1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mức độ hiểu biết và kĩ năng áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại của các cặp vợ chồng công nhân hiện nay (điển cứu khu phố bình đường 2, phường an bình dĩ an bình dương) công trình dự thi g

158 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 2,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để góp phần giải quyết vấn đề này, chúng ta cần có những nghiên cứu tìm hiểu lý do không sử dụng hoặc sử dụng không liên tục BPTTHĐ ở các cặp vợ chồng trẻ hiện nay.Tuy nhiên, tại Việt Na

Trang 1

BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH

-

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC EURÉKA

Cao Thị Thu Phượng ThS Nguyễn Thụy Diễm Hương hướng dẫn

LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC

Mã số công trình…

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TÓM TẮT 1

MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 14

1.1 Cơ sở lý luận 14

1.2 Cơ sở thực tiễn 20

1.3 Thời gian bắt đầu và kết thúc 30

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA MẪU NGHIÊN CỨU 31

2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 31

2.2 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 33

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44

3.1 Kiến thức về các BPTTHĐ 44

3.2 Tiếp cận dịch vụ KHHGĐ và sử dụng các BPTTHĐ 64

3.3 Kết luận và khuyến nghị 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHỤ LỤC 84

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ĐƯỢC SỬ DỤNG

STT Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ của từ

Trang 4

TÓM TẮT

Nâng cao kiến thức về sức khỏe sinh sản (SKSS), kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) và các biện pháp tránh thai hiện đại (BPTTHĐ) là nhiệm vụ trọng tâm được Đảng và Nhà nước ta ưu tiên hàng đầu Chính vì vậy việc nghiên cứu về mức độ hiểu biết và kĩ năng áp dụng BPTTHĐ giành cho các cặp vợ chồng trong

độ tuổi sinh đẻ đóng vai trò quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết Mục đích chính của đề tài là mô tả thực trạng kiến thức và kĩ năng áp dụng các BPTTHĐ của đối tượng, đồng thời mô tả tình hình cung cấp thông tin, dịch vụ KHHGĐ

và các BPTTHĐ trên địa bàn khu phố Bình Đường 2, phường An Bình

Để có được những thông tin mang tính khách quan cho vấn đề nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng hai phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính, trong đó định lượng là phương pháp chính Ở phương pháp định lượng, với cách chọn mẫu phi xác suất với công cụ là bảng hỏi Với 150 khách thể là các cặp vợ chồng công nhân tại khu phố Bình Đường 2 được tiến hành khảo sát Phương pháp định tính với công cụ là phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm Có 35 cuộc phỏng vấn sâu bao gồm: 21 vợ/chồng, 01 lãnh đạo địa phương, 01 phó trạm y tế, 02 nhân viên y tế, 10 chủ tiệm thuốc tây và 03 cuộc thảo luận nhóm được thực hiện

Kết quả nghiên cứu cho thấy: 1) Các đặc điểm về mẫu nghiên cứu là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến mức độ hiểu biết và kĩ năng áp dụng các BPTTHĐ 2) Các cặp vợ chồng công nhân còn mơ hồ, thiếu kiến thức và kĩ năng áp dụng các BPTTHĐ 3) Tình hình cung cấp dịch vụ KHHGĐ, BPTTHĐ trên địa bàn tương đối đầy đủ, phần nào đáp ứng được nhu cầu của người dân Tuy nhiên các dịch vụ còn rời rạc chưa mang tính hệ thống, công tác tổ chức chưa thực sự khoa học để mang lại hiệu quả tốt nhất cho người sử dụng

Những kết quả trên cho thấy cần tăng cường cung cấp thông tin, dịch vụ KHHGĐ, BPTTHĐ, trực tiếp truyền thông về SKSS, DS-KHHGĐ tới người dân địa phương, đặc biệt là các cặp vợ chồng công nhân để trang bị đầy đủ kiến thức và kĩ năng cần thiết khi sử dụng BPTTHĐ

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Bước vào thế kỉ 21, khi mức sinh đã giảm mạnh và đạt mức sinh thay thế, chính sách dân số của nước ta trong giai đoạn này được chuyển hướng nhằm giải quyết toàn diện các vấn đề dân số, trong đó tăng cường chăm sóc SKSS là một trong những vấn đề được ưu tiên Một trong các mục tiêu cụ thể là cải thiện SKSS vị thành niên và thanh niên, các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, thông qua việc tuyên truyền giáo dục và cung cấp dịch vụ SKSS phù hợp với các lứa tuổi, đặc biệt là việc tìm hiểu và nâng cao hiểu biết, kĩ năng áp dụng các BPTTHĐ Vì vậy nhóm chúng tôi quyết định nghiên cứu về lĩnh vực SKSS Tuy nhiên vì năng lực và kinh nghiệm trong NCKH còn hạn chế nên nhóm chúng tôi chỉ có thể nghiên cứu một lĩnh vực nhỏ nhưng không kém phần quan trọng đó là vấn đề mức độ hiểu biết, kiến thức và kĩ năng áp dụng các BPTTHĐ

Khoa học kĩ thuật đang ngày càng phát triển, đã có nhiều BPTTHĐ được lưu hành và sử dụng rộng rãi trên thị trường Thực tế hiện nay, Việt Nam đã có nhiều cố gắng trong việc tạo điều kiện cho nhiều đối tượng tiếp cận nhiều hơn và

dễ dàng hơn với các thông tin và dịch vụ về SKSS, đặc biệt là các BPTTHĐ, tỷ lệ người sử dụng BPTTHĐ có gia tăng song chưa đáng kể Để góp phần giải quyết vấn đề này, chúng ta cần có những nghiên cứu tìm hiểu lý do không sử dụng hoặc

sử dụng không liên tục BPTTHĐ ở các cặp vợ chồng trẻ hiện nay.Tuy nhiên, tại Việt Nam những nghiên cứu như vậy chưa nhiều, phần lớn còn mang tính tổng quát chưa đi vào từng đối tượng cụ thể, đặc biệt là đối tượng công nhân Việc tiếp cận dịch vụ KHHGĐ và BPTTHĐ còn khó khăn Các cặp vợ chồng công nhân thường sử dụng các BPTT truyền thống như xuất tinh ngoài, tính vòng kinh…và một số biện pháp thông dụng như đặt vòng, viên uống tránh thai, mà chưa biết đến một số BPTTHĐ như: thuốc cấy tránh thai, thuốc tiêm tránh thai, dụng cụ tử cung, đình sản ở nam và nữ, miếng dán tránh thai hoặc có biết đến nhưng chưa sử dụng hoặc chưa có kĩ năng áp dụng chúng Đây có thể là nguyên nhân làm giảm chất lượng SKSS và dẫn tới việc mang thai ngoài ý muốn Kéo theo đó, thực trạng

Trang 6

nạo phá thai vẫn diễn ra ở con số đáng báo động Theo Hội KHHGĐ Việt Nam thì hiện nay, tỉ lệ nạo phá thai ở nước ta đang dẫn đầu khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 5 trên thế giới Đáng lo ngại hơn số ca nạo phá thai ở thai phụ dưới 24 tuổi chiếm tỉ lệ cao và ngày càng tăng Theo khảo sát của bệnh viện Phụ sản Trung ương cho thấy trong hơn 5000 ca nạo phá thai mỗi năm có tới 30% thai phụ dưới

24 tuổi Những con số đáng báo động này là sự phản ánh thực trạng chăm sóc SKSS cho người dân chưa cân xứng với yêu cầu của xã hội Vì vậy nhóm chúng tôi quyết định chọn các cặp vợ chồng công nhân để làm đối tượng nghiên cứu chính Các cặp vợ chồng công nhân là đối tượng trong thời kì sinh đẻ tốt nhất và

có tỉ lệ sử dụng các BPTT cao nhất

Trong thời gian gần đây, Bình Dương là tỉnh có tình hình diễn biến về đời sống dân cư khá phức tạp Người dân sống tại đây chủ yếu là dân từ nơi khác đến Bên cạnh đó “Bình Dương là một tỉnh đang phát triển mạnh về công nghiệp hoá với 27 khu công nghiệp đi vào hoạt động Qua kết quả tổng điều tra dân số vào ngày 1/4/2009, tốc độ dân số Bình Dương tăng 7,3% đứng đầu trong cả nước với 1.482.636 người, trong đó có khoảng 600.000 dân nhập cư chuyển đến từ các tỉnh thành trong cả nước Theo thống kê cho thấy tại các khu công nghiệp ở Bình Dương thì số lượng lao động công nhân trẻ lên đến 300.000 người”[1] Với những con số cụ thể này thì Bình Dương là địa bàn có nhiều thuận lợi cho nhóm chúng tôi thực hiện tốt đề tài nghiên cứu của mình Tuy nhiên trình độ và kinh nghiệm NCKH của nhóm còn nhiều hạn chế nên nhóm chỉ tiến hành điển cứu tại khu phố Bình Đường 2, phường An Bình, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương Với một địa bàn nhỏ như vậy không thể phản ánh được điều gì nhưng nhóm chúng tôi hy vọng đây là cơ hội để nhóm và các thành viên của nhóm trưởng thành hơn về mặt kĩ năng, kiến thức, kinh nghiệm

Trong năm 2011, tỉnh Bình Dương đã phối hợp với Chi cục DS - KHHGĐ triển khai thực hiện Chiến dịch truyền thông lồng ghép dịch vụ SKSS–      

1 Bộ y tế Bình Dương, Báo cáo tổng kết công tác Chăm sóc SKSS năm 2010 và Phương hướng nhiệm vụ năm 2011, Www/Tailieu.vn

Trang 7

DS/KHHGĐ và tham gia giám sát lồng ghép chương trình SKSS – DS Đây là một trong những cơ sở dữ liệu để chúng tôi áp dụng vào thực tiễn cho đề tài của mình Tuy nhiên để nâng cao kiến thức về SKSS-KHHGĐ cho các cặp vợ chồng công nhân cần có sự quan tâm, hỗ trợ từ phía chính quyền địa phương Thực tế các trung tâm cung cấp dịch vụ KHHGĐ tỉnh Bình Dương còn thiếu

và yếu, đặc biệt là các BPTTHĐ dành cho công nhân ở các khu công nghiệp và các khu nhà trọ công nhân, trong khi việc tìm hiểu về các BPTT của công nhân còn nhiều hạn chế Tổng hợp những lí do trên, chúng tôi quyết định tiến hành

nghiên cứu “Mức độ hiểu biết và kĩ năng áp dụng biện pháp tránh thai hiện đại của các cặp vợ chồng công nhân hiện nay” Nghiên cứu được tiến hành

với mục tiêu chính là khảo sát mức độ hiểu biết, kĩ năng áp dụng BPTTHĐ của các cặp vợ chồng công nhân hiện nay tại khu phố Bình Đường 2, phường An Bình, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương

2 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn

2.1 Ý nghĩa lí luận

Dựa trên những kiến thức, kĩ năng mà chúng tôi tích lũy được để tham khảo những công trình nghiên cứu có nội dung liên quan đến lĩnh vực chăm sóc SKSS, KHHGĐ nhóm chúng tôi thiết lập cơ sở lý luận về mức độ hiểu biết và

áp dụng BPTTHĐ cho đối tượng là các cặp vợ chồng công nhân để góp phần nâng cao kiến thức và hiểu biết về SKSS và tránh thai Dựa trên những lý thuyết cơ bản để làm cơ sở lý luận thực hiện đề tài Mục đích chính của đề tài

mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu là phát triển cộng đồng trong lĩnh vực chăm sóc SKSS, KHHGĐ bằng việc khảo sát kiến thức, kĩ năng áp dụng các BPTTHĐ cho các cặp vợ chồng công nhân năm 2012

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Việc thiếu kiến thức, hiểu biết, kĩ năng áp dụng các BPTTHĐ đã và đang

là nhân tố làm gia tăng tình trạng nạo phá thai ở lứa tuổi thanh thiếu niên nói chung và đối tượng công nhân nói riêng Đề tài được thực hiện sẽ có cái nhìn cận cảnh về kiến thức, hiểu biết và kĩ năng áp dụng các BPTTHĐ cũng như lí

do không sử dụng hoặc sử dụng không liên tục các BPTTHĐ của các cặp vợ

Trang 8

chồng công nhân hiện nay tại khu phố Bình Đường 2, phường An Bình, huyện

Để thực hiện được mục đích trên, nhóm chúng tôi đưa ra những mục tiêu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu là chúng tôi sẽ đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi sau khi tiến hành nghiên cứu đề tài này:

3.2.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu (các cặp vợ chồng công nhân đang sống trên địa bàn phường An Bình) như thế nào?

3.2.2 Tình hình sử dụng, kiến thức và nguồn thông tin về các BPTTHĐ của các cặp vợ chồng công nhân trên địa bàn khu phố Bình Đường 2 ra sao?

Trang 9

3.2.3 Lí do không sử dụng hoặc sử dụng không liên tục các BPTTHĐ của các cặp vợ chồng công nhân là đâu?

3.2.4 Tình hình tiếp cận dịch vụ KHHGĐ, BPTTHĐ trên địa bàn khu phố Bình Đường 2, phường An Bình như thế nào?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Kiến thức, hiểu biết và kĩ năng áp dụng các BPTTHĐ của các cặp vợ chồng công nhân tại khu phố Bình Đường 2, phường An Bình, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương

4.2 Khách thể nghiên cứu

- Khách thể chính: Các cặp vợ chồng công nhân tại khu phố Bình Đường 2, phường An Bình, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương

- Ngoài ra còn có: Một số chủ tiệm thuốc tây, cán bộ công nhân viên trạm

y tế tại phường An Bình, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương

4.3 Phạm vi nghiên cứu

Do quỹ thời gian, kinh phí và phương tiện đi lại cũng như kĩ năng và kinh nghiệm trong NCKH còn nhiều hạn chế, vì vậy để công tác nghiên cứu có hiệu quả nhóm chúng tôi quyết định thực hiện nghiên cứu đề tài trên địa bàn chỉ ở cấp độ phường/xã (tại khu phố Bình Đường 2, phường An Bình, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương)

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Chúng tôi tuân theo các nguyên tắc của phương pháp luận Duy vật biện chứng trong hệ thống chủ nghĩa Mác-Lênin trong quá trình nghiên cứu

5.1.1 Quan điểm toàn diện:

Từ tính khách quan và phổ biến của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm toàn diện

Quan điểm toàn diện đòi hỏi nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cần phải xem xét sự vật trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa

Trang 10

sự vật đó với các sự vật khác Chỉ như vậy mới có thể nhận thức đúng về sự vật

và xử lý có hiệu quả các vấn đề của đời sống thực tiễn

Áp dụng vào bài nghiên cứu này với vấn đề: “Mức độ hiểu biết về các BPTTHĐ của các cặp vợ chồng công nhân hiện nay” chúng ta cần phải xem

xét về mối liên hệ giữa kiến thức, hiểu biết, kĩ năng áp dụng các BPTTHĐ của các cặp vợ chồng công nhân với những yếu tố ảnh hưởng đến nó và cùng với thái độ, quan điểm của người cung và người cầu đối với dịch vụ chăm sóc SKSS, nhất là dịch vụ cung cấp BPTTHĐ cho người dân của cộng đồng

Giữa các bộ phận cấu thành vấn đề luôn có mối liên hệ khăng khít và chúng tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau Khi người ta có kiến thức, hiểu biết, kĩ năng áp dụng các BPTTHĐ thì tất nhiên họ sẽ có sự thay đổi từ thái độ đến hành vi về vấn đề sử dụng các BPTTHĐ theo hướng tích cực hơn Để có những điều này chúng ta cần phải xác định được những yếu tố nào tác động lên từng cá nhân nói riêng và cộng đồng nói chung

Bên cạnh đó, chúng tôi xem xét mối quan hệ, tác động giữa vấn đề nâng cao hiểu biết, kiến thức, kĩ năng áp dụng các BPTTHĐ góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc SKSS cũng như chất lượng DS – KHHGĐ hiện nay trên toàn quốc Đồng thời xác định mối tương tác qua lại giữa việc sử dụng các BPTTHĐ và các vấn đề khác trong xã hội khác bởi chúng có tác động nhất định đối với nhau

Như vậy mức độ hiểu biết, kiến thức và kĩ năng áp dụng các BPTTHĐ của các cặp vợ chồng công nhân không đứng độc lập mà có những yếu tố khác ngoài nó tác động lên nó Vì vậy chúng ta cần nhìn vấn đề này bằng các mối quan hệ và tương tác giữa nó với các vấn đề khác trong xã hội

5.1.2 Quan điểm lịch sử cụ thể:

Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu trong việc nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cần phải xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng và tình huống để có cách giải quyết phù hợp Phải xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau của mỗi mối liên hệ cụ thể trong những tình huống cụ thể để từ đó có được những giải pháp đúng đắn và có hiệu quả

Trang 11

Bởi vậy, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu vào thực tiễn hiện nay, khi đất nước đang trên đà phát triển, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa Vấn đề

về thỏa mãn các nhu cầu của con người ngày càng được chú trọng, trong đó nâng cao chất lượng chăm sóc SKSS là một trong những nhu cầu mang tính thiết thực cao Đặc biệt Bình Dương được xem là tỉnh đang có sự phát triển mạnh mẽ đối với các tỉnh phía Nam, trong đó có việc xây dựng các công trình

xã hội như bệnh viện, trung tâm y tế, khoa tham vấn và hỗ trợ cộng đồng…cùng với việc phát triển y học hiện nay thì việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc SKSS và cung cấp kiến thức, hiểu biết và kĩ năng áp dụng các BPTTHĐ chắc chắn sẽ có nhiều thuận lợi hơn

Đề tài của chúng tôi hoàn toàn phù hợp với chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện nâng cao chất lượng DS – KHHGĐ hiện nay

5.1.3 Quan điểm phát triển:

Dựa trên nguyên lý về sự phát triển, quan điểm phát triển nhấn mạnh việc luôn xem xét sự vật hiện tượng theo chiều hướng đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, từ đơn giản đến phức tạp Con đường phát triển

đó không đơn giản mà quanh co phức tạp, trải qua những giai đoạn, những điều kiện cụ thể

Phương pháp này giúp chúng tôi trong việc đánh giá mức độ hiểu biết về các BPTTHĐ của các cặp vợ chồng công nhân hiện nay theo chiều hướng tích cực, phát triển Bên cạnh đó chúng tôi cần xác định những khó khăn trong quá trình thực hiện đề tài để tìm cách hạn chế và khắc phục nó Chúng tôi nhấn mạnh đến mức độ hiểu biết, kiến thức, kĩ năng áp dụng các BPTTHĐ của các cặp vợ chồng sẽ có những thay đổi tùy theo từng giai đoạn, từng điều kiện cụ thể của địa phương

Cho dù hiện thực về vấn đề này có thể chưa tốt, nhưng với quan điểm phát triển, chúng ta luôn có cái nhìn lạc quan và hành động để tạo nên những bước phát triển mới

Chúng ta cần nhận thấy, công nhân chính là nguồn lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất dồi dào nhất, là đối tượng cần nhận được sự quan tâm của toàn

Trang 12

xã hội Tuy giờ đây trình độ học vấn của giai cấp công nhân có thể chưa cao, nhưng họ lại là lực lượng đông đảo, tiên phong của đất nước Bên cạnh đó, nước ta đang có quyết tâm tiến lên chủ nghĩa xã hội đúng với bản chất của nó, giai cấp công nhân sẽ đảm nhiệm đúng với vai trò và vị trí của mình trong hệ thống xã hội Để công nhân làm tốt sứ mệnh của mình, Nhà nước cần thể hiện

sự quan tâm của mình không những trên giấy tờ luật pháp mà cần thể hiện bằng những hành động thiết thực hơn

Như vậy, chúng ta phải tin rằng mức độ hiểu biết, kiến thức và kĩ năng áp dụng các BPTTHĐ của các cặp vợ chồng công nhân hiện nay của khu phố Bình Đường 2, phường An Bình, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương sẽ được nâng cao

nếu họ nhận được sự quan tâm hơn nữa từ nhiều phía hỗ trợ

5.2 Phương pháp thu thập thông tin

5.2.1 Phương pháp phân tích tư liệu sẵn có

Chúng tôi tiến hành phân tích, tổng hợp các tư liệu sẵn có trên sách, báo, tạp chí, internet,…cùng những dẫn chứng thực tiễn để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu

5.2.2 Mẫu nghiên cứu định lượng

Đây là phương pháp chính để chúng tôi tiến hành thu thập thông tin nhằm khảo sát mức độ hiểu biết và kĩ năng áp dụng các BPTTHĐ của các cặp vợ chồng công nhân Để tiến hành nghiên cứu thực tế, với phương pháp này chúng tôi sử dụng công cụ bảng hỏi

Quy mô mẫu được ước tính với độ tin cậy 95% và hệ số suy rộng bằng 2 Công thức tính lấy mẫu là: n = N/(1+N*e2)

(n là tổng mẫu, N là tổng số đối tượng nghiên cứu, e là sai số 0,05)

Áp dụng công thức chúng tôi đã phát ra 160 bảng hỏi với 29 câu hỏi

5.2.3 Mẫu nghiên cứu định tính

Nhằm mục đích khai thác sâu hơn các nội dung nghiên cứu ở những trường hợp điển hình, làm rõ hơn những vấn đề đề cập đến trong mục đích nghiên cứu Chúng tôi đã thực hiện phương pháp định tính với công cụ là các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm Thảo luận nhóm có thể tiến hành bằng cách lồng

Trang 13

ghép vào các buổi họp tổ dân phố hoặc gom nhóm những công nhân sống gần nhau

Trong nhóm chúng tôi cần xác định được tình trạng hôn nhân của từng cá nhân trong nhóm Từ đó có sự so sánh sự khác nhau trong việc lựa chọn BPTT của các thành viên Cũng như có thể nắm bắt được quan điểm cá nhân trong việc sử dụng BPTTHĐ khi thảo luận nhóm

Nhóm chúng tôi chọn đối tượng chính để tiến hành phỏng vấn sâu bao gồm:

- 25 nam/nữ công nhân trẻ (nam, nữ đã kết hôn)

- 1 lãnh đạo cộng đồng: Phó chủ tịch UBND phường

- 3 người làm việc tại cơ sở y tế: 1 Trưởng trạm, 2 nhân viên y tế phường

- 10 chủ tiệm thuốc tây

- 5 cuộc thảo luận nhóm

Như vậy tổng cộng chúng tôi tiến hành 44 cuộc phỏng vấn sâu và 5 cuộc thảo luận nhóm với phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc để tiến hành khảo sát thu thập thông tin

6 Giới hạn của đề tài

6.1 Giới hạn về khách thể và địa bàn nghiên cứu

6.1.1 Giới hạn về khách thể nghiên cứu

Với đề tài này chúng tôi tập trung vào đối tượng chính là các cặp vợ chồng công nhân Ngoài ra để làm rõ thông tin xác thực hơn thì chúng tôi còn lấy thêm lãnh đạo phường, Trưởng trạm y tế, Nhân viên y tế, Chủ tiệm thuốc tây Hầu hết công nhân là người có trình độ văn hoá chưa cao (chủ yếu là cấp II) nên chúng tôi cần nhiều thời gian và công sức để giải thích câu hỏi, chờ đợi

Trang 14

họ trả lời (nhất là bảng hỏi) Bên cạnh đó công nhân đang có tâm lí e ngại đối với vấn đề BPTTHĐ và SKSS

6.2 Giới hạn liên quan tới thời gian và thời điểm nghiên cứu

Đề tài được thực hiện và hoàn thành trong thời gian từ tháng 9/2012 đến tháng 02/2013 Đây thực sự là một khoảng thời gian eo hẹp để thực hiện một đề tài có chất lượng Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là công nhân vì vậy có những trở ngại nhất định về mặt thời gian Vì hầu hết thời gian của họ ở trên công ty nên chúng tôi phải tiến hành nghiên cứu chủ yếu vào buổi tối trong khi phương tiện đi lại hoàn toàn bằng xe buýt Sau một ngày làm việc mệt nhọc trên công ty, về nhà còn việc con cái, ăn uống nên đối tượng rất ngại trả lời nhất là thực hiện phỏng vấn sâu Đề tài của chúng tôi lại mang tính chất riêng

tư và tế nhị nên đối tượng vẫn còn tâm lí e ngại khi trả lời Họ thường trả lời một cách qua loa các câu hỏi, hoàn cảnh này ít nhiều gây khó khăn cho các thành viên khi thực hiện và ảnh hưởng đến chất lượng thông tin thu thập được Thời điểm đề tài được tiến hành cũng là lúc công nhân ở các khu công nghiệp tăng ca liên tục nên thời gian nghiên cứu rất ít (từ 18h00’ đến 20h45’)

Vì vậy việc chúng tôi thực hiện thu thập thông tin lại càng khó khăn hơn

6.3 Giới hạn trong chọn mẫu

Với phương pháp chọn mẫu như trên (xem phần“phương pháp chọn mẫu”, tr.9), điều đầu tiên phải khẳng định là mẫu nghiên cứu không mang tính đại diện cho một tỉnh, thậm chí cũng không đại diện cho huyện khảo sát, mà chỉ đại diện cho địa bàn điển cứu Vì vậy việc so sánh kết quả nghiên cứu này với kết quả của nghiên cứu khác là chỉ mang tính tham khảo

Chúng tôi nghiên cứu về mức độ hiểu biết và kĩ năng áp dụng các BPTTHĐ của các cặp vợ chồng công nhân tại khu phố Bình Đường 2, phường

An Bình, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương Kết quả của nó có thể là căn cứ để tiếp tục thực hiện các đề tài, công trình nghiên cứu khác, xây dựng, can thiệp

và đánh giá hiệu quả của công tác thực hiện nghiên cứu các đề tài có liên quan sau này

Trang 15

6.4 Giới hạn của người thực hiện và công cụ thực hiện nghiên cứu

6.4.1 Giới hạn về người thực hiện

Nhóm thành viên thực hiện là sinh viên năm 3 là lần đầu tiên thực hiện một

đề tài NCKH nên còn nhiều hạn chế về mặt trình độ chuyên môn, kinh nghiệm

và các kĩ năng như kĩ năng khai thác thông tin, kĩ năng giao tiếp, viết báo cáo Đây cũng là lần đầu tiên các thành viên tình cờ cùng làm việc nhóm chung với nhau nên việc thống nhất quan điểm trong nhóm chưa có, kĩ năng làm việc nhóm còn gặp khó khăn Trong khi thực hiện đề tài, bầu không khí nhóm chưa thật sự tốt vì cách nhìn nhận vấn đề của mỗi bạn khác nhau vì vậy hiệu quả làm việc nhóm chưa cao, mất nhiều thời gian để thống nhất quan điểm chung nhất

6.4.2 Giới hạn về công cụ thực hiện

Thứ nhất, phương tiện đi lại của nhóm hoàn toàn bằng xe buýt nên khó khăn trong việc thực hiện, khó chủ động và khó linh hoạt về mặt thời gian Thứ hai, mẫu bảng hỏi còn chưa mang tính chất khoa học cao vì nhóm chưa có kĩ năng thiết lập mẫu bảng hỏi có hiệu quả Vì vậy bộ công cụ bằng bảng hỏi còn có những điểm hạn chế

Thứ ba, KHHGĐ, BPTT, vấn đề về tình dục còn là chủ đề nhảy cảm ở Việt Nam, để thu thập thông tin tin cậy về vấn đề này đòi hỏi cách phỏng vấn, dẫn dắt phải khéo léo để người trả lời có thể cung cấp thông tin một cách thật tự nhiên Để giúp việc phỏng vấn diễn ra dễ dàng hơn, khi thực hiện có thể bổ sung hoặc viết lại các câu hỏi Tuy nhiên, việc này có thể dẫn đến những sai lệch trong thông tin thu nhận

Vì lý do nêu trên, nghiên cứu định tính đã được sử dụng nhằm bổ sung thêm những thông tin về thái độ và quan điểm của đối tượng Trong quá trình thảo luận nhóm, đối tượng có thể bày tỏ ý kiến và quan điểm của cá nhân mình Đây là nguồn thông tin tốt để tìm hiểu ý kiến và quan điểm của đối tượng về các vấn đề liên quan đến tình dục và tránh thai

Trang 16

7 Đóng góp mới của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài đã cho chúng ta cái nhìn cận cảnh về thực trạng kiến thức, hiểu biết, kĩ năng áp dụng các BPTTHĐ của các cặp vợ chồng công nhân tại khu phố Bình Đường 2, phường An Bình, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương Bên cạnh đó đề tài cũng đánh giá tình hình cung cấp dịch vụ KHHGĐ, các BPTTHĐ và thái độ tiếp cận chúng trên địa bàn nghiên cứu Đây

là kết quả để chúng ta có thể so sánh kiến thức, hiểu biết về các BPTTHĐ của đối tượng công nhân so với các đối tượng khác Và các cặp vợ chồng công nhân trên địa bàn khu phố Bình Đường 2, phường An Bình khác với các cặp vợ chồng côn g nhân trên địa bàn khác ra sao Kết quả nghiên cứu cũng mở ra hướng nghiên cứu mới trong thiết kế và xây dựng kế hoạch truyền thông, cung cấp dịch vụ KHHGĐ cho người dân trên địa bàn trong tương lai

8 Kết cấu của đề tài

Trang tóm tắt

Phần Mở đầu

Chương 1 Tổng quan và phương pháp luận

Chương 2: Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trang 17

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Phương pháp luận Mác-xít

Đề tài được thực hiện dựa trên hệ thống quan điểm và thế giới quan của các nhà lí luận Mác-xít Để nhìn vấn đề một cách khách quan, chúng tôi dựa vào 3 quan điểm lớn của lí luận Mác-xítnhư đã nêu ở phần 6.1: Phương pháp luận là: 1)quan điểm toàn diện, 2)quan điểm lịch sử cụ thể, 3)quan điểm phât triển Đây chính là cơ sở để đánh giá tính khách quan cho đề tài mà chúng tôi đang thực hiện

1.1.2 Các lý thuyết áp dụng

1.1.2.1 Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow

Năm 1943 Abraham Maslow (1908-1970) đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục Đó là lý thuyết

về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người Trong thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc Vào những năm 1970 và 1990, sự phân cấp này đã được Maslow hiệu chỉnh thành 7 bậc và cuối cùng là 8 bậc: Nhu cầu cơ bản (basic needs); Nhu cầu về an toàn (safety needs); Nhu cầu về xã hội (social needs); Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs); Nhu cầu về nhận thức (cognitive needs); Nhu cầu về thẩm mỹ (aesthetic needs); Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs); Sự siêu nghiệm (transcendence)

Nghiên cứu lý thuyết nhu cầu giúp chúng tôi tìm hiểu nhu cầu tình dục an toàn thông qua dịch vụ KHHGĐ và các BPTTHĐ Các cặp vợ chồng đều mong muốn mình được an toàn khi quan hệ tình dục: không mang thai ngoài ý muốn, phòng tránh các bệnh LTQĐTD, sử dụng các BPTT mà không có gây ảnh hưởng nhiều tới sức khoẻ …Do vậy họ cần trang bị cho mình những hiểu biết, kiến thức và kĩ năng áp dụng các BPTT an toàn cho mình Như vậy vấn đề cung cấp thông tin, kiến thức về các BPTTHĐ cho các cặp vợ chồng công nhân hiện nay tại khu phố Bình Đường 2, phường An Bình, huyện Dĩ An, tỉnh Bình

Trang 18

Dương là nhu cầu thật sự cần thiết, mang ý nghĩa thiết thực trong cuộc sống của con người, đồng thời thể hiện tính nhân văn và khoa học xã hội sâu sắc

1.1.2.2 Thuyết hệ thống môi sinh

Phối hợp thuyết hệ thống và khoa học về môi sinh, thuyết hệ thống môi sinh chú ý vị trí của cá nhân trong môi trường sống Điều này quan trọng vì con người không sống biệt lập mà luôn luôn sống trong cộng đồng và tác động qua lại giữa các hệ thống con người và môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến an sinh của cá nhân và xã hội Sự hài hoà giữa cá nhân và môi trường diễn ra khi môi trường có tài nguyên và phương pháp phân phối tài nguyên một cách cân bằng

và hợp lí để thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người

Nghiên cứu lý thuyết hệ thống môi sinh giúp chúng tôi nắm bắt được tình hình cung cấp thông tin, dịch vụ KHHGĐ, BPTTHĐ tại phường Bên cạnh đó xác định lý do tiếp cận, sử dụng hoặc không sử dụng các dịch vụ KHHGĐ của các cặp vợ chồng công nhân trên địa bàn Như vậy nhân viên CTXH có thể đóng vai trò tích cực trong việc giới thiệu, nối kết những dịch vụ chăm sóc SKSS, KHHGĐ cho các cặp vợ chồng công nhân đang sống ở các khu công nghiệp, khu dân cư phường An Bình, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương

1.1.2.3 Thuyết hành vi

Thuyết hành vi cho rằng hành vi con người có thể thay đổi, điều chỉnh được qua học tập có điều kiện Những đại diện tiêu biểu của thuyết hành vi là A.Lazarus, B.F Skinner, A Bandera… Thuyết tập trung vào những hành vi hiện tại, tìm hiểu những điều kiện gây ra hành vi không thích ứng của thân chủ đồng thời tạo những điều kiện thuận lợi để thân chủ thay thế bằng hành vi thích hợp, giúp họ học được những khuôn mẫu hành vi hiệu quả hơn [2]

Nghiên cứu lý thuyết hành vi giúp chúng tôi tìm hiểu lí do sử dụng hoặc không sử dụng, hoặc sử dụng không liên tục các BPTTHĐ, đồng thời tìm hiểu thói quen sử dụng các dịch vụ KHHGĐ và các BPTTHĐ của các cặp vợ chồng công nhân

      

2 X Bùi Thị Xuân Mai (2008), Giáo trình tham vấn, trang 90-93

Trang 19

1.1.3 Một số khái niệm công cụ

 Sức khỏe sinh sản

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa: “Sức khoẻ là một trạng thái hoàn hảo cả về mặt thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh tật hoặc tàn phế Như vậy có thể thấy, khái niệm sức khoẻ là một khái niệm rộng hơn nhiều so với những quan niệm đơn giản như: sức khoẻ là có một cơ thể cường tráng, sức khoẻ là không ốm đau, sức khoẻ là người lành lặn, không bị tàn phế…”

Hoặc chúng ta có thể định nghĩa về SKSS như sau:

“Sức khoẻ sinh sản là một trạng thái hoàn hảo về thể chất, tinh thần và xã hội trong mọi khía cạnh liên quan đến hệ thống sinh sản, chức năng và quá trình sinh sản chứ không phải chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hay tổn thương hệ thống sinh sản”.[3]

Trong đề tài này, khái niệm SKSS được chúng tôi hiểu theo cách thứ nhất:

“sức khoẻ sinh sản là trạng thái khoẻ mạnh, hoàn hảo về thể chất, tinh thần và

xã hội trong tất cả mọi khía cạnh liên quan đến hệ thống sinh sản, chức năng sinh sản và quá trình sinh sản chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay tổn thương ở bộ máy sinh sản”

 An toàn tình dục

Ngày nay khái niệm an toàn tình dục được hiểu như sau: “Sự lựa chọn hành vi tình dục đem lại sự thỏa mãn và bảo vệ được cho bản thân và cho những người khác không bị những hậu quả có hại đến sức khỏe.” Bị lây nhiễm

bệnh do QHTD và có thai khi chưa mong muốn là có hại cho sức khỏe và

Trang 20

không an toàn Với định nghĩa trên, tình dục an toàn nhấn mạnh đến trách nhiệm và sự lựa chọn của mỗi cá nhân trong đời sống tình dục

 Khái niệm "Bản ngã tình dục"

Toàn bộ cơ thể của chúng ta đều có thể cảm nhận được các xúc cảm tình dục.Bộ phận liên quan đến tình dục lớn nhất không phải là dương vật và âm đạo mà chính là bộ não Bản ngã tình dục là một phần của thể xác, tình cảm và cuộc sống tâm linh

Bản ngã tình dục của chúng ta bao gồm giới của chúng ta (cả hai nghĩa là cấu tạo giải phẫu cơ thể và các cảm xúc chi phối hành động cũng như các giá

trị xã hội khi chúng ta là nam giới hay nữ giới) định hướng tình dục

- Tính tự nguyện: Quan hệ tình dục luôn phải xuất phát từ sự tự nguyện

của cả hai bên cho dù là đã kết hôn hay chưa Mỗi người tham gia vào quan hệ tình dục đều có thể quyết định thực hiện hay chấm dứt hành vi này một cách tự

do mà không bị ép buộc bởi bạo lực, tình cảm hay tài chính Điều này có nghĩa

là mọi người đều có quyền hoàn toàn tự quyết định trước khi tham gia vào bất

cứ hành vi tình dục nào

- Tính sẵn sàng: Được thể hiện ở sự chuẩn bị sẵn sàng về cả tâm lý và thể

chất Sẵn sàng về tâm lý tức là bạn không còn bất kì lo lắng hay mặc cảm tội lỗi, bạn cũng đã chuẩn bị tinh thần đón nhận tất cả những điều tốt và xấu có thể xảy ra, liên quan đến việc quan hệ tình dục của bạn, để không bao giờ phải hối tiếc Sẵn sàng về thể chất là cơ thể của các bạn đã được chuẩn bị đầy đủ với tất

cả các xúc cảm và hưng phấn của các bạn để có thể mang lại cho nhau nhiều khoái cảm nhất

- Tính đồng thuận: Sự thống nhất với nhau về tất cả các chi tiết liên quan

tới việc quan hệ của hai người như thời điểm, thời gian, địa điểm, cách thức, phương tiện bảo vệ…

- Bình đẳng và tôn trọng: Mỗi người đều có quyền đưa ý kiến và có thể ra

quyết định trong việc quan hệ tình dục Không có yếu tố lạm dụng hoặc bóc lột trong quan hệ tình dục Mọi hành vi gây hại cho người khác đều là không chấp

Trang 21

nhận được Mặc dù mọi mối quan hệ đều có thể có nguy cơ làm cho con người

bị tổn thương tình cảm nhưng những tổn thương này không được do chủ ý

- An toàn: Để giảm các tổn thương về thể chất, những người tham gia vào

hành vi tình dục cũng phải thực hiện các biện pháp bảo vệ bạn tình của mình khỏi các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS và có thai ngoài ý muốn

- Đạt khoái cảm: Cảm thấy thoải mái và thoả mãn cả về tâm lý và thể chất

trong việc quan hệ tình dục.[4]

 Kế hoạch hóa gia đình:

Kế hoạch hóa gia đình là việc lập kế hoạch khi nào có trẻ em và việc sử dụng kiểm soát sinh sản và các kỹ thuật khác để thực hiện các kỹ thuật đó Hoặc, hiểu một cách thông dụng nhất kế hoạch hóa gia đình là việc thực hiện các biện pháp nhằm tránh có thai, sinh con ngoài ý muốn.[5]

 Các biện pháp tránh thai

Tránh thai là bất cứ hành động nào cản trở sự kết hợp của trứng và tinh

trùng trước, trong và sau giao hợp Các biện pháp tránh thai là bất cứ dụng cụ hoặc thuốc, sử dụng trong tránh thai

“Các biện pháp tránh thai thường được áp dụng là: xuất tinh ngoài âm đạo, thắt ống dẫn trứng, cắt ống dẫn tinh, bao cao-su, hóa chất diệt tinh trùng, thuốc viên và chích ngừa thai”.[6]

6 Nguyễn Quốc Đoạt chuyển dịch, Giáo lí về vấn đề tránh thai (Nguyên tác Catechesis in

Contractteption, tác giả Robusto – Latora), cập nhật ngày 24/11/2012, lúc 22:35:47, trên

(http://www.tinmung.net/GIADINH/GiaDinhKitoHuu/TongHop/GiaoLyVanDeTranhThai.htm)

Trang 22

- Mang thai ngoài ý muốn: Mang thai là kết quả của quan hệ tình dục khi

tinh trùng người đàn ông gặp trứng của người phụ nữ và thụ tinh Trứng đã thụ tinh sẽ làm tổ ở thành tử cung và bắt đầu hình thành bào thai

- Bệnh lây truyền qua đường tình dục: Những bệnh LTQĐTD là bệnh có

thể lây truyền từ người này sang người khác thông qua quan hệ tình dục

“không bảo vệ” bằng đường âm đạo, hậu môn, miệng và cả những vuốt ve kích thích khi quan hệ

Bệnh LTQTD đe dọa bất cứ ai có quan hệ tình dục không kể tuổi tác, giới tính và tình trạng gia đình Quan hệ tình dục luôn tiềm ẩn nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục từ người yêu hoặc bạn tình Nhiều bạn có dấu hiệu rất khó phát hiện hoặc thậm chí không có dấu hiệu, nên rất khó cảm giác

- Nạo phá thai: Nạo phá thai là việc kết thúc mang thai thông thường thực

hiện ở giai đoạn còn sớm (khi người nữ thấy kỳ kinh của mình bị chậm chưa

quá 8 tuần) Có hai phương pháp chính được sử dụng trong việc nạo phá thai

- Nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục: Là một thuật ngữ rộng hơn

so với bệnh lây truyền qua đường tình dục Nhiễm trùng là sự xâm chiếm của

các loài ký sinh trùng mà có thể không gây tác hại gì, trong khi đó một căn bệnh nhiễm trùng thường dẫn đến suy giảm chức năng hoặc bất thường Trong

cả hai trường hợp điều kiện không có thể biểu hiện các dấu hiệu hoặc triệu

chứng

 Những khái niệm về công nhân

- Công nhân là gì?

Theo quan điểm của các nhà bác học xưa thì công nhân là những người

lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hóa cao C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ

rõ: “Các giai cấp đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp” (C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.CTQG, H.2000, tập4, tr.610.)

Theo nhóm chúng tôi khái niệm công nhân được hiểu như sau:

Trang 23

Công nhân là lực lưỡng lao động sản xuất tạo ra nguồn của cải vật chất cho

xã hội Đặc biệt trong thời kì công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, công nhân lại càng khẳng định vai trò to lớn và vị thế của mình

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Theo thống kê của Quỹ Dân Số Liên Hợp Quốc(2009), trên toàn thế giới

có khoảng 62% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng các BPTT Tại các nước phát triển, các BPTT ngày càng được phổ biến rộng rãi: 70% trong tổng số 170 ngàn phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng 01 BPTT Trong khi đó, tại các nước kém phát triển tỷ lệ này là 60% trong tổng số 880 ngàn phụ nữ nằm trong độ tuổi sinh đẻ Vậy chúng ta có thể thấy tỉ lệ phụ nữ sử dụng BPTT ở các nước phát triển cao hơn các nước kém phát triển Đây là cơ sở để chúng tôi nhận định về tình hình sử dụng BPTT trên thế giới, tuy nhiên báo cáo chưa đưa ra con số cụ thể về tỉ lệ sử dụng các BPTTHĐ như vấn đề mà đề tài của chúng tôi đang hướng đến

Trong những năm gần đây tỉ lệ sử dụng các BPTTHĐ đang có sự thay đổi tích cực, biểu hiện đó là “chỉ tiêu đề ra là 70% phụ nữ đã kết hôn (15 đến 49 tuổi) sử dụng các BPTTHĐ Ước tính mới nhất theo điều tra PCFPS là 68,2% vào năm 2007 Tỉ lệ này đã và đang tăng thêm 1%/ năm Chỉ tiêu này sẽ có thể đạt được vào năm 2010, mặc dù khó có thể duy trì mức tăng 1%/năm khi CPR tổng thể đã ở mức cao như vậy (79,0%) Tại thời điểm này, chỉ số này được đánh giá ở mức khá và có thể sẽ đạt mức tốt năm 2010”[7] Chúng tôi cho rằng đây là tín hiệu đáng mừng trong việc sử dụng các BPTTHĐ một cách phổ biến Điều này chứng tỏ rằng nhận thức, thái độ và hành vi của người dân đang dần thay đổi trong việc sử dụng các BPTTHĐ, đồng nghĩa với việc tình trạng nạo phá thai có thể sẽ được giảm dần Kết quả này là cơ sở để chúng tôi so sánh với kết quả về mức độ hiểu biết và áp dụng các BPTTHĐ của các cặp vợ chồng       

7 Adrian C Hayes, Nguyễn Đình Cử, Vũ Mạnh Lợi, Dân số và phát triển tại Việt Nam: hướng tới một chiến lược mới 2011 – 2020, nhà xuất bản thời đại 2009, tr 64

Trang 24

công nhân hiện nay tại khu phố Bình Đường 2, phường An Bình, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương mà chúng tôi đang tiến hành nghiên cứu.

Tại Việt Nam, công tác dân số KHHGĐ và chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ

em luôn được Đảng và Chính phủ quan tâm và đă đạt những thành tựu đáng kể

Tỷ lệ cặp vợ chồng sử dụng các BPTT không ngừng tăng lên

Theo Báo cáo rà soát các nghiên cứu SKSS tại Việt Nam giai đoạn 2000 -2005 cho biết “hiện nay tỷ lệ sử dụng các BPTT (CPR) đã tăng ổn định trong

những năm qua từ 63,2% (1996) đến 73,9% (2001), và 76,9% (2005) với tỷ lệ

sử dụng BPTT tăng từ 52% (1996) đến 61,1% (2001) và ở mức 65,8% (2005) Trong các BPTT, DCTC là BPTT được nhiều người biết đến nhất (99%); tiếp theo là bao cao su và viên tránh thai DCTC cũng là biện pháp được dùng phổ biến nhất với khoảng 2/3 số người sử dụng (55,7%), thuốc viên tránh thai với 10%; bao cao su là 7,8%; triệt sản nữ là 7,7% Biện pháp truyền thống như xuất tinh ngoài âm đạo là 16,8% Trong đó đáng chú ý về cơ cấu sử dụng các BPTT,

tỷ lệ cặp vợ chồng sử dụng các biện pháp hiện đại (dụng cụ tử cung, bao cao

su, thuốc tránh thai ) không ngừng tăng lên so với các BPTT truyền thống Theo kết quả điều tra của Tổng cục thống kê năm 1998, có 43% cặp vợ chồng

sử dụng BPTTHĐ và 32,8% cặp vợ chồng sử dụng BPTT truyền thống Tỷ lệ

tương ứng vào năm 2000 là 55,7% và 18,5% Tuy nhiên, trong các BPTTHĐ,

biện pháp đặt DCTC được sử dụng là chính, các biện pháp khác mới chỉ được

áp dụng phổ biến trong thời kỳ thí điểm Phương tiện tránh thai cấp mỗi lần tại các cơ sở KHHGĐ còn hạn chế, gây lãng phí thời gian cho người sử dụng”[8] Đối với chúng tôi, báo cáo trên đã cho thấy được sự ổn định trong việc sử dụng các BPTT Điều đáng chú ý ở đây là việc sử dụng BPTTHĐ của các cặp vợ chồng cao hơn so với việc sử dụng các BPTT truyền thống Bên cạnh biện pháp DCTC mà tác giả đã đề cập thì chúng tôi còn nghiên cứu, tìm hiểu thêm được một số BPTTHĐ nữa Đây cũng là một trong những điểm mới mà đề tài       

8 Mai Thị Công Danh (1999), Nghiên cứu Kiến thức – Thái độ – Thực hành về các BPTT của VTN đến phá thai tại BV Từ Dũ năm 1999 Luận văn Thạc sĩ Y học Chuyên ngành Sản phụ khoa.- Đại học

-Y Dược TP HCM

Trang 25

của chúng tôi đang muốn hướng đến nhằm phát huy sự phong phú, đa dạng trong vấn đề tìm hiểu và sử dụng các BPTTHĐ

Trong những năm gần đây, bên cạnh chủ trương đa dạng hoá các BPTT cũng như các loại hình cung ứng dịch vụ chăm sóc SKSS - KHHGĐ, chương trình cũng đã mở rộng đối tượng phục vụ, ngoài các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, các đối tượng khác như vị thành niên, thanh niên, người già v.v cũng

đã được quan tâm, chú ý Theo bài báo đăng trên website www.bao

moi.com/vn cho biết “hiện nay với sự nỗ lực phấn đấu của ngành Y tế và các

cơ quan, ban, ngành, đoàn thể liên quan, sức khỏe bà mẹ và trẻ em Việt Nam tốt hơn so với nhiều quốc gia có cùng mức thu nhập quốc dân bình quân đầu người: Tỷ số chết mẹ từ 100 (năm 2000) giảm xuống còn 68,3/100.000 trẻ đẻ

ra sống (năm 2010); tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi giảm từ 36,7‰ (năm 1999) xuống còn 16‰ (2009) và giảm mạnh ở tất cả các vùng; tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi từ 33,8% (năm 2000) giảm xuống còn 17,5% (năm 2010); tỷ

lệ các cặp vợ chồng sử dụng biện pháp tránh thai tăng từ 73,9% (năm 2000) lên 79,5% (năm 2008), trong đó tỷ lệ sử dụng BPTTHĐ tăng tương ứng từ 61% lên 68,8%; một số BPTT mới được thử nghiệm và đã được triển khai rộng trên toàn quốc; nhiều tiến bộ y học được áp dụng và triển khai thành công trên nhiều vùng của cả nước”

Trong Báo cáo điều tra ban đầu thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ chăm sóc SKSS tại 7 tỉnh tham gia chương trình Quốc Gia 7 do UNFPA tài trợ của Dự án Bộ y tế - VIE/01/P10 đã đánh giá thực trạng cung cấp và sử

dụng dịch vụ chăm sóc SKSS, đưa ra một số vấn đề chung như sau: 1) Hiểu biết về các BPTT, sử dụng BPTT, lí do về việc BCS và thuốc tránh thai ít được

sử dụng…2) phản ánh thực trạng cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS: cơ sở hạ tầng- trang thiết bị, chất lượng đội ngũ cán bộ công nhân viên,…3) Thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi của cán bộ quản lí chương trình và trực tiếp truyền thông về SKSS, DS-KHHGĐ, 4) Hiểu biết, thái độ, hành vi của cộng đồng về chăm sóc SKSS, 5) Mối liên hệ giữa cung cấp và sử dụng dịch vụ chăm sóc SKSS Đây chính là những yếu tố khách quan và chủ quan có tác động trực tiếp

Trang 26

và gián tiếp tới việc nâng cao hiểu biết, kiến thức, kĩ năng áp dụng các BPTT

của người dân, đặc biệt là các cặp vợ chồng công nhân hiện nay

Trong quá trình Triển khai thực hiện chiến lược Dân số Việt Nam 2010), thực tế đã chứng minh vai trò quan trọng của công tác KHHGĐ, tác

(2001-động trực tiếp làm giảm mức sinh, thúc đẩy giãn khoảng cách giữa các lần sinh

và giảm tỷ lệ tử vong của bà mẹ và trẻ em Đáp ứng ngày một tốt hơn quyền của khách hàng là một trong những mục tiêu mà công tác KHHGĐ hướng tới Kết hợp và thực hiện tốt các nguyên tắc khi cung cấp dịch vụ KHHGĐ đó là đảm bảo tính tự nguyện, lựa chọn khi đã được thông tin đầy đủ Khi cung cấp dịch vụ KHHGĐ phải đảm bảo tính an toàn và thuận tiện cho khách hàng Chính vì vậy, cung cấp các phương pháp tránh thai phải trên cơ sở nhu cầu của người dùng Tuy nhiên báo cáo chưa đề cập tới vấn đề mức độ hiểu biết và áp dụng các BPTTHĐ và chưa đi sâu nghiên cứu đối tượng là công nhân

Theo kết quả Điều tra ban đầu chương RHIYA về SKSS Thanh thiếu niên Việt Nam cung cấp một số kết quả nghiên cứu có nội dung như sau:[9]

- Kiến thức về sinh sản và phòng tránh thai:

Kiến thức về khả năng sinh sản, kiến thức về thời khoảng thụ thai, kiến thức và thông tin về các BPTT, thái độ đối với việc nhận thông tin về các BPTT, kiến thức về SKSSTT liên quan đến sinh sản, tránh thai và các bệnh LTQĐTD

-Tiếp cận dịch vụ KHHGĐ và sử dụng các BPTT hiểu biết về nơi cung cấp các BPTT, phương pháp tránh thai dự định sử dụng trong tương lai, khó khăn

và thuận lợi trong tiếp cận dịch vụ tránh thai

Thông qua tác phẩm này, chúng ta có thể biết được mối quan tâm của xã hội về sinh sản, chương trình kế hoạch hóa gia đình và các BPTT được sử dụng Tuy nhiên, tác giả mới đề cập đến đối tượng là thanh thiếu niên mà chưa

      

9 PGS.TS Nguyễn Thị Thiềng – ThS Lưu Bích Ngọc, SKSS thanh thiếu niên Việt Nam – Điều tra ban đầu chương RHIYA của, NXB Hà Nội 2006, tr 44, tr 57

Trang 27

đi vào một đối tượng cụ thể là công nhân Bên cạnh đó, tác phẩm chưa đề cập đến BPTTHĐ mà đang dừng lại ở các BPTT nói chung Tác phẩm đã cung cấp kiến thức nền tảng cho chúng tôi nghiên cứu sâu thêm về BPTTHĐ giành cho đối tượng cụ thể là công nhân

Trong Báo cáo điều tra ban đầu Thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ CSSKSS tại 7 tỉnh tham gia chương trình quốc gia 7 do UNFPA tài trợ [10]

đã đánh giá thực trạng cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS của nước ta trong những năm gần đây chủ yếu là cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và thuốc thiết yếu phục vụ cho CSSKSS cũng như thông tin về nguồn cung cấp dịch vụ Báo cáo cũng đã đánh giá vấn đề thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi của cán bộ quản

lí chương trình và truyền thông về SKSS, DS – KHHGĐ về sự hiểu biết, thái

độ và hành vi của cộng đồng về CSSKSS Không những thế, báo cáo còn chỉ ra mối liên hệ giữa cung cấp, sử dụng dịch vụ CSSKSS và các phát hiện, khuyến nghị về dịch vụ chăm sóc SKSS

Tuy nhiên, báo cáo trên chủ yếu tập trung vào vấn đề CSSKSS, ít nói đến vấn đề về các BPTTHĐ mà nhóm đề tài chúng tôi đang nghiên cứu Thông qua bài báo cáo này là tiền đề để phần nào giúp chúng tôi bổ sung một số thông tin cần thiết về SKSS giành cho đối tượng mà đề tài chúng tôi đang đề cập đến, cụ thể là những cặp vợ chồng công nhân

Những nội dung chính trong Việc nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc SKSS và vai trò của hướng dẫn chuẩn Quốc gia:[11]

-Những hạn chế và thách thức trong việc thực hiện chuẩn quốc gia về các dịch vụ CSSKSS: khách hàng, dịch vụ cung hoặc cầu, kiến thức lâm sàng, quản

lí dịch vụ

      

10 Đối với Bộ y tế Dự án VIE/01/P10 – Báo cáo điều tra ban đầu Thực trạng cung cấp và sử dụng dịch

vụ CSSKSS tại 7 tỉnh tham gia chương trình quốc gia 7 DO UNFPA tài trợ, tr.7, tr.27, tr.41, tr.44, tr.55, tr.57 và tr.61

11 Nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc SKSS ở Việt Nam 1, vai trò của hướng dẫn chuẩn quốc gia

về các dịch vụ chăm sóc SKSS – UNFPA, NXB Hà Nội 2007, tr.12-15

Trang 28

- Đóng góp của chuẩn quốc gia trong việc cải thiện chất lượng các dịch vụ chăm sóc SKSS

- Định hướng tương lai: Vai trò của hỗ trợ quốc tế, thực hành dựa trên bằng chứng quốc tế, lồng ghép các dịch vụ CSSKSS, gia tăng mạnh mẽ y tế tư nhân

ở Việt Nam, đặc biệt là nạn phá thai sử dụng công nghệ để đánh giá sự tiến triển của thai nhi, thực hiện giáo dục và đào tạo SKSS cần được hỗ trợ thường xuyên

- Nguồn lực: Tập huấn nhân viên CSSKSS, tăng khả năng cho người cung cấp dịch vụ CSSKSS, hạn chế việc sử dụng những loại thuốc hoặc các thủ thuật không cần thiết

- Nhu cầu: Chủ yếu khai thác nhu cầu thiết yếu về cung cấp dịch vụ CSSKSS cho chị em phụ nữ và đề ra nhu cầu để có những dịch vụ CSSKSS phù hợp

Công trình xoay quanh các chuẩn quốc gia về CSSKSS nói chung chưa đề cập đến các BPTT để nâng cao chất lượng dân số Đối tượng của công trình còn rất chung chưa dành riêng cho một đối tượng cụ thể nào Tuy nhiên công trình cũng đã cho chúng tôi biết được các biện pháp nâng cao chất lượng dịch

vụ CSSKSS trong tương lai Đây chính là sự hướng dẫn cho đề tài của chúng tôi đang thực hiện

- Tiếp cận dịch vụ KHHGĐ và sử dụng các BPTT

Đối tượng mà các công trình nghiên cứu hướng tới rất đa dạng, phong phú

về cả độ tuổi, nghề nghiệp, giới tính…nhưng chủ yếu và phổ biến nhất là đối tượng vị thành niên và các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ Trong khi đó việc nâng cao hiểu biết, kiến thức, kĩ năng áp dụng các BPTT cho đối tượng là công nhân vẫn chưa được quan tâm đúng mức Điển hình là công nhân nhập cư tại các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương Tuy Trung Tâm Chăm Sóc SKSS Sở

Y Tế Bình Dương đã có nhiều chương trình hỗ trợ nhưng phần lớn các cặp vợ chồng công nhân chưa hiểu biết, tiếp cận và kĩ năng áp dụng các BPTTHĐ chưa cao

Trang 29

Nói về các tình trạng sử dụng các BPTT hiện nay, PGS.TS Nguyễn Thị Thiềng cho biết:

- Hiểu biết về nguồn cung cấp các BPTT

Tỷ lệ thanh thiếu niên biết về nơi mua (nhận) các BPTT tương đối cao (80,4% trong số 1199 đối tượng trả lời phỏng vấn), trong đó tỷ lệ nữ biết về nơi mua (nhận) các BPTT cao hơn nam Tỷ lệ này tăng lên khi độ tuổi tăng lên Tỷ

lệ thanh thiếu niên biết nơi nhận hoặc mua các BPTT tăng lên khi trình độ học vấn tăng lên Nếu chỉ có 25% thanh thiếu niên tốt nghiệp tiểu học biết được nơi mua hoặc nhận BPTT, thì tỷ lệ này đạt gần 90% đối với những người đã tốt nghiệp phổ thông trung học

Những nơi cung cấp các dịch vụ BPTT được thanh thiếu niên nhắc tới: Trung tâm y tế (63,9%); Hiệu thuốc (62,9%) và Bệnh viện/Phòng khám (56,5%) Tỷ lệ thanh thiếu niên biết Hội KHHGĐ là nơi cung cấp các BPTT tương đối thấp (29,1%) Công trình cho biết một số địa điểm cung cấp dịch vụ

về BPTT như: trạm y tế, bệnh viện, quầy thuốc tư nhân, bạn bè, Kết quả điều tra cũng cho thấy không có sự khác biệt rõ rệt theo độ tuổi trong hiểu biết về nơi cung cấp các BPTT, nhưng sự khác biệt về giới tính lại được thể hiện rất rõ Nam thanh thiếu niên thường kể nhiều đến hiệuthuốc, trong khi nữ thanh thiếu niên lại nhắc nhiều đến bệnh viện phòng khám; trung tâm y tế và hội kế hoạch hoá gia đình

Đây chính là cơ sở để chúng tôi tiến hành so sánh số liệu tại các cơ sở điển cứu khác nhau của đối tượng là công nhân mà chúng tôi đang tiến hành nghiên

Tỷ lệ kể tên được BPTTHĐ bất kỳ là 98,4% những biết cách dùng đúng 1 BPTTHĐ bất kỳ chỉ đạt 55,8% Cần tích cực tuyên truyền thông tin về các

Trang 30

BPTT thông qua việc in ấn tài liệu, tư vấn trực tiếp hoặc qua điện thoại cho tất

cả nữ công nhân và cả nam giới để nâng cao kiến thức và tỷ lệ sử dụng các BPTTHĐ trong đối tượng này, qua đó góp phần giảm tỷ lệ nạo phá thai trong

nữ công nhân Đây là cơ sở dữ liệu hoặc làm bằng chứng về con số cho nhóm chúng tôi có sự so sánh tình hình hiểu biết, tỉ lệ áp dụng các BPTTHĐ của cùng đối tượng công nhân tại hai địa bàn sinh sống khác nhau – Tp.Hồ Chí Minh và Bình Dương

Liên quan đến nội dung mà chúng tôi đang tiến hành nghiên cứu tại Dĩ An, Bình Dương về một số vấn đề chung của Trần Thị Lợi, Phùng Khánh Lâm trong việc khảo sát lý do không sử dụng BPTTHĐ và nhu cầu chăm sóc SKSS ở nữ

VTN phá thai tại bệnh viện Từ Dũ:

- Lý do không sử dụng BPTTHĐ của nữ VTN

- Nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh sản của nữ VTN

Trong số những nội dung được trình bày ở đây cũng là vấn đề mà nhóm nghiên cứu của chúng tôi đang tiến hành Tuy nhiên những nội dung này có thể không giống nhau Vì vậy nội dung này có ý nghĩa trong việc so sánh và đánh giá cái giống nhau và sự khác biệt giữa khi cùng một đối tượng công nhân với địa bàn nghiên cứu khác nhau Dựa trên những kết quả của bài báo cáo làm cơ

sở, tiền đề cho chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài của mình được tốt hơn

Để tiếp cận tốt với xu hướng xã hội hóa các phương tiện tránh thai, trong giai đoạn có sự mở rộng các dịch vụ ra bên ngoài với các hoạt động tiếp thị xã hội rộng rãi các phương tiện tránh thai, cùng với sự tồn tại của hệ thống phân phối BPTT phi lâm sàng miễn phí của chương trình mục tiêu quốc gia KHHGĐ, cần phải quản lý chặt chẽ và tuyên truyền sâu rộng, để nhân dân được đáp ứng quyền thông tin, tìm hiểu và sử dụng BPTT phù hợp Mô hình và phương hướng này cần được đưa vào áp dụng tại tỉnh Bình Dương đặc biệt là các khu công nghiệp, nơi tập trung số công nhân rất lớn

Nhằm đem lại hiệu quả cao trong hoạt động phân phối các BPTT để ngày càng thu hút nhiều đối tượng sử dụng các BPTT phù hợp, chúng ta phải không ngừng nâng cao chất lượng các dịch vụ đang có, đảm bảo sẵn sàng hậu cần để

Trang 31

cung cấp cho khách hàng khi có nhu cầu và hoạt động phân phối phải dựa trên nhu cầu của cộng đồng Không ngừng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ có chất lượng, làm tốt hoạt động tư vấn, vận động, thuyết phục khách hàng đến với dịch vụ chăm sóc SKSS, KHHGĐ Trong thời gian tới Bộ y tế Tổng DS –

KHHGĐ đã đưa ra khung chương trình Bồi dưỡng nghiệp vụ DS – KHHGĐ đạt chuẩn viên chức dân số [12] với nội dung như sau:

- Đối tượng tham gia: Cán bộ có trình độ từ sơ cấp trở lên đang công tác tại các đơn vị sự nghiệp DS – KHHGĐ các cấp chưa có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ cơ bản về DS – KHHGĐ

- Cơ sở đào tạo: Các cơ sở đào tạo được Bộ y tế cho phép đào tạo ngành dân số y tế với nội dung nâng cao kiến thức, kĩ năng, trình độ chuyên môn, thái

độ sau khi bồi dưỡng

Có thể nói rằng, thực hiện KHHGĐ là cơ sở để nâng cao chất lượng chăm sóc SKSS, có làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục thì mới có thể tạo nên ý thức chủ động, tự nguyện thực hiện các BPTT để quyết định chọn thời điểm sinh con, khoảng cách giữa các lần sinh hợp lý vì không sinh nhiều lần Đến lúc

đó chủ trương xã hội hóa các dịch vụ KHHGĐ sẽ dễ dàng thực hiện, vì ý thức

và hành vi của người dân được chuyển đổi

      

12 Bộ y tế, Tổng DS – KHHGĐ ban hành kèm theo quyết định số 86/QĐ – TCDS, ngày 18/4/2012 của Tổng cục trưởng cục DS – KHHGĐ Goptp.gov.vn

Trang 32

1.2.2 Mô hình khung phân tích

Điều kiện kinh tế văn hóa

xã hội

HIỂU BIẾT, KIẾN THỨC VÀ KỸ NĂNG ÁP DỤNG CÁC BPTTHĐ

CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG CÔNG NHÂN

Ý thức CSSKSS cá nhân

Giáo dục SKSS nơi làm việc

Giáo dục SKSS nơi sinh sống

Giáo dục

SKSS trong

gia đình

Giáo dục SKSS trong trường học

Trang 33

Trong mô hình phân tích trên, các biến được thể hiện như sau:

Biến độc lập được thể hiện ở: Điều kiện kinh tế - văn hóa

Biến trung gian là: Gia đình, trường học, xã hội, giáo dục SKSS trong gia đình, trường học, nơi làm việc, nơi sinh sống và ý thức CSSKSS của cá nhân Biến phụ thuộc: Mức độ hiểu biết hiểu, kiến thức, kĩ năng áp dụng các BPTTHĐ của các cặp vợ chồng công nhân

1.3 Thời gian bắt đầu và kết thúc

- Thời gian bắt đầu : Tháng 09/2012

- Thời gian kết thúc : Tháng 02/2013

Trang 34

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA MẪU NGHIÊN CỨU

2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Địa bàn tỉnh Bình Dương

Tỉnh Bình Dương đang phát triển mạnh về công nghiệp hoá với 27 khu công nghiệp đi vào hoạt động Qua kết quả tổng điều tra dân số vào ngày 1/4/2009, tốc độ dân số Bình Dương tăng 7,3% đứng đầu trong cả nước

với 1.482.636 người, trong đó có khoảng 600.000 dân nhập cư chuyển đến từ

các tỉnh thành trong cả nước Đặc biệt lực lượng lao động trẻ là nữ thanh niên chiếm trên 300.000 là đang làm việc tại các khu công nghiệp

Trong quí II (2010), Trung tâm đã được Lãnh đạo Sở Y tế cho phép triển khai các hoạt động chuyên môn tại chỗ với định suất 40 giường dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh nhân dân cũng như nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho đời sống CBCCVC ngày càng được nâng cao

Phối hợp với Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh triển khai thực hiện Chiến dịch truyền thông lồng ghép dịch vụ SKSS – DS/KHHGĐ và tham gia giám sát lồng ghép chương trình SKSS – DS

Thuận lợi:

Kinh phí hoạt động cho Chương trình sức khỏe sinh sản của Trung ương và địa phương được bổ sung đầy đủ kịp thời vào Chương trình mục tiêu quốc gia năm 2010

 Khó khăn:

Tại tuyến cơ sở: Tại khoa chăm sóc sức khỏe sinh sản vẫn còn thiếu cán

bộ, nhất là cán bộ đại học; các khoa bệnh viện tuyến huyện thị còn thiếu Bác sĩ chuyên khoa sản nên các hoạt động triển khai không đầy đủ theo phân cấp kỹ thuật tuyến

Tại tuyến tỉnh: Trong những năm qua mặc dù được bổ sung đội ngũ cán

bộ công chức, viên chức nhưng hiện tại nhu cầu phục vụ sức khỏe nhân dân ngày càng cao và đòi hỏi phải nâng cao chất lượng chăm sóc, do đó số CBCCVC hiện tại của Trung tâm vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu chuyên môn nhất là thiếu bác sĩ chuyên khoa

Trang 35

Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh: Triển khai chiến dịch truyền thông lồng

Như vậy chi cục DS-KHHGĐ hết sức quan tâm đến công tác chăm sóc SKSS cho người dân tỉnh nhà Hiện nay tỉnh đang từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ, cũng như biến lý thuyết thành thực hành đã nhận được sự ủng

hộ nhiệt tình của cán bộ và người dân địa phương

2.1.2 Địa bàn khu phố Bình Đường 2

Khu phố Bình Đường 2 là 1 trong 3 khu phố trực thuộc phường An Bình, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương Dân số có 20.000 người, trong đó tạm trú là 3.500 người Khu phố Bình Đường 2 có vị trí địa lí khá thuận lợi, hướng Đông Nam vào cửa ngõ Thành phố Hồ Chí Minh, phía Đông giáp phường Linh Xuân – Linh Trung; phía Bắc giáp Bình Tây; phía Nam giáp Bình Đường 3 Các điểm mốc quan trọng là có 03 trường học, 01 Bệnh viện Hoàn Hảo tương đối lớn nằm trên đường Kha Vạn Cân, 01 phòng khám đa khoa An Bình, 15 hiệu thuốc tây, 04 trạm ATM và 01 công ty giày Dĩnh Huy

Tình hình kinh tế đa số là kinh doanh buôn bán và kinh doanh nhà trọ bình dân Đội ngũ Cán bộ của khu phố Bình Đường 2 gồm có: Cấp ủy Chi bộ, Ban điều hành khu phố cùng các Ban ngành đoàn thể như: Chi Đoàn thanh niên, hội

      

13. Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh: Triển khai chiến dịch truyền thông lồng ghép SKSS - KHHGĐ đợt II-2012, cập nhật ngày 22/10/2012, lúc 11:17:24, theo tác giả Hồng Thuận đăng trên báo Binhduong Online, Binhduong.org.vn

Trang 36

Nông Dân, hội Người Cao Tuổi, hội Cựu Chiến Binh, hội Chữ Thập Đỏ, hội Phụ Nữ

Vấn đề SKSS – KHHGĐ, khu phố Bình Đường 2 kết hợp với Cán bộ của

Ủy ban nhân dân phường An Bình thường tố chức tuyên truyền chăm sóc SKSS vào các ngày 20 hàng tháng và tổ chức các chương trình chăm sóc SKSS vào các ngày 15 và 30 hàng tháng [14]

2.2 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

2.2.1 Một số thông tin cơ bản về đối tượng nghiên cứu

Với phương pháp chọn mẫu phi xác suất, 165 nam/nữ đã có gia đình 18-42 tuổi được phát bảng hỏi Bên cạnh đó chúng tôi đã tiến hành 35 cuộc phỏng vấn sâu, trong đó có 01 lãnh đạo địa phương, 01 trưởng trạm y tế, 02 nhân viên trạm y tế, 10 chủ tiệm thuốc tây, 21 nam/nữ đã có gia đình đã được phỏng vấn

ở 14 tổ dân phố trên địa bàn khu phố Bình Đường 2

Theo kết quả bộ câu hỏi định lượng, đối tượng tập trung chủ yếu vào nhóm 24-29 tuổi (50,68%), tiếp theo nhóm 30-34 tuổi chiếm 19,6%, chiếm 15,54% là nhóm trên 34 tuổi, với 13,51% là nhóm 20-24 tuổi, thấp nhất là dưới

20 tuổi (0.7%)

Điểm đáng chú ý ở đây là đối tượng trả lời bảng hỏi chủ yếu là nữ (65,55%), và nam là 34, 45% Mặc dù tỉ lệ nam, nữ đã được chúng tôi lựa chọn tương đối để phát nhưng hầu hết các ông chồng đều đưa cho vợ trả lời Đây chính là một yếu tố làm hạn chế tính tương đối về mặt giới tính khi thực hiện nghiên cứu đề tài

2.2.2 Cơ cấu tuổi và giới tính

Trong quá trình thực hiện do đối tượng nghiên cứu nam thường “đùn đẩy” cho nữ nên tỷ lệ nam nữ đã bị chênh lệch Tỷ lệ nữ gần như gấp đôi so với tỷ lệ nam (nam là 34,45%, nữ là 65,5%)

      

14 Thông tin do bác Nguyễn Văn Của, trưởng Ban Điều Hành khu phố Bình Đường 2, phường An Bình, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương cung cấp vào lúc 20h05’ ngày 22/01/2012, tại nhà Ban Điều Hành khu phố

Trang 37

Nếu phân tích theo độ tuổi thì ở các độ tuổi dưới 20 và trên 34 tuổi thì tỉ lệ nam lại cao hơn nữ Ví dụ: ở độ tuổi dưới 20 thì nam chiếm 0,53% còn nữ chiếm 46,7% Điều này thật khó giải thích, nó chỉ có thể lí giải là số lượng mẫu nhỏ nên có sự chênh lệch về cơ cấu giới tính trong từng độ tuổi nói trên

Phân bố mẫu điều tra theo độ tuổi có mức độ khác biệt tương đối lớn, đối tượng tập trung chủ yếu nhóm 24-29 tuổi (50,68%), tiếp theo là nhóm 30-34 tuổi chiếm 19,6%, chiếm 15,54% là nhóm trên 34 tuổi, với 13,51% là nhóm 20-

24 tuổi, thấp nhất là dưới 20 tuổi (0.7%) Đây được coi là một số liệu khách quan vì độ tuổi công nhân đã kết hôn đang tăng lên theo mặt bằng chung của xã hội

 Quy mô mẫu phân theo giới tính

Biểu đồ 2.1 Quy mô mẫu theo giới tính

Nhìn vào biểu đồ ta thấy được tỷ lệ nữ công nhân tham gia trả lời cao hơn nam công nhân Con số chênh lệch về mặt tỷ lệ là (22,1%) Sự chưa cân đối này cũng là nhân tố ảnh hưởng đến kết quả khảo sát về mức độ hiểu biết và kĩ năng áp dụng các BPTTHĐ của các cặp vợ chồng công nhân Bên cạnh nhân tố giới tính thì nhân tố theo độ tuổi cũng được nhóm chúng tôi đưa vào khảo sát Kết quả khảo sát độ tuổi được thể hiện bằng biểu đồ sau

Trang 38

 Quy mô mẫu theo độ tuổi

Biểu đồ 2.2: Quy mô mẫu theo độ tuổi

Biểu đồ cho thấy đối tượng khảo sát tập trung chủ yếu vào độ tuổi 25-29 (50,68%), tiếp theo là 30-34 (19,59%) Như vậy đa số các cặp vợ chồng công nhân còn trẻ, họ là những đối tượng đang nằm trong độ tuổi sinh sản

Nguyên nhân của sự phân bố mẫu không đều trong cơ cấu tuổi là do công nhân là đối tượng đã có gia đình, nhập cư để tìm kiếm việc làm và cải thiện cuộc sống Phần lớn họ tập trung cao vào độ tuổi 25-29, ba độ tuổi (20-24, 30-

34, trên 34) có tỷ lệ xấp xỉ nhau lần lượt là (13,51%, 19,59%, 15,54%)

Hiện nay do mặt bằng chung của xã hội về độ tuổi kết hôn được nâng cao

rõ rệt vì vậy tỷ lệ công nhân ở độ tuổi dưới 20 đã lập gia đình chỉ chiếm 0,68% thấp hơn so với các nhóm tuổi khác Như vậy đối tượng nghiên cứu phân bố không đồng đều về mặt cơ cấu theo độ tuổi

Cũng tương tự như vậy, cơ cấu theo tôn giáo của các cặp vợ chồng công nhân cũng không đồng đều về mặt tín ngưỡng tôn giáo Kết quả của cuộc khảo sát sẽ chứng minh điều này

2.2.3 Cơ cấu theo tôn giáo và trình độ học vấn

 Quy mô mẫu theo tôn giáo

Tôn giáo cũng là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến kiến thức về SKSS và vấn đề tình dục trong cuộc sống Mỗi tôn giáo hay tín ngưỡng đều có những quan điểm riêng về vấn đề hôn nhân, tình dục và sinh sản Sau

Trang 39

khi tiến hành khảo sát, quy mô mẫu theo tôn giáo của công nhân được thể hiện bằng biểu đồ sau:

Biểu đồ 2.3: Quy mô mẫu theo tôn giáo

Biểu đồ cho thấy quy mô mẫu khảo sát về thành phần tín ngưỡng, tôn giáo

có sự chênh lệch cao Chiếm tỷ lệ cao nhất là tín ngưỡng thờ cúng ông bà (62,32%) và thấp nhất là Thiên chúa giáo (5,8%) [15] Tiếp theo đó là Phật giáo và các tín ngưỡng khác với tỉ lệ lần lượt là 21,01% và 10.57% Tuy nhiên, sau khi kiểm định thông tin của đối tượng chúng tôi nhận thấy kết quả này chỉ mang tính tương đối Vì có nhiều người hiểu rằng thờ cúng ông bà không phải

là một tín ngưỡng văn hoá hoặc không thuộc tôn giáo nào nên họ đã chọn

“Khác” và ghi là không theo tôn giáo nào và sau khi được chúng tôi giải thích

và hỏi lại thì hầu hết câu trả lời của họ đều thuộc tín ngưỡng “Thờ cúng ông bà” Vì vậy nhân tố này có thể làm ảnh hưởng đến việc xác định quy mô mẫu theo tôn giáo của công nhân

Trang 40

Tương tự như vậy, kết quả về trình độ học vấn cũng không hoàn toàn chính xác Vì trong bất kì một cuộc khảo sát nào cũng có sai số và nó chỉ mang tính tương đối Trình độ học vấn của công nhân được thể hiện bằng biều đồ sau:

Biểu đồ 2.4: Biểu đồ thể hiện quy mô mẫu theo trình độ học vấn

Trong số các cặp vợ chồng công nhân được điều tra thì trình độ học vấn của họ dàn trải trên tất cả các biến Tuy nhiên trình độ học vấn của từng nhóm

có sự chênh lệch khá rõ ràng Tập trung cao nhất là nhóm công nhân có trình

độ cấp II (lớp 6-9) chiếm tỷ lệ 51,75%, tiếp theo lần lượt là nhóm công nhân có trình độ học vấn cấp III, trên cấp III với tỷ lệ tương ứng là 30,77% và 13,29% Đáng chú ý là tại thời điểm khảo sát thì tỷ lệ công nhân mù chữ vẫn có nhưng

tỷ lệ rất thấp (0,69%) Mặt khác có một số người tham gia trả lời chưa nghiêm túc Trong quá trình khảo sát, để lấy được thông tin chính xác, nhóm chúng tôi

có kiểm tra lại kết quả trong bảng hỏi bằng những câu hỏi trực tiếp Có vài trường hợp rõ ràng là đọc được nhưng lại đánh vào đáp án là mù chữ Khi được

chúng tôi hỏi lí do tại sao thì người đó trả lời là “thì đánh đại vậy thôi” Tuy

nhiên đó chỉ là một bộ phận công nhân nhỏ không đáng kể trong tổng mẫu nghiên cứu Kết quả khảo sát vẫn phần nào phản ánh được trình độ học vấn của các cặp vợ chồng công nhân đang ở mức trung bình và cơ bản

Điểm chú ý ở đây là trong khảo sát, cho kết quả nam và nữ công nhân có trình độ học vấn tương đương nhau Tuy nhiên trình độ trên cấp III của nam

Ngày đăng: 07/05/2021, 18:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Adrian C. Hayes, Nguyễn Đình Cử, Vũ Mạnh Lợi (2009), Dân số và phát triển tại Việt Nam: hướng tới một chiến lược mới 2011 – 2020, NXB Thời Đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số và phát triển tại Việt Nam: hướng tới một chiến lược mới 2011 – 2020
Tác giả: Adrian C. Hayes, Nguyễn Đình Cử, Vũ Mạnh Lợi
Nhà XB: NXB Thời Đại
Năm: 2009
11. PGS.TS. Nguyễn Thị Thiềng – ThS. Lưu Bích Ngọc. (2006), SKSS thanh thiếu niên Việt Nam – Điều tra ban đầu chương RHIYA, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SKSS thanh thiếu niên Việt Nam – Điều tra ban đầu chương RHIYA
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Thị Thiềng – ThS. Lưu Bích Ngọc
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2006
13. TS. Lê Hải Thanh. (2011), Công tác xã hội đại cương, NXB Đại học quốc gia Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội đại cương
Tác giả: TS. Lê Hải Thanh
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Tp.HCM
Năm: 2011
14. Th.S. Nguyễn Thị Mai Hương (Giám đốc CCRD), Th.S. Nguyễn Đình Anh (Phó Vụ trưởng vụ truyền thông và Giáo dục, Tổng cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đinh) (2010), Báo cáo chuyên đề Thanh thiếu niên Việt Nam với việc tiếp cận và sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng, NXB Hà Nội.Tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chuyên đề Thanh thiếu niên Việt Nam với việc tiếp cận và sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng
Tác giả: Th.S. Nguyễn Thị Mai Hương (Giám đốc CCRD), Th.S. Nguyễn Đình Anh (Phó Vụ trưởng vụ truyền thông và Giáo dục, Tổng cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đinh)
Nhà XB: NXB Hà Nội. Tiếng anh
Năm: 2010
1. PGS. TS Nguyễn Thị Thiềng Tạp chí DS&PT, số 8/2005, Website: Tổng cục DS-KHHGĐ.(http://danso.giadinh.net.vn/20111207034943594p1160c1173/hieu-biet-cua-thanh-thieu-nien-ve-cac-bien-phap-tranh-thai-va-cach-su-dung.htm) Link
2. Bs.Xuân Anh (SK-ĐS), Tình dục an toàn, tình dục có trách nhiệm – Vietamnet.vn (http://vnn.vietnamnet.vn/khoahoc/201001/Tinh-duc-an-toanTinh-duc-co-trach-nhiem-892467/) Link
2. Báo cáo điều tra ban đầu thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ chăm sóc SKSS tại 7 tỉnh tham gia chương trình Quốc Gia 7 do UNFPA tài trợ của Dự án Bộ y tế - VIE/01/P10, Hà Nội-2006 Khác
3. Cơ sở lý luận về dân số-Phát triển và lồng ghép dân số vào kế hoạch hóa phát triển Bộ kế hoạch và đầu tư, Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (2005), NXB Hà Nội Khác
4. David W.Sifton, Toàn tập về sức khoẻ và sử dụng thuốc cho Phụ nữ (1/12/2000). Biên dịch Lưu Văn Hy, hiệu đính bác sĩ Trần Hải. NXB Phụ Nữ Khác
5. Đào tạo cho người cung cấp dịch vụ Chăm sóc sức khỏe sinh sản tại các tỉnh miền núi (2007) do UNFPA tài trợ , NXB Hà Nội Khác
6. Đối với Bộ y tế Dự án VIE/01/P10 – Báo cáo điều tra ban đầu Thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ CSSKSS tại 7 tỉnh tham gia chương trình quốc gia 7 DO UNFPA tài trợ Khác
7. Hợp phần chăm sóc sức khỏe sinh sản chu kỳ 7: Một số bài học kinh nghiệm giữa chu kỳ (2007), NXB Hà Nội Khác
8. Kiến thức và hành vi của cộng đồng dân tộc thiểu số về sức khỏe sinh sản (2007), NXB Hà Nội Khác
9. Mai Thị Công Danh (1999), Nghiên cứu Kiến thức – Thái độ – Thực hành về các BPTT của VTN đến phá thai tại BV Từ Dũ năm 1999. Luận văn Thạc sĩ Y học. Chuyên ngành Sản phụ khoa.- Đại học Y Dược TP HCM Khác
12. Tài liệu hướng dẫn phương pháp lồng ghép biến dân số vào kế hoạch hóa giáo dục-Bộ kế hoạch và đầu tư, Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (12/2005), NXB Hà Nội Khác
3. Ministry of health-Survey assessment of Vietnameses youth (Savy), Savy gender report Vietnamese youth with Sexual Behaviours and HIV Related risks 2 (2006), NXB Hà Nội Khác
4. Ministry of health-Survey assessment of Vietnameses youth (Savy), Savy gender report current situation of Adolescent and youth access to Health Care Services 6 (2006), NXB Hà Nội.Báo chí Khác
1. Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh: Triển khai chiến dịch truyền thông lồng ghép SKSS - KHHGĐ đợt II-2012, cập nhật ngày 22/10/2012, lúc 11:17:24, theo tác giả Hồng Thuận đăng trên báo Binhduong Online, Binhduong.org.vn Khác
2. Nông Đức Mạnh: Quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện có hiệu quả những vấn đề Hội Nghị Trung ương đã quyết định, Báo Nhân dân, ra ngày 23- 01-2008. Website Khác
5. Tác giả Robusto – Latora, Nguyên tác Catechesis in Contractteption, Nguyễn Quốc Đoạt chuyển dịch, Giáo lí về vấn đề tránh thai Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w