1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghề thủ công truyền thống làm thuyền bằng tre tại việt nam công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần thứ xv năm 2013

85 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghề Thủ Công Truyền Thống Làm Thuyền Bằng Tre Tại Việt Nam
Tác giả Yang Mi Yeong, Seo Su Min, Hung Chi Hang, Park Gi Hyung
Người hướng dẫn PGS.TS. Phan Thị Yến Tuyết
Trường học Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Dân Tộc Học
Thể loại Công trình
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 2,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thích thú vì thuyền tre là một sản phẩm thủ công đẹp, độc đáo, thân thiện với môi trường, có rất nhiều chức năng như đánh bắt thuỷ hải sản, di chuyển ven biển, đi trên sông, trên vùng ng

Trang 1

ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH

BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH

-

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC EURÉKA

LẦN THỨ XV NĂM 2013

TÊN CÔNG TRÌNH

NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG LÀM

THUYỀN BẰNG TRE TẠI VIỆT NAM

Trang 2

ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH

BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH

-

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC EURÉKA

LẦN THỨ XV NĂM 2013

TÊN CÔNG TRÌNH

NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG LÀM

HUYỀN BẰNG TRE TẠI VIỆT NAM

Mã số công trình : ………

(Phần này do BTC cấp thành ghi)

Trang 3

MỤC LỤC  

TÓM TẮT 1

MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG 1 10

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ KHÔNG GIAN NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG LÀM THUYỀN TRE Ở VIỆT NAM 10

1.1 Khái niệm và lý thuyết áp dụng trong đề tài: 10

1.2 Khái quát về không gian nghề thủ công truyền thống làm thuyền tre 13

CHƯƠNG 2: CÁC LOẠI HÌNH THUYỀN TRE TẠI VIỆT NAM, QUY TRÌNH CHẾ TÁC VÀ CHỨC NĂNG HOẠT ĐỘNG 25

2.1 Lịch sử thuyền tre tại Việt Nam 25

2.2 Các loại hình thuyền tre tại Việt Nam, quy trình chế tác và chức năng hoạt động 30

CHƯƠNG 3: HOẠT ĐỘNG KINH TẾ- VĂN HOÁ CỦA THUYỀN TRE VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ THUYỀN TRE VIỆT NAM NHƯ MỘT DI SẢN VĂN HOÁ 60

3.1 Hoạt động kinh tế- văn hoá của thuyền tre Việt Nam 60

3.2 Vấn đề bảo vệ di sản văn hoá thuyền tre ở Việt Nam 70

KẾT LUẬN 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 4

TÓM TẮT

Việt Nam có 3.260km bờ biển, là một trong những quốc gia có nhiều lĩnh vực kinh tế- văn hoá- xã hội quan trọng về biển Nghề thủ công liên quan đến biển của Việt Nam như nghề làm thuyền tre đã thể hiện rất rõ dấu ấn văn hoá truyền thống của đất nước Trong đề tài này chúng tôi nghiên cứu nghề thủ công thuyền tre truyền thống của Việt Nam ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam và chủ yếu tập trung khảo sát ở các điểm như:

- Miền Bắc:

+ Thôn Nội Lễ xã An Viên - huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên;

+ Xã Thuỷ Triều, huyện Thuỷ Nguyên, TP Hải Phòng;

+ Đảo Hà Nam, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh

- Miền Trung : Xã An Dân, huyện Tuy An, Tỉnh Phú Yên;

- Miền Nam:

+ Thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

+ Thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Các loại hình thuyền tre gồm thuyền nan, thuyền thúng của ba miền Bắc, Trung, Nam có quy trình chế tác cũng như chức năng sử dụng vừa giống nhau nhưng đồng thời cũng có những nét khác nhau Hoạt động kinh tế- văn hoá của thuyền tre Việt Nam phụ thuộc vào vùng địa lý, thiên nhiên cũng như phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử

và kỹ năng vận dụng, sáng tạo thích nghi với xã hội từng thời kỳ

Chúng tôi mong rằng thuyền tre Việt Nam mãi mãi là sản phẩm thủ công truyền thống, thân thiện với môi tường thiên nhiên, được bảo vệ như di sản văn hoá Bởi vì nếu thuyền tre làm ô nhiễm môi trường sinh thái do sử dụng quá nhiều hoá chất, nếu vật liệu thuyền không còn được làm bằng tre, hay rừng tre không còn để cung cấp nguyên liệu, hoặc Nhà nước không có chính sách bảo vệ, hỗ trợ nghề và thợ thủ công thì có nghĩa là nghề thủ công thuyền tre và sản phẩm thuyền tre sẽ dần dần bị xoá sổ, điều đó sẽ rất đáng tiếc Chính vì vậy chúng tôi nêu những kiến nghị bảo tồn nghề làm thuyền tre, mong nó phát triển, vươn xa hơn trong và ngoài nước, trong đó bao gồm chính sách của Nhà nước để phát triển nghề thủ công thuyền tre, như cấp thương hiệu

Trang 5

cho sản phẩm, xuất khẩu sản phẩm, tạo nguồn nguyên liệu tre, ưu đãi và bồi dưỡng tay nghề cho thợ thủ công làm thuyền tre…Ngoài ra điều quan trọng là do sự biến đổi vật liệu chế tác thuyền thúng từ tre thành nhựa composite cũng có nghĩa là cáo chung một sản phẩm thủ công truyền thống được thế giới ưa chuộng, do đó cần tìm giải pháp dung hòa khả thi để một mặt vẫn giữ được hình dạng thuyền thúng đồng thời chế tác sản phẩm nhựa composite có họa tiết như tre đan và màu sắc giống tre Vai trò kinh tế của thuyền tre tại mỗi địa phương ở Việt Nam đều khác nhau nên cần phân tích, tính toán các giải pháp phù hợp chứ không nên đánh giá và áp dụng giống như nhau

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề:

Nghề thủ công truyền thống là nghề mang dấu ấn văn hóa lâu đời của một dân tộc, một đất nước, có giá trị thể hiện được bản sắc văn hóa, trải qua nhiều thế hệ lưu truyền Việt Nam là một đất nước có bờ biển dài và rất nhiều sông lớn nên nhu cầu sử dụng thuyền đương nhiên không nhỏ Một trong những loại thuyền làm từ nguồn vật liệu có nhiều tại Việt Nam như tre là sản phẩm phù hợp với điều kiện môi trường sinh thái tại chỗ Thuyền làm bằng tre là một sản phẩm lâu đời của nghề thủ công truyền thống rất độc đáo của Việt Nam Nhóm chúng tôi là sinh viên Hàn Quốc và Đài Loan nhận thấy đất nước chúng tôi tuy cũng thuộc vùng biển, đảo, cũng có nhiều tre nhưng lại không có loại hình thuyền nan, thuyền thúng bằng tre như ở Việt Nam Chính vì thế, chúng tôi nghĩ rằng đề tài nghiên cứu về nghề thuyền tre ở Việt Nam sẽ mang đến những kiến thức bổ ích cho chúng tôi, thế hệ những sinh viên trẻ người nước ngoài chưa có cơ hội tiếp xúc với nghề thủ công này

Qua thực tế khảo sát nghề làm thuyền bằng tre ở Việt Nam chúng tôi vừa thích thú vừa lo lắng Thích thú vì thuyền tre là một sản phẩm thủ công đẹp, độc đáo, thân thiện với môi trường, có rất nhiều chức năng như đánh bắt thuỷ hải sản, di chuyển ven biển, đi trên sông, trên vùng ngập lụt, chuyên chở thuỷ hải sản, nông sản, đồ đạc, hoặc dùng trong mục đích thể dục thể thao như đua thuyền hay dùng để trang trí trên bờ biển các khu resort…nhưng đồng thời chúng tôi cũng lo lắng vì thuyền tre và nghề làm thuyền này có thể biến mất dần, hoặc chuyển sang tình trạng không còn là sản phẩm thân thiện với môi trường sinh thái nữa mà sẽ ô nhiễm vì nhiều nơi tại Việt Nam đã bắt đầu thay thế thuyền bằng tre sang thuyền làm bằng hỗn hợp xi măng, bằng chất keo nhựa hóa học Đây chính là tính cấp thiết của đề tài

Đề tài còn mang tính cấp thiết vì tài liệu viết về thuyền làm bằng tre ở Việt Nam còn chưa nhiều , nếu để lâu không khảo sát kỹ, nghề thủ công này sẽ thay đổi hay biến mất do sự thay đổi điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội đang diễn ra nhanh chóng như hiện nay thì khó còn có dịp để tìm hiểu nghề này, vì vậy chúng tôi thấy sự nghiên cứu về thuyền tre cấp thiết hơn bao giờ hết

2 Tổng quan tài liệu:

Trang 7

Chúng tôi chưa tìm được nhiều tài liệu chuyên khảo về nghề thuyền tre ở Việt

Nam mà chỉ thấy có một quyển sách nhỏ Làng nghề cổ truyền huyện Thủy Nguyên-

Hải Phòng (của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam) có đề cập một phần về nghề làm

thuyền nan, còn thì chỉ là rải rác trong vài tài liệu ở dạng báo điện tử, phim và vài thông tin trên mạng internet

Về thuyền nan bằng tre chúng tôi thấy có ở cả ba miền: Bắc, Trung, Nam Một

số báo ở các địa phương có biển, đảo như Quảng Ninh Online, Nghệ An Online… có

những bài viết ngắn như Nghề thuyền nan ở Hưng Học, Quảng Ninh; Trong công trình

Văn hóa cư dân Việt ven biển Phú Yên của Viện Văn hóa Thông tin- Sở Văn hóa thông

tin Phú Yên vào năm 2006 chúng tôi chỉ thấy nhắc sơ nét vài hang ngắn ngủi về nghề

thuyền nan ở Phú Yên Trong website Làng nghề Việt Nam (langnghe.org.vn) có bài

viết ngắn về nghề đan thuyền nan ở thôn Nội Lễ, xã An Viên, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên Thuyền nan chủ yếu là thuyền hình bầu dục, trong đó vật liệu sử dụng và cách thức chế tác thuyền nan này khá tương đồng với thuyền thúng, chúng tôi thiết nghĩ phải chăng đây cũng là một trong những khởi đầu của nghề thuyền thúng trên

“con đường” cư dân đi về phương Nam của đất nước Việt Nam

Về nghề thuyền thúng bằng tre có một vài clip phim tài liệu như Làng thúng

chai của VTV1 đề cập về nghề làm thúng chai ở Phú Mỹ, huyện Tuy An, Phú Yên,

hay phim tài liệu Nghề làm thuyền thúng Phan Thiết- Bình Thuận của VTV1, hoặc trên

Quê hương onlines (nguồn bài từ Báo Ảnh Việt Nam) năm 2011 có bài phóng sự ảnh

‘Thuyền thúng- thô sơ, nhỏ bé mà hữu dụng”, ngoài ra Trọng Nghĩa có bài báo ngắn

về Lễ hội hàng hải Brest năm 2008 có nhắc vài hàng về thuyền thúng Việt Nam Trong

Lễ hội quốc tế của ngành hàng hải này Việt Nam đến với một số sản phẩm thủ công liên quan đến sông nước, trong đó có thuyền thúng bằng tre, gây được sự cổ vũ, chú ý của những quốc gia tham dự Về nghề làm thuyền thúng phổ biến nhất ở biển miền Trung và biển miền Đông Nam Bộ, gần đây nhất trong báo Tuổi trẻ chủ nhật, có một

phóng sự ảnh của tác giả Tiến Thành là Thúng chai Phú Mỹ (số 10- 2012, ngày 11- 3- 2012), trên mạng internet có bài “ Sông Cầu mùa biển lặng” của Lê Văn Phong và Nguyễn An Bang, “Làng chài Phước Hải mùa mưa”của Mai Thành Tiên Các bài nêu

trên thuộc dạng phóng sự ảnh nên chủ yếu chỉ có ảnh, vì thế chúng tôi cũng không tham khảo được thông tin gì nhiều

Trang 8

Ngoài việc kế thừa tài liệu điền dã của giáo viên hướng dẫn, chúng tôi cũng được tham khảo một phần nội dung nghề làm và sửa thuyền thúng ở làng chài Hải Trung, thị trấn Phước Hải, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, trích từ đề tài trọng điểm cấp Đại

học Quốc gia, Những vấn đề kinh tế- văn hóa- xã hội của cư dân vùng biển đảo Nam

Bộ của Phan Thị Yến Tuyết, Bản thảo đã nghiệm thu vào năm 2011 Cũng cùng tác giả

Phan Thị Yến Tuyết, chúng tôi còn được tiếp cận bản thảo chờ xuất bản: Thuyền tre đi

biển ở Việt Nam (2012), những công trình này giúp chúng tôi có được cách nhìn hệ

thống về mặt văn bản tư liệu Chúng tôi xin cảm ơn tác giả

Về tài liệu nước ngoài có liên quan đến tàu, ghe, thuyền ở Việt Nam chúng tôi tìm

thấy trong Battelle Memorial Institute, Blue book of coastal vessels South Vietnam

(Thanh thư về tàu thuyền cận duyên miền Nam Việt Nam), Columbus, Ohio, 1967 và J

B Piétri, Voiliers d’Indochine, Saigon, 1949 nhưng trong các công trình này chủ yếu

chỉ đề cập đến tàu, ghe bằng gỗ

Ngoài những nguồn tài liệu quý báu nêu trên, chúng tôi chủ yếu sử dụng những thông tin mà nhóm sinh viên chúng tôi thu thập khi đi khảo sát 2 vùng biển ở miền Trung và miền Nam Việt Nam là Phú Yên và Bà Rịa Vũng Tàu (hai nơi này hiện còn những xóm nghề làm thuyền bằng tre lâu đời)

3 Mục tiêu- Phương pháp:

- Lý do chúng tôi chọn đề tài này là muốn ứng dụng nguồn tài liệu do nhóm sinh viên chúng tôi thu thập được trong quá trình khảo sát tại tỉnh Phú Yên vào tháng 1- 2012 Đây là đề tài mà những sinh viên nước ngoài như nhóm chúng tôi cảm thấy thú vị để nghiên cứu vì ở đất nước Hàn Quốc và Đài Loan của chúng tôi tuy cũng có tre, cũng là quốc gia có biển, đảo như Việt Nam nhưng không có loại hình thuyền thúng, thuyền nan như Việt Nam, vì vậy chúng tôi rất muốn tìm hiểu nghề thủ công này

- Lý do khác của đề tài nghiên cứu khoa học này là chúng tôi muốn khảo sát các loại hình thuyền tre truyền thống ở Việt Nam để hiểu biết thêm văn hóa Việt Nam và đặc biệt khi trở về nước chúng tôi muốn quảng bá hình ảnh các loại hình thuyền tre của Việt Nam để trang trí, sử dụng trong các khu resort tại đất nước chúng tôi, qua đó thế giới sẽ càng hiểu thêm về giá trị của nghề thủ công truyền thống ở Việt Nam và sắc thái văn hóa biển của Việt Nam

Trang 9

- Nhiệm vụ nghiên cứu của chúng tôi khi chọn đề tài nghề truyền thống thuyền bằng tre nhằm tìm hiểu người Việt Nam ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam làm thuyền với vật liệu này bằng cách thức ra sao? Vận dụng nghề thuyền tre và đánh bắt thuỷ hải sản như thế nào nơi một đất nước có bờ biển rất dài và nhiều đảo như Việt Nam? Nghề thuyền thúng có vai trò gì đối với các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam? Trong tương lai nghề này sẽ tồn tại, phát triển hay sẽ biến mất đi như thế nào? Muốn bảo vệ di sản văn hoá này phải làm sao? Sau khi khảo sát chúng tôi sẽ nếu một số kiến nghị dựa trên tài liệu mà chúng tôi khảo sát được

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận:

+ Nghề thủ công (handircafts) là nghề sản xuất hoàn toàn hay một phần bằng

tay những vật dụng trang trí hay tiêu dùng, việc sản xuất đòi hỏi kỹ năng tay chân và

cả kỹ năng nghệ thuật (Từ điển Bách Khoa Encarta) Chúng tôi nhận thấy nghề thuyền thúng chính là một nghề thủ công truyền thống của người Việt ở Việt Nam và chúng tôi tìm hiểu nghề này dưới góc độ khái niệm nêu trên

+ Chúng tôi vận dụng cơ sở lý luận về Sinh thái văn hóa (cultural ecology) để

tìm hiểu mối liên quan giữa con người và môi trường sinh thái tại chỗ, trong đó có môi trường biển

- Phương pháp nghiên cứu:

Do tính chất ngành học của chúng tôi nên chúng tôi vận dụng trước tiên phương pháp liên ngành (interdisciplinary), đó là phương pháp tiếp cận những lý thuyết và phương pháp nghiên cứu của nhiều ngành khoa học liên quan để khảo sát Đề tài của chúng tôi phải vận dụng ngành sử học, địa lý, Việt Nam học, nhân học, kinh tế học, trong đó ngành Việt Nam học là ngành chính và các ngành khác là ngành bổ trợ

Ngành Việt Nam học là ngành nghiên cứu về đất nước và con người Việt Nam trong

những thời gian và không gian khác nhau Thực hiện đề tài về nghề thủ công truyền

thống này chúng tôi bắt buộc phải đi điền dã và xem điền dã như một phương cách không thể thiếu trong quá trình làm đề tài Khi đi điền dã chúng tôi áp dụng một số phương pháp nghiên cứu cần thiết và phù hợp với đề tài để nghiên cứu như:

- Phương pháp Quan sát tham dự (Paticipant and observation) Quan sát tham dự là

phương pháp mà người nghiên cứu phải tham gia trực tiếp vào trong đời sống cộng

Trang 10

đồng mà mình nghiên cứu Do đó chúng tôi đã trực tiếp khảo sát, tiếp xúc, làm thử các công đoạn nghề thuyền thúng bằng tre của cư dân ở Phú Yên và Bà Rịa Vũng Tàu

- Phương pháp Phỏng vấn sâu (In-depth interviewing) Trong phương pháp này chúng

tôi chọn những người tham gia làm nghề thuyền bằng tre lâu năm và giỏi tay nghề để phỏng vấn Do khả năng nói tiếng Việt của chúng tôi chưa thật giỏi và do nghệ nhân làm thuyền thúng nói giọng địa phương khó nghe nên chúng tôi có gặp một số trở ngại ban đầu trong giao tiếp và gỡ băng, nhưng sau một thời gian tiếp xúc chúng tôi đã quen dần và có thể trao đổi ý kiến với người dân khá dễ dàng và nhận được từ họ sự thông cảm, giúp đỡ nhiệt tình Trong phương pháp phỏng vấn sâu này chúng tôi cũng

kết hợp một phần phương pháp phỏng vấn lịch sử qua lời kể (oral history) để tìm hiểu

vấn đề khảo sát liên quan qua hồi ức của các thông tín viên về cuộc đời và công việc của họ trước đây

- Phương pháp so sánh đối chiếu (Comparative method) Phương pháp so sánh đối

chiếu cần chọn lọc những tiêu chí giống nhau, phù hợp như về không gian, thời gian,

sự kiện rồi mới so sánh Trong đề tài này chúng tôi so sánh nghề thuyền tre ở 3 miền tại Việt Nam, trong đó miền Bắc là tỉnh Quảng Ninh, TP Hải Phòng; miền Trung là tỉnh Phú Yên, miền Nam là tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu Tiêu chí để chúng tôi lựa chọn 4 điểm này là:

+ Cả 4 nơi tương đối giống nhau về điều kiện tự nhiên, sinh thái, kinh tế…

+ Cả 4 nơi sản xuất tương đối nhiều thuyền tre, là những điểm làm thuyền tre tương đối nổi tiếng trong vùng

+ Qua phỏng vấn, người dân làm nghề thuyền tre có nguồn gốc di dân từ vùng Hải Phòng, Quảng Ninh vào Phú Yên và không ít người làm thuyền tre ở Bà Rịa Vũng Tàu cho biết họ từ Phú Yên vào Phải chăng có mối liên hệ nào đó giữa những tỉnh nêu trên của 3 miền ở Việt Nam Tất nhiên mọi việc chọn điểm khảo sát đều có tính tương đối, chúng tôi chỉ mong góp thêm tư liệu cho việc nghiên cứu về nghề thủ công thuyền tre

mà thôi

Nhìn chung các phương pháp chúng tôi áp dụng đều thuộc nghiên cứu định tính

(qualitative research) mà chúng tôi đều đã được học tại Trường

Giới hạn của đề tài

Trang 11

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là nghề thủ công truyền thống làm thuyền

bằng tre, chỉ giới hạn trong tộc người Việt chứ không đề cập đến các dân tộc khác,

mặc dù thực sự hiếm có dân tộc thiểu số nào ở Việt Nam sử dụng thuyền tre (Một số

dân tộc ở vùng núi phía Bắc chỉ dùng bè tre, một số dân tộc Trường Sơn-Tây Nguyên

và người Khmer Nam Bộ sử dụng thuyền độc mộc bằng thân cây gỗ to chứ hiếm khi

sử dụng thuyền nan hay thuyền thúng như người Việt Riêng người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận mặc dù trong quá khứ từng là dân tộc mạnh về hải quân, về đánh bắt và di chuyển trên vùng biển Việt Nam và Đông Nam Á, nhưng ít nhất từ thế kỷ XIX tới nay hiếm thấy làng người Chăm nào sống bằng nghề biển- do những nguyên

nhân chưa thể đề cập trong công trình này) Do đó có thể xác định thuyền tre (thuyền nan, thuyền thúng) là sắc thái văn hóa thuần Việt

Chúng tôi chỉ nghiên cứu thuyền tre được chế tác bằng vật liệu tre, không khảo sát

bè tre hay thuyền, tàu, ghe bằng gỗ

- Giới hạn không gian khảo sát của chúng tôi tập trung chủ yếu ở các điểm sau đây:

Miền Bắc:

+ Thôn Nội Lễ xã An Viên - huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên

+ Xã Thủy Triều, huyện Thủy Nguyên, TP Hải Phòng

+ Đảo Hà Nam, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh

- Miền Trung:

+ Xã An Dân, huyện Tuy An, Tỉnh Phú Yên

- Miền Nam:

+ Thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu

+ Thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu

Ngoài ra chúng tôi cũng đề cập đến nghề đan thuyền tre tại những nơi khác thuộc 3 miền Bắc, Trung, Nam Việt Nam

- Giới hạn nghiên cứu về thời gian của đề tài chúng tôi là khoảng thời gian từ 20 năm trở lại đây, tức khoảng năm 1990 đến 2012 vì chúng tôi chỉ có tài liệu cụ thể trong khoảng thời gian này và vì thời gian này người dân tương đối còn nhớ rõ khi trao đổi với chúng tôi qua những cuộc phỏng vấn

4 Kết quả:

Đề tài của chúng tôi hy vọng có được một số đóng góp mới như:

Trang 12

+ Hệ thống được bước đầu nghề làm thuyền tre ở Việt Nam tại 3 miền Bắc, Trung và Nam

+ Miêu tả chi tiết về vât liệu, quy trình sản xuất và đánh bắt, chuyên chở thuỷ hải sản bằng các loại thuyền tre

+ Bước đầu so sánh được nghề thuyền thúng ở 3 miền đất của Việt Nam

+ Nếu một số nhận định và kiến nghị về nghề thủ công thuyền tre ở Việt Nam

+ Công bố nhiều hình ảnh do chúng tôi và cô giáo hướng dẫn chụp được để lưu giữ hình ảnh nghề thuyền thúng trong khoảng thời gian 2010- 2012 Tài liệu này sẽ có ích cho những người nghiên cứu sau

5 Kết luận- Đề nghị:

- Ý nghĩa lý luận của đề tài là bước đầu góp phần nghiên cứu về khía cạnh nghề thủ công trong nghiên cứu folklore (văn hoá dân gian), cho lý thuyết “Sinh thái văn hóa” (cultural ecology), tức là từ điều kiện sinh thái, tự nhiên tại chỗ, con người đã thích nghi và sáng tạo nên những sản phẩm văn hóa để phục vụ cho cuộc sống của mình

- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là góp phần cung cấp tài liệu về nghề thủ công làm thuyền tre để phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy, học tập về văn hoá biển ở Việt Nam, đồng thời làm tài liệu tha khảo cho các cơ quan chức năng, các ban ngành liên quan tại địa phương

6 Tài liệu tham khảo, phụ lục

Kết cấu của đề tài

- Phần mở đầu

- Chương 1: Cơ sở lý luận và khái quát về không gian nghề thủ công truyền thống

thuyền tre ở Việt Nam (qua các điểm : Miền Bắc: Hưng Yên, Quảng Ninh, Hải

Phòng); Miền Trung: Phú Yên; Miền Nam: Bà Rịa Vũng Tàu)

- Chương 2: Các loại hình thuyền bằng tre tại Việt Nam, quy trình chế tác

- Chương 3: Hoạt động của thuyền tre ở Việt Nam qua các lĩnh vực kinh tế - văn hóa

và hướng bảo vệ di sản văn hoá thuyền tre ở Việt Nam

Kết luận

Trang 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ KHÔNG GIAN NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG LÀM THUYỀN TRE Ở VIỆT

NAM 1.1 Khái niệm và lý thuyết áp dụng trong đề tài:

Nghề thủ công (handircafts) là nghề sản xuất hoàn toàn hay một phần bằng tay

những vật dụng trang trí hay tiêu dùng, việc sản xuất đòi hỏi kỹ năng tay chân và cả kỹ năng nghệ thuật1

Người thợ thủ công là người làm nghề tay chân, thường có tính chất truyền

thống, họ làm việc đơn độc hay cùng với thợ bạn hay người học nghề nhằm đem lại thu nhập cho bản thân2

“Nghề thủ công nói gọn lại là sản xuất chủ yếu bằng tay và công cụ đơn giản, với con

mắt và bộ óc sáng tạo của nghệ nhân”3

Nghề thủ công truyền thống là nghề mang dấu ấn văn hóa lâu đời của một dân

tộc, một đất nước, có giá trị thể hiện được bản sắc văn hóa, trải qua nhiều thế hệ lưu truyền

Một nghề được gọi là thủ công truyền thống nhất thiết phải hội đủ 7 yếu tố sau:

1 Đã hình thành và phát triển lâu đời

2 Sản xuất tập trung tạo thành các làng nghề, phố nghề, xóm nghề

3 Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề

4 Kỹ thuật là công nghệ khá ổn định của dân tộc

5 Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước hoàn toàn hoặc chủ yếu nhất

6 Sản phẩm tiêu biểu và độc đáo, có giá trị và chất lượng cao, vừa là hàng hoá vừa là sản phẩm văn hoá nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí trở thành di sản văn hoá của dân tộc, mang bản sắc văn hoá dân tộc

7 Là nghề nghiệp nuôi sống bộ phận dân cư của cộng đồng, có đóng góp đáng kể của Nhà nước

Nghề thủ công ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung đã phát triển từ lâu đời Tuỳ theo điều kiện của mỗi vùng miền mà hình thành những nghề thủ công đặc trưng riêng Tuy ngày nay xã hội phát triển hiện đại nhưng nghề thủ công vẫn giữ một

Trang 14

vị trí nhất định trong xã hội, làm phong phú thêm đời sống văn hoá tinh thần và vật chất của người dân4

Tre: Tại Việt Nam, mọc tự nhiên thành rừng hoặc được trồng Qua các cuộc khảo

sát, trong thực tế Việt Nam có hơn 230 loài tre khác nhau, trong đó có nhiều loài có

giá trị lớn, có một số loài tre đường kính lên đến 25cm (như bương Điện Biên) Họ tre

có nhiều loại, mỗi loại có tên gọi khác nhau như trúc, bương, luồng, vầu, lồ ô, giang,

le, mai, nứa, hóp…Tre ở Việt Nam có rất nhiều công dụng, từ thân tre, lá tre, rễ tre,

măng tre…đều có ích cho con người sử dụng Chức năng của tre để bao bọc, bảo vệ xóm làng hay dùng làm đồ gia dụng, làm thuyền, bè…

Thuyền là khái niệm để chỉ loại phương tiện giao thông nhô trên mặt nước, hoạt động

bằng sức người, sức gió5, cho nên người ta phải chèo thuyền Ngày xưa trình độ khoa học chưa phát triển nên thuyền chỉ dựa vào sức người chèo hay sức gió (thuyền buồm), sau này khi thuyền thường gắn động cơ để thuyền di chuyển nhanh và không cần sức người chèo tay nên người ta gọi là thuyền máy Tại Việt Nam có nhiều nơi như Nam

Bộ còn nhập nhằng về từ thuyền, ghe, xuồng, chúng tôi xin xác định giới hạn nghiên cứu của mình chỉ là thuyền đúng theo từ thuyền của người dân tại chỗ gọi chứ không

diễn dịch khác đi

Thuyền tre là từ để chỉ chung các loại thuyền làm bằng vật liệu chính là tre Ngoài tre

ra, còn một số vật liệu phụ khác tuỳ theo nơi, như hắc ín, phân bò/trâu, mùn cưa, nhựa dầu cây rái/ cây chai…

Thuyền nan là thuyền nhỏ đan bằng nan tre, có ken sơn6, có nhiều hình dạng khác

nhau tùy địa phương, như thuyền nan mũi phẳng, thuyền nan hình bầu dục (oval),

thuyền thoi (thuyền nhỏ và dài, hai đầu nhọn, có hình giống cái thoi), thuyền nan mũi

cong…Thuyền nan là biểu tượng văn hóa sông nước từ xa xưa ở Việt Nam Dù thuyền nan ngày càng ít đi, nhưng nó là khởi thủy của tất cả các loại thuyền

4 Trích từ giáo trình điện tử , bài Nghề thủ công truyền thống, môn Văn hóa dân gian của PGS TS Phan Thị Yến

Tuyết (Trường ĐH KHXH& NV TP HCM) (Nguồn: Bùi Văn Vượng, 1998)

5 Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học, 2001, tr 967

6Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học, 2001, tr 968

Trang 15

Thuyền thúng là một loại thuyền nan nhỏ, hình tròn, giống như chiếc thúng to, ngư

dân thường chỉ gọi tắt là “thúng”, hoặc “thúng chai” (vì quét dầu chai bên ngoài

thuyền thúng) Thuyền thúng có chức năng đi biển đánh bắt các loài hải sản và có thể còn một số chức năng khác Nguyên liệu ban đầu chủ yếu bằng tre, quét bột của vỏ cây sắn thuyền hay phân trâu với dầu hắc ín (ở miền Bắc) hay quét phân bò và dầu cây

chai/ dầu cây rái trong rừng, nên ngư dân gọi là thúng chai (ở miền Nam) Hiện nay do

cuộc sống phát triển, người ta không còn dùng tre mà làm thuyền thúng bằng keo,

nhựa hóa học (nên ngư dân gọi là thúng keo)7

Lý thuyết chúng tôi vận dụng trong bài này là thuyết sinh thái văn hóa (cultural

ecology) Sinh thái văn hóa là sự nhận thức về thế giới quan, phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt, cấu trúc xã hội, tôn giao tín ngưỡng, phong tục tập quán… Sinh thái tự nhiên bao gồm đất đai tự nhiên, sông suối ao hồ, rừng rậm, động thực vật,

hệ thống thủy lợi, điều kiện khí hậu và nguồn tài nguyên tự nhiên khác Thông qua sự nhận thức hợp lý về môi trường sinh thái tự nhiên, con người quyết định phương thức sản xuất và lựa chọn hình thức cư trú, hành vi ứng xử và khế ước nhất định với thế giới tự nhiên8 Nghề thuyền tre mà cư dân địa phương thực hiện là một hành vi thích nghi với môi trường sinh thái tự nhiên vốn có nguồn vật liệu tre dồi dào để làm thuyền tre và nơi đây liền sát với vùng biển của tỉnh cũng như vùng biển, nơi người dân đều

sử dụng thuyền thúng từ lâu đời

Sinh thái văn hóa (cultural ecology) là khái niệm đề cập đến cách con người sử

dụng văn hóa để thích nghi với môi trường thiên nhiên cụ thể trong bối cảnh nền văn hóa của họ Con người “thích ứng” với sinh thái tự nhiên tại chỗ để sinh tồn là những quan điểm được sử dụng nhiều trong nghiên cứu nhân học sinh thái hiện nay Quan điểm hệ sinh thái tự nhiên và khái niệm “thích ứng”, hoặc thích nghi, là những quan điểm được sử dụng nhiều trong nghiên cứu nhân học sinh thái hiện nay Khái niệm thích ứng được nhà nhân học Mỹ Julian H Steward đề cập trong phương pháp nghiên

cứu sinh thái học vào những năm 20 của thế kỷ XX J Steward dùng khái niệm thích

7 Nguồn: Phan Thị Yến Tuyết, “Những vấn đề kinh tế- văn hóa- xã hội của cư dân vùng biển đảo Nam Bộ “ , Đề

tài trọng điểm Đại học Quốc gia TP HCM, 2011 (Phần từ điển trong phụ lục của đề tài)

8 Nguyễn Minh Đức (2008) “Sinh thái văn hoá - Xu hướng nghiên cứu mới ở Vân Nam, Trung Quốc”, Kỷ yếu Hội thảo Vai trò của tri thức bản địa trong việc giữ gìn và bảo vệ môi trường ở các cộng đồng dân tộc thiểu số,

Viện văn hoá Nghệ thuật, Ninh Thuận, tháng 3- 2008, tr 28

Trang 16

ứng/ thích nghi để lý giải hành vi văn hoá của con người đối với môi trường tự nhiên

Điều này có nghĩa là sự biến đổi và thích ứng văn hoá là một quá trình tương tác giữa

văn hoá với môi trường tự nhiên Khái niệm thích ứng không chỉ xác định vai trò, vị trí

của con người trong hệ sinh thái tự nhiên mà còn xác lập mối quan hệ giữa con người

với tự nhiên Trong công trình sách “Tính thích ứng của con người – Dẫn luận nhân

học sinh thái” (Human Adaptability: An introduction to ecological Anthropology),

2000, nhà nhân học Mỹ Emilio F Moran chỉ ra phương pháp nghiên cứu nhân học

sinh thái là giải quyết vấn đề con người với môi trường tự nhiên trên phạm vị rộng,

định chế xã hội và cách thức giải quyết vấn đề môi trường trước đây, không chỉ nghiên cứu cơ chế thích ứng của con người với môi trường, mà còn dùng những nghiên cứu

định tính để trả lời những vấn đề: Con người làm thế nào để điều tiết bản thân thích

ứng với sự biến đổi môi trường ? (Nguyễn Minh Đức, 2008, tr 32)

Các vùng làng quê Việt Nam thường nhiều tre, nuôi trâu bò nên nhiều phân, đấy là những vật liệu làm thuyền tre phong phú có sẵn ở Việt Nam, chính vì thế phù hợp với môi trường sinh thái, tương ứng với lý thuyết sinh thái văn hóa Việt Nam là một quốc gia biển, ngư dân thích nghi với môi trường biển, sông, đầm và sáng tạo, sử dụng các loại thuyền nhỏ, gọn, nhẹ để đi biển chắc chắn là thích hợp với một bộ phận cư dân và ngư dân, thích hợp với một số vùng và thích hợp trong một thời kỳ nào đó của cuộc sông Chính điều đó sẽ gợi mở cho những người nghiên cứu, nhất là những sinh viên nước ngoài như chúng tôi để tìm hiểu về văn hóa Việt Nam, đặc biệt là văn hóa biển

1.2 Khái quát về không gian nghề thủ công truyền thống làm thuyền tre:

Không gian nghề thủ công truyền thống làm thuyền tre qua khảo sát cả 3 miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam để rút ra những điểm riêng và chung của nghề thủ công này

1.2.1 Khái quát không gian nghề thủ công làm thuyền tre tại miền Bắc:

Tại miền Bắc có nhiều nơi làm thuyền nan Chúng tôi chọn 3 điểm để khảo sát nghề thuyền nan: Thuyền nan Nội Lễ (thôn Nội Lễ, xã An Viên, huyện Tiên Lư, tỉnh Hưng Yên); Thuyền nan làng biển Tuy Lạc, xã Thủy Triều, huyện Thuỷ Nguyên, TP Hải Phòng; Thuyền nan khu Hưng Học, phường Nam Hoà, huyện Yên Hưng, trên đảo

Hà Nam, tỉnh Quảng ninh, căn cứ vào các tiêu chí như ba điểm đây là nơi làm thuyền

Trang 17

nan lâu đời, trong ba nơi này một nơi ở vùng Đồng bằng gần biển (Hưng Yên), một nơi ở vùng biển (Hải Phòng), một nơi là hải đảo (Quảng Ninh)

Tỉnh Hưng Yên: Hưng Yên nằm ở tả ngạn sông Hồng, thuộc châu thổ đồng bằng

Bắc Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Phía Bắc Hưng Yên giáp tỉnh Bắc Ninh, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình, phía Tây và Tây Bắc giáp Thủ đô Hà Nội, phía Tây Nam giáp tỉnh Hà Nam Đây là mảnh đất phù sa màu mỡ, đậm nét truyền thống văn hiến của Việt Nam Hưng Yên giáp với tỉnh Thái Bình là vùng biển, ngày xưa khu vực chung này là Phố Hiến, vùng biển nơi đây là điểm giao thương, buôn bán nổi tiếng Việc sản xuất thuyền nan để di chuyển trên sông, trên biển tại huyện Tiên

Lữ là nét đặc sắc của làng nghề truyền thống Hưng Yên Nguồn: Wikipedia)

Bản đồ tỉnh Hưng Yên (Wikipedia) Cảnh Phố Hiến xưa- một "tiểu Tràng An"

Điểm khảo sát: Thôn Nội Lễ, xã An Viên, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên

Thôn Nội Lễ, xã An Viên, huyện Tiên Lữ là nơi đất chật người đông, cả thôn có gần 500 hộ với hơn 2.000 nhân khẩu nhưng chỉ có 86 ha đất nông nghiệp Nội Lễ có nhiều nghề nhưng có 2 nghề phát triển nhất là đan thuyền và vận tải thuỷ Nghề đan thuyền có tới 1/3 số hộ với 350 lao động tham gia, mỗi năm sản xuất và tiêu thụ khoảng 7.000 chiếc, trong đó có 4.000 thuyền đánh lưới và 3.000 thuyền vận tải, doanh thu hơn 700 triệu mỗi năm Nghề đan thuyền đem lại thu nhập khoảng 150.000

Trang 18

- 200.000 đồng/người/tháng Hiện tại và tương lai nhu cầu về mặt hàng này giảm do thị trường ngày càng thu hẹp, do đó nghề đan thuyền không có khả năng phát triển9

TP Hải Phòng: Hải Phòng là một thành phố ven biển, giáp tỉnh Quảng Ninh Sông

ngòi ở Hải Phòng khá nhiều, chảy chủ yếu theo hướng Tây Bắc Đông Nam Đây là nơi tất cả các dòng của sông Thái Bình đổ ra biển, tạo ra một vùng hạ lưu màu mỡ, dồi dào nước ngọt phục vụ đời sống con người Nằm ở ven biển nên chủ yếu Hải Phòng bị phèn, mặn Bờ biển Hải Phòng dài trên 125 km, thấp và khá bằng phẳng cảng biển nơi đây là cửa ngõ quốc tế của miền Bắc Nhà hàng hải người Anh vào thế kỷ XVII là

William Dampier có viết về Batsha (Batshaw)và Domea trong cuốn sách Du hành và

Khám phá năm 1688 cho biết đi từ biển vào đầu tiên là qua Batsha (thuộc khu vực bán

đảo Đồ Sơn, Hải Phòng ngày nay), sau đến Domea, rồi đến Hean (phố Hiến) và cuối cùng tới Cachao (Kẻ Chợ hay Thăng Long) Theo như mô tả của ông, cư dân sống ở làng chài mang tên Batsha (Đồ Sơn- Hải Phòng) không chỉ làm nghề đánh cá mà còn

làm hoa tiêu dẫn đường cho những thuyền buôn phương Tây Từ những năm cuối thế

kỷ XIX đầu thế kỷ XX dưới thời Pháp thuộc, Hải Phòng cùng với Sài Gòn có vai trò như những cửa ngõ kinh tế của Liên bang Đông Dương trong giao thương với quốc tế

ở vùng Viễn Đông Vì thế ở thời điểm đó tại Hải Phòng tập trung nhiều thành phần dân di cư tới sinh sống lập nghiệp Cộng đồng người Việt lúc đó ngoài cư dân địa phương còn đón nhận nhiều dân di cư tới từ nhiều tỉnh thành của miền Bắc như Hà Nội - Hà Tây, Hải Dương, Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên 10

9 http://www.langnghe.org.vn/lang-nghe-thuyen-nan-noi-le.htm

10 Nguồn; Google, TP, Hải Phòng

Trang 19

Bản đồ Tp Hải phòng (Nguồn: Google)

- Điểm khảo sát: Thôn Tuy Lạc, xã Thủy Triều, huyện Thuỷ Nguyên, TP Hải Phòng11

Xã Thủy Triều có diện tích đất tự nhiên là 661 ha Số dân là 10.000 người theo thống kê năm 2003 Nơi đây nhiều ao, hồ, đầm, bãi, kết quả của những công cuộc khai thác bãi bồi, lả việc đắp đê, đắp đầm ven những con sông cổ dọc Cửa Cấm mênh mông

sú vẹt hoang sơ Các con lạch cổ hiện nay có tên là lạch Trường, lạch Chín, lạch Ba Dân, lạch Đông Thổ Các đầm Mỹ, đầm Chữ U, đầm Kênh Cát, đầm Ấp…những vùng đất trũng xuôi về phía cửa biển Nam Triệu

Thời mới khai hoang, mảnh đất này dân cư thưa thớt, sú vẹt mọc dày đặc thành rừng, là nơi trú ngụ của các loài thủy sản: tôm, cá, cua, rạm, cáy, vạng, sò, ốc… Khi triều lên, nước ngập mênh mông, việc đi lại chỉ có một phương tiện duy nhất là thuyền nhẹ bằng nan Tuy vậy, phía Bắc xã có nhiều gò đất nổi lên gọi là đụn, đống Tương truyền vào thời hậu Lê (1533-1788), những cư dân từ nhiều nơi đã đến đây dư trú, khai hoang, lập nên làng mạc Gia phả nhiều dòng họ còn ghi chép thời gian cư trú tính đến

nay khoảng 18-19 đời Xã Thủy Triều có hai làng: Tuy Lạc và Kinh Triều Cá tôm

vùng này nhiều nhưng thóc gạo lại thiếu Con người phải nghĩ đến việc be bờ đắp đập ngăn nước mặn để làm ruộng cấy lúa nước

Để đắp đầm, người ta phải đắp những bờ đất lớn, cao hơn mực nước thủy triều cao nhất, ngăn không cho nước mặn vào đầm Mùa mưa lũ, vùng ven cửa sông nước thường ngọt nên cấy được lúa Nhưng mùa khô, ít mưa, nước biển lên cao, xâm thực vào đầm làm cho đầm bị mặn không thể cấy lúa được

Để có thể khai thác nguồn lợi thủy sản trong các đầm, cư dân nơi đây dùng các dụng cụ đánh bắt như lưới, vó, đăng, đó, đụt, lờ, nơm… Di chuyển trên vùng nước

11Lê Xuân Lựa, Nghề đan thuyền ở huyện Tuy Lạc, xã Thuỷ Triều., trong sách Văn Duy, Lê Xuân Lựa (2011), Làng nghề cổ truyền huyện Thủy Nguyên- Hải Phòng, NXB Văn hóa dân tộc, tr 151

Trang 20

mênh mông ấy, họ phải dùng những chiếc thuyền nan đi lại nhẹ nhàng, nhanh, tiện lợi.12 Ở làng Tuy Lạc, nhu cầu sử dụng thuyền nan rất lớn Không có gia đình nào là không có thuyền nan, ít là một cái, nhiều là hai, ba cái Có cái dùng để chuyển đất đắp

đê, đắp đầm, có cái để làm phương tiện đánh bắt đơm cá, có cái dùng vào việc chuyên chở trên sông Địa hình sông, đầm, lạch là điều kiện để cho nghề đan thuyền nan xuất hiện và phát triển qua hàng trăm năm Có thể nói, ở làng Tuy Lạc ai cũng biết đan thuyền Từ đứa trẻ mười hai, mười ba tuổi đến các bà, các chị ai cũng biết đan Địa hình huyện Thủy Nguyên sông ngòi chằng chịt, chịu ảnh hưởng lớn của thủy triều biển Hầu hết xã nào cũng có sông hoặc nằm ven sông Các chợ như chợ Xưa, chợ Si, chợ Giá, chợ Thanh Lãng, chợ Nóm, chợ Phả… đều nằm ven sông Và chính vì thế mà hình thành một làng nghề truyền thống đan thuyền: làng Tuy Lạc, xã Thủy Triều13 Cụ thân sinh ra ông Trần Văn Toán ở làng này năm nay đã 92 tuổi kể rằng: Khi cụ lớn lên đã thấy cả làng đan thuyền rồi Cụ học nghề đan thuyền ngay từ các thợ đan trong làng

Cụ Lê Văn Điệp 75 tuổi, tuy tuổi cao nhưng mắt cụ còn sáng, chân tay cứng cáp, vẫn đan, vẫn chẻ nan cho biết: “Không biết nghề đan thuyền này có từ bao giờ Tôi sinh ra trong thời Pháp thuộc, lớn lên đã thấy nhà nào cũng có thuyền để chở lúa, đơm tôm, đánh cá, đắp đê…” Gia đình cụ ở vùng đất này đã 200 năm14

Nghề đan thuyền ở làng Tuy Lạc, lúc đầu cũng chỉ để phục vụ cho đời sống sản xuất như chuyên chở, đánh bắt tôm cá, đắp đầm theo kiểu tự cung tự cấp Thời kì thuộc Pháp trở về trước, việc đan thuyền được tổ chứ theo kiểu đổi công, vài gia đình

đến hỗ trợ nhau cho nhanh Người chẻ nan, người làm cạp15, người đào lò cạp

16thuyền… Làm xong thuyền của nhà này thì làm sang thuyền nhà khác

Đến thời kì xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, toàn huyện có hàng trăm hợp tác xã Thủy Nguyên vốn là vùng đất trũng, chủ yếu chua mặn nên công tác làm thủy lợi được đặt lên hàng đầu Hệ thống đê điều, kênh mương được đắp mới, tu bổ và cải tạo nhằm làm ngọt hóa đồng ruộng Lúc này nhu cầu thuyền nan rất lớn Các hợp tác xã trong huyện đều tập trung về đây đặt mua thuyền chở đất, chở lúa Chính vì thế mà nghề đan

12 Lê Xuân Lựa, Nghề đan thuyền ở huyện Tuy Lạc, xã Thuỷ Triều., trong sách Văn Duy, Lê Xuân Lựa (2011), Làng nghề cổ truyền huyện Thủy Nguyên- Hải Phòng, NXB Văn hóa dân tộc, tr 152- 154

13 Lê Xuân Lựa, 2011, đã dẫn, tr 155

14 Lệ Xuân Lựa, 2011, đã dẫn, tr 155

15 Làm cạp: đan các thanh tre thành tấm để làm thuyền

16 Lò cạp: Đào lỗ khuôn để đặt tấm cạp xuống

Trang 21

thuyền trong thời gian này rất phát triển Nhà nhà đan, người người đan Trẻ con, người lớn ai cũng đan Cả làng nghề trở nên nhộn nhịp Có thể nói trong thập niên 60-

70 nghề đan thuyền ở đây rất phát đạt Thợ đan có thu nhập khá 17

- TP Quảng Ninh: Quảng Ninh là tỉnh ven biển thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ với

đường phân định Vịnh Bắc Bộ trên biển dài trên 191 km, đường bờ biển dài 250 km, trong đó có 40.000 hecta bãi triều và trên 20.000 hecta eo vịnh, có 2/12 huyện đảo của

cả nước Tỉnh có 2.077 hòn đảo, và diện tích các đảo chiếm 11,5% diện tích đất tự nhiên Chính vì địa hình biển, đảo mà Quảng Ninh cần nhiều thuyền nan gọn nhẹ, cơ động để di chuyển Điểm khảo sát của đề tài là đảo Hà Nam của huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng ninh Phía Tây và Nam của đảo này tiếp giáp với huyện Thuỷ Nguyên của thành phố Hải Phòng, do sự liền sát hai điểm có nhiều thuyền tre này mà chúng tôi chọn cả hai để khảo sát

Bản đồ tỉnh Quảng Ninh (Nguồn:wikipedia)

Điểm khảo sát: Khu Hưng Học, phường Nam Hoà, huyện Yên Hưng, trên đảo

Hà Nam Từ một cù lao lau sậy của gần 600 năm về trước, Hà Nam hiện nay có 8 xã với chừng 6,5 vạn dân và 34 km đê biển Nơi đây dọc ngang kênh rạch, là vùng đất nằm âm hai mét dưới mực nước biển Dọc theo hai bên bờ đê là những đầm, ao nuôi tôm cá nước ngọt và mặn rộng mênh mông, những rừng cây ngập mặn xanh ngút tầm mắt Hà Nam còn lưu giữ nhiều giá trị truyền thống hơn bất cứ nơi nào trên đất Quảng

17 Lê Xuân Lựa, 2011, đã dẫn, tr 156- 158

Trang 22

Ninh với hơn 130 di tích lịch sử và văn hoá như hệ thống đình chùa, đền miếu, nhà thờ

tổ các dòng họ; nhiều lễ hội, nhiều vốn văn hoá dân gian, phong tục tập quán của làng Việt cổ Là vùng đất thấp trũng nên Hà Nam chằng chịt kênh rạch như ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long Người dân đi lại trên những con thuyền nan hai mái Tại đảo có một làng nghề đan thuyền nan truyền thống khá độc đáo tập trung chủ yếu ở khu Hưng Học, phường Nam Hòa với trên 200 hộ gia đình cùng những tổ hợp nhỏ làm nghề đan, đóng thuyền nan thủ công Mỗi năm làng nghề này xuất bán tới hàng nghìn chiếc thuyền lớn nhỏ (trọng tải từ vài tạ đến trên 10 tấn) phục vụ ngư dân địa phương và các tỉnh lân cận đi sông, biển đánh bắt cá, mực 18

Thuyền nan của cư dân ven biển Yên Hưng

(Nguồn: Báo Quảng Ninh Online)

Trẻ em ở Hưng Học quen với chiếc thuyền nan từ khi còn nhỏ.

(Nguồn: Báo Quảng Ninh Online)

Theo những người thợ làng nghề, đan thuyền nan không quá khó, mà chủ yếu đòi hỏi sự tháo vát và cần mẫn Một gia đình gồm 2 vợ chồng, nếu chuẩn bị nguyên liệu sẵn (tre phơi khô) thì việc làm một con thuyền nhỏ sẽ mất khoảng thời gian 4-5 ngày Còn cơ sở lớn hơn cũng cho ra đời trên 20 chiếc thuyền nan mỗi tháng trọng tải

từ 10 tấn trở xuống Người dân trong làng nghề kể lại, nghề đan lờ19, đan thuyền nan

18 Báo Quảng Ninh Online

19 Lờ là một loại ngư cụ

Trang 23

đã tồn tại ở đây từ rất lâu, được truyền từ đời này qua đời khác Trải qua những biến đổi thăng trầm củathời gian, cho đến nay, nghề này vẫn tồn tại Hiện làng nghề Hưng Học vẫn luôn là cơ sở chính cung cấp thuyền nan cho các địa phương ven biển trong tỉnh và một số tỉnh lân cận 20

1.2.2 Khái quát không gian nghề thủ công làm thuyền tre tại miền Trung:

Tỉnh Phú Yên: Phú Yên là tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, diện tích là

5.054 km2 Từ khi người dân Phú Yên định cư trên vùng đất này họ luôn dựa vào sự giàu có của rừng và biển Bờ biển Phú Yên dài khoảng 189km, trải từ Cù Mông đến Ðèo Cả, trong đó từ Cù Mông (huyện Sông Cầu) đến Tân Quy (huyện Tuy An) là vùng biển có các đầm và vịnh lớn như Cù Mông, Xuân Ðài, Vũng Lấm, Ô Loan Diện tích tự nhiên của xã An Dân gồm 2.087,91ha, diện tích nông nghiệp là 822ha Dân số của xã khoảng 8.000 khẩu, 3.000 hộ Cư dân nơi đây sản xuất nông nghiệp chủ yếu, còn nghề thủ công làm lúc nông nhàn, như nghề làm bánh tráng, làm bún, đan giỏ bằng lục bình riêng nghề làm thuyền thúng do tính chất kỹ thuật cần nhiều kinh

nghiệm lâu đời, tay nghề cao và lao động phải tập trung công sức nên người làm thuyền thúng gần như phải chuyên nghiệp, tập trung tại huyện Tuy An

20 Báo Quảng Ninh Online

Trang 24

Bản đồ tỉnh Phú Yên (Wikipedia)

Điểm khảo sát: Thôn Phú Mỹ, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên

Xã An Dân có 7 thôn: Mỹ Long, Phú Mỹ, Bình Hòa, An Thổ, Long Uyên, Bình Chính, Cần Vương, trong đó thôn Phú Mỹ có khoảng 25 hộ dân tập trung làm thuyền thúng trên toàn xã khoảng 30 hộ Thuyền thúng rất tiện dụng cho ngư dân hoạt động cá thể ven biển, có thể đánh bắt các loại cá, mực, tôm, cua trên vùng biển Thôn Phú Mỹ đã thành lập một câu lạc bộ nghề thuyền thúng vào năm 2004, gồm 34 hộ thành viên Câu lạc bộ này do Hội Nông dân của xã quản lý, chủ tịch Hội là ông Bùi

Thân Ðịnh Người dân địa phương gọi thuyền thúng là thúng chai Chai là một loại dầu tự nhiên lấy từ cây chai, cây rái 21 trong rừng Khai thác dầu giống như cách lấy

mủ cây cao su, tức là khứa vòng chung quanh thân rồi hứng nhựa cây chảy ra để trét thuyền Tuy gọi là thúng chai nhưng loại dầu dùng phết thuyền nếu dùng bằng dầu cây

chai không tốt bằng dầu của cây rái mà người dân nơi đây gọi là dầu con rái Dầu cây

rái dùng để trét ghe thuyền sẽ làm khít khe hở của tre, làm cho tre chắc chắn Người dân nơi đây thường mua dầu chai hay dầu rái từ người dân tộc thiểu số sống trong rừng, cụ thể là rừng Hòa Mỹ (huyện Tuy Hòa), rừng Xuân lộc (huyện Ðồng Xuân)…của tỉnh Phú Yên

21 Người dân dùng dầu cây chai, cây rái họ đều gọi chung là dầu chai, không gọi là dầu rái, dù khai thác dầu từ

cây rái/ cây con rái

Trang 25

Nghề thúng chai ở thôn Phú Mỹ thuận lợi vì nguồn nguyên liệu chính là tre vốn có nhiều và sẵn ở địa phương, dễ kiếm và đặc biệt thúng chai luôn có nhu cầu vì ngư dân đánh bắt hải sản ở biển gần sát bên như huyện Sông Cầu, huyện Tuy Hòa và các vùng biển lân cận của tỉnh Phú Yên như tỉnh Khánh Hòa, Bình Ðịnh Tuy thuyền thúng ở Phú Yên được người dân làm khéo léo, chắc chắn, nhu cầu xã hội ngày càng tăng nhưng thuyền thúng nơi đây vẫn chưa được công nhận quyền sở hữu trí tuệ, chưa được Sở Khoa học môi trường Tỉnh làm hồ sơ để công nhận logo, thương hiệu cho xóm nghề tại xã An Dân…

Nghề thuyền thúng tại xã An Dân có từ trước 1975 Một trong những người làm nghề thuyền thúng lâu năm nhất tại xã này là ông Trương Văn Tấn Ông cho biết mình đến từ xã An Ðịnh, năm nay ông 77 tuổi và làm nghề này khoảng gần nửa thế kỷ Hiện nay trong xã có các nghệ nhân giỏi nổi tiếng về nghề làm thuyền thúng là các ông Trương Văn Tấn, Trương Văn Sơn, Nguyễn Cộng, Trương Vãn Dũng, Phạm Minh Thông, bà Trần Thị Mỹ…

Nghề đóng ghe thuyền cổ truyền ở Phú Yên là thuyền nan, vật liệu làm vỏ là tre

già, còn nan đan phải là loại nan cật Để chống nước thấm vào ghe, khi đan vỏ thuyền xong, ngư dân dùng cám gạo trộn với phân gia súc, cụ thể là phân bò, trét đều một lớp Khi ráp vỏ vào khung lại trét tiếp một lần nữa rồi đem phơi khô Sau đó dùng dầu rái quét cả mặt trong lẫn mặt ngoài từ 1 đến 2 lần, đến khi dầu rái khô mới được hạ thủy22

1.2.3 Khái quát không gian nghề thủ công làm thuyền tre tại miền Nam:

Bà Rịa Vũng Tàu là một trong những tỉnh khai thác, nuôi trồng và chế biến thuỷ hải sản khá mạnh, phục vụ cho thị trường nội địa và xuất khẩu (23)

Trang 26

(Nguồn: Cổng thông tin Bà Rịa Vũng Tàu)

Điểm khảo sát: Thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

Thị trấn Phước Hải có đa số ngư dân xuất thân từ vùng Ngũ Quảng, Bình Định, Phú Yên Diện tích của thị trấn là 1655ha, dân số 22000 người, gồm 7 khu phố và 1 ấp, trong đó ngư nghiệp chiếm 70%, còn lại 7% là nông nghiệp Do bãi biển nơi đây thuộc

bãi ngang, không có cảng cá cho tàu đánh cá lớn ra vào nên Phước Hải chủ yếu chỉ

họat động đánh bắt gần bờ, do vậy, việc sử dụng thuyền thúng (thúng chai) chủ yếu để

đánh bắt gần bờ cho đến nay vẫn còn thích hợp với ngư dân, nhất là ngư dân nghèo Nếu đánh bắt xa bờ bằng phương tiện thúng chai thì người dân chèo thuyền thúng ra khơi, nơi có tàu đậu chờ, sau đó người ta chuyền thuyền thúng lên tàu để ra khơi Lúc đến nơi, họ thả thuyền thúng và chủ thuyền xuống các điểm đánh cá, câu mực Khi tới giờ hẹn thì tàu lại đón cả thúng lẫn người trở về nhà Chính vì thế các xóm chài của Phước Hải có rất nhiều thuyền thúng do địa bàn không có cảng cá, ngư dân không thể

đi tàu mà chỉ dùng thuyền thúng24 Theo lời kể của ngư dân trong vùng, đa số ngư dân

và cư dân địa phương đều đến từ miền Trung Lúc còn ở quê cũ, gia đình, cha ông của

họ cũng làm nghể biển, làm thuyền thúng và họ đã đưa nghề thuyền thúng này vào

miền Nam Ban đầu ngư dân vùng Phước Hải này đều dùng thúng chai bằng tre, sau

này do ở đây hết nguyện liệu tre, người ta phải mua tre từ Hố Nai đem về, vận chuyển

xa, dần dần người dân cũng không còn xài loại thúng chai bằng tre nữa, mà thay bằng thuyền thúng làm bằng vật liệu keo hoá học, tức composite, nên gọi là thúng keo Họ

cho rằng điều bất tiện khi dùng thuyền thúng bằng tre là mau hư mục, nhất là ở khâu

24 Đề tài trọng điểm Đại học Quốc gia “Những vấn đề kinh tế- văn hóa- xã hội của cộng đồng cư dân vùng biển Nam

Bộ” do PGS TS Phan Thị Yến Tuyết làm chủ nhiệm, 2011

Trang 27

đưa thúng lên và xuống tàu ở ngoài khơi Hiện nay chỉ có ngư dân ít vốn mới còn sử dụng thúng chai hoặc đang sử dụng dở dang phải cố dùng nốt

Các làng chài và khu cư dân lâu đời tại thị trấn này như Hải An, Hải Trung, Phước Trung, Phước An trước năm 2008 hầu hết trải dài sát biển, người ta tận dụng mặt bằng bãi biển để làm thuyền, sửa thuyền, họp chợ cá, phơi cá khô…

Trang 28

CHƯƠNG 2: CÁC LOẠI HÌNH THUYỀN TRE TẠI VIỆT NAM, QUY

TRÌNH CHẾ TÁC VÀ CHỨC NĂNG HOẠT ĐỘNG

2.1 Lịch sử thuyền tre tại Việt Nam:

Việt Nam là một đất nước có nhiều sông, biển, việc đi lại của người dân chắc chắc phải dựa vào các loại bè, thuyền, ghe, tàu Việt Nam lại là quốc gia vùng nhiệt đới, tre rất nhiều, nên một trong những nguồn vật liệu làm phương tiện đi lại trên sông, biển ban đầu có lẽ phải dựa vào tre Tuy nhiên hầu như chưa có nhiều tài liệu thư tịch

về thuyền tre ở Việt Nam Từ rất xa xưa, từ thời mới dựng nước, nhiều nơi ở miền Bắc Việt Nam đã là cửa ngõ, nơi gặp gỡ đón nhận, giao lưu văn hóa giữa Văn Lang, Âu Lạc với các dân tộc khác trong khu vực, như vùng Thủy Nguyên của thành phố Hải Phòng ngày nay, vùng cửa biển này đã chứng kiến nhiều cuộc chiến đấu dữ dội của dân tộc Việt Nam chống sự xâm lược của phong kiến Trung Hoa, Mông Cổ cũng như thực dân Pháp, Nhật… Đặc biệt các trận thủy chiến với quân Thục của tướng Quý Minh- Bộ tướng của Hùng Duệ Vương; Các cuộc chiến đấu và sự hi sinh của Tướng Phạm Quảng thời tiền Lê chống quân Tống; cuộc thủy chiến năm 938 của Ngô Quyền; Cuộc thủy chiến năm 1288 của quân đội Đại Việt đã dìm các hạm thuyền của Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp xuống đáy Bạch Đằng giang; có thể nói không thể thiếu những chiếc thuyền nan đơn sơ, nhẹ nhàng, trôi như tên bắn trên sóng nước, tạo ra sự cơ động, tiến thoái nhanh nhẹn, biến hóa khôn lường làm cho thế trận Bạch Đằng dù trong bất cứ thời đại nào cũng huyền ảo như chuyện thần thoại của người Việt tạo ra thế: yếu thắng mạnh, ít địch nhiều làm phong phú nghệ thuật quân sự Việt Nam, nghệ thuật chiến tranh nhân dân trên sông nước Thủy Nguyên Trên những dữ liệu lịch sử ấy, có thể nói nghề đan thuyền ở vùng huyện Thủy Nguyên có từ rất xa xưa, từ vài nghìn năm, bởi thuyền nan đã gắn bó với con người đất “Thủy” trong đời sống sản xuất, đánh giặc.25Nghề đan thuyền ở Nội Lễ - thuộc xã An Viên, huyện Tiên Lữ, Hưng Yên, được hình thành từ bao giờ, ai là tổ nghề đến nay vẫn chưa tìm ra Nhưng theo các cụ già trong làng thì nghề đan thuyền ở đây có liên quan đến truyền thuyết kể về tướng quân Trần

25 Lê Xuân Lựa, Nghề đan thuyền ở huyện Tuy Lạc, xã Thuỷ Triều., trong sách Văn Duy, Lê Xuân Lựa (2011),

Làng nghề cổ truyền huyện Thủy Nguyên- Hải Phòng, NXB Văn hóa dân tộc, tr 154

Trang 29

Ứng Long đem quân đánh dẹp loạn 12 sứ quân Trần Ứng Long đã hạ lệnh cho quân vào rừng chặt tre đan thuyền, phỏng theo cách đan thúng Nhờ có thuyền nan mà quân của Trần Ứng Long đã phá được căn cứ của quân Đỗ Cảnh Thạc, góp phần thống nhất giang sơn Từ truyền thuyết này dân làng Nội Lễ tin rằng Trần Ứng Long là ông Tổ nghề đan thuyền26.Như vậy rõ ràng nghề thuyền thúng của người Việt xuất phát từ miền Bắc

Dấu vết các nhà hàng hải quốc tế đã từng là chứng nhân trên vùng biển thuộc chủ quyền người Việt từ cách đây hàng thế kỷ Trong khi hiện vật còn lưu lại về họ quá hiếm hoi thì các bộ sử sách lại ghi chép khá tỉ mỉ, trong đó, đặc biệt là các hồi ký, du

ký, bài báo do chính họ viết về những hải trình thám hiểm, giao thương đầy thú vị với người Việt Một trong số đó là hồi ký của viên trung úy thuyền trưởng người Mỹ John White trên chiếc tàu Franklin

Nhiều chiến thuyền, tàu buôn nước ngoài đã bị nạn khi qua vùng biển Paracel (Hoàng Sa) trong khi các hải đội triều Nguyễn vẫn thường xuyên ra vào vùng biển này Thậm chí họ từng cứu hộ tàu nước ngoài bị đắm Điều đó không chỉ được sử sách nước Việt ghi nhận mà các nhà hàng hải quốc tế, kể cả người Trung Quốc cũng ghi chép rất kỹ Người Việt đã chinh phục vùng biển nguy hiểm này bằng loại thuyền gì? Ông Võ Hiển Đạt ở đảo Lý Sơn hồi tưởng, đóng lại chiếc thuyền của những đội hùng binh nước Việt năm xưa sử dụng để chinh phục đại dương Là bậc cao niên hiếm hoi còn thông thạo chữ nho ở Lý Sơn, ông Đạt cũng từng tiếp cận nhiều tài liệu, thư tịch, sắc phong cổ ở

Lý Sơn để hiểu rõ về những con thuyền của tổ tiên mình27 Theo lời kể của ông Đạt, nửa đầu thế kỷ 20 dân đảo vẫn còn nghèo, người đi biển đều sử dụng những chiếc thuyền buồm, người đi buôn dùng ghe bầu Ngư dân có ghe câu nhỏ hơn Hai loại thuyền đôi nét khác nhau về kích cỡ, nhưng đều vượt biển giống nhau nhờ sức gió thổi buồm và khả năng xoay xở rất tốt ở những vùng biển nông dễ mắc cạn Với ghi chép tỉ

mỉ của Lê Quý Đôn thì không chỉ đội Hoàng Sa mà ngay cả đội Bắc Hải do đội Hoàng

Sa kiêm quản cũng chinh phục đại dương bằng loại thuyền nhỏ này Trong một chỉ thị cho đội Hoàng Sa tiếp tục hoạt động, triều đình Tây Sơn năm 1786 ghi rõ: “Sai Hội

Trang 30

Đức Hầu, cai đội Hoàng Sa luôn xem xét, đốc suất trong đội cắm biển hiệu thủy quân,

cưỡi bốn thuyền câu vượt biển, thẳng đến Hoàng Sa ” Và loại thuyền câu đó chính là

loại thuyền gỗ có thân thuyền bên ngoài bọc nan tre, là một loại thuyền nan

Bản vẽ kỹ thuật thuyền buồm dùng để đi Hoàng Sa –Ảnh: Kỷ yếu Hoàng Sa 28

Đặc biệt, nhiều nhà du hành, thương nhân nước ngoài khi đến Đàng Trong cũng nhắc đến loại thuyền độc đáo của ngư dân Việt mặc dù họ có một vài cách định danh khác nhau Nhà sư Thích Đại Sán, người Trung Hoa khi đi thuyền đến xứ Đàng Trong năm

1696 đã có nhiều ghi chép trong tập Hải ngoại ký sự về loại thuyền “điếu xá” rất nhanh của người vương quốc này Nhà sư Thích Đại Sán đã ngưỡng mộ loại thuyền nhỏ của người Việt này được cơn gió thuận thì lướt nhanh gấp 10 lần những chiếc thuyền gỗ lớn nặng nề Vừa rồi, ông Đạt đóng chiếc ghe câu đi Hoàng Sa là mô hình thu nhỏ cho Bảo tàng Quảng Ngãi Còn kích cỡ thật của nó dài 12-18m, rộng 2,5-3m

và sâu khoảng 1,8 đến hơn 2m Điểm nhận diện đặc biệt của chiếc ghe câu này là

thường đóng bằng cả gỗ và tre Trong đó, gỗ dùng làm khung sườn và phần trên ghe là

tre được đan thành mê bao bọc phần dưới ghe để chống nước xâm nhập bên trong Tre

chính là bí quyết làm chiếc thuyền câu của người Việt trở nên nhẹ nhàng để đạt được tốc độ cao 29

Ông Võ Hiển Đạt kể những người ở tuổi 80 như ông trên đảo đều biết rõ, thậm chí nhiều người từng tự tay đóng hoặc đi biển trên những chiếc ghe đó “Không sử dụng

nhiều gỗ như bây giờ vì phần thân dưới ghe là mê tre, nhưng người thợ đóng loại ghe

28 Thứ Ba, 31/01/2012, 09:14 (GMT+7) Tuổi trẻ Onlines Kỳ 4

29Phan Thị Yến Tuyết, Thuyền tre đi biển ở Việt nam, Bản thảo (nguồn: Người Việt chinh phục đại dương -

Kỳ 4: Trong mắt một thuyền trưởng Mỹ (John White )

Trang 31

đó phải biết dựng nên khung sườn gỗ chắc chắn để kết hợp với độ dẻo dai của tre mà chống chịu bão gió trên biển ”.Ông Trà cho biết chỉ riêng tấm mê tre chịu nước dưới ghe cũng thể hiện kinh nghiệm độc đáo của người Việt

Thợ làm mê phải có kinh nghiệm lựa tre già, lóng tốt, không thối gốc, cụt ngọn, sau đó mới

chọn đoạn dài đẹp nhất giữa thân Việc chẻ tre thành từng thanh nan cũng đòi hỏi rất khéo tay Nan tre phải đạt độ dày và lớn đều nhau để mắt đan liên kết chặt chẽ Nan tre đan mê ghe không cần ngâm nước trước, nhưng phải phơi đủ vài nắng tươi Thợ đan phải có kinh nghiệm mới được đan mê ghe để đều tay, xít chặt Mắt mê cũng không không đan song song hay thẳng đứng với mặt nước mà theo chiều xéo góc để có độ dẻo dai, chống chịu được sóng gió Mê tre sau khi đan xong được quét phân trâu bò để trét kẽ nan, rồi lại tiếp tục phủ lớp dầu rái (cây rái trên rừng) Theo ông Trà, tấm mê tre có vẻ mỏng manh so với gỗ nhưng dẻo dai, khó gãy Khi gặp sóng gió có thể lún vào rồi lại căng ra bình thường Mê tre cũng rẻ tiền,

dễ thay sau mỗi hải trình xa xôi, nếu được quét dầu rái cẩn thận có thể bền hơn ba năm Ưu điểm lớn nhất của mê tre chính là sự nhẹ nhàng giúp giảm tải ghe Thường mê tre chỉ nặng bằng 1/5 so với gỗ Nhờ đó mà chiếc ghe câu hay ghe bầu vận tải của người Việt xưa đã đạt tốc độ rất cao 30

Chắc chắn chiếc ghe câu nhỏ là phương tiện chủ yếu của hải đội Hoàng Sa đã được ghi chép trong sử sách và ký ức con cháu nhiều đời truyền lưu31 Qua đây có thể thấy công dụng của mê tre đương thuyền xưa, loại thuyền đi biển của những đội thuỷ quân Hoàng Sa John White không tiếc lời ngợi khen những chiếc thuyền có cấu tạo độc đáo

bằng mê tre rất thông dụng là ghe bầu đi buôn hay giống như hải thuyền của các hải

đội Hoàng Sa sử dụng: “Chúng tôi rất kinh ngạc thấy rằng có một số chiếc trọng tải

quá 50 tấn mà có đáy thuyền làm bằng tấm phên tre được đan sít sao và gồm có hai phần, mỗi phần tạo thành một bên đáy thuyền nằm dưới cái đai mạn thuyền Đáy loại

thuyền này cũng như đáy các loại thuyền khác đều có phết loại nhựa dính dầu và vôi, hỗn hợp rất đều, tạo thành một hợp chất dính rất bền, tuyệt đối không thấm nước và chống lại sự tấn công của các loài sâu hà một cách hữu hiệu ”.Khi mô tả khả năng

lướt sóng của những chiếc thuyền mê tre độc đáo này, John White viết: “Những chiếc

thuyền ấy rất bền, khi buồm no gió chúng được đẩy nhanh và đi biển rất tốt Thuyền

có hai hoặc ba cánh buồm được cắt rất sắc sảo và được làm rất thích đáng Những

30 Thứ Hai, 30/01/2012, 09:32 (GMT+7) Người Việt chinh phục đại dương - Kỳ 3: Câu chuyện của người thợ cả Tuổi trẻ Online

31 Phan Thị yến Tuyết, Thuyền tre đi biển ở Việt Nam, Bản thảo (Nguồn: Quốc Việt)

Trang 32

cánh buồm ấy đều làm bằng đệm lát, những cánh buồm của thuyền buôn đều có dây thu buồm xỉn màu đen Điều đó chứng tỏ John White đã rất quan tâm và biết khá chính xác kỹ thuật đóng tàu của người Việt Hồi ký của ông cũng kể đã đem vô số vật lạ của quốc gia này về nhà bảo tàng hàng hải của East - India Martine Society32

Người thợ cả Nguyễn Tấn Trà Ảnh: Q.V Hải thuyền Hoàng Sa được phục dựng

Thả thuyền tượng trưng trong lễ khao lề - Ảnh: Đ.Hùng

Qua nghiên cứu thuyền tre ở Việt nam, chúng tôi nhận thấy tính thích nghi của người dân, của người thợ thủ công ở Việt nam rất cao, như nhà nhân học Mỹ Julian H

Steward dùng khái niệm thích nghi để lý giải hành vi văn hoá của con người đối với

môi trường tự nhiên Điều này có nghĩa là sự biến đổi và thích ứng văn hoá là một quá

trình tương tác giữa văn hoá với môi trường tự nhiên Khái niệm thích nghi không chỉ

xác định vai trò, vị trí của con người trong hệ sinh thái tự nhiên mà còn xác lập mối quan hệ giữa con người với tự nhiên

32 Phan Thị Yến Tuyết, Thuyền tre đi biển ở Việt Nam, Bản thảo sách (Nguồn: Quốc Việt,Kỳ 3: Câu

chuyện của người thợ cả), Tuổi trẻ Online)

Trang 33

2.2 Các loại hình thuyền tre tại Việt Nam, quy trình chế tác và chức năng hoạt

động:

Hiện nay qua khảo sát từ giáo viên của chúng tôi thì thuyền tre tại Việt Nam

theo tên gọi và hình dạng chủ yếu có 2 loại: thuyền nan và thuyền thúng

- Thuyền nan có ít nhất 4 loại với hình dạng khác nhau nhưng người ta vẫn gọi chung

là thuyền nan, đó là: thuyền nan hình bầu dục (oval), thuyền nan mũi bằng, thuyền nan

mũi cong, thuyền nan mũi cong, thuyền thoi (thuyền nhỏ và dài, hai đầu nhọn như con thoi dệt vải)

1 Thuyền nan hình bầu dục

(Miền Bắc, miền Trung,

4 Thuyền nan mũi cong

(Miền Trung, miền Nam)

Nguồn: Phan Thị Yến Tuyết

- Thuyền thúng chỉ có một loại hình dạng nhưng kích thước to nhỏ khác nhau, xuất

hiện toàn Việt Nam nhưng khá ít ở miền Bắc, nhiều nhất ở khắp miền Trung và hầu như chỉ có nhiều tại tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu của miền Nam) Hiện nay có loại thuyền thúng bằng tre và thuyền thúng bằng nhựa composite Chúng tôi chỉ khảo sát thuyền

Trang 34

thúng bằng tre, còn loại cải tiến bằng nhựa composite chúng tôi chỉ đề cập tới trong khía cạnh khác

Thuyền thúng YT

2.2.1 Thuyền tre tại miền Bắc, quy trình chế tác và chức năng hoạt động:

Nghề làm thuyền thúng, thuyền nan ở miền Bắc ít nhất có từ hàng nghìn năm nay Thuyền tre tại miền Bắc tuy cũng có thuyền thúng nhưng rất, từ xưa tới nay chỉ chủ yếu là thuyền nan, trong đó bao gồm thuyền nan hình bầu dục, thuyền nan mũi

bằng và thuyền nan hình thoi (thuyền thoi), nhưng có lẽ thuyền nan hình bầu dục phổ biến và đặc trưng nhất Nguyên liệu chính để làm thuyền nan là tre Tre được chọn lựa

kỹ càng, phải là loại tre rừng có độ già đều nhau, nếu không chúng sẽ co giãn, không bằng nhau, sẽ làm cho thuyền bị vênh, bị hở Thuyền nan bầu dục phổ biến mạnh

khắp vùng sông nước ở miền Bắc, nhưng chúng tôi khảo sát điểm ở thôn Nội Lễ, xã

An Viên, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên; thôn Tuy Lạc, xã Thuỷ Triều, huyện Thuỷ Nguyên, Tp Hải Phòng; Khu Hưng Học, phường Nam Hà, huyện Yến Hưng, đảo Hà Nam, Tp Quảng Ninh để có cái nhìn ở vùng gần biển, vùng ven biển và vùng hải đảo Cây tre là nguyên liệu chính để đan mê, đan thuyền phổ biến nhất, thích hợp nhất, tốt nhất, thân thiện với môi trường nhất ở Việt Nam Rất nhiều dụng cụ gia đình và công

cụ sản xuất làm từ tre

Nghề đan thuyền nan ở miền Bắc nhìn chung trải qua quy trình chế tác cơ bản như sau:33:

- Chọn tre làm nan : Nan dùng để đan thuyền là nan chẻ từ cật của cây tre (phần

vỏ cứng) Cật tre có đặc điểm là cứng, dẻo, dễ đàn hồi như có thể uốn cong và duỗi ra

33 Phan Thị Yến Tuyết, Thuyền tre đi biển tại Việt Nam Bản thảo sách

Trang 35

như cũ, điểm khác là cật tre lâu mục nát, không trương lên khi ngấm nước34 Theo kinh

nghiệm của thợ đan thì tre làm nan nên chọn loài tre hóa ( loại tre thân cao, không to

lắm, vỏ mỏng, dẻo) Các loài tre khác như tre mai, vầu, lộc ngộc, dóc… đều không thể

chẻ nan được vì rất giòn Nếu vỏ xanh đậm là tre già Tre già thịt hồng, tre non thịt

trắng Tre già quá thì tốt nhưng khó làm Nhìn thân tre, đầu bướu nhỏ, tròn như củ hành là xương không ăn sâu vào thịt, ít gẫy, dễ chẻ được nhiều nan Vùng Thủy

Nguyên, Hải Phòng có loại tre có thể làm nan, làm cạp, làm thang thuyền rất tốt Để

làm nên chiếc thuyền nan tốt, việc chọn tre rất cần thiết

- Đan mê: Làm nan tre xong, người thợ bắt đầu đan thành mê (mê là tấm tre đan

khổ lớn, đan từ các nan tre) Công đoạn đan quan trọng nhất là phải tỉ mỉ chịu khó dồn

nan thật sát sao, thật chặt và gắn kết với nhau Người thợ khi đan luôn dùng một đoạn

gỗ dài, gọi là cái sảm, đan đến đâu, người ta lại dùng búa gõ vào đầu sảm để dồn nan lại cho khít Đan xong, tấm mê được phơi khô, sau đó lại tiếp tục dùng cái sảm dồn

nan lại lần cuối cho chặt hơn nữa, rồi mới uốn, tạo dáng vành quanh thuyền (miền Bắc gọi là cạp) để thành hình chiếc thuyền Đây là công đoạn quan trọng nhất, đòi hỏi người thợ phải có tay nghề, kỹ thuật cao để cạp sao cho cân đối, không bị vênh, bị méo

Trang 36

Trong việc làm mê, gầy là thao tác đầu tiên cho việc đan tre, người ta đan long mốt

Đan hết nan công nhất thì đan sang nan công nhì, ba, tư, năm Đan xong một mê

thuyền, phơi cho khô lại rồi cạp Nếu chưa cạp kịp, có thể cuộn tròn, dùng dây bó lại

để vào chỗ khô ráo cho gọn Nếu để lâu, trước khi cạp cũng cần xem lại mê, nếu thưa

do tre ngót thì dùng sảm, sảm lại nan cho chặt rồi mới cạp Đan mê thuyền là một trong những khâu quan trọng nhất của làm thuyền Người thợ phải rất tỉ mỉ, cẩn thận khi đan thì các nan thuyền mới đều và khít khi đó các công đoạn sơn thuyền, mê và sắn thuyền sẽ gắn kết làm một, lòng thuyền mới không bị thấm nước Mê thuyền đan xong đem phơi nắng Nan sẽ bị ngót, người thợ phải làm tiếp công đoạn nữa là dồn nan và cài thêm nan dọc theo kiểu “cất 5 đè 2”.35

- Làm cạp: Tre làm cạp phải là tre dày thịt, già, cứng Muốn cạp được thuyền người ta

phải đào một cái hố đất theo hình lòng thuyền, gọi là lò 36 , sau đó chốt cọc ở bốn góc

để làm gióng cạp Lò như cái khuôn làm thuyền, có kích thước như cái thuyền Đặt mê thuyền vào lò, dùng sức nặng của hai ba, người đứng vào trong lòng thuyền lấy hai chân dận dần dần xung quanh cho giãn đều, khi mê thụt xuống lò đến mức quy định thì cạp lại.37 (Cạp là làm vành cho thuyền) Cạp thuyền được làm bằng 2 cây tre gai,

chọn cây tre dài, già, cứng, dày thịt, có mắt thẳng, chiều của cây tre phụ thuộc vào chiều dài của chiếc thuyền (Thường phải dùng hai cây nối với nhau mới đủ độ dài để làm một chiếc cạp thuyền) Ở vùng Thủy Nguyên, tre làm cạp thường mua ở Lại Xuân, Liên Khê, An Sơn Cạp thuyền làm bằng tre đực già tách đôi, hai đầu vót mỏng Cạp thuyền có hai loại là cạp trong và cạp ngoài Cạp trong là thành phần chịu lực chính của thuyền nên phải dùng tre gốc Cạp thuyền xong đến nộm thuyền để buộc chặt cạp trong và cạp ngoàì

- Buộc vành thuyền: Người thợ dùng một cái dùi sắt, dùi lỗ xuyên qua mê thuyền,

dùng dây tre hoặc sắt luồn qua, xiết chặt rồi buộc lại Dùng dao hoặc cưa cắt bớt nan thừa cho sát mép cạp cho nhẵn nhụi Trong quy trình đan thuyền thì nứt thuyền – buộc thuyền chính thức, là khâu quan trọng nhất Trước đây người thợ nứt bằng lạt tre Để

35 Văn Duy, Lê Xuân Lựa(2011), Nghề đan thuyền ở huyện Tuy Lạc, xã Thuỷ Triều Hội Văn nghệ dân gian Việt

Nam, NXB Văn hóa dân tộc, tr 167

36 Ở miền Trung gọi là “lận hầm”

37 Văn Duy, Lê Xuân Lựa (2011) Tài liệu đã dẫn, tr 171

Trang 37

lạt mềm và bền thì trước khi nứt, người thợ phải chọn lạt cật tre đem luộc kỹ sau ngâm với nước muối Còn ngày nay hầu hết thuyền được nứt bằng dây thép nhỏ

Theo kinh nghiệm, tre làm cạp thuyền và thang thuyền là dùng tre đực Còn tre dùng

để uốn cong mũi thuyền hay phủ đầu thì dùng tre cái là tốt nhất, vì loại tre này có độ mềm, dẻo nhất định, tốt nhất vẫn là tre bánh tẻ Kích cỡ của mỗi loại thuyền dựa trên một khuôn mẫu chung thường có chiều dài là 6 thước, rộng 2 thước 8 (thước ta) và thuyền thường có chiều dài gấp 2,5 lần chiều rộng Nan thuyền có 3 loại: nan dọc, nan ngang và nan mũi Trong đó nan dọc là nan quan trọng nhất, vì nan dọc tạo nên xương sống của chiếc thuyền, nên thường được dùng đoạn gốc của cây nứa

- Làm thang thuyền: Thang thuyền là những khúc tre đặt ngang trong lòng bụng

thuyền, mục đích làm cho thuyền cứng, vì vậy thang cần được làm bằng loại tre lấy ở đoạn gốc, già, cứng, chịu lực tốt để cho mạn thuyền vững chắc Những người có kinh

nghiệm lâu năm, thường chọn tre chiêm (là cây tre mọc măng vào tháng bảy, tháng

tám, do phát triển trong mùa thu và đông nên thân tre rắn rỏi, ít nước, cứng chắc)38 Mỗi thuyền có từ bốn đến sáu thang ngang, tùy theo thuyền nhỏ hay to Hai đầu thang ngang đục lỗ để chốt vào giữ cạp Muốn giữ thang ngang cho chặt, phải dùng dây néo, kéo bụng thuyền bóp nhỏ lại, sau đó đóng chốt thang, khi bỏ néo dây ra, thuyền dãn kéo căng thang nên rất chặt.39 Thang làm mạn thuyền yêu cầu phải cứng Nó vừa là thanh giằng hai bên mạn giữ cho thuyền vững chắc, vừa đỡ sạp thuyền để người ta có thể đi lại trên đó

- Xảm thuyền là trét kín thuyền bằng chất liệu kết dính Tùy mỗi địa phương ở miền

Bắc mà có cách xảm thuyền khác nhau, ví dụ ở làng nghề Hưng Học thì chất kết dính

dùng để xảm thuyền chính là bột vỏ cây sắn thuyền giã nhỏ, ngâm kĩ (Cây sắn thuyền

là cây to, cao 5 – 6m) Từ thời cổ, người dân địa phương đã biết cạo vỏ, băm nhỏ, cho vào cối giã cho đến khi thật dẻo và nhuyễn rồi cho vào vại ngâm, ủ mấy ngày sẽ được một thứ bột nhão, trát kín hết khe hở của thuyền Do trong vỏ sắn có chất nhựa dẻo nên khi phơi khô chúng gắn chặt vào nhau, còn khi thuyền xuống nước, bột sắn nở ra làm cho thuyền càng khít hơn Thuyền phải được sơn làm ba lần thì lòng thuyền mới

38 Văn Duy, Lê Xuân Lựa (2011) Tài liệu đã dẫn, tr 159

39 Văn Duy, Lê Xuân Lựa (2011) Tài liệu đã dẫn, tr 172

Trang 38

không bị thấm nước Sơn lần thứ nhất là để sắn thuyền kết dính toàn bộ các mắt nan,

đến lần thứ hai, thứ ba là để củng cố lại độ kết dính Sau mỗi lần sơn thuyền sẽ được

hong phơi cho khô nhưng tránh phơi dưới trời nắng gắt vì sắn thuyền sẽ bị nứt, mà nên

phơi thuyền trong bóng râm miễn sao cho khi sờ tay vào mặt thuyền thấy se tay là

được40 Sau cùng người ta phủ nhựa làm đường (hắc ín) để quét bên ngoài lớp bột

nhựa sắn để giữ cho lớp này được bền (Ngày xưa chưa có nhựa làm đường, người ta

chỉ dùng bột nhựa sắn thuyền) Trát nhựa đường xong thì úp thuyền xuống cho khô 41

Trong khi đó ở Thủy Nguyên, Quảng Ninh, sau khi cạp thuyền người thợ dùng phân

trâu trộn nhuyễn với nước trát kín những khe hở giữa các nan tre, sau đó người ta phơi

nắng vài ngày rồi quét nhựa làm đường bên ngoài thuyền một vài lần thì thuyền mới

hoàn thành

Quét nhựa đường (hắc ín) Thuyền nan thành phẩm

(Nguồn: Báo Quảng Ninh Online) Nguồn: Lê Xuân Lựa, 2011

Việt Nam từ ngày xưa chủ yếu là nhựa cây sắn thuyền hoặc phân trâu Nguyên

liệu chống thấm nước phủ ngoài thuyền nan được làm từ cây sắn thuyền, đó là nguyên

liệu chế biến từ vỏ một loại cây gọi là cây sắn thuyền mọc tại địa phương Qua phương

cách làm thuyền nan có thể thấy rất rõ tính thích nghi của người dân với môi trường

sinh thái nên điều này thể hiện rõ yếu tố sinh thái văn hoá

Theo Lê Xuân Lựa, sắn thuyền thuộc loại thân gỗ, cây to, cao đến 5 – 6m, quả nhỏ bằng hạt ngô,

khi chín màu tím có vị chát hơi ngọt, mọc nhiều ở vùng đồi núi Từ thời cổ, người ta đã biết bóc

vỏ, băm nhỏ, cho vào cối giã nhuyễn rồi ủ mấy ngày sẽ được một thứ bột nhão dùng để trét kín

40 http://www.langnghe.org.vn/lang-nghe-thuyen-nan-noi-le.htm

41 Văn Duy, Lê Xuân Lựa (2011) Tài liệu đã dẫn, tr 164- 174

Trang 39

hết khe hở của thuyền Do vỏ sắn có nhựa nên khi phơi khô chúng gắn vào nhau Điều đặc biệt, khi nhúng thuyền xuống nước, bột sắn không tan, nhão ra trong nước mà nó nở ra làm cho thuyền càng kín hơn Sau khi quét lớp sắn thuyền, người ta lại còn dùng nhựa đường (hắc ín)

Các dụng cụ làm thuyền nan tại miền Bắc gồm trên 10 loại:

- Dao rựa: Dao chặt tre, chẻ tre

- Dao pha: Để vót nan

- Cưa: Dùng cắt tre thành từng đoạn

- Cối đá: Dùng để giã vỏ cây sắn

- Sảm tre: Dùng để quét nhựa sắn, nhựa đường

- Hòn đá: Để đập khi cạp thuyền.43

Ðan một chiếc thuyền mất khá nhiều thời gian, thợ lành nghề cũng phải từ 1-2 ngày công mới hoàn thành được 1 chiếc thuyền nhỏ, còn thuyền lớn hơn thì có khi tới 8-10 ngày Tại các cơ sở sản xuất thuyền nan cỡ lớn nhất có trọng tải 7 tấn và nhỏ nhất cũng khoảng vài ba tạ Mỗi chiếc thuyền khi hoàn chỉnh có giá từ 1,5 triệu đến 20 triệu đồng, tùy thuộc vào trọng tải của nó44 Mặc dù những năm gần đây, với sự xuất hiện của khá nhiều thuyền nhựa, nhưng thuyền nan với ưu điểm là nhẹ, cơ động trên sông

và ven biển, giá thành lại rẻ hơn nên vẫn được khách hàng ưa chuộng

Ðể tạo độ cứng cho thuyền, người ta phải đóng thêm bộ ki bằng gỗ táu thuyền và

bộ xà lỳ ở bốn bên cạp thuyền Chính vì thế, tuy đan bằng nan tre nhưng thuyền rất

vững và chắc (Ngoài tre là nguyên liệu chủ lực, người ta còn dùng gỗ phụ vào để làm

xà lì, đó là những thang gỗ xẻ hình hộp đóng xung quanh hai bên mạn, hai đầu con thuyền Xà lì có tác dụng tăng độ vững chắc của thuyền, được dùng cho những thuyền

42 Phan Thị Yến Tuyết (Nguồn:Văn Duy, Lê Xuân Lựa(2011), Nghề đan thuyền ở huyện Tuy Lạc, xã Thuỷ

Nguyên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc, tr 160- 163)

43 Văn Duy, Lê Xuân Lựa (2011) Tài liệu đã dẫn, tr 164

44 Báo Quảng Ninh Online

Trang 40

vận tải hoặc những thuyền có kích thước lớn Các thuyền vận tải hàng chục tấn trở lên, người ta gia cố thêm vaì mảnh thép đỡ bên dưới vỏ đáy thuyền nhằm tăng độ cứng cho

vỏ thuyền, nhờ những thanh thép này, khi thuyền gặp cạn vỏ không bị gẫy, không bị biến dạng Đây là sự sáng tạo của những người thợ đan theo yêu cầu cũa thực tế vận chuyển trên sông Ngày nay do yêu cầu tốc độ, người ta đã lắp máy cho những con thuyền Hầu hết là máy diezen có công suất từ 6 đến 15 mã lực Đối với thuyền có trọng tải lớn, lắp chân vịt trực tiếp sau đuôi thuyền)45

Thị trường tiêu thụ thuyền thúng, thuyền nan chủ yếu tập trung ở Quảng Ninh, đảo Cát Bà, Cát Hải, Cô Tô, các đảo ngoài vịnh Hạ Long, Đồ Sơn, Lập Lễ, Phả Lễ, Tam Hưng và ở các vùng sông nước của các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ

Về chức năng của thuyền nan ở miền Bắc gồm có:

- Thuyền vận tải trên sông và ven biển :

Loại thuyền này có kích thước lớn, dài khoảng 8,4m (21 thước ta46), có trọng

tải 18 tấn, có thể ra biển đánh bắt Loại thuyền nhỏ khoảng 2,4m (6 thước ta) - Thuyền

vận chuyển trong đầm, đồng sâu : Loại này chủ yếu từ 6 đến 7,8 thước ta, dùng chở

đất đắp đầm, đào ao, chở lúa

- Thuyền dùng đánh bắt cá: Tùy theo nghề đánh bắt bằng gì thì đan loại đó cho phù

hợp, như thuyền câu, thuyền đăng, thuyền đơm, thuyền te, thuyền lưới các loại …

- Thuyền đi buôn bán, đi chợ: Loại này giải quyết di chuyển gọn, nhẹ.47

Thuyền nan (mũi bằng) đi chợ Thuyền nan (hình bầu dục) đi hái sen

45 Văn Duy, Lê Xuân Lựa (2011) Tài liệu đã dẫn, tr 160- 161

46 1 thước ta bằng 0,42cm

47 Văn Duy, Lê Xuân Lựa(2011), Nghề đan thuyền ở huyện Tuy Lạc, xã Thuỷ Nguyên Hội Văn nghệ dân gian

Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc, tr 160- 163

Ngày đăng: 07/05/2021, 18:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Cơ quan nghiên cứu kế hoạch cao cấp, Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng (Hoa Kỳ) và Trung tâm phát triển tác chiến quân lực Việt Nam Cộng Hoà (1967), Thanh thư về tàu thuyền cận duyên hải miền Nam Việt Nam (Sách song ngữ Việt- Anh) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh thư về tàu thuyền cận duyên hải miền Nam Việt Nam
Tác giả: Cơ quan nghiên cứu kế hoạch cao cấp, Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng (Hoa Kỳ) và Trung tâm phát triển tác chiến quân lực Việt Nam Cộng Hoà
Năm: 1967
5. Cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản (online) (10-7- 2008), Hiện trạng khai thác và sử dụng nguồn lợi cá mòi cờ hoa trên các sông ở khu vực Bắc Bộ 6. Đảng ủy xã An Dân, (2011). Báo cáo tổng kết năm 2011 và phương hướngnhiệm vụ năm 2012, 28- 12- 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm 2011 và phương hướng "nhiệm vụ năm 2012
Tác giả: Cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản (online) (10-7- 2008), Hiện trạng khai thác và sử dụng nguồn lợi cá mòi cờ hoa trên các sông ở khu vực Bắc Bộ 6. Đảng ủy xã An Dân
Năm: 2011
7. Đức Huy (2011). Xuất khẩu thuyền thúng, Báo Thanh niên Online, 1- 12- 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu thuyền thúng
Tác giả: Đức Huy
Năm: 2011
8. Ngô Phương Lan. 2006. “Tri thức dân gian các dân tộc ở Sóc Trăng” trong Văn hóa dân gian các dân tộc ở Sóc Trăng. Đề tài trọng điểm của Đại học Quốc gia Tp. HCM, PGS Chu Xuân Diên chủ nhiệm. (TLG: James Spradley &amp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tri thức dân gian các dân tộc ở Sóc Trăng"”" trong "Văn hóa dân gian các dân tộc ở Sóc Trăng
9. Lê Văn Phong, Nguyễn An Bang (2012). Sông Cầu mùa biển lặng, (Nguồn: Internet/ http://www.vtv6.com.vn/NewsDetail.aspx?id=16681) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sông Cầu mùa biển lặng
Tác giả: Lê Văn Phong, Nguyễn An Bang
Năm: 2012
10. Mai Thành Tiến (2009). Làng chài Phước Hải mùa mưa (Nguồn: Quehuongtoi.vn, 9- 2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng chài Phước Hải mùa mưa
Tác giả: Mai Thành Tiến
Năm: 2009
11. Phan Thị Yến Tuyết (2011). Những vấn đề kinh tế- văn hóa- xã hội của cư dân vùng biển đảo Nam Bộ, Đề tài trọng điểm cấp Đại học Quốc gia, Bản thảo đã nghiệm thu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề kinh tế- văn hóa- xã hội của cư dân vùng biển đảo Nam Bộ
Tác giả: Phan Thị Yến Tuyết
Năm: 2011
12. Phan Thị Yến Tuyết (2011). Tài liệu điền dã tại Phú Yên và Bà Rịa- Vũng Tàu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Thị Yến Tuyết (2011)
Tác giả: Phan Thị Yến Tuyết
Năm: 2011
13. Phan Thị Yến Tuyết (2004). Giáo trình điện tử môn “Văn hóa dân gian”. Khoa Nhân học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP.HCM. Bản thảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian
Tác giả: Phan Thị Yến Tuyết
Năm: 2004
15. Tạp chí Quê Hương Onlines (2011). Thuyền thúng - Thô sơ, nhỏ bé mà hữu dụng, (Báo ảnh Việt Nam), Nguồn: Marine Nationale/Johann Peschel Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo ảnh Việt Nam)
Tác giả: Tạp chí Quê Hương Onlines
Năm: 2011
16. Tiến Thành, Thúng chai Phú Mỹ (2012). Báo Tuổi Trẻ Chủ nhật số 10, ngày 11- 3- 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thúng chai Phú Mỹ
Tác giả: Tiến Thành, Thúng chai Phú Mỹ
Năm: 2012
17. Trọng Nghĩa, Việt Nam tại Lễ hội Hàng hải Brest 2008, 7- 2008 18. Thực trạng nghề câu mực xà ở Việt Nam - 10/01/2009, (Rimf) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam tại Lễ hội Hàng hải Brest 2008", 7- 2008 18. Thực trạng nghề câu mực xà ở Việt Nam - 10/01/2009
21. Văn Duy, Lê Xuân Lựa (2011), Làng nghề cổ truyền huyện Thủy Nguyên- Hải Phòng, Nghề đan thuyền ở làng Tuy Lạc, xã Thuỷ Triều. Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề cổ truyền huyện Thủy Nguyên- Hải Phòng, Nghề đan thuyền ở làng Tuy Lạc, xã Thuỷ Triều
Tác giả: Văn Duy, Lê Xuân Lựa
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2011
22. Viện Văn hóa Thông tin- Sở Văn hóa thông tin Phú Yên (2006). Văn hóa cư dân Việt ven biển Phú YênTÀI LIỆU INTERNET Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa cư dân Việt ven biển Phú Yên
Tác giả: Viện Văn hóa Thông tin- Sở Văn hóa thông tin Phú Yên
Năm: 2006
2. Báo Phú Yên chủ nhật (2012). Số 1601, ngày 8- 1- 2012. 3. Báo Quảng Ninh Online Khác
14. Phan Thị Yến Tuyết (2011), Thuyền tre đi biển ở Việt Nam. Bản thảo Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w