1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ca dao và vè tiền giang phân loại, chỉnh lý và giới thiệu tài liệu sưu tầm điền dã tại thành phố mỹ tho và các huyện tân phước, châu thành, cái bè, cai lậy, gò công đông, gò công tây, chợ gạo công

265 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 265
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 2: Chúng tôi triển khai phân tích nội dung và nghệ thuật tiêu biểu của ca dao tại địa bàn nghiên cứu và thấy được rằng, ca dao Tiền Giang cũng như ca dao của những tỉnh khác tại

Trang 1

ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH

BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH

-

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC EURÉKA

LẦN THỨ XV NĂM 2013

TÊN CÔNG TRÌNH : Ca dao và vè Tiền Giang (Phân loại, chỉnh lý và giới thiệu tài liệu sưu tầm điền dã tại thành phố Mỹ Tho và các huyện Tân Phước, Châu Thành, Cái Bè, Cai Lậy, Gò Công Đông, Gò Công Tây,

Chợ Gạo)

Sinh viên thực hiện : Phạm Lương Kim Đơn (CN)

Đặng Thị Như Ý Trần Thị Như Vĩ

Người hướng dẫn: ThS La Mai Thi Gia

LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: VĂN HÓA DÂN GIAN

CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ

Mã số công trình : ……….

Trang 2

Công trình nghiên cứu khoa học của chúng tôi có tên gọi là CA DAO VÀ VÈ Ở TỈNH TIỀN GIANG (phân loại, chỉnh lý và giới thiệu tài liệu sưu tầm điền dã tại thành phố Mỹ Tho và các huyện: Cai Lậy, Cái Bè, Châu Thành, Tân Phước, Chợ Gạo, Gò Công Đông, Gò Công Tây) Với mục đích chính là đóng góp một phần nhỏ vào

việc nghiên cứu văn học dân gian vùng Nam Bộ cụ thể là tỉnh Tiền Giang nhằm giữ gìn vốn văn hóa dân gian tại địa phương này mà cụ thể là hai thể loại ca dao và vè

Bên cạnh việc phân loại, chỉnh lý và giới thiệu tài liệu chúng tôi đưa ra cái nhìn khái quát về diện mạo của ca dao và vè tại địa bàn nghiên cứu đồng thời cũng đưa ra cái nhìn khái quát về nội dung và nghệ thuật của hai thể loại này Nội dung của đề tài được thể hiện trong ba chương chính và phần sưu tuyển như sau:

Chương 1: Giới thiệu sơ lược về điều kiện tự nhiên và con người tại tỉnh Tiền Giang,

lý giải những thuật ngữ chính có liên quan đến đề tài trên cơ sở lý thuyết để có được điểm tựa vững chắc trong quá trình nhận diện và phân tích đối tượng nghiên cứu Bên cạnh đó chúng tôi còn cung cấp một cái nhìn khái quát về diện mạo của ca dao và vè tại địa bàn nghiên cứu

Chương 2: Chúng tôi triển khai phân tích nội dung và nghệ thuật tiêu biểu của ca

dao tại địa bàn nghiên cứu và thấy được rằng, ca dao Tiền Giang cũng như ca dao của những tỉnh khác tại Nam Bộ đều được tác giả dân gian thể hiện xoay quanh các chủ đề như: tình yêu quê hương đất nước, tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa…Nghệ thuật của ca dao ở địa phương này được khai thác chủ yếu với thể thơ lục bát quen thuộc của dân tộc cùng với những thủ pháp nghệ thuật độc đáo

Chương 3: Xoay quanh nội dung và nghệ thuật tiêu biểu của vè tại địa bàn nghiên

cứu Nội dung của vè phong phú, đa dạng với những chủ đề lớn là vè kể vật kể việc, vè thế sự và vè lịch sử Nghệ thuật trong vè nổi bật với thể thơ vãn bốn cùng với một số bài được sáng tác với thể lục bát, vãn bảy hoặc những câu dài ngắn khác nhau Đặc trưng nghệ thuật của vè là thể hiện qua phương thức phản ánh và tự sự, ngôn ngữ bình dị, dễ hiểu

Trang 3

là đóng góp quan trọng của đề tài vì cung cấp gần một số lượng lớn tư liệu ca dao và vè đã được chỉnh lý, sắp xếp và phân loại cẩn thận Chúng tôi hy vọng rằng đề tài nghiên cứu của chúng tôi sẽ đóng vai trò là một trong những tài liệu tham khảo cho những công trình nghiên cứu về văn học dân gian nói chung và văn học dân gian tỉnh Tiền Giang nói riêng

về sau này

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

PHẦN CHÍNH VĂN 1

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1

CHƯƠNG 1 11

KHÁI QUÁT DIỆN MẠO CA DAO VÀ VÈ Ở THÀNH PHỐ MỸ THO VÀ BẢY HUYỆN: CAI LẬY, CÁI BÈ, CHÂU THÀNH, CHỢ GẠO, GÒ CÔNG ĐÔNG, GÒ CÔNG TÂY, TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG. 1.1 Vài nét khái quát về lịch sử, vùng đất và con người Tiền Giang 11

1.2 Một số thuật ngữ có liên quan đến đề tài 12

1.3 Khái quát diện mạo ca dao ở địa bàn nghiên cứu 14

1.4 Khái quát diện mạo vè ở địa bàn nghiên cứu 18

CHƯƠNG 2 23

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU VỀ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT CỦA CA DAO Ở ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 2.1 Những đặc điểm chủ yếu về nội dung của ca dao ở địa bàn nghiên cứu 23

2.2 Những đặc điểm chủ yếu về nghệ thuật của ca dao ở địa bàn nghiên cứu 47

2.3 Tiểu kết chương 2 61

CHƯƠNG 3 61

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ NỘI DUNG] VÀ NGHỆ THUẬT CỦA VÈ Ở ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU] 3.1 Những đặc điểm chủ yếu về nội dung của vè ở địa bàn nghiên cứu 61

3.2 Những đặc điểm chủ yếu về nghệ thuật của vè ở địa bàn nghiên cứu 83

3.3 Tiểu kết chương 3 84

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 5

PHẦN CHÍNH VĂN TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

Công trình nghiên cứu khoa học của chúng tôi có tên gọi là CA DAO VÀ VÈ Ở

TỈNH TIỀN GIANG (phân loại, chỉnh lý và giới thiệu tài liệu sưu tầm điền dã tại thành phố Mỹ Tho và các huyện: Cai Lậy, Cái Bè, Châu Thành, Tân Phước, Chợ Gạo, Gò Công Đông, Gò Công Tây) Với mục đích chính là đóng góp một phần nhỏ

vào việc nghiên cứu văn học dân gian vùng Nam Bộ cụ thể là tỉnh Tiền Giang nhằm giữ gìn vốn văn hóa dân gian tại địa phương này mà cụ thể là hai thể loại ca dao và vè Bên cạnh việc phân loại, chỉnh lý và giới thiệu tài liệu chúng tôi đưa ra cái nhìn khái quát về diện mạo của ca dao và vè tại địa bàn nghiên cứu đồng thời cũng đưa ra cái nhìn khái quát về nội dung và nghệ thuật của hai thể loại này Nội dung của đề tài được thể hiện trong ba chương chính và phần sưu tuyển như sau:

Chương 1: Giới thiệu sơ lược về điều kiện tự nhiên và con người tại tỉnh Tiền

Giang, lý giải những thuật ngữ chính có liên quan đến đề tài trên cơ sở lý thuyết để có được điểm tựa vững chắc trong quá trình nhận diện và phân tích đối tượng nghiên cứu Bên cạnh đó chúng tôi còn cung cấp một cái nhìn khái quát về diện mạo của ca dao và

vè tại địa bàn nghiên cứu

Chương 2: Chúng tôi triển khai phân tích nội dung và nghệ thuật tiêu biểu của ca

dao tại địa bàn nghiên cứu và thấy được rằng, ca dao Tiền Giang cũng như ca dao của những tỉnh khác tại Nam Bộ đều được tác giả dân gian thể hiện xoay quanh các chủ đề như: tình yêu quê hương đất nước, tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa…Nghệ thuật của

ca dao ở địa phương này được khai thác chủ yếu với thể thơ lục bát quen thuộc của dân tộc cùng với những thủ pháp nghệ thuật độc đáo

Chương 3: Xoay quanh nội dung và nghệ thuật tiêu biểu của vè tại địa bàn

nghiên cứu Nội dung của vè phong phú, đa dạng với những chủ đề lớn là vè kể vật kể việc, vè thế sự và vè lịch sử Nghệ thuật trong vè nổi bật với thể thơ vãn bốn cùng với một số bài được sáng tác với thể lục bát, vãn bảy hoặc những câu dài ngắn khác nhau Đặc trưng nghệ thuật của vè là thể hiện qua phương thức phản ánh và tự sự, ngôn ngữ bình dị, dễ hiểu

Cuối cùng, chúng tôi đưa ra kết luận chung cho toàn bài nghiên cứu Phần sưu tuyển là đóng góp quan trọng của đề tài vì cung cấp gần một số lượng lớn tư liệu ca

Trang 6

dao và vè đã được chỉnh lý, sắp xếp và phân loại cẩn thận Chúng tôi hy vọng rằng đề tài nghiên cứu của chúng tôi sẽ đóng vai trò là một trong những tài liệu tham khảo cho những công trình nghiên cứu về văn học dân gian nói chung và văn học dân gian tỉnh Tiền Giang nói riêng về sau này

Trang 7

1 Đặt vấn đề

Văn học dân gian là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành nên nền văn học Việt Nam lâu đời và nhiều màu sắc với những đóng góp to lớn Trong đó có ca dao, vè Nam Bộ nói chung và ca dao, vè tỉnh Tiền Giang nói riêng

Cuộc sống xã hội hiện đại ngày một văn minh, người Việt Nam có nhiều điều kiện để tiếp xúc với các nền văn hóa trên thế giới cùng với nhiều phương tiện giải trí hấp dẫn, dẫn đến sự lãng quên hoặc ít quan tâm đến vốn văn hóa truyền thống của dân tộc trong đó có văn học dân gian là tinh hoa, tinh thần quý báu của dân tộc mà cha ông

ta bao thế hệ đã sáng tạo ra và gìn giữ

Những người lưu giữ lại vốn văn học dân gian truyền thống này chủ yếu là người già và số người già càng ít đi theo thời gian Chính vì thế mà việc cần thiết phải thực hiện ngay là nhanh chóng sưu tầm ghi chép lại những sáng tác dân gian vẫn còn lưu trong ký ức của thế hệ người già ở các vùng nông thôn các địa phương Và Tiền Giang cũng là một trong những địa điểm mà khoa Văn học và Ngôn ngữ, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh đã đưa giảng viên và sinh viên xuống tận nơi sưu tầm kịp thời những tư liệu văn học dân gian của vùng đất này vào tháng 2 năm 2011 và tháng 2 năm 2012

Chúng tôi thấy rằng, Tiền Giang cũng như các địa phương khác trong cả nước cần phải tiến hành ngay việc sưu tầm chỉnh lý văn học dân gian ở tỉnh nhà nhằm giữ gìn, lưu trữ giá trị văn hóa văn học truyền thống ở địa phương nếu không đến một lúc nào

đó, người già sẽ mất đi và những tư liệu quý giá đó cũng sẽ mất dần vì việc giới trẻ không quan tâm nhiều đến vốn văn hóa truyền thống của dân tộc như văn học dân gian

là một xu thế thay đổi chung của quá trình phát triển và cũng là một hiện trạng đáng lo lắng, quan tâm của nhà nước

Trong hai chuyến thực tế, tập thể giảng viên và sinh viên đã thu thập được một khối lượng tài liệu hết sức phong phú của các huyện Cai Lậy, Cái Bè, Chợ Gạo, Gò Công Đông, Gò Công Tây, Tân Phước, Châu Thành và thành phố Mỹ Tho của tỉnh Tiền Giang Trong số tài liệu nhận được thì ca dao chiếm số lượng khá nhiều, sau khi chỉnh lý xong thì còn khoảng 50% số lượng Phần vè sưu tầm được khoảng trên 100 bài nhưng sau khi chỉnh lý xong chỉ còn trên 50 bài

Trang 8

Việc cần phải chỉnh lý lại các tài liệu này cũng là một vấn đề quan trọng Văn học dân gian là loại hình được lưu truyền qua nhiều thế hệ bằng hình thức truyền miệng Tính chất trùng lặp, những câu do người dân thêm thắt vào cần được sắp xếp, lựa chọn và phân loại lại để thuận tiện cho việc nghiên cứu sâu hơn về nội dung và nghệ thuật của vốn văn học dân gian quý giá này

Để góp phần giữ gìn một cách có hệ thống nguồn tài liệu văn học dân gian Tiền Giang nói riêng và của cả nước nói chung thì vấn đề cấp thiết là phải chỉnh lý và giới thiệu lại tất cả các thể loại văn học dân gian thu thập được, trong đó có ca dao và vè nhằm đưa ra cái nhìn khái quát về diện mạo của văn học dân gian tại địa bàn nghiên cứu mà cụ thể là hai thể loại ca dao và vè, chúng tôi đã chọn đề tài văn học dân gian Tiền Giang- ca dao và vè Chúng tôi hy vọng rằng đề tài nghiên cứu của chúng tôi sẽ phần nào có đóng góp trong quá trình giữ gìn và lưu truyền hai thể loại văn học dân gian của Tiền Giang là ca dao và vè, nhằm làm phong phú hơn giá trị của kho tàng văn học dân gian trong cả nước Đồng thời mong muốn được sự phối hợp với Hội văn nghệ dân gian Tiền Giang để những sáng tác dân gian nói chung, ca dao và vè nói riêng được in thành sách và đưa vào trong chương trình giảng dạy, học tập và nghiên cứu

2 Tổng quan tài liệu

Có thể nói những công trình nghiên cứu về văn học dân gian, nói chung đã được giới nghiên cứu quan tâm và đã được thực hiện khá nhiều từ trước đến nay Nhưng nói đến những công trình nghiên cứu về ca dao, vè tại Nam Bộ nói chung, Tiền Giang nói riêng thì còn rất hạn chế

Trước hết về văn học dân gian Nam Bộ, chúng tôi được đọc công trình Vè Nam

Bộ của tác giả Huỳnh Ngọc Trảng do nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh chịu trách

nhiệm xuất bản Cuốn sách này đã giúp cho chúng tôi có cái nhìn khái quát về diện mạo cũng như nội dung của vè ở vùng đất Nam Bộ nói chung

Bên cạnh đó chúng tôi còn được tiếp cận với những công trình nghiên cứu khác

về văn học dân gian Nam Bộ như: Diện mạo văn học dân gian Nam Bộ của Nguyễn Văn Hầu (2005) do nhà xuất bản trẻ phát hành, Tìm hiểu ca dao, dân ca Nam Bộ của

Lưu Nhất Vũ và Lê Giang Những công trình này đều có đóng góp có giá trị trong việc

Trang 9

đưa ra những nhận định, đánh giá có giá trị trong quá trình tìm hiểu văn học dân gian ở Nam Bộ

Tác phẩm Văn học Việt Nam- Văn học dân gian- Những công trình nghiên cứu do

Bùi Mạnh Nhị chủ biên cùng với Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Thị Ngọc Điệp đã cung cấp cho chúng tôi thêm một góc nhìn về tính thống nhất trong đặc điểm nội dung và nghệ thuật của ca dao ở Nam Bộ Trong tính tống nhất đó, các tác giả cũng có nói đến tính

chất đặc trưng nhất là tính địa phương của thể loại này: “Ca dao- dân ca Nam Bộ luôn phát huy những đặc điểm riêng gắn với hoàn cảnh tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử xã hội, tâm lí, tính cách con người ở địa phương”

Hay trong một số bài nghiên cứu in trên các tạp chí Văn nghệ của các tác giả Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Hứa, Nguyễn Quang Vinh về "Văn học dân gian người Việt ở Nam Bộ", các tác giả đã đưa ra những nhận định khái quát về nội dung hoặc

giúp chúng tôi hiểu thêm hơn về khái niệm ca dao, vè và tính chất cũng như giá trị của những thể loại này tại vùng đất Nam Bộ

Khi tìm kiếm những công trình nghiên cứu văn học dân gian tại các tỉnh cụ thể của vùng Nam Bộ, chúng tôi may mắn được tiếp xúc với nguồn tài liệu sưu tầm điền

dã được in thành sách từ nhiều năm qua của tập thể giảng viên, sinh viên khoa Văn học và Ngôn ngữ, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn thành phố Hồ Chí

Minh sau mỗi chuyến thực tập, sưu tầm văn học dân gian các tỉnh Nam Bộ như: Văn học dân gian Bạc Liêu, Văn học dân gian Châu Đốc, Văn học dân gian Bình Phước, Văn học dân gian Bến Tre

Ngoài ra còn có các khóa luận tốt nghiệp đại học được thực hiện với đề tài về văn học dân gian ở các tỉnh Nam Bộ của các anh chị sinh viên đi trước đã giúp ích chúng tôi rất nhiều trong việc học tập cách thức triển khai đề tài nghiên cứu khoa học của mình Nhìn chung, chúng tôi đã được tiếp xúc với không ít những công trình nghiên cứu nói về ca dao dân ca và vè Nam Bộ, cụ thể là một số tỉnh tại khu vực này nhưng đề tài nghiên cứu riêng về ca dao và vè Tiền Giang thì chúng tôi thấy chưa được thực hiện từ trước đến nay

Trang 10

Trên tinh thần kế thừa và học hỏi những người đi trước, chúng tôi hy vọng có thể góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu ca dao, vè Tiền Giang với mục đích chính là chỉnh lý, sắp xếp và phân loại nguồn tài liệu sưu tầm điền dã của tỉnh Tiền Giang trong hai chuyến thực tập mà chúng tôi đã nhắc đến ở trên

3 Mục tiêu- Phương pháp

Cùng các giai đoạn văn học khác, văn học dân gian Việt Nam cũng là một bộ phận quan trọng trong việc khơi nguồn và hình thành một nền văn học chung của dân tộc đầy bản sắc Văn học dân gian từ bao đời nay là kết tinh của trí tuệ và tình cảm của những con người lao động chất phác, là một giá trị văn hóa không thể thiếu được và mãi mãi bền vững trong văn hóa của một quốc gia

Văn học dân gian đã ghi lại một cách sâu sắc, rõ nét những bước đi của lịch sử, những bước tiến của thời đại gắn với những hình thái xã hội mà loài người đã trải qua Nhờ vào những bức tranh mà văn học dân gian đã khắc hoạ mà các thế hệ sau này đã hình dung ra được đời sống vật chất, tinh thần cũng như nhận thức của con người trong những thời đại và các thể chế xã hội đã qua Từ đó giúp chúng ta trân trọng, giữ gìn những truyền thống của dân tộc mà cha ông đã cất công vun xới để cùng nhau kế thừa, phát huy xây dựng nguồn di sản to lớn ấy

Trong văn học dân gian có một bộ phận được sáng tác bằng các thể thơ dân tộc kết hợp với các làn điệu âm nhạc, diễn đạt nhiều mặt của đời sống con người với những cảm nghĩ về quê hương đất nước, về lao động sản xuất, về tình yêu, về tình cảm gia đình và các mối quan hệ phong phú khác trong xã hội Bộ phận đó chính là ca dao, bên cạnh đó một thể loại tự sự bằng văn vần là vè cũng là một đối tượng nghiên cứu trong đề tài của chúng tôi

Tiếp cận với ca dao của dân tộc là hoà vào sự phong phú của tâm hồn con người Việt Nam qua bao thế hệ như một sự tiếp nối, giữ gìn những gì tốt đẹp mà cha ông đã

để lại Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay trước sự phát triển ồ ạt của những phương tiện truyền thông, sự xuất hiện của các phương tiện kỹ thuật, khoa học tiến bộ, môi trường

đô thị hóa đã dần dần làm khô khan đi đời sống tinh thần của con người, những hiểu biết của nhân dân về văn học dân gian ngày càng bị thu hẹp đấy là dấu hiệu của sự mai một truyền thống dân tộc Chính vì thế yêu cầu đặt ra trước mắt chúng ta là phải khôi

Trang 11

phục, làm sống dậy di sản tinh thần to lớn ấy Cũng xuất phát từ yêu cầu này mà khoa Văn học và Ngôn ngữ trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn hàng năm có tổ chức các đợt điềndã sưu tầm văn học dân gian ở nhiều địa phương với sự tham gia của cán bộ và sinh viên của khoa Tư liệu thu thập được chủ yếu còn ở dạng văn bản thô tuy nhiều về số lượng nhưng còn hạn chế về chất lượng Do đó nhiệm vụ của chúng tôi

là tiếp tục xử lý khối tài liệu thu thập được của bảy huyện và một thành phố của tỉnh Tiền Giang là: Mỹ Tho, Chợ Gạo, Cai Lậy, Cái Bè, Gò Công Đông, Gò Công Tây, Tân Phước, Châu Thành, từ đó phác hoạ lên phần nào diện mạo của ca dao và vè Tiền Giang đồng thời xem xét chúng trong mối tương quan với văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và văn học dân gian Nam Bộ nói chung

Để đề tài nghiên cứu mang tính khoa học và đạt hiệu quả, người viết đã tìm hiểu

một số phương pháp nghiên cứu trong công trình Văn hoá dân gian- Những phương pháp nghiên cứu, đồng thời áp dụng thêm những phương pháp nghiên cứu của ngành

khoa học xã hội mà chúng tôi có dịp được hướng dẫn và tìm hiểu Dưới đây là những phương pháp nghiên cứu mà chúng tôi áp dụng để thực hiện đề tài của mình

Phương pháp quan sát, tham dự:

Chúng tôi đã có điều kiện có mặt tại địa bàn nghiên cứu trong chuyến thực tế điền

dã để có cơ hội tiếp xúc với những người dân địa phương, trực tiếp sưu tầm những tác phẩm văn học dân gian Được chính quyền địa phương đồng ý và được tham gia vào những buổi sinh hoạt văn hoá tại địa bàn nghiên cứu nên phần nào chúng tôi nắm bắt được tình hình lưu truyền cũng như việc người dân địa phương đã vận dụng ca dao và

vè vào trong cuộc sống như thế nào

Phương pháp phỏng vấn dân tộc học:

Chúng tôi tiến hành phỏng vấn các cộng tác viên về nguyên quán của họ, nguồn gốc xuất xứ của tác phẩm, nội dung tác phẩm mà họ cung cấp Chính vì vậy mà chúng tôi có được cái nhìn bao quát về tình hình số lượng và nội dung văn bản của hai thể loại ca dao và vè ở Tiền Giang, bên cạnh đó thấy được tính phong phú về mặt dị bản của hai thể loại ở từng huyện khác nhau trong địa bàn nghiên cứu

Phương pháp thống kê, phân loại:

Trang 12

Sau khi có được tài liệu là những tác phẩm ca dao và vè tại địa phương, chúng tôi

đã phân loại, chỉnh lý lại và sắp xếp có hệ thống theo nội dung, chủ đề của từng thể loại để tiện cho việc nghiên cứu

Phương pháp phân tích, tổng hợp:

Thông qua việc xem xét, đối chiếu các tài liệu đã có trong quá trình sưu tầm cùng với những tài liệu mà chúng tôi đã đọc được trong thư viện, chúng tôi bắt đầu triển khai thực hiện nội dung nghiên cứu của mình Quá trình xử lý tài liệu và viết bài nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp này với những thao tác như khảo sát, phân loại và đưa ra những nhận xét, nhận định về nội dung và nghệ thuật của ca dao và

vè của Tiền Giang dựa vào nguồn tài liệu đã sưu tầm được và cuối cùng ra đưa ra kết luận để tổng kết vấn đề

4 Kết quả thảo luận

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là sưu tầm, chỉnh lý và giới thiệu tài liệu về ca dao, vè Tiền Giang đã được thu thập trong chuyến đi thực tế, điền dã tại một thành phố

và bảy huyện của tỉnh Tiền Giang bao gồm: Mỹ Tho, Chợ Gạo, Cai Lậy, Cái Bè, Gò Công Đông, Gò Công Tây, Tân Phước, Châu Thành Với số lượng khoảng 1000 bài ca dao và trên 50 bài vè sau khi đã chỉnh lý và loại bỏ Từ đó, chúng tôi tiến hành phân tích và đưa ra những nhận định, nhận xét mang tính chất sơ bộ về nghệ thuật cũng như nội dung của ca dao, vè Tiền Giang

Đối tượng nghiên cứu mà chúng tôi thực hiện trong đề tài này là ca dao và vè tỉnh Tiền Giang Chính vì vậy mà chúng tôi chỉ tập trung vào việc phân loại, chỉnh lí và giới thiệu hai thể loại này trong tài liệu có sẵn do Khoa cung cấp Một phần giúp cho người đọc có sự hình dung về văn học dân gian tại địa bàn nghiên cứu nói chung và ca dao, vè nói riêng, đồng thời cũng thấy được mối tương quan và sự khác biệt giữa ca dao, vè Tiền Giang với các tỉnh lân cận và với mặt bằng văn học dân gian vùng Nam Bộ

Sau khi phân loại, chỉnh lý trên 2000 bài ca dao và trên 100 bài vè từ tài liệu thô,

đề tài đã chỉnh lý và giữ lại được 50% số bài ca dao và trên 50 bài vè đưa vào phụ lục của đề tài nghiên cứu của mình

Trang 13

Bước đầu đưa ra những nhận xét khái quát về đặc trưng văn học dân gian tỉnh Tiền Giang thông qua đặc điểm nội dung và nghệ thuật của hai thể loại ca dao và vè

Trang 14

Và đóng góp quan trọng nhất trong đề tài nghiên cứu của chúng tôi là việc chỉnh

lý tư liệu văn học dân gian Tiền Giang nhằm gìn giữ và lưu truyền những giá trị tinh thần của con người và vùng đất Tiền Giang được thể hiện lại trong gần 1000 câu ca dao và trên 50 bài vè, bổ sung vào kho tàng văn học dân gian phong phú của dân tộc

Ý nghĩa khoa học của đề tài là đưa ra một cái nhìn khái quát về diện mạo của hai thể loại ca dao và vè ở tỉnh Tiền Giang Đồng thời đưa ra những nhận xét sơ lược về đặc điểm nội dung cũng như nghệ thuật của hai thể loại này Bên cạnh đó là đóng góp một công trình nhỏ về việc nghiên cứu văn học dân gian tại địa bàn nghiên cứu

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là chúng tôi hy vọng có thể cung cấp được một số tư liệu cần thiết có giá trị cho việc học tập và nghiên cứu văn học dân gian Tiền Giang nói chung và đặc biệt là ca dao, vè Tiền Giang nói riêng

Góp phần lưu giữ vốn văn học dân gian có thể sẽ mất dần theo thời gian cụ thể là

ca dao và vè tỉnh Tiền Giang Cố định hóa tác phẩm truyền miệng thành văn bản và là nguồn tài liệu có thể in thành những tuyển tập văn học dân gian phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy về văn học dân gian nói chung

Trang 15

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT DIỆN MẠO CA DAO VÀ VÈ Ở THÀNH PHỐ

MỸ THO VÀ BẢY HUYỆN: CAI LẬY, CÁI BÈ, CHÂU THÀNH,

CHỢ GẠO, GÒ CÔNG ĐÔNG, GÒ CÔNG TÂY, TÂN PHƯỚC,

TỈNH TIỀN GIANG

1.1 Vài nét khái quát về lịch sử, vùng đất và con người Tiền Giang

Định Tường xưa, Tiền Giang nay là một vùng đất đã đi vào lịch sử

Tiền Giang là tên gọi của tỉnh mới được đặt vào đầu năm 1976 gồm các tỉnh cũ của Mỹ ngụy là Mỹ Tho và Gò Công

Phía Bắc giáp Long An, phía Đông giáp Soài Rạp và biển Đông, phía Nam giáp tỉnh Bến Tre có cù lao Lợi Quần, cù lao đất và phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp

Với diện tích 2377 kilomet vuông, Tiền Giang hiện nay được xem là vùng đất đai trù phú với hệ thống sông ngòi dày đặc, được sự bồi đắp chủ yếu bởi sông Tiền, một nhánh chính của sông Mekong1

Người Việt đặt chân đến vùng đất này chính xác vào lúc nào thì cho đến nay vẫn còn là một câu hỏi Nhưng theo sử liệu thì vào đầu TK XVII, trên vùng đất Vũng Cù,

Mỹ Tho ngày đó có những nhóm lưu dân người Việt đến khai phá, lập ấp, định cư xen

kẽ những nhóm cư dân người Khmer có từ trước đó

Theo tài liệu sưu tầm được, trong sách Đại Nam nhất thống chí phần viết về

“dựng đặt và diên cách” của trấn Định Tường có viết lại : “Xưa là đất Vũng Cù (Vũng Gù)và Mỹ Tho, năm kỷ mùi thứ 32 năm 1679, đời Thái Tông, bọn Dương Ngạn Địch là tướng Long Môn nhà Minh lấy tư cách là bầy tôi nhà Minh xin quy phục, cho họ ở địa phương Mỹ Tho, dựng nhà cửa, lập ấp, họp người Kinh và người Di kết thành làng xóm” 2

Chúa Nguyễn là người rất có ý thức về vị trí thuận lợi và sự phát triển của vùng đất này nói riêng và các tỉnh Tây Nam Bộ nói chung

Trước kia, đây là vùng đất hoang vu, ít cư dân sinh sống, chỉ sống rải rác ở một vài nơi thì hiện tại đây là nơi xóm làng được lập nên đông đúc Ở các huyện đang tồn tại mô hình ấp, xã, thị trấn Những yếu tố này cho chúng ta thấy được sự cố gắng tích

cực của cư dân nơi đây qua bao thế hệ để được “an cư lạc nghiệp”

Trang 16

Trong vòng ba trăm năm trở lại đây, Tiền Giang ngày càng khẳng định vị trí của mình so với các tỉnh vùng đồng bằng Sông Cửu Long với những chiến lược phát triển kinh tế, xã hội

Với điều kiện tự nhiên như khí hậu mát mẻ, trong lành, đất đai trù phú không chỉ

là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển trồng cây lúa nước và trở thành một trong những vựa trái cây lớn nhất trong cả nước mà còn là nơi sinh sống của những người dân có tính cách chân thành, thẳng thắn, phóng khoáng, tốt bụng, cởi mở và rất hiếu khách, hòa đồng

Không dừng lại ở đó, Tiền Giang còn là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, bởi ở nơi

đây là nơi đáng tự hào của dân tộc ta về những chiến thắng vẻ vang trong lịch sử như Rạch Gầm- Xoài Mút, chiến thắng Ấp Bắc, Nam Kỳ khởi nghĩa…đồng thời còn là quê hương của những nhân vật có tên tuổi như: Trương Định, Lê Thị Hồng Gấm, Nguyễn Văn Tiến, Hồ Biểu Chánh,…

Những điều mà chúng tôi vừa đưa ra ở bên trên chỉ mang tính khái quát nhưng phần nào cho chúng ta thấy được hoàn cảnh tự nhiên cũng như những đặc điểm về con người nơi đây Những yếu tố này có ảnh hưởng ít nhiều đến các sáng tác văn học dân gian trong đó có ca dao và vè Và khi nghiên cứu ca dao và vè tại địa phương này, những yếu tố tự nhiên và con người như đã nhắc đến bên trên sẽ được thể hiện rõ

1.2 Một số thuật ngữ có liên quan đến đề tài

Trước hết là khái niệm về thuật ngữ ca dao, có rất nhiều định nghĩa về thuật ngữ

ca dao trong các công trình nghiên cứu về ca dao nói riêng và văn học dân gian nói chung từ trước đến nay Chung quy lại chúng tôi thấy các nhà nghiên cứu định nghĩa

ca dao dưới góc độ sau đây: Trong cuốn Việt Nam thi văn giảng luận của Hà Như Chi

do nhà xuất bản văn hóa thông tin phát hành vào năm 2000, tác giả cho rằng: “Ca dao là bài hát không có chương khúc; là những bài hát ngắn lưu hành trong nhân gian, thường

tả tính tình, phong tục người bình dân 1 ” Còn trong cuốn Văn học dân gian do Đinh Gia Khánh chủ biên thì ca dao được định nghĩa như sau: “Ca dao là lời của các bài hát dân

ca đã tước bỏ những tiếng đệm, tiếng láy … hoặc ngược lại là những câu thơ có thể

“bẻ” thành những làn điệu dân ca 2 ” Và theo Lịch sử văn học Việt Nam của Bùi Văn

Trang 17

Ca dao là một thể loại văn học dân gian hoàn chỉnh và có giá trị thẩm mỹ cao Ca dao có nội dung và hình thức rất phong phú, phản ánh cuộc sống nhiều mặt của nhân dân lao động Việt Nam qua nhiều thế hệ Ca dao là sáng tác của tập thể, là kết tinh của tài năng và tình yêu của những tác giả dân gian tài hoa và vô danh Hình ảnh trong ca dao là những những hình ảnh quen thuộc ở nông thôn, bởi vì chính nơi đấy người nông dân đã được sinh ra và lớn lên, những hình ảnh thân quen ấy từ lâu đã ăn sâu vào tiềm thức của họ Họ có đất riêng của họ, có không khí thân yêu riêng của họ, những ấn tượng và những kí ức riêng Họ nhìn ngắm, lắng nghe và trải nghiệm không chỉ bằng

sự nhận thức của tư duy mà còn bằng sự rung động từ trái tim chân chất của mình Và kết quả của sự rung động và nhận thức ấy đã được chuyển tải hết sức tài tình và sinh động trong ca dao

Về thuật ngữ vè thì trong các công trình nghiên cứu cũng có những định nghĩa khác

nhau như trong Văn học dân gian Việt Nam có nhận định: “Vè là thể loại tự sự dân gian bằng văn vần phát triển nhất trong thời kì cận đại” Hay một định nghĩa khác trong Văn học dân gian người Việt ở Nam Bộ có viết rằng: “Vè là một dạng báo nói do dân gian sáng tác và truyền tụng rất rộng rãi nhằm phản ánh kịp thời các sự kiện trong cuộc sống hàng ngày trong xóm, ấp, địa phương, dân tộc Nó cũng là tri thức dân gian về tự nhiên, về địa lí được bắt vần để đưa ra các khuôn dạng ổn định, dễ thuộc1.”

Cùng với ca dao, vè cũng mang những nội dung gắn chặt với đời sống của người dân lao động, nhất là đối với những miền thôn dã

Đồng thời chúng tôi sẽ dụng thuật ngữ “địa bàn nghiên cứu” để quy ước như tên gọi chung của thành phố Mỹ Tho và các huyện: Cai Lậy, Cái Bè, Châu Thành, Tân

      

1

 Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa(1922),Văn học dân gian người Việt ở Nam Bộ, NXB khoa học xã hội, tr.162 

Trang 18

Phước, Chợ Gạo, Gò Công Đông, Gò Công Tây của tỉnh Tiền Giang nhằm tránh sự lặp lại dài dòng, rườm rà khi nhắc đến tên của địa bàn nghiên cứu trong phần nội dung Cuối cùng, căn cứ vào đối tượng và phạm vi nghiên cứu mà tên đề tài của chúng

tôi sẽ là: CA DAO VÀ VÈ Ở TỈNH TIỀN GIANG (phân loại, chỉnh lý và giới

thiệu tài liệu sưu tầm điền dã tại thành phố Mỹ Tho và các huyện: Cai Lậy, Cái

Bè, Châu Thành, Tân Phước, Chợ Gạo, Gò Công Đông, Gò Công Tây)

Trong nghiên cứu này, công việc chủ yếu mà chúng tôi thực hiện là phân loại, chỉnh lý tư liệu thu thập được trong hai chuyến thực tập điền dã của sinh viên khoa Văn học và Ngôn ngữ về các huyện nêu trên Thông qua số tư liệu đã chỉnh lý chúng tôi bước đầu đưa ra các nhận xét về nội dung và nghệ thuật của ca dao và vè ở tỉnh Tiền Giang

1.3 Khái quát diện mạo ca dao ở địa bàn nghiên cứu

Nói đến ca dao là nói đến di sản văn hóa nghệ thuật dân gian vô cùng to lớn của dân tộc Ca dao Việt Nam là một thể loại văn học dân gian có giá trị về nhiều mặt, là kết tinh của trí tuệ và tình cảm của nhân dân lao động Ca dao Việt Nam có trữ lượng dồi dào, phát triển ở khắp mọi miền đất nước Ca dao có đặc điểm nội dung phong phú

và hình thức ngắn gọn, có vần điệu nhịp nhàng, được nhân dân truyền miệng qua nhiều thế hệ, luôn được trau chuốt, gọt giũa để ngày càng trở thành một viên ngọc sáng lung linh trong kho tàng văn học dân gian nước ta

Tiền Giang là một tỉnh thuộc vùng đất Nam Bộ, những dân cư ở Đàng Ngoài đã vào đây khẩn hoang và mang theo nền văn minh lúa nước từ lâu đời của tổ tiên, của dân tộc để ổn định đời sống của mình trong đó có tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán Văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng cũng đồng hành cùng con người vào đây Trải qua một thời gian tồn tại và phát triển, ca dao nơi đây mang trong mình những nét độc đáo, đặc trưng của vùng sông nước

Qua việc tìm hiểu ca dao Tiền Giang ta sẽ phần nào hiểu được đời sống vật chất, đời sống tinh thần và những nhận thức của con người nơi đây về thế giới xung quanh Cũng từ đây ta sẽ hiểu thêm về vùng đất, con người và những nét văn hóa của Tiền Giang nói riêng và văn hóa Nam Bộ nói chung

Trang 19

Với môi trường lao động chủ yếu là đồng ruộng và sông nước, những cư dân Nam Bộ sống hòa hợp, gắn bó với thiên nhiên Những người dân miệt vườn cùng gắn kết với nhau trong tình làng nghĩa xóm, trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng Họ chăm chỉ khai khẩn, làm việc trên mảnh đất của mình và dù ở nơi đâu, dù làm gì họ vẫn hướng niềm tin mạnh mẽ vào cuộc sống Tất cả điều đó được thể hiện đầy đủ trong ca dao dân ca với nhiều hình thức phong phú như những bài đồng dao của trẻ thơ, những câu hát ru của bà và mẹ dành cho con trẻ hay những câu hò giao duyên của trai gái miệt vườn hay những lời tâm tư của con người Tiền Giang qua những câu ca lắng đọng nhiều tâm sự Nếu như đồng dao có những đặc điểm đặc trưng về mặt nội dung

và hình thức để có thể xếp thành một mảng riêng biệt thì hát ru và hò lại là hai hình thức thể hiện của ca dao mà cần phải dựa và phần tiếng đệm, tiếng láy và hình thức cũng như hoàn cảnh diễn xướng mới có thể nhận ra được diện mạo của chúng Ở đây chúng tôi chỉ giới thiệu sơ qua về cách mà người dân Tiền Giang đã vận dụng ca dao như những lời hát ru và những câu hò trong thực tiễn đời sống của họ như thế nào

a Đồng dao

Trong cuốn Dân ca Việt Nam - những thành tố của chỉnh thể nguyên hợp của tác giả Lê Văn Chưởng có đề cập: “Đồng dao là những bài hát dân gian trẻ con, không có nhạc đệm, hàm chứa những nội dung ngây ngô được diễn xướng dưới nhiều hình thức, thường gắn với những trò chơi 1 "

Nhắc đến đồng dao là chúng ta lại liên tưởng ngay đến một thế giới trẻ thơ, trong sáng, yêu đời Thế giới trong đồng dao là một miền đất mới lạ, với đầy ắp những điều

kì thú và hấp dẫn trong đôi mắt trẻ thơ Trong quá trình vui chơi, đùa giỡn, các bài đồng dao đã được các em thiếu nhi cất lên như một điệu nhạc thôi thúc sự hứng thú và say mê trong lòng mỗi người Chính những câu ngắn gọn, súc tích, có vần điệu giúp cho các em dễ thuộc, nhớ lâu các bài đồng dao Hình cảnh các loại cây cỏ, động vật … trong đồng dao đã tạo nên sự đa dạng, phong phú trong nội dung bằng cách thể hiện hấp dẫn không như những bài học nhàm chán, thể hiện sự sinh động trong cách liên tưởng, để chúng ta cảm nhận rõ hơn về sự đáng yêu, ngộ nghĩnh trong tư duy và nhận thức của trẻ thơ

      

1

 Lê Văn Chưởng(2004), Dân ca Việt Nam – những thành tố của chỉnh thể nguyên hợp, NXB KHXH, (Hà Nội), tr.15 

Trang 20

Đôi khi bài đồng dao đã đem lại cho trẻ em những hiểu biết ban đầu về những vật dụng cũng như những thứ quen thuộc trong đời sống hàng ngày, giúp các em hiểu được tác dụng của chúng, cung cấp bài học đầu đời cho trẻ

Trời mưa lâm râm Cây trâm có trái Con gái có duyên Đồng tiền có lỗ Bánh tổ thì ngon Bánh hòn thì béo

Ngôn ngữ trong đồng dao rất đơn giản, dể hiểu, gần gũi với người dân nên cũng rất chân thật và luôn được trẻ con chọn làm những câu hát trong các trò chơi Đồng dao thường dùng thể vãn ba, vãn bốn, vãn năm nên cũng ngắn gọn, dễ thuộc, dễ nhớ Môi trường ở địa bàn nghiên cứu cũng đã phần nào tạo điều kiện cho đồng dao phát triển, những khu vườn, tán cây, những bờ sông hay những buổi chiều chơi đùa trên cánh đồng đã khơi gợi lên các trò chơi mà đôi khi không tìm thấy ở trẻ em thành thị Đồng dao đã tạo nên một thế giới thiên nhiên lung linh nhiều màu sắc trong tâm hồn trẻ thơ Dạy cho các em những bài học đầu tiên về tình yêu con người và thế giới xung quanh mình

Trong Tục ngữ, ca dao dân ca Việt Nam, Vũ Ngọc Phan có cho rằng: “Hát ru là những bài ca dao sẵn có, người hát tự thêm những tiếng đệm, tiếng láy và tiếng đưa hơi, tùy theo từng điệu hát ru em mỗi miền” 1

Hát ru là những câu ca dao được hát lên theo làn điệu của lời ru con trẻ, mỗi người bà, người mẹ, người chị điều có một điệu ru của riêng mình… và không ai biết xuất xứ của những điệu ru đó từ đâu ra nhưng chính những giọng ru ấy đã góp phần làm cho những bài ca dao càng thêm giá trị, vượt qua bao tháng năm và trở thành một phần ký ức đầy ắp yêu thương trong bao thế hệ con người Việt Nam từ trước đến nay

      

1

Vũ Ngọc Phan (1998) Tục ngữ, ca dao dân ca, NXB KHXH, (Hà Nội), 1998, tr.735 

Trang 21

Những bài hát ru có chức năng chính là ru con hay ru cháu, ru em ngủ, tất cả tấm lòng của người ru dành cho trẻ đã gửi gắm vào bài hát, tạo ra giai điệu vô tận tràn ngập chất thơ, tràn ngập tình thương yêu, mang đến cho trẻ thơ một giấc ngủ bình yên, ấm áp Hát ru là một thể loại rất phổ biến, có cả ở thành thị và nông thôn, những bài hát

ru ở địa bàn nghiên cứu thường bắt đầu bằng từ “ầu ơ” hay “ ví dầu”, lời ru vang lên trong một không khí mát mẻ, chan hòa, đôi khi chúng ta nghe giọng điệu người hát có thể biết được tâm trạng, hiểu hơn về con người nơi đây, lời ru êm dịu không những giúp cho đứa bé nhẹ nhàng đi vào giấc ngủ mà còn làm cho cảnh vật thiên nhiên xung quanh như đang lắng sâu, nghiêng ngả theo điệu hát

Ơ … ơ … ơ … Con cò bay lả bay la Bay qua Căm Pốt bay về Tiền Giang Tiền Giang gạo trắng nước trong Cây lành trái ngọt người mong đợi người

Khi những bài hát ru được cất lên, có thể những đứa trẻ không hiểu được nội dung của bài hát là gì nhưng chúng sẽ mãi mãi lưu lại trong kí ức của mình thứ âm nhạc của đồng quê, nặng tình mẫu tử, chứa chan tình cảm gia đình

c Hò

Trong cuốn Dân ca Việt Nam - Những thành tố của chỉnh thể nguyên hợp, Lê Văn Chưởng đã cho rằng: “Hò là hô lên, hát lên những bài thơ dân gian có kẻ xướng, người xô theo những làn điệu đặc thù để lao động và để thoải mãn nhu cầu của đời sống vật chất và tinh thần.” 1 Hay một nhận định khác về hò: “Hò được xem như một công cụ ứng xử, một phương thức tự biểu hiện, hò trở thành kiểu giao tiếp đặc biệt, đó

là kiểu giao tiếp có văn hóa cao” 2 trong tạp chí Văn nghệ dân gian xứ Huế

Trong kho tàng ca dao Việt Nam, đời sống của hò khá đa dạng, hò có mặt khắp mọi miền đất nước, mỗi nơi mang một phong cách riêng Tại địa bàn nghiên cứu hò

Triều Nguyên (2011), Văn nghệ dân gian xứ Huế, hò đối đáp nam nữ, giai thoại hò, truyện trạng Nguyễn Kinh,

Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin  

Trang 22

rất phong phú, hò là những câu ca dao được thêm thắt tiếng đệm, tiếng lót, tiếng láy nhằm phô bày tâm sự cá nhân hoặc dùng đối đáp, thi đua lời ý trong các hội hò hay những dịp sinh hoạt tập thể

Hò phản ánh các cung bậc tình cảm, tâm hồn của con người, đôi khi có thể là những lời than thân, trách phận hoặc những điệu nhớ nước thương nhà Hò được ngân lên có thể làm vơi đi phần nào nặng nhọc trong cuộc sống lao động, là lời tỏ tình trong các hội trăng

Hò ở địa bàn nghiên cứu mang đậm chất trữ tình với đặc điểm ngân dài và âm vang, trên những chiếc xuồng, ghe điệu hò được cất lên hòa cùng dòng nước đang trôi làm sống dậy chất nghệ sĩ đang ẩn nấu bên trong mỗi con người lao động chân tay quanh năm vất vả

Hò … ơ … ơ … Đèn nào cao cho bằng đèn Châu Đốc Dốc nào dốc cho bằng dốc Nam Vang

Những lời hò là những khúc ca trữ tình trong cuộc sống, ngân vang trong không gian sông nước, mộc mạc, bình dân nhưng lại là món ăn tinh thần bồi dưỡng đời sống tâm hồn người dân

1.4 Khái quát diện mạo vè ở địa bàn nghiên cứu

Vè là một thể loại văn học dân gian khá đặc biệt, là một thể loại tự sự được viết bằng văn vần có nội dung nhằm miêu tả, kể lại những sự kiện, sự vật có thật trong đời sống hàng ngày của người dân lao động

Trong Từ điển thuật ngữ văn học có định nghĩa rằng “Vè là một thể loại văn học dân gian kể chuyện bằng văn vần, được diễn xướng dưới hình thức nói hoặc kể nhằm phản ánh kịp thời những người thực, việc thực ở một địa phương nhất định để bộc lộ

thái độ khen chê của nhân dân” [I, 13: 354]

Trong nội dung của vè, hầu như những sự kiện của đời sống đều được ghi nhận

và phản ánh trong đó có những hiện tượng tự nhiên có ảnh hưởng đến đời sống của con người, những vấn đề trong xã hội, bức chân dung của con người trong quá trình sống và lao động, những vấn đề được chú ý hay các sự việc ly kì Nhưng không dừng lại ở đó mà nội dung bên trong còn sâu xa hơn mang dụng ý mà các tác giả bình dân muốn truyền đạt như ca ngợi, tự hào hay lên án, tố cáo một sự kiện, hiện tượng xã hội

Trang 23

hay một cá nhân nào đó với mục đích khen chê Bên cạnh đó ngôn ngữ có tính địa phương đã khiến cho giọng điệu của vè mang tính khẩn trương, giàu cảm xúc đánh đúng vào tâm lý của các đối tượng Vè là một thể loại mang tính địa phương và là một loại báo chí truyền miệng của dân gian

Về tính báo chí của vè, các nhà nghiên cứu Lê Giang và Lư Nhất Vũ đã có nhắc

đến trong công trình Dân ca Nam Bộ rằng : “Vè như một tờ báo truyền miệng những tin tức thời sự nóng hổi, những giai thoại hoặc một việc gì xảy ra có hại với thuần phong mỹ tục Vè cũng là vũ khí nhạy bén kịp thời vạch mặt đả kích phê phán bọn thực dân thống trị” [I, 14: 136]

Tại tỉnh Tiền giang, số lượng vè thu thập được sau khi đã chỉnh lý còn lại dù không nhiều nhưng đã phản ánh được những đặc điểm kể trên của vè và cũng phần nào giúp chúng ta có thể thấy được diện mạo cuộc sống của người dân địa phương tại địa bàn nghiên cứu trong quá khứ và ngay trong hiện tại

Vè dù được hiểu là câu chuyện viết bằng văn vần với nội dung phản ánh hiện thực nhưng được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nên khiến cho người tiếp nhận luôn có cảm giác thú vị khi tiếp xúc với nội dung phong phú của vè Cũng như vè trong kho tàng văn học dân gian cả nước nói chung, nội dung của vè ở Tiền Giang mà chúng tôi sưu tầm cũng bao gồm ba chủ đề chính: Vè kể vật kể việc, Vè thế sự và Vè lịch sử

Trang 24

a Vè kể vật, kể việc

Những sự vật, sự việc được kể trong vè thường là những thứ quen thuộc, gần gũi

và giản dị bởi chúng gắn kết mật thiết với cuộc sống thường nhật của nhân dân lao động Chính vì thế mà những bài vè kể vật, kể việc thường sinh động và dễ nhớ

Nếu chia theo nội dung phản ánh, chúng ta thấy vè kể vật kể việc phần lớn số bài

là nói về các sản vật của địa phương do thiên nhiên ban tặng hay cho chính bàn tay của con người tạo nên cùng với ảnh hưởng của nó tới đời sống sinh hoạt của người dân Thể hiện sự tự hào của người dân lao động về sự giàu có của quê hương mình:

Gọt ra có mủ

Là trái mít ướt Cái đầu xươn xướt Vốn thiệt trái thơm Cái đầu chơm bơm

Là trái bắp nấu (Vè trái cây 1)

Các món bánh phong phú mang đậm nét đặc trưng của vùng đất Nam Bộ cũng được vè thể hiện khá sinh động:

Ai mà hảo ngọt Thì có bánh cam Những kẻ nhát gan Này là bánh tét (Vè các loại bánh 2)

Trong phần vè kể vật kể việc còn có phần vè nói ngược hết sức thú vị Có thể nói,

vè nói ngược là thể loại vè được yêu thích bởi tính chất dí dỏm, lý thú có tính giải trí cao, người nghe sẽ cảm thấy bất ngờ nhưng đầy thích thú với những yếu tố nghịch lý được thể hiện trong vè nói ngược

Đòn sóc bửa cau Dao bầu gánh lúa May đồ bằng lúa

Bổ củi bằng kim

Trang 25

Có thể nói vè thế sự được lưu hành rộng rãi trong dân gian bởi tính chất chân thực

và thời sự như một tờ báo địa phương phản ánh các vấn đề nóng hổi, gây xôn xao dư luận Đồng thời vè thế sự còn bao gồm những bài vè nói về phong tục truyền thống hay những nét sinh hoạt văn hóa quen thuộc của người dân trong lao động và trong sinh hoạt xã hội

Chị em ai nấy Sáng ra đi cấy Bắt lúa leo dây Cấy lúa hàng ngang (Vè đi cấy)

Nội dung của vè thế sự còn mang tính chất phê phán, châm biếm những thói hư tật xấu của những con người nhằm bày tỏ thái độ khen chê của tác giả dân gian:

Cô bác xót xa Kêu cho nắm gạo

Bỏ mồm xệu xạo

Sợ nấu mất công Chết rũ giữa đồng Rồi đời thằng nhác (Vè thằng nhác)

Tính địa phương thường được thể hiện rõ rệt trong những bài vè có tính “điểm danh” những nơi chốn, địa điểm nổi bật hay tên gọi và nghề nghiệp của nhân dân tại một xóm hay một ấp nào đó Ngoài ra vè thế sự còn được sử dụng để ghi chép lại những sự kiện có tính trọng đại đáng ghi nhớ đối với một địa phương nào đó như làm đường, xây cầu, xây đình, xây trạm xá, vô nước, vô điện,…

Trang 26

c Vè lịch sử

Vè lịch sử ra đời nhằm ghi lại những sự kiện lịch sử của dân tộc trong quá trình đấu tranh chống giặc cứu nước Những sự kiện lịch sử đó có khi là những sự kiện lớn vang dội trên cả nước nhưng có khi chỉ là những sự kiện có liên quan đến đời sống của người dân của một địa phương nào đó mà thôi

Thời gian lưu truyền của những bài vè lịch sử này có thể lâu hơn những bài vè thế

sự bởi những sự kiện lịch sử đó có thể ảnh hưởng đến sự sinh tồn của toàn dân tộc và

là những sự kiện được toàn dân biết đến, quan tâm theo dõi và ghi nhớ

Nội dung chủ yếu của những bài vè lịch sử thường kể lại quá trình đấu tranh của quần chúng nhân dân và thể hiện lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc:

Thật là quá quắc Tội ác thằng Tây Tao đánh với mày Một còn một mất (Vè chạy giặc)

Hoặc bộc lộ thái độ của nhân dân đối với các nhân vật lịch sử như:

Chánh phủ nhân đạo, Dân chúng hoan nghênh Gương ông cụ Hồ Toàn dân kính phục Vài hàng mãn chục

Đả đảo Việt gian Ủng hộ Cụ Hồ Việt minh toàn thắng

(Vè đánh giặc)

Bên trên là những khái quát về diện mạo của vè tại địa bàn nghiên cứu để chúng

ta có cái nhìn bao quát Phần nội dung dưới đây chúng tôi sẽ triển khai cụ thể hơn

Trang 27

CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU VỀ NỘI DUNG

VÀ NGHỆ THUẬT CỦA CA DAO Ở ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 2.1 Những đặc điểm chủ yếu về nội dung của ca dao ở địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Ca dao tình yêu quê hương đất nước và lao động sản xuất

a Ca dao tình yêu quê hương đất nước

Mỗi người Việt Nam đều chất chứa sẵn trong tim mình tình yêu thương tha thiết đối với mảnh đất mà mình đã sinh ra và lớn lên Đó là thứ tình cảm thiêng liêng gắn liền với văn hóa trọng tình, trọng nghĩa từ bao đời nay của nhân dân ta

Chính tình yêu quê hương bắt nguồn từ nơi chôn nhau cắt rốn của mỗi người sẽ là nền tảng cho tình yêu đất nước, yêu thương giống nòi và lòng quyết tâm xây dựng, bảo

vệ nước nhà Người dân Tiền Giang cũng vậy, họ là những người nặng tình sông nước, gắn bó sâu sắc với nơi chốn đi về của mình Tình yêu quê hương đã đi sâu vào tiềm thức, văn hóa, phong tục, tập quán, trong mọi nếp sống sinh hoạt hằng ngày của mỗi người dân Việt Nam Và tình yêu đó được thể hiện bằng những câu ca dao ca ngợi quê hương đất nước, lòng tự hào của nhân dân Việt Nam về những danh lam thắng cảnh,

về phong tục tập quán, về lối sống, tinh thần và vật chất của cha ông từ xưa đến nay Tình yêu quê hương trong ca dao thể hiện sâu đậm ở nhiều khía cạnh Biểu hiện qua mối quan hệ gắn bó gần gũi thân thương giữa con người với thiên nhiên, muôn vật Đối với người Tiền Giang, từng cảnh vật, di tích đã trở nên quen thuộc, thân thương, họ sống và chết trên mảnh đất quê mình, đó là niềm tự hào của con dân miền sông nước

Khi nhắc tới một địa phương nào đó, người ta sẽ cố tìm xem ở địa phương đó có những nét gì đặc trưng gây ấn tượng mạnh mẽ mà không hề lẫn với bất cứ nơi nào khác Ca dao đã khéo léo miêu tả ấn tượng đó mà bất cứ ai đã từng sinh sống hay chỉ ghé thăm Tiền Giang vẫn để lại trong lòng bao lưu luyến, cảm xúc khó tả:

Trang 28

Thơm hương hoa bưởi ngọt ngào nhãn lông Khách về nhớ mãi trong lòng

Cù lao nho nhỏ lên dòng Tiền Giang

Tiền Giang có khí hậu ôn hòa, mát mẻ, nguồn nước dồi dào tạo điều kiện cho sự phát triển của nhiều loại cây trái, món ăn ngon đã trở thành đặc sản của từng địa phương trong tỉnh Bằng những vần ca dao mang tính chất giới thiệu, gọi mời như góp phần quảng bá hình ảnh quê nhà ta thấy được niềm tự hào và tấm lòng yêu quê tha thiết của con người nơi đây:

Ngọt hơn quýt, mận, cam sành Tiền Giang có bưởi trứ danh tiếng đồn

Ngoài những câu ca dao mang tính chất giới thiệu chung cho toàn tỉnh, thì ở mỗi

xã, huyện cũng có những đặc trưng riêng biệt với các loại cây trái thơm ngon hoặc chỉ đơn giản là những gì chứa đựng tình người tình đất thiêng liêng:

Ai qua lộ Bốn

Về chốn Ba Dừa Nhớ chăng tàu chuối đong đưa Thắm tình quê mẹ nắng mưa đợi mình

Bên cạnh đó, trước vẻ đẹp dịu dàng, đằm thắm của người con gái Tiền Giang, ca dao đã giành cho họ những lời ngợi khen chân thành, níu chân người dân đất khách ở lại miền đất hữu tình:

Đất Gò Công chưa mưa đã nắng Gái Gò Công má thắm môi son

Không chỉ ca ngợi vẻ đẹp quê mình, họ còn nhắc đến những vùng đất lân cận với những chiến công trong thời kỳ kháng chiến kèm theo sự ngưỡng mộ, thán phục miền đất Tây Nam Bộ của tổ quốc:

Đặt chân lên đất Tháp Mười Đến vùng Hậu Mỹ ngậm ngùi nhớ thương

        

Trang 29

Dấu chân ông Võ Duy Dương 1

Đánh Tây tiếp bước ông Trương 2 đất Gò 3

Những chiến công ấy chắc chắn có một phần góp sức của những con người Tiền Giang hồn hậu mà anh dũng Tình yêu quê hương được người dân thốt lên bằng lời ngợi ca, kỉ niệm về quê hương Tiền Giang chan chứa tình cảm Khi đi xa đến một vùng đất mới dù cho bao sự đổi thay của sự đời thì hình ảnh chiếc đò, câu hò ngọt ngào vẫn đọng mãi trong lòng người dân Đó là nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng của vùng đất này:

Thương hoài sông nước Tiền Giang Thuyền trăng nhớ bến về nơi hẹn hò Đêm dài thức với Mỹ Tho

Sông Tiền vọng lại tiếng hò quê hương

Họ tự hào vì được là người con trên mảnh đất có những di tích, thắng cảnh gắn liền với đời sống đấu tranh, lao động sản xuất của quần chúng nhân dân bao thế hệ, là dấu ấn lịch sử khó phai theo năm tháng:

Gò Công có biển Tân Thành

Có lăng Trương Định, có cầu Chơn Qui

Mỗi vùng đất gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển khác nhau Vùng đất Tiền Giang từ buổi đầu khai hoang, lập nghiệp trải qua bao hiểm nguy, khó khăn, gian khổ, sự khắc nghiệt của thiên nhiên, ác liệt của chiến tranh cho đến khi được hòa bình cũng không làm vơi đi tinh thần quả cảm, anh dũng của người dân nơi đây

Trong ca dao Tiền Giang không ít bài khuyến khích tinh thần yêu nước, khuyên người con trai phải nghĩ đến trách nhiệm, nghĩa vụ đối với non sông Phản ánh tinh

thần vì nước vì dân, “ vị quốc quên thân” của người dân quê trung hiếu:

Làm trai phải có gan lì Núp trong khói bếp làm gì nên thân Làm trai phải hiếu với dân

      

1 Võ Duy Dương (1827-1866) còn gọi là Thiên Hộ Dương quê ở làng Bình Cách nay là xã Tân Bình Thạnh, huyện Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang Ông là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp (1862- 1866) ở Đống Tháp Mười. 

2

Trương Định 

3

Gò Công 

Trang 30

Phải trung với nước mới cần có trai

Trong chiến đấu chống đế quốc xâm lăng, người dân sử dụng nhiều phương pháp chiến đấu linh hoạt, vận dụng tối đa lợi thế địa hình Xuất phát từ lòng căm thù giặc,

sự can cường, không ngần ngại hiểm nguy một lòng hướng đến thắng lợi phía trước, mỗi người dân Tiền Giang đều chung tay góp sức sáng tạo nên những vũ khí hiểm nguy nhằm ngăn bước quân thù:

Hầm chông chống Mỹ tham tàn Anh em lính Việt đừng càn vô đây

Trước sức mạnh của quân dân làm cho quân thù khiếp sợ, chùa chiền cũng trở thành căn cứ của cách mạng, nhiều địa phương đã ca ngợi những thắng lợi vẻ vang đó:

Mỹ vào Bình Đức Mỹ thua Ngán chùa Thiện Đức gọi chùa A-K

Phụ nữ Tiền Giang không những đảm đang, chịu khó trong cuộc sống mà còn là những người phụ nữ kiên trung, bất khuất trong thời chiến Vậy nên, khi giặc đến họ cũng đứng lên góp sức cho sự nghiệp chung của dân tộc:

Gái Mỹ Tho mày tằm mắt phượng Giặc đến nhà chẳng ngại vung đao

Ca dao Tiền Giang về tình yêu quê hương đất nước còn là lời khắc ghi công ơn của những vị anh hùng, chiến sĩ với những chiến tích vang dội Ghi nhớ công lao của cha ông đã gây dựng và bảo vệ quê hương là bổn phận làm người, cũng là động lực hướng người dân đến những giá trị mang tính cội nguồn, dân tộc:

Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn Nước có nguồn bể rộng sông sâu Người ta thường sống ở đâu

Có tổ tiên trước rồi sau có mình

Họ quyết tâm xây dựng giàu đẹp quê hương dù phải trải qua bao nhiêu khó khăn, trắc trở của buổi đầu gây dựng:

Gò Công đi dễ khó về Phải qua cầu nổi lắm bề truân chuyên

Trang 31

Lời ca dao luôn nhắc nhở người con Tiền Giang hướng về quê hương thanh bình, hiền hòa, nếu may mắn được học hỏi nhiều tri thức quý báu thì hãy cùng quay về để chung tay phát triển quê hương ngày càng giàu đẹp:

Anh đi đâu hãy nhớ về Bình Đức 1

Lập vườn trồng quít, cuốc đất trồng khoai Nếu anh ăn học thành tài

Về miền nước ngọt tháng ngày dựng xây

Tình yêu nước như mạch nước nguồn xuyên suốt trong ca dao Tiền Giang, trải dài qua từng thế hệ gắn liền với quá trình xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước Tinh thần dân tộc lớn lao ấy góp phần khẳng định ý chí mạnh mẽ và tấm lòng nhân hậu, bao dung của người dân vùng đất phía Tây Nam Bộ của tổ quốc

Ca dao Tiền Giang là tấm gương phản chiếu mọi ngóc ngách tâm hồn của con người Tiền Giang nói riêng và người Việt Nam nói chung, lưu giữ mọi dấu ấn tinh thần trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc Đồng thời, minh chứng cho sức mạnh của con người Việt Nam luôn luôn hướng về tương lai phía trước Một dân tộc anh dũng, yêu nước sâu sắc, đề cao hòa bình, hạnh phúc, ấm no

      

1

Bình Đức thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. 

Trang 32

b Ca dao tình yêu lao động, sản xuất

Lao động sản xuất là nhu cầu của bất cứ dân tộc nào tồn tại trên trái đất này, có lao động con người mới duy trì sự sống, hoàn thiện được sự phát triển của cá nhân và cộng đồng Hoạt động lao động sản xuất của mỗi dân tộc phản ánh sâu sắc nhất văn hóa ứng xử, hòa nhập với môi trường để từ đó có cái nhìn chân thật, đúng đắn về dân tộc, địa phương đó

Người Tiền Giang cần cù, yêu lao động Từ một vùng đất hoang sơ, nghèo khó trong buổi đầu gây dựng với bao hiểm nguy, trắc trở đã dần dần phát triển no ấm, giàu mạnh Sự phát triển ấy có được do lòng yêu lao động và đức tính cần cù chịu thương chịu khó của những con người mưu sinh quanh bờ sông Tiền Lao động đã trở thành một hoạt động văn hóa đặc thù, phản ánh qua cao dao như một mảng đề tài không thể thiếu

Người dân Tiền Giang quanh năm gắn bó với đồng ruộng, cày cấy, lấy lao động

là niềm vui sống Họ ý thức được chỉ có lao động sản xuất mới thoát nghèo, mới tạo

ra cái ăn, tạo ra sự sống cho nên không bao giờ để cho ruộng đồng bỏ hoang mà luôn thâm canh tăng vụ, nâng cao sản lượng nông nghiệp và nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần:

Cơm ăn một bát sao no Ruộng cày một vụ sao cho đành lòng

Vẻ đẹp ngày mùa bội thu với những cánh đồng bông lúa trĩu vàng trở thành biểu tượng của sự ấm no hạnh phúc Trên cánh đồng người dân vui sướng thu hoạch thành quả cho một vụ mùa thành công, hòa chung không khí lao động rộn ràng, dù có những lúc khí hậu khắc nghiệt, người dân thôn quê vẫn hăng say lao động:

Trời mưa thì mặc trời mưa Chú Tư đi bừa đã có áo tơi

Tình yêu lao động sản xuất được phản ánh sâu sắc qua ước vọng về cuộc sống bình dị, nhàn nông với những hoạt động trong công việc đồng áng Khi thất thế trên con đường văn chương lập thân họ trở về với quê hương mà thỏa mãn với cuộc sống yên bình, nơi họ có thể thỏa sức lao động trên mảnh đất màu mỡ của cha ông để lại:

Văn thơ phú lục chẳng hay Trở về làng cũ, học cày cho xong

Trang 33

Người lao động mang trong mình vẻ đẹp của tinh thần lạc quan Xem lao động là nhu cầu sinh hoạt của cuộc sống, người dân không quản gian truân, cơ cực, ngày ngày chăm chỉ ra đồng làm việc:

Tuy cực khổ chẳng kể công Muỗi mòng châm chích nhưng lòng vẫn vui

Tinh thần vui sống ấy đã giúp người dân vượt qua bất lợi của thời tiết mà hoàn tất công việc của mình:

Trời mưa trời gió đùng đùng Cha con chú Sùng đi gánh phân trâu

Tuy nhiên, có những lúc không đạt được kết quả như mong muốn nhưng những người dân chân chất ấy vẫn không nản chí mà hóa giải nó thành tiếng cười:

Chiều chiều ông Lữ đi dăng

Cá tôm nhảy hết nhăn răng cười hoài

Thiên tai, bão lụt là những hiểm nguy mà con người sống và làm việc trên vùng sông nước khó mà tránh khỏi:

Anh đi ghe gạo Gò Công Anh về Bao Ngược 1 bị giông đứt buồm

Hình ảnh con trâu cũng đi vào ca dao, là con vật thân thương, gắn bó trong công việc đồng áng của người dân lao động, trở thành người bạn thân thiết với người nông dân:

Chiều chiều ông Lữ đi cày Trâu mang gãy ách ngồi bờ khoanh tay

Ca dao Tiền Giang còn là tiếng nói đồng cảm, ngợi ca đức tính chịu thương, chịu khó Trong gia đình, họ cùng nhau chung sức làm việc, vượt qua mọi trở ngại, thất bại

Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê

      

1

Bao Ngược là ngã ba thông thương giữa sông Vàm Cỏ và sông Soài Rạp để vào Gò Công. 

Trang 34

Tình yêu lao động phản ánh qua đức tính siêng năng, chăm chỉ làm ăn Người dân quanh năm lấy lao động là động lực phát triển kinh tế, mỗi địa phương gắn bó với nhau trên nền tảng đoàn kết, yêu thương, hăng say làm việc:

Toàn dân Thạnh Nhựt 1 cần cù Lao động sản suất lu bù không ngơi

Trong quá trình lao động, bằng tinh thần học hỏi, sáng tạo, người nông dân đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm sản xuất Họ hình thành khả năng dự đoán thời tiết một cách linh hoạt, thông minh:

Nửa đêm sao sáng, mây cao Điềm trời nắng gắt, nắng gào chẳng sai

Công việc đã gắn kết con người với nhau, đậm đà tình làng nghĩa xóm Tình yêu nam nữ cũng khởi nguồn từ đây:

Anh đi đóng đáy bãi ngang Ngó qua Láng Lộc 2 thấy nàng lượm tôm

Muốn hiểu biết văn hóa của một vùng đất thì khó có thể bỏ qua văn hóa lao động của địa phương đó Ca dao Tiền Giang chính là sự phản ánh một cách chân thật nhất

về tinh thần lao động của người dân, đó là tinh thần vượt qua gian khó, chinh phục tự nhiên xây dựng cuộc sống yên bình

Những câu ca dao giàu sắc thái trên giúp ta có cái nhìn khái quát về tích cách và tâm hồn của con người Tiền Giang, họ sống và làm việc trên tinh thần lạc quan, ý thức được trách nhiệm với bản thân và cộng đồng

Trang 35

2.1.2 Tình yêu nam nữ

Tình yêu là đề tài không thể thiếu của bất cứ lĩnh vực nào trong cuộc sống Thế nên, tình yêu nam nữ cũng là đề tài quan trọng trong ca dao và chiếm số lượng lớn nhất so với các đề tài khác

Trong thể loại văn học dân gian này, tình yêu hiện lên với nhiều cung bậc cảm xúc và trạng thái tình cảm khác nhau

a Gặp gỡ, làm quen, trao gửi tình cảm

Trong tình yêu, buổi đầu gặp gỡ luôn để lại nhiều kỉ niệm, sẽ là điều kiện cho tình yêu đơm hoa kết trái Với ca dao, tình yêu của người dân lao động được thể hiện một cách mộc mạc, chân chất Họ gặp nhau trong lúc làm việc, trên đường đi, chàng trai ngỏ lời làm quen cô gái:

Đi ngang lò mía thơm lừng Muốn vô kết nghĩa can thường với em

Vẻ đẹp đằm thắm của người con gái miền sông nước khiến bao chàng trai không ngại ngần bày tỏ tình yêu của mình Chỉ với mái tóc, nụ cười, ánh mắt cũng đủ làm họ thấy yêu thương nhưng sự thẹn thùng của chàng trai quê khiến họ chẳng dám nói thật lòng mình mà cứ khăng khăng đổ tội cho ông trời:

Bới tóc cánh tiên, bó vòng lá liễu Thấy miệng em cười trời biểu anh thương

Có khi chàng trai mạnh dạn bắt chuyện với cô gái, hòa vào không khí lao động của ngày mùa:

Thấy cô cấy rẫy buồn xo Cùng anh kết nghĩa chuyện trò được chăng

Và cái tình yêu trai gái như hòa chung vào tình yêu lao động, chàng trai mượn cớ giúp việc để được gần gũi người con gái mà mình mến yêu:

Hỡi cô tát nước bên sông Cho anh tát với chung lòng thành đôi

Người dân miền sông nước có những hoạt động sinh hoạt văn hóa độc đáo gắn với đặc trưng của vùng miền Vào những dịp lễ tết, hội hè thì điệu hò, câu ca trên sông

là loại hình giải trí không thể thiếu được Đây cũng dịp trai gái gặp nhau và nảy nở

Trang 36

Nước ngã ba chảy ra Giồng Dứa 1

Nghe giọng anh hò em ứa giọt châu

Người Nam Bộ chân chất thật thà, phóng khoáng cởi mở, trong đời sống hàng ngày như thế nào thì khi khơi chuyện yêu thương họ cũng thẳng thắn và rõ ràng như thế:

Chuồn chuồn đậu nhánh cây dương Vào đây em hỏi thiệt có thương em chờ

Nếu cô gái muốn câu trả lời rành mạch, chắc chắn của người thương thì chàng trai cũng mong ước được nhìn thấy cái gật đầu của cô gái mà anh thầm yêu trộm nhớ:

Rượu Gò Công ai đong nấy uống Anh em mình có mến được không?

Tình yêu cũng bắt đầu bằng hai chữ “ duyên nợ”, tìm được người mình yêu thương thì phải trải qua một hành trình dài:

Anh đi lục tỉnh giáp vòng Tới đây trời khiến đem lòng thương em

Từ những ấn tượng đầu tiên mà mối tình thôn quê bình dị được nảy nở Những vần ca dao góp phần lưu giữ kỉ niệm ban đầu của đôi lứa yêu nhau

b Hẹn ước, chia tay và xa cách nhớ nhung

Để khẳng định tình yêu chân thành, chung thủy thì kỷ vật kèm theo lời hẹn ước là không thể thiếu trong tình yêu Chàng trai thường là người chủ động, họ hứa hẹn với nhau những lời yêu thương dù cho hoàn cảnh phải chia ly cũng không ngăn cách được tương lai sum vầy

      

1

Giồng Dứa: Địa danh thuộc xã Long Định, huyện Châu Thành,Tiền Giang. 

Trang 37

Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ Đèn Mỹ Tho ngọn đỏ ngọn lu Anh về học lấy chữ Nhu Chín trăng em cũng đợi Mười thu em cũng chờ

Tuy chịu ảnh hưởng những quan niệm khắc khe của lễ giáo phong kiến, người con gái không được chủ động trong tình yêu nhưng trong ca dao khi nhắc đến những trở ngại rào cản ngăn cách lứa đôi thì hình ảnh người phụ nữ lại được miêu tả như những con người mạnh mẽ, quyết liệt sẵn sàng nhận lấy khổ đau dù là cái chết để bảo

vệ tình yêu của mình, sẵn sàng đổi lấy sự sống quý báu của mình để khẳng định tấm lòng yêu thương son sắc đặc biệt là các chàng trai vùng sông nước cái chết nhẹ tợ lông hồng khi họ bị buộc phải xa người yêu:

Anh thương em dầu cổ mang gông, cẳng lại đeo kiềng Chết thời chịu chết, buông bạn tình anh không buông

Họ sẵn sàng trao nhau những lời thề nguyện, nhắc nhở về tấm chung tình trong tình yêu, dù cho phải đối diện với nhiều cám dỗ trong đời vẫn quyết không rời xa nhau:

Yêu nhau trao trọn chân tình Trăm ngàn cám dỗ xin đừng quên nhau

Mượn sự việc không thể xảy ra để nhấn mạnh tình cảm không thể thay đổi được của họ dành cho nhau:

Chừng nào muối ngọt chanh thanh

Em đây mới nỡ bỏ anh lấy chồng

Cuộc sống còn nghèo khổ, khó khăn, muốn người mình yêu được hạnh phúc họ hứa hẹn khi hết khổ thì sẽ ở bên nhau.:

Trang 38

Anh về em hổng dám đưa Nước mắt tuôn nhỏ giọt như mưa tháng mười

Qua ca dao Tiền Giang, tâm hồn con người được phản ánh một cách chân thật, sâu sắc bằng những lời thơ mộc mạc, giản dị nhưng chân thật và đầy tình cảm, đủ sức làm lay động lòng người

Có lẽ không có gì tha thiết bằng nỗi nhớ trong tình yêu, ca dao Tiền Giang đã ghi lại nỗi nhớ này với nhiều nỗi niềm tâm sự khác nhau của những con người dân quê bình dị Nhớ nhung là nền tảng để duy trì và kết nối tình yêu, giúp họ luôn hướng về nhau trong bất kỳ hoàn cảnh nào:

Sự đời nước mắt soi gương Càng yêu nhau lắm càng thương nhớ nhiều

Đối với người nông dân thì ngày mùa là cơ hội để tìm hiểu, trao duyên giữa những đôi trai gái Khi ngày mùa đi qua, công việc đã hết thì họ than thở cho vơi nỗi nhớ trong lòng:

Mãn mùa đồng bích lúa xanh Đồng đâu cấy nữa mà gặp mặt anh cho tường

Nỗi nhớ dàn trải ở mọi ngóc ngách tâm hồn, trải dài trong không gian và thời gian đưa họ vào thế giới của sự lãng mạn, càng về đêm thì càng thao thức, trằn trọc:

Đêm nằm anh nhớ đến nàng

Trang 39

Muốn sang bên đó biết sang đường nào

Rồi lại liên tưởng, nhìn đâu cũng thấy bóng hình người thương Ước mơ hóa thành sự vật để được gần gũi người mình yêu:

Ước chi anh như đám dừa xanh cuối sông Vàm Cỏ Như rặng trâm bầu đón gió Cửu Long

Để được bên em muôn trùng sóng vỗ

Ơi người anh yêu! Người con gái Gò Công

Có thể nói, không có nhớ nhung thì không có tình yêu Nỗi nhớ là trạng thái thường tình trong tình yêu và trở thành đề tài thân thuộc, đặc sắc trong ca dao

c Mong ước hôn nhân và những trắc trở tình duyên

Hôn nhân được xem là chặng đường thứ hai của tình yêu Đôi lứa cùng nhau chung tay xây dựng hạnh phúc gia đình trên nền tảng tự nguyện, yêu thương và không

vụ lợi Tuy nhiên, trong hôn nhân cũng có nhiều vấn đề nảy sinh, không chỉ có hạnh phúc mà còn là những lo lắng, trách nhiệm làm sao cho trọn vẹn đạo nghĩa vợ chồng Những người yêu nhau hạnh phúc trong ngày cưới, đó là sự kiện trọng đại của một đời người Ca dao Tiền Giang đã phản ánh sự kiện ấy bằng hình ảnh đặc trưng trong văn hóa hôn nhân của người dân khu vực miền Tây Nam Bộ, đề cập nhiều đến các vấn đề liên quan đến cưới hỏi Người nông dân thiếu thốn mọi bề, để cưới được người mình yêu thương họ phải làm lụng vất vả, chuẩn bị sính lễ đầy đủ cho ngày trọng đại của mình Lời hứa hẹn đó được chàng trai bộc lộ đầy trách nhiệm:

Cưới em không phải cưới không Cưới em phải có đôi bông dây chuyền Cưới em không phải không tiền Chờ anh mần mướn có tiền cưới em

Dầu có phải gặp nhiều trở ngại nhưng không vì thế mà những mối tình thôn quê rơi vào bế tắc Đôi lứa yêu nhau động viên người mình yêu thương vượt qua trở ngại, cùng hướng tới tương lai tươi đẹp:

Miễn em ừ Anh chẳng từ lao khổ

Trang 40

Rượu lưu ly chơn anh quỳ tay anh rót, Cha mẹ em uống rồi em dời gót theo anh

Thế nhưng, không phải chuyện hôn nhân nào cũng được thuận lợi, có khi đôi lứa phải ngậm ngùi chia ly cũng bởi vì cảnh ép duyên:

Chỗ mình đành phụ mẫu không đành Chỗ mình không đành phụ mẫu tán thành gả ép

Vậy nên, đến với hôn nhân là cả một quá trình cần có sự chân thành và quyết chí của đôi lứa yêu nhau Điều đó thể hiện khát vọng vươn tới hạnh phúc của con người

dù ở bất cứ thời kỳ nào Không phải lúc nào những người yêu nhau cũng được sống với nhau hạnh phúc, trọn vẹn mà đôi khi vì những lý do khách quan, những trở ngại bên ngoài mà duyên trăm năm của biết bao lứa đôi bị đổ vỡ, chia ly

Nguyên nhân trước tiên là sự hà khắc của lễ giáo phong kiến theo quan niệm

“Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” Họ không được quyền tự quyết trong tình yêu, cha mẹ

nếu thấy không môn đăng hộ đối thì ngăn cản, chia cắt con cái Không ít tình yêu vì thế mà đỗ vỡ:

Cha mẹ gả ép anh ôi

Xe lên vừa tới đứng ngồi không yên

Vai trò của cha mẹ, dòng họ rất lớn Đôi lứa yêu nhau còn phải vượt qua rào cản

ấy mới có thể tìm hiểu nhau rồi tiến đến hôn nhân vì không dám cãi lời cha mẹ, yêu thương mà không môn đăng hộ đối nên cô gái phải chịu cảnh đòn roi của cha mẹ còn chàng trai chỉ biết đau khổ, ngậm ngùi và cuối cùng họ đành chịu cảnh chia xa, ca dao phản ánh chân thật tình cảnh ấy:

Hai đứa mình còn nhớ còn thương Phụ mẫu không thương dứt nghĩa can thường

Ngày đăng: 07/05/2021, 18:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w