1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ thành phố hồ chí minh lãnh đạo phát triển công tác giáo dục giai đoạn 196 2012

142 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan điểm, chủ trương của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh về đổi mới phát triển giáo dục – đào tạo .... Hòa chung với cả nước thực hiện nghị quyết trung ương hai khóa VIII của Đảng về đổi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

- -* * * - -

NGUYỄN THỊ TƯƠI

ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN CÔNG TÁC GIÁO DỤC GIAI ĐOẠN

1996 - 2012 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

MÃ SỐ: 60.22.56 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS NGUYỄN XUÂN TẾ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Xuân Tế Các số liệu đều có nguồn gốc rõ ràng, nội dung, kết cấu trong luận văn đều trung thực chưa ai công bố

Người thực hiện luận văn

Nguyễn Thị Tươi

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn thầy hướng dẫn khoa học, đã hết lòng hướng dẫn, động viên tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Lịch sử trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh Các bạn lớp cao học khóa 11 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Xin chân thành cảm ơn các cơ quan, ban, ngành đã giúp đỡ, tạo điều kiện

để tôi có đầy đủ các nguồn tài liệu hoàn thành luận văn

Cuối cùng xin trân trọng gửi đến gia đình những người đã hết lòng yêu thương, quan tâm và động viên tôi để tôi hoàn thành luận văn

Trân trọng!

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2013

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 6

6 Những đóng góp của luận văn 7

7 Bố cục và kết cấu của luận văn 8

Chương 1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, VĂN HÓA - XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG GIÁO DỤC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỚC NĂM 1996 9

1.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa -xã hội thành phố Hồ Chí Minh……… 9

1.1.1.Khái quát đặc điểm tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh 9

1.1.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa - xã hội thành phố Hồ Chí Minh 11

1.2 Khái quát thực trạng giáo dục thành phố Hồ Chí Minh trước 1996 15

1.2.1 Giáo dục Sài Gòn – Gia Định trước 1975 15

1.2.2 Giáo dục thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1975 đến 1986 18

1.2.3 Đổi mới giáo dục thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến năm 1995 22

Tiểu kết chương 1 26

Chương 2 QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG TÁC GIÁO DỤC GIAI ĐOẠN 1996 – 2012 28

Trang 6

2.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới phát triển

giáo dục – đào tạo 28

2.1.1 Bối cảnh lịch sử tác động đến công cuộc đổi mới giáo dục – đào tạo 28

2.1.2 Đường lối đổi mới phát triển giáo dục - đào tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam 30

2.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh về đổi mới phát triển giáo dục – đào tạo 35

2.3 Những chuyển biến về giáo dục thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1996 – 2012 43

2.3.1.Giáo dục Mầm non 43

2.3.2 Giáo dục Phổ thông 53

2.3.2.1 Giáo dục Tiểu học 54

2.3.2.2 Giáo dục Trung học 62

2.3.3 Giáo dục Thường xuyên 72

Tiểu kết chương 2 81

Chương 3 NHỮNG THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 1996 – 2012 83

3.1 Những thành tựu chủ yếu 83

3.1.1 Mạng lưới trường lớp được mở rộng, chất lượng giáo dục nâng cao toàn diện ở các cấp học 83

3.1.2 Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý phát triển đủ đáp ứng về cơ bản số lượng, chất lượng 87

3.1.3 Công tác quản lý giáo dục ngày càng được đổi mới 90

3.1.4 Công tác xã hội hóa giáo dục có chuyển biến tích cực 92

3.1.5 Cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn tài chính được tiếp tục đầu tư 94

3.2 Những khó khăn, hạn chế 97

3.3 Một số giải pháp phát triển giáo dục ở thành phố Hồ Chí Minh 99

Trang 7

3.4 Bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh trong

công tác phát triển giáo dục 102

Tiểu kết chương 3 110

KẾT LUẬN 112

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

Trang 8

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Học sinh Học sinh tiểu học Học sinh trung học cơ sở Học sinh trung học phổ thông Mầm non

Nhà xuất bản Nhân viên Ngoại ngữ Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi Thành phố Hồ Chí Minh

Tiểu học Tin học Trung học cơ sở Trung học phổ thông

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đối với các quốc gia, đổi mới hay cải cách giáo dục luôn luôn là yêu cầu thường xuyên, bức thiết trong cuộc chạy đua phát triển diễn ra ngày càng gay gắt nếu không muốn bị tụt hậu.Từ lâu lịch sử đã chứng minh một quy luật là: không có một sự tiến bộ và thành đạt quốc gia nào mà lại tách rời ra khỏi sự tiến bộ và thành đạt của quốc gia đó trong lĩnh vực giáo dục Quốc gia nào đầu tư đúng và đủ cho giáo dục thì quốc gia ấy sẽ tiến nhanh trên con đường phát triển của mình, ngược lại quốc gia nào coi nhẹ giáo dục hoặc không có đủ tri thức và khả năng cần thiết để tiến hành giáo dục một cách có hiệu quả thì quốc gia đó sẽ chậm phát triển hoặc thụt lùi là điều không thể tránh khỏi

Ở nước ta giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam mới có trí tuệ cao, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực, đồng thời cũng là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhất là trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước Nhận thức được vai trò quan trọng của giáo dục trong các

kỳ đại hội, Đảng ta đã xây dựng định hướng phát triển và đổi mới giáo dục giáo dục

- đào tạo, coi đây là lĩnh vực then chốt, tạo điều kiện cho giáo dục - đào tạo thực hiện sứ mệnh là quốc sách hàng đầu Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp

hành Trung ương Đảng khóa VIII đã khẳng định: “Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu Nhận thức sâu sắc giáo dục - đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư phát triển Thực hiện các chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với giáo dục - đào tạo đặc biệt là chính sách đầu tư và chính sách tiền lương Có giải pháp mạnh mẽ để phát triển giáo dục” [23:29-30] Phát triển tư trưởng đổi

mới giáo dục của Nghị quyết Trung ương hai, trong các Văn kiện Đại hội đại biểu

Trang 11

toàn quốc lần thứ IX, X tiếp tục thực hiện tư tưởng đổi mới giáo dục của Đảng Trên cơ sở kế thừa những tư tưởng chỉ đạo có tầm chiến lược của các kì đại hội

trước đó, Đại hội XI của Đảng xác định “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp…” [26:130-131]

Đây chính là những quan điểm chỉ đạo mang tính chiến lược để thúc đẩy giáo dục

Việt Nam phát triển có thể “sánh vai với các cường quốc năm châu” như mong ước

của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế, chính, trị, văn hóa lớn của cả nước, cũng là địa phương đi đầu trong nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực giáo dục Với nhận thức đúng đắn về vai trò của giáo dục là nâng cao mặt bằng dân trí, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu sự phát triển kinh tế, xã hội của thành phố, Đảng và nhân dân thành phố đã xác định giáo dục là vấn đề then chốt, là mũi đột phá để phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn

Hòa chung với cả nước thực hiện nghị quyết trung ương hai khóa VIII của Đảng về đổi mới giáo dục, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, Thành ủy, các ban ngành đoàn thể từ cấp thành phố đến cấp quận, huyện, phường, xã, thị trấn và nhân dân thành phố đã tích cực xây dựng chương trình đổi mới toàn diện giáo dục từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, từng bước hội nhập khu vực và quốc tế Đến nay thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn trên tất cả các lĩnh vực đáp ứng nguồn nhân lực để phát triển kinh tế xã hội cho thành phố và trên cả nước Trên cơ sở đó, chúng

tôi chọn đề tài “Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo phát triển công tác giáo dục giai đoạn 1996 - 2012” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử

Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 12

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Giáo dục có một tầm quan trọng lớn đối với sự phát triển của đất nước, vì vậy việc nghiên cứu đổi mới giáo dục là việc làm thường xuyên, của các nhà quản lý và toàn xã hội Vì vậy có rất nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục ở góc độ khác nhau như:

Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo đến sự nghiệp "trồng người" Người quan tâm đặc biệt đến sự nghiệp giáo dục nước nhà, Người thường nói muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa, muốn

vậy trước hết phải làm tốt công tác giáo dục Trong cuốn sách, Bàn về công tác giáo dục, Hồ Chí Minh đã nêu bật vai trò cực kỳ quan trọng của công tác giáo dục, đặc

biệt đã khái quát sự cần thiết của một nền giáo dục dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Cuốn sách được Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội ấn hành vào năm 1972

Vũ Ngọc Hải- Đặng Bá Lãm - Trần Khánh Đức (đồng chủ biên), 2002, Giáo dục Việt Nam đổi mới và phát triển hiện đại hóa, Nhà xuất bản Giáo dục Cuốn sách

đã đưa ra những quan điểm, nội dung, giải pháp đổi mới giáo dục nước ta từ 1986 đến 2006 Bên cạnh đó các tác giả còn đề cập đến vai trò và các chính sách, chiến lược phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đưa

ra chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam đến năm 2000 phải nâng cao chất lượng

và hiệu quả giáo dục, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, xây dựng xã hội học tập, đồng thời khắc phục những tiêu cực trong lĩnh vực giáo dục

Đất nước đang trên con đường phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì vậy giáo dục cũng phải đổi mới để theo kịp với sự phát triển đó Đồng thời vấn đề toàn cầu hóa, sự hòa hợp quốc tế trong đó có vấn đề giáo dục đang là vấn đề đặt ra và cần giải quyết Vì vậy, năm 1999, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, đã cho

xuất bản cuốn, Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI, tác giả Phạm

Minh Hạc, khái quát toàn bộ nền giáo dục Việt Nam và những yêu cầu cần được giải quyết khi đất nước bước sang thế kỷ XXI Cũng bàn về giáo dục, năm 2002,

GS.TS Phạm Minh Hạc cho xuất bản cuốn sách, Nhân tố mới về giáo dục và đào

Trang 13

tạo trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nhà xuất bản Chính trị

quốc gia, Hà Nội, đã nêu bật được những chuyển biến tích cực về chất lượng dạy và học; có được những kết quả này là do sự cải tiến về phương pháp của cả thầy lẫn trò, phong trào học tập trong nhân dân được đẩy mạnh Từ đó xuất hiện những nhân

tố mới, những kinh nghiệm hay để góp phần thực hiện thắng lợi đường lối giáo dục

và đào tạo của Đảng

Năm 2000, Bộ giáo dục - Đào tạo cho xuất bản cuốn sách, Đề án đổi mới giáo dục phổ thông Đây là tài liệu mang tính chuyên môn của ngành giáo dục, giới thiệu

chủ trương của Đảng và nhà nước về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và hướng dẫn các biện pháp thực hiện.Tuy nhiên chỉ giới hạn ở chương trình giáo dục phổ thông chưa có tính khái quát cho toàn bộ ngành học

Năm 2005, Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, đã xuất bản cuốn

30 năm giáo dục và đào tạo thành phố Hồ Chí Minh (1975- 2005) Cuốn sách đã

nêu lên những thành tích mà ngành đã đạt được hơn 30 năm và những hạn chế cần khắc phục, thông qua các báo cáo của sở giáo dục - đào tạo Thành phố Bên cạnh đó tài liệu này cũng đưa ra những định hướng cho phát triển giáo dục trong tương lai, các hoạt động giáo dục của các trường, các quận, huyện trong thành phố Tuy nhiên các hoạt động cơ sở của ngành thì tài liệu chưa phản ánh đầy đủ

Gần đây nhất Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2010 đã cho ra mắt bạn đọc

cuốn sách, Giáo dục và đào tạo thành phố Hồ Chí Minh hội nhập các nền giáo dục tiên tiến của Tiến sĩ Huỳnh Công Minh Cuốn sách gồm ba phần đã khái quát một

số nền giáo dục tiến tiến trên thế giới đồng thời thấy được mặt hạn chế của giáo dục thành phố Trên cơ sở đó tác giả đề ra yêu cầu giáo dục thành phố Hồ Chí Minh phải đổi mới tư duy và đã đưa ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục thành phố để hội nhập với nền giáo dục thế giới

Nguyễn Thành Phát, 2003, Bước đầu tìm hiểu quá trình thực hiện đổi mới giáo dục ở quận 10 thành phố Hồ Chí Minh (giai đoạn 1985-2000), luận văn thạc sĩ

Trong luận văn này tác giả đã đưa ra những nội dung về đổi mới giáo dục, những thành tựu, hạn chế đổi mới giáo dục quận 10

Trang 14

Nguyễn Thành Phát, 2010, Quá trình phát triển của giáo dục phổ thông ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới (1986 – 2005), luận án tiến sĩ Trong luận

án này tác giả đã trình bày đầy đủ những thàn tựu, hạn chế của giáo dục phổ thông Thành phố trong 20 năm Tuy nhiên luận án chỉ mới giới hạn ở giáo dục phổ thông

mà chưa có giáo dục mầm non và giáo dục thường xuyên ở thành phố Hồ Chí Minh

Nguyễn Thị Thu Hằng, 2011, Đảng bộ quận 9 - Tp Hồ Chí Minh lãnh đạo thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục (1997-2010), luận văn thạc sĩ Tác giả đã đề cập

đến những chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ quận 9

về công tác xã hội hóa giáo dục 1997 – 2010 Đồng thời đưa ra những thành tựu, hạn chế và một số giải pháp để thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục ở quận 9

Cù Thị Dung, 2011, Hoạt động giáo dục ở Nam kỳ thời Pháp thuộc 1862 –

1945, luận văn Thạc sĩ Luận văn đã trình bày cụ thể nguyên nhân, nội dung của 2

cuộc cải cách Nam kỳ trong thời kỳ Pháp thuộc là: cuộc cải cách lần thứ nhất từ năm 1906-1916 và cuộc cải cách lần thứ 2 từ năm 1930-1945 Đồng thời tác giả đưa

ra những nhận xét, đánh giá về 2 cuộc cải cách này Tuy nhiên, đề tài chỉ giới hạn

về giáo dục Nam kỳ thời Pháp thuộc

Ngoài ra còn các bài nghiên cứu, tạp chí, liên quan đến giáo dục thành phố Hồ Chí Minh

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích

Góp phần tìm hiểu tư tưởng đổi mới giáo dục của Đảng từ Nghị quyết Trung ương hai khóa VIII đến nay, qua đó thấy được vai trò lãnh đạo đổi mới giáo dục của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh

Thông qua nghiên cứu đề tài để thấy được những chuyển biến giáo dục thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1996 -2012, những thành tựu, hạn chế, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm giáo dục thành phố Hồ Chí Minh, góp phần khẳng định tính đúng đắn đường lối đổi mới giáo dục của Đảng

Trang 15

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những chủ trương, chính sách, giải pháp lãnh đạo chỉ đạo về đổi mới giáo dục Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh thực hiện chủ trương đổi mới giáo dục của Đảng cộng Sản Việt Nam, từ đó thấy được kết quả

và ý nghĩa của sự nghiệp phát triển giáo dục ở thành phố Hồ chí Minh Không gian nghiên cứu đề tài là thành phố Hồ Chí Minh và chỉ giới hạn trong các bậc học giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên

Thời gian nghiên cứu đề tài giai đoạn 1996- 2012

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục

Đồng thời luận văn sử dụng phương pháp chuyên ngành và các phương pháp liên ngành trong quá trình nghiên cứu là:

Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành: Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic là hai phương pháp cơ bản trong quá trình nghiên cứu Qua hai phương pháp này vấn đề sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh đối với công tác phát triển giáo dục từ 1996 – 2012, được thể hiện cụ thể, nhằm hệ thống lại, làm rõ đặc điểm phát triển từng bậc học

Trang 16

Trong luận văn còn sử dụng phương pháp khoa học giáo dục, quản lý giáo dục,

xã hội học, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để nhận xét, đánh giá, làm rõ thành tựu và hạn chế trong giáo dục thành phố Hồ Chí Minh

Nguồn tài liệu

Để thực hiện đề tài luận văn, tác giả nỗ lực sưu tầm, thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau

Những Văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết mang tính định hướng chỉ đạo của Đảng trong cả nước, cùng với đó là các Văn kiện, Nghị quyết, báo cáo của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh và Ủy ban Nhân dân Thành phố về đổi mới giáo dục

Các báo cáo tổng kết năm học và phương hướng nhiệm vụ năm học của sở giáo dục, các quận huyện, các trường trên địa bàn thành phố từ 1996 -2012

Nguồn số liệu thống kê về giáo dục của Cục Thống Kê thành phố Hồ Chí Minh

từ 1997 - 2012

Một số tài liệu, sách tham khảo liên quan đến đổi mới giáo dục

Một số bài viết về đổi mới giáo dục đăng trên tập chí giáo dục

Một số luận văn thạc sĩ và tiến sĩ về giáo dục của chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam có liên quan đến hướng đề tài nghiên cứu

Tất cả những tài liệu trên là cơ sở đáng tin cậy để tác giả luận văn tham khảo

6 Những đóng góp của luận văn

Luận văn nghiên cứu khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và những quan điểm, chủ trương của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh về đổi mới giáo dục giai đọan 1996 - 2012

Luận văn cũng đã trình bày những chuyển biến của ngành giáo dục thành phố

Hồ Chí Minh ở các cấp học Rút ra những thành công và hạn chế của giáo dục thành phố giai đoạn 1996 – 2012

Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi đúc rút những kinh nghiệm trong công tác phát triển giáo dục của thành phố Hồ Chí Minh Từ đây góp phần cung cấp những tài liệu tham khảo cho Đảng bộ và chính quyền thành phố

Trang 17

Luận văn cũng góp phần làm tư liệu cho việc giảng dạy và nghiên cứu về lịch

sử địa phương

7 Bố cục và kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

được kết cấu thành 3 chương

Chương 1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa – xã hội và thực trạng giáo dục thành phố Hồ Chí Minh trước năm 1996

Chương 2 Quá trình lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh về phát triển giáo dục giai đoạn 1996 – 2012

Chương 3 Những thành tựu, hạn chế, bài học kinh nghiệm phát triển giáo dục thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1996 – 2012

Trang 18

Chương 1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, VĂN HÓA - XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG GIÁO DỤC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỚC NĂM 1996

1.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa -xã hội thành phố Hồ Chí Minh

1.1.1.Khái quát đặc điểm tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn nhất nước ta, một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật lớn nhất cả nước Lãnh thổ của thành phố trải dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, nằm trong khoảng 10°10' – 10°38' Bắc và 106°22' – 106°54' Đông Điểm cực Bắc là xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi Điểm cực Tây là xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi Điểm cực Nam là xã Long Hòa, huyện Cần Giờ Điểm cực Đông là xã Thạnh An, huyện Cần Giờ

Tính theo đường chim bay, chiều dài của thành phố tính theo hướng Tây Bắc - Đông Nam khoảng 100km và chiều ngang nơi rộng nhất hơn 40km Thành phố Hồ Chí Minh tiếp giáp với 6 tỉnh: phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu , Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang Bao gồm diện tích

tự nhiên khoảng 2.095,5 km2, chiếm hơn 0,63% diện tích cả nước, trong đó gồm 494,01km2 nội thành và 1.601km2 ngoại thành

Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửa Long, thành phố Hồ Chí Minh có địa hình tương đối bằng phẳng, về địa chất chia thành 3 khu vực, khu vực thứ nhất bao gồm các quận Bình Chánh, huyện Nhà Bè, Cần Giờ…là vùng đất phù sa và còn nhiễm mặn thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản

và du lịch Khu vực thứ hai bao gồm quận Tân Bình, Hóc Môn, Gò Vấp… chủ yếu

là đất pha cát, những nơi cao thường có lẫn đá ong và sỏi thuận lợi cho trồng các loại cây công nghiệp và phát triển các khu công nghiệp tập trung Khu vực thứ ba

Trang 19

thuộc Thủ Đức chiếm phần tả ngạn sông Sài Gòn là vùng đất tương đối thấp hơn khu vực thứ hai, đây là nơi thuận lợi để hình thành các khu công nghiệp quy mô lớn

Một nhà địa chính khi nhìn bản đồ địa chính Sài Gòn thốt lên rằng: Trông nó giống như một con Hạc vàng đang xòe cánh Thật vậy, Củ Chi và Hóc Môn là một cánh trái chiếm khoảng 1/3 bề mặt đất đai, Cần Giờ là cánh phải chiếm khoảng 1/3 diện tích đất đai khác Đầu chim là Thủ Đức hướng ra biển Đông, xuyên Trường Sơn Nam, còn đuôi nối liền với đồng bằng sông Cửu Long Phần trước ngực con Hạc vàng là con sông lớn nhất miền Nam hoàn toàn nằm trong lãnh thổ nước ta, sông Đồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, hợp lưu bởi nhiều sông khác,

có lưu vực lớn, khoảng 45.000 km² Với lưu lượng bình quân 20–500 m³/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ m³ nước, sông Đồng Nai trở thành nguồn nước ngọt chính của thành phố Đồng thời sông tạo ra bảy bậc thềm gồm các thác ghềnh lớn, mà thác quan trọng nhất là thác Trị An, trở thành một đập thủy điện lớn nhất, nhì cả nước

Từ cánh trái đi xuống là sông Sài Gòn dài 47 km Một con sông nữa của thành phố

là sông Nhà Bè, hình thành ở nơi hợp lưu hai sông Đồng Nai và Sài Gòn, chảy ra biển Đông bởi hai ngả chính Soài Rạp và Gành Rái Ngoài các con sông chính, thành phố còn có một hệ thống kênh rạch chằng chịt, với dòng chảy uốn khúc vô kể Điều đó chứng tỏ nguồn nước cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất rất dồi dào Nhờ

hệ thống sông ngòi mà Sài Gòn có đường thủy thông ra biển, qua cửa Cần Giờ, tàu lớn có thể cập cảng Sài Gòn, là một trong hai cảng lớn nhất ở miền Nam Về đường không có sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay lớn nhất Đông Dương với hàng chục đầu mối giao lưu quốc tế Bên cạnh đó, rừng Sác ở Cần Giờ, gắn với lịch sử đấu tranh ngoan cường của nhân dân, cũng là huyện có vị trí độc đáo nằm gọn trong tam giác châu bỏ túi mà bản chất không khác các tam giác châu khổng lồ láng giềng là đồng bằng sông Cửu Long Các nhà địa chất gọi đó là trường học nhỏ của Nam Bộ, biết

rõ nó là biết được cái nôi lớn Nam Bộ vây quanh

Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo Khí hậu khá đặc trưng của khí hậu miền Nam chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa

Trang 20

và mùa khô Mùa mưa thường kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 với lượng mưa trung bình đạt 1.949 mm/năm Tuy nhiên, lượng mưa phân bố không đều, các quận nội thành và các huyện phía Bắc có lượng mưa cao hơn khu vực còn lại Cũng như lượng mưa, độ ẩm không khí ở thành phố lên cao vào mùa mưa (80%), và xuống thấp vào mùa khô (74,5%) Bình quân độ ẩm không khí đạt 79,5%/năm Với lượng mưa và độ ẩm như trên thì thành phố Hồ Chí Minh là một trong ít tỉnh ở nước ta hầu như không có bảo, điều này thuận lợi người dân thành phố sinh sống và các hoạt động khác

1.1.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa - xã hội thành phố Hồ Chí Minh

Theo Trần Văn Giàu, “2 chữ Sài Gòn theo Hán Nôm đã xuất hiện từ năm 1776

để nói lên cái tên Sài Gòn của một địa phương đã có ít nhất từ năm 1672 rồi Nghĩa

là Sài Gòn đã có trước Tai-ngon hay Tin-gan của Aubaret và Garnier” [32:592] Tuy nhiên, cái tên Sài Gòn thì có nhiều ý kiến lý giải khác nhau Theo Sài Gòn Năm Xưa của Vương Hồng Sển: “Sài” là củi thổi, “Gòn” là tên loại cây có bông nhẹ xốp, nhẹ hơn bông thường, người dân ở miền Nam thường dùng để dồn gối, dồn nệm, ngoài Bắc thì gọi là cây bông gạo” [84: 35] Lại có người cho rằng: “Sài Gòn” vốn là từ chỉ vùng đất có nhiều cây bông gòn, củi gòn…hay vốn là rừng gòn Người khác nói rằng: “Sài Gòn” là tên được phiên âm từu tiếng Kh,mer cổ

“PreiNokor” hoặc các từ có phiên âm gần như PreiNagaram, preiNagara,

BraiNagar…có nghĩa là “vùng đất có nhiều rừng cây” Có người lại dịch nghĩa các

từ trên là: “Thị tứ trong rừng” hay “khu rừng của nhà vua”[16: 11,16]

Vào những năm đầu Công nguyên, vùng đất Sài Gòn nói riêng, Nam Bộ nói chung là vùng cư dân văn hóa của vương quốc Phù Nam, sau này bị Chân Lạp và Chăm Pa tranh chấp

Do nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, thành phố Hồ Chí Minh được hình thành nhờ công khai phá của nhà Nguyễn Theo Trịnh Hoài Đức: Mùa xuân năm Mậu Dần (1698) Chúa Nguyễn cử thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược đất phương Nam Căn cứ vào tình

trạng dân cư, các loại hình kinh tế, Nguyễn Hữu Cảnh đã “lấy đất Nông Nại làm

Trang 21

phủ Gia Định, lập xứ Đồng Nai thành huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lập

xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn Mỗi dinh lại đặt chức lưu thủ, cai bộ và ký lục để cai trị” [32:297] Như vậy, “ năm 1698 xứ Sài Gòn trở thành huyện Tân Bình; huyện sở đặt ở gò Tân Khai ngó xuống Bến Nghé Đây cũng

là trụ sở của dinh Phiên Trấn, ta có thể lấy năm thành lập huyện Tân Bình, dinh Phiên Trấn làm năm khai sinh thành phố Sài Gòn” [32:279] Vậy nên, có thể nói

cách đây hơn 300 năm, chính quyền phong kiến Đàng trong bắt đầu chính thức hoạch định địa giới và có cơ chế quản lý với vùng đất Sài Gòn

Sau khi chiếm được Sài Gòn vào năm 1859, nó trở thành thủ phủ của Nam Kỳ, đồng thời người Pháp đã gấp rút quy hoạch xây dựng Sài Gòn thành một đô thị lớn với nhiều chức năng (hành chính, quân sự, kinh tế, cảng, v.v.) Để phục vụ cho công cuộc khai phá thuộc địa, thành phố Sài Gòn được thành lập và nhanh chóng phát triển Năm 1906, Sài Gòn hợp nhất với Chợ Lớn thành Sài Gòn - Chợ Lớn với dân

số khoảng 16 vạn người và nó nhanh chóng trở thành một trong hai đô thị quan

trọng nhất Việt Nam được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông”(The Pearl of the Far East) hay “Paris của Phương Đông” (Paris de l'Extrême-Orient)

Trong thời kỳ bị tạm chiếm, năm 1954, Sài Gòn trở thành thủ phủ của chính quyền Sài Gòn, thành phố được chia làm 8 quận nội thành với 54 phường Sài Gòn

tiếp tục phát triển và tiếp tục được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông” hay “Paris Viễn Đông”, với một hạ tầng cơ sở được xây dựng khá hoàn chỉnh một trong những

đô thị quan trọng ở Đông Nam Á Tuy nhiên, do chiến cuộc leo thang từ giữa cuối thập niên 1960, chính quyền Sài Gòn cùng người Mỹ đã cho xây dựng ồ ạt các công

trình phục vụ chiến tranh Rồi sau đó là phong trào “thương phế binh cắm dùi” của

cựu chiến binh quốc gia vào đầu thập niên 1970, khiến cho kiến trúc Sài Gòn không còn như ban đầu Ngày 30 tháng 4 năm1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, lãnh thổ Việt Nam được hoàn toàn thống nhất Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội khóa VI của nước Việt Nam thống nhất đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời Thành phố Sài Gòn – Gia Định được đổi tên Thành phố

Hồ Chí Minh và được xây dựng trở thành trung tâm kinh tế lớn nhất nước

Trang 22

Thành phố Hồ Chí Minh là nơi thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài và trong nước lớn bậc nhất Cùng với một lực lượng lao động có tay nghề, cần mẫn, năng động và sáng tạo đã đưa thành phố Hồ Chí Minh trở thành thành phố có nền kinh tế phát triển nhất cả nước Tốc độ độ tăng trưởng GDP hàng năm xếp hàng đầu trong cả nước với bình quân hơn 10%/năm Năm 2012 GDP toàn thành phố đạt 592.000 tỷ/năm, gấp 1,8 lần so với cả nước

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không ngừng phát triển theo hướng hiện đại, nhiều trường đại học, cao đẳng, trung cấp được xây dựng, thu hút hàng chục ngàn sinh viên học tập hàng năm, trình độ dân trí, đời sống vật chất, tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện và nâng cao

Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm 19 quận và 5 huyện Theo Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh năm 2011, dân số thành phố là 7.521.138 người (chiến 8,30% dân số cả nước) Tuy nhiên nếu tính cả những người cư trú không đăng ký thì dân số thực sự của thành phố vượt trên 8 triệu người Trong đó, người Kinh chiếm 92,91% dân số thành phố, tiếp tới người Hoa 6,69%, còn lại các dân tộc Chăm, Khmer…Mật độ dân số là 3.590 người/km2 (2011) dẫn đầu cả nước về mật

độ dân số, gấp 13 lần so với mật độ trung bình cả nước Tuy nhiên, dân số phân bố không đều giữ nội thành và ngoại thành

Có thể nói, trên 300 năm trước, Bến Nghé - Sài Gòn xưa là nơi tiếp nhận các nguồn lưu dân từ miền Trung, miền Bắc đến lập nghiệp, rồi các di dân người Hoa vào định cư ở Biên Hòa, Mỹ Tho cùng hội tụ với cư dân bản địa, sau đó Sài Gòn trở thành trung tâm lớn của cả nước đón nhận những ảnh hưởng của văn hóa Pháp, Mỹ qua các giai đoạn thăng trầm của đất nước Tính giao thoa cần cù của những người lao động vượt khó, hội tụ tài năng và sức lực của cả nước đã biến Sài Gòn thành một phức thể văn hóa thông qua phong tục tập quán, cách thức ăn uống, sinh hoạt,

ma chay, cưới hỏi, tôn giáo tín ngưỡng; tinh thần đoàn kết dân tộc, năng động sáng tạo; kiên cường bất khuất, lòng yêu nước, ý chí tự lực tự cường; tinh thần tương thân tương ái; tính tương đồng, nhạy cảm, dễ tiếp cận và hội nhập; cá tính bộc trực,

Trang 23

thẳng thắn, trọng nghĩa khinh tài…vốn là phẩm chất tốt đẹp của dân tộc và con người thành phố

Từ bao đời nay, cùng với cả nước, người dân thành phố Hồ Chí Minh vốn chân chất với cuộc sống tự do, luôn kiên cường đứng lên chống lại ách áp bức bất công của chế độ phong kiến trong nước cũng như ách thống trị xâm lược của các đế quốc bên ngoài

Phát huy tinh thần yêu nước của dân tộc, không muốn làm ngựa trâu cho thực dân Pháp, vì vậy ngay từ khi Pháp nổ súng xâm lược nước ta ở cảng Đà Nẵng, ngày 9/2/1959 hạm đội Pháp tới Vũng Tàu rồi theo sông Cần Giờ lên Sài Gòn Ngày 16/2/1959 chúng đến Gia Định, chưa đầy một ngày chúng chiếm được Gia Định Vốn mang trong huyết quản của mình một truyền thống yêu quê hương đất nước, họ không quản gian lao, chỉ cần một manh áo vải cùng với một ngọn tầm vông là đủ để

họ đứng lên chống giặc Tinh thần yêu nước đó chẳng những biểu hiện ở những con người bình thường mà ngay cả ở những con người khuyết tật Hình ảnh cụ đồ mù lòa nhưng với lòng yêu nước thương dân, bằng ngòi bút và trái tim sắt thép của mình, Cụ Nguyễn Đình Chiểu đã nhiệt tâm tham gia kháng chiến với hình thức tham gia đánh giặc trên mặt trận văn thơ

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà

Trước và sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, nhất là trước Cách mạng Tháng Tám 1945, ở Sài Gòn có nhiều cuộc khởi nghĩa, trong đó tiêu biểu như: Cuộc khởi nghĩa ở Mười Tám Thôn Vườn Trầu ở Hóc Môn năm 1885 Cuộc khởi nghĩa

1913 và 1916, kết quả 2 nhà sư Nguyễn Hữu Trí và Cao Văn Long và 110 nghĩa quân bị xử tử Mặc dù vậy phong trào đấu tranh ở Sài Gòn vẫn phát triển mạnh Ngày 9/1/1950 với 2.000 học sinh, sinh viên bãi khóa, biểu tình đã làm cho kẻ thù khiếp sợ nhưng có 150 em bị bắt, 30 em bị thương và một vài học sinh trúng đạn chết trong đó có Trần Văn Ơn Đám tang của Trần Văn Ơn biến thành một cuộc biểu tình sôi nổi vào ngày 12/1/1950 với hơn nửa triệu người từ mọi miền đất nước

về đây biểu dương, ý chí đấu tranh Đây cũng là lần biểu dương lớn nhất từ khi

Trang 24

bùng nổ kháng chiến ở Nam Bộ Nối tiếp tinh thần yêu nước hàng vạn công nhân lao động Sài Gòn đã tổ chức các cuộc biểu tình, biểu dương lực lượng đòi Ngô Đình Diệm phải thi hành Hiệp định Giơnevơ

Để góp phần với cả nước “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” nhân dân

Sài Gòn đã thành lập nhiều đội quân: Đội quân tóc dài, Biệt động Sài Gòn, … đủ mọi lứa tuổi, tự trang bị vũ khí Họ khác nhau trên nhiều mặt nhưng cùng bản chất cách mạng, bản chất giai cấp và cùng chung một mục đích chiến đấu, đấu tranh cho nước nhà được độc lập, tự do, hạnh phúc

Cuộc đấu tranh của nhân dân Sài Gòn cùng với Nam Bộ xứng danh là Thành đồng tổ quốc, danh hiệu của Bác Hồ tặng miền Nam mến thương Tinh thần đấu tranh ấy mãi mãi không phai mờ trong ký ức của dân tộc

Với những chiến công trong chiến đấu, ngày nay thành phố Hồ Chí Minh cũng

là nơi lưu giữ nhiều di tích lịch sử, nhiều công trình văn hóa cổ và hiện đại như: Thành Gia Định cũ, Mười Tám Thôn Vườn Trầu, Lăng Cha Cả, Nhà thờ Đức Bà, Dinh Thống Nhất… là những nơi thu hút nhiều khách tham quan, du lịch trong và ngoài nước, mang về nguồn thu nhập lớn cho thành phố

Như vậy, Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh là một vùng đất hội tụ đầy đủ những yếu tố về địa lý, kinh tế, văn hóa để phát triển thành một trung tâm kinh tế chiến lược của quốc gia, không chỉ trong quá khứ, hiện tại và tương lai Đồng thời, ngày càng giữ vị trí chiến lược quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

1.2 Khái quát thực trạng giáo dục thành phố Hồ Chí Minh trước 1996

1.2.1 Giáo dục Sài Gòn – Gia Định trước 1975

Trong thời kỳ Pháp thuộc cùng với âm mưu chiếm đất nước ta, chúng coi giáo dục như công cụ bình định, cùng phối hợp với đạo quân viễn chinh xâm lược Với mục tiêu đào tạo người nói, viết thông thạo tiếng Pháp, phục vụ đắc lực cho cuộc xâm lược và khai thác của chúng Vì vậy chúng chiếm đất đến đâu thì mở trường học đến đó Tuy nhiên trên thực tế không phải tất cả mọi người đều được đến

Trang 25

trường mà chủ yếu là con em của tầng lớp trung lưu hoặc con em lao động nhưng học thật giỏi, còn đa số nhân dân lao động vẫn mù chữ

Đầu tiên, chính quyền thực dân Pháp cho thành lập trường Thông Ngôn năm

1861 mục đích đào tạo đội ngũ thông ngôn phục vụ cho chính quyền Pháp Đến ngày 31/3/1863, Đô đốc Bernard đã ra quyết định tái thành lập một số trường đào tạo các Đốc học, Giáo thọ, Huấn đạo Đồng thời tạo ra một số học vị mới như tú tài,

cử nhân…Học sinh được học chữ la tinh và chữ quốc ngữ trong trường Chữ pháp chưa bắt buộc thay thế chữ quốc ngữ trong trường, nhưng trong các kỳ thi, thí sinh bắt buộc phải thi tiếng Pháp Sau đó tăng cường áp đặt hệ thống giáo dục Pháp ở Nam Kỳ, các Nghị định năm 1864, 1866, 1871, chính quyền thực dân ban hành một loạt Nghị định thành lập các trường tiểu học Pháp, trường Sư phạm thuộc địa và một Hội đồng có nhiệm vụ nghiên cứu, giảng dạy và biên soạn giáo trình cho giáo viên [17:30]

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ

tịch Hồ Chí Minh, phong trào chống “giặc dốt” trong cả nước Ở Nam bộ, tháng 8-

1947 Ủy ban kháng chiến hành chính Nam bộ ra quyết định thành lập Sở Giáo dục Nam bộ và Viện Văn hóa kháng chiến để đáp ứng nhu cầu văn hóa của cán bộ và nhân dân vùng tự do Với nhiệm vụ trước mắt là chống thất học, nhanh chóng thanh toán nạn mù chữ, nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân, đồng thời phát triển ngành giáo dục phổ thông, giáo dục bồi dưỡng thế hệ trẻ có đủ năng lực phẩm chất phục vụ kháng chiến, xây dựng đất nước Mặc dù trong điều kiện còn nhiều khó khăn, nhưng với tinh thần tự lực, tự cường phòng tu thơ của Sở đã kết hợp với phòng Bình dân học vụ, Trung học, Tiểu học… tích cực soạn thảo chương trình sách giáo khoa cho bậc tiểu học, trung học… nội dung chương trình và tài liệu sách giáo khoa phù hợp với nền giáo dục mới, gạt bỏ dấu vết của giáo dục thực dân, xây dựng quan điểm giáo dục phục vụ kháng chiến, đáp ứng yêu cầu về kiến thức văn hóa, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, đạo đức mới của công dân, người cán bộ cách mạng

Trang 26

Do nhu cầu giáo viên ngày càng cao nên năm 1948, Phòng Bình dân học vụ được thành lập, phòng đã mở 2 lớp đào tạo giáo viên tại Chợ Lớn và một số lớp bồi dưỡng ngắn ngày để cung cấp cán bộ cho cán bộ phong trào xóa mù chữ, bổ túc văn hóa khắp các xã vùng giải phóng

Từ năm 1948, thực hiện chủ trương của Ủy ban kháng chiến hành chính Nam

bộ, để đáp ứng nhu cầu cấp bách của số thanh niên tham gia kháng chiến mà học dở dang trung học phổ thông Sở lần lượt mở các trường trung học kháng chiến như: Trường trung học kháng chiến Nguyễn Văn Tố, Trường trung học Thái Văn Lung, Trường trung học Huỳnh Phan Hộ, Trường trung học Tiền Phong…Có thể thấy tổng số trường do Sở Giáo dục Nam Bộ và Viện Văn hóa kháng chiến Nam Bộ thành lập trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, cả tiểu học và trung học khoảng 70 lớp

Trước giải phóng nhà trẻ và mầm non không tổ chức thành trường Giai đoạn này có khoảng 92 ký nhi viện và cô nhi viện trông coi trẻ mồ côi, con binh lính và con lao động nghèo Phần lớn các ký nhi viện và cô nhi viện do Thiên chúa giáo và Phật giáo tổ chức và quản lý, một số ít do tư nhân và các hội đoàn tổ chức

Về mẫu giáo có khoảng 1007 lớp mẫu giáo thu nhận 36.000 cháu tập trung ở 36 trường phổ thông, 111 điểm do tôn giáo mở trong nhà thờ, nhà chùa và 27 điểm của

tư nhân [58:2] Phần lớn các lớp mẫu giáo đều ghép chung với các trường tiểu học 58% các lớp mẫu giáo là tư thục và chỉ tập trung ở các khu phố giàu có, những nơi trung tâm có nhiều cơ quan ngụy quyền và chỉ phục vụ con em gia đình giàu có, quyền thế Những vùng đông nhân dân lao động, vùng ven nội thành và nông thôn hầu như không có trường lớp mẫu giáo

Sau Hiệp định Giơnevơ, đế quốc Mỹ đã ra sức đầu độc thanh niên về chính trị, văn hóa, gieo vào thanh niên, học sinh, sinh viên một lý tưởng với chiêu bài “quốc gia”, “dân tộc”, “tự do dân chủ”…giả hiệu Đồng thời, chúng mở thêm nhiều trường học mới nên số lượng trường học tăng lên Có 1070 trường cấp I với 546.444 học sinh; 427 trường cấp II với 145.347 học sinh và 153 trường cấp III với 81.166 học sinh [58:3]

Trang 27

Để chống lại âm mưu đầu độc thanh, thiếu niên của địch, năm 1964 Hội nhà giáo yêu nước miền Nam Việt Nam được thành lập Đây là một tổ chức chính trị và nghề nghiệp có nhiệm vụ tập hợp, đoàn kết, tổ chức, giáo dục rèn luyện giáo viên, phục vụ cho công cuộc kháng chiến, đấu tranh với Mỹ, Ngụy để bảo vệ lợi ích của nhà giáo, cải tổ giáo dục, xây dựng một nền giáo dục dân tộc, dân chủ tiến bộ Đồng thời tham gia vào công cuộc đấu tranh chung của nhân dân thành phố, chống văn hóa đồi trụy, bảo vệ văn hóa dân tộc

1.2.2 Giáo dục thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1975 đến 1986

Với chiến thắng vĩ đại mùa xuân 1975, thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã trở thành một thành phố của nước Việt Nam thống nhất Tuy nhiên do chiến tranh nên cơ sở vật chất hầu như bị tàn phá Nền giáo dục thành phố què quặc không có giáo dục mầm non, các trường phổ thông lại chủ yếu tập trung ở nội thành, tạo nên sự cách biệt giáo dục nội và ngoại thành Việc học của người dân lao động không được chú ý, số người mù chữ trong nhân dân khá đông, học sinh chủ yếu là cấp I đến 70%

Ngay sau khi thành phố được giải phóng, Thành ủy đã xác định yêu cầu không thể chậm trễ phải chuyển toàn bộ hệ thống giáo dục cũ sang hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa Ngày 17/6/1975, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị 221/CT-TW hướng dẫn công tác giáo dục miền Nam Ngày 24/7/1975, căn cứ quyết định của Ban Thường vụ Trung ương cục miền Nam, Ban Giám Đốc đầu tiên của Sở Giáo dục gồm 5 đồng chí do nhà giáo lão thành Lương Lê Đồng làm giám đốc Từ đây,

Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh chính thức được thành lập, thực hiện chức năng quản lý nhà nước toàn bộ hệ thống giáo dục thành phố Với sự chỉ đạo và nổ lực của Thành ủy, Ủy ban Nhân dân thành phố, Sở Giáo dục, ngành giáo dục thành phố đã xác lập được mô hình hoàn chỉnh của hệ thống giáo dục quốc dân với những ngành học chính quy hoàn toàn mới bên cạnh giáo dục phổ thông, tạo cơ

sở vững chắc cho giáo dục thành phố sớm hội nhập với nền giáo dục chung của cả nước, trong đó mọi người dân ở mọi lứa tuổi đều có cơ hội học tập

Trang 28

Thực hiện Chỉ thị 221 của Ban Bí thư, thành phố đã phát động phong trào Bình

dân học vụ rộng khắp trên địa bàn Với khí thế sôi nổi, nhiệt tình “tham gia học và dạy bình dân học vụ, bảo trợ bình dân học vụ là yêu nước”, phong trào đã đã xóa

mù chữ cho 9,5 vạn người, trở thành tỉnh đầu tiên ở phía Nam hoàn thành chỉ tiêu xóa mù chữ sau 21 tháng (từ tháng 7/1975 đến tháng 3/1977) và được Nhà nước tặng Huân chương Lao động Hạng II tại Hội nghị mừng xóa mù chữ - bổ túc văn hóa các tỉnh thành phố phía Nam (tháng 3/1977) Đây là Huân chương đầu tiên về giáo dục đối với các tỉnh và thành phố phía Nam, đánh dấu một bước đột phá đầy tính năng động của ngành giáo dục thành phố trong việc tham mưu đề xuất và triển khai thực hiện các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trên địa bàn dân cư Từ những thành tựu rực rỡ ấy, tháng 4/1980, UNESCO khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, quyết định tổ chức Hội nghị chuyên đề xóa mù chữ - bổ túc văn hóa tại thành phố Hồ Chí Minh cho các nước trong khu vực Đó là niền tự hào chung của

cả dân tộc

Cùng với phong trào xóa mù chữ, Thành ủy và Ủy ban Nhân dân chủ trương vừa cải tạo, vừa xây dựng mới cơ sở vật chất nhà trường; đồng thời xóa hệ thống trường tư, điều đó đã tạo thuận lợi cho ngành giáo dục thực hiện chế độ chính sách không phân biệt trường công cũ hay trường mới công lập hóa, đồng thời tiến hành điều hòa chất lượng giáo viên và thành phần học sinh giữa các hệ trường Chương trình sách giáo khoa mới cũng được áp dụng trong toàn ngành Mặt khác ngành giáo dục cũng tiến hành giải thể những trường quá nhỏ không đúng quy cách, điều chỉnh thành lập trường phổ thông cơ sở, gắn cấp I vào cấp II và tách cấp II ra khỏi trường cấp III Đến cuối năm học 1979 – 1980 toàn thành phố có: 174 trường, 10.121 lớp

và 482 555 học sinh cấp I Cấp II – III: 285 trường, 4.819 lớp và 236.442 học sinh Cấp III có 44 trường, 1.234 lớp và 56.769 học sinh Chất lượng giáo dục cũng được nâng cao Tỷ lệ học sinh lên lớp hàng năm ở cấp I là 86%, Cấp II – III là 80%[76: 13]

Với quyết tâm xóa mù chữ và phổ cập giáo dục cho nhân dân lao động, ngành giáo dục đã xây dựng chính quy ngành học bổ túc văn hóa cho công nhân và thanh

Trang 29

niên Kết quả đã có 21 trường bổ túc văn hóa tập trung ở thành phố và quận, huyện,

404 trường bổ túc văn hóa tại chức, hàng nghìn lớp học ở các cơ quan, xí nghiệp, lực lượng thanh niên xung phong Đến cuối năm học 1979 - 1980, đã có 16 phường,

xã, 5 cơ quan xí nghiệp đã hoàn thành phổ cập cấp I cho cả 3 đối tượng

Thực hiện Nghị quyết số 14-NQ/TW của Bộ Chính trị và chỉ đạo Bộ Giáo dục

- Đào tạo, ngành giáo dục thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thay sách giáo khoa, đổi mới nội dung chương trình Năm học 1979 – 1980, tất cả học sinh lớp 1 toàn thành phố bắt đầu học theo chương trình và sách giáo khoa cải cách giáo dục đã tạo cho học sinh hứng thú học tập hơn, hiểu biết và thực hành tốt hơn Nề nếp và tác phong có tiến bộ, tỷ lệ học sinh khá giỏi ngày càng nhiều hơn

Cùng với chương trình thay sách giáo khoa cơ sở vật chất trường học được quan

tâm Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” bình quân mỗi năm có

trên 780 phòng học được xây dựng mới hoặc sửa chữa Đến năm 1984 đã có 9/18 quận, huyện hoàn thành xóa lớp học 3 ca Không chỉ chú trọng xây dựng trường lớp, Sở Giáo dục – Đào tạo còn trực tiếp chỉ đạo và đầu tư xây dựng hệ thống phòng thí nghiệm lý - hóa - sinh cho trường phổ thông trung học, bước đầu xây dựng trung tâm thí nghiệm thực hành cho các cụm trường phổ thông cơ sở Mạng lưới phòng thiết bị ở các trường tiểu học và mẫu giáo cũng được mở rộng, đồng thời tiến hành xây dựng rộng khắp tủ sách giáo khoa dùng chung, tiến tới xây dựng thư viện trường học đạt tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Giáo dục – Đào tạo Thực hiện chủ

trương của Đảng “nhà trường gắn liền với xã hội” giai đoạn 1981-1985 thành phố

đã xây dựng được 14 trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp cho học sinh phổ thông trung học trong đó tiêu biểu là trung tâm Lê Thị Hồng Gấm ở quận

3 Ngoài ra Sở Giáo dục – Đào tạo kết hợp với Công ty sách và thiết bị trường học đáp đủ sách giáo khoa cho nhà trường, đảm bảo thiết bị dạy học trong nhà trường Mẫu giáo là một ngành học mới, còn non trẻ Nếu trước năm 1975 chưa có giáo dục mẫu giáo thì đến năm học 1979 -1980, đã có 107.820 học sinh mẫu giáo [76:13] đạt tỷ lệ 44% tổng số cháu trong độ tuổi và tăng gấp 2 lần so với năm học 1975-

1976 Trong vòng 10 năm, trường lớp mẫu giáo đã có ở hầu hết ở các phường, xã

Trang 30

Chất lượng của các trường mẫu giáo cũng được tăng lên, trong khi cố gắng huy động trẻ 3 tuổi, đã chú trọng huy động trẻ 5 tuổi đến trường, góp phần đảm bảo tỷ lệ huy động trẻ vào lớp 1 Trong tình hình kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, đời sống nhân dân lao động còn thiếu thốn, sự phát triển về chất lượng và số lượng của giáo dục mẫu giáo là một thành tựu to lớn, khẳng định tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng đối với giáo dục mầm non, coi đây

là vấn đề to lớn liên quan đến sự phát triển kinh tế và văn hóa của đất nước

Để đảm bảo vững chắc kết quả xóa mù chữ và chống tái mù phát sinh, thành

phố có nhiều nổ lực trong việc huy động 100% trẻ 6 tuổi vào lớp 1, cố gắng giữ và

nâng cao chất lượng ở cấp I, hạn chế tỷ lệ lưu ban và bỏ học, tiến trình phổ cập đã

có những tiến bộ Năm học 1982-1983 toàn thành phố có 411.175 trẻ em độ tuổi

6-10 thì có tới 372.227 trẻ em đang học ở trường phổ thông, đạt tỷ lệ 93% [56:7] Các lớp phổ cập (lớp học tình thương) vẫn được duy trì và ngày càng được hỗ trợ nhiều mặt của các đoàn thể, các tổ chức xã hội, các nhà hảo tâm Ngoài ra còn bố trí giáo viên giảng dạy, vận động trẻ em đi học, tổ chức thêm các lớp học Do vậy tỷ lệ học sinh đến trường ngày càng được nâng cao, góp phần giải quyết nạn thất học ở thành phố

Chất lượng giáo dục phổ thông được nâng cao, một số quận, huyện đã mở trường chuyên (quận 1 và quận 4), đầu tư nhiều giáo viên giỏi, nhiệt tình giảng dạy nên học sinh giỏi và đạt kết quả cao trong kỳ thi tốt nghiệp

Thực hiện Quyết định số 01 của Ủy ban Cải cách giáo dục Trung ương về cuộc

“Vận động tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng trong trường học” nhất là đối với học sinh phổ thông Các trường đã tổ chức các hoạt động phong trào như “sưu tầm địa chỉ đỏ”, “theo bước chân người anh hùng”, “em là chiến sĩ giải phóng quân” được học sinh hưởng ứng và tích cực tham gia, qua các phong trào đã giáo

dục truyền thống yêu nước đồng thời đạo đức, tác phong, ý thức kỷ luật, trật tự, tôn trọng của công có tiến bộ rõ

Có thể nói, trong 10 năm cải tạo và xây dựng nền giáo dục, những nhiệm vụ trọng tâm của ngành đã thực hiện được và bước đầu đạt được những thành tựu

Trang 31

Chúng ta đã tiếp quản được hệ thống giáo dục cũ, cải tạo xây dựng hệ thống trường lớp, sách giáo khoa, chất lượng giáo dục được nâng cao Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được, giáo dục thành phố còn có nhiều khó khăn Công tác xóa mù chữ và phổ cập còn chậm, thiếu đồng bộ, hiệu quả thấp Trong việc nâng cao đời sống vật chất cho giáo viên còn nhiều khó khăn Công tác xã hội hóa giáo dục còn gặp lúng túng về nội dung, cơ chế, phương pháp… nên chưa huy động được tiềm năng lớn của toàn xã hội đóng góp cho sự phát triển toàn diện của ngành giáo dục Việc cải tiến quản lý giáo dục chưa mạnh dạn còn dè dặt, chưa thể hiện được tính năng động để có thể bắt kịp với sự phát triển kinh tế - xã hội vốn rất phong phú và phức tạp Chưa tích cực nghiên cứu phương án đa dạng hóa các loại hình trường lớp

Từ những hạn chế trên, báo hiệu đã đến lúc Sở Giáo dục – Đào tạo thành phố

Hồ Chí Minh phải có một cơ chế mới bảo đảm nguyên tắc ngành quản lý chất lượng chuyên môn, nhân sự và ngân sách Có những biện pháp để khắc phục những hạn chế để phát triển và đổi mới giáo dục theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI

1.2.3 Đổi mới giáo dục thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến năm 1995

Vào tháng 12-1986 tại Đại hội lần thứ VI, Đảng đã khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện, trong đó có giáo dục - đào tạo Mục đích của đổi mới đối với giáo

dục - đào tạo là: “Nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có kỹ thuật, đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêu cầu phân công lao động của xã hội Sự nghiệp giáo dục, nhất là giáo dục đại học và chuyên nghiệp, trực tiếp góp phần vào đổi mới quản lý kinh tế và xã hội” [19: 89-90] Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI

của Đảng (12/1986) ngành giáo dục - đào tạo đã thực hiện những đổi mới bước đầu theo hướng đồng bộ, toàn diện, tích cực điều chỉnh cải cách giáo dục gắn liền với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của nước ta và hợp với xu thế phát triển giáo dục - đào tạo của các nước tiên tiến trên thế giới Ngày 20/3/1989 Hội nghị lần thứ

6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VI đã họp và thông qua Nghị quyết về

Trang 32

Kiểm điểm 2 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng khóa VI và phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong 3 năm 1988-1989-1990 Dưới ánh sáng

Nghị quyết Trung ương 6, ngành giáo dục thành phố đã xây dựng chương trình hành động 3 năm tập trung vào 3 lĩnh vực: đổi mới công tác quản lý, đa dạng hóa loại hình trường lớp, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục

Quan điểm chỉ đạo của Sở Giáo dục – Đào tạo cũng có sự thay đổi Các Phòng giáo dục quận, huyện được phân cấp quản lý ngành trên địa bàn với quyền hạn và trách nhiệm lớn hơn Quận 10 là đơn vị đầu tiên của thành phố tổ chức Đại hội giáo dục (18/11/1988) có sự tham dự của Đại biểu Quốc hội Thành phố, điều đó thể hiện trách nhiệm của lãnh đạo địa phương và sự đồng thuận của xã hội đối với các chủ trương của ngành Để huy động nguồn lực xã hội, thành phố đã có một số trường có lớp Hệ B có thu học phí như trường Phổ thông trung học Bùi Thị Xuân

Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ lần thứ V (tháng 10/1991) về phần giáo dục đã

nêu: “…tập trung sức nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo cả về văn hóa và chuyên môn, nghề nghiệp, chính trị đạo đức và thể chất…, thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học Củng cố toàn diện các trường, lớp, chú ý ngoại thành Quản lý chặt chẽ các trường bán công, dân lập, bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục…Xây dựng cơ chế đảm bảo môi trường giáo dục thông qua liên kết gia đình, nhà trường

và xã hội trên địa bàn dân cư” [27: 72]

Thực hiện chủ trương đổi mới giáo dục của Đảng và Thành phố, ngành giáo dục

đã tiến hành xây dựng đề án “Quy hoạch phát triển giáo dục - đào tạo thành phố

Hồ Chí Minh đến năm 2010” Mục tiêu chủ yếu của đề án là dành quỹ đất cho phát

triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo, đa dạng hóa loại hình trường lớp, phân bố lại loại hình trường lớp cho phù hợp với quy hoạch phân bố dân cư trên địa bàn Trước hết, thành phố cho tách trường tiểu học ra khỏi trường phổ thông cơ sở, coi trọng đầu tư cơ sở vật chất cho nhà trường, ưu tiên khu vực ngoại thành

Với những chủ trương và biện pháp trên cộng với sự nổ lực của toàn ngành và

sự hỗ trợ tích cực của phong trào quần chúng rộng rãi đã tạo được những kết quả đáng phấn khởi

Trang 33

Thành phố đã củng cố được mạng lưới trường mầm non, duy trì ổn định giáo dục phổ thông, thực hiện nề nếp kỷ cương học đường Công tác chống mù chữ phát triển nhanh Đến năm 1995 trên toàn thành phố có 16/18 quận, huyện đạt chuẩn quốc gia về chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học (trừ huyện Nhà Bè và huyện Cần Giờ) 267/282 phường, xã đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học, đạt tỷ lệ 94,7% [60:8] Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt chuẩn quốc gia về chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học

Ngày 24/11/1993 Thủ tướng Chính phủ ra Nghị quyết 90/CP, ngành giáo dục thành phố đã nhanh chóng tách trường tiểu học ra khỏi trường phổ thông cơ sở, chủ yếu là xây dựng trường trung học cơ sở mới để đáp ứng nhu cầu học tập cho nhân dân Bậc trung học mới bao gồm trường trung học phổ thông, trường trung học nghề, trường trung học kỹ thuật nghiệp vụ Thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục

và Đào tạo, ở ngành bổ túc văn hóa, từ năm 1993 đã chuyển thành trung tâm giáo dục thường xuyên, mở rộng cơ hội học tập cho nhiều thành phần dân cư

Để tăng cường giáo dục kỹ thuật - hướng nghiệp trong trường cấp II và III, thành phố đã đầu tư trang thiết bị hai trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cấp thành phố là Trung tâm Lê Thị Hồng Gấm quận 3 và Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp quận Thủ Đức Từ năm học 1993 -1994, ngành giáo dục thành phố mạnh dạn đưa tin học vào nhà trường, mạng lưới phòng thực hành vi tính nhanh chóng được hình thành ở các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông

Thực hiện Nghị quyết 15/NQ-TU của Thành ủy, Sở đã thành lập trung tâm nghiên cứu, giáo dục trẻ khuyết tật Kết quả đến năm 1995, đã có 18 trường thu nhận 1.200 học sinh trẻ khuyết tật Đây là sự phát triển đáng khích lệ thể hiện sự quan tâm của toàn xã hội đối với những trẻ em không may mắn, đã bù đắp được phần nào sự mất mát, thiếu thốn, giảm bớt khó khăn cho học sinh khiếm khuyết một

bộ phận cơ thể, giúp các em giảm bớt đi mặc cảm, có điều kiện học vấn và nghề nghiệp để hòa nhập với cuộc sống và cộng đồng với tư cách là người có ích

Trang 34

Mạng lưới trường chuyên, lớp chọn được mở rộng đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng học sinh giỏi cấp quận, huyện, thành phố Đội tuyển học sinh giỏi của ngành giáo dục thành phố Hồ Chí Minh đều đạt kết quả khả quan trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia

Chất lượng đội ngũ giáo viên và quản lý được chăm lo về đời sống và nâng cao trình độ Từ năm 1989 đến 1995, ngành giáo dục đã phối hợp với trường Cán bộ Quản lý giáo dục đã đào tạo được 32 khóa đào tạo Hiệu trưởng trường mầm non và trung học cơ sở với 1381 học viên; 2 khóa huấn luyện tin học căn bản cho cán bộ quản lý các trường trung học cơ sở và phổ thông trung học

Công tác xây dựng Đảng đã có những chuyển biến mới Công tác chính trị tư tưởng được coi trọng hơn Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được nhiều Đảng bộ, Chi bộ cơ sở quan tâm đúng mức Công tác tổ chức cán bộ được sự lãnh đạo tập trung của Đảng ủy đã đi vào chiều sâu, tháo gỡ được nhiều khó khăn trong công tác quản lý ngành Chính sách cán bộ được thể hiện tương đối tốt, mọi nguồn cán bộ trong ngành đều được phát huy một cách công bằng và dân chủ

Thực hiện chủ trương đổi mới giáo dục, sự nghiệp giáo dục thành phố có chuyển biến khá tích cực về số lượng góp phần nâng cao mặt bằng học vấn, đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu học tập văn hóa, chuyên môn, nghề nghiệp của nhân dân Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều tồn tại, thiếu sót, khó khăn Mặc dù Sở Giáo dục – Đào tạo thành phố đã rất chú trọng bỗi dưỡng và đào tạo cán bộ giáo viên, tuy nhiên tình trạng thiếu giáo viên vẫn đang diễn ra, tình trạng thiếu trường lớp không đáp ứng được yêu cầu huy động trẻ đến trường cũng như nhu cầu bán trú và học 2 buổi, một nhu cầu bức thiết của cha mẹ học sinh Sự kết hợp ba môi trường giáo dục còn yếu, chưa đồng bộ, nhiều gia đình còn khoán trắng việc giáo dục con em cho nhà trường Công tác tổ chức bộ máy quản lý giáo dục cấp Sở và Phòng giáo dục chưa

có sự phân công rõ ràng, thậm chí còn bị chồng chéo, trùng lặp Sự phát triển không đều về số lượng và chất lượng giữa giáo dục nội thành và ngoại thành; việc hoàn thành chuẩn quốc gia về chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học còn gặp nhiều khó khăn trở ngại ở các xã vùng sâu Tất cả những khó khăn trên là cản trở và chưa

Trang 35

tạo được đầy đủ các cơ sở bảo đảm sự ổn định vững chắc trong việc nâng dần chất lượng giáo dục trong từng năm học

Tiểu kết chương 1

Thành phố Hồ Chí Minh với diện tích tự nhiên khoảng 2.095,5 km2, chiếm hơn 0,63% diện tích cả nước Với điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn nhân lực dồi dào Vì vậy, thành phố Hồ Chí Minh nhanh chóng trở thành là một trung tâm công nghiệp, kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ

thuật lớn nhất cả nước

Nằm ở vị trí là cửa ngõ của Việt Nam để giao lưu quốc tế, có đường giao thông thuận lợi là cảng Sài Gòn và sân bay Tân Sơn Nhất đã tạo điều kiện cho thành phố giao lưu với các nước trong khu vực và quốc tế thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước Vậy nên, tốc độ phát triển kinh tế của thành phố nhanh, tăng trưởng GDP hàng năm xếp hàng đầu trong cả nước với bình quân hơn 10%/năm

Ngày nay, thành phố Hồ Chí Minh là thành phố có dân số đông và nền kinh tế phát triển nhất cả nước Để có được thành quả như ngày hôm nay Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh đã trải qua nhiều thăng trầm, biến cố của lịch sử Đây là nơi mà thực dân Pháp đã đặt chân và nổ súng đầu tiên, cũng là nơi đế quốc Mỹ cố giữ đến phút cuối cùng trong cuộc chiến tranh xâm lược Nhưng với tấm lòng yêu nước kiên cường đã đứng lên chống giặc ngoại xâm, giành độc lập cho tổ quốc và cùng nhau lao động để xây dựng thành phố ngày càng giàu đẹp hơn

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, giáo dục thành phố cũng ngày càng hoàn thiện, phát triển Từ chỗ nền giáo dục do thực dân Pháp lập nên để phục vụ cho sự

đô hộ của chúng, với hơn 90% nhân dân mù chữ, hệ thống giáo dục què quặt, không

có trường mầm non Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nổ lực của các cấp chính quyền đến tháng 3/1977 “phong trào bình dân học vụ” đã xóa mù chữ cho 9,5 vạn người

Sở Giáo dục – Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh tiếp quản hệ thống giáo dục công lập hóa toàn bộ trường tư; tiếp nhận và đào tạo giáo viên tại chỗ; thay sách giáo khoa; đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, đẩy mạnh công tác xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học Với mục tiêu là cân đối giữa các ngành học, bậc học, xây

Trang 36

dựng hoàn chỉnh hệ thống giáo dục quốc dân, bảo đảm điều kiện và cơ hội học tập cho tất cả mọi người Sau 10 năm đầu cải tạo khối giáo dục cũ, xây dựng nền giáo dục mới, ngành giáo dục thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm và có những thành tựu quan trọng, làm nền tảng cơ sở phát triển giáo dục những năm tiếp theo

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đề ra đường lối đổi mới cho đất nước trong đó có giáo dục Ngành giáo dục – đào tạo thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng chương trình hành động tập trung vào 3 lĩnh vực: đổi mới công tác quản

lý, đa dạng hóa loại hình trường lớp, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục Hệ thống giáo dục quốc dân được đổi mới, mạng lưới trường lớp được mở rộng, chất lượng giáo dục được quan tâm nhất là các huyện ngoại thành Thành phố đã củng cố được mạng lưới trường mầm non, duy trì ổn định giáo dục phổ thông, thực hiện nề nếp kỷ cương học đường Công tác chống mù chữ phát triển nhanh Đến năm 1995 thành phố Hồ Chí Minh đã đạt chuẩn quốc gia về chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học Tuy nhiên ngành giáo dục thành phố còn hạn chế như thiếu giáo viên, thiếu lớp, sự phát triển không đều giáo dục trong và ngoại thành Để khắc phục những khó khăn và hạn chế trên, đồng thời tạo điều kiện cho giáo dục thành phố phát triển, đòi hỏi giáo dục thành phố phải đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng và ngành giáo dục thành phố Hồ Chí Minh

Trang 37

Chương 2 QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG TÁC GIÁO DỤC GIAI ĐOẠN 1996 – 2012

2.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới phát triển giáo dục – đào tạo

2.1.1 Bối cảnh lịch sử tác động đến công cuộc đổi mới giáo dục – đào tạo

Những năm cuối thế kỷ XX bối cảnh lịch sử thế giới có sự chuyển biến mạnh

mẽ Sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ kỹ thuật đã và đang tiếp tục diễn ra với những bước tiến nhảy vọt mang tính đột phá Thế giới đã và đang chuyển từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và phát triển nền kinh

tế tri thức Khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp có tác động đến tất cả các lĩnh vực, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của xã hội Khoảng cách giữa các phát minh khoa học công nghệ và áp dụng vào thực tiễn ngày càng thu hẹp lại; kho tàng kiến thức của nhân loại ngày càng đa dạng, phong phú Thông tin và tri thức trở thành nguồn lực chủ yếu cho phát triển và lợi thế cạnh tranh của các nước

Đổi mới giáo dục - đào tạo đang diễn ra trên quy mô toàn cầu, tạo nên những thay đổi sâu sắc về triết lý, quan niệm, giá trị giáo dục đến xây dựng hệ thống, xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục - đào tạo

Trong bối cảnh đó, tất cả các quốc gia, từ những nước phát triển đến những nước đang phát triển đều nhận thức được vai trò và vị trí hàng đầu của giáo dục - đào tạo, đều phải đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo để có thể đáp ứng một cách năng động hơn, hiệu quả hơn, trực tiếp hơn những nhu cầu của sự phát triển kinh tế

- xã hội đất nước và hội nhập quốc tế

Nước ta, đến năm 1996, công cuộc đổi mới đã tiến hành được 10 năm và đạt được nhiều thành tựu quan trọng về mọi mặt Đất nước thoát khỏi khủng hoảng, mức tăng trưởng cao Tổng sản phẩm trong nước bình quân hàng năm tăng lên Cơ cấu kinh tế theo ngành, vùng được chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa,

Trang 38

chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường Đời sống vật chất của đông đảo nhân dân được cải thiện, chính trị giữ vững ổn định, quốc phòng, an ninh được củng cố

Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường sản xuất hàng hóa phát triển làm cho thị trường lao động được mở rộng, nhu cầu học tập tăng lên; mặt khác cũng làm thay đổi quan niệm về giá trị, ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngành nghề, động cơ học tập, các quan hệ trong nhà trường và ngoài xã hội Bên cạnh đó, cơ chế thị trường đảm bảo cho các nhà sản xuất kinh doanh tự do lựa chọn và quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Vì mục tiêu lợi nhuận, sự cạnh tranh trên thị trường đã thúc đẩy các doanh nghiệp phải có đội ngũ lao động có tay nghề, có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cũng như những phẩm chất cần có để làm chủ tri thức, làm chủ các phương tiện kỹ thuật, công nghệ hiện đại bắt nhịp được với yêu cầu của cơ chế thị trường cũng như sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Vì vậy, giáo dục cần phải kịp thời điều chỉnh cơ cấu, quy mô, nâng cao chất lượng để đào tạo ra một nguồn tri thức có trình độ, năng lực, phẩm chất phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ diễn ra với tốc độ cao trên thế giới đòi hỏi lao động trẻ của thành phố Hồ Chí Minh phải được đào tạo tốt hơn những nơi khác trong nước mới đủ khả năng tham gia có hiệu quả vào quá trình sản xuất hiện đại, để giao lưu quốc tế, hòa nhập với nền kinh tế thế giới Bên cạnh đó, giáo dục thành phố phải giúp thế hệ trẻ giữ được bản sắc dân tộc khi giao lưu với các nền văn hóa trên thế giới

Thành phố Hồ Chí Minh là cửa ngõ của Việt Nam Với cơ sở hạ tầng như đường xá, nhà ga, sân bay, thuận lợi cho giao lưu quốc tế và nền kinh tế năng động nhất đang thu hút các nguồn đầu tư trong và ngoài nước Là một đầu mối tiếp nhận thông tin từ nhiều nước, hơn nữa, thành phố Hồ Chí Minh có một hệ thống trường trường đại học cao đẳng, học viện, viện nghiên cứu đã tạo nên đội ngũ trí thức đông, đội ngũ giáo viên có tay nghề từ mầm non đến đại học, có lực lượng cán bộ

kỹ thuật vững về chuyên môn, tâm huyết với nghề và là nơi hội tụ nhiều nhân tài

Trang 39

của cả nước Tất cả những điều kiện trên khiến cho giáo dục thành phố hội tụ điều kiện thuận lợi nhất để huy động nhiều nguồn lực, tạo ra cuộc bứt phá trong cuộc chạy đua nhằm mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục

vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa

2.1.2 Đường lối đổi mới phát triển giáo dục - đào tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội, tầng lớp trí thức có vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần, góp phần làm biến đổi thế giới, xây dựng và phát triển nền văn minh nhân loại Vì vậy, mọi thời đại, mọi quốc gia, mọi thể chế chính trị, nhà nước và giai cấp thống trị nào cũng đều rất quan tâm đến công tác giáo dục – đào tạo để từ đó có được một đội ngũ trí thức Vì vậy, sinh thời Hồ Chí Minh rất coi trọng công tác giáo dục, theo Người, giáo dục có vai trò

hết sức to lớn trong việc cải tạo con người cũ, xây dựng con người mới “thiện, ác vốn chẳng là bản tính cố hữu, phần lớn đều do giáo dục mà nên” [43: 383] Theo Bác “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, muốn cho dân giàu, nước mạnh thì dân

trí phải cao Vì vậy, ngay sau cách mạng tháng Tám thành công với hơn 90% dân số

mù chữ, Bác đã ban hành sắc lệnh Bình dân học vụ (8/9/1945) để đẩy lùi “giặc dốt” Tiếp theo, trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường năm 1945, Người đã viết:

“Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”[44: 40]

Trên cơ sở nhận thức lý luận tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục - đào tạo, Đảng

ta đã kế tục và quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp to lớn và cao cả đó của Người Đảng ta rất chú trọng đến nhân tố con người, bởi vì trong các nhân tố tạo nên sự phát triển kinh tế - xã hội thì con người giữ vị trí trung tâm, quyết định đối với toàn thể hệ thống các nhân tố khác Do vậy, việc quan tâm phát triển chiến lược con người thông qua giáo dục là quan điểm nhất quán trong tư tưởng của Đảng ta Vào tháng 12-1986 tại Đại hội lần thứ VI, Đảng đã khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện, trong đó có giáo dục - đào tạo Mục đích của đổi mới đối với giáo

Trang 40

dục - đào tạo là: “Nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có kỹ thuật, đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêu cầu phân công lao động của xã hội” [19: 89-90]

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6-1991), Đảng ta tiếp tục khẳng định và phát triển đường lối đổi mới nói chung và lĩnh vực giáo dục - đào tạo

nói riêng Đại hội lần thứ VII của Đảng (1991) đã khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, là động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới” [20: 79] Tiếp đến,

năm 1993 Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII) đã đánh dấu một mốc lớn trong quá trình phát triển giáo dục ở nước ta Nghị quyết đề ra 4 quan điểm chỉ đạo và 12 chủ trương, chính sách và biện pháp nhằm tạo điều kiện cho sự nghiệp giáo dục đào tạo tiếp tục phát triển mạnh mẽ, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của nước ta, bảo đảm chất lượng và hiệu quả

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII và 3 năm

thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII), “Sự nghiệp giáo dục - đào tạo và nhiều hoạt động xã hội khác có những mặt phát triển và tiến bộ” [22: 60]

Tuy nhiên, bên cạnh đó giáo dục – đào tạo vẫn chưa ra khỏi tình trạng yếu kém

cả về chất lượng và hiệu quả Nhiều vấn đề về nội dung, chương trình, phương thức đào tạo chưa được xác định phù hợp với yêu cầu phát triển Nhiều trường, sở xuống cấp nghiêm trọng, thiết bị thí nghiệm, nghiên cứu khoa học thiếu thốn và lạc hậu Tình trạng yếu kém của hệ thống trường sư phạm và đội ngũ giáo viên rất đáng lo ngại Chi phí học tập còn quá lớn, ảnh hưởng đến việc học hành của con em gia đình nghèo, vùng khó khăn Hơn nữa, do yều cầu phát triển kinh tế - xã hội ngày càng cao của đất nước, cùng với bối cảnh quốc tế ngày càng biến động và thách thức, đặt giáo dục nước ta trước nguy cơ tụt hậu ngày càng cao so với khu vực thế giới nếu không có giải pháp phù hợp với xu thế chung của tình hình thế giới

Để khắc phục tình hình trên, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996) đã quyết định đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu

Ngày đăng: 07/05/2021, 18:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Văn Ân - Hoàng Thu Hoa, 2008, Giáo dục - Đào tạo chìa khóa của sự phát triển, Nxb Tài Chánh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục - Đào tạo chìa khóa của sự phát triển
Nhà XB: Nxb Tài Chánh
2. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam, 2005, Văn kiện Đảng thời đổi mới( ĐH VI, ĐH VII, ĐHVIII, ĐH IX) về văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật giáo dục đào tạo, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng thời đổi mới( ĐH VI, ĐH VII, ĐHVIII, ĐH IX) về văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật giáo dục đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
3. Ban Khoa giáo Trung ương, 1996, Những nhân tố mới về giáo dục trong công cuộc đổi mới, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nhân tố mới về giáo dục trong công cuộc đổi mới
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
4. Ban Văn hóa Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, 2005, Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh 60 năm tiếp bước cách mạng tháng tám 1945-2005, Nxb Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh 60 năm tiếp bước cách mạng tháng tám 1945-2005
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh
5. Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Khắc Hưng, 2004, Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai vấn đề và giải pháp, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai vấn đề và giải pháp
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2002, Ngành giáo dục đào tạo thực hiện Nghị quyết trung ương 2 khóa VIII và Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành giáo dục đào tạo thực hiện Nghị quyết trung ương 2 khóa VIII và Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX
Nhà XB: Nxb Giáo dục
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo, 1997, Tổng kết và đánh giá mười năm đổi mới Giáo dục - Đào tạo (1986- 1996) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết và đánh giá mười năm đổi mới Giáo dục - Đào tạo
10. Nguyễn Thanh Bình, 2005, Lý luận giáo dục Việt Nam, Nxb, Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận giáo dục Việt Nam
11. Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh 1998, Niên giám thống kê 1997 12. Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh, 2001, Niên giám thống kê 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 1997 "12. Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh, 2001
17. Cù Thị Dung, 2011, Hoạt động giáo dục ở Nam kỳ thời Pháp thuộc 1862 – 1945, luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giáo dục ở Nam kỳ thời Pháp thuộc 1862 – 1945
18. Đảng Cộng Sản Việt Nam, 1979, Nghị quyết của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục
Nhà XB: Nxb Giáo dục
19. Đảng Cộng Sản Việt Nam, 1986, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
20. Đảng Cộng Sản Việt Nam, 1991, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Nhà XB: Nxb Sự Thật
21. Đảng Cộng Sản Việt Nam, 1993, Văn kiện hội nghị lần thứ 4 của BCH TW khóa VII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ 4 của BCH TW khóa VII
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
22. Đảng Cộng Sản Việt Nam, 1996, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
23. Đảng Cộng Sản Việt Nam, 1997, Văn kiện hội nghị lần thứ 2 của BCH TW khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ 2 của BCH TW khóa VIII
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
24. Đảng Cộng Sản Việt Nam, 2001, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
25. Đảng Cộng Sản Việt Nam, 2006, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
26. Đảng Cộng Sản Việt Nam, 2011, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
32. Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng (chủ biên), 1998, Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tập 1, Nxb Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tập 1
Nhà XB: Nxb Tp.HCM

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w