1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân học triết học phương tây hiện đại và ý nghĩa của nó trong việc phát triển nhân cách con người việt nam hiện nay

236 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhân Học Triết Học Phương Tây Hiện Đại Và Ý Nghĩa Của Nó Trong Việc Phát Triển Nhân Cách Con Người Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Nguyễn Thị Tuyết Oanh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Trọng Nghĩa
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh - Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Triết Học
Năm xuất bản 2013
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 236
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ TUYẾT OANH NHÂN HỌC TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY HIỆN ĐẠI VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY Chuyên ngành: TRIẾT HỌC LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾ

Trang 1



NGUYỄN THỊ TUYẾT OANH

NHÂN HỌC TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY HIỆN ĐẠI

VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: TRIẾT HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013

Trang 2

NGUYỄN THỊ TUYẾT OANH

NHÂN HỌC TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY HIỆN ĐẠI

VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: TRIẾT HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN TRỌNG NGHĨA

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 4

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 12

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 13

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 14

7 Những điểm mới của đề tài 14

8 Kết cấu của đề tài 15

Chương 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHÂN HỌC TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY HIỆN ĐẠI 16

1.1 Những điều kiện và tiền đề hình thành nhân học triết học phương Tây hiện đại 16

1.1.1 Điều kiện kinh tế – xã hội 16

1.1.2 Tiền đề lý luận 20

1.1.3 Tiền đề khoa học tự nhiên 36

1.2 Giai đoạn hình thành và phát triển nhân học triết học phương Tây hiện đại 41

1.2.1 Khái niệm nhân học triết học 41

1.2.2 Những giai đoạn chủ yếu trong sự hình thành và phát triển nhân học triết học phương Tây hiện đại 52

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHỦ YẾU CỦA NHÂN HỌC TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY HIỆN ĐẠI – GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY 78

2.1 Những vấn đề chủ yếu của nhân học triết học phương Tây hiện đại và giá trị của nó 78

2.1.1 Bản chất và vị trí con người trong vũ trụ 78

2.1.2 Con người và nhân vị 87

2.1.3 Con người và Thượng đế 93

2.1.4 Con người và tình yêu 107

Trang 4

hiện nay 125

2.2.2 Nhân học triết học phương Tây hiện đại trong việc hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện nay 136

KẾT LUẬN 156

THƯ MỤC THAM KHẢO 163

Phụ lục 1: Một số đại biểu của nhân học triết học phương Tây hiện đại 199

Phụ lục 2: Cấu trúc nhân cách 200

Phụ lục 3: Lịch sử phát triển nhận thức và Luật quốc tế về quyền con người 203

Phụ lục 4: Danh mục một số quyền con người 205

Phụ lục 5: Trích tác phẩm kinh điển của V.I.Lênin liên quan đến quyền con người 208

Phụ lục 6: Những trích dẫn chung về quyền con người 213

Phụ lục 7: Humanist Manifesto I, 1933 217

Phụ lục 8: Humanist Manifesto II, 1973 221

Phụ lục 9: Đối chiếu các quyền được quy định trong Bộ luật nhân quyền quốc tế với các quy định tại chương V Hiến pháp 1992 của Việt Nam 230

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Con người vừa là một thực thể tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội và do vậy, trong mọi thời đại lịch sử, con người luôn có một tầm vóc quan trọng trong việc kiến tạo xã hội và thế giới Kinh Veda cho rằng “trong tất cả mọi cái đang tồn tại, trong tất cả mọi cái sẽ tồn tại, con người là và sẽ là tối cao” [110, tr.74] Bản chất con người, theo Upanishad, là kiến thức, quyền năng và hành động Con người không phải sinh ra để hạnh phúc mà để nên người, để mạo hiểm và đối phó nguy nan hầu tạo ra sự phồn vinh, trường tồn và an bình cho cộng đồng Con người hành động như mình yêu và yêu thương như mình suy nghĩ; tư tưởng đào tạo trái tim và trái tim rèn luyện hạnh kiểm Vì thế, “bản thân con người đã là một

sự may mắn vô cùng tận Nhưng con người lại chính là cái trách nhiệm vô cùng tận của sự may mắn ấy” [110, tr.60] (Albert Camus)

Triết học phương Tây hiện đại khẳng định rằng con người là đề tài trung tâm của triết học Kinh nghiệm phát triển nhiều thế kỷ của triết học chứng tỏ triết học có một đề tài trung tâm mà tất cả các đề tài, các vấn đề khác của triết học đều tập hợp xoay quanh nó – đề tài về con người Nhà triết học Hy Lạp cổ đại Empedoclius cho rằng “con người đã, đang và sẽ luôn luôn là hiện tượng thú

vị nhất đối với con người” Công lao đặc biệt trong việc đặt ra vấn đề triết học

về con người là thuộc về Socrates Chính ông là nhà triết học đầu tiên đã đặt con người, mục đích tồn tại của con người, các đặc điểm của bản tính con người vào trung tâm những suy ngẫm của mình

Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước đòi hỏi phải có sự kết hợp sáng tạo các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin với điều kiện lịch

sử dân tộc và đặc điểm của thời đại, để xây dựng được lý luận phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa phù hợp với mỗi nước, đồng thời chống chủ nghĩa giáo điều “tả khuynh”, ngăn chặn chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh Chủ nghĩa Mác

Trang 6

là một hệ thống quan điểm, học thuyết hay được định nghĩa như là “thế giới quan và phương pháp giải thích – cải biến thế giới tự nhiên, xã hội trên lập trường duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, nhằm mục đích xã hội chủ nghĩa” [291, tr.17] Với mục đích như vậy, cuộc vận động có tính khoa học, cách mạng

và nhân văn của chủ nghĩa Mác, đã và sẽ diễn ra qua nhiều giai đoạn kế tiếp nhau, nhưng không theo nguyên tắc kế thừa giản đơn, mà là sự phát triển tổng hợp quan điểm, học thuyết của Mác từ thực tế sôi động, phong phú của toàn bộ những sự vật, hiện tượng của thời đại mới ở trình độ ngày một cao hơn

Triết học phương Tây hiện đại là tiếng nói của giai cấp tư sản trong giai đoạn hiện nay đã có những khuynh hướng “hợp tác” và “phân ly” đối với học thuyết Mác Dù có những ưu điểm và hạn chế nhất định về thế giới quan, phương pháp luận…, việc tìm hiểu thấu đáo về loại hình triết học này, một phần giúp ta hiểu rõ hơn về tư duy của con người phương Tây hiện đại, một phần góp sức vào việc củng cố và phát triển sự bền vững của chủ nghĩa Mác trong giai đoạn toàn cầu hiện nay Phương châm “biết người – hiểu người” để đi đến “sự thành công” nhất định trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam đòi hỏi kiến thức văn hóa cũng như việc vận dụng thành tựu khoa học kỹ thuật ở phương Tây

Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu, tham khảo, khai thác và tiếp biến nhiều tư tưởng tiến bộ về con người trong trước tác của các triết gia cần được thực hiện để vận dụng vào thực tiễn đời sống nhằm xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đồng thời tạo dựng bầu không khí xã hội dân chủ, lành mạnh cho việc hình thành và phát triển nhân cách con người, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục

vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế

vì mục đích “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Trang 7

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận định: “Trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế phải đặc biệt quan tâm, giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc Tiếp thu tinh hoa của các dân tộc trên thế giới, làm giàu đẹp thêm nền văn hóa Việt Nam” [60, tr.111], “nhằm hình thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội phù hợp với truyền thống, bản sắc dân tộc và yêu cầu của thời đại” [60, tr.113] Tất

cả mục đích trên là vì con người và cho con người Do vậy, việc nghiên cứu

“nhân học triết học phương Tây hiện đại và ý nghĩa của nó trong việc phát triển

nhân cách con người Việt Nam hiện nay” có ý nghĩa thiết thực và là bài học bổ

ích cho sự nghiệp phát triển con người, phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước hiện nay

Bước vào những năm đầu của thập kỷ thứ hai trong thế kỷ XXI, thế giới vẫn đang chứng kiến những biến đổi vô cùng nhanh chóng, phức tạp và khó lường dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa Trong khi đó, “dân chủ, ở phương Tây hay phương Đông, trong lịch sử hay trong hiện tại, vẫn luôn là ước vọng của con người, của loài người Dân chủ, như thực tế cho thấy, là tiền đề của tự do – thậm chí chính là tự do và tự do là tiền đề cho hạnh phúc của con người, của loài người” [214, tr.7] Thật thế, quyền con người là một giá trị cao quý, là một phạm trù lịch sử, là kết quả đấu tranh chung của toàn thể nhân loại nhằm vươn tới một xã hội công bằng, dân chủ và nhân đạo Xây dựng một xã hội mà trong đó tất cả mọi người đều tự do và được hưởng các quyền con người một cách thực chất, đầy đủ và bình đẳng là mục tiêu cuối cùng của các cuộc cách mạng do các chính đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo trong thế kỷ qua Trong thời đại ngày nay, quyền con người đã trở thành mối quan tâm chung của cộng đồng quốc tế Đảm bảo quyền con người là một yếu tố không thể thiếu khi hoạch định chính sách, pháp luật và quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia

Trang 8

Chỉ thị của Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 12/7/1992

về vấn đề quyền con người đã nhấn mạnh tính chất quan trọng của việc “tổ chức nghiên cứu đề tài khoa học về quyền con người… trên cơ sở đó, xây dựng hệ thống các quan điểm của Đảng ta về quyền con người, làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật, chính sách về quyền con người, tạo thế chủ động chính trị trong cuộc đấu tranh về quyền con người trên trường quốc tế” [219, tr.5]

Như thế, việc tìm hiểu và nghiên cứu về “nhân học triết học phương Tây hiện đại và ý nghĩa của nó trong việc phát triển nhân cách con người Việt Nam hiện nay” cũng đóng góp một phần khiêm tốn trong việc phát triển quyền con

người tại Việt Nam

Lý thuyết về nhân học triết học đã hình thành từ lâu đời Sự phát triển của những viễn kiến nhân học có từ thời Aristotle, Platon, Augustine kéo dài đến các đại biểu có tư tưởng quan niệm nhân học của thế kỷ XVII (Descartes), XVIII (Kant, Feuerbach), XIX (Fichte, Schelling, Hegel, Kierkergaard), đầu thế kỷ XX (Nietzsche, Dewey, Steiner) đã khắc họa những đặc trưng phổ quát và riêng biệt của nhân học triết học trong từng giai đoạn Đề tài nghiên cứu này là một sự kế tục và phát triển tư tưởng nhân học triết học với những giá trị thực tiễn của nó, chủ yếu dựa trên phương pháp hiện tượng học của Husserl và quan niệm về con người, đạo đức và văn hóa của Kant Nhân học triết học phương Tây hiện đại với hai đại biểu quan trọng là Max Scheler và Ernst Cassirer thể hiện những tư duy mới về con người, văn hóa trong thế kỷ XX

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Đề tài này có bình diện nghiên cứu rộng, bao gồm những lãnh vực nhân học, nhân học triết học, nhân cách trong suốt quá trình hình thành và phát triển của lịch sử triết học phương Tây, đặc biệt là giai đoạn hiện đại của vấn đề nhân học triết học Các tư tưởng liên quan đến đề tài có thể trình bày theo những hướng như sau:

Trang 9

Hướng thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu chung về lịch sử triết

học phương Tây và triết học về con người Nghiên cứu theo hướng này có các

tài liệu tiêu biểu như: Một số vấn đề về triết học con người - xã hội, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 của Nguyễn Trọng Chuẩn; Các trường phái triết học

trên thế giới, Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2005 của David E Cooper; Lịch sử triết học phương Tây hiện đại, Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh, 2005 của

Bùi Đăng Duy và Nguyễn Tiến Dũng; Triết học trong kỷ nguyên toàn cầu -

Philosophy in global age, Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007 do Phạm Văn Đức và

Đặng Hữu Toàn chủ biên; Diện mạo triết học phương Tây hiện đại, Nxb Hà Nội, Hà Nội, 2006 của Đỗ Minh Hợp; Tư tưởng loài người qua các thời đại, Văn hóa thông tin, Hà Nội của Julian Huxley và các tác giả khác; Mấy vấn đề

triết học về xã hội và phát triển con người, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 của

Nguyễn Văn Huyên; Triết học Tây phương từ khởi thủy đến đương đại, Văn hóa

thông tin, Hà Nội, 2010 của Bernard Morichère và nhóm giáo sư triết học các trường đại học Pháp Những tài liệu đăng trên báo và tạp chí liên quan đến vấn

đề con người có thể minh họa như sau: “Sự khác nhau giữa quan điểm của C

Mác và các nhà triết học phương Tây hiện đại về những vấn đề con người và thời đại”, Triết học, số 4, 1993 của Lê Kim Châu; “Vài nét về triết học tư sản phương Tây vài thập kỷ gần đây”, Triết học, số 1 1991 của Nguyễn Hào Hải;

“Triết học phương Tây hiện đại: Một cái nhìn khái quát”, Triết học, số 1, 2000

của Đỗ Minh Hợp Ngoài ra còn có một số tài liệu bằng tiếng Anh liên quan đến tình hình phát triển của triết học phương Tây hiện đại và những chủ đề khái quát

về con người như: Hiểu lịch sử nhân loại – một sự phân tích bao gồm hiệu quả

của địa lý và sự tiến hóa khác biệt (Understanding human history - an analysis including the effects of geography and differential evolution, Washington

summit publishers, 2007, Augusta của Michael H Hart); Tư duy nhân loại trong

kỷ nguyên toàn cầu (The idea of humanity in a global era, Palgrave Macmillan,

Trang 10

New York, 2009 của Bruce Mazkish) Tác giả của những công trình trên tập trung giới thiệu diện mạo triết học phương Tây và các giai đoạn từ cổ đại đến giai đoạn hiện đại; khái quát hóa những chủ đề chính yếu và những tiềm năng đóng góp của triết học trong giai đoạn kỷ nguyên toàn cầu; từ đó ta thấy được tư duy triết học của loài người qua các thời đại Vấn đề con người luôn là tâm điểm của các trường phái triết học và là mục đích tối thượng để lý giải giá trị con người trong thế giới trần gian này Chủ nghĩa nhân văn phổ quát thường được đề cập đến để thúc đẩy một cuộc sống hòa bình, hạnh phúc và an toàn cho trái đất cũng như cuộc sống của nhân loại

Hướng thứ hai, là các công trình nghiên cứu một cách đặc thù từng vấn đề

về con người: bản chất, tâm thức, xã hội, môi trường và giải phóng con người Các tài liệu bằng tiếng Việt gồm những bài báo và các quyển sách có thể được

giới thiệu như sau: “Chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa hiện sinh trong quan niệm của

J P Sartre”, Triết học, số 1, 1993 của Nguyễn Kim Châu; “Những kiến giải của C Mác về mối tương quan giữa chủ nghĩa nhân đạo và chủ nghĩa cộng sản”, Lý luận chính trị, số 6, 2010 của Lưu Văn Sùng; “Triết học phương Tây về con người và phát triển”, Nghiên cứu con người, số 6, 2007 của Nguyễn Đăng

Tiến; “Học thuyết Mác về con người, về vai trò sáng tạo lịch sử của con người;

phát triển con người và giải phóng con người - kỳ I”, Tạp chí Phát triển nhân

lực, số 2, 2010 của Đặng Hữu Toàn; Nghiên cứu so sánh văn hóa Đông - Tây,

Văn hóa lao động - Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông-Tây, Hà Nội, 2009 của

Hoàng Ngọc Hiến; Chủ nghĩa hiện sinh: Lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999 của Nguyễn Tiến Dũng; Triết học trung cổ Tây

Âu, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008 của Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch Cùng

thể hiện những nét đặc thù của đề tài, các tài liệu bằng tiếng nước ngoài cũng

khái quát vấn đề nêu trên như sau: Bản chất con người sau thời Darwin – Dẫn

nhập triết học (Human nature after Darwin - A philosophical introduction,

Trang 11

Routledge, New York, 2000 của Janet Radcliffe Richards); Heidegger và triết

học Pháp (Heidegger and French philosophy, Routledge, New York, 1995 của

Tom Rockmore); Friedrich Nietzche, Routledge, New York, 2003 của Lee Spinks; Karl Marx - nhà nhân chủng học (Karl Marx - anthropologist, Berg, Oxford, 2009 của Thomas C Patterson); Lý thuyết tiến hóa: Lịch sử của sự

tranh luận (The theory of evolution: A history of controversy, The Teaching

company, New York, 2002 của Edward J Larson); Tìm kiếm bản chất con người

– sự suy tàn và vực dậy của chủ nghĩa Darwin trong tư tưởng xã hội Mỹ (In search of human nature - the decline and revival of Darwinism in American social thought, Oxford university press, New York, 1991 của Carl N Degler)

Các bài viết theo hướng này minh họa những nét đặc thù của con người: đi từ những cõi mê muội, vô thức đến lý thuyết tiến hóa; chuyển biến từ một con người bầy đàn, sang con người cá nhân, và con người cộng đồng hài hòa nhân

vị Chủ thể “cái tôi” được nhấn mạnh; nhu cầu vật chất, tinh thần và khát khao sáng tạo văn hóa xã hội toát lên những ưu điểm của con người Vấn đề cốt lõi vĩnh hằng là mục đích giải phóng con người theo các quan điểm: hiện sinh, mácxít, thần học, tình yêu, Các tư duy này hòa quyện hầu tạo nên bức tranh sinh động về những nét dị biệt của chân dung cuộc sống con người với con người như một đấng sáng tạo kỳ vĩ của thế giới này

Hướng thứ ba, là vấn đề trung tâm, tức nhân học triết học So với tài liệu

trong nước, tài liệu bằng tiếng nước ngoài có phần vượt trội hơn, chẳng hạn:

Triết học nhân học và xã hội học (Philosophy of anthropology and sociology,

Routledge, New York, 2006 của Stephen Turner, Mark W Risjord);

Levi-Strauss; nhân học và mỹ học (Levi-Levi-Strauss; anthropology, and aesthics,

Cambridge university press, New York, 2007 của Bernard Williams); Triết học

– Quá khứ và hiện tại – Nhìn lại 26 thế kỷ tư duy hình thành tư tưởng của chúng

ta (Philosophy - Then and Now - A look back at 26 centuries of ideas that have

Trang 12

shaped our thinking, Zaine Ridling, Access foundation, 2001 của Zaine

Ridling); Chủ nghĩa thực dụng và nhân học triết học – Nhận thức về cuộc sống

nhân loại trong thế giới con người (Pragmatism and philosophical anthropology

- Understanding our human life in a human world, Peter Lang publishing inc.,

New York, 1998 của Sami Pihlstrưm) Rất ít tài liệu của tác giả Việt Nam bàn luận về đề tài nhân học triết học; tuy nhiên cũng có một số tài liệu viết khái quát,

nhưng sâu sắc và hữu dụng: “Nhân học triết học - Một số quan điểm của M Sêle

và A Ghêlan”, Triết học, số 4, 1996 của Quang Chiến; Nhân học đại cương,

Đại học quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh, 2008; “Cuộc cách mạng nhân học

trong triết học tôn giáo phương Tây hiện đại”, Triết học, số 8, 2006 của Đỗ

Minh Hợp; “Nhân học triết học hiện đại với vấn đề tồn tại người”, Triết học, số

3, 2000 của Đỗ Minh Hợp; “Quan điểm nhân học trong triết học Xô-crát”, Triết học, số 8, 2004 của Đỗ Minh Hợp; “Tư tưởng nhân học của C Mác trong giai

đoạn hình thành triết học Mác”, Tạp chí Khoa học xã hội, số 10, 2004 của Đỗ

Minh Hợp; “Nhân bản học triết học - Cơ sở phương pháp luận của học thuyết

sinh học xã hội”, Triết học, số 3, 2003 của Trần Đức Long; Lý thuyết nhân loại học - Giới thiệu lịch sử, Tự điển bách khoa, Hà Nội, 2010 của R Jon Mcgee,

Richard L Warms Đặc biệt hơn cả là tác giả Đỗ Minh Hợp, trong quyển Lịch

sử triết học đại cương, Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010 đã dành khoảng mười

bốn trang viết về sự phát triển của nhân học triết học một cách tương đối có hệ thống và cô đúc Các học giả ngoại quốc và Việt Nam, dưới ánh sáng của ngành nhân học và xã hội học, khắc họa và nêu bật lên những nội hàm của thuật ngữ

“nhân học triết học”; đưa độc giả đi từ tư duy “con người là gì?”, “con người là ai?”, tới con người như những nhà kiến tạo và dựng lập nên các nền văn hóa Ngoài ra, mối tương quan giữa nhân học triết học với dân tộc học, nhân học, xã hội học cũng được tô đậm lên với những nét đặc thù của từng ngành khoa học Nhân học triết học phương Tây hiện đại có một quá trình hình thành từ năm

Trang 13

1920 tới nay trong mối tương quan với sự phát triển của tâm lý học, sinh học, thần học và văn hóa học Riêng các tác giả người Việt cũng trình bày một số điểm hạn chế của nhân học triết học phương Tây hiện đại theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra, các tác giả cũng trình bày những xu hướng khác nhau, những chủ đề của nhân học triết học phương Tây hiện đại

Hướng thứ tư, là các tư tưởng về phát triển nhân cách con người Các tài

liệu về đề tài này khá phong phú cả bằng ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh; và nổi bật hơn cả, ở Việt Nam, là các công trình của giáo sư Phạm Minh Hạc như:

“Quan hệ người - người - Giá trị quan trọng nhất trong nhân cách”, Nghiên cứu con người, số 5, 2007; Một số vấn đề nghiên cứu nhân cách, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 (cùng chủ biên với Lê Đức Phúc); “Nhân cách Hồ Chí Minh-

Những giá trị thiết yếu trong hệ giá trị Việt Nam”, Nghiên cứu con người, số 6,

2008 Ngoài ra, còn có công trình của Barry R Smith, Harold J Vether do Nxb

Văn hóa thông tin Hà Nội ấn hành năm 2005 với nhan đề “Các học thuyết về

nhân cách”; và “Quan hệ giữa phát triển văn hóa và phát triển nhân cách con người ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Phát triển nhân lực, số 4, 2009 của Nguyễn

Thị Hoa Mai Các tài liệu nước ngoài về chủ đề nhân cách gồm có: Nhân cách

thời trưởng thành – Một viễn ảnh lý thuyết năm thành tố (Personality in adulthood - A five-factor theory perspective, The Guilford press, New York,

2003 của Robert R McGrae, Paul T Costa, Jr.); Khoa học nhân cách (The

science of personality, Oxford university press, New York, 2003 của Lawrence

A Pervin); Tính cách con người, cái tôi và đạo đức (Personal identity, the self,

and ethics, Palgrave, New York, 2007 của Ferdinard Santos, Santiago Sia) Vấn

đề phát triển nhân cách luôn là đề tài lớn của các nền giáo dục Đông – Tây Các tác giả trong nước và ngoài nước đã minh chứng và khắc họa những nội hàm cơ bản của khái niệm “nhân cách” Thuật ngữ “nhân cách” chịu ảnh hưởng của các

Trang 14

tư duy phổ quát của nhân loại; riêng tại Việt Nam khái niệm này được gắn liền với “chủ nghĩa xã hội” và con đường vận dụng học thuyết Mác-Lênin vào ngày mai của đất nước Sự tương tác này với lý thuyết nhân học triết học phương Tây hiện đại làm nên tính đa dạng của phong cách con người Việt Nam hiện nay

Hướng thứ năm và cũng là hướng quan trọng nhất nghiên cứu về tư tưởng

nhân học triết học phương Tây hiện đại, đặc biệt là của các đại biểu như Max Scheler và Ernst Cassirer, các tài liệu thường được viết bằng tiếng nước ngoài

như sau: Max Scheler (2003), Sự oán hận (Ressentiment), Marquette university press, Milwaukee Wisconsin; Max Scheler (2009), Vị trí con người trong vũ trụ (The human place in the cosmos), Northwestern university press, Evanston, Illinois; Max Scheler (2010), Bàn về tính bất tử của con người (On the eternal in

man), with a new introduction by Graham McAleer, Transaction Publishers,

New Jersey; Max Scheler (1992), Bàn về cảm xúc, kiến thức và giá trị (On

feeling, knowing and valuing), edited an with an introduction by Harold J

Bershady, The university of Chicago press, Chicago; Max Scheler (2008), Cơ

cấu con người (The constitution of the human being – from the posthumous

works, volumes 11 and 12, Marquette University Press, Milwaukee, Wisconsin);

Max Scheler (1973), Chủ nghĩa hình thức trong đạo đức và đạo đức giá trị phi

hình thức (Formalism in ethics and non-formal ethics of values – A new attempt

toward the foundation of an ethical personalism, Northwestern university press,

Evanston); Ernst Cassirer (1996), Triết lý về các hình thái biểu tượng – Tập 4:

Siêu hình học về các hình thái biểu tượng (The philosophy of symbolic forms – Volume 4: The Metaphysics of symbolic forms), Yale university press, New

Haven and London; Ernst Cassirer (1946), Ngôn ngữ và huyền thoại (Language

and myth), Dove publications, New York; Ernst Cassirer (1946), Huyền thoại về nhà nước (The myth of the state), Yale university press, New Haven and

London; Ernst Cassirer (1978), Vấn đề của kiến thức – Triết học, khoa học và

Trang 15

lịch sử từ thời Hegel (The problem of knowledge – philosophy, science and history since Hegel), Yale university press, New Haven and London; Ernst

Cassirer (1979), Biểu tượng, huyền thoại và văn hóa – Khảo luận về các bài

diễn thuyết của Ernst Cassirer từ 1935-1945 (The symbol, myth and culture – Essays and lectures of Ernst Cassirer 1935 – 1945), edited by Donald Phillip

Verene, Yale university press, New Haven and London Những văn bản gốc của trường phái nhân học triết học phương Tây hiện đại, dù có nhiều tác giả các nước, nhưng đặc biệt tập trung vào hai triết gia tiêu biểu của nước Đức: Max Scheler và Ernst Cassirer Hai tác giả đặc thù này nêu bật lên vị trí của con người không những trong vũ trụ mà còn cả bên ngoài vũ trụ Lý thuyết hình thái biểu tượng của Ernst Cassirer giải thích về ý nghĩa của huyền thoại, ngôn ngữ và nghệ thuật Thật thế, con người là chủ thể của vũ trụ và là những nhà kiến tạo văn hóa tuyệt vời Niềm tin đối với thượng đế và tình yêu – tính nhân văn bao la – giúp con người trở nên tuyệt tác của nhân thế cùng song hành với việc bảo tồn môi trường sinh thái và phẩm hạnh của quần chúng nhân dân

Dựa vào những tư liệu còn khiêm tốn tại Việt Nam, đề tài “Nhân học triết học phương Tây hiện đại và ý nghĩa của nó trong việc phát triển nhân cách con người Việt Nam hiện nay” hiếm có tác giả trình bày vấn đề một cách

có hệ thống và theo xu hướng phát triển lịch sử của vấn đề Vì thế, đề tài luận văn này quả là một sự cố gắng vì lòng đam mê và trân trọng đối với con người, cuộc sống nói chung và của dân tộc - người dân Việt Nam nói riêng trong những

bước phát triển sắp tới của Tổ quốc

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Mục đích của luận văn là làm rõ một cách cơ bản các điều kiện lịch sử –

xã hội, tiền đề tư tưởng lý luận mà nhân học triết học hiện đại kế thừa; những vấn đề chủ yếu của nhân học triết học phương Tây hiện đại, với hai đại diện tiêu

Trang 16

biểu là Max Scheler và Ernst Cassirer, để làm rõ quan niệm về bản chất và vị trí con người trong vũ trụ, con người – Thượng đế và tình yêu Đồng thời luận văn cũng nhằm làm rõ vai trò, vị trí của vấn đề nghiên cứu trong lịch sử tư tưởng triết học phương Tây hiện đại Qua đó khái quát những giá trị mà nó mang lại trong quá trình xác lập nền triết học về con người; làm rõ ý nghĩa của nó đối với việc phát triển nhân cách con người Việt Nam hiện nay

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:

– Phân tích và hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về nhân học, nhân học triết học và tiến trình phát triển của nó trong lịch sử tư tưởng triết học của phương Tây

Trong khi thực hiện nhiệm vụ này, luận văn giải thích tính độc lập tương đối và logic nội tại của tiến trình phát triển tư tưởng nhân học triết học của các nhà triết học phương Tây nói chung, của Max Scheler và Ernst Cassirer nói riêng

– Phân tích các vấn đề chủ yếu của nhân học triết học phương Tây hiện đại và ý nghĩa của nó trong việc phát triển nhân cách con người Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Để nghiên cứu một cách hệ thống và chuẩn xác vấn đề nhân học triết học hiện đại ở phương Tây, trước hết, luận văn tìm hiểu lý luận chung về nhân học triết học, từ đó luận văn tập trung nghiên cứu về một số nội dung chủ yếu của nhân học triết học hiện đại

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 17

Nhân học triết học phương Tây hiện đại phản ánh tư tưởng, quan niệm của nhiều lớp triết gia với phạm vi thể hiện rất rộng, vì vậy trong khuôn khổ của luận văn chỉ nghiên cứu tư tưởng nhân học triết học phương Tây hiện đại thể hiện qua quan niệm của Max Scheler và Ernst Cassirer trên các phương diện: quan niệm về bản chất và vị trí con người trong vũ trụ; con người – Thượng đế

và tình yêu Do vậy, luận văn không đi sâu tìm hiểu nhân học triết học xuyên suốt trong lịch sử tư tưởng và những biến thể của nó trong thời kỳ hiện đại

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Phương pháp luận chung

Vấn đề Nhân học triết học phương Tây hiện đại và ý nghĩa của nó trong

việc phát triển nhân cách con người Việt Nam hiện nay được nghiên cứu theo

phương pháp triết học lịch sử dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam Với phương pháp luận

đó, luận văn trình bày các khái niệm, phạm trù triết học tương đối chuẩn xác, trung thực đúng như nó vốn có, đồng thời thực hiện phân tích phê phán một cách biện chứng, thấy được sự phát sinh, phát triển của chính quan niệm của các nhà triết học nhân học, thấy được tính không đồng nhất về giá trị và ý nghĩa của nó trong những điều kiện lịch sử khác nhau

5.2 Các phương pháp cụ thể

Việc tiếp cận vấn đề nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở các phương pháp: logic và lịch sử; khảo sát và phân tích về mặt chính trị - xã hội cụ thể, kết hợp với phân tích và tổng hợp, khái quát hóa và hệ thống hóa được vấn đề nhân học triết học hiện đại có tính độc lập tương đối trong sự phát triển, có logic nội tại và được hình thành phát triển từ những điều kiện lịch sử nhất định của xã hội phương Tây hiện đại, có sự kế thừa, ảnh hưởng qua lại với các tư tưởng nhân học trong quá khứ và đương thời

Trang 18

Việc thu thập và xử lý thông tin được thực hiện thông qua phương pháp nghiên cứu tư liệu nhằm làm rõ một số khái niệm, phạm trù có liên quan; phương pháp so sánh để thấy được nét tương đồng và khác biệt khi trình bày diện mạo và đặc điểm, sự biến đổi của nhân học triết học qua quan niệm của một

số đại biểu tiêu biểu

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Trên cơ sở phân tích, đánh giá nội dung chủ yếu của nhân học triết học phương Tây hiện đại, đặc biệt qua quan điểm của Max Scheler và Ernst Cassirer, luận văn góp phần đưa ra cái nhìn tổng thể về nội dung và những giá trị của học thuyết này cùng với những ảnh hưởng của nó đối với triết học phương Tây thế

kỷ XX, góp phần nâng cao tư duy lý luận

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Với việc phân tích những tư tưởng nhân văn của nhân học triết học, luận văn góp phần đưa ra những thông điệp gợi ý thiết thực nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm đối với con người, với cộng đồng trong cuộc sống nhiều biến động hiện nay

Luận văn có thể làm nguồn tài liệu tham khảo cho những sinh viên, học viên cao học không chuyên ngành và chuyên ngành triết học hoặc những ai quan tâm đến lãnh vực nhân học triết học phương Tây

7 Cái mới của luận văn

Lần đầu tiên, luận văn hệ thống hóa và có luận giải mới về sự hình thành

và phát triển của nhân học triết học hiện đại ở phương Tây; về những nội dung chủ yếu khi trào lưu này nghiên cứu bản tính, tính cá thể của con người bằng cách lấy tồn tại người làm căn bản; trình bày giá trị của nhân học triết học hiện đại đạt được trong lịch sử triết học phương Tây cũng như ý nghĩa của nó trong

Trang 19

việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn có hai chương, bốn tiết

Trang 20

Chương 1

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

CỦA NHÂN HỌC TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY HIỆN ĐẠI

1.1 Những điều kiện, tiền đề hình thành nhân học triết học phương Tây hiện đại

1.1.1 Điều kiện kinh tế – xã hội

Triết học, trong suốt chiều dài lịch sử hơn 2.500 năm của mình, luôn gắn liền với vận mệnh lịch sử của nhân loại Trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch

sử nhân loại, tùy thuộc vào sự đóng góp cho tiến bộ xã hội và cho chính tiến trình phát triển của mình, triết học luôn nắm giữ một vị trí nhất định trong đời sống tinh thần xã hội và có vai trò khác nhau khi tham gia vào việc giải quyết những vấn đề có ảnh hưởng đến sự phát triển của đời sống xã hội Thật thế, do luôn gắn liền với quá trình vận động, biến đổi và phát triển của đời sống xã hội, với thực tiễn xã hội, cộng với đặc trưng tư duy phản tư vốn có của mình, với tư cách thế giới quan và phương pháp luận cho hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới, triết học chưa bao giờ từ bỏ vị trí và vai trò của mình trong đời sống xã hội cũng như trong việc giải quyết những vấn đề do lịch sử đặt ra đối với tiến trình phát triển của xã hội loài người Do vậy, mỗi khi lịch sử nhân loại bước sang một giai đoạn phát triển mới, mỗi khi đời sống xã hội có sự thay đổi mang tính bước ngoặt, triết học luôn nhìn nhận lại bản thân mình, đánh giá lại vị trí và vai trò của mình trong thời đại lịch sử mới để không chỉ có sự thay đổi và phát triển phù hợp với sự thay đổi và phát triển của thời đại, của đời sống xã hội, mà còn

có thể đưa ra những tiên đoán, dự báo về xu hướng vận động, biến đổi và phát triển tiếp theo của thời đại, của đời sống xã hội Nhân học triết học phương Tây hiện đại, một trào lưu triết học tôn vinh nhân vị con người, đưa lên một khái niệm tổng quát “ta không đến với triết học để tìm ra những giải pháp nhanh

Trang 21

chóng, nhất thời mà để phát hiện những con đường xưa nay chưa biết để đi đến giải pháp” [226, tr.14]

Nhân học triết học phương Tây hiện đại khởi nguồn từ những năm 20 của thế kỷ XX Trào lưu triết học này chịu ảnh hưởng của những nhân tố từ giữa thế

kỷ XIX đến những thập niên đầu của thế kỷ XX Đây là thời kỳ chuyển biến của chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc Cuộc đại cách mạng

tư sản Pháp (1789) là kết quả và cũng là sự khởi đầu cho nhiều cuộc cách mạng

về chính trị được tiến hành trong những năm cuối thế kỷ thứ XVIII và cả thế kỷ thứ XIX Các cuộc cách mạng này là nhân tố tác động đối với việc phát sinh quá trình hệ thống hóa lý thuyết xã hội học và những luồng tư duy triết học Những nhà nghiên cứu quan tâm đặc biệt đến những hậu quả hỗn độn và vô trật tự trong

xã hội thời kỳ này Ở Pháp, họ kết hợp lại với ước vọng vãn hồi trật tự cho xã hội Một số nhà tư tưởng cực đoan trong thời kỳ này còn muốn quay lại những ngày tháng yên lặng, tương đối có trật tự của thời Trung cổ Những nhà tư tưởng cấp tiến thì nhận ra các chuyển biến xã hội đã làm cho sự quay ngược về quá khứ như thế là điều không thể xảy ra Do đó, họ tìm kiếm các nền tảng trật tự mới trong các xã hội đã bị xáo trộn bởi các cuộc cách mạng chính trị trong thế

kỷ XVIII và XIX Mối quan tâm đến nhân phẩm và giá trị con người cũng như vấn đề trật tự xã hội được đề cập đến bởi những triết gia tiêu biểu như A Comte

và E Durkheim Như thế, “mỗi người, dao động giữa những tiến trình xã hội hóa và nhân vị hóa, từ nay có cơ hội để thể hiện tự thân” [11, tr.16]

Cuộc cách mạng công nghiệp là thành quả nổi bật của nhiều quốc gia phương Tây, trong thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nó có tầm quan trọng như cuộc cách mạng chính trị trong việc hình thành các lý thuyết xã hội học và tư duy triết học Nó không phải là sự kiện riêng lẻ mà là bước phát triển có tương quan chặt chẽ với nhau đã lên tới điểm tột cùng trong bước chuyển biến của xã hội phương Tây từ một hệ thống xã hội nông nghiệp truyền thống sang một hệ

Trang 22

thống xã hội công nghiệp hiện đại Các bộ máy điều hành kinh tế nảy sinh, cung cấp nhiều dịch vụ cần thiết cho công nghệ và hệ thống kinh tế tư bản đang phát triển Sự phản kháng lại hệ thống công nghệ và tiếp đó là chủ nghĩa tư bản nói chung, đã dẫn tới phong trào công nhân, cũng như nhiều phong trào cấp tiến khác nhằm mục tiêu lật đổ hệ thống tư bản chủ nghĩa

Quả thật, chủ nghĩa tư bản đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau: giai đoạn tự do cạnh tranh, giai đoạn độc quyền và giai đoạn chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa Dưới chủ nghĩa tư bản, nhân loại đã đạt được những thành tựu to lớn: phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, khoa học - kỹ thuật - công nghệ, năng suất lao động tăng vượt bậc, phát triển kinh tế thị trường, phát triển nền văn minh, ra đời kinh tế tri thức và văn minh trí tuệ, thúc đẩy dân chủ, giải quyết các vấn đề xã hội Trong quá trình tồn tại của mình, chủ nghĩa tư bản đã trải qua nhiều bước thăng trầm, khủng hoảng và suy thoái, đặc biệt là cuộc đại khủng hoảng 1929 – 1933 Như thế, “cùng với những thành tựu, chủ nghĩa tư bản cũng gây ra nhiều tội ác đối với nhân loại: chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa phát xít, chiến tranh xâm lược (lớn nhất là hai cuộc chiến tranh thế giới), chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa khủng bố và đã bị nhân loại tiến bộ lên án” [144, tr.92]

Đầu thế kỷ XIX, một số nhà tư tưởng xã hội ủng hộ mô hình chủ nghĩa xã hội như một giải pháp đối với các vấn đề công nghệ, số đông lại chống đối nó về mặt nhận thức Ở một phía là Karl Marx, một người chủ trương lật đổ hệ thống

tư bản và thay thế nó bằng hệ thống xã hội xã hội chủ nghĩa Karl Marx đã dành một lượng thời gian rất lớn để phê phán các khía cạnh khác nhau của xã hội tư bản Ngoài ra, ông còn tham gia hoạt động chính trị - xã hội trên nhiều lãnh vực

mà ông hy vọng rằng, chúng có thể giúp ích cho việc đem tới sự ra đời của chủ nghĩa xã hội Thật thế, đến ngày nay toàn bộ học thuyết Mác-Lênin có giá trị bền vững xét trong tinh thần biện chứng của nó, với bản chất khoa học, cách

Trang 23

mạng và nhân đạo, chủ nghĩa Mác-Lênin là di sản vô giá sống mãi trong sự nghiệp đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới

“Tính khoa học, cách mạng và sáng tạo trong học thuyết Mác về tiến trình phát triển của xã hội loài người không chỉ ở quan niệm duy vật về lịch sử, mà còn ở quan niệm về con người và phát triển con người Với quan niệm này, học thuyết Mác đã trở thành học thuyết về giải phóng con người và xã hội loài người” [271, tr.3]

Một phần kết quả của cuộc cách mạng công nghiệp là sự di cư ồ ạt một số đông dân chúng từ nông thôn đến đô thị trong thế kỷ thứ XIX và đầu thế kỷ XX Quá trình đô thị hóa đã làm xuất hiện một loạt những vấn đề: quá tải dân số, sự

ô nhiễm, tiếng ồn, giao thông ách tắc Bản chất của đời sống đô thị và những vấn nạn của nó thu hút sự quan tâm của nhiều nhà xã hội học như Max Weber

và Georg Simmel Ngoài ra, các thay đổi xã hội đã ảnh hưởng trực tiếp tới tín ngưỡng tôn giáo Nếu từ thời Trung đại trở về trước, phần lớn các cuộc xung đột trên thế giới đều bắt nguồn từ, hay cố ý gán cho những bất đồng về tôn giáo, gây nên những cuộc chiến tranh tôn giáo đẫm máu trong lịch sử, thì đến thời hiện đại, với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, tưởng rằng xung đột tôn giáo

sẽ không còn đất sống Nhưng sự thật lại không như thế Từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, cho đến sau chiến tranh lạnh, những cuộc xung đột “nhân danh tôn giáo” vẫn cứ tiếp diễn Vì thế, “vấn đề cơ bản mà nhà nghiên cứu về tôn giáo phải quan tâm là ở chỗ quyền lực của ý nghĩa cho phép con người đương đầu với những hoàn cảnh của sự tồn tại của họ được thiết lập như thế nào để họ tiếp thu những ý nghĩa đó trong việc xác định phương hướng cho mình trong thế giới” [119, tr.14]

Bên cạnh đó, cuộc chiến tranh thế giới là kết quả tất nhiên của cuộc phát triển kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư bản thế giới vào những năm đầu thế kỷ

XX Cuộc chiến tranh do các nước đế quốc chuẩn bị và tiến hành nhằm giành

Trang 24

giật thuộc địa của nhau là một cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa mang tính chất phản động Bàn về tính chất của cuộc chiến tranh này, Lênin đã có nhận định sau: “Về cả hai phía, cuộc chiến tranh đó đều là chiến tranh đế quốc chủ nghĩa, điều đó hiện nay không còn phải bàn cãi gì nữa ( ) Chiến tranh vô luận

là do giai cấp tư sản Đức hoặc do giai cấp tư sản Anh – Pháp tiến hành, cũng đều nhằm mục đích cướp bóc các nước khác, bóp nghẹt các dân tộc nhược tiểu, thống trị thế giới về mặt tài chính, chia và chia lại thuộc địa, cứu chế độ tư bản chủ nghĩa đang giãy chết, bằng cách lừa bịp và chia rẽ công nhân các nước”[168, tr.18] Với lượng người chết khoảng chừng 187 triệu [385, tr.4], nhiều người tin rằng chúng ta không thể nào đảm bảo được nền hòa bình thế giới trừ khi có sự giải quyết khoảng cách giữa người giàu và nghèo

1.1.2 Tiền đề lý luận

Nhân học triết học phương Tây hiện đại ra đời chịu nhiều tác động của các học thuyết triết học và các triết gia như Blaise Pascal, David Hume, Immanuel Kant, Johann Gottfried Herder, Johann Wolfgang von Goethe, Soren Kierkegaard, Karl Marx, Wilhelm Dilthey, Friedrich Nietzsche và Edmund Husserl

Blaise Pascal (1623-1662) là một nhà toán học, vật lý học, nhà văn và

triết gia Kitô giáo của Pháp Sau một biến động “thập tử nhất sinh”, ông đã tận hiến cuộc đời cho đạo Kitô; công nhận thần quyền, phủ nhận lý tính Ông theo giáo phái Jansenism, một giáo phái khắt khe, thần bí do một giám mục người Hà Lan lập ra; trung tâm giáo phái là Por Rosyan Theo Pascal, con người cần cố gắng và cần đến ân sủng của Thượng đế Lòng tin như một phép mầu “được buộc vào ân sủng, vào quyền uy của Jesus, không phải thứ quyền uy của quyền lực như quyền uy của Archimede, mà là quyền uy của lòng bác ái” [306, tr.47] Ông luôn là một “kẻ phụng sự ẩn giấu” hay một “người sùng mộ vô danh”

Trang 25

Hiện nay, ở phương Tây, ông được đánh giá cao vì sự lôi cuốn của văn chương, nét sâu sắc của tư duy, và trên hết là quan điểm của ông về số phận con

người trước vũ trụ và cái chết Những tuyệt tác của ông gồm có Những bức thư

viết cho một người ở tỉnh nhỏ (Les Provincisles, 1656 – 1657); Luận về Ân Chúa

và Suy nghĩ (Pensées, xuất bản sau khi ông chết) Theo Pascal: “Sau rốt, con

người trong cuộc đời này là gì? Chẳng là gì so với sự vô tâm, là tất cả trong mối tương quan với sự hư vô, là điểm trung tâm giữa cái vô thường và cái hiện hữu

vô biên và hoàn toàn vượt lên trên cả hai thực thể này Sự khởi đầu và kết thúc của sự vật vẫn được che giấu như một sự bí mật không thể xuyên thấu được bởi con người Con người không có năng lực nhận ra được sự vô thường cũng như

sự vô tận mà con người trải nghiệm” (Blaise Pascal, Pensées # 72) Đây chính là luận điểm hai vô cực Ngoài ra, ông còn nổi tiếng với luận điểm “cây sậy biết suy nghĩ” cũng như luận điểm “sự đánh cuộc”: “Lý tính không thể chứng minh được là có Thượng đế, có đời sống bất tử hay không Trong khi lưỡng lự, nên đánh cuộc là có Thượng đế, có linh hồn bất tử, vì nếu thua cuộc thì chỉ mất một cuộc đời trần gian ngắn ngủi và khổ sở, nếu được thì được cả Thiên đường vĩnh cửu” [204, tr.70] Một tư duy bật sáng của Pascal là nghệ thuật làm giảm đi nỗi buồn của nhân thế, quên đi kiếp người cơ cực: đó là “giải trí” Quan điểm của Pascal có tầm ảnh hưởng đến nhân học triết học phương Tây hiện đại qua hình tượng con người “tự mâu thuẫn” và mang tố chất “huyền bí”

David Hume (1711-1776) là nhà bình luận, sử gia, triết gia người Tô

Cách Lan Những tác phẩm nổi tiếng của ông bao gồm Những tham luận: Đạo

đức và chính trị (1741, 1742), Những tham luận: Triết học liên quan đến sự Hiểu biết của Con người (1748), Một thẩm tra liên quan đến sự Hiểu biết của Con người (1758), Các luận thuyết chính trị (1752), và đặc biệt Khảo luận về Bản tính Con người (1739), một công trình được nghiên cứu nhiều nhất ngày

nay Nhận định về cuộc đời của Hume, Adam Smith cho rằng: “Nhìn chung, tôi

Trang 26

luôn nhận thấy ở ông lúc sống cũng như lúc chết, như người đã đạt tới điểm không gian và nhân đức hoàn hảo, có lẽ như tất cả những gì mà bản chất yếu hèn của con người cho phép” [114, tr.496]

Là triết gia vĩ đại nhất của thế kỷ XVIII, David Hume có ý định đưa

“Luận lý, Đạo đức, Phê bình” lên một nền tảng mới: “khoa học về con người”

và lý thuyết về bản tính con người Trong siêu hình học, ông nặng về thuyết hoài nghi và nhấn mạnh vào thực tại của những phân biệt đạo đức, mặc dầu những phán đoán của chúng ta cuối cùng được xây dựng chỉ theo tình cảm của con người Sự quan tâm của ông là trình bày giới hạn của lý trí và vai trò trung tâm của kinh nghiệm Kinh nghiệm là thước đo; giúp lý giải các sự vật hiện tượng; còn niềm tin chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng, không phải của lý trí Nói một cách khác, tư duy con người không thể vượt ngoài phạm vi kinh nghiệm trực tiếp của nó Trong lãnh vực triết học về tôn giáo, Hume nhận định rằng “Kitô giáo không những ngay từ đầu được đi kèm với các phép lạ, nhưng ngay cả ngày nay vẫn không thể được một ai đó có lý trí tin mà không có phép lạ” [114, tr.500]

Trong tác phẩm nhan đề Khảo luận về bản tính con người, Hume mong

muốn hình thành nên những nguyên tắc phổ quát để giải thích các hệ quả từ những nguyên nhân đơn giản nhất; tuy nhiên ông vẫn nhấn mạnh những lý giải này không thể tách rời khỏi kinh nghiệm và thực tiễn [384:886] Chính tác phẩm trên đã tạo ra một con đường cho nhân học triết học phương Tây hiện đại trong mối tương quan với chủ nghĩa kinh nghiệm cũng như quan điểm của ông về tôn giáo

Immanuel Kant (1724-1804) là nhà triết học, nhà tự nhiên học vĩ đại

xuất thân từ nước Đức Theo quan điểm của ông, vấn đề cơ bản của con người là tâm điểm mà một nền triết học nghiêm chỉnh cần phải hướng tới Các mối quan tâm này được đúc kết thành ba câu hỏi lớn: – Tôi có thể biết gì? – Tôi phải làm

Trang 27

gì? và – Tôi được phép hy vọng gì? Kant là “nhà triết học đầu tiên đã đề cập đến con người như một chủ thể nhận thức và chủ thể hành động” [161, tr.40] Nguyên tắc về đạo đức của ông chính là “mệnh lệnh tuyệt đối”: “chủ thể đang tư duy, đang hành động đứng trên cả tự do lẫn tất yếu, bởi chính nó sáng tạo ra cái

tự do và tất yếu đó” [196, tr.9] Qua tác phẩm “Về yếu tố loài của con người”, Kant nhấn mạnh rằng “tính xã hội của loài người được hình thành do sự vận động của các trạng thái tự nhiên – sinh học của các cá thể ở mỗi thế hệ, dần dần qua quá trình phát triển ý thức của các thế hệ mà các dạng đạo đức và cuối cùng

là lý tưởng xã hội được phát triển” [149, tr.3] Như thế, Kant đánh giá con người

có giá trị cao nhất trong thế giới, là mục đích cuối cùng của lịch sử Kant đã thuyết phục chúng ta rằng con người chính là con người không phải vì nó là một thực thể biết suy nghĩ mà vì con người có thể suy nghĩ được và luôn luôn suy nghĩ bởi vì nó là con người “Lý tính thuần túy”, “Lý tính thực tiễn”, “Năng lực phán đoán” là những khả năng người nhất, chúng là những năng lực “suy nghĩ” không phải vì cái gì khác ngoài vì con người Nhìn trên bình diện sâu sắc hơn, ý nghĩa cuộc sống con người không phải là cái gì trừu tượng mà là thực tiễn cụ thể; hơn nữa, không thể chỉ là cụ thể của hiện tại mà còn của tương lai, của những khả năng

Xét về bình diện văn hóa, Kant xem văn hóa như chính bản thân hoạt động của con người còn các giá trị văn hóa chỉ là kết quả của hoạt động này Như thế, “khả năng con người đặt ra cho chính mình những mục đích tự ý, tự

do, không phụ thuộc vào tính tất yếu của tự nhiên bên ngoài và thể xác mình chính là mục đích cuối cùng của tự nhiên đồng thời đó cũng chính là văn hóa” [112, tr.42] Quả thật, vấn đề văn hóa đã bao trùm và thâm nhập vào toàn bộ triết học của Kant, hơn nữa nó là chất liên kết tri thức triết học của Kant như một

hệ thống Và ngược lại, cũng chính ở trong hệ thống triết học của Kant lần đầu tiên văn hóa được xem xét như một chỉnh thể, hơn nữa đó là chỉnh thể hữu cơ

Trang 28

Theo Kant, con người như mục đích cuối cùng của tự nhiên, không phải là hệ quả tất yếu của chính tự nhiên Tự nhiên chỉ chuẩn bị để con người cần phải làm

gì Như thế, để trở thành mục đích cuối cùng của tự nhiên, trở thành đại diện cho

sự tồn tại của văn hóa là không đầy đủ bằng mỗi việc con người tồn tại trong tự nhiên Con người phải khẳng định một cách hiện thực mình với tư cách là mục đích cuối cùng của tự nhiên và của chính bản thân mình, nghĩa là trở thành tự mục đích, và cũng trong ý nghĩa ấy, trở thành chủ thể và khách thể của văn hóa Nhân học triết học phương Tây hiện đại kế thừa tư duy của Kant về vị trí của con người trong thế giới và giá trị văn hóa mà con người kiến tạo nên

Bàn về phẩm giá của con người, Kant cho rằng con người chiếm một vị trí đặc biệt trong sáng tạo Ông nhấn mạnh rằng con người có giá trị nội tại và quý giá hơn tất cả những giá trị trên đời “Con vật đơn thuần là phương tiện để đạt đến mục đích Con người mới là mục đích” [412, tr.132] Con người không bao giờ bị sử dụng như một công cụ để đạt đến mục đích Và đây là quy luật tối thượng của đạo đức Kant tin rằng đạo đức có thể được tóm lược trong một quy luật tối thượng từ đó nhiệm vụ và bổn phận của con người có thể được quy định

Xét về vấn đề trả thù, trong đạo đức học của Kant, có ý tưởng như sau:

“Khi mà ai đó thấy vui khi làm phiền hay quấy nhiễu những con người yêu chuộng hòa bình, thì sau cùng cũng phải nhận một sự trừng phạt tương xứng; việc này chắc chắn không phải tốt đẹp gì, nhưng mọi người ủng hộ nó và xem

nó như chính là điều thiện dù rằng kết quả là không đạt được gì sau đó” [412, tr.136] Như thế, việc người ta trừng phạt kẻ khác có thể tạo nên những nỗi khổ đau trong thế giới, nhưng theo Kant điều này đúng, bởi vì tên tội phạm xứng đáng chịu những nỗi đau đó Điều này hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa vị lợi (utilitarianism): nhiệm vụ của chúng ta là phải làm bất kể điều gì để mang lại và gia tăng niềm hạnh phúc trên thế giới

Trang 29

Thật thế, theo Kant, “giúp đỡ người khác nơi mà bạn có thể là một nhiệm

vụ, và ngoài việc này, có rất nhiều tâm hồn có bản chất thương cảm, không có động cơ phù hoa hay tự thú vị, cũng cảm thấy một niềm vui hướng nội trong việc truyền bá hạnh phúc cho người khác và cảm thấy hân hoan vì sự hài lòng của kẻ khác cũng như chính công việc của mình” [366, tr.71]

Xét về vấn đề trả thù báo oán, đạo đức học của Kant cho rằng cần phải thực thi việc trừng phạt theo hai nguyên tắc: một là, con người ta nên bị trừng phạt vì phạm tội, ngoài ra không còn lý do nào khác; chất lượng trừng phạt phải tương xứng với tội lỗi gây ra; hai là, tử hình là hình phạt cần thiết cho tội cố sát

Như thế, đạo đức học của I Kant, đòi hỏi phải đối xử với con người như một sinh thể có trách nhiệm; và hãy đối xử với con người như một sinh thể có trách nhiệm; và hãy đối xử với con người như một sinh thể không chịu trách nhiệm về hành động của mình Vì vậy, trong việc trừng phạt một con người, chúng ta phải làm cho người đó chịu trách nhiệm về hành động của mình chứ không thể đối xử với người này như một con vật có trách nhiệm Chúng ta phản ứng với người này không phải như một người “bệnh hoạn” hay một người không có sức kiềm chế mình, nhưng như là một người tự do chọn hành vi tội lỗi

Johann Gottfried Herder (1744-1803) là nhà Triết học lịch sử Đức và giữ

một cương vị quan trọng trong trào lưu Khai sáng Đức Các tác phẩm chính của

ông bao gồm Những bức thư khuyến khích chủ nghĩa nhân đạo (1793-1797), Triết

học về lịch sử loài người (1784-1791) Ông chủ trương ngôn ngữ và tư tưởng bất

khả phân ly và văn hóa của con người chỉ có thể được tiếp cận thông qua ngôn ngữ Lịch sử, giống như ngôn ngữ, phát triển ra từ thiên nhiên; nó không bắt đầu bằng một khế ước hay qua sự can thiệp của thần linh; sự thay đổi của các nền văn hóa dựa vào hoàn cảnh và năng khiếu tự nhiên của con người Điểm ưu việt trong quan điểm về văn hóa của Herder là việc ông nhấn mạnh vai trò của nhân dân như

là nguồn gốc và sự sáng tạo của văn hóa Ngoài ra, thuyết địa lý đã có những tác

Trang 30

động nhất định đối với Herder: toàn cảnh địa lý quyết định số phận con người Ngoài ra, ông không ủng hộ kiểu tôn ti, trật tự đẳng cấp phong kiến Ông là một nhà nhân đạo chủ nghĩa và hết lòng kêu gọi việc phát huy lòng nhân ái trong mọi tầng lớp xã hội

Đề tài triết học của Herder rất phong phú và đa dạng, dàn trải từ triết học

về ngôn ngữ, triết học chính trị, triết học tôn giáo, triết học tâm hồn, triết học lịch sử đến những lãnh vực như nhân học và thẩm mỹ Theo ông, “nhận thức là quá trình xâm nhập vào hiện thực nhưng là nhà triết học duy tâm nên ông đã phủ nhận chân lý là sự phản ánh hiện thực khách quan” [52, tr.409] Herder chính là tác giả người Đức đầu tiên đưa ra lập luận về mối quan hệ giữa sinh học và triết học về con người Theo ông, con người là một sinh thể khiếm khuyết; vì vậy con người cần phải có sự sáng tạo trong việc sử dụng vũ khí và công nghệ để bù lại cho năng lực tự nhiên còn nhiều hạn chế Đây chính là một đóng góp quan trọng của ông đối với ngành nhân học triết học phương Tây hiện đại

Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832) là thi sĩ và nhà tư tưởng

Đức; người gây ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng học thuyết duy tâm hậu Kant Xuất thân trong một gia đình danh giá, giàu có, tốt nghiệp tiến sĩ luật và trải qua những vị trí quan trọng trên chính trường nước Đức Goethe nổi tiếng với các

tác phẩm Biến hình của thực vật (1790), Fauster (1808), Quan niệm về tự

nó với những phương tiện đặc thù Các sinh thể trên thế giới này đều có lý do

Trang 31

tồn tại riêng của nó; vì thế tạo nên những vòng luân chuyển của cuộc sống Về nhận thức, Goethe không chỉ dừng lại việc thừa nhận giới tự nhiên là đối tượng của nhận thức mà theo ông, con người với khả năng nhận thức vô hạn của mình

sẽ nhận thức được thế giới, làm chủ tri thức, vươn tới chân lý khách quan Bên cạnh đó, Goethe cho rằng mọi sự vật hiện tượng đều nằm trong biến đổi, phát triển và là sự tương tác của các mặt đối lập Theo quan điểm của Goethe, Thượng đế vẫn đóng vai trò chủ đạo trong cuộc sống của muôn loài; quyền năng

vô vàn của Thượng đế làm thay đổi thế giới: “Tôi thấy thời gian sẽ đến, khi Thượng đế không còn hài lòng về con người; một lần nữa Ngài phá hủy mọi thứ

để dọn chỗ cho một sự tạo dựng mới” [114, tr.438]

Phê Bình về Goethe, Engel có những nhận định như sau:

“Goethe khi thì rất vĩ đại, khi thì lại nhỏ nhen, khi thì là một thiên tài bất khuất, nhạo báng không sợ ai, khi thì là anh chàng phi-li-stanh thiển cận dè dặt, bằng lòng tất cả Điều đó cắt nghĩa việc Goethe thừa nhận ý nghĩa to lớn của cách mạng Pháp (1789) nhưng lại run sợ trước tinh thần cách mạng của quần chúng nhân dân Dẫu sao thì đó cũng là hình ảnh chung của trí thức thượng lưu Đức lúc bấy giờ Cái Goethe đã để lại với lịch sử là Người hiểu biết rộng rãi nhiều mặt Ông có bản chất tích cực đầy đủ, được cấu tạo bằng thịt và máu đầy

đủ để không cần phải tìm cách cứu vớt sự nghèo nàn của tư tưởng bằng cách chạy trốn theo lý tưởng của Kant như Schiller Ông đủ sáng suốt để có thể thấy rằng sự chạy trốn đó rút cuộc chỉ dẫn đến thay thế sự nghèo nàn vô vị của tư tưởng bằng một sự nghèo nàn mà lại ba hoa” [52, tr.418-419]

Nhân học triết học phương Tây hiện đại, thật thế, đã kế thừa tư duy của Goethe về việc giải phóng trí tuệ của con người thông qua quá trình nhận thức những quy luật phát triển của tự nhiên; con đường dẫn đến chân lý được xây dựng bởi những nỗ lực thống nhất của toàn nhân loại; "thượng đế - tự nhiên" là một loại hình mẫu của nghệ thuật, là sự nhân cách hóa hiện thực khách quan

Trang 32

Soren Kierkegaard (1813-1855) là nhà triết học tôn giáo Đan Mạch, tiền

bối của chủ nghĩa hiện sinh, là học trò trung thành của phái lãng mạn chủ nghĩa

Đức Những tác phẩm chính của ông gồm có: Không thế này thì thế kia, Khái

niệm về lo âu, Các giai đoạn đường đời, Kinh hãi và run sợ, Nhật ký của chàng

dụ dỗ gái Ông cũng được coi là người tạo nền và cung cấp các công cụ khái

niệm cho chủ nghĩa hiện sinh hiện đại Ngoài ra, ông còn là nhà hiện tượng học đầu tiên tấn công vào chủ nghĩa duy lý của Hégel

Nội dung cơ bản trong triết học của Kierkegaard là tính chủ thể nhân vị, cái tạo nên nền tảng của mọi chủ nghĩa hiện sinh Theo ông, điều này bao gồm bốn yếu tố: giáo dục, tình cảm, triết học sử học và tín ngưỡng Triết học của Kierkegaard và của mọi chủ nghĩa hiện sinh là sự phản ứng của con người trước

sự bành trướng của chủ nghĩa duy lý và đang đưa chủ nghĩa tư bản vào cuộc khủng hoảng làm tha hóa và phi nhân vị con người Tính chủ thể của nhân vị có ngọn nguồn từ trực giác do Kierkegaard khởi xướng được hiện tượng học của Husserl trình bày như một khoa học chính xác Những mô tả về tính chủ thể biểu hiện ở trực giác của Kierkegaard đã kết hợp với hiện tượng học của Husserl tạo thành chủ nghĩa hiện sinh Như thế, “Kierkegaard là người khởi xướng chủ nghĩa hiện sinh và cũng là người đi đầu trong chủ nghĩa hiện sinh tôn giáo” [51, tr.34]

Theo Kierkegaard, nhân tính đích thực là sự đam mê Nó không thể tồn tại thiếu đam mê Mọi vấn đề của sự hiện sinh đều liên quan tới đam mê Thật thế, theo Kierkegaard, “không thể định nghĩa con người là một thực thể biết tư duy, một khách thể tự nhiên Và, về thực chất, không thể định nghĩa con người Vốn

là một cá tính đơn nhất, một thực thể thuần túy chủ quan, con người tự làm cho

nó trở thành cái được gọi là bản chất của nó Quan niệm về “sự hiện sinh” như vậy đã cho thấy tính chất duy tâm chủ quan trong triết học của Kierkegaard” [129, tr.40] Quả thật, tư tưởng của ông về con người, nhân vị, chủ thể tự nhiên,

Trang 33

sự đam mê đã góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy sự phát triển tư tưởng của ngành nhân học triết học phương Tây hiện đại

Karl Marx (1818-1883) là nhà tư tưởng hàng đầu về việc giải phóng con

người và xây dựng chủ nghĩa xã hội; là người đặt nền tảng để xây dựng chủ nghĩa Mác như là “thế giới quan và phương pháp giải thích – cải biến thế giới tự nhiên, xã hội trên lập trường duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, nhằm mục đích

xã hội chủ nghĩa” [291, tr.17] Marx đã tạo ra bước ngoặt cách mạng trong quan niệm về con người và bản chất con người, về mối quan hệ con người – tự nhiên – xã hội, vị trí và vai trò của con người trong tiến trình phát triển lịch sử nhân loại và sự nghiệp giải phóng con người Theo Marx, “ý nghĩa lịch sử, mục đích cao cả của sự phát triển xã hội là phát triển con người toàn diện, nâng cao năng lực và phẩm giá con người, giải phóng con người, loại trừ ra khỏi cuộc sống con người mọi sự “tha hóa” để con người được sống với cuộc sống đích thực của con người Và, bước quan trọng nhất trên con đường đó, theo ông, là giải phóng con người về mặt xã hội” [271, tr.4]

Khái niệm “con người” của Karl Marx bao gồm một nội dung phong phú Con người là một bộ phận không thể tách rời của giới tự nhiên; con vật chỉ sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên Có thể phân biệt con người với con vật khi con người sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người Chính lao động đã làm cho con người gần gũi, gắn bó với nhau và không thể tách rời con người ra khỏi tự nhiên và cũng không thể tách rời con người với nhau Như thế, trong quan niệm của Karl Marx, tồn tại người là sự thống nhất giữa con người với tư cách một thực thể xã hội, và con người với tư cách một thực thể cá nhân, một cá thể Đó là quan niệm coi tồn tại người là sự thống nhất biện chứng giữa cái tự nhiên tự nó và cái tự nhiên được sáng tạo bởi con người;

Trang 34

giữa thực thể tự nhiên và thực thể xã hội, giữa cái xã hội và cái cá nhân, giữa bản tính tự nhiên và bản chất xã hội của con người

Theo Marx, “bản chất con người không phải là cái trừu tượng vốn có của một cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa của tất cả các quan hệ xã hội” [211, tr.493] Đây là luận điểm nổi bật và tiêu biểu cho quan điểm mácxít về bản chất con người Ngoài ra, đóng góp cơ bản của Karl Marx cho quan niệm về con người là quan điểm về sự tha hóa xã hội của bản chất con người mà nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự tha hóa là chế độ

tư hữu về tư liệu sản xuất Karl Marx coi chủ nghĩa cộng sản là sự xóa bỏ một cách tích cực “sự tự tha hóa” của con người, là sự chiếm hữu một cách thực sự bản chất con người bởi con người và vì con người, là việc con người hoàn toàn quay trở lại với con người với tính cách là con người xã hội, nghĩa là có tính chất người – sự quay trở lại này diễn ra một cách có ý thức và có giữ lại tất cả sự phong phú của sự phát triển đã đạt được Trào lưu nhân học triết học phương Tây hiện đại đã có những chia sẻ với Karl Marx qua việc xây dựng mối quan hệ con người trong không gian văn hóa hài hòa với tự nhiên

Wilhelm Dilthey (1833-1911) là triết gia người Đức, đã từng là giáo sư

tại Đại học Berlin Ông triển khai khoa chú thích văn bản cổ và mở rộng phương pháp của Kant về các khoa học văn hóa Dilthey chuyên về sử học, các khoa học

về tinh thần cũng như tâm lý học Các tác phẩm chính của ông bao gồm: Nhập

môn các khoa học về tinh thần, Thế giới tinh thần: Nhập môn về triết lý cuộc sống, Tư duy về tâm lý miêu tả và phân tích, Bản chất của triết học

Dilthey mang lại cho chúng ta tư duy về lịch sử, hay chính xác hơn, đó là

“ý thức lịch sử” Thật thế, “không những con người đang sống trong lịch sử, không những con người đang có một lịch sử, mà bản thân anh ta cũng là lịch sử; lịch sử ảnh hưởng đến mọi con người” [392, tr.381]

Trang 35

Cuộc sống của con người cũng được ông giải thích theo chiều kích của lịch sử Thế giới luôn luôn có mối quan hệ với cái ngã; và cái ngã sẽ không thể tồn tại nếu không có thế giới Cuộc sống trần gian như là một câu đố mà mỗi người phải tự hiểu; cái chết đặc biệt thúc đẩy sự sống vì bản thân cái chết vốn đã nằm ngoài sự hiểu biết của con người Tuy nhiên, chúng ta chỉ có thể hiểu biết cuộc sống từ chính bản chất của cuộc sống; tri thức không thể nào lý giải hết được những cung bậc của cuộc đời Nói một cách khác, triết học của Dilthey là

sự kết hợp giữa lịch sử và tâm lý học: hiện thực con người chính là lịch sử và đó cũng chính là cuộc sống con người và việc phân tích vấn đề này chính là triết học về cuộc sống Sau này, nhân học triết học văn hóa đã áp dụng chủ nghĩa lịch

sử của ông phối hợp với phương pháp hiện tượng học,

Friedrich Nietzsche (1844-1900) là nhà triết học, nhà văn lớn người Đức

Các tác phẩm lớn của ông bao gồm Tính người và sự vượt quá tính người 1880), Hoàng hôn (1881), Kẻ chống Thiên Chúa (1888), Zarathustra đã nói như

(1878-thế (1883-1886), Đứng ở phía bên kia cái ác và cái thiện (1886) Đề cập đến tư

tưởng triết học độc đáo của ông, có thể khẳng định các khái niệm “cuộc sống”

và “ý chí” là các khái niệm trung tâm trong hệ thống triết học của ông

Cuộc sống, theo Nietzsche, được hiểu như là một sức mạnh, một quyền lực bị chế ngự bởi bản năng và ý chí; đó là một sức mạnh phi lý, đầy mâu thuẫn, tối tăm, tàn ác, bất khả tri; một sức mạnh hiện thân trong sự sinh thành, phát triển và tàn lụi triền miên Những thuộc tính của xã hội như áp bức, bạo lực, chiến tranh… đều là những sự việc tất yếu của cuộc sống và khi cuộc sống bị hủy diệt thì chúng sẽ biến mất Dưới nhãn quan triết học của ông, “cần phải hiểu chân lý như là công cụ của cuộc sống, như là sự thích nghi với hiện thực, còn nhận thức chính là công cụ của quyền lực Rằng, chân lý cần phải được chứng minh bằng tính hữu ích, bằng nhu cầu được đáp ứng, tức là bằng quyền lực ngày một tăng đối với tự nhiên và đối với người khác” [131, tr.47]

Trang 36

Ông là người đầu tiên trong lịch sử tuyên bố rằng Chúa đã chết, mọi thánh thần đều đã chết; cũng như chưa có ai suốt đời cô độc, một mình thách đấu đòi đánh giá lại các giá trị đã tồn tại hàng ngàn năm trong lịch sử nhân loại Chỉ có thể vượt qua luân lý đã có sẵn đó thì con người mới tự vượt lên mình để trở thành siêu nhân Siêu nhân không chấp nhận đạo đức lý trí, mà đạo đức phải là những ưu tư tức thời Chính nhờ chủ nghĩa phi luân lý mà con người tự vượt lên mình để trở thành siêu nhân Dù bị phê phán là triết gia có dòng tư tưởng đế quốc, bảo thủ, tiền phát xít và phi lý cực đoan trong triết học tư sản Đức, Nietzsche vẫn xem như là người tác động đến nhân học triết học phương Tây hiện đại về lãnh vực tinh thần và ý chí của con người trong việc kiến tạo xã hội hay một nền văn hóa

Rudolf Eucken (1846-1926) là một triết gia người Đức, đoạt giải Nobel

văn chương năm 1908 Ông sinh ra tại Aurich và sống cả quãng đời tuổi thơ trong nỗi ám ảnh về cái chết của những người thân và tình trạng sức khỏe kém Eucken học triết học, thần học và lịch sử tại các đại học Gttingen và Berlin; luận

án tiến sĩ của ông chuyên sâu về đề tài ngôn ngữ của Aristotle Sau khi nhận giải Nobel văn chương, ông được nổi tiếng thế giới và thường được mời diễn thuyết tại các đại học Harvard, Smith College, Học viện Lowell tại Boston và Đại học Columbia Ông qua đời ngày 15 tháng 9 năm 1926 tại Jena

Các tác phẩm quan trọng của ông bao gồm: Vấn đề của cuộc sống con người

– nhận định bởi những tư tưởng gia vĩ đại từ thời Platon cho đến thời kỳ hiện tại

(1910), Chủ nghĩa xã hội – một sự phân tích (1921), Tìm về tôn giáo (1912), Nền

tảng và lý tưởng của cuộc sống – Những điều cơ bản của triết học mới về cuộc sống (1912), Ý nghĩa và giá trị của cuộc sống (1913), Những quan điểm nền tảng của tư duy triết học hiện đại – cách nhìn phản biện và lịch sử (1880),

Eucken nổi tiếng với triết học về cuộc sống Theo ông “cuộc sống cần phải tập trung và đạt được một tâm điểm thống trị trong chính bản thể của nó và

Trang 37

từ đó bắt đầu một quá trình tương tác” [323:4] Thế giới này là một thế giới nội tại thanh khiết, một thế giới mà mối quan hệ nền tảng của cuộc sống là thế giới tinh thần, một thế giới tinh thần tuyệt đối, mà những vấn đề về tính cách về tính quyết định của ý chí mới là những vấn đề then chốt Nếu trước đây thế giới bao bọc con người như một định mệnh không bao giờ thay đổi được, thì hiện nay con người có khả năng thay đổi và đẩy thế giới đi lên; con người có khả năng lao động và cải tạo thế giới này thành một vương quốc của lý trí Thế giới nội tại, hướng về Đấng toàn năng, là một lãnh địa của niềm tin và quyết định, là sự tương tác giữa ý chí và ý chí, nhân cách và nhân cách Đó là vùng trời của hành động tự do, bằng quyền lực, tình yêu, tội lỗi và sự hòa giải; chính điều này tạo nên bản chất của tất cả các hiện tượng và mang lại linh hồn cho thế giới này Với tư cách là một quyền lực đạo đức, đời sống tinh thần bằng những hình thức sâu lắng nhất, đã có thể cai trị được thế giới Đây cũng chính là giá trị của tôn giáo Quan điểm này của Eucken – thầy học của Max Scheler – đã có những tác động mạnh mẽ đến tư duy nhân học triết học của Max Scheler: con người với nhân vị đặc biệt; hành động kiến tạo vũ trụ và tạo nên màu sắc văn hóa của thế giới này Con đường kiến tạo thế giới là con đường không thể tách rời Đấng tối cao – Thượng đế và con người luôn là sự gắn kết thiêng liêng và gần gũi

Edmund Husserl (1859-1938) là người sáng lập ra hiện tượng học, là nhà

tiền khởi của chủ nghĩa hiện sinh Tác phẩm chính của Husserl gồm có: Triết học

toán học, Những nghiên cứu logic, Triết học như một khoa học chính xác

Khi nói đến hiện tượng luận hay còn gọi là phương pháp hiện tượng học thì người ta muốn nói đến lý thuyết về hiện tượng của Husserl Hiện tượng học trực tiếp bàn đến vũ trụ, đến xã hội loài người, không bàn đến đời sống tinh thần của con người theo nghĩa của triết học truyền thống mà chỉ bàn đến mối quan hệ giữa mỗi con người với tư cách là chủ thể cá biệt với các hiện tượng bất kể là vật chất hay tinh thần đang diễn ra xung quanh một con người cá biệt nào đó Lý

Trang 38

thuyết của Husserl chỉ cung cấp cho con người một phương pháp diễn tả nội tâm của mỗi con ngưới cá biệt trước một hiện tượng mà không phải là một lý luận phản ánh như các lý luận nhận thức trong các hệ thống triết học truyền thống diễn ra trong lịch sử

Quá trình nhận thức, theo Husserl, phải đối mặt với ba vấn đề lớn Trước hết, cần phải xác định đối tượng của quá trình nhận thức Đây là đối tượng độc lập với ý thức, tồn tại tự nó hay bản thân đối tượng cũng thuộc về ý thức Bước

kế tiếp là làm cách nào mà ý thức thực sự đạt tới được đối tượng nhận thức Sự

mô tả của nhận thức có thật sự phù hợp với đối tượng hay không Và bước thứ

ba là chủ thể của quá trình nhận thức cuối cùng đạt được cái gì từ quá trình nhận thức đối tượng Khi giải quyết vấn đề này, Husserl đưa ra phương pháp quy giản hiện tượng học Theo Husserl, đó là một khoa học về bản chất sự vật, là lý thuyết nhận thức với nguyên lý chính là sự quy giản (reduction) Sự quy giản này áp dụng cho mọi loại hình của nhận thức Phương pháp này có ba giai đoạn hay còn được gọi là ba nấc thang của sự quan sát hiện tượng học Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn quy giản hiện tượng học Giai đoạn thứ hai là giai đoạn nhận thức được nâng lên những trình độ mới của suy tư hiện tượng học Giai đoạn này còn được gọi là giai đoạn quy giản bản chất Giai đoạn thứ ba của phương pháp hiện tượng học là giai đoạn nhận thức xác định những phạm vi và giới hạn

của mình trong mối quan hệ giữa hiện tượng nhận thức và đối tượng nhận thức

Theo Husserl, tất cả cách thể hiện hiện hữu của ta đều là tương quan với thế giới, cho nên muốn phản tỉnh, chúng ta phải làm một sự ngưng hãm, nói rõ hơn, là đặt vào trong ngoặc Bởi từ phương pháp này, ta muốn đi đến khám phá một lĩnh vực khoa học mới

Ngoài ra, ông cũng trình bày một số quan điểm về thế giới đời sống Khái niệm này là khái niệm trọng tâm trong tư tưởng của Husserl và có liên đới đặc thù đối với sự khủng hoảng Mục đích của ông không phải là mô tả mà là vạch

Trang 39

ra nguồn gốc siêu nghiệm của nó trong đời sống con người; nó đi từ một “thế giới trực quan phi lịch sử” đến lãnh vực đối lập với ý niệm và tư duy; đây cũng

là thế giới cộng đồng, “thế giới khách quan”; thế giới thực tại, thế giới hiện hữu của con người “Đây là thế giới bao gồm mọi kinh nghiệm mà con người tham

dự vào một cách đặc trưng theo sự hiện hữu của nó – cảm giác, tri giác, phán đoán, mô tả hay tổng hợp các khía cạnh khác nhau của cuộc sống hàng ngày Thế giới đời sống là nguồn cho mọi khoa học rút ra từ đó các trừu tượng khoa học Qua khái niệm này, Husserl nhằm giải phóng các nhà triết học ra khỏi quan điểm bị các nhà khoa học tự nhiên chi phối” [201, tr.102] Quả thật, thế giới đời sống đặt cơ sở cho quá trình nhận thức, là sự tương liên giữa các cá nhân tồn tại trên thế giới và cũng là lĩnh vực phổ biến bao gồm tự nhiên và tinh thần Vì vậy, Husserl gọi “chủ thể hiện tượng học là “người quan sát vô tư” vì nó “thôi đồng lõa với thiên nhiên” Khi chủ thể hiện tượng học nhìn lại kinh nghiệm sống của mình, thì không thấy “một hiện hữu đã có sẵn” mà chỉ thấy một thế giới hình thành do sự “cấu thành”, sự “xây dựng” của mình” [201, tr.109-110]

Cuộc sống là một sự tương hỗ tính ý hướng, cái mà Husserl gọi là “tính liên chủ thể” Nghĩa là, mỗi một con người không sống trong một thế giới đơn độc, mà là sự liên kết giữa cái tôi và cái tha nhân; tạo nên một cộng đồng con người với những giá trị nhất định; cộng đồng này chính là “cộng đồng nhân vị” Như thế, “lĩnh vực hiện tượng học chủ yếu chỉ có thể là tập hợp những cái đã sống trải tạo nên đời sống riêng tư của tôi, trong sự thống nhất của dòng ý thức của tôi Nếu còn có những cái “tôi” khác với bản thân tôi, thì hiển nhiên chúng chỉ có ý nghĩa đối với tôi “ở trong bản thân tôi” Nói một cách khác, tôi phải tạo lập những cái khác từ chính bản thân tôi, và sự tạo lập đó cũng được đòi hỏi đối với chính ngay sự tạo lập về “sự vật” [245, tr.98]

Ngoài quan niệm về thế giới đời sống và tính liên chủ thể, Edmund Husserl còn giới thiệu khái niệm xã hội học về văn hóa Tư duy này xuất hiện

Trang 40

vào cuối đời của ông Husserl cho rằng “xã hội học về văn hóa xét như một khoa học chỉ có thể có được trên căn bản của thế giới đời sống và với cái nhìn hiện tượng học về tri thức xã hội học Theo Husserl, xã hội học về văn hóa hiện thời vẫn theo khuôn mẫu của khoa học thực nghiệm vật lý, giữa thái độ “giảng giải”,

do đó, đứng trước những thể chế và lối sống, tập quán truyền thống… trong lòng một xã hội phải bằng phương pháp “thông hiểu” như những ý nghĩa “thông cảm”, “sống thực” Nhìn nhận lịch sử cũng bằng sự phản tỉnh, tìm nguồn gốc của mọi thế giới quan niệm, tập quán, truyền thống, nói chung là văn hóa như một “tồn tại lịch sử”” [201, tr.118-119] Như vậy, “trở về với chính vật” là cách

tư duy và khám phá thế giới đời sống

Tư tưởng của Husserl đã có những tác động mạnh mẽ đối với những tư duy nhân học triết học của Max Scheler: vấn đề tinh thần và cuộc sống, hiện tượng học tôn giáo Dù sau này Max Scheler không thừa nhận ảnh hưởng này, nhưng nền triết học phương Tây hiện đại vẫn xem ông là một nhà hiện tượng học sau Husserl

Như vậy, với luận thuyết hiện tượng học, Husserl đã “trả lại cho con người vị thế chủ thể trong cuộc sống” [115, tr.82] Hiện tượng học cũng không phải là cái sáng tạo riêng của Husserl “Hiện tượng Đức” là do Franz Brentano khởi đầu, Heidegger là người kế thừa trực tiếp Husserl và phát triển trong chủ nghĩa bản hữu của mình để rồi sâu sắc hơn trong “nhân học triết học” với tên tuổi của Max Scheler Tuy nhiên, lập trường hiện tượng của Husserl là “lập trường duy tâm” [84, tr.5] Nhiều sách báo đã phân tích lập trường này; tại Việt

Nam, tác phẩm Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng của giáo sư

Trần Đức Thảo (1917-1993) đã viết bằng tiếng Pháp từ 1942 và hoàn thành năm

1951 đã nêu bật lập trường mác-xít đối với trường phái triết học này

1.1.3 Tiền đề khoa học tự nhiên

Ngày đăng: 07/05/2021, 18:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w