1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ tỉnh bình dương lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo (1997 2010)

260 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 260
Dung lượng 2,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với nhận thức xóa đói giảm nghèo là một trong những chính sách xã hội hướng vào phát triển con người, tạo ra động lực để tăng trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xã hội, bảo vệ môi trườn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

(1997 – 2010)

LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ

CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Mã số: 60 – 22 - 56 Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS VÕ VĂN SEN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013

Trang 2

NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

- BCĐ: Ban chỉ đạo

- BCN: Ban chủ nhiệm

- BHYT: Bảo hiểm Y tế

- GD – ĐT: Giáo dục và đào tạo

- HĐND: Hội đồng nhân dân

- LĐTB&XH: Lao động thương binh và xã hội

- TNCS HCM: Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

- UBMTTQ: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc

- UBND: Ủy ban nhân dân

- XĐGN: Xóa đói giảm nghèo

Trang 3

MỤC LỤC DẪN LUẬN 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Nguồn tài liệu và Phương pháp nghiên cứu 9

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 10

7 Kết cấu của luận văn 11

CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ SỰ QUÁN TRIỆT CỦA ĐẢNG BỘ BÌNH DƯƠNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO THỜI KỲ TRƯỚC 1997 12

1.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 12

1.1.1 Điều kện tự nhiên 12

1.1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội 15

1.2 NHỮNG NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN ĐÓI NGHÈO TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG 23

1.3 NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH DƯƠNG THỜI KỲ TRƯỚC NĂM 1997 31

1.3.1 Cơ sở lý luận về đói nghèo và những tiêu chí xác định 31

1.3.2 Những quan điểm cơ bản của Đảng và nhà nước ta đối với công tác xóa đói giảm nghèo 46

1.3.3 Tình hình thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Bình Dương thời kỳ trước 1997 59

CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH DƯƠNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO (1997 – 2010) 73

2.1 CHỦ TRƯƠNG, BIỆN PHÁP VÀ KẾT QUẢ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG BỘ BÌNH DƯƠNG GIAI ĐOẠN 1997 - 2000 73

2.1.1 Đặc điểm tình hình và những chủ trương cụ thể của Đảng và Nhà nước, của Đảng bộ tỉnh Bình Dương đối với công tác xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1997 – 2000 73

2.1.2 Những biện pháp của Đảng bộ tỉnh Bình Dương triển khai thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo từ 1997 – 2000 87

2.1.3 Kết qủa thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo (1997 – 2000) 104

2.1.4 Nhận xét quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và kết quả thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo tỉnh Bình Dương (1997 – 2000) 115

Trang 4

2.2 CHỦ TRƯƠNG, BIỆN PHÁP VÀ KẾT QUẢ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG BỘ BÌNH DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2001 – 2005 117

2.2.1 Đặc điểm, tình hình và những chủ trương của Đảng, Nhà nước, của Đảng bộ Bình Dương liên quan đến công tác xóa đói giảm nghèo 117

2.2.2 Những biện pháp của Đảng bộ Bình Dương triển khai thực hiện đối với công tác xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001- 2005 130

2.2.3 Kết quả thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001 – 2005 142

2.2.4 Nhận xét quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và kết quả thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo tỉnh Bình Dương (2001 - 2005) 156

2.3 CHỦ TRƯƠNG, BIỆN PHÁP VÀ KẾT QUẢ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG BỘ BÌNH DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2006 – 2010 158

2.3.1 Đặc điểm, tình hình và những chủ trương của Đảng, Nhà nước, của Đảng bộ Bình Dương liên quan đến công tác xóa đói giảm nghèo 158

2.3.2 Những biện pháp của Đảng bộ Bình Dương triển khai thực hiện đối với công tác xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2006- 2010 172

2.3.3 Kết quả thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010 179

2.3.4 Nhận xét quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và kết quả thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo tỉnh Bình Dương (2006 - 2010) 196

CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG BỘ BÌNH DƯƠNG GIAI ĐOẠN 1997 – 2010 199

3.1 NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC TRONG CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 199

3.1.1 Về Kinh tế 199

3.1.2 Về Chính trị 201

3.1.3 Về văn hóa – xã hội 203

3.2 NHỮNG MẶT HẠN CHẾ 207

3.3 MỘT SỐ KINH NGHIỆM RÚT RA TRONG QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI BÌNH DƯƠNG 211

KẾT LUẬN 223

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 229

PHỤ LỤC 238

Trang 5

DẪN LUẬN

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đói nghèo là một trong những vấn đề xã hội mang tính toàn cầu Xóa đói giảm nghèo là một trong những nội dung quan trọng ưu tiên hàng đầu trong các mục tiêu phát triển xã hội của thế giới hiện đại

Trong những thập kỷ vừa qua, đói nghèo vẫn là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại Với mục tiêu hướng tới tương lai, tại khóa họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên hợp quốc về phát triển xã hội (tháng 6/2000 tại Geneva, Thụy Sỹ), cộng đồng quốc tế tiếp tục cam kết thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, phấn đấu đến năm 2015 giảm ½ số người nghèo trên thế giới Hội nghị cũng kêu gọi cộng đồng quốc tế đẩy mạnh chiến dịch “Tấn công vào đói nghèo” và khuyến nghị các quốc gia cần có chiến lược toàn diện về xóa đói giảm nghèo Đặc biệt, Hội nghị Thiên niên kỷ đầu tháng 9/2000 của Liên hợp quốc tại Washington đã một lần nữa khẳng định, chống đói nghèo là một trong những mục tiêu ưu tiên của cộng đồng quốc tế trong thế kỷ XXI

Đối với Việt Nam, vấn đề xóa đói giảm nghèo càng trở nên quan trọng, là nhiệm vụ cách mạng cao quý của toàn Đảng, toàn dân nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Ngay từ sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã coi giải quyết vấn đề đói nghèo là một nhiệm vụ cấp bách cùng với việc tiêu diệt giặc dốt và giặc ngoại xâm Người khẳng định: “nước độc lập mà mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa

lý gì; nhiệm vụ của Chính phủ từ trung ương đến địa phương là làm cho người nghèo đủ ăn, người đủ ăn thì khá lên và người giàu thì giàu thêm”[43; Tr 56].

Thực hiện chỉ đạo của Người, Đảng và Nhà nước đã có nhiều nỗ lực, cố gắng trong việc chăm lo cho đời sống của nhân dân dù cho đất nước còn gặp nhiều khó khăn bởi hoàn cảnh chiến tranh, thiên tai

Trong thời kỳ đổi mới, vấn đề xóa đói giảm nghèo lại càng trở nên quan trọng Từ thực tế triển khai thực hiện chính sách xã hội, Đại hội VIII của Đảng (6-1996) đã tổng kết thành các quan điểm định hướng xây dựng và phát triển xã hội:

“Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước

Trang 6

và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình; khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xoá đói giảm nghèo; phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa”, nhân hậu, thuỷ chung; các vấn đề xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội , cũng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội ” [35; Tr.113 – 114]

Với nhận thức xóa đói giảm nghèo là một trong những chính sách xã hội hướng vào phát triển con người, tạo ra động lực để tăng trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đồng thời cũng thể hiện nỗ lực của Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết quốc tế Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội cũng như toàn dân ta

đã có nhiều nỗ lực nhằm xóa hoàn toàn hộ đói, từng bước đẩy lùi hộ nghèo

Trong những năm qua, Bình Dương được đánh giá là địa phương điển hình trong cả nước đã tạo được bước đột phá trong việc thực hiện Công tác xóa đói giảm nghèo Bình Dương đã thực hiện đồng bộ và có hiệu quả các giải pháp giảm nghèo, xóa nghèo bền vững; quan tâm, giúp đỡ các hộ cận nghèo nhằm hạn chế đến mức thấp nhất tỷ lệ hộ tái nghèo Bằng nguồn lực của Nhà nước, nguồn ngân sách tỉnh và của toàn xã hội, Bình Dương đã thực hiện nhiều giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, hướng đến thoát nghèo bền vững như: chú trọng tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cho vay vốn, trợ giúp đào tạo nghề đối với người nghèo, xã nghèo và nhóm dân cư nghèo; hỗ trợ việc làm, tăng thu nhập, tạo điều kiện cho người nghèo được tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; nâng cao trình độ dân trí, hỗ trợ người nghèo khám chữa bệnh, đào tạo và giới thiệu việc làm cho lao động

nông thôn, bộ đội xuất ngũ

Tiêu chí hộ nghèo giai đoạn 2009 - 2010 ở Bình Dương áp dụng cho khu vực thành thị là 780.000 đồng/người/tháng, khu vực nông thôn là 600.000 đồng/người/tháng, cao gấp 2 lần so với tiêu chí quốc gia Số lượng hộ nghèo “đến tháng 10/2010, chiếm tỷ lệ 1,38% và khoảng 4.377 hộ cận nghèo” [99; Tr 9]

Trang 7

Tình đến năm 2010, Bình Dương là một trong 5 tỉnh thành có tỷ lệ hộ nghèo dưới 1% và không còn hộ nghèo theo chuẩn quốc gia (cùng với thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Khánh Hoà và Bà Rịa - Vũng Tàu )

Với những thành tích đã đạt được, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bình Dương đang đẩy mạnh hơn nữa công tác giảm nghèo, đặc biệt là giúp đỡ các đối tượng cận nghèo và có nguy cơ tái nghèo; đồng thời phấn đấu tiến tới là tỉnh hoàn thành công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam

Xuất phát từ mong muốn đóng góp một phần công sức của mình trong việc tìm ra nguyên nhân, những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo của tỉnh Bình Dương Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn trong quá trình lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Bình Dương để thời gian tới đạt được những kết quả tốt hơn Đồng thời, những thành công của Đảng bộ tỉnh Bình Dương trong lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo có thể là những cẩm nang, những cách làm mà các tỉnh thành khác có thể tham khảo để áp dụng trong quá trình lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo ở địa phương Với lý do đó, tôi mạnh dạn chọn đề tài

“Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo

(1997 – 2010)” làm lận văn thạc sỹ của mình

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Xóa đói giảm nghèo là vấn đề cấp thiết đang được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm, là một trong những mục tiêu quan trọng trong giai đoạn hiện nay Điều đó được thể hiện trong các văn kiện, nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng, trong các chính sách pháp luật của Nhà nước Đảng bộ tỉnh Sông Bé trước đây và sau này là Đảng bộ tỉnh Bình Dương đã quán triệt sâu sắc quan điểm và chính sách

về xóa đói giảm nghèo của Trung ương, từng bước cụ thể hóa trong các nghị quyết

và chương trình hành động của các cấp ủy Đảng, chính quyền và các ban ngành đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội

Trong những năm qua có nhiều công trình của các nhà nghiên cứu, các học giả có liên quan đến xóa đói giảm nghèo ở nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, ở nhiều địa phương khác nhau Chúng ta có thể đề cập đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:

Trang 8

- “Báo cáo về tình hình phát triển thế giới tấn công đói nghèo” của Ngân

hàng thế giới (WB) do nhà xuất bản chính trị quốc gia xuất bản năm 2000 tại Hà Nội Báo cáo đã đánh giá tình hình thực hiện xóa đói giảm nghèo của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Mặt khác báo cáo này cũng chỉ rõ mối liên hệ giữa đói nghèo với các lĩnh vực khác như: chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế, môi trường, tăng trưởng kinh tế, …

- “Tài liệu tập huấn cán bộ giảm nghèo cấp xã, thôn, bản” của Bộ

LĐTB&XH do nhà xuất bản Lao động – Xã hội xuất bản năm 2006 tại Hà Nội Trong đó đã đề cập đến những vấn đề về: Định hướng giảm nghèo của Việt Nam từ

2006 đến năm 2010; quy trình khảo sát xác định hộ nghèo và vai trò của cán bộ làm công tác giảm nghèo ở địa phương; nêu rõ nhiệm vụ và hoạt động của ban giảm nghèo ở cấp xã

- Về phía các tác giả:

Nguyễn Thị Hằng với tác phẩm “Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn

n ước ta hiện nay” do nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 1997 tại Hà Nội

đã trình bày khá rõ nét về cơ sở lý luận của vấn đề đói nghèo, tiêu chí để xác định hộ đói nghèo Đặc biệt, tác giả đã nêu bật bức tranh chung về thực trạng và nguyên nhân dẫn đến đói nghèo ở Việt Nam khi chuyển sang nền kinh tế thị trường Từ đó tác giả đã đề ra một số phương hướng, biện pháp nhằn thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo ở những vùng nông thôn

Tác giả Trần Thị Hằng với tác phẩm “Vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế thị

tr ường ở Việt Nam hiện nay” do nhà xuất bản Thống kê xuất bản năm 2001 Trong

tác phẩm này, tác giả đã phân tích, đánh giá những tác động tích cực cũng như mặt trái của kinh tế thị trường đối với vấn đề đói nghèo tại Việt Nam

Hai tác giả Lê Xuân Bá và Chu Tiến Quang với tác phẩm “Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam”; nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2001

Trong tác phẩm này, các tác giả đã làm rõ thực trạng đói nghèo và quá trình thực hiện xóa đói nghèo ở Việt Nam Qua đó đề xuất một số phương hướng, biện pháp thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo

Luật gia Đức Quyết đã sưu tầm tuyển chọn các văn bản pháp luật của Đảng và

Nhà nước để xuất bản cuốn “Một số chính sách quốc gia về việc làm và xóa đói

Trang 9

gi ảm nghèo” do nhà xuất bản Lao động xuất bản năm 2002 tại Hà Nội Tác phẩm

này đã cung cấp các văn bản pháp quy của Nhà nước về các chương trình mục tiêu quốc gia cũng như các nghị quyết, quyết định, nghị định, thông tư của chính phủ, các

bộ ban nghành có lên quan trong quá trình chỉ đạo, thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam trước năm 2002

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia cũng xuất bản cuốn “Văn bản pháp luật về hỗ

tr ợ người nghèo” năm 2003, trong đó trình bày tương đối đầy đủ về các quy định của pháp luật về các chính sách đối với người nghèo như: quy định về quỹ xã hội, quỹ từ thiện; về trợ giúp pháp lý; về ngân hàng chính sách xã hội và chính sách tín dụng đối với người nghèo; chế độ khám, chữa bệnh và hoạt động nhân đạo; các chính sách về xóa đói giảm nghèo; chính sách cứu trợ xã hội và bảo trợ xã hội, về hỗ trợ việc làm, …

- Về phía các công trình nghiên cứu khoa học:

Luận văn Thạc sỹ của Đoàn Văn Thuận (2005) “ Mối quan hệ giữa xóa đói

gi ảm nghèo với bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn quận Thủ Đức – Thành phố Hồ

vấn đề phát sinh gây mất trật tự an ninh xã hội Qua đó đã đưa ra các giải pháp nhằm thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn quận Thủ Đức, đồng thời cũng là một trong những những biện pháp nhằm ổn định trật tự an ninh xã hội trên địa bàn

Luận văn Thạc sỹ của Thái Văn Hoạt (2006); “Giải pháp xóa đói giảm nghèo

nghèo cũng như quá trình thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo ở địa phương trong những năm qua Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn nữa công tác xóa đói giảm nghèo ở Quảng Trị

Ngoài ra chúng ta còn phải kể đến các luận văn: Luận văn Thạc sỹ của Trần Đình Đàn (2002); “Những giải pháp kinh tế - xã hội chủ yếu nhằm xóa đối giảm

b ộ tỉnh Cần Thơ lãnh đạo và thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo (1996 – 2006)” Luận án Tiến sỹ của Nguyễn Hoàng Sơn với đề tài “Qua trình thực hiện chính sách

xóa đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta trong cộng đồng người Khmer tại Đồng bằng Sông Cửu Long 1992 – 2002”, …

Trang 10

- Về phía các tạp chí khoa học:

Công tác xóa đói giảm nghèo trong những năm qua đã thu hút được sự chú ý của đông đảo các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng như các nhà nghiên cứu Các bài viết về công tác này đã xuất hiện thường xuyên trên các tạp chí khoa học

Nguyên Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH Nguyễn Thị Hằng có các bài viết: “Xóa đói giảm nghèo- Từ phong trào cơ sở đến chương trình quốc gia” trên Tạp chí

Cộng sản số 22 (11 – 1998); “Chính sách xã hội trong công cuộc đổi mới và phát

tri ển đất nước” trên Tạp chí Cộng sản số 2 (1 – 2000); “Chính sách xã hội trong đổi

m ới đất nước” trên Tạp chí Cộng sản số 21 (11 – 2000); “Bước tiến mới của sự

nghi ệp xóa đói giảm nghèo” trên Tạp chí Cộng sản số 5 (3 – 2001); “Đẩy mạnh

xu ất khẩu lao động khu vực nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo” trên Tạp chí

Cộng sản” số 4 + 5 (2 – 2003)

Nguyến Đức Triều - Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội Nông dân Việt

Nam có bài: “Hội Nông dân Việt Nam trong công tác xóa đói, giảm nghèo” đăng

trên Tạp chí Cộng sản” số 24 (8 – 2002); Phó Giáo sư Nguyễn Sinh Cúc – Vụ

trưởng Tổng cục Thống kê có bài viết “Thực trạng và giải pháp xóa đói, giảm nghèo

ở nông thôn hiện nay” trên Tạp chí Cộng sản số 25 (9 – 2002); Tiến sỹ Nguyễn Văn Giàu – Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước viết bài: “Tín dụng phục vụ chương

2002); Ông Phạm Gia Khiêm - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng chính

phủ có bài viết: “Xóa đói, giảm nghèo ở nước ta – Thành tựu, thách thức và giải

pháp” trên Tạp chí Cộng sản số 2 + 3 (2006); Tiến sỹ Chu Tiến Quang viết bài:

“Nhìn lại thành tựu xóa đói giảm nghèo của Việt Nam giai đoạn 2001- 2005 và

nh ững vấn đề đang đặt ra” trên Tạp chí Cộng sản số 776 (6 – 2007)… Ngoài ra còn

có nhiều bài viết đăng trên các tại chí khoa học khác như trên tạp chí Khoa học xã

hội số 8 (1996) – 2006 có bài “Nâng cao năng lực cộng đồng: Một tiếp cận trong

l ĩnh vực giảm nghèo” của tác giả Đặng Ngọc Quang; …

- Về những công trình, những bài viết khoa học đề cập đến tình hình kinh tế -

xã hội tỉnh Bình Dương có các tác phẩm “Sông Bé -Tiềm năng kinh tế, những triển

v ọng đầu tư và du lịch” của Ban Kinh tế tỉnh ủy Sông Bé xuất bản; “Sông Bé - Tiềm

n ăng và phát triển” do Ủy Ban Kế họach Tỉnh Sông Bé xuất bản năm 1995

Trang 11

Trong nhóm này có thể ghi nhận thêm các tác phẩm khác như: “Bình Dương - Đất nước – Con người” và tập kỷ yếu hội thảo khoa học chủ đề “Thủ Dầu Một –

thành phố Hồ Chí Minh “Kinh tế trang trại tỉnh Bình Dương - thực trạng và giải

biên Tháng 8/2003, ấn phẩm “Bình Dương - Thế và lực mới trong thế kỷ XXI” do

Chu Viết Luân (chủ biên) NXB, Chính trị quốc gia

Đây là những ấn phẩm có nội dung phản ánh khái quát về quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Bình Dương, trong đó có đề cập ít nhiều đến nỗ lực phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao mức sống người dân

Trong luận án Tiến sĩ đề tài “Những chuyển biến kinh tế xã hội của tỉnh Bình

D ương từ 1945 – 2005”, Tiến sĩ Nguyễn Văn Hiệp đã làm nổi bật những chuyển

biến kinh tế - xã hội của Bình Dương trong giai đoạn 1945 đến 2005, nhất là giai đoạn 1997 – 2005

Đặc biệt, cùng với sự phát triển ấn tượng về kinh tế, việc nghiên cứu về các vấn đề kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương đã thu hút được sự chú ý của đông đảo nhà nghiên cứu, học giả như: Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Minh Giao với đề tài

“Sự phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp gốm sứ Bình Dương (1986 – 2000)” bảo

vệ năm 2001; Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Văn Nghĩa với đề tài “Sự phát triển

văn Thạc sỹ của Nguyễn Thị Nga với đề tài “Sự phát triển Công nghiệp tỉnh Bình

D ương trong thời kỳ đổi mới từ 1986 – 2003” bảo vệ năm 2005; Luận văn Thạc sỹ của Võ Thị Cẩm Vân với đề tài “Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh

D ương lãnh đạo phát triển Công nghiệp giai đoạn 1997 – 2007” của Đỗ Minh Tứ

bảo vệ năm 2009,…

Nhìn chung, các bài viết, các công trình khoa học nêu trên đã đề cập đến nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh về xóa đói giảm nghèo nói chung và công tác xóa đói giảm nghèo tại một số khu vực, một số tỉnh thành nói riêng Trong đó đã nêu bật lên thực trạng, nguyên nhân cũng như một số giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện

Trang 12

công tác xóa đói giảm nghèo Các công trình khoa học, bài viết về tỉnh Bình Dương

đã phản ánh nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống kinh tế - xã hội của tỉnh Tuy nhiên, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào phân tích, lý giải một cách khoa học về sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bình Dương về công tác XĐGN, về thực trạng, nguyên nhân, những thành tựu và hạn chế cũng như rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo tại Bình Dương Mặc

dù vậy, đó sẽ là những nguồn tại liệu vô cùng quý giá, là cơ sở để tác giả luận văn tiếp thu, kế thừa và phát triển

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của đề tài là nhằm đánh giá quá trình lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Bình Dương trong giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2010 Từ mục đích đó, Luận văn có những nhiệm vụ sau:

- Làm rõ những đặc điểm kinh tế - xã hội tác động đến đời sống sinh hoạt của

bộ phận những người đói nghèo tại Bình Dương, nguyên nhân dẫn đến đói nghèo và

vị trí của công tác xóa đói giảm nghèo trong chính sách của Đảng, Nhà nước nói chung và của tỉnh Bình Dương nói riêng

- Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bình Dương đối với công tác xóa đói giảm nghèo thông qua những chủ trương, chính sách và quá trình lãnh đạo thực hiện

- Đánh giá kết quả lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo của Đảng

bộ tỉnh Bình Dương trong giai đoạn 1997 – 2010 Làm rõ những thành tựu và hạn chế trong việc chỉ đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ Bình tỉnh

- Rút kết những bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Bình Dương, đề xuất một số giải pháp để công tác xóa đói giảm nghèo ở Bình Dương trong những năm tới được thực hiện tốt hơn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của Luận văn bao gồm:

Khách thể nghiên cứu là Đảng bộ Bình Dương từ Đảng bộ tỉnh cho đến chi bộ

ở cấp Phường, Xã, ấp, khu phố…

Đối tượng nghiên cứu là sự lãnh đạo của Đảng bộ Bình Dương thông qua sự quán triệt chỉ đạọ của Trung ương và chủ trương, chính sách cụ thể của các cấp ủy

Trang 13

5 Nguồn tài liệu và Phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tài liệu:

Những tài liệu được sử dụng trong luận văn gồm nhiều nguồn khác nhau:

- Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, những chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là những chủ trương chính sách trong việc thực hiện chính sách xã hội nói chung và công tác xóa đói giảm nghèo nói riêng

- Các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Bương, các chính sách cụ thể hóa chỉ đạo của Trung ương và cụ thể hóa chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh về thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo của UBND tỉnh, các sở, ban ngành có liên quan Các báo cáo của Ban xóa đói giảm nghèo tỉnh

- Các báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh và phương hướng, nhiệm vụ những năm từ 1997 đến 2010 của UBND tỉnh Bình Dương được lưu giữ tại Trung tâm văn thư lưu trữ tỉnh

- Nguồn số liệu thống kê về những chuyển biến kinh tế - xã hội của cục Thống kê tỉnh Bình Dương từ năm 1997 đến năm 2010

- Các báo cáo tổng kết và phương hướng nhiệm vụ hàng năm của Sở LĐTB&XH, Sở Y tế, Sở Tài chính, Sở Văn hóa, hội Nông dân, tỉnh Đoàn, hội Phụ

nữ, UBMTTQ tỉnh Bình Dương …từ năm 1997 đến năm 2010

- Các đề án, chương trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống người dân của UBND tỉnh và các sở, ban, ngành có liên quan Một số tài liệu, thư

mục toàn văn liên quan đến Đất và người BD của thư viện tỉnh, Sở văn hóa thông

tin Một số bài viết trong các tập san BD, BD cuối tuần, Lao động Bình BD, …

Trang 14

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình thực hiện đề tài, phương pháp lịch sử và phương pháp logic là hai phương pháp chính mà tác giả luận văn luôn vận dụng Qua kết hợp hai phương pháp nghiên cứu này, quá trình chỉ đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Bình Dương trong những bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung được xem xét trên các giai đoạn phát triển kế tiếp nhau với những mục tiêu, nhiệm vụ, với những tính chất và trạng thái cụ thể Nhờ đó tác giả thấy được những điều chỉnh trong chỉ đạo và lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo của tỉnh trên cơ sở quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, thấy được những thành quả trong thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh

Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp cũng được vận dụng trong

đề tài Qua phân tích để thấy được những nét đặc thù, những thuận lợi, khó khăn cụ thể của tỉnh, những nguyên nhân của những thành tựu đã đạt được và hạn chế còn tồn tại trong quá trình thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo ở Bình Dương Qua phương pháp tổng hợp để rút ra cái toàn cục, những nét nổi bật của Bình Dương trong quá trình chỉ đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn cung cấp khá đầy đủ và có hệ thống về những tư liệu, số liệu liên quan đến quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ Bình Dương trong giai đoạn 1997 – 2010

Ngoài ra luận văn cũng đã làm rõ nguyên nhân dẫn đến đói nghèo ở Bình Dương và những chủ trương, biện pháp mà Đảng bộ Bình Dương đã triển khai thực hiện nhằm giải quyết thực trạng đói nghèo trên địa bàn tỉnh Qua đó luận văn cũng nêu lên được những thành tựu và những mặt hạn chế trong quá trình lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ Bình Dương trong giai đoạn 1997 –

2010, đồng thời rút ra một số bài học kinh nghiệm để làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ Bình Dương nói riêng và đối với Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung

Những kết quả, kết luận trong luận văn có thể được sử dụng làm nguồn tư liệu cho việc nghiên cứu và giảng dạy; làm cơ sở để dự báo, định hướng về chiến lược xóa đói giảm nghèo tại nhiều địa phương trong cả nước

Trang 15

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài danh mục tài liệu tham khảo, bảng biểu, phụ lục, danh mục từ viết tắt, phần dẫn luận và phần kết luận, luận văn được kết cấu gồm 3 chương và 9 tiết:

CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ SỰ QUÁN TRIỆT CỦA ĐẢNG BỘ BÌNH DƯƠNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO THỜI KỲ TRƯỚC 1997

CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH DƯƠNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO (1997 – 2010)

CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG BỘ BÌNH DƯƠNG GIAI ĐOẠN 1997 – 2010

Trang 16

CHƯƠNG 1:

QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ SỰ QUÁN TRIỆT CỦA ĐẢNG BỘ BÌNH DƯƠNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC

XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO THỜI KỲ TRƯỚC 1997

1.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Ngày 01/01/1997, tỉnh Bình Dương chính thức được tái lập với 4 đơn vị hành chính, gồm Thị xã Thủ Dầu Một và các huyện Thuận An, Tân Uyên, Bến Cát; 4 xã Minh Hòa, Minh Thạnh, Minh Tân và Trừ Văn Thố thuộc huyện Bình Long (Bình Phước) được chuyển cho huyện Bến Cát; 5 xã An Linh, Phước Sang, Tân Hiệp, An Bình, Vĩnh Hòa, và thị trấn Phước Vĩnh của huyện Đồng Phú (Bình Phước) được chuyển giao cho huyện Tân Uyên

Sau khi chia tách, Bình Dương có diện tích 2.718,50 km2, dân số 648.317 người Cơ cấu hành chính của tỉnh gồm: thị xã Thủ Dầu Một, các huyện Thuận An, Tân Uyên, Bến Cát với 77 xã, phường và thị trấn [2; Tr 364]

Cuối tháng 8/1999, Chính phủ quyết định thành lập thêm 3 huyện Dĩ An, Dầu Tiếng, Phú Giáo và lập thêm các xã Định Thành thuộc huyện Dầu Tiếng, Bình An thuộc huyện Dĩ An

Bình Dương thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (gồm thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh, Long An và Tiền Giang) Với tọa độ địa lý 10o51' 46" -

11o30' Vĩ độ Bắc, 106o20' - 106o58' kinh độ Đông, Bình Dương tiếp giáp với các tỉnh, thành: phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước; phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh; phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai; phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh Bình Dương được xem là cửa ngõ vào thành phố Hồ Chí Minh, thông thương giữa trung tâm công nghiệp đô thị lớn với các tỉnh miền Đông Nam Bộ và Nam Tây Nguyên; là trung tâm của các đầu mối giao thông huyết mạch, có khả năng tiếp nhận các cơ sở công nghiệp từ đô thị chuyển ra đồng thời là vành đai cung cấp thực phẩm cho các vùng đô thị Với vị trí địa lý tự nhiên, Bình Dương có tiềm năng đa dạng và

có điều kiện thuận lợi để xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội

Trang 17

Về mặt thổ nhưỡng, đất Bình Dương tương đối phì nhiêu và phong phú về chủng loại:

- Vùng thung lũng bãi bồi, phân bố dọc theo các sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Bé Đây là vùng đất thấp, phù sa mới, khá phì nhiêu, bằng phẳng

- Vùng địa hình bằng phẳng, nằm kế tiếp sau các vùng thung lũng bãi bồi

- Vùng địa hình đồi thấp có lượn sóng yếu, nằm trên các nền phù sa cổ, chủ yếu là các đồi thấp với đỉnh bằng phẳng, liên tiếp nhau Các nhà thổ nhưỡng đã tìm thấy ở Bình Dương 7 loại đất khác nhau, nhưng chủ yếu là đất xám và đất đỏ vàng Theo kết quả tổng điều tra đất năm 2000 thì hai loại đất này chiếm 76,5% diện tích

tự nhiên toàn tỉnh, trong đó đất xám chiếm 52,5%; đất đỏ vàng chiếm 24,0%

Với địa hình cao trung bình từ 6 - 60m, nên chất lượng và cấu trúc đất Bình Dương không chỉ thích hợp với các loại cây trồng mà còn rất thuận lợi đối với việc xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển các khu công nghiệp Địa hình Bình Dương tương đối bằng phẳng, ít bị lũ lụt, ngập úng, nhìn chung các yếu tố thời tiết vẫn tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp

Nhìn chung, Bình Dương là vùng có địa hình chuyển tiếp giữa hai kiến trúc hình thái: đồng bằng bóc mòn – xâm thực, tích tụ với đồi núi sót của vùng Đông Nam Bộ (phía Đông Bắc Bình Dương) thích hợp cho việc trồng các loại cây dài ngày, cây ăn quả Địa hình tương đối bằng phẳng, kết cấu địa chất vững chắc phù hợp để xây dựng các khu công nghiệp, phát triển giao thông, đô thị; các trung tâm thương mại, dịch vụ

Trang 18

Về khí hậu và thời tiết, cũng giống như các tỉnh khu vực Miền Đông Nam bộ, Bình Dương mang những đặc trưng điển hình của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng

ẩm và một năm chia thành hai mùa rõ rệt: mùa nắng và mùa mưa Mùa mưa kéo dài

từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau Nhìn chung, Bình Dương không có biến động lớn về thời tiết như bão, lũ lụt… Bình Dương là một trong số ít địa phương có được sự ưu đãi nhiều mặt của tự nhiên, ít ảnh hưởng bất lợi của thời tiết như nhiều vùng, miền khác trong cả nước

Nhiệt độ trung bình hàng năm là 26,50 C, tháng cao nhất 29 0 C (tháng 4) và thấp nhất là 240 C (tháng 1) Lượng mưa trung bình hàng năm là khoảng từ 1.800 mm đến 2.000mm

Về tài nguyên khoáng sản, Bình Dương có nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối phong phú và đa dạng, nhất là các loại khoáng sản phi kim loại có nguồn gốc magma, trầm tích, phong hóa đặc thù, phân bố tại 82 vùng mỏ lớn nhỏ với các loại cơ bản là than bùn, cao lanh, đất sét, đá xây dựng và cát xây dựng,… Đây chính

là nguồn nguyên liệu cho một số ngành nghề truyền thống thế mạnh của tỉnh như: gốm sứ, vật liệu xây dựng, khai khoáng, …

Với vị trí địa lý và điều kiện khí hậu thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên phong phú Từ lâu, cư dân ở vùng đất Bình Dương đã biết phát huy lợi thế của mình để xây

Trang 19

dựng nhiều ngành kinh tế truyền thống có giá trị cao, phục vụ đắc lực cho đời sống nhân trong vùng và các vùng phụ cận Đây là nhân tố quan trọng trong việc từng bước ổn định đời sống nhân dân, nhất là thời kỳ sau chiến tranh

1.1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội

Trong đó:

GDP và cơ cấu GDP tỉnh Bình Dương giai đoạn 1996 – 2010 [84; Tr 41]

Tốc độ tăng trưởng của các ngành công nghiệp – xây dựng tăng rất nhanh thời

kỳ 1997 – 2000 với 21,8%/năm; thời kỳ 2001 – 2005 tăng 20,4%/năm và thời kỳ

2006 – 2010 tăng 11,4%/năm Trong các thời kỳ tương ứng, khu vực dịch vụ có tốc

độ tăng trưởng thấp hơn: 1997 – 2000: 9,0%/năm, 2001 – 2005: 14,9%/năm và tăng

Trang 20

nhanh hơn ở thời kỳ 2006 – 2010 với 24,1%/năm Các ngành nông – lâm – ngư nghiệp có tốc độ tăng 3,73%/năm thời kỳ 1997 – 2000, 2,31%/năm thời kỳ 2001 –

2005 và thời kỳ 2006 – 2010 tăng thấp hơn với 2,1%/năm

Từ năm 1986 – 1996, tỉnh Sông Bé đã từng bước xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp; hình thành cơ chế quản lý mới; huy động mọi nguồn lực, các thành phần kinh tế tham gia phát triển sản xuất kinh doanh Tuy nhiên trong giai đoạn này, cơ cấu nền kinh tế của tỉnh vẫn là nông nghiệp – công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – dịch vụ “Năm 1990, tỷ trọng công nghiệp chiếm 10,35%; nông – lâm nghiệp chiếm 63,84%; dịch vụ chiếm 25,81% Đến năm 1995, tỷ trọng công nghiệp tăng lên 25%; nông – lâm nghiệp chiếm 50%; dịch vụ chiếm 25%” [2; Tr 328]

Bước vào thời kỳ chia tách tỉnh, đứng trước thực trạng trên, Đảng bộ tỉnh Bình Dương đã quán triệt sâu sắc các Nghị quyết của Trung ương Đảng về việc đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước; đồng thời xác định phương hướng, nhiệm vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Năm 1997, cơ cấu kinh tế của tỉnh theo công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp

có tỷ trọng tương ứng trong GDP: 50% - 27% - 23% [25; Tr 9] Giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh ước đạt 3.800,6 tỷ đồng Tỉnh đã quy hoạch 13 khu công nghiệp tập trung với tổng diện tích đạt 6.200 ha, có 7 khu công nghiệp được cấp phép hoạt động với tổng diện tích 1.603 ha, vốn đầu tư ban đầu khoảng 343,4 triệu USD, đã có 89 dự án đầu tư với số vốn 260 triệu USD, trong đó có 55 dự án đầu tư nước ngoài và 34 dự án vốn đầu tư trong nước [2; Tr 370]

Trên địa bàn tỉnh Bình Dương có 2.869 đơn vị sản xuất công nghiệp với 22 doanh nghiệp nhà nước, 2 hợp tác xã, 200 doanh nghiệp tư nhân, 22 công ty trách nhiệm hữu hạn, 5 công ty cổ phần, 63 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 2.478 cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ

Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá trị thực tế năm 1997 đạt 5.456 tỷ đồng, trong đó khu vực Nhà nước đạt 978,7 tỷ đồng, khu vực ngoài Nhà nước đạt 2.081,7

tỷ đồng, khu vực FDI đạt 2.395,6 tỷ đồng

Trong nông – lâm nghiệp, tổng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp năm

1997 đạt 1.227,2 tỷ đồng; trong đó trồng trọt đạt 995,8 tỷ đồng, chăn nuôi đạt 199,6

tỷ đồng và dich vụ nông nghiệp đạt 31,8 tỷ đồng Trong thương mại – dịch vụ, hoạt

Trang 21

Các chương trình, đề án, kế hoạch phát triển công nghiệp nhanh, bền vững đã tạo được những chuyển biến tích cực về thu hút đầu tư, mở ra các ngành sản xuất mới, nâng cao trình độ công nghệ, tăng kim ngạch xuất khẩu và tăng nguồn thu ngân sách Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống được quan tâm, hỗ trợ phát triển ổn định

Năm 2010, toàn tỉnh có 28 khu công nghiệp tập trung với tổng diện tích 8.751

ha Hiện có 24 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động ổn định với trên 1.200 doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh; tỷ lệ cho thuê đất đạt 60% Đã hình thành 8 cụm công nghiệp với tổng diện tích 600 ha [31; Tr.38 - 39]

- Về dịch vụ, thương mại:

Giai đoạn 2006 – 2010, GDP dịch vụ tăng bình quân 24,1% hàng năm [31; Tr.339] Các ngành dịch vụ như: bưu chính viễn thông, ngân hàng, công nghệ thông tin, vận tải, du lịch, … phát triển mạnh, đa dạng với nhiều thành phần kinh tế tham gia, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của tỉnh

Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 22,9% hàng năm, năm 2010 đạt 8,5 tỷ USD Các mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn là: sản phẩm gỗ, giày da, dệt may, sản phẩm cao su, hàng thủ công mỹ nghệ, điện – điện tử, …

Kim ngạch nhập khẩu tăng bình quân 21,1% hàng năm; năm 2010 đạt 7,2 tỷ USD Hàng nhập khẩu chủ yếu là vật tư, nguyên liệu, máy móc thiết bị để đổi mới

Trang 22

công nghệ, hình thành tài sản cố định của các doanh nghiệp phục vụ sản xuất kinh doanh

- Trong nông, lâm và ngư nghiệp:

Trong giai đoạn 2006 – 2010, các ngành nông, lâm, ngư nghiệp tuy giảm tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế nhưng giá trị sản xuất vẫn tăng bình quân 4,7%/năm Trong đó nông nghiệp tăng 4,6%/năm, lâm nghiệp tăng 4,1%/năm và ngư nghiệp tăng 12,4%/năm [31; Tr.41] Lao động trong nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp chiếm 12 % trong tổng số lao động và đang từng bước giảm xuống thấp hơn

Trong nông nghiệp: ngành trồng trọt tăng bình quân 3,2%/năm, ngành chăn nuôi tăng 13,7% hàng năm Tỷ trọng trồng trọt – chăn nuôi đến năm 2010 là 70,6% - 29,4% Cây lâu năm và chăn nuôi tiếp tục là thế mạnh của nông nghiệp tỉnh Bình Dương Các vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi ngày càng phát triển ổn định

Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp luôn được chú trọng Tỉnh đã triển khai và xây dựng 3 khu nông nghiệp công nghệ cao là xã An Thái (424 ha), xã Phước Sang (500 ha) và xã Hiếu Liêm (89.9 ha) Các loại dịch vụ trong nông nghiệp từng bước được mở rộng, đa dạng và phát triển mạnh

Kinh tế trang trại tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong phát triển kinh

tế - xã hội ở nông thôn Các hợp tác xã nông nghiệp không ngừng được củng cố và đổi mới về phương thức hoạt động gắn với lợi ích thiết thực của các xã viên Các công ty cao su trên địa bàn tỉnh hoạt động có hiệu quả góp phần quan trọng vào chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của tỉnh và cũng

có đóng góp quan trọng vào việc thực hiện chương trình XĐGN

- Về đầu tư phát triển và thu hút vốn đầu tư nước ngoài:

Trong giai đoạn 2006 – 2010, tổng vốn đầu tư phát triển tăng bình quân 14,7% Trong đó, vốn nhà nước chiếm 8,8%; vốn tín dụng chiếm 4,2%; doanh nghiệp trong nước và tư nhân chiếm 34,5%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 52,3% và vốn khác chiếm 0,3%.[31; Tr.348]

Vốn đầu tư phát triển từ ngân sách chiếm 40% tổng chi ngân sách của tỉnh, chủ yếu dùng để phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội như y tế, giáo dục, giao thông, …

Tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đang hoạt động đến hết năm 2010 là 9.012 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký là 60.723 tỷ đồng Toàn tỉnh có 1.922

Trang 23

dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư trên 13 tỷ USD Các lĩnh vực thu hút vốn đầu tư lớn nhất là: bất động sản, sản xuất phụ tùng xe, hàng gia dụng, … Hiện tại, các doanh nghiệp thuộc khối FDI đã giải ngân trên 50% vốn đăng ký

Năm 2010, toàn tỉnh còn 9 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đang hoạt động

có hiệu quả Kinh tế tập thể từng bước được củng cố

Như vậy, trải qua gần 15 năm xây dựng và phát triển Với nỗ lực to lớn của Đảng bộ, chính quyền các cấp và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, Bình Dương đã từng bước chuyển mình, trở thành một trong những tỉnh thành đi đầu trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cơ cấu kinh tế đã thay đổi theo hướng tích cực một cách toàn diện Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao Đây chính là những nhân tố vô cùng quan trọng, là động lực để các cấp ủy Đảng, các cấp chính quyền cùng các tổ chức chính trị xã hội, các doanh nghiệp cùng đông đảo quần chúng nhân dân trong tỉnh có thể đẩy mạnh và thực hiện hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN

b Về dân số:

Qua các di chỉ khảo cổ Vườn Dũ, Cù Lao Rùa – Gò Đá, Dốc Chùa (Tân Uyên) cho thấy cách đây hàng ngàn năm, con người đã sinh sống trên địa bàn tỉnh Bình Dương ngày nay Một số các nhóm dân tộc bản địa như: S’tiêng, Mơnông, Châu ro, Châu mạ, Khmer,… từng bước được hình thành

Đến thế kỷ XVII, cũng như những vùng đất khác ở Đồng Nai – Gia Định, vùng đất Bình Dương ngày nay đã trở thành địa bàn cư trú của một số lượng không nhỏ lưu dân người Việt từ miền Thuận - Quảng vào sinh sống do không chịu nổi chính sách bóc lột của triều đình phong kiến Đến khi cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn diễn ra thì tiến trình di cư của người Việt vào phương Nam càng diễn ra mạnh mẽ hơn Điều này làm cho các nhóm dân cư sinh sống ở Bình Dương ngày càng nhiều hơn Cùng với quá trình di dân của người Việt vào phương Nam, vào khoảng cuối thế kỷ XVII, Chúa Nguyến đã cho phép một nhóm người Hoa “phản Thanh phục Minh” lánh nạn vào đây sinh sống Đến cuối thế kỷ XVII, ở Bình Dương đã có hơn 40.000 hộ dân sinh sống và được phân bố hầu khắp trên địa bàn Đến năm 1698, Chúa Nguyễn Phúc Chu phái Thống Suất Chưởng Cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất phía Nam

Trang 24

“kinh tế mới” của Đảng và Nhà nước

Dân số Bình Dương tính đến ngày 01/04/2009 theo kết qủa của cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở là 1.481.550 người, với 470.098 hộ Mật độ dân số bình quân 550 người/km2

Trong đó:

Đơn vị hành chính (ngDân số ười)

Mật độ dân số

(ng ười/km 2 )

Toàn tỉnh 1.481.550 550

Thủ Dầu Một 222.845 2.536 Dầu Tiếng 1.0.421 143 Bến Cát 192.818 330 Phú Giáo 83.555 154 Tân Uyên 204.825 334

Dĩ An 298.515 4.967 Thuận An 375.571 4.457

(Ngu ồn: Cục thống kê tỉnh Bình Dương, số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở

Từ tháng 4/2004 đến 1/4/2009, tỉnh Bình Dương có 499.781 người nhập cư từ các tỉnh khác; các tỉnh có số người nhập cư đến Bình Dương nhiều nhất là: Thanh Hóa (58.905 người), An Giang (42.933 người), Nghệ An (35.489 người), thành phố

Hồ Chí Minh (32.534 người), … [10; Tr 47 – 48]

Trang 25

Về thành phần dân tộc, Bình Dương hiện có 54 tộc người sinh sống (chưa kể

47 người nước ngoài) Trong đó, có 7 tộc người có số dân trên 1.000 người bao gồm: Kinh (1.421.233 người), Hoa (18.783 người), Khơme (15.435 người), Mường (10.227 người), Tày (5.443 người), Thái (3.869 người), Nùng (3.050 người); có 12 tộc người dưới 10 người bao gồm: Ơ du (1 người), Brâu (1 người), Lào (1 người),

Pu Péo (2 người), Phù Lá (2 người), Ngái (2 người), …

c Về văn hóa – xã hội:

- Giáo dục:

Đến năm 2010, toàn tỉnh có 369 đơn vị trường học với 215.333 học sinh; hệ thống trường học đã được kiên cố hóa với 53,93% trường học được lầu hóa, 46,84% trường học các cấp đạt chuẩn quốc gia

Tỷ lệ huy động trẻ em 5 tuổi vào mẫu giáo đạt 100%, 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100% Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn chiếm 98,56%, trong đó có 38,07% đạt trên chuẩn Các huyện, thị xã đều duy trì phổ cập giáo dục tiểu học theo đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở; có 70% các xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập trung học, 89%

xã, phường, thị trấn có trung tâm học tập cộng đồng

Đào tạo Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề phát triển nhanh về quy mô, số lượng và ngành nghề đào tạo Đến năm 2010, trên địa bàn có 7 trường Đại học, 7 trường Cao đẳng, 13 trường Trung cấp và 30 cơ sở đào tạo nghề

Chủ trương xã hội hóa giáo dục – đào tạo được nhiều đơn vị, cá nhân trong và ngoài tỉnh ủng hộ, hưởng ứng, tham gia đầu tư

- Y tế:

Mạng lưới y tế cơ sở không ngừng được củng cố và phát triển Việc chăm sóc sức khỏe cho người dân bước đầu được đẩy mạnh, khống chế có hiệu quả các dịch bệnh nguy hiểm Vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh lao động từng bước được quản

lý Y tế chất lượng cao bước đầu phát triển thông qua đào tạo nguồn nhân lực, nâng cấp, mở rộng các cơ sở y tế, các bệnh viện chuyên khoa Việc thu hút các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng cơ sở vật chất đã góp phần tăng thêm trang thiết bị hiện đại cho ngành Đến hết năm 2010, toàn tỉnh có 13 bệnh viện đa khoa, 05 bệnh viện chuyên khoa, 40 phòng khám đa khoa khu vực và 2.136 cơ sở hành nghề y dược Bình quân đạt 23 giường bệnh/vạn dân

Trang 26

Các chương trình mục tiêu y tế quốc gia được thực hiện có hiệu quả Tỷ lệ trẻ

em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm xuống còn 14% Tỷ suất trẻ em dưới 1 tuổi chết là 9/1.000, tỷ lệ tiêm chủng đạt 100% Có 100% trạm y tế cấp xã, phường, thị trấn có bác sĩ phục vụ; 7% các xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế Thực hiện bảo hiểm y tế đạt 64,5% dân số, trong đó có 100% hộ nghèo

- Văn hóa, thể dục thể thao:

Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các chủ trương lớn của địa phương được thực hiện tốt Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” phát triển, đi vào chiều sâu và chú trọng chất lượng Đến năm 2010, toàn tỉnh có 87,73% hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa, có 63,19% khu phố, ấp đạt tiêu chuẩn khu phố, ấp văn hóa và tiên tiến

Phong trào thể dục, thể thao trong quần chúng phát triển Số gia đình tham gia thể dục, thể thao đạt 21,1%, số người luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên đạt 23,6%, giáo dục thể chất trong hệ thống trường học được thực hiện nề nếp Thể thao thành tích cao có nhiều kết quả khích lệ

Số lượng các doanh nghiệp hoạt động du lịch và dịch vụ tăng nhanh Các khu, điểm du lịch được hình thành, phát triển đã thu hút lượng khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan ngày càng nhiều

Các thiết chế văn hóa, thể thao được quan tâm đầu tư theo từng vùng Tỷ lệ

xã, phường, thị trấn có thiết chế văn hóa đạt 28% Một số cơ sở hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao và du lịch được các thành phần kinh tế đầu tư bước đầu đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ, giải trí và rèn luyện sức khỏe của nhân dân

Vai trò, vị trí quan trọng của gia đình trong phát triển kinh tế - xã hội được đa

số nhân dân nhận thức rõ hơn Luật phòng chống bạo lực gia đình, Luật bình đẳng giới, Luật hôn nhân và gia đình, lối sống của gia đình Việt Nam, gia đình văn hóa được triển khai có hiệu quả Nhiều câu lạc bộ gia đình hạnh phúc hình thành và hoạt động sôi nổi ở các địa phương trong tỉnh

Như vậy, những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có nhiều điểm thuận lợi để tỉnh Bình Dương phát huy những lợi thế, điểm mạnh trong việc xây dựng và phát triển kinh tế ở địa phương Nhìn chung, “Bình Dương là tỉnh có

Trang 27

tiềm năng về tài nguyên, nhân lực; nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; có

vị trí địa lý thuận lợi trong giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật với các tỉnh liên vùng, ngoài vùng và cả quốc tế.” [2, Tr 336]

Bên cạnh đó, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, Bình Dương vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém như: về kinh tế, tốc độ kinh tế phát triển nhanh nhưng chưa ổn định, nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào các nhân tố bên ngoài như vốn đầu tư nước ngoài, phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu để phát triển kinh tế công nghiệp, thị trường xuất khẩu, kinh tế nông nghiệp tuy tăng trưởng nhưng chưa cao, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp còn nhiều hạn chế nhất là kinh tế cá thể, vùng sâu, vùng xa…; về xã hội, bên cạnh những thành tựu đáng khích lệ đã đạt được thì vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế như: tỷ lệ thất nghiệp còn cao, số người làm những công việc tạm thời còn nhiều, chất lượng lao động chưa cao, các tệ nạn xã hội còn chưa được giải quyết triệt để, vấn đề tạo việc làm ổn định cho những người bị mất đất do đô thị hóa và xây dựng các khu công nghiệp chưa được thực hiện tốt Tất cả những yếu tố đó đã tác động tiêu cực đến đời sống của nhân dân, đặc biệt là những

hộ nghèo, những người có thu nhập thấp và những hộ cận nghèo trong toàn tỉnh

Việc giải quyết những mặt hạn chế về kinh tế - xã hội, thực hiện tốt chủ trương của Đảng và nhà nước về XĐGN sẽ là chìa khóa để Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bình Dương thực hiện thành công công tác XĐGN ở địa phương

1.2 NHỮNG NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN ĐÓI NGHÈO TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG

Nguyên nhân đói nghèo ở Việt Nam nói chung và Bình Dương nói riêng rất

đa dạng Có những nguyên nhân độc lập lại có những nguyên nhân đan xen và quan

hệ chặt chẽ với nhau Ở đây chỉ tập trung tìm hiểu những nguyên nhân chính dẫn tới đói nghèo tại tỉnh Bình Dương:

- Nguồn lực hạn chế và nghèo nàn:

Trên thực tế, người nghèo thường thiếu các nguồn lực để tự mình có thể vươn lên thoát nghèo và thoát nghèo bền vững Họ rơi vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói Người nghèo có khả năng tiếp tục nghèo vì họ không thể đầu tư vào nguồn vốn nhân lực của họ Ngược lại nguồn vốn nhân lực thấp lại cản trở họ thoát khỏi đói nghèo Các hộ nghèo ở các vùng nông thôn thường có ít đất đai và tình trạng không có đất

Trang 28

để phục vụ sản xuất ngày càng có xu hướng tăng lên Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Bình Dương, năm 1997 toàn tỉnh có 6.467 hộ ở nông thôn không có đất sản xuất, số hộ nông dân có diện tích dưới 1 ha/hộ có 15.832 hộ Việc thiếu đất đai để sản xuất ở nông thôn ảnh hưởng rất lớn đến việc thoát nghèo, giải quyết việc làm tại chỗ cho người dân Các đối tượng này thường phải hướng đến các công việc tạm thời, mang tính chất mùa vụ, việc làm và nguồn thu nhập bấp bênh, thậm chí rơi vào tình trạng thất nghiệp

Mặc dù Bình Dương là tỉnh được thiên nhiên ưu đãi Tuy nhiên, ở rất nhiều địa bàn trong tỉnh, điều kiện sống của người dân còn gặp rất nhiều khó khăn Đa số người nghèo ở tỉnh Bình Dương sinh sống trong các vùng tài nguyên nghèo nàn, đất canh tác xấu, chịu ảnh hưởng trước những biến động của thời tiết nhất là khu vực phía Bắc của tỉnh thuộc các huyện Bến Cát, Dầu Tiếng, Phú Giáo, Tân Uyên Ở các địa bàn này, mùa khô thường xuyên rơi vào tình trạng thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất, mùa mưa thị bị ảnh hưởng bởi lũ lụt Nên đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân còn gặp nhiều khó khăn

Đặc biệt, tại những vùng này, sự kém phát triển về hạ tầng cơ sở đã tạo nên sự khác biệt về mặt bằng chung so với các địa phương khác trong tỉnh Khi mới chia tách tỉnh, nhiều xã ở các khu vực này còn chưa có đường đường dân sinh đến trung tâm xã, chưa có đủ số phòng học, trạm y tế còn tạm bợ, chưa có nước sạch phục vụ sinh hoạt, chưa có đường điện đến trung tâm xã, nhiều xã chưa có chợ và các công trình thủy lợi phục vụ sản xuất Trong đó phải kể đến các xã như Minh Hòa, Minh Tân thuộc huyện Bến Cát; An Linh, Phước Sang, Tân Hiệp thuộc huyện Tân Uyên,… Bên cạnh đó, do điều kiện thiên nhiên không thuận lợi, số người trong diện cứu trợ đột suất hàng năm khá cao, nhất là những khi giáp vụ, thiên tai

Tuy nền kinh tế nông nghiệp của Bình Dương khá phát triển do chủ yếu trồng các loại cây công nghiệp lâu năm, phát triển kinh tế trang trại, nhưng đa số các hộ nghèo thường rơi vào tình trạng thiếu hoặc không có đất để canh tác Nếu có họ cũng chủ yếu lựa chọn phương án sản xuất tự cung, tự cấp, thiếu tiền đề để thực hiện các phương án sản xuất mang lợi nhuận cao hơn như thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi hay áp dụng các tiến bộ khoa học – kỹ thuật Do vẫn theo phương pháp sản xuất truyền thống nên giá trị sản phẩm và năng suất cây trồng, vật nuôi còn thấp,

Trang 29

Người nghèo cũng còn hạn chế trong việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng

Sự hạn chế của nguồn vốn là một trong những nguyên nhân trì hoãn khả năng đổi mới sản xuất, áp dụng khoa học công nghệ, giống mới hay chuyển sang làm các ngành nghề khác Mặc dù dự án tín dụng ưu đãi cho người nghèo thuộc Chương trình XĐGN quốc gia đã giúp cho khả năng tiếp cận tín dụng của người nghèo tăng lên, song vẫn còn khá nhiều hộ nghèo, do không có tài sản thế chấp nên không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi Họ phải dựa vào tín chấp với các khoản vay nhỏ, hiệu quả thấp đã làm giảm khả năng hoàn trả vốn Bên cạnh đó, do đa số hộ nghèo không có kế hoạch sản xuất cụ thể hoặc sử dụng các nguồn vốn vay không đúng mục đích nên cuối cùng họ khó có điều kiện tiếp cận với các nguồn vốn

Đa số người dân tộc thiểu số đều sinh sống trong các địa bàn vùng sâu, vùng xa của tỉnh, một phần họ bị cô lập về mặt địa lý, văn hóa, thiếu điều kiện về phát triển

hạ tầng cơ sở và các dịch vụ xã hội cơ bản Tập quán trong sản xuất và sinh hoạt còn nhiều hạn chế dẫn đến tỷ lệ hộ đói nghèo trong các vùng dân tộc thiểu số năm 1997 chiếm tới 22% số hộ đồng bào dân tộc thiểu số

Tất cả những nhân tố đó làm cho Công tác XĐGN ở các địa phương này gặp rất nhiều khó khăn, số hộ cận nghèo lớn và nguy cơ tái nghèo luôn thường trực

- Trình độ học vấn thấp, thiếu việc làm và thu nhập không ổn định:

Những người nghèo là những người có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt và ổn định Do thu nhập thấp nên họ không có điều kiện để nâng cao trình độ của mình trong tương lai để thoát khỏi cảnh nghèo khó Do hạn chế về nhận thức nên ảnh hưởng đến các quyết định về giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng và giáo dục con cái đến không những thế hệ hiện tại mà còn cả thế hệ tương lai Suy dinh dưỡng ở trẻ em và trẻ sơ sinh là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng đến trường của con em các gia đình thuộc diện nghèo

Trang 30

Theo số liệu của cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999, tỷ trọng dân số

từ 5 tuổi trở lên chưa bao giờ đi học chiếm 6,9% Đến năm 2009, tỷ lệ này còn 2,6%, trong đó huyện Phú Giáo và huyện Dầu Tiếng có tỷ lệ cao nhất, đều chiếm 4,7% Tỷ

lệ người biết đọc, biết viết của dân số từ 15 tuổi trở lên toàn tỉnh là 96,7% Những huyện tỷ lệ thấp nhất là Dầu Tiếng (94,12%) và huyện Phú Giáo (94,4%); cao nhất

là Dĩ An (98%) và thị xã Thủ Dầu Một (97,29%)

Theo số liệu của cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, số người có trình độ học vấn từ Trung học cơ sở trở lên của tỉnh chiếm 42,9% tổng dân số từ 11 tuổi trở lên, thấp hơn so với tỷ lệ cả nước 1,6% Số người có trình độ học vấn từ Trung học phổ thông trở lên chiếm 15,2% thấp hơn so với cả nước 5,6%

Chi phí cho giáo dục đối với người nghèo còn lớn, chất lượng giáo dục mà người nghèo tiếp cận được còn hạn chế Tỷ lệ nghèo chỉ giảm xuống khi trình độ giáo dục tăng lên Trình độ học vấn thấp đã hạn chế khả năng kiếm việc làm trong các khu vực khác ngoài lao động nông nghiệp và lao động phổ thông Đến năm

2009, toàn tỉnh có 979.618 người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động chiếm 62,07% tổng dân số Số người thất nghiệp là 30.592 người chiếm 3,12% Cụ thể:

Nơi cư trú Số lượng (người) Tỷ trọng (%) Nữ (%)

Tổng số Nam Nữ Tổng số Nam Nữ Tổng số 30.592 17.063 13.529 100 100 100 44,2 Thành thị 10.043 5.637 4.406 32,8 33 32,6 43,9 Nông thôn 20.549 11.426 9.123 67,2 67 67,4 44,4

(Ngu ồn: Cục thống kê tỉnh Bình Dương, số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở

n ăm 2009, 11/2010)

Tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động là 83,31% Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của tỉnh năm 2009 là 10,4%, thấp hơn so với tỷ lệ của cả nước 4,5% và khu vực Đông Nam Bộ 9% Trong tổng số 979.618 người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động, có 102.000 người đã được đào tạo từ trình độ sơ cấp trở lên và còn 877.600 người chưa được đào tạo để đạt trình độ kỹ thuật chuyên môn nào đó Tỷ trọng lực lượng lao động đã qua đào tạo chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật của tỉnh Bình Dương thấp hơn so với toàn quốc và vùng Đông Nam

Bộ, điều đó được thể hiện qua bảng sau:

Trang 31

( Đơn vị tính: Phần trăm)

Nơi cư trú Tổng số Sơ cấp Trung cấp Cao đẳng Đại học Toàn quốc 14,9 3,3 5,1 1,8 5,0 Đông Nam Bộ 19,4 4,7 4,6 1,9 8,1 Bình Dương 10,4 2,9 3,6 1,2 2,7

(Ngu ồn: Cục thống kê tỉnh Bình Dương, số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở

n ăm 2009, 11/2010)

Như vậy, nguồn nhân lực của tỉnh Bình Dương tuy trẻ và dồi dào nhưng trình

độ tay nghề và chuyên môn kỹ thuật thấp Tại Bình Dương, tỷ lệ thất nghiệp luôn được duy trì ở mức thấp (trên dưới 3%), số việc làm mới hàng năm khá lớn Tuy nhiên, do trình độ và tay nghề của nhóm người thu nhập thấp còn hạn chế, lại phải cạnh tranh với lao động từ các tỉnh thành khác nên số lượng khá lớn lao động ở Bình Dương, đặc biệt là lao động thuộc diện nghèo đang làm những công việc tạm thời, mang tính chất mùa vụ Cùng với đó là những biến động, khó khăn trong kinh tế nói chung đã khiến cho nhiều doanh nghiệp bị làm ăn thua lỗ, dẫn tới phá sản Điều này làm cho tỷ lệ hộ nghèo thường có mức biến động lớn.

Về phân chia lao động theo ngành nghề Trong tổng số 946.974 lao động đang làm việc, số người lao động thủ công chiếm 160.585 người, tương đương tỷ 17%; số người tham gia lao động giản đơn chiếm 141.004 người, tương đương 14,9%

Trong giai đoạn đầu thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN, một phần thu nhập không nhỏ của các hộ gia đình ở Bình Dương đến từ nông nghiệp, với những nguồn lực hiện có của địa phương, thu nhập của người nghèo còn bấp bênh và dễ bị tổn thương trước những đột biến của mỗi gia đình và cộng đồng Nhiều hộ gia đình tuy mức thu nhập ở trên ngưỡng nghèo, nhưng vẫn còn giáp ranh với ngưỡng nghèo đói Do vậy, khi có những dao động về thu nhập cũng có thể khiến cho họ trượt xuống ngưỡng nghèo Tính mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp cũng tạo nên khó khăn cho người nghèo

Mức độ cải thiện thu nhập của người nghèo nhìn chung còn chậm hơn so với mứa tăng bình quân thu nhập đầu người trên địa bàn tỉnh Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh năm 1997 là 5.790.000 đồng/năm, năm 2000 là 8.168.000 đồng/năm, năm 2005 là 15.400.000 đồng/người/năm, năm 2010 là 30,1 triệu/năm

Trang 32

Như vậy, so với chuẩn đói nghèo mà tỉnh áp dụng trong giai đoạn này (theo tiêu chí của Trung ương trước năm 2001 và của tỉnh sau này) thì quy định chuẩn nghèo của tỉnh so với thu nhập bình quân trên địa bàn vẫn còn rất thấp Mặc dù chỉ

số nghèo đói đã được cải thiện nhưng mức cải thiện ở nhóm người nghèo chậm hơn

so với mức chung và đặc biệt so với nhóm người có mức sống cao

- Người nghèo chưa có đủ điều kiện tiếp cận với pháp luật, chưa được bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp

Một thực tế đặt ra với cả nước nói chung và Bình Dương nói riêng là đa số người nghèo, người dân tộc ít người và các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thường có trình độ học vấn thấp nên không có khả năng tự giải quyết và bế tắc trong việc tìm giải pháp để giải quyết các vấn đề liên quan đến pháp luật Nhiều văn bản pháp luật có cơ chế thực hiện phức tạp, thủ tục hành chính còn nặng nề Mạng lưới các dịch vụ pháp lý, số lượng các luật gia, luật sư còn hạn chế, chủ yếu tập trung ở thành thị, phí dịch vụ pháp lý còn cao

Việc thiếu thông tin, đặc biệt là các thông tin về pháp luật, chính sách và thị trường đã làm người nghèo ít có cơ hội thoát nghèo hơn

Việc tuyên truyền phổ biến pháp luật, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước; của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các cấp chính quyền còn nhiều hạn chế Hệ thống phát thanh và truyền hình tuy phát triển mạnh, thục hiện khá tốt công tác tuyên truyền Tuy nhiên, người nghèo lại chưa thể tiếp cận với các nguồn thông tin này do thiếu các phương tiện nghe, nhìn, điện,…

- Nguyên nhân về nhân khẩu học:

Quy mô hộ gia đình là “mẫu số” quan trọng có ảnh hưởng đến mức thu nhập bình quân của các thành viên trong hộ gia đình Đông con vừa là nguyên nhân vừa là

hệ quả của nghèo đói Tỷ lệ sinh trong các hộ nghèo còn cao Quy mô hộ gia đình lớn làm cho tỷ lệ người phụ thuộc tăng theo

Năm 2009, tổng số hộ trong tỉnh là 475.236 hộ Trong đó: số hộ từ 5 đến 7 người chiếm 14,3% với 68.098 hộ; số hộ từ 8 người trở lên chiếm 1,2% với 5.671

hộ Tỷ lệ phụ nữ từ 15 đến 49 tuổi sinh con thứ 3 trở lên chiếm 7,8%, trong đó thành thị chiếm 7,4% và nông thôn chiếm 8,0% [10; Tr 42]

Trang 33

Tỷ số phụ thuộc năm 1999 của tỉnh là 50,6%, trong đó tỷ số phụ thuộc trẻ em dưới 15 tuổi là 43%, người già 7,6% Đến năm 2009, tỷ số phụ thuộc giảm xuống còn 21,1%, trong đó tỷ số phụ thuộc trẻ em là 17,7%, người già 3,4% [10, Tr 31]

Một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ sinh cao trong các hộ nghèo là do

họ không có kiến thức cũng như điều kiện tiếp cận với các biện pháp sức khỏe sinh sản Tỷ lệ đối tượng nghèo sử dụng các biện pháp tránh thai còn hạn chế, chưa có nhận thức đầy đủ về vai trò của công tác kế hoạch hóa gia đình Mức độ hiểu biết của các cặp vợ chồng thuộc diện nghèo về vệ sinh, an toàn tình dục, cũng như mối liên hệ giữa đói nghèo, sức khỏe sinh sản và gia tăng nhân khẩu còn hạn chế

Trong khoảng thời gian 10 năm từ năm 1999 đến năm 2009, dân số của tỉnh tăng thêm 764.889 người, tỷ lệ tăng dân số bình quân là 7,3%/năm Tỷ lệ này cao hơn so với toàn quốc 6,1 lần và cao hơn so với khu vực Đông Nam Bộ 2,3 lần Bình Dương là tỉnh có tỷ lệ tăng dân số cao nhất cả nước Ngoài ra, tốc độ tăng dân số của tỉnh Bình Dương năm 2009 so với năm 1999 là 206,7%, cao hơn gấp 16,5 lần so với toàn quốc và 2,8 lần so với khu vực Điều này là do tỷ lệ tăng dân số của tỉnh còn cao, bên cạnh đó, Bình Dương là một trong những tỉnh có số người nhập cư hàng năm rất lớn

- Bất bình đẳng giới, bệnh tật và sức khỏe yếu kém đẩy người nghèo vào tình trạng nghèo đói trầm trọng

Bất bình đẳng giới làm sâu sắc hơn tình trạng nghèo đói trên tất cả các mặt Ngoài những bất công mà phụ nữ và trẻ em gái phải chịu đựng do bất bình đẳng thì còn có những bất lợi đối với gia đình

Theo cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 về quy mô dân số chia theo giới tính, giới tính nữ có 771.620 người trên tổng dố 1.481.550 người toàn tỉnh, chiếm 52,1% Bình Dương cùng Thành phố Hồ Chí Minh là hai tỉnh có chỉ số giới tính thấp nhất cả nước: 92,1, nghĩa là cứ 100 phụ nữ thì có 92 nam giới [10; Tr.27]

Sự chênh lệch về trình độ chuyên môn kỹ thuật theo giới được thể hiện trong bảng tổng hợp sau:

TỶ TRỌNG DÂN SỐ TỪ 15 TUỔI TRỞ LÊN CHIA THEO TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN KĨ THUẬT, GIỚI TÍNH (Năm 2009)

Trang 34

Giới tính Tổng số Không có

trình độ CMKT Sơ cấp Trung cấp Cao đẳng Đại học Toàn tỉnh 100 88,25 4,27 3,57 1,17 2,74 Nam 100 84,97 6,47 4,25 1,17 3,33

Nữ 100 91,34 2,30 2,69 1,18 2,22

(T ổng hợp từ kết quả Cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở Bình Dương năm 2009)

Qua bảng tổng hợp trên, chúng ta thấy rằng, nam giới có trình độ chuyên môn cao hơn so với nữ giới Tỷ lệ người không có trình độ chuyên môn kỹ thuật của nam giới thấp hơn nữ giới 6,37%, trình độ sơ cấp của nam giới cao hơn phụ nữ 4,17%, trình độ trung cấp của nam giới cao hơn phụ nữ 1,56%, trình độ đại học của nam giới cao hơn phụ nữ 1,11%

Về lao động và việc làm, tỷ lệ nam giới tham gia lao động cao hơn phụ nữ 12,06% (nam giới: 87,70%; nữ giới: 75,64%) cao hơn so với 10,4% của toàn quốc

Ở Bình Dương, tuy phụ nữ chiếm hơn 50% trong tổng số lao động nông nghiệp nhưng họ chiếm chưa tới 20% số người tham gia các đợt tập huấn về trồng trọt và chăn nuôi Phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với công nghệ, thông tin, thiếu quyền quyết định trong hộ gia đình Trình độ học vấn của phụ nữ thấp dẫn tới việc chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em bị hạn chế, sức khỏe gia đình bị ảnh hưởng

Vấn đề bệnh tật và sức khỏe kém ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và chi tiêu của người nghèo Họ phải gành chịu hai gánh nặng từ việc phải chi trả kinh phí điều trị và bị mất tiền lương, công lao động Do vậy, chi phí chữa bệnh là gánh nặng rất lớn đối với người nghèo và đôi khi đưa họ tới bế tắc Trong khi đó, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ phòng bệnh và chữa bệnh của người nghèo còn rất hạn chế Do vậy, việc cải thiện điều kiện sức khỏe cho người nghèo là một trong những yếu tố cơ bản để họ tự thoát nghèo

- Ảnh hưởng của thiên tai và các rủi ro khác

Các hộ nghèo rất dễ bị tổn thương bởi những khó khăn hàng ngày và những biến động bất thường xảy ra đối với cá nhân, gia đình Xuất phát từ nguồn thu nhập của họ thấp, không ổn định, khả năng tích lũy kém nên họ khó có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống như mất mùa, mất việc làm, thiên tai, đau ốm,… Với tiềm lực và khả năng kinh tế mong manh của các hộ gia đình nghèo,

những đột biến này sẽ tạo ra những bất ổn lớn trong cuộc sống của họ

Trang 35

Các rủi ro trong sản xuất, kinh doanh đối với người nghèo cũng rất cao Do họ không có trình độ tay nghề và thiếu kinh nghiệm làm ăn Khả năng đối phó và khác phục các rủi ro của người nghèo cũng rất kém Nguồn thu nhập hạn hẹp làm cho các

hộ nghèo mất khả năng khắc phục rủi ro và có thể gặp rủi ro nhiều hơn nữa

Mỗi năm, tỉnh phải trích ngân sách và huy động hàng chục tỷ đồng để làm công tác hỗ trợ đột xuất, nhất là đối với các đối tượng nghèo và cận nghèo để giải quyết nạn đói mỗi khi mất mùa, giáp hạt hay thiên tai Số hộ tái nghèo vẫn còn lớn

và một bộ phận không nhỏ dân cư vẫn nằm giáp ranh mức nghèo Do vậy, chỉ cần có những biến động về thời tiết, thời giá hay sự điều chỉnh về chuẩn nghèo của Trung ương hoặc của tỉnh, cũng khiến họ rơi xuống ngưỡng nghèo và làm tăng tỷ lệ nghèo.Điều này được thể hiện rõ nét thông qua biến động tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh sau mỗi lần nâng mức chuẩn nghèo của tỉnh

Tóm lại, mặc dù nguyên nhân dẫn đến đói nghèo được chia thành nhiều yếu

tố nhưng những nguyên nhân này luôn có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại và chi phối lẫn nhau Vì vậy trong việc hoạch định chính sách XĐGN, cần phải

có một cái nhìn toàn diện cũng như thấy được sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau của các nguyên nhân, để từ đó vạch ra chiến lược phù hợp trên cơ sở sự chỉ đạo của Trung ương và điều kiện thực tiễn của địa phương Phải xác định được nhiệm vụ trọng tâm đồng thời không được coi nhẹ các yếu tố khác Trong quá trình thực hiện, phải kết hợp, lồng ghép việc giải quyết các nguyên nhân dẫn đến đói nghèo đồng thời phải lồng ghép với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác địa phương

1.3 NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG

BỘ TỈNH SÔNG BÉ THỜI KỲ TRƯỚC NĂM 1997

1.3.1 Cơ sở lý luận về đói nghèo và những tiêu chí xác định

1.3.1.1 Khái niệm đói nghèo:

* Quan niệm trước đây:

Trước đây người ta thường gắn liền đói nghèo với mức thu nhập thấp Coi thu nhập là tiêu chí chủ yếu để đánh giá sự nghèo đói của con người Quan niệm này có

ưu điểm là thuận lợi trong việc xác định số người nghèo dựa theo chuẩn nghèo, ngưỡng nghèo Nhưng thực tế đã chứng minh việc xác định đói nghèo theo thu nhập

Trang 36

chỉ đo được một phần của cuộc sống Thu nhập thấp không phản ánh hết được các khía cạnh của đói nghèo, nó không cho chúng ta biết được mức khốn khổ và cơ cực của những người nghèo Do đó, quan niệm này còn rất nhiều hạn chế

* Quan điểm hiện nay:

Hiện nay do sự phát triển của nền kinh tế thế giới, quan điểm đói nghèo đã được hiểu rộng hơn, sâu hơn và được hiểu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau:

- Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương do

Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc (ESCAP - Economic and Social Commission for Asia and the Pacific) tổ chức tháng 9 năm

1993 tại Bankok - Thái Lan đã đưa ra khái niệm về định nghĩa đói nghèo: Nghèo đói bao gồm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối

+ Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và

thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương

Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển, Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới (WB - World Bank), đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: "Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta."

Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 USD/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với đô la thế giới để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối Trong những bước sau đó, các trị ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2 USD cho khu vực Mỹ La tinh và Carribean đến 4 USD cho những nước Đông Âu cho đến 14,40 USD cho những nước công nghiệp (Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc 1997)

Đối với Việt Nam, Chính phủ Việt Nam đã 5 lần nâng mức chuẩn nghèo trong thời gian từ 1993 đến cuối năm 2010

Trang 37

Theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27/9 /2001, trong đó phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói và giảm nghèo giai đoạn 2001-2005", thì những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người

ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo từ 80.000 đồng/người/tháng (960.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực nông thôn đồng bằng những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 100.000 đồng/người/tháng (1.200.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân đầu người từ 150.000 đồng/người/tháng (1.800.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo

Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8/7/2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo

bình của cộng đồng

Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó

Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn Việc nghèo đi về văn hóa - xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng

Ranh giới cho nạn nghèo tương đối dựa vào nhiều số liệu thống kê khác nhau cho một xã hội Một con số cho ranh giới của nạn nghèo được dùng trong chính trị

và công chúng là 50% hay 60% của thu nhập trung bình Vì thế từ năm 2001, trong

Trang 38

các nước thành viên của Liên minh châu Âu những người được coi là nghèo khi có ít hơn 60% trị trung bình của thu nhập ròng tương đương Lý luận của những người phê bình cho rằng con số này trên thực tế cho biết rất ít về chuẩn mực cuộc sống của con người Những ai hiện tại có ít hơn 50% của thu nhập trung bình thì cũng vẫn có

ít hơn 50% của trung bình khi tất cả các thu nhập đều tăng gấp 10 lần Vì thế những người đó vẫn còn là nghèo tương đối Và khi những người giàu bỏ đi hay mất tiền của thì sẽ giảm trung bình của thu nhập đi và vì thế làm giảm thiểu nghèo tương đối trong một nước

Ngược lại nghèo tương đối sẽ tăng lên khi một người không nghèo có thể tăng được thu nhập ngay cả khi những người có thu nhập khác vẫn không có thay đổi Người ta còn phê bình là ranh giới nghèo trộn lẫn vấn đề nghèo với vấn đề phân bố thu nhập Vì một sự phân chia rõ ràng giữa nghèo và giàu trên thực tế không có nên khái niệm ranh giới nguy cơ nghèo cũng hay được dùng cho ranh giới nghèo tương đối

Ngược với ranh giới nghèo tương đối, các phương án tính toán ranh giới nghèo tuyệt đối đã đứng vững Các ranh giới nghèo tuyệt đối được tính toán một cách phức tạp bằng cách lập ra những giỏ hàng cần phải có để tham gia vào cuộc sống xã hội

Các ranh giới nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối đều không có thể xác định được nếu như không có trị số tiêu chuẩn cho trước Việc chọn lựa một con số phần trăm nhất định từ thu nhập trung bình và ngay cả việc xác định một giỏ hàng đều không thể nào có thể được giải thích bằng các giá trị tự do Vì thế mà chúng được quyết định qua những quá trình chính trị

+ Theo khía cạnh kinh tế: Nghèo là do sự thiếu lựa chọn dẫn đến cùng cực và thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, chủ yếu là trong lĩnh vực kinh tế

+ Theo khía cạnh khác: Nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu vực, một vùng

- Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen (Đan Mạch) năm 1995 đã đưa ra khái niệm về nghèo đói như sau: “Người nghèo là

Trang 39

+ Sự nghèo khổ của con người: thiếu những quyền cơ bản của con người như biết đọc, biết viết, được tham gia vào các quyết định cộng dồng và được nuôi dưỡng tạm đủ

+ Sự nghèo khổ tiền tệ: thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi tiêu tối thiểu

+ Sự nghèo khổ cực độ: nghèo khổ, khốn cùng tức là không có khả năng thoả mãn những nhu cầu tối thiểu

+ Sự nghèo khổ chung: mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định như sự không có khả năng thoả mãn những nhu cầu lương thực và phí lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở nước này hoặc nước khác

- Nhà kinh tế học người Mỹ Galbraith đã đưa ra quan niệm: “Con người bị coi

là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù khi thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập của cộng đồng Khi đó họ không thể có những gì mà

đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mức”

Như vậy, qua những quan điểm trên chúng ta thấy rằng, nghèo đói gắn liền với tình trạng con người không thể thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu cơ bản, tối thiểu cho sự tồn tại của bản thân Nó bao gồm nhu cầu về trước mắt, hàng ngày như

ăn, mặc, chỗ ở hay xa hơn là nhu cầu về vui chơi, giải trí, thực hiện quyền và nghĩa

vụ công dân, … Đó cũng chính là những quan niệm chung của thế giới về đói nghèo

Quan niệm ở Việt Nam:

Hiện nay ở Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm nghèo đói, song ý kiến chung nhất cho rằng: đói và nghèo là 2 khái niệm riêng biệt

- Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện

Trang 40

- Đói: là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu

và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống Đó là các

hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng, thường vay mượn cộng đồng

và thiếu khả năng chi trả Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng kể, nhà ở dột nát, con thất học, bình quân thu nhập dưới 13kg gạo/người/tháng

Qua các định nghĩa trên, ta có thể đưa ra định nghĩa chung về đói nghèo: Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư vì những lý do nào đó không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, những nhu cầu mà xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của chính xã hội

đó Biểu hiện của việc không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản đó là tình trạng thiếu ăn, suy dinh dưỡng, mù chữ, bệnh tật, môi trường ô nhiễm, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh cao, tuổi thọ trung bình thấp, …

* Các khía cạnh của đói nghèo

- Về thu nhập:

Đa số những người nghèo có cuộc sống rất khó khăn, cực khổ Họ có mức thu nhập thấp Điều này do tính chất công việc của họ đem lại Người nghèo thường làm những công việc đơn giản, lao động chân tay nhiều, công việc cực nhọc nhưng thu nhập chẳng được là bao Hơn thế nữa, những công việc này lại thường rất bấp bênh, không ổn định, nhiều công việc phụ thuộc vào thời vụ và có tính rủi ro cao do liên quan nhiều đến thời tiết (chẳng hạn như mưa, nắng, lũ lụt, hạn hán, động đất ) Các nghề thuộc về nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp là những ví dụ cho vấn đề này Hầu hết các nhu cầu cơ bản, tối thiểu của con người như cái ăn, cái mặc, chỗ ở chỉ được đáp ứng với mức độ rất thấp, thậm chí còn không đủ Nhiều người rơi vào cảnh thiếu ăn liên miên: chưa nói đến vấn đề đủ dinh dưỡng, riêng việc đáp ứng lượng Kcalo cần thiết, tối thiểu cho con người để có thể duy trì hoạt động sống bình thường

họ cũng chưa đáp ứng được, hoặc đáp ứng một cách khó khăn Điều này đã kéo theo các vấn đề khác như làm giảm sức khoẻ của người nghèo, do đó giảm năng suất lao động, từ đó giảm thu nhập cứ như thế, nó đã tạo nên vòng luẩn quẩn mà người nghèo rất khó thoát ra được

Thu nhập thấp đã tạo nên tình trạng thiếu tài sản ở những người nghèo Tài sản ở đây có thể là tài sản vật chất, tài sản con người, tài sản tự nhiên, tài sản tài

Ngày đăng: 07/05/2021, 18:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Ban chấp hành Trung ương Đảng, Chỉ thị số 23 – CT/TW về “Lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo”, Hà Nội ngày 29/11/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ch"ỉ" th"ị" s"ố" 23 – CT/TW v"ề" “Lãnh "đạ"o th"ự"c hi"ệ"n công tác xóa "đ"ói gi"ả"m nghèo”," Hà Nội
4. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Tài liệu tập huấn cán bộ giảm nghèo cấp tỉnh, huyện, Nxb. Lao động – Xã hội, Hà Nội 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài li"ệ"u t"ậ"p hu"ấ"n cán b"ộ" gi"ả"m nghèo c"ấ"p t"ỉ"nh, huy"ệ"n
Nhà XB: Nxb. Lao động – Xã hội
5. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Tài liệu tập huấn cán bộ giảm nghèo cấp xã, thôn, bản, Nxb. Lao động – Xã hội, Hà Nội 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài li"ệ"u t"ậ"p hu"ấ"n cán b"ộ" gi"ả"m nghèo c"ấ"p xã, thôn, b"ả"n
Nhà XB: Nxb. Lao động – Xã hội
7. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi"ế"n l"ượ"c toàn di"ệ"n v"ề" t"ă"ng tr"ưở"ng và xóa "đ"ói gi"ả"m nghèo
8. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Định hướng chiến lược để tiến tới phát triển bền vững (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam), Hà Nội 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: nh h"ướ"ng chi"ế"n l"ượ"c "để" ti"ế"n t"ớ"i phát tri"ể"n b"ề"n v"ữ"ng (Ch"ươ"ng trình ngh"ị" s"ự" 21 c"ủ"a Vi"ệ"t Nam)
9. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Văn kiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010, Hà Nội 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n ki"ệ"n Ch"ươ"ng trình m"ụ"c tiêu qu"ố"c gia v"ề" gi"ả"m nghèo giai "đ"o"ạ"n 2006 – 2010
33. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n ki"ệ"n "Đạ"i h"ộ"i "đạ"i bi"ể"u toàn qu"ố"c l"ầ"n th"ứ" IX
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
34. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n ki"ệ"n "Đạ"i h"ộ"i "đạ"i bi"ể"u toàn qu"ố"c l"ầ"n th"ứ" VII
Nhà XB: Nxb. Sự thật
35. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n ki"ệ"n "Đạ"i h"ộ"i "đạ"i bi"ể"u toàn qu"ố"c l"ầ"n th"ứ" VIII
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
36. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n ki"ệ"n "Đạ"i h"ộ"i "đạ"i bi"ể"u toàn qu"ố"c l"ầ"n th"ứ" X
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
37. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n ki"ệ"n "Đạ"i h"ộ"i "đạ"i bi"ể"u toàn qu"ố"c l"ầ"n th"ứ" VI
Nhà XB: Nxb. Sự thật
38. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n ki"ệ"n "Đạ"i h"ộ"i "Đả"ng th"ờ"i k"ỳ đổ"i m"ớ"i và h"ộ"i nh"ậ"p
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
39. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (Lưu hành nội bộ), Nxb. Sự thật, Hà Nội 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n ki"ệ"n H"ộ"i ngh"ị đạ"i bi"ể"u toàn qu"ố"c gi"ữ"a nhi"ệ"m k"ỳ" khóa VII (L"ư"u hành n"ộ"i b
Nhà XB: Nxb. Sự thật
40. Đỗ Thiên Kính, Phân hóa giàu nghèo và tác động của yếu tố học vấn đến nâng cao mức sống cho người dân Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân hóa giàu nghèo và tác "độ"ng c"ủ"a y"ế"u t"ố" h"ọ"c v"ấ"n "đế"n nâng cao m"ứ"c s"ố"ng cho ng"ườ"i dân Vi"ệ"t Nam
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
41. GS. TS Nguyễn Văn Thường, Một số vấn đề kinh tế - xã hội Việt nam thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: M"ộ"t s"ố" v"ấ"n "đề" kinh t"ế" - xã h"ộ"i Vi"ệ"t nam th"ờ"i k"ỳ đổ"i m"ớ"i
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
42. GS. TSKH Nguyễn Quang Thái, PGS. TS Ngô Thắng Lợi, Phát triển bền vững ở Việt Nam: thành tự, cơ hội, thách thức và triển vọng, Nxb. Lao động – Xã hội, Hà Nội 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát tri"ể"n b"ề"n v"ữ"ng "ở" Vi"ệ"t Nam: thành t"ự", c"ơ" h"ộ"i, thách th"ứ"c và tri"ể"n v"ọ"ng
Nhà XB: Nxb. Lao động – Xã hội
43. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002,Tập 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn t"ậ"p
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
45. Ngân hàng Thế giới, Báo cáo phát triển 2004, Hà Nội 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát tri"ể"n 2004
46. Ngân hàng Thế giới, Việt nam tấn công nghèo đói, Báo cáo phát triển của Việt nam năm 2000, Hà Nội 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi"ệ"t nam t"ấ"n công nghèo "đ"ói, Báo cáo phát tri"ể"n c"ủ"a Vi"ệ"t nam n"ă"m 2000
47. Ngân hàng thế giới: Báo cáo tình hình thế giớ tấn công đói nghèo; Nxb. Chính trị quốc gia; Hà Nội; 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình th"ế" gi"ớ" t"ấ"n công "đ"ói nghèo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia; Hà Nội; 2000

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w