà cha mẹ, phải tuân theo những quy tắc gia đình, gia tộc Ngược lại ông bà cha
mẹ phải có trách nhiệm thương yêu, quan tâm lo lắng cho con cháu
Người Hoa nhờ ảnh hưởng của tư tưởng Lão- Trang của Đạo Giáo mà trở thành mẫu người triết nhân độc đáo Hầu hết họ là những người có tâm hồn khoáng đạt, tinh thần nhẫn nại, lạc quan, điềm đạm, nhãn quan cởi mở, không câu chấp Họ thường dạy con cần kiệm, biết giữ chữ “Tín”,…
Trước đây khi mới di cư sang Việt Nam, người Hoa theo chế độ đa thê Một người đàn ông có thể có nhiều vợ, tuy nhiên phụ nữ người Hoa tuyệt đối chỉ được phép có một chồng, phải thực hiện tam tòng tứ đức Hiện nay theo pháp luật Việt Nam văn hóa đa thê của người Hoa không được chấp nhận nên người Hoa dần dần chuyển sang chế độ một vợ một chồng bền vững Cũng như phần lớn người Hoa ở các địa phương khác, người Hoa Cần Thơ thường dựng vợ gả chồng cho con trong cùng một nhóm địa phương
Mở rộng ra là tổ chức cộng đồng hay gọi là tổ chức xã hội của người Hoa tại thành phố Cần Thơ, thể hiện tính cộng đồng của họ
Trước đây người Hoa từ phía Nam Trung Quốc phải vượt biển để di cư xuống phía Nam Việt Nam Trong quá trình di cư những lưu dân người Hoa đã gặp không ít khó khăn do phải đối mặt với sóng to gió lớn Thêm vào đó thời gian đâu ở Việt Nam,
họ phải tự tay khai phá đất hoang, làm nông nghiệp để kiếm kế sinh nhai Cuộc sống nhà nông ít nhiều phụ thuộc vào tự nhiên, do vậy môi trường tự nhiên đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của người Hoa Chính vì lẽ đó người Hoa rất coi trọng sự hòa hợp giữa con người với tự nhiên
Người Hoa ở Cần Thơ sống thành cụm dân cư, ở cùng một xóm, một ngõ phố, tạo thành một nét đặc trưng trong nếp sống của cộng đồng người Vì đồng cảnh ngộ tha hương, sống nơi đất khách quê người nên họ thường giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau những lúc gặp khó khăn, hoạn nạn Bên cạnh đó, khi mới đặt chân đến Việt Nam
Trang 29người Hoa đã kề vai sát cánh với người Việt, người Khmer vì thế quan hệ giữa người
Hoa với cư dân bản địa trở nên thân thiết hơn
Theo khảo sát với mẫu là 70 người dân tộc Hoa tại thành phố Cần Thơ, khi gặp
khó khăn trong cuộc sống, điều họ nghĩ đến là sự giúp đỡ của bạn bè, hàng xóm, họ
hàng ở mức độ thường xuyên, còn nhờ sự giúp đỡ của các tổ chức đoàn thể, các tổ
chức tôn giáo hoặc tự giải quyết ở mức độ ít thường xuyên hơn Cụ thể như bảng số
Bảng 2: Những nơi người Hoa nhờ giúp đỡ khi gặp khó khăn trong cuộc sống
Trong quá trình sinh sống ở miền Nam Việt Nam, người Hoa đã thành lập các
tổ chức xã hội vừa tuân theo quy chế của chính quyền qua các thời kì ở miền Nam,
vừa là nhu cầu để tự giúp đỡ nhau trong công cuộc mưu sinh của mình Người Hoa
Cần Thơ lại khác, Cần Thơ là vùng đất khai phá muộn nên người Hoa định cư ở Cần
Thơ cũng muộn hơn so với các nơi khác Vì vậy người Hoa Cần Thơ không thành lập
làng Minh Hương như người Hoa ở Sài Gòn Và như đã nói, người Hoa ở Cần Thơ
cũng không thành lập các bang hội dựa trên cơ sở tập hợp các di dân Trung Hoa đến
Việt Nam thuộc cùng một địa phương, sử dụng chung một ngôn ngữ như người Hoa ở
các nơi khác Người Hoa ở Cần Thơ cũng không thành lập các hội nghề nghiệp mà chỉ
có các hội quán Điển hình như Quảng Triệu Hội Quán nằm trên đường Hai Bà Trưng,
Trang 30Quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ- đây không những là một cơ sở tính ngưỡng mà còn là nơi sinh hoạt văn hóa của cộng đồng người Hoa ở đây Vào các ngày lễ như: Vía Quan Thánh Đế Quân 26/6 âm lịch, vía Thiên Hậu Thánh Mẫu 23/3 âm lịch… đông đảo bà con người Hoa đến tham dự tạo nên một không khí sinh động và vui tươi Đặc biệt những năm gần đây không những chỉ có bà con người Hoa mà còn rất nhiều người Việt, Khmer thường đến dự lễ Tất cả đều thành kính dâng hương thể hiện ước vọng an lành, bình an trong cuộc sống Điều đó cho thấy đời sống văn hóa của người Hoa ở Cần Thơ tuy có phần hội nhập nhưng bên cạnh đó lại cũng có sức ảnh hưởng khá lớn đối với cư dân bản địa
Trang 31CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI HOA TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
2.1 Chính sách chính quyền nhà nước trong lịch sử dối với người Hoa
2.1.1 Chính quyền nhà nước Phong kiến đối với người Hoa
Bắt đầu từ nửa sau thế kỉ XVII, sau khi đất nước bị chia cắt thành hai xứ Đàng Trong và Đàng Ngoài với sự thống trị của chúa Nguyễn ở Đàng Trong , những lưu dân người Hoa đã được phép định cư tại những trung tâm kinh tế, hải cảng, đô thị lớn của Việt Nam lúc bấy giờ, đặc biệt là những vùng đất thuộc Nam Bộ ngày nay Do đó trong thời gian này, cư dân người Hoa đã hình thành nên những trung tâm phố chợ, trung tâm kinh tế ở một số nơi tại Nam Bộ như Gia Định, Hà Tiên, Mỹ Tho… Sự đa dạng trong văn hóa của các nhóm người Hoa góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long khiến cho thế hệ hôm nay không thể bác bỏ được vai trò quan trọng của cộng đồng người này trong việc tạo dựng một Nam Bộ giàu có và phong phú trên mọi lĩnh vực
Sự nhập cư ồ ạt của người Hoa và sự hình thành các cộng đồng của họ như một thực thể dân cư tương đối ổn định trong cơ cấu dân cư - dân tộc Việt Nam bắt đầu từ thế kỉ XVII, một phần là kết quả của chính sách đón tiếp “nồng hậu” của chúa Nguyễn
và sau đó là triều Nguyễn đối với những di dân người Trung Hoa
Người Trung Hoa không những được phép cư trú vĩnh viễn tại Việt Nam mà họ còn nhận được rất nhiều ưu đãi từ phía chúa Nguyễn (1592 – 1771) và sau đó là triều đình Nguyễn (1802 – 1945) như được hưởng quyền công dân như người Việt Nam (nếu có nguyện vọng sinh sống lâu dài), không phải làm nghĩa vụ quân dịch và lao động công ích, được trao quyền thu thuế đối với những người giỏi nghề buôn bán và giao dịch, họ còn được hưởng nhiều chính sách ưu đãi khác trong lĩnh vực kinh tế…Nhà Nguyễn cũng cho phép người Hoa được lập nên những Bang hội truyền thống của họ Tổ chức đồng hương (Bang) của người Hoa đầu tiên được thành lập ở Việt Nam vào năm 1787 Vào năm 1814, dưới thời vua Gia Long (1802 – 1819), tổ chức Bang được chính thức hóa về mặt pháp lý Bang được thành lập dựa trên cơ sở đồng hương, đồng phương ngữ, nhằm mục đích bảo vệ sự an toàn tính mạng, của cải vật
Trang 32chất của người Trung Hoa di cư trên đất khách quê người Mặt khác, thông qua các Bang, nhà Nguyễn có thể quản lý việc làm ăn, sinh hoạt và đi lại của người Hoa một cách dễ dàng hơn Nhờ những chính sách của triều Nguyễn, rất nhiều người Trung Hoa di cư đã tạo dựng được cơ nghiệp một cách vững chắc ở Việt Nam Điều này đã thu hút thêm những làn sóng di cư mới của người Hoa đến nước ta, công việc buôn bán phát đạt của người Hoa đã góp phần không nhỏ trong việc hình thành nên những trung tâm buôn bán, những đô thị sầm uất ở những nơi họ sinh sống.12
Thời Nguyễn khái niệm và quốc tịch của người Hoa trong phạm vi pháp luật chưa rõ ràng và việc quản lý kiều dân chưa trở thành hệ thống và thường được gọi là Hoa Kiều Quan hệ giữa người Hoa và nhà cầm quyền Việt Nam thời đó đặt trên thế lưỡng lợi Vì vậy triều đình Nhà Nguyễn có chính sách thu hút người di trú và ưu đãi
về kinh tế đối với họ (buôn bán, thuế quan) nhằm tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế, nới lỏng về chính trị và chính sách quản lý khôn khéo, đồng thời cũng có chính sách cứng rắn đối với những bộ phận chống đối, tạo điều kiện cho người Hoa ở Đàng Trong trở thành thần dân của Chúa
Năm 1753, chúa Nguyễn cử Nguyễn Cư Trinh vào phương Nam, phối hợp với tổng trấn Mạc Thiên Tứ để khai khẩn vùng Trấn Giang thì lúc bấy giờ tình hình nơi đây có nhiều thay đổi hơn so với trước Để đảm bảo nguồn nhân lực cho công cuộc khai hoang, chúa Nguyễn tập hợp nhiều đợt lưu dân từ miền Trung vào khai khẩn đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có Trấn Giang và các vùng phía hữu ngạn sông Hậu, vì thế mà đã dẫn đến một luồng di cư lớn từ trung vào nam Theo kế « Tàm thực » của Nguyễn Cư Trinh, khai khẩn đến đâu thì lập ấp đến đó, từng mảng lan rộng ra không ngừng, khuyến khích mọi người tham gia, không hạn chế số lượng khai khẩn nhiều hay ít Nếu người dân tự khai diện tích sẽ được miễn thuế 5 năm, sau 5 năm cũng phải nộp nhưng sẽ nhẹ hơn, nếu gặp hoàn cảnh khó khăn thì có thể xin giảm Trước khi Pháp chiếm trọn Nam Kì Lục tỉnh, Nhà Nguyễn đã thực hiện nhiều chính sách nhằm đẩy mạnh tốc độ khai hoang như khuyến khích di dân tự do khai phá đất hoang, cho phép tự lựa chọn nơi khai phá, thậm chí còn trợ cấp thêm tiền, thóc, nông cụ và khen thưởng những ai khai hoang nhiều ở vùng này Bên cạnh đó, chính quyền nhà Nguyễn
12Cần Thơ xưa và nay, Huỳnh Minh, 1966
Trang 33cũng đề ra những luật lệ hà khắc để đảm bảo kỉ cương như qui định ai tổ chức khai thác đất hoang và thành lập cụm dân cư, thì được giao luôn cai quản đất vùng ấy; đồng thời phạt những ai có trách nhiệm mà để ruộng đất bị bỏ hoang nhiều Ruộng đất do ai khai khẩn thì được người ấy được toàn quyền sử dụng, không phải nộp địa tô Triều đình cũng cho phép người dân di chuyển chỗ ở cũng không phải khai báo, cũng như không phân biệt xuất thân giàu nghèo, không phân biệt người Việt, Khmer, Hoa Nhờ những chính sách đó của nhà Nguyễn mà nhân dân vô cùng phấn khởi, tích cực ra sức khai khẩn Vì thế mà làng mạc không ngừng mọc lên
Năm 1739 do Tổng trấn Mạc Thiên Tứ khai mở vùng Trấn Giang xây dựng nên một thủ sở không kém gì Hà Tiên, từ đó mà dân cư từ khắp nơi đổ về Trấn Giang lập nghiệp ngày càng nhiều Để tiện cho việc thu thuế của triều đình cũng như việc nắm bắt tình hình khai hoang của nười dân, vua Nhà Nguyễn đã tổ chức đạc điền, lập địa bạ (gồm địa bộ và điền bộ) mỗi thôn, làng đều phải vẽ bản đồ ghi các sở đất, loại đất, diện tích, ranh giới, tên chủ điền… Ngoài ra còn có chế độ quân cấp công điền công thổ», định lệ cho mướn đất thu lúa ruộng, định lệ cho vay lấy lời… việc mộ dân khiển lính, lập ấp, lập đồn điền có qui chế rộng rãi, nhằm huy động đông đảo người nghèo kể cả ngừi có « vật lực » Đồn điền là cơ sở sản xuất bán quân sự Theo chiếu vụ của vua Gia Long năm 1810, thì người dân khi khai hoang đều phải « biên chế thành đội ngũ,
có việc thì làm lính, không việc thì làm ruộng Đó là thượng sách để cùng nhau giữ gìn yên ổn » Cũng theo tinh thần ấy cứ năm mươi người thì lập thành đội do suất đội chỉ huy, 500 người thì thành lập cơ, do chánh đội chỉ huy Sau này đội đổi lại gọi là ấp,
cơ đổi lại gọi là tổng và xuất đội là trưởng ấp, chánh đội là cai tổng.13
Như vậy có thể thấy rằng chúa Nguyễn đã rất khéo léo trong việc áp dụng các chính sách về kinh tế và quân sự Vì trong thời điểm lúc bấy giờ nhiệm vụ chủ yếu là khai khẩn đất hoang và thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển tốt để nhân dân chí thú làm ăn àm ít đề cặp đến vấn đế văn hóa Cho thấy triều đình không chỉ quan tâm đến việc khai khẩn mở mang đất của cư dân Nam Bộ nói chung cũng như cộng đồng người Hoa ở Trấn Giang nói riêng, mà còn chú ý đến việc bảo vệ những thành quả đã đạt được qua việc thành lập các ấp, các tổng Điều đó đã góp phần thúc đẩy công cuộc
13Cần Thơ xưa và nay, Huỳnh Minh, 1966
Trang 34khai khẩn diễn ra mạnh mẽ hơn, mang lại nhiều kết quả tốt đẹp có giá trị đến ngày hôm nay
2.1.2 Chính quyền thực dân Pháp đối với người Hoa
Nhằm kiểm soát sự di trú của người Hoa, Pháp đã giữ luật công dân có từ đời
nhà Nguyễn (Triều Minh Mạng, 1830) cho đến năm 1933 Theo sắc luật này con trai
của người Hoa có vợ Việt gọi là người Minh Hương, được hưởng về thuế khóa và công dân, quyền hạn đặc biệt ở giữa người khách trú và dân đinh Việt Nam Người Minh Hương và mẹ Việt Nam phải mặc quần áo Việt, và không được rời khỏi Việt Nam Con của đàn ông Minh Hương và phụ nữ Việt được xem là công dân Việt Nam hoàn toàn hội nhập và có trách nhiệm về thuế khóa, quân dịch và được rời khỏi Việt
Nam (một quyền tự nhiên của người nước ngoài) Theo chính sách này con cháu đời
thứ ba của người Hoa có vợ Việt sẽ hoàn toàn là người Việt Nam
Luật quốc tịch được ban hành ngày 28 tháng 9 năm 1933 dưới thời Pháp thuộc Luật này định nghĩa Minh Hương là những người có tổ tiên là người Hoa, được sinh ra
và thường trú trên lãnh thổ Việt Nam Người Minh Hương và người Việt được hưởng qui chế bảo hộ như nhau trong các lãnh thổ của thuộc địa Hoa Kiều là những người ngoại quốc đến Việt Nam tìm việc, phải đóng thuế cư trú, phải gia hạn thẻ cư trú và không có quyền bỏ phiếu Người Pháp không mấy quan tâm đến vấn đề quốc tịch của người Hoa, họ chỉ muốn những công dân Trung Hoa hải ngoại đóng thuế đầy đủ, không chống đối chính sách cai trị của họ là đủ
Nhưng trong thập niên 1880 kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng nên người Hoa đã đồng loạt bỏ Việt Nam đi nơi khác do thực dân Pháp áp dụng chính sách đánh thuế mạnh vào hoạt động kinh tế của người Hoa
2.1.3 Chính quyền Mỹ - Sài Gòn đối với người Hoa
Ngay sau khi thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã rất quan tâm đến sự có mặt của người Hoa, ảnh hưởng chính trị và sức mạnh kinh tế của họ tại Nam Bộ nói chung và tại Cần Thơ nói riêng Với nguồn tài lực lớn mạnh, một hệ thống quản lý gần như riêng biệt, và quan điểm xa lạ, cộng đồng người Hoa không khác gì “một quốc gia trong một quốc gia” tại Việt Nam Hội nhập
Trang 35hoàn toàn cộng đồng người Hoa vào cộng đồng người Việt là một yêu cầu bức thiết của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa14
Về việc quy định mang quốc tịch Việt Nam, tại Nam Bộ, năm 1955 chính phủ bắt đầu dùng luật quốc gia để hội nhập người Hoa vào cộng đồng người Việt Sắc luật này đã dùng cách giải quyết của triều đình nhà Nguyễn trước thời Pháp thuộc, xác định tất cả trẻ con của các cuộc hôn nhân Hoa - Việt đều là người Việt, và không có quyền từ bỏ quốc tịch Việt Nam
Sắc luật tổng thống (Số 48) ngày 21 tháng 8 năm 1956 đi thêm một bước gay
gắt hơn nữa Sắc luật quy định tất cả người Hoa sinh ra tại Việt Nam đều là người Việt Nam bất kể nguồn gốc của cha mẹ và ý muốn của chính đương sự Sắc luật 48 còn có giá trị hồi tố Tất cả những người Hoa, khách trú khác, phải làm đơn xin thường trú tại Việt Nam theo kỳ hạn, phải đóng thuế cư trú cao để được quyền sinh sống tại Việt Nam
Một sắc luật bổ túc (Số 52) ban hành ngày 29 tháng 8 năm 1956 đòi hỏi tất cả
công dân Việt Nam phải lấy tên tiếng Việt trong thời hạn 6 tháng nếu không sẽ bị phạt
Sắc luật số 52: Hoa kiều sinh sống tại miền Nam phải mang quốc tịch Việt Khi có quốc tịch, họ được tự do giao dịch, đi lại và buôn bán Người Hoa phải Việt hóa Trịnh, Quách, Mạch, Lâm, Giang, Diệp, Lưu, Vương, Hà, Hứa, Mã, Lý, Trần, Trương,…và không được xưng các tên ngoại quốc hay tên gọi riêng như Chú, A, Chế, kể cả bí danh trong những văn kiện chính thức Tên hiệu các cơ sở thương mại, văn hóa phải viết bằng Việt ngữ Ngày 6 tháng 9 chính phủ Việt Nam Cộng Hoà lại ban hành sắc luật Số
53 cấm người nước ngoài hoạt động trong 11 ngành nghề, kể cả buôn gạo và bán hàng tạp hóa, mà người Hoa chiếm ưu thế Những người Hoa đang hoạt động trong khu vực kinh tế bị kiểm soát có 6 tháng đến 1 năm để bán hay sang nhượng lại thương nghiệp cho công dân Việt Nam nếu không sẽ có thể bị trục xuất hay phạt 5 triệu đồng Việt
Nam Sắc luật số 53 cấm người ngoại quốc không được hành 11 nghề: buôn bán các thịt, chạp phô, than củi, nhiên liệu, tơ sợi, trung gian mua bán, kim loại, lương thực, chuyên chở, xay gạo và dịch vụ 15
14Người Hoa tại Việt Nam và tương quan Hoa – Việt, Trần Giao Thuỷ
15Người Hoa tại Việt Nam và tương quan Hoa – Việt, Trần Giao Thuỷ
Trang 36Cùng lúc, chính phủ Ngô Đình Diệm cũng bắt đầu chương trình Việt Nam hóa các trường học của người Hoa trong vùng Sài Gòn − Chợ Lớn bằng những yêu cầu như dùng tiếng Việt trong giảng dạy và bổ nhiệm Hiệu trưởng người Việt Nam
Ngày 17 tháng 4 năm 1957 chính phủ Sài Gòn ra lệnh hủy bỏ tất cả thẻ thường trú đã cấp cho con cái người Hoa sinh tại Việt Nam và yêu cầu họ phải lấy thẻ căn cước Việt Nam trễ nhất là ngày 9 tháng 5 năm 1957 Cũng trong năm 1957, Tổng
thống Ngô Đình Diệm tuyên bố: “Dòng máu của người Hoa luân chuyển trong huyết quản của dân Việt , và người Việt cùng người Hoa gần như có cùng quan niệm về đạo đức và văn hóa”
Đây là những chính sách khắt khe nhất so với tất cả các quốc gia trong vùng Những biện pháp trên nhằm thẳng vào khối người Hoa, chúng làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và an sinh của gần một triệu người thuộc dân tộc Hoa sinh sống ở Nam
Bộ trong đó có cộng đồng người Hoa tại Cần Thơ Vì vậy trong giai đoạn này, người Hoa không được có mặt trong bộ máy cai trị của địa phương
2.2 Tổ chức hệ thống chính trị địa phương
2.2.1 Hệ thống Đảng
Đảng là cơ quan lãnh đạo về chủ trương và chính sách lớn thuộc lĩnh vực tổ chức cán bộ của hệ thống chính trị; đồng thời là cơ quan nghiệp vụ về công tác tổ chức, cán bộ, Đảng viên
Trang 37Văn Phòng Thành Ủy
Ủy Ban Kiểm Tra
Trung Tâm bồi dưỡng chính trị
Đảng
Ủy
Trang 382.2.2 Hệ thống cơ quan Nhà nước
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
ỦY BAN NHÂN DÂN
ỦY BAN NHÂN DÂN 9 QUẬN, HUYỆN
12 PHÒNG BAN
KHỐI NHÀ NƯỚC
Trang 39- Phòng văn hóa thông tin
- Hội liên hiệp phụ nữ thành phố Cần Thơ
- Hội cựu chiến binh Thành phố Cần Thơ
- Đoàn thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh thành phố Cần Thơ
- Liên đoàn lao động thành phố Cần thơ
- Hội nông dân thành phố Cần Thơ
- Ủy ban mặt trận Tổ quốc thành phố Cần Thơ
2.3 Sự phân bố đội ngũ cán bộ người Hoa trong hệ thống chính trị tại thành phố Cần Thơ
2.3.1 Cơ cấu đội ngũ cán bộ người Hoa
Thành phố Cần Thơ có 3 dân tộc thiểu số chiếm số lượng lớn nhất là người Hoa, người Khmer và người Chăm Hiện nay trong đội ngũ cán bộ công tác tại các ban ngành, đoàn thể của thành phố cũng có sự đóng góp chung của các dân tộc thiểu số
trên Theo số liệu thống kê của Ban Dân Tộc thành phố Cần Thơ năm 2011, đội ngũ
cán bộ dân tộc đang công tác tại các quận, huyện của thành phố Cần Thơ gồm các dân tộc: Khmer, Hoa, Mường, Dao, Tày, Nùng, Thái, Chăm, trong đó số lượng người Khmer là 206 cán bộ, chiếm 49,2% người Hoa là 203 cán bộ, chiếm 48,4% 2, cán bộ người Tày(0,48%), 2 cán bộ người Nùng(0,48%), 3 cán bộ người Mường(0,72%), 1 cán bộ người Chăm(0,24%) và 1 cán bộ người Dao(0,24%) và 1 cán bộ người Thái,
Trang 403: Cơ cấu cá
u đồ trên có(49.2%) tro
ấy số lượngthành phố Ctộc thiểu số, tuy không
Theo thống
lượng ĐảnThơ là 428
g viên dự bịĐảng viên
và 2 Đảng tại thành p
h phố và cả
cán bộ Kh 49
g các cán bộCần Thơ chư
ộ người hmer 9.2%
Ban Dân Tộ
ười dân tộc
ên, chiếm 1
ó có 224 Đảờng, 9 Đảndân tộc Th
ơ đã tham g
cán bộ các d tộc khác 2.4%
dân tộc tại
người Khmphố Cần Thơ
iểu số tại th
ời Hoa chiếm
ộ dân tộc tạdân tộc thi
hơ đã có sự
ự đóng góp
ộc thành ph
thiểu số ở.34% Đảngảng viên ng
ng viên ngưhái Từ số lưgia cống hi
cán b 4
ến cho sự n
bộ người Hoa 48.4%
vào các đoàcho sự phát
ơ tính đến
quận, huyện
n thành phố
r, 170 ĐảngNùng, 12
ho thấy, đạinghiệp phát
hơ
ếm số hác
%) sau Điều vào hệ
i biểu
t triển