1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bạo hành trẻ em trong gia đình ở thành phố hồ chí minh hiện nay (trường hợp quận thủ đức và quận 1)

145 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trẻ em do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc UNICEF và Tổ chức Plan tổ chức ngày 22/8/2008, theo báo cáo của Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em BVCSTE t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THỊ MINH THƯ

BẠO HÀNH TRẺ EM TRONG GIA ĐÌNH

Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

(Trường hợp Quận Thủ Đức và Quận 1)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THỊ MINH THƯ

BẠO HÀNH TRẺ EM TRONG GIA ĐÌNH

Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

(Trường hợp Quận Thủ Đức và Quận 1)

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng sau đại học, Khoa Xã hội học, Quý thầy cô trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tạo điều kiện và tận tình giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với TS Phạm Đức Trọng, thầy đã hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và viết luận văn

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ủy ban Nhân dân Quận 1, Phường Cô Giang, Ủy ban Nhân dân Quận Thủ Đức, Phường Hiệp Bình Phước đã hỗ trợ, cung cấp số liệu và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn những người thân và bạn bè cùng gia đình đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tác giả

Lê Thị Minh Thư

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Dữ liệu nghiên cứu và kết quả nêu trong luận văn chƣa từng đƣợc công bố trong bấy kỳ một công trình nghiên cứu khoa học nào khác

Tp HCM, ngày 01 tháng 08 năm 2013

Tác giả

Lê Thị Minh Thƣ

Trang 5

Viện NCPTXH Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội

Viện KHDSGDTE Viện Khoa học Dân số Giáo dục Trẻ em

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 4

2.1 Mục tiêu tổng quát 4

2.2 Mục tiêu cụ thể 4

3 Đối tượng – Khách thể - Phạm vi nghiên cứu 5

3.1 Đối tượng nghiên cứu 5

3.2 Khách thể nghiên cứu 5

3.3 Phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu 5

4.1 Phương pháp nghiên cứu 5

4.2 Kỹ thuật nghiên cứu 6

5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 7

5.1 Ý nghĩa lý luận 7

5.2 Ý nghĩa thực tiễn 7

6 Hạn chế của luận văn 7

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 8

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8

1.2 Các khái niệm liên quan đến đề tài 15

1.2.1 Khái niệm trẻ em 15

1.2.2 Khái niệm bạo hành trẻ em 16

1.2.3 Khái niệm gia đình 17

1.3 Các Lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu 17

1.3.1 Lý thuyết chức năng cấu trúc 17

1.3.2 Lý thuyết tương tác biểu trưng 18

1.3.3 Lý thuyết xung đột 19

1.3.4 Lý thuyết xã hội hoá 20

Trang 7

1.4 Khung phân tích 22

1.5 Giả thuyết nghiên cứu 22

CHƯƠNG 2 BẠO HÀNH TRẺ EM TRONG GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 23

2.1 Sơ lược vài nét về kinh tế - xã hội của Thành Phố Hồ Chí Minh và địa bàn nghiên cứu 23

2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh 23

2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội của Quận Thủ Đức và Phường Hiệp Bình Phước 24 2.1.2.1 Quận Thủ Đức 24

2.1.2.2 Phường Hiệp Bình Phước 25

2.1.3 Tình hình kinh tế - xã hội của Quận 1 và Phường Cô Giang 27

2.1.3.1 Quận 1 27

2.1.3.2 Phường Cô Giang 28

2.1.4 Đặc điểm về mẫu nghiên cứu 29

2.2 Thực trạng bạo hành trẻ em trong gia đình 33

2.2.1 Thực trạng bạo hành trẻ em trong gia đình ở Việt Nam 33

2.2.2 Thực trạng bạo hành trẻ em trong gia đình ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 39

2.2.2.1 Bạo hành về tinh thần và thân thể 40

2.2.2.2 Nguyên nhân bạo hành tinh thần và thân thể 48

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến bạo hành trẻ em trong gia đình ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 55

2.3.1 Yếu tố văn hoá ảnh hưởng đến BHTE trong gia đình 55

2.3.1.1 Ảnh hưởng của quan niệm văn hoá truyền thống “thương cho roi cho vọt” 55

2.3.1.2 Ảnh hưởng của phương pháp giáo dục con cái 59

2.3.2 Các yếu tố bên trong gia đình ảnh hưởng đến BHTE 63

2.3.2.1 Yếu tố Kinh tế ảnh hưởng đến BHTE 63

2.3.2.2 Yếu tố mâu thuẫn giữa cha mẹ ảnh hưởng đến BHTE 65

Trang 8

2.3.3 Yếu tố Pháp lý ảnh hưởng đến bạo hành trẻ em trong gia đình 68

2.3.3.1 Hiểu biết của cha mẹ về bạo hành trẻ em và luật, chính sách liên quan đến BHTE 68

2.3.3.2 Công tác tuyên truyền về phòng, chống bạo hành trẻ em trong gia đình tại địa phương 75

KẾT LUẬN 79

KHUYẾN NGHỊ 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

PHỤ LỤC 1 86

PHỤ LỤC 2 94

PHỤ LỤC 3 115

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Địa bàn nghiên cứu 29

Bảng 2.2: Giới tính 29

Bảng 2.3: Trình độ học vấn 30

Bảng 2.4: Nghề nghiệp 31

Bảng 2.5: Tổng thu nhập bình quân của gia đình/tháng 32

Bảng 2.6: Đánh giá mức sống của gia đình với tổng thu nhập 33

Bảng 2.7: Mức độ bạo hành khi con cái mắc lỗi trong gia đình 41

Bảng 2.8: Mối quan hệ giữa độ tuổi của con cái với hình thức doạ nạt của cha mẹ 44 Bảng 2.9: Mối quan hệ giữa độ tuổi của con cái với hình thức cấm đoán của cha mẹ 44

Bảng 2.10: Mối quan hệ giữa giới tính và hình thức la mắng khi con cái mắc lỗi 47

Bảng 2.11: Mối quan hệ giữa giới tính và hình thức cấm đoán khi con mắc lỗi 48

Bảng 2.12: Mức độ mắc lỗi của con cái 49

Bảng 2.13: Mong muốn của cha mẹ đối với con cái 50

Bảng 2.14: Mối quan hệ độ tuổi với lỗi lười học 51

Bảng 2.15: Quan niệm truyền thống dạy con còn phù hợp 56

Bảng 2.16: Nguyên nhân bạo hành con cái 62

Bảng 2.17: Những hành vi được xem là bạo hành trẻ em 71

Bảng 2.18: Nghe biết đến văn bản pháp luật 72

Biểu đồ 2.19: Mối quan hệ giữa cha mẹ nghe biết đến luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em với hình thức doạ nạt khi con mắc lỗi 73

Bảng 2.20: Công tác tuyên truyền luật và chính sách của địa phương 76

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Độ tuổi 30 Biểu đồ 2.2: Độ tuổi của con cái 31 Biểu đồ 2.3: Mức sống của gia đình 32 Biểu đồ 2.4: Mối quan hệ giữa độ tuổi của con cái với hình thức la mắng của cha

mẹ 43 Biểu đồ 2.5: Độ tuổi mắc lỗi của con cái 45 Biểu đồ 2.6: Mối quan hệ giữa giới tính và hình thức doạ nạt khi con mắc lỗi 47 Biểu đồ 2.7: Mối quan hệ độ tuổi và lỗi không vâng lời 51 Biểu đồ: 2.8: Kết quả của việc sử dụng các biện pháp giáo dục 54 Biểu đồ 2.9: Mức độ hài lòng của cha mẹ về phương pháp giáo dục con cái 54 Biểu đồ: 2.10 Nhận thức của cha mẹ về bạo hành con cái trong gia đình 57 Biểu đồ 2.11 Hình thức dạy dỗ con cái trong gia đình 60 Biểu đồ 2.12: Nguồn nghe và biết đến các văn bản pháp luật 70 Biểu đồ 2.13: Mối quan hệ giữa cha mẹ nghe biết đến luật bảo vệ và chăm sóc trẻ

em với hình thức la mắng khi con mắc lỗi 73 Biểu đồ 2.14: Mối quan hệ giữa cha mẹ nghe biết đến luật bảo vệ và chăm sóc trẻ

em với hình thức cấm đoán khi con mắc lỗi 74 Biểu đồ 2.15: Nguồn tiếp cận các văn bản pháp luật 77

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

Trang 12

Trên thế giới đã có nhiều con số ghi nhận về bạo hành trẻ em, theo số liệu của

Tổ Chức Y tế Thế Giới, năm 2002 có khoảng 875.000 trẻ em và thanh thiếu niên dưới

18 tuổi bị tử vong do thương tích và bạo hành Cứ một đứa trẻ bị tử vong thì sẽ có hàng ngàn trẻ khác là nạn nhân của thương tích và bạo hành với các tổn thương về thể xác và tinh thần[1] Điều tra tiến hành vào năm 2001 của UNICEF về trẻ em khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương, có khoảng ¼ thanh thiếu niên được hỏi nói rằng các em

bị cha mẹ đánh mỗi khi mắc lỗi Tại Mỹ, năm 2003 có khoảng 906.000 trẻ em là nạn nhân của bạo hành[2] Một nghiên cứu thực hiện trên nhiều quốc gia cho thấy có 80-98% trẻ em phải chịu các hình phạt thể xác tại nhà, trong đó 1/3 hình phạt thể xác là nghiêm trọng Các yếu tố như rượu bia, bạo hành gia đình có sự liên quan mạnh mẽ bạo hành trẻ em Ở Mỹ 35% trường hợp cha mẹ có hành vi bạo hành trẻ có sử dụng rượu/bia, ở Đức tỉ lệ này là 32%[3] Bên cạnh đó, nghiên cứu của Liên hợp quốc năm

2005 cho thấy đa số các trường hợp bạo hành trẻ em thường được giấu kín bởi nhiều lý

do như trẻ sợ hãi không dám nói ra vì sợ bị trừng phạt, một điểm quan trọng đó là cả trẻ

em và người bạo hành trẻ đều cho rằng bạo hành trẻ là điều bình thường không thể tránh khỏi trong cuộc sống hằng ngày[4]

Ở Việt Nam tình trạng bạo hành trẻ em trong những năm gần đây diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng Tại hội nghị quốc gia về phòng chống xâm hại

Trang 13

trẻ em do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) và Tổ chức Plan tổ chức ngày 22/8/2008, theo báo cáo của Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em (BVCSTE) thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội: từ năm 2005 – 2007, số vụ xâm hại, bạo lực đối với trẻ em trong gia đình tăng gấp ba lần so với trước đó; 58,3% trẻ được khảo sát một cách ngẫu nhiên tại một số tỉnh, thành cho biết các em thường xuyên bị người lớn quát mắng, sỉ nhục, tát vào tai, phát vào mông,… khi các em mắc lỗi Hội nghị cũng phân tích rõ: “Với quan niệm “thương cho roi, cho vọt” và tư tưởng phong kiến cho rằng con cái thuộc sở hữu của riêng mình là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hành vi cha mẹ bạo hành con cái,… và việc sử dụng các hình phạt, biện pháp giáo dục nghiêm khắc mang tính bạo lực, cả về thể xác lẫn tinh thần trong các gia đình hiện nay là khá phổ biến… Nhiều cha mẹ đánh đập con cái mà không biết hành vi của họ là hành vi xâm hại sức khỏe tâm thần trẻ em”[5]

Ngoài ra, số liệu trẻ bị bạo hành được ghi nhận thường thấp hơn thực tế là do vẫn chưa có một cơ quan đáng tin cậy để trẻ có thể báo cáo vụ việc

Chuyện bạo hành trẻ em hiện nay diễn ra không chỉ ở những vùng sâu, vùng

xa - những nơi điều kiện kinh tế và dân trí còn thấp mà ngay cả những khu vực thành phố lớn, các đô thị được xem là văn minh vẫn tồn tại những thực trạng đau lòng Bạo hành trẻ em không chỉ xảy ra ở ngoài xã hội, ở trường học mà đặc biệt diễn ra ngay trong gia đình Nhiều vụ bạo hành dã man, tàn bạo lại do chính bố mẹ, người thân ruột thịt trong gia đình các em gây ra Nhẹ thì chửi mắng, dùng lời lẽ để đay nghiến, xúc phạm các em Nặng nề hơn là dùng vũ lực đòn roi, thậm chí là các biện pháp dã man, tra tấn tựa thời trung cổ với các vật dụng nguy hiểm như: Nước sôi, roi sắt, xích cùm Những vụ bạo hành gia đình với trẻ em đã và đang diễn ra rất nghiêm trọng và phổ biến, gây hậu quả xấu về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần và sự phát triển trí tuệ của trẻ khiến dư luận xã hội đặc biệt quan tâm và bức xúc Báo chí Việt Nam coi năm 2010 là năm mà nạn bạo hành trẻ em diễn ra nhiều với mức độ kinh khủng nhất và được xếp vào một trong 10 sự kiện, vấn đề nóng nhất của năm

5

Báo Phụ nữ TP.HCM chủ nhật, số 45, ngày 23/11/2008

Trang 14

Việt Nam là nước Châu Á đầu tiên và nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước quốc tế Quyền trẻ em (vào ngày 20/2/1990) Ngoài ra, nước ta có Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật phòng chống bạo lực gia đình… đều quan tâm thích đáng đến quyền lợi trẻ em Bên cạnh đó, nước ta cũng đã xây dựng

và thực hiện chương trình hành động quốc gia vì trẻ em ở các cấp…Có thể nói, Việt Nam thừa nhận trẻ em được hưởng mọi quyền cơ bản của con người thông qua hiến pháp, luật pháp, chính sách và Việt Nam cũng không thiếu công cụ để bảo vệ trẻ em được phát triển toàn diện Như vậy, chúng ta không thiếu Luật, không thiếu chính sách nhưng tại sao tình trạng bạo hành trẻ em vẫn tồn tại? Theo báo cáo của Bộ LĐ TB&XH về việc thực hiện chính sách pháp luật về phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em ở nước ta cho thấy, số lượng vụ xâm hại trẻ em bị cơ quan chức năng phát hiện hàng năm càng ngày càng tăng với những con số giật mình Năm 2009 là 3.000

vụ đến năm 2011 đã tăng lên hơn 7.000 vụ Đây là theo con số thống kê các vụ việc

bị phát hiện, được đưa ra ánh sáng, bị xử lý, còn con số thực sự có thể lớn hơn rất nhiều[6]

Qua những số liệu ở trên cho thấy, bạo hành trẻ em đang trở thành hiện tượng không bình thường GS-TSKH Đào Trọng Thi - Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo

dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội nói: “Đó là một hiện tượng xã

hội không bình thường, rất đáng báo động, nhất là khi nạn nhân lại chính là con,

em của những người gây ra bạo hành Ngoài việc phản ánh sự xuống cấp của nền tảng đạo đức gia đình, các trường hợp trên đã vi phạm nghiêm trọng Luật Chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, Luật Phòng chống bạo lực gia đình Bên cạnh việc

xử lý nghiêm các vụ việc, các cơ quan hữu quan phải đánh động toàn xã hội quan tâm đến vấn đề này” [7]

Bạo hành trẻ em tại gia đình là hình thức khá phổ biến trong mọi xã hội nhưng lại ít nhận thấy nhất khiến cho các nhà quản lý cho rằng bạo hành trẻ em không phải là

6

Trích lại của TS Nguyễn Hải Hữu Cục trưởng Cục Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em Thực trạng trẻ em

ở nước ta hiện nay - giải pháp http://www.molisa.gov.vn 13/10/2010

7

GS.TSKH Đào Trọng Thi – chủ nhiệm Ủy ban văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi

đồng của qu hội, Hạn chế bạo hành trẻ em: cần huy động toàn xã hội vào cuộc,

http://phapluattp.vn, 07/11/2008

Trang 15

vấn đề nghiêm trọng trong xã hội Vì vậy, việc tìm hiểu về vấn đề bạo hành trẻ em trong gia đình là việc làm cần thiết và cấp bách Một mặt, qua nghiên cứu, chúng ta

có thể hiểu rõ hơn nhận thức của cha mẹ là những người trực tiếp nuôi dạy trẻ về vấn đề này Mặt khác, có thể tìm ra được những giải pháp mang tính khuyến nghị nhằm kiểm soát, ngăn chặn và hạn chế tối đa nạn bạo hành trẻ em Qua đó nhằm nâng cao ý thức của gia đình, thiết chế xã hội và cộng đồng trong vấn đề chăm sóc, bảo vệ trẻ em Chính những lí do trên cũng như do sự thiết yếu của vấn đề đã thôi

thúc tác giả thực hiện đề tài“Bạo hành trẻ em trong gia đình ở Thành phố Hồ Chí

Minh hiện nay”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu một mặt nhằm mô tả về thực trạng, tính chất và nguyên nhân bạo hành trẻ em trong gia đình, mặt khác tìm hiểu thái độ và nhận thức của cha mẹ đối với hiện tượng bạo hành trẻ em Đồng thời, nghiên cứu cũng phân tích tác động của luật, chính sách bảo vệ và chăm sóc trẻ em Để từ đó, đưa ra các khuyến nghị với các cơ quan quản lý nhằm giúp các cơ quan quản lý đưa ra những chính sách và biện pháp thích hợp để ngăn chặn và kiểm soát nạn bạo hành trẻ em trong gia đình Thông qua đó, nâng cao ý thức của gia đình, cộng đồng và các thiết chế xã hội về việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em

2.2 Mục tiêu cụ thể

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu như trên, tác giả đưa ra các mục tiêu cụ thể cụ thể như sau:

Thứ nhất, tập trung mô tả về thực trạng bạo hành trẻ em trong gia đình

Thứ hai, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng bạo hành trẻ em trong gia

đình

Thứ ba, tìm hiểu nhận thức của cha mẹ đối với hiện tượng bạo hành trẻ em trong

gia đình, nhằm tìm hiểu xem suy nghĩ và phản ứng của họ về vấn đề bạo hành trẻ

em

Trang 16

Mục tiêu cuối cùng, tìm hiểu công tác tuyên truyền tại địa phương về các luật liên

quan đến việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em Từ đó, đề xuất các giải pháp và khuyến nghị nhằm kiểm soát, ngăn chặn nạn bạo hành trẻ em trong gia đình

3 Đối tượng - Khách thể - Phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là bạo hành trẻ em trong gia đình ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

3.2 Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu của đề tài là những Cha Mẹ có con trong độ tuổi từ 1 –

16 đang sinh sống trên địa bàn phường Hiệp Bình Phước, Quận Thủ Đức và phường

Cô Giang, Quận 1

Bên cạnh đó, nhằm tìm hiểu thái độ và suy nghĩ của cha mẹ là những người trực tiếp nuôi dạy con cái về vấn đề bạo hành trẻ em, tác giả luận văn phỏng vấn sâu một số cha mẹ có con trong độ tuổi từ 1 – 16 tuổi Ngoài ra, để tìm hiểu rõ hơn thông tin về nạn bạo hành trẻ em trong gia đình tại địa bàn nghiên cứu chúng tôi cũng tiến hành phỏng vấn sâu một số cán bộ địa phương về vấn đề này

3.3 Phạm vi nhiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại phường Hiệp Bình Phước, Quận Thủ Đức và phường Cô Giang, Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh

4 Phương pháp nghiên cứu và phương pháp xử lý dữ liệu

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp định lượng: Để thực hiện được mục tiêu và nội dung nghiên cứu

của đề tài, chúng tôi thiết kế bảng câu hỏi tự ghi làm công cụ thu thập thông tin chính, được thiết kế dưới dạng phiếu trưng cầu ý kiến về bạo hành trẻ em ở TP HCM hiện nay Bảng hỏi có tất cả 31 câu bao gồm thông tin về cá nhân, gia đình, thực trạng, nguyên nhân dẫn đến bạo hành trẻ em và nhận thức, hiểu biết của cha

mẹ về pháp luật, chính sách liên quan đến vấn đề bảo vệ và chăm sóc trẻ em

Phương pháp định tính: phỏng vấn sâu nhằm bổ sung và hoàn thiện thông tin

định lượng cũng như tìm hiểu sâu hơn về quan niệm, nhận thức của cha mẹ về vấn

đề mang tính riêng tư và nhạy cảm này Tác giả phỏng vấn sâu 6 người được phân

Trang 17

chia như sau: Phỏng vấn 02 cán bộ của 2 Phường Hiệp Bình Phước, Quận Thủ Đức

và Phường Cô Giang, Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh Phỏng vấn 6 cha mẹ (3 cha, 3 mẹ) có con trong độ tuổi từ 1 – 16 tuổi để biết rõ hơn thái độ và suy nghĩ của

họ về tình trạng bạo hành trẻ em trong gia đình

Ngoài những kỹ thuật thu thập dữ kiện đã nêu trên, tác giả còn sử dụng phương pháp phân tích tư liệu sẵn có bao gồm: Công ước quốc tế, luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em, luật phòng chống bạo lực gia đình, các công trình, đề tài nghiên cứu, các bài tham luận về bạo hành trẻ em, bạo hành trẻ em trong gia đình, sách, báo, tạp chí, báo điện tử liên quan đến đề tài được tổng hợp theo từng mục tiêu cụ thể, để dễ dàng kế thừa những tài liệu có sẵn, đảm bảo tính khách quan cho đề tài nghiên cứu

Phương pháp chọn mẫu: Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu chỉ tiêu, cụ

 Phân chia theo giới tính: 109 nữ, 88 nam

 Phân chia theo độ tuổi: từ 20 – 30 tuổi: 51 người; từ 31 – 40 tuổi: 80 người; từ 41 – 50 tuổi: 46 người; trên 50 tuổi: 16 người

 Phân chia theo nghề nghiệp: kinh doanh buôn bán: 50 người; công nhân viên chức: 37 người; lao động tri thức: 26 người; công nhân: 34 người; lao động phổ thông: 40 người

 Trình độ học vấn: cấp 3 trở xuống: 78 người; Trung cấp – Cao đẳng: 34 người; Đại học và sau đại học: 75 người

 197 gia đình có con trong độ tuổi từ 1 – 16

4.2 Phương pháp xử lý dữ liệu

Thông tin định lượng: Số liệu khảo sát được xử lý bằng phần mềm SPSS 11.5

Thông tin định tính: Các cuộc phỏng vấn sâu được ghi âm, gỡ băng và triển khai

thành các biên bản phỏng vấn

Trang 18

Dữ liệu thứ cấp: Các thông tin được phân ra theo chủ đề và được trích dẫn cùng với

số liệu điều tra dùng để đối chiếu, so sánh hoặc phân tích thêm cho vấn đề có liên quan

5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

5.1 Ý nghĩa lý luận

Với những kết quả nghiên cứu được, đề tài lý giải các nguyên nhân gây ra tình trạng bạo hành trẻ em trong gia đình ở TP HCM và những hạn chế của luật, chính sách gây nên tình trạng này Kết quả nghiên cứu sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu quan tâm đến lĩnh vực này

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Hiện nay bạo hành trẻ em đang là vấn đề vô cùng cấp bách, nan giải Nghiên cứu về vấn đề này có ý nghĩa hết sức to lớn và kịp thời, nhằm tìm ra các nguyên nhân gây nên tình trạng bạo hành trẻ em, từ đó tìm ra những giải pháp hữu hiệu, để khuyến nghị với các cơ quan chức năng nhằm kiểm soát và ngăn chặn tình trạng bạo hành trẻ em trong gia đình Thông qua đó nâng cao ý thức của người dân về việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em

6 Hạn chế của luận văn

Đề tài chỉ dừng lại nghiên cứu ở hai phường của 2 quận đó là Quận 1 và quận Thủ Đức trên địa bàn Tp.HCM Vì vậy, kết quả nghiên cứu chưa mang tính đại diện cao cho toàn bộ Tp.HCM Vấn đề nghiên cứu là một vấn đề nhạy cảm và các giáo dục con cái trong gia đình được xem là chuyện riêng tư nên chúng tôi gặp nhiều khó khăn trong quá trình thu thập thông tin

Trang 19

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Qua quá trình tìm hiểu và tham khảo các nguồn tài liệu khác nhau nghiên cứu về bạo hành trẻ em, luận văn đã tổng quan được một số công trình nghiên cứu và bài viết có liên quan đến chủ đề bạo hành trẻ em như sau:

Nghiên cứu về nguyên nhân bạo hành trẻ em: Có nhiều cách giải thích khác

nhau cho hành vi bạo hành thân thể và tinh thần trẻ em của người lớn nói chung và của cha mẹ, thầy cô giáo nói riêng

Viện nghiên cứu phát triển xã hội (2005) đã phân tích rất kỹ mục đích của hành vi đánh con của cha mẹ như sau: đánh đòn để uốn nắn những hành vi/ứng xử của đứa trẻ theo đúng khuôn mẫu mà người lớn cho là đúng đắn; đánh đòn để trừng phạt cho những lỗi của những đứa trẻ mà các bậc cha mẹ cho là hư hỏng và cần phải

có sự trừng phạt; đánh để “bảo vệ” đứa trẻ Vì lo cho con, các bậc cha mẹ thường ngăn cấm hoặc nhắc nhở chúng tránh xa những chỗ có khả năng gây nguy hiểm cho tính mạng hoặc sức khoẻ của đứa trẻ Họ đã đánh con khi biết chúng đã vi phạm lời dặn; đánh để trút giận hoặc thất vọng

Cũng có thể là do cha mẹ và thầy cô nhận thấy việc xử phạt trẻ em đem lại những kết quả trước mắt, tức thì nên đã không ngần ngại sử dụng những biện pháp này: thầy cô thấy rằng hạn chế được việc học sinh mắc khuyết điểm, học sinh chăm chỉ hơn, phục tìng thầy cô ngay lúc đó; các bậc cha mẹ cũng thấy phạt đánh trẻ có tác dụng trong nhiều tình huống, có lẽ vì sợ đòn nên trẻ nghe lời hơn (CSAGA, 2004)

Tâm lý của cha mẹ và tình trạng uống rượu bia của một số người lớn cũng được xem là lý do khiến trẻ em bị bạo hành thân thể và tinh thần: phần lớn cha mẹ trả lời do nóng giận không kiềm chế được nên mới dẫn đến mắng chửi, thậm chí đánh trẻ; hiện tượng bố uống rượu say, mắng con thường diễn ra ở các vùng nông thôn; cha mẹ không hiểu tâm sinh lý phát triển của trẻ nên dẫn đến mắng chửi, đánh trẻ khi mắc lỗi (Viện KHDSGDTE, 2006)

Viện KHDSGDTE (2007) khi phân tích tài liệu thứ cấp với nhận xét rằng người mẹ và cô giáo chính là những người hay phạt trẻ nhiều nhất, đã cho rằng một

Trang 20

trong những yếu tố có ảnh hưởng tới hành vi bạo lực của phụ nữ với trẻ em phụ thuộc vào mình có thể do sự bất bình đẳng về giới trong gia đình và xã hội Phụ nữ trong xã hội Việt Nam thường đứng dưới trong hệ thống quyền lực và được quan niệm là phải vâng lời chồng, cha, mẹ, cha mẹ chồng, chị và anh em trai, và các thành viên khác trong gia đình Với hầu hết phụ nữ, những người duy nhất kém quyền lực hơn họ và phụ thuộc vào họ là con cái Điều này có thể giải thích tại sao phụ nữ cuối cùng lấy trẻ em làm chỗ trút những căng thẳng và bực bội của mình Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý (2007), Gia đình học Cuốn sách là công trình nghiên cứu khoa học công phu, hệ thống gồm có 5 phần, chia thành 22 chương, được biên soạn dưới hình thức một giáo trình giảng dạy, nghiên cứu Trong phần 4 chương 16 của cuốn sách tác giả đã trình bày vấn đề bạo lực gia đình và hệ quả xã hội của nó Tác giả cho rằng, trong những năm gần đây, bạo lực gia đình đang nổi lên như là một trong những vấn đề ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm, lo lắng của dư luận xã hội Bạo lực xảy ra trong gia đình là do hành vi bạo lực của một số thành viên này đối với các thành viên khác Song phần lớn là bạo lực của người chồng đối với vợ, cha mẹ đối với con cái Tác giả đã nghiên cứu về vấn

đề này tại ba khu vực Phú Thọ, Thái Bình và Hà Nội cho thấy: 81.1% chồng đánh

vợ, 63.5% cha mẹ đánh đập con cái Tác giả cũng cho rằng, cho đến hiện nay, nhiều người làm cha mẹ vẫn coi việc hành hạ, đánh đập hoặc sử dụng các hình phạt

dã man đối với trẻ là quyền của họ Khi trẻ có lỗi, họ đánh Khi họ đang có sự buồn bực, lo lắng vì mưu sinh, họ đánh, khi họ có những điều không vui vì các mối quan

hệ xã hội, họ đánh Những cú đấm, cái tát đã xảy ra thường xuyên trong gia đình và được coi là hợp pháp Chỉ có những vụ việc nghiêm trọng gây thương tật hoặc làm chết trẻ em thì mới bị luật pháp trừng trị Tuy nhiên không phải lúc nào luật pháp cũng xử đúng người, đúng tội thậm chí nhiều trường hợp chỉ bị phạt rất nhẹ

Như vậy, có thể thấy nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng bạo hành về thể xác và tinh thần trẻ em là do trẻ em mắc lỗi, không nghe lời/vâng lời cha mẹ hoặc thầy cô Nhưng đằng sau lý do về những sai phạm này của trẻ em là những nguyên nhân mang tính bản chất hơn đó là vấn đề về nhận thức và quan niệm về giáo dục trẻ em, về quyền lực của cha mẹ/ thầy cô trong gia đình, nhà trường, về mối quan hệ

Trang 21

giữa cha mẹ và con cái trong gia đình; giữa thầy cô và học sinh trong nhà trường; giữa người lớn và trẻ em nói chung trong cộng đồng và xã hội

Bốn phát hiện chính về “Bạo lực đối với trẻ em” (2012), Tổng cục Thống kê

Việt Nam được sự hỗ trợ kỹ thuật và điều phối của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), với sự trợ giúp về chuyên gia từ Trung tâm sáng kiến Dân số và sức khỏe (CCIHP)

và Bộ Y tế đã tổ chức điều tra khảo sát mẫu trong cả nước về “Bạo lực gia đình đối với trẻ em” vào tháng 1/2010 Kết quả khảo sát cho thấy đã có 4 phát hiện chính về bạo lực đối với trẻ em:

Một là: Tỷ lệ trẻ em bị bạo lực gia đình theo tiết lộ của người mẹ. Gần ¼ phụ

nữ có con dưới 15 tuổi cho biết rằng những đứa trẻ này đã từng bị lạm dụng về thể xác do chồng mình gây ra Thường là bị tát, bị mắng Khảo sát cũng cho thấy bạo lực đối với trẻ em có mối liên hệ chặt chẽ với bạo lực đối với phụ nữ do cùng một đối tượng gây ra (bạo lực do chồng gây ra)

Hai là: Trẻ em chứng kiến bạo lực theo tiết lộ của phụ nữ Hơn nửa số phụ

nữ bị bạo lực thể xác do chồng gây ra cũng cho biết rằng con cái họ đã từng chứng kiến cảnh bạo hành ít nhất 1 lần Tất cả những người bị bạo lực nói rằng con của họ biết gia đình đang bị bạo lực hoành hành Chúng phải chứng kiến và chịu tác động của bạo lực

Ba là: Tác động của bạo lực đối với phụ nữ do chồng gây ra đối với trẻ em sống trong cùng một gia đình. Không xem xét xem liệu trẻ em đã từng chứng kiến bạo lực hay chưa, phụ nữ có con trong độ tuổi từ 6 - 11 tuổi bị chồng bạo hành đều

có xu hướng cho rằng: con cái họ có những vấn đề về hành vi (ví dụ như gặp ác mộng, hung hăng, kết quả học tập kém…) Cụ thể tỷ lệ phụ nữ có con không đi học

ở những phụ nữ bị bạo lực cao gấp hai lần so với những phụ nữ không bị bạo lực, với con số lần lượt là 4,7% và 2,5%

Bốn là: Bạo lực giữa các thế hệ Qua nghiên cứu cuộc khảo sát đã cung cấp những bằng chứng cho thấy bạo lực là hành vi có được từ quá trình học, đặc biệt là

ở nam giới Phụ nữ bị bạo lực do chồng gây ra thường là những phụ nữ có mẹ của mình cũng là người bị bạo lực Phụ nữ bị bạo lực cũng có xu hướng cao gấp ba lần

có mẹ chồng là người bị bạo lực hoặc bản thân người chồng cũng đã từng bị đánh

Trang 22

đập khi còn nhỏ Những trải nghiệm thời thơ ấu của người chồng là một yếu tố nguy

cơ quan trọng có liên quan tới việc trở thành một người gây bạo lực sau này

Nghiên cứu về hình thức và mức độ bạo hành trẻ em: Các nghiên cứu cho thấy

có rất nhiều cách, biện pháp khác nhau đã được sử dụng để bạo hành trẻ em Hành

vi bạo hành thân thể trẻ em có thể bao gồm: các hình thức không dùng dụng cụ hay dùng dụng cụ, tác động gián tiếp hay trực tiếp lên cơ thể trẻ em, không gây thương tích hay gây thương tích, gây thương tích nhẹ hay gây thương tích nặng cho trẻ em Hành vi bạo hành tinh thần trẻ em có thể là: không quan tâm, mắng, quát, chửi, doạ, sỉ nhục v.v…

Cuộc điều tra của Viện Nghiên cứu Thanh niên cho biết số trẻ em nói rằng cha mẹ thường xuyên sử dụng hình phạt khi mình mắc lỗi chiếm 45,7%; đôi khi sử dụng 50,1% và không xử phạt 4,1% (Đặng Cảnh Khanh, 2003)

Khảo sát về bạo hành thân thể trẻ em thực hiện tại xã Vân Nội (Vĩnh phúc) cho thấy có trên 90% số em học sinh cấp I và cấp II khi được hỏi đã từng bị hay thường xuyên bị cha mẹ mắng mỏ và 73,5% số em cho biết đã từng bị cha mẹ đánh đòn ( Viện nhiên cứu Phát triển Xã hội, 2005)

Báo cáo của Viện KHDSGDTE (2007) đưa ra những con số rất đáng báo động về tình trạng bạo hành trẻ em: 94% trẻ em trong mẫu khảo sát cho biết mình bị phạt thân thể và tinh thần tại nhà và 93% bị phạt tại trường, 82% trẻ em nói rằng các

em phải chịu những hình phạt thân thể ở khắp mọi chỗ trên cơ thể

Kết quả điều tra SAVY(2003) về bạo hành thân thể gây thương tích cho biết

có một tỷ lệ thấp 2,2% thanh thiếu niên nói rằng đã từng bị người trong gia đình đánh gây thương tích, tỷ lệ này cao gấp đôi ở nhóm nam thành thị 14 -17 tuổi (4,6%)

Bạo lực diễn ra hàng ngày đối với trẻ em phải chấm dứt, (2006) Nghiên cứu

về Tình trạng bạo hành đối với trẻ em của Tổng thư ký Liên hợp quốc Báo cáo nghiên cứu cho thấy mức độ và qui mô của tình trạng lạm dụng trẻ em trong khu

vực và trên toàn cầu Bạo hành trẻ em thường được che dấu trong sự xấu hổ và

dưới tấm màn bí mật, tuy nhiên theo như kết quả của cuộc điều tra thì bạo hành lại rất phổ biến Nghiên cứu của Tổng Thư ký Liên hợp quốc là nghiên cứu đầu tiên

Trang 23

cung cấp một bức tranh toàn cảnh về các hình thức và qui mô của nạn bạo hành diễn

ra hàng ngày với trẻ em trên toàn thế giới Nghiên cứu xem xét vấn đề ở các khía cạnh về nhân quyền, sức khỏe cộng đồng và bảo vệ trẻ em trong năm khung cảnh khác nhau mà ở đó nạn lạm dụng thường xảy ra: tại nhà và trong gia đình, ở trường học và các cơ sở giáo dục, các tổ chức và cơ quan, và tại cộng đồng Cuộc điều tra còn cho thấy quan hệ mang tính quyền lực giữa trẻ em và người lớn - mối quan hệ

bị ảnh hưởng sâu sắc bởi tính tôn ti trật tự truyền thống và sự bất bình đẳng giới, đã góp phần tạo ra sự bạo hành về thể chất và tâm lý đối với trẻ em Các kết quả nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở tư vấn, trả lời bảng hỏi, tiến hành phỏng vấn

đã trở nên phong phú hơn với sự tham gia của trẻ em, những người đã giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn các hình thức bạo lực khác nhau và tác động của các hình thức bạo lực này đối với trẻ em Đây là nghiên cứu có phạm vi nghiên cứu rất rộng nhưng cũng cho chúng ta cách nhìn tổng thể về bức tranh bạo hành trẻ em, để từ đó

có thể phân tích một cách kỹ lưỡng về tình hình bạo hành trẻ em hiện nay

Nghiên cứu về hậu quả của bạo hành trẻ em: Ngoài những tổn thương về

thể chất có thể nhìn thấy được xác định một cách rõ ràng, hành vi bạo hành thân thể

và tinh thần đối với trẻ em còn để lại nhiều hậu quả không dễ nhìn thấy, có thể ảnh hưởng tiêu cực lâu dài tới tâm lý tình cảm cũng như sự phát triển nhân cách của trẻ

em với những biểu hiện hết sức đa dạng và ở nhiều mức độ khác nhau

Từ những tác động về tâm lý, tình cảm khi bị bạo hành sẽ dẫn đến những hành động không lường trước được và rất tiêu cực của trẻ em Sợ hãi, xấu hổ, mặc cảm, tức giận là những cảm giác mà hầu hết trẻ bị bạo hành thân thể có Buồn, mặc cảm sẽ dẫn đến tâm trạng chán nản, dần dần lòng tự trọng và tự tin sẽ bị suy giảm Mặt khác, cảm giác oan ức, tức giận, hận dễ đẩy các em tới những hành động bột phát, quyết liệt Không ít trường hợp, những phản ứng của trẻ mang màu sắc bạo lực như đập phá lung tung, đập đồ đạc, gây gổ với bạn bè, nói hỗn với người lớn, cãi lại, đánh lại, tự nhốt vào buồng, tự rạch tay (CSAGA, 2004)

Bạo hành thân thể và tinh thần trẻ em có thể ảnh hưởng xấu tới quá trình hình thành nhân cách trẻ em Bạo lực gia đình đối với trẻ không chỉ là việc gây đau đớn

về thể xác mà còn để lại di chứng khá nặng nề và lâu dài về mặt tinh thần, khiến trẻ

Trang 24

thiếu tự tin, rụt rè, lo sợ…hoặc trở nên hung dữ, thường sử dụng bạo lực trong việc

xử lý các mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội, cả hiện tại và trong tương lai Đáng lưu ý là việc cha mẹ đánh đập con cái có khả năng tác động tới việc hình thành thái độ và quan điểm chấp nhận bạo h thân thể trong thế hệ trẻ em và xa hơn nữa là khả năng phát triển những hành vi bạo lực ở trẻ em (Viện NCPTXH, 2005) Một trong những hậu quả nghiêm trọng của những hành vi bạo lực của người lớn gây ra cho trẻ em có liên quan tới nạn tự tử Theo kết quả điều tra của SAVY thì 3,4% số các em trả lời là đã có ý định tự tử Nghiên cứu của Đặng Phương Kiệt và Đinh Văn Lượng về nạn tự tử tại địa bàn huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định năm

2000 cho thấy mối liên quan giữa những hành vi tự tử với những hành vi bạo lực trong gia đình Trong số những nạn nhân tự tử liên quan đến bạo lực gia đình thì lứa tuổi vị thành niên chiếm 32,22%, lý do của tự tử hầu như do mâu thuẫn cha – con, mâu thuẫn mẹ -con, mâu thuẫn giữa cha mẹ và con (Viện NCPTXH, 2005)

Nghiên cứu bạo hành trẻ em ở Biên Hoà (2008) của Hà Thị Ninh, Phùng Đức Nhật và cộng sự Với mục tiêu xác định tỉ lệ trẻ 8 - 11 tuổi bị bạo hành tại gia đình và các yếu tố liên quan đến bạo hành trẻ em tại gia đình tại một phường thuộc thành phố Biên Hòa, Đồng Nai Kết quả nghiên cứu trên 384 trẻ bị bạo hành bởi các thành viên trong gia đình cho thấy: Tỷ lệ trẻ bị cha mẹ hoặc người thân trong gia đình la mắng bằng các từ ngữ nặng nề trước mặt nhiều người là 35,9%, bị hù dọa đánh, hoặc ném đồ vật vào người là 20,3% Tỉ lệ trẻ chứng kiến cha mẹ đánh/cãi nhau là 34,11%, trong đó

tỉ lệ trẻ chứng kiến cảnh cha mẹ đánh/cãi nhau trong tháng vừa qua khá cao khoảng 38,1% Đáng lưu ý là gần nửa số trẻ được hỏi (48,4%) trả lời từng bị cha mẹ/người thân trong gia đình đánh, trong đó tỉ lệ trẻ cảm thấy bị đánh đau nhiều đến đau rất nhiều

là 38%, gần bằng với số trẻ bị cha mẹ đánh đến bầm tím/trầy xước 41,9% Công cụ cha

mẹ và người thân dùng đánh trẻ chủ yếu là dùng roi 78,5%, đánh trực tiếp bằng tay/chân 50% Đối tượng đánh trẻ là mẹ chiếm tỉ lệ cao nhất 74,7%, cha 44,1% Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) về tỉ lệ trẻ bị la mắng, đánh đập ở các nhóm tuổi, giới, học lực khác nhau Nghiên cứu cũng cho thấy có mối liên quan giữa tỉ lệ trẻ

bị cha mẹ la mắng, đánh đập với nghề nghiệp của mẹ, gia đình có người uống rượu bia, việc trẻ chứng kiến cảnh bạo lực giữa cha mẹ Như vậy, qua nghiên cứu này các tác giả

Trang 25

đã xác định tỉ lệ trẻ bị bạo hành về tinh thần (như: la mắng nặng đối với trẻ, đe dọa, chứng kiến cảnh bạo lực giữa cha mẹ); xác định tỉ lệ trẻ em bị bạo hành thể xác (đánh đập) bởi cha mẹ và các thành viên trong gia đình (mức độ, dụng cụ, đối tượng, lý do); xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến bạo hành trẻ em: sử dụng rượu bia, bạo hành gia đình, gia đình đông người, đông con, nghề nghiệp cha mẹ

Tóm lại, nghiên cứu về bạo hành trẻ em trong những năm gần đây đã có được những tiến bộ đáng kể trong nhiều lĩnh vực, cụ thể là: phạm vi nghiên cứu rộng, bao gồm cả môi trường gia đình, nhà trường và cộng đồng; địa bàn nghiên cứu có cả khu vực thành thị, nông thôn, miền núi, vùng dân tộc; phương pháp nghiên cứu đã sử dụng nhiều kỹ thuật thu thập thông tin phù hợp với đối tượng trẻ em; đối tượng trẻ em được khảo sát ở nhiều lứa tuổi và hoàn cảnh khác nhau; nội dung nghiên cứu đề cập tới nhiều vấn đề cơ bản như các hình thức và mức độ, hậu quả, nguyên nhân của việc bạo hành trẻ em

Tuy nhiên, các nghiên cứu về bạo hành trẻ em trong những năm gần đây vẫn còn những hạn chế nhất định, thể hiện ở những mặt sau:

 Chưa có sự phân loại các hình thức bạo hành thân thể và tinh thần trẻ em một cách rõ ràng (dùng dụng cụ/không dùng dụng cụ; trực tiếp/gián tiếp, gây thương tích/không gây thương tíchv.v…); chưa quan tâm nhiều đến tần suất của hành vi trừng phạt hàng ngày, một tuần, nữa tháng v.v…); chưa tìm hiểu tác động khác nhau của bạo hành thân thể và tinh thần trẻ em đối với trẻ em gái, trẻ em trai cũng như đối với những nhóm trẻ em ở lứa tuổi khác nhau; và đặc biệt việc lý giải hiện tượng trừng phạt này mới chỉ dừng lại ở những nguyên nhân bên ngoài mà chưa xem xét kỹ những lý do cơ bản và cội rễ của vấn đề

 Hệ thống bảo vệ và hỗ trợ trẻ em là nạn nhân của hành vi bạo hành còn ít được bàn luận trong một số nghiên cứu

Từ việc tổng quan các nghiên cứu về bạo hành trẻ em trong thời gian qua đã giúp cho tác giả có những sự hiểu biết cần thiết về các vấn đề bạo hành trẻ em nói chung và bạo hành trẻ em trong gia đình nói riêng Có thể nhận thấy chủ đề này đã được khảo sát và phân tích trên nhiều phương diện, từ việc đưa ra thực trạng, phân

Trang 26

tích nguyên nhân dẫn đến bạo hành trẻ em đến phân loại hành vi bạo hành trẻ em, hậu quả bạo hành trẻ em v.v…thế nhưng phần lớn các nghiên cứu này tập trung nghiên cứu trên phạm vi rộng, quy mô lớn trong cả nước, các nghiên cứu tập trung

ở các tỉnh phía bắc, đối với các nghiên cứu ở Thành phố Hồ Chí Minh về bạo hành trẻ em còn hạn chế, mặc dù trong những năm gần đây ở khu vực phía nam, cụ thể ở Thành phố Hồ Chí Minh có những trường hợp cha mẹ, người thân bạo hành trẻ em

đã được báo chí phanh phui, dư luận lên án Ngoài ra, đối tượng khảo sát của các cuộc nghiên cứu chính là các trẻ em, người bị bạo hành Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu trước còn hạn chế trong việc tìm hiểu nhận thức của cha mẹ đối với luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em, hay luật bạo hành gia đình như thế nào? họ có hiểu luật không? Có biết việc đánh đập, chửi mắng con cái là hành vi vi phạm pháp luật? Vì thế, trên cơ sở kế thừa các thành quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trước, đề tài có điều kiện đi sâu vào vấn đề nghiên cứu bạo hành trẻ em trong gia đình ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện tại hai địa bàn đó là phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức và phường Cô Giang, quận 1 nhằm góp phần nâng cao ý thức của gia đình, thiết chế xã hội và cộng đồng trong vấn đề chăm sóc, bảo vệ trẻ em Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các ban ngành, những nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này

1.2 Các khái niệm liên quan đến đề tài

1.2.1 Khái niệm trẻ em

Theo công ước về quyền trẻ em:“trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em có qui định tuổi thành niên sớm hơn”

Theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 của Việt Nam: “trẻ em qui định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”

Nhìn chung mỗi nước có qui định khác nhau về độ tuổi để được coi là trẻ em Việc qui định độ tuổi ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào sự phát triển về thể chất, tâm sinh lý của trẻ em ở mỗi quốc gia Do đó có những quốc gia qui định độ tuổi thành niên sớm hơn hoặc trễ hơn 18 tuổi như được xác định trong công ước về quyền trẻ

Trang 27

em Tuy độ tuổi được coi là trẻ em ở mỗi quốc gia khác nhau nhưng nhìn chung trẻ

em ở tất cả các quốc gia đều có các đặc điểm sau:

 Thể chất và trí tuệ chưa trưởng thành

 Cần có sự chăm sóc, giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội cả về mặt pháp

Ngoài ra trong các qui phạm pháp luật Việt Nam còn xuất hiện các khái niệm

“người thành niên”, “người chưa thành niên” Như vậy vấn đề đặt ra là phân biệt giữa các khái niệm trên và khái niệm “trẻ em” Theo pháp luật Việt Nam:

 Người thành niên: là người trên 18 tuổi

 Người chưa thành niên: là người dưới 18 tuổi

Như vậy khái niệm người chưa thành niên rộng hơn khái niệm về trẻ em, người chưa thành niên bao gồm cả trẻ em và những người từ 16 tuổi đến 18 tuổi

1.2.2 Khái niệm bạo hành trẻ em

Bạo hành trẻ em trong gia đình là một dạng của bạo hành gia đình được Liên hợp quốc định nghĩa và thông qua năm 1993, được các tổ chức cũng như nhà khoa

học trên thế giới chấp nhận rộng rãi Theo đó, bạo hành gia đình là bất kỳ hành

động bạo lực nào dẫn đến hoặc có thể dẫn đến những tổn thất về thân thể, tâm lý hay tình dục hay những đau khổ của người trong gia đình, bao gồm cả sự đe dọa có những hành động như vậy, việc cưỡng bức hay tước đoạt sự tự do [8]

Luật phòng chống bạo lực gia đình của Việt Nam nêu "Bạo hành gia đình là

hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình"

Theo công ước về quyền trẻ em: Theo khoản 1 Điều 19 “Các quốc gia thành

viên phải thực hiện mọi biện pháp lập pháp, hành chính, xã hội và giáo dục thích hợp để bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức bạo lực về thể chất hoặc tinh thần, bị thương tổn hay lạm dụng, bị bỏ mặc hoặc sao nhãng trong việc chăm sóc, bị ngược đãi hoặc bóc lột gồm cả lạm dụng tình dục trong khi trẻ em vẫn nằm trong vòng chăm sóc của cha hay mẹ hoặc cả cha lẫn mẹ, một hay nhiều người giám hộ pháp

lý, hoặc của bất kỳ người nào khác được giao việc chăm sóc trẻ em.”

8

United nations, 1995

Trang 28

Đối với đề tài nghiên cứu của mình tác giả chỉ tập trung vào hai hình thức bạo hành trẻ em trong gia đình: bạo hành tinh thần (mắng, nhiếc, cô lập không cho giao tiếp, không cho ăn, không cho ở, đuổi đi); bạo hành thân thể (đánh bằng tay, gậy, đồ vật, ném đồ vật, xô đẩy)

1.2.3 Khái niệm Gia đình

Theo từ điển Xã hội học, Gia đình là một nhóm xã hội được hình thành trên cơ

sở hôn nhân và quan hệ huyết thống, những thành viên trong gia đình có sự gắn bó

và ràng buộc với nhau về trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ có tính hợp pháp được nhà nước thừa nhận và bảo vệ

Theo từ điển tiếng việt, (Hoàng phê chủ biên, tái bản 2010) Gia đình là tập hợp người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái

1.3 Các Lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu

1.3.1 Lý thuyết chức năng – cấu trúc của Talcott Parsons

Lý thuyết chức năng được xem là lâu đời nhất và phổ biến nhất trong xã hội học Tư tưởng cơ bản của lý thuyết chức năng đều nhấn mạnh tính cân bằng, ổn định và khả năng thích nghi của cấu trúc Thuyết này cho rằng xã hội là một hệ thống gồm nhiều bộ phận khác nhau nhưng liên hệ với nhau, chúng cùng nhau vận hành để tạo nên cái toàn bộ, tạo nên sự ổn định hệ thống Sự đóng góp vào việc vận hành ổn định của hệ thống được gọi là chức năng Các bộ phận có tầm quan trọng chức năng khác nhau đối với hệ thống Bất kỳ một sự thay đổi nào ở thành phần nào cũng kéo theo sự thay đổi ở các thành phần khác

Áp dụng vào trong nghiên cứu này, lý thuyết này lý giải rằng gia đình có chức năng quan trọng trong việc duy trì sự tồn tại của hệ thống xã hội Gia đình được sinh ra tồn tại và phát triển, chính do nó có sứ mệnh đảm đương những chức năng đặc biệt mà xã hội, tự nhiên trao cho và không một thiết chế xã hội nào có thể thay thế được Các chứng năng đó tồn tại trong mối liên hệ thống nhất, tác động lẫn nhau để tạo nên con người, để xã hội hoá con người Sự hình thành nhân cách của trẻ em chịu ảnh hưởng của giáo dục gia đình Gia đình là chiếc nôi, là trường học

Trang 29

đầu tiên, nơi con cái lớn lên cả về thể xác lẫn tinh thần, nơi con cái không chỉ được dạy dỗ bằng lời nói mà còn bằng gương sáng Nếu cha mẹ luôn chú trọng giáo dục trẻ với phương pháp đúng đắn, con cái sẽ ngoan và trở thành những công dân có ích cho xã hội ngược lại nếu trong gia đình cha mẹ luôn có những bất ổn về mặt đạo đức, không khí gia đình căng thẳng, cha mẹ thiếu trách nhiệm với con cái, phương pháp giáo dục con cái chưa đúng như: nghiêm khắc (sử dụng roi đòn để dạy con, chửi, la mắng con, sỉ nhục con ) hay nuông chiều thái quá tạo ra những đứa trẻ phát triển nhân cách không toàn diện để lại hậu quả nghiêm trọng cho gia đình và xã hội

1.3.2 Lý thuyết tương tác biểu trưng

Theo cách tiếp cận này, con người ta phát triển bản thân thông qua cái nhìn, quan điểm của người khác về họ, thông qua sự tương tác giữa những người đóng vai trò quan trọng trong đời sống cá nhân ( cha mẹ, thầy cô giáo, bạn cùng tuổi ) những người này tạo thành nhóm quy chiếu cho trẻ em Các em ngưỡng mộ họ và dùng họ làm mô hình hoặc điểm quy chiếu để chỉ dẫn hành vi của mình, để phát triển ý thức về bản thân và kiến giải bối cảnh xã hội Lý thuyết này coi xã hội hoá là một quá trình theo đó trẻ em tham gia vào sự hình thành bản sắc của mình Lý thuyết này đặc biệt bổ ích khi nghiên cứu quan hệ cha mẹ và con cái[9]

Như vậy, áp dụng lý thuyết đối với đề tài này nhằm lý giải cho hành động bạo hành con cái của cha mẹ trong gia đình có ảnh hưởng vô cùng sâu sắc tới sự phát triển nhân cách của trẻ em Bởi vì, theo lý thuyết này cha mẹ là người đóng vai trò quan trọng và là tấm gương sáng cho con cái noi theo, cha mẹ có hành động đúng đắn, tốt đẹp thì con cái họ cũng có những hành động tương tự và ngược lại Chính vì vậy, khi giáo dục con cái cha mẹ phải hết sức thận trọng và lựa chọn những phương pháp giáo dục đúng đắn, tiến bộ, văn minh nhằm tạo ra một thế hệ con trẻ khoẻ mạnh về thể chất cũng như trí tuệ nhằm đáp ứng sự kì vọng và mong đợi của gia đình và xã hội

9

Mai Huy Bích, Xã hội học gia đình, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2009

Trang 30

1.3.3 Lý thuyết xung đột

Xung đột xã hội, về mặt khách quan là không thể tránh trong bất kỳ cơ cấu xã hội nào Hơn thế nữa, chúng là điều kiện tất yếu của sự phát triển xã hội Lý thuyết xung đột cho rằng các chức năng và các hành động xã hội góp phần vào sự phát triển của tập đoàn và của xã hội Nhưng trong nhiều trường hợp, chúng cũng xung đột với nhau Thậm chí người ta có thể nói rằng, nếu hiểu xung đột theo nghĩa rộng nhất của nó, thì xung đột là một trong những mặt thường xuyên của cuộc sống con người, nó tồn tại ở tất cả các trình độ trong gia đình, tập đoàn, xã hội chính trị, cộng đồng thế giới

Thuyết xung đột giai cấp của Marx tạo nên cho nhiều lý luận gia xã hội vào đầu thế kỷ 20 trong đó có Max Weber cơ sở và điểm tựa cho những thuyết riêng của mình về sự bất bình đẳng xã hội Max Weber đã đưa ra định nghĩa nổi tiếng về quyền lực mà ở đó, ông nhấn mạnh rằng “quyền lực là khả năng của cá nhân hay nhóm người có vị thế thực thiện được ý chí của mình, bất chấp sự kháng cự của người khác”[10] Quyền lực theo Weber là sự kiểm soát, là quyền ra lệnh và quyền chiếm đoạt lợi ích từ những người yếu thế không có quyền lực Từ đó nảy sinh mâu thuẫn giữa một bên là những người cố bảo vệ và duy trì quyền lực và một bên cố khánh cự và tìm cách giành lấy quyền lực

Theo B Strong, quyền lực bắt nguồn từ 4 nguồn gốc: tính hợp pháp chính danh; tiền bạc là một nguồn quyền lực mạnh mẽ, và là cơ sở kinh tế cho quyền lực; cưỡng bức về thể xác cũng là một nguồn gốc quan trọng của quyền lực; quyền lực của tình yêu và tình dục;

Theo cách tiếp cận này, gia đình bao gồm những cá nhân có nhân cách, lý tưởng, giá trị, sở thích và mục đích khác nhau Mỗi người không phải bao giờ cũng hài hoà với mọi người khác trong gia đình Các gia đình thường có bất đồng từ nhỏ đến lớn Họ chỉ khác nhau về tần số và mức độ, tính chất, biểu hiện và cách giải quyết xung đột

10

Theo Emely A.Schultz, Robert H Lavend, Nhân học - một quan điểm về tình trạng nhân sinh, Nxb Chính trị quốc gia, 2001, tr.306

Trang 31

Vận dụng lý thuyết này vào trong đề tài này, trẻ em trong gia đình là nhóm yếu thế, phụ thuộc vào cha mẹ Vì vậy, mọi hoạt động của trẻ em đều có sự kiểm soát của cha mẹ Cha mẹ là người có toàn quyền trong việc nuôi dạy con cái Nếu con ngoan thì cha mẹ khen thưởng, động viên…Nếu con cái không ngoan/không vâng lời cha mẹ có quyền dạy bảo, răn đe, phạt…để uốn nắn Có những lúc cha mẹ trách mắng sai, đánh con sai nhưng con cái chẳng dám nói vì sợ cha mẹ nổi giận đánh tiếp Theo lý thuyết xung đột bắt nguồn từ tính chính danh hợp pháp, cha mẹ bạo hành với con cái do cha mẹ có quyền, thực thi quyền lực và quyền áp đảo đối với con cái Theo quan niệm truyền thống “thương cho roi cho vọt” con hư cha mẹ

có quyền đánh để dạy dỗ…với cuộc sống hiện đại phương pháp nuôi dạy con cái như vậy có còn phù hợp? Theo các nhà nghiên cứu việc nuôi dạy con cái bằng roi đòn phải thay đổi cho phù hợp với xã hội hiện đại, khi cha mẹ dùng roi đòn cũng là lúc cha mẹ bất lực trong việc nuôi dạy con cái Tuy nhiên, hiện nay cha mẹ vẫn giữ quan niệm cũ, điều này phần nào lý giải được hành động bạo hành của cha mẹ đối với con cái

1.3.4 Lý thuyết xã hội hoá

Mỗi con người đều được sinh ra hai lần: đó là con người sinh học và con người xã hội Quá trình biến đứa trẻ từ một thực thể tự nhiên thành con người xã hội được diễn ra nhờ quá trình xã hội hoá Quá trình đó được ví như sinh ra lần thứ hai Một đứa trẻ không được sự giáo dục, tách khỏi môi trường xã hội thì không bao giờ trở thành con người, dù nó được sinh ra từ con người Theo cách nói của nhà xã hội học Mỹ nổi tiếng P.E.Park thì “ người ta sinh ra không phải đã là con người, mà chỉ trở thành con người trong quá trình giáo dục”[11] Theo cách nói của nhà xã hội học Pháp Sabran thì xã hội như một con tàu, cá nhân phải bước lên con tàu xã hội mới trở thành người xã hội, nếu không thì sẽ phải đứng mãi ở bến tàu[12]

Xã hội hoá là một quá trình các cá thể tiếp thu, học tập nền văn hoá xã hội mà

cá nhân đó được sinh ra và sống - tức là lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội, học những cái gì phải làm, những cái gì không được làm, học ngôn ngữ, học các chuẩn mực

Trang 32

giá trị xã hội để thích ứng được với xã hội Nhờ có quá trình xã hội hoá mà nền văn hoá được truyền thụ, tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác

Xã hội hoá được chia làm ba giai đoạn, bao gồm: giai đoạn xã hội hoá ban đầu của đứa trẻ trong gia đình; giai đoạn xã hội hoá diễn ra trong nhà trường và giai đoạn con người thực sự bước vào đời, đảm nhận các vai trò khác nhau trong từng mối quan hệ khác nhau Quá trình xã hội hoá diễn ra trong suốt cuộc đời con người

và chỉ khi sự sống của cá nhân đó chấm dứt thì quá trình này mới thực sự dừng lại Đối với đề tài này, quá trình xã hội hoá của trẻ em diễn ra trong môi trường gia đình, chính vì vậy gia đình được xem là cái nôi đầu tiên và quan trọng nhất thực hiện chức năng xã hội hoá mỗi cá nhân Gia đình là “bộ lọc” hữu hiệu những giá trị, chuẩn mực, kiến thức của cá nhân Mỗi gia đình có một tiểu văn hoá gọi là văn hoá gia đình, nơi có những gia phong, nếp nhà được đặt ra mà mỗi thành viên đều phải tuân thủ Trong gia đình, đứa trẻ được học hỏi những điều răn dạy của người lớn một cách có chủ đích như cách suy nghĩ, cách ứng xử và cách hành động v.v…Bên cạnh đó, đứa trẻ còn tiếp thu, học hỏi từ người lớn thông qua những hành vi ứng xử của chính họ đối với những người xung quanh Một cách không chủ đích, những người lớn trong gia đình đã khiến trẻ làm theo những gì mình thường làm và những hành động đó có thể là tích cực hoặc không tích cực Gia đình chính là môi trường

xã hội hóa quan trọng đầu tiên hình thành nên nhân cách của một con người

Trang 33

1.4 Khung phân tích

1.5 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết 1: Do ảnh hưởng văn hóa truyền thống giáo dục con cái của người Việt

quan niệm rằng: “thương cho roi cho vọt” nên cha mẹ coi bạo hành với con cái trong gia đình là chuyện bình thường

Giả thuyết 2: Các yếu tố bên trong gia đình như: kinh tế, mâu thuẫn vợ chồng, say

rượu…là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến việc cha mẹ bạo hành con cái trong gia đình

Giả thuyết 3: Do có biết về luật nhưng không hiểu rõ về quy định của luật nên cha

mẹ có hành vi bạo hành con cái Bên cạnh đó, sự kiểm soát thiếu chặt chẽ của các

cơ quan chức năng và công tác tuyên tuyền và phổ biến các chính sách, văn bản pháp luật về chăm sóc và bảo vệ trẻ em ở địa phương còn mang nặng tính hình thức cũng là nguyên nhân dẫn đến hành vi bạo hành trẻ em trong gia đình

ĐIỀU KIỆN KINH TẾ -VĂN HÓA – XÃ HỘI

Trang 34

CHƯƠNG 2: BẠO HÀNH TRẺ EM TRONG GIA ĐÌNH Ở

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

2.1 Sơ lược vài nét về kinh tế - xã hội của Thành Phố Hồ Chí Minh và địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong toạ độ địa lý khoảng 10 0 10' – 10 0 38 vĩ

độ bắc và 106 0 22' – 106 054 ' kinh độ đông Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh , Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang

Thành phố Hồ Chí Minh cách thủ đô Hà Nội gần 1.730km đường bộ, nằm ở ngã tư quốc tế giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ Ðông sang Tây,

là tâm điểm của khu vực Đông Nam Á Trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50

km đường chim bay Đây là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế Với hệ thống cảng và sân bay lớn nhất cả nước, cảng Sài Gòn với năng lực hoạt động 10 triệu tấn /năm Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với hàng chục đường bay chỉ cách trung tâm thành phố 7km

Với vị trí địa lý thuận lợi, Sài Gòn – nơi một thời được mệnh danh là "Hòn ngọc Viễn Đông" đã là trung tâm thương mại và là nơi hội tụ của nhiều dân tộc anh

em, mỗi dân tộc có tín ngưỡng, sắc thái văn hoá riêng góp phần tạo nên một nền văn hoá đa dạng Đặc trưng văn hoá của vùng đất này là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống dân tộc với những nét văn hoá phương Bắc, phương Tây, góp phần hình thành lối sống, tính cách con người Sài Gòn Đó là những con người thẳng thắn, bộc trực, phóng khoáng, có bản lĩnh, năng động, dám nghĩ, dám làm

Năng động và sáng tạo, Thành phố Hồ Chí Minh luôn đi đầu cả nước trong các phong trào xã hội, nơi đầu tiên trong cả nước được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục trung học Với vai trò đầu tàu trong đa giác chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội, thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành trung tâm kinh tế, văn hoá - du lịch, giáo dục - khoa học kỹ thuật - y tế lớn của cả nước Trong tương lai, thành phố sẽ phát triển mạnh mẽ về mọi mặt, có cơ cấu công nông nghiệp hiện đại, có văn hoá

Trang 35

khoa học tiên tiến, một thành phố văn minh hiện đại có tầm cỡ ở khu vực Đông Nam Á

2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội của Quận Thủ Đức và Phường Hiệp Bình Phước

2.1.2.1 Quận Thủ Đức

Thủ Đức [13] là quận vùng ven ở phía Đông thành phố Hồ Chí Minh, bên kia bờ sông Sài Gòn Phía Bắc giáp huyện Thuận An và huyện Dĩ An của tỉnh Bình Dương Phía Nam tiếp giáp quận 2 Sông Sài Gòn bao bọc ở phía Tây, ngăn cách với quận 12, quận Gò Vấp và quận Bình Thạnh Phía Đông giáp quận 9

Vùng đất Thủ Đức, quận 2, quận 9 ngày nay xưa thuộc huyện Phước Long, dinh Trấn Biên, phủ Gia Định Năm 1808 huyện Phước Long được nâng lên thành phủ thuộc trấn Biên Hoà, tương đương với phủ Tân Bình của trấn Phiên An Năm

1836, vua Minh Mạng đổi trấn thành tỉnh, vùng đất này thuộc về phủ Phước Long, tỉnh Biên Hoà Năm 1920, Pháp tiến hành phân chia lại cơ cấu hành chính Cùng với Hóc Môn, Gò Vấp và Nhà Bè, Thủ Đức là một trong 4 quận của tỉnh Gia Định mới thành lập

Sau ngày giải phóng, Thủ Đức là tên huyện của thành phố Hồ Chí Minh gồm thị trấn huyện lỵ Thủ Đức và 22 xã là: An Khánh, An Phú, Bình Trưng, Hiệp Bình Chánh, hiệp Bình Phước, Hiệp Phước, Linh Đông, Linh Trung, Linh Xuân, Long Bình, Long Phước, Long Thạnh Mỹ, Long Trường, Phước Bình, Phú Hữu, Phước Long, Tam Bình, Tăng Nhơn Phú, Thạnh Mỹ Lợi, Thủ Thiêm, Tam Phú, Tân Phú Ngày 6/1/1997, theo nghị định 03/CP của Thủ tướng Chính phủ, huyện Thủ Đức tách ra thành 3 quận là: quận 2, quận 9, và quận Thủ Đức Quận Thủ Đức mới bao gồm dân số và diện tích các xã: Hiệp Bình Chánh, Hiệp Bình Phước, Linh Đông, Linh Trung, Linh Xuân, Tam Bình, Tam Phú, thị trấn Thủ Đức và một phần các xã Hiệp Phú, Phước Long, Tân Phú

Thủ Đức nằm ở cửa ngõ ra vào phía Đông của thành phố Hồ Chí Minh Ba con đường lớn chạy qua quận đều thuộc quốc lộ: xa lộ Hà Nội, quốc lộ 13 và xa lộ vành đai ngoài (xa lộ Đại Hàn cũ) Nhiều năm qua, nhất là từ khi trở thành quận, nhiều tuyến đường trong quận được mở, nâng cấp, toàn bộ cầu khỉ được thay bằng

13

http://www.saigon24h.vn

Trang 36

cầu bê tông Những con đường mới, những cây cầu đã nối vùng gò đồi với vùng bưng, tạo điều kiện cho hàng hóa lưu thông, qua đó thúc đẩy sản xuất công – nông nghiệp cùng phát triển

Với nhiều đặc điểm thuận lợi, Thủ Đức thu hút khá đông nhà đâu tư trong và ngoài nước Ngay từ khi còn là huyện, trên địa bàn Thủ Đức cũng đã sớm hình thành các cơ sở sản xuất công nghiệp như: Công ty xi măng Hà Tiên, Công ty Cơ điện, Nhà máy điện Kể từ sau khi tách quận, kinh tế Thủ Đức càng có điều kiện phát triển nhanh hơn

2.1.2.2 Phường Hiệp Bình Phước

Phường Hiệp Bình Phước nằm ở cửa ngõ phía Bắc thành phố Hồ Chí Minh, là trung tâm đầu mối giao thông nối liền các tỉnh miền Bắc – Trung và Nam, giáp với nhiều phường - xã bạn như: Phường Hiệp Bình Chánh, Tam Bình, Tam Phú, Bình Chiểu,

về phía sông Sài Gòn giáp với các Quận – Huyện là Quận 12 và huyện Thuận An thuộc tỉnh Bình Dương

Từ năm 1993 là một trong những năm đầu thực hiện sự chuyển đổi chính sách một nền kinh tế thị trường , phường đã đầu tư tạo điều kiện phạt triển mọi tiềm năng đặc thù của một nền kinh tế phù hợp với tiềm năng thực lực của địa phương, từ một phường trong những năm trước đây người dân địa phương chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp và kinh tế vườn là chủ yếu

Ảnh hưởng đô thị hóa, việc chuyển đổi mục đích trong sử dụng đất nông nghiệp, người dân từng bước chuyển đổi lao động và phát huy thế mạnh hiện tại của nền kinh tế sản xuất hàng hóa Trên địa bàn phường, thời gian qua ngày càng có thêm nhiều cơ sở kinh tế và văn hóa, nhiều công trình đã mọc lên, đường xá , cầu cống ngày càng được mở rộng, cùng với việc nâng cấp Quốc lộ 13 (đoạn KP1 và 2, cầu Vĩnh Bình được Nhà nước đầu tư mở rộng tách biệt hai hướng đi và về , độ cao tỉnh không cũng được nâng cao tạo điều kiện cho tàu thuyền qua lại vận chuyển hàng hoá từ các nơi về tập kết tại chợ đầu mối Tam Bình ( thủ Đức) được thuận lợi Tốc độ xây dựng nhanh góp phần làm thay đổi bộ mặt của phường vốn trước đây đi dọc theo suốt tuyến đường trên địa bàn phường vẫn thấy còn đất hoang hóa trống trãi

Trang 37

Vào những năm 1993 địa bàn phường chỉ có một nhà máy quốc doanh ( Đay Việt Ấn), không có một cơ sở sản xuất ngòai quốc doanh nào , nay phường tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế , các cơ sở ngòai quốc doanh vốn thích nghi với nền kinh tế thị trường đã có sự phát triển nhanh chóng như Công Ty cân Nhơn Hòa một

xí nghiệp hình thành và phát triển từ một HTX sản xuất cơ khí nhỏ lẻ, thêm vào một đại diện cho ngành công nghiệp thực phẩm là Công ty chế biến thực phẩm , bánh kẹo Kinh Đô, những xí nghiệp trên ngày càng tạo được uy tín và thị phần cả trong nước lẫn nước ngòai, ngòai ra còn một số xí nghiệp may mặt , da giày những xí nghiệp trên phần lớn giải quyết cho hàng ngàn lao động tại chỗ và các nơi khác đến tạm trú làm việc trên địa bàn

Về kinh tế vườn, địa phương tuy bị tác động bởi sự chuyển đổi từ một nền kinh tế thuần nhất về nông nghiệp sang nền sản xuất hàng hóa, diện tích đất nông nghiệp ngày bị mất dần do sự chuyển đổi mục đích sử dụng Song yếu tố trên không làm ảnh hưởng đến kinh tế vườn mà hiện nay ngày càng phát triển , nhất là

số hộ trồng hoa kiểng trước đây chỉ xuất phát từ việc trồng hoa kiểng để làm thú vui trang trí , thưởng lãm trong những ngày nông nhàn, nay đã trở thành những nghệ nhân có tên tuổi trong làng hoa kiểng ở TP Hồ Chí Minh như anh Hùynh Hải Tàng, anh Hùynh Tấn Lực, anh Phạm Văn Tư, Nguyễn Hồng Tâm , Lý Tô Há , chị Nguyễn Thị Tân Tân là những nghệ nhân hoa kiểng có thu nhập bình quân hàng năm có trên hai trăm triệu đồng, hiện nay diện tích vườn mai tại địa phương là 45,91 ha Đây cũng là một lọai hình văn hóa được tập trung tại địa bàn KP6 của phường

Nhìn chung về kinh tế, địa phương có mặt phát triển tốt thì cũng có mặt co cụm như: diện tích đất nông nghiệp, diện tích vườn giảm do chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất ở , sản xuất khác , sự tăng nhanh dân số cơ học trên địa bàn , nhu cầu nhà ở ngày càng nhiều hơn đã làm dịch chuyển cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn hiện nay theo hướng đô thị hoá hiện nay

Ảnh hưởng của tốc độ đô thị hóa , những năm gần đây có xu hướng dịch chuyển dân cư từ nội thành ra ngoại thành xu thế này phù hợp với yêu cầu dãn dân

và đô thị hóa Hiện nay dân số trên tòan địa bàn có 30.893 người ( kể cả tạm trú các

Trang 38

diện khác ) số nhân khẩu nữ có 15.791 người chiếm tỷ lệ 51,11% , nam có 15.102 người chiếm tỷ lệ 48,89%, số người trong độ tuổi lao động có 14.896 người chiếm

tỷ lệ 41,22% trên tổng số dân, trong đó có khỏang 8 % là học sinh – sinh viên , 25

Quận 1[14]

có hệ thống giao thông thủy bộ thuận tiện cho việc mở mang, giao lưu, phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội Nằm bên bờ sông Sài Gòn, Quận 1 tiếp cận các đầu mối giao thông đường thủy thông qua các cảng Sài Gòn, Khánh Hội Hệ thống kinh rạch Bến Nghé - Thị Nghè tạo điều kiện dễ dàng cho việc vận chuyển hàng hóa, hành khách từ trung tâm Thành phố đi các nơi và ngược lại Dọc bờ sông, kinh, rạch của Quận có cảng nhỏ, cầu tàu, công xưởng sửa chữa, đóng tàu, xà lan tạo thành những yếu tố mở mang giao thương, dịch vụ Mạng lưới đường bộ của Quận 1 khá hoàn chỉnh, không những đảm bảo sự thông thoáng cho lưu thông nội thị mà còn có các trục đường chính đi đến sân bay, nhà ga, hải cảng và các cửa ngõ của thành phố để đi khắp các tỉnh, thành trong cả nước.Cơ cấu dân cư của Quận 1 chuyển dịch theo hướng phù hợp với đặc điểm của một Quận trung tâm thành phố Bên cạnh trên 20.000 cán bộ công chức (tại chức và hưu trí) của quận, thành phố và các cơ quan Trung ương trú đóng trên địa bàn, phần lớn dân cư là công nhân - lao động tập trung trong hơn 1.450 doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân, bộ phận dân cư còn lại là tiểu thương trong 11.560 hộ kinh doanh cá thể, học sinh - sinh viên Gần 10% dân số có trình độ đại học và sau đại học Toàn dân đã có trình độ trung học cơ

sở và có 3 phường thực hiện xong phổ cập phổ thông trung học Tính theo tuổi đời,

14

http://www.quanuy1hcm.org.vn

Trang 39

Quận 1 là một địa phương khá trẻ với hơn 85% dân số có độ tuổi từ 50 trở xuống, trong đó có 143.412 người trong độ tuổi lao động, chiếm 62,3% dân số

Trên địa bàn Quận 1 có nhiều dân tộc sinh sống trong đó người Kinh chiếm tuyệt đại đa số với hơn 88,4% dân số, người Hoa có 23.465 người, chiếm 10,3% dân số, các dân tộc khác gồm người Chăm, Khơme, Tày, Nùng, Mường, Thái, Dao, Gia-rai tổng cộng có 294 người, chiếm 2,3% dân số

2.1.3.2 Phường Cô Giang

Phường Cô Giang có diện tích 0,3443 km2, được chia thành 5 khu phố, bao bọc bởi các tuyến đường Trần Hưng Đạo – Đề Thám – Võ Văn Kiệt – Trần Đình Xu; phía Đông giáp rạch Bến Nghé, phía Nam giáp Phường Cầu Kho, phía Bắc giáp Phường Cầu Ông Lãnh và phía Tây giáp Phường Nguyễn Cư Trinh

Trên địa bàn phường có 10 cơ quan hành chính, sự nghiệp của Trung ương, Thành phố và Quận trú đóng; 01 trường tiểu học, 01 trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông, 01 trường Đại học, 02 cơ sở trường mầm non Cô Giang; 08

cơ sở tôn giáo gồm Tổ đình Linh Sơn, chùa Pháp Bữu, chùa Pháp Hoa, chùa Pháp Thông, Linh Phước Tự, Điện thờ Phật mẫu Thái Hòa, Hội thánh Tin lành Việt Nam Miền nam, Chi hội Tin lành Sàigon Ngoài ra còn có 02 cơ sở tín ngưỡng dân gian Miếu Ngũ Hành, miếu Thần Hoàng

Toàn phường hiện có 4.873 nóc nhà, với 17260 nhân khẩu Đại bộ phận dân

cư là tầng lớp công nhân viên chức, cán bộ hưu trí, tiểu thương, dân cư lao động nghèo chủ yếu lao động phổ thông và buôn bán nhỏ.[15]…

15

Số liệu do phường Cô Giang cung cấp

Trang 40

2.1.4 Đặc điểm về mẫu nghiên cứu

2.1.4.1 Địa bàn nghiên cứu

Bảng 2.1: Địa bàn nghiên cứu

Tần suất Phần trăm (%)

Quận Thủ Đức 100 50.7

Nguồn: Số liệu khảo sát của đề tài

Theo bảng 2.1 cho thấy, tỷ lệ khảo sát ở quận 1 là 49,2%, quận Thủ Đức là 50,7% Trong quá trình phân tích kết quả nghiên cứu, chúng tôi không phân tích so sánh kết quả nghiên cứu giữa hai Quận mà chúng tôi xem đây là một cuộc nghiên cứu mang tính tìm hiểu bạo hành giữa cha mẹ và con cái trên tổng thể cả hai Quận như một mẫu nghiên cứu

2.1.4.2 Giới tính

Bảng 2.2: Giới tính Tần suất Phần trăm (%)

Nguồn: Số liệu khảo sát của đề tài

Đề tài nghiên cứu chọn tỷ lệ giữa nam và nữ (cha và mẹ) mang tính chất cân bằng nhau vì trách nhiệm của cha mẹ trong việc nuôi dạy con cái là như nhau, trong quá trình phân tích chúng tôi luôn có sự so sánh, tìm hiểu quan niệm của người cha

và người mẹ xem có sự khác biệt nhau như thế nào Vì vậy, theo bảng 2.2, tỷ lệ nam chiếm (44,7%), tỷ lệ nữ chiếm (55,3%) là phù hợp với đề tài nghiên cứu

Ngày đăng: 07/05/2021, 18:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w