1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ tỉnh quảng bình lãnh đạo xây dựng và phát triển kinh tế trang trại (1996 2012)

162 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 162
Dung lượng 4,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam sau đổi mới, kinh tế trang trại đã có bước phát triển khá và khẳng định là một mô hình sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp có nhiều ưu thế, phù hợp với xu hướng phát triển t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

Lời cảm ơn

Em xin được bày tỏ lòng biết ơn với tất cả quý Thầy Cô trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đặc biệt là quý Thầy Cô khoa Lịch sử đã hết lòng truyền đạt kiến thức cho em trong suốt những năm học Đại học cũng như Cao học vừa qua

Em xin chân thành cảm ơn Thầy TS Phí Ngọc Tuyến là Cán bộ hướng dẫn của em Với lòng nhiệt huyết và phương pháp hướng dẫn đề tài rất hiệu quả, Thầy

đã chỉ cho em những hướng giải quyết để đề tài có được chiều rộng và chiều sâu, giúp đỡ để em hoàn thành đề tài đúng kế hoạch

Xin cảm ơn tất cả bạn bè, những người đã luôn bên cạnh và giúp đỡ tôi Chân thành cảm ơn sự hỗ trợ nhiệt tình của các cán bộ công tác ở cơ quan tại Quảng Bình: Ủy ban nhân dân tỉnh, Chi cục Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Chi cục Lưu trữ, Cục Thống kê, Hội Làm vườn Trường Đại học Nông Lâm Huế, Đại học Quảng Bình

Và cuối cùng, từ tận đáy lòng, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất

cả những người trong gia đình tôi, mẹ và các anh chị

Mặc dù luận văn đã được hoàn thành với tất cả sự nỗ lực của bản thân nhưng chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót Kính mong nhận được sự cảm thông

và chỉ bảo của quý Thầy Cô để em ngày càng hoàn thiện kiến thức của mình

Ngày tháng 1 năm 2014 Học viên thực hiện: Hoàng Thanh Tuấn

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu thực

sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức kinh điển,

nghiên cứu thực địa ở địa bàn nghiên cứu (tỉnh Quảng Bình) Những kết quả trong

luận văn là trung thực, chưa từng công bố Nội dung luận văn có tham khảo và sử

dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang

web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn

   

 

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC 3 

Danh mục những chữ viết tắt 7 

Danh mục bảng 8 

Danh mục biểu đồ 9 

MỞ ĐẦU 10 

1 Lý do chọn đề tài 10 

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 12 

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 15 

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15 

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 16 

6 Những đóng góp của luận văn 17 

7 Kết cấu của luận văn 17 

Chương 1  KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI 19 

1.1 Tiền đề lý luận 19 

1.1.1 Khái niệm 19 

1.1.2 Vai trò của kinh tế trang trại 21 

1.1.3 Tiêu chí trang trại ở nước ta 23 

1.1.4 Những đặc trưng của kinh tế trang trại 28 

1.1.5 Tình hình phát triển trang trại ở nước ngoài 29 

1.1.6 Tình hình phát triển trang trại ở trong nước 30 

Trang 5

1.2 Tiềm năng phát triển kinh tế trang trại ở Quảng Bình 32  

1.2.1 Điều kiện tự nhiên 32 

1.2.1.1.Vị trí địa lý 32 

1.2.1.2 Khí hậu 32 

1.2.1.3 Đặc điểm địa hình 33 

1.2.1.4 Tài nguyên thiên nhiên 34 

1.2.1.5 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên 36 

1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 36 

1.2.2.1 Dân số, lao động và việc làm 36 

1.2.2.2 Cơ sở hạ tầng 36 

1.2.2.3 Cơ sở chế biến và thị trường tiêu thụ 37 

1.2.2.4 Đánh giá chung về điều kiện kinh tế - xã hội 37 

1.2.3 Tình hình kinh tế trang trại tỉnh Quảng Bình trước năm 1996 38 

Chương 2   ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG BÌNH LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG

VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI (1996 - 2012) 40 

2.1 Chủ trương của Trung ương Đảng và chính sách của Nhà nước về xây dựng và phát triển kinh tế trang trại 40  

2.1.1 Chủ trương của Trung ương Đảng 40 

2.1.2 Chính sách của Nhà nước 46 

2.1.2.1 Chính sách về đất đai 46 

2.1.2.2 Chính sách về đầu tư, tín dụng 49 

2.1.2.3 Chính sách về thuế 50 

2.1.2.4 Các chính sách khác 51 

2.1.3 Nhận xét về những chủ trương của Trung ương Đảng và chính sách của Nhà nước về xây dựng và phát triển kinh tế trang trại 53 

Trang 6

2.2 Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Bình về xây dựng và

phát triển kinh tế trang trại (1996 - 2012) 58 

2.2.1 Khuyến khích xây dựng và phát triển kinh tế trang trại (1996 - 1999) 58 

2.2.2 Đẩy mạnh phát triển kinh tế trang trại (2000 - 2012) 66 

2.2.2.1 Giai đoạn 2000 - 2005 66 

2.2.2.2 Giai đoạn 12/2005 - 2012 76 

Chương 3  QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI Ở QUẢNG BÌNH, NHẬN XÉT VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP 84 

3.1 Quá trình phát triển kinh tế trang trại ở Quảng Bình (1996 - 2012) 84   3.1.1 Giai đoạn 1996 - 1999 84 

3.1.2 Giai đoạn 2000 - 2005 87 

3.1.3 Giai đoạn 2006 - 2010 92 

3.1.4 Giai đoạn 2011 - 2012 97 

3.1.5 Những thành tựu và hạn chế của quá trình phát triển trang trại ở Quảng Bình (1996 - 2012) 99 

3.2 Nhận xét về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh về xây dựng và phát triển kinh tế trang trại (1996 - 2012) 108  

3.2.1 Ưu điểm 108 

3.2.2 Hạn chế 111 

3.3 Những bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Bình đối với xây dựng và phát triển kinh tế trang trại (1996 - 2012) 114   3.4 Giải pháp phát triển kinh tế trang trại 117  

3.4.1 Giải pháp về qui hoạch 117 

3.4.2 Giải pháp về đất đai 118 

3.4.3 Giải pháp về đầu tư và vốn 120 

Trang 7

3.4.4 Giải pháp về lao động 121 

3.4.5 Giải pháp về thị trường tiêu thụ 122 

3.4.6 Một số giải pháp khác 123 

KẾT LUẬN 126  

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 131  

PHỤ LỤC 141  

Trang 8

CT Chỉ thị

Trang 9

Danh mục bảng

Bảng 3.1 Diện tích sử dụng đất của trang trại ở Quảng Bình (2001 - 2005) 88

Bảng 3.3 Giá trị sản xuất hàng hóa và dịch vụ theo loại hình trang trại ở

Quảng Bình năm 2003 và 2005

90

Bảng 3.4 Tình hình thu nhập trang trại ở Quảng Bình (2001 - 2005) 91 Bảng 3.5 Diện tích đất sử dụng của trang trại ở Quảng Bình (2006 - 2010) 93

Bảng 3.7 Tình hình sử dụng lao động trong các trang trại ở Quảng Bình

(2006 - 2010)

95

Bảng 3.8 Giá trị hàng hóa của trang trại ở Quảng Bình (2006 - 2010) 95 Bảng 3.9 Tình hình thu nhập của trang trại ở Quảng Bình (2006 - 2010) 96 Bảng

3.10

Những khó khăn của các chủ trang trại ở Quảng Bình hiện nay 105

 

Trang 10

Danh mục biểu đồ

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Kinh tế trang trại là mô hình kinh tế phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nông nghiệp, nông thôn trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế hàng hóa Mô hình này phù hợp với những quốc gia, những vùng diện tích đất đai có khả năng phát triển nông lâm nghiệp bình quân đầu người tương đối cao

Thực tiễn đã khẳng định khả năng phát triển và hiệu quả nhiều mặt của kinh

tế trang trại Nó khai thác có hiệu quả các nguồn lực, tạo ra khối lượng nông sản hàng hóa ngày càng nhiều, tạo ra khả năng lớn trong việc áp dụng khoa học kĩ thuật, tăng năng suất lao động Trên cơ sở đó góp phần giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội và môi trường bền vững Ở Việt Nam sau đổi mới, kinh tế trang trại

đã có bước phát triển khá và khẳng định là một mô hình sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp có nhiều ưu thế, phù hợp với xu hướng phát triển tất yếu của một nền sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn về nông nghiệp nông thôn nói chung và kinh

tế trang trại nói riêng, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) đã đề cập đến và sau đó Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 BCHTW Đảng khóa VIII (1998) khẳng định là một mô hình sản xuất mang lại hiệu quả cao trong nông thôn và khuyến khích phát triển Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 03/2000/NQ - CP (02 -

02 - 2000) về kinh tế trang trại nhằm thống nhất vị trí, vai trò và đưa ra các chính sách khuyến khích phát triển

Tuy vậy, sự phát triển của kinh tế trang trại hiện nay chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của các vùng, miền trong cả nước Nó chưa đóng góp thõa đáng vào việc mở rộng qui mô sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, hiệu quả và

Trang 12

sức cạnh tranh của các mặt hàng nông sản trong điều kiện mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

Kinh tế trang trại vẫn là một loại hình kinh tế còn khá mới mẻ ở nước ta Vì vậy, cần phải đẩy mạnh nghiên cứu cụ thể tiềm năng, lợi thế đối với từng vùng, từng địa phương để có những chính sách khuyến khích phát triển Đưa ra những giải pháp phù hợp, sát với thực tế, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực, yếu tố bất lợi có thể xảy ra trong quá trình đầu tư và phát triển

Quảng Bình là một tỉnh nằm ở Bắc Trung Bộ của nước ta, với cơ cấu kinh

tế là nông - công nghiệp Trong những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp của tỉnh

đã và đang có những bước phát triển đáng kể, góp phần thực hiện tốt công tác xóa đói giảm nghèo và cải thiện bộ mặt nông thôn Trong đó mô hình kinh tế trang trại đóng một phần quan trọng

Với diện tích đất nông nghiệp 79.618 ha, đất lâm nghiệp 663.522 ha; có bờ biển dài 116,04 km với vùng kinh tế và lãnh hải gần 20.000 km2; tài nguyên thiên nhiên phong phú; dọc theo bờ biển có năm cửa sông chính, vùng cát ven biển có diện tích rộng lớn,… Quảng Bình có tiềm năng lớn để khai thác và phát triển kinh tế trang trại

Kinh tế trang trại ở Quảng Bình đã phần nào phát huy được các nguồn lực

có của địa phương như đất đai, vốn, lao động Hoạt động này đã và đang thu được những thành quả nhất định, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn nói chung và kinh tế tỉnh nói riêng Đồng thời nó cũng tạo ra được nhiều việc làm, nâng cao thu nhập và góp phần cải thiện đáng kể bộ mặt nông thôn tỉnh

Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được thì hoạt động kinh tế trang trại còn có nhiều hạn chế Sự ra đời cũng như hoạt động của nhiều trang trại còn mang tính tự phát, các chủ trang trại chưa nắm bắt được chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế trang trại Mặt khác, họ cũng thiếu

Trang 13

nhiều thông tin kinh tế, giá cả, yêu cầu của thị trường nên sản phẩm làm ra thường chưa đạt chất lượng cao và chưa ổn định đầu ra

Đối với Việt Nam nói chung, tỉnh Quảng Bình nói riêng, kinh tế trang trại vẫn là một vấn đề khá mới mẻ cần được nghiên cứu, tổng kết nhằm cung cấp thêm những tư liệu cần thiết để từ đó tìm ra được một hướng đi đúng đắn hơn trong việc phát triển kinh tế trang trại ở cả nước và Quảng Bình hiện nay Việc nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc về thực trạng cũng như phương hướng phát triển kinh tế trang trại ở Quảng Bình là rất cần thiết để từ đó đưa ra những định hướng và giải pháp thiết thực nhằm thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển tương xứng với tiềm năng

và thế mạnh vốn có của tỉnh

Với những lí do trên tôi quyết định thực hiện đề tài: “Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lãnh đạo xây dựng và phát triển kinh tế trang trại (1996 - 2012)” làm luận văn

thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Đã có nhiều công trình khoa học, sách, báo viết về kinh tế trang trại ở Việt Nam nói chung, ở Quảng Bình nói riêng với nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau

Về chính sách cũng như sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về kinh tế

trang trại, Đoàn Xuân Thùy đã xuất bản cuốn sách: “Chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay” (2011) Cuốn sách đã phân tích, đánh giá mức độ

phù hợp của các chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp ở nước ta thời gian qua so với yêu cầu của thông lệ quốc tế, đặc biệt là các quy định của tổ chức kinh tế thế giới Tác giả cũng đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện các chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp theo hướng vừa phù hợp với các cam kết quốc tế, vừa thúc đẩy phát triển nền nông nghiệp hiện đại, tạo cơ sở bền vững cho giải quyết vấn đề nông dân và nông thôn trong thời gian tới

Trang 14

Cùng với nội dung nghiên cứu trên, Trần Thị Minh Châu đã viết cuốn: “Về chính sách đất nông nghiệp ở nước ta hiện nay” (2007), cuốn sách được biên soạn

trên cơ sở kết quả nghiên cứu đề tài cấp bộ cùng tên do các nhà khoa học trong và ngoài Viện quản lý kinh tế, Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện Dựa trên cơ sở khảo sát đánh giá thực trạng, cả những thành công chủ yếu và yếu kém trong chính sách đất nông nghiệp ở Việt Nam, các tác giả đã luận chứng khá sâu sắc một số vấn đề lý luận, thực tiễn về các yếu tố cơ bản của kinh tế thị trường tác động trực tiếp đến chính sách đất nông nghiệp; từ đó rút ra những bài học bổ ích cho việc định ra các giải pháp để hoàn thiện chính sách đất nông nghiệp ở Việt Nam

Một tác phẩm khác đề cập một cách tương đối hoàn chỉnh về kinh tế trang

trại là: “Tư liệu về kinh tế trang trại”(2000) của Ban Vật giá Chính phủ (Trần Các

chủ biên) Công trình này được trình bày dưới dạng kỷ yếu và tổng hợp một cách có

hệ thống những thông tin về kinh tế trang trại Đầu tiên là các Nghị định, Nghị quyết thể hiện rõ những chủ trương, chính sách và những định hướng của Đảng và Nhà nước về việc phát triển kinh tế trang trại cùng 141 bài nghiên cứu, báo cáo của các nhà nghiên cứu và quản lý kinh tế Qua cuốn sách ta có thể thấy được quá trình

bổ sung và hoàn thiện chính sách của Đảng và Nhà nước về kinh tế trang trại Bên cạnh đó tập sách còn có nhiều bài viết về kinh tế trang trại cũng như kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở các địa phương trên cả nước Đây là một tài liệu có nhiều ý nghĩa và rất có giá trị trên phương diện tham khảo tư liệu

Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã xuất bản cuốn sách với tựa đề:

“Nông dân làm giàu” (2010) Cuốn sách tập hợp những bài viết trên các tạp chí,

sách báo với chủ đề là những kinh nghiệm nông dân làm giàu trên các loại hình trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy hải sản,… Phần hai của cuốn sách nói về những tấm gương tiêu biểu của người nông dân vượt qua khó khăn vươn lên làm giàu chính đáng trên các vùng miền của cả nước Đây là một tài liệu tham khảo quí cho nông dân nói chung, các chủ trang trại nói riêng cũng như cho các nhà quản lý

Trang 15

Đề cập đến nông nghiệp trong thời kì đổi mới, Nguyễn Sinh Cúc xuất bản

tác phẩm: “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới (1986 - 2002)” với ba

phần chính, tác giả đã cung cấp cho bạn đọc nhiều nguồn thông tin phong phú, toàn diện được tính toán và phân tích theo phương pháp khoa học kết hợp với định tính

và định lượng,… mọi sự phân tích, chứng minh, kết luận và dự báo đều được chứng minh bằng những số liệu thực tế Đây là cuốn sách có giá trị tham khảo đối với nhiều người thuộc nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau Người đọc có thể tìm thấy những số liệu, những thông tin cần thiết cho công tác nghiên cứu và học tập của mình

Bàn về nông nghiệp nông thôn nói chung trong giai đoạn tới, Nguyễn Thị

Tố Quyên xuất bản cuốn sách: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011 - 2020” (2012) Trên cơ sở phân tích lý

luận và đánh giá khách quan thực tiễn nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Việt Nam, tác giả đã chỉ ra những vấn đề tồn tại cũng như xu hướng phát triển của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011 – 2020 Tác giả đề xuất một số chính sách nhằm giải quyết những vấn đề tồn tại đang đặt ra trong nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Với tác phẩm: “Kinh tế trang trại với xóa đói giảm nghèo” (2004) tác giả

Ngô Đức Cát đề cao vai trò của kinh tế trang trại trong xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn qua khảo sát thực trạng, qui mô và tìm hiểu các nguyên nhân khách quan về kinh tế - xã hội lẫn năng lực và điều kiện chủ quan của các hộ nghèo ở địa phương Qua đó phân tích mối quan hệ qua lại giữa tình trạng đói nghèo với sự phát triển kinh tế trang trại Ông khẳng định vai trò của kinh tế trang trại không chỉ tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn mà còn có vai trò quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn vững mạnh như mục tiêu của Đảng và Nhà nước

Viết về kinh tế trang trại ở Quảng Bình cũng đã có nhiều tác phẩm sách,

báo, tiêu biểu như: Quảng Bình chú trọng phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa; Phát triển kinh tế trang trại tại Quảng Bình theo hướng chất lượng

Trang 16

và bền vững, tháo gỡ vướng mắc trong phát triển kinh tế trang trại ở Quảng Bình; Phát triển kinh tế trang trại và kinh tế vùng gò đồi gắn với xây dựng nông thôn mới,… Nhưng các bài báo các công trình này chỉ mới trình bày một cách khái quát

về kinh tế trang trại ở Quảng Bình, chưa đi sâu và nghiên cứu những chính sách của Đảng và địa phương cũng như thực trạng phát triển của trang trại ở địa phương

Nhìn chung đến nay, việc nghiên cứu về kinh tế trang trại đã và đang được nhiều ngành quan tâm, nhà nghiên cứu quan tâm đặt ra và giải quyết, nhiều công trình đã được công bố Tuy vậy, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách tường tận về kinh tế trang trại và sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Bình đối với việc xây dựng và phát triển kinh tế trang trại Những công trình của các nhà khoa học, chính sách là nguồn tài liệu vô cùng quí giá cho chúng tôi tiếp tục tìm hiểu phát triển toàn diện luận văn này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế trang trại

Làm rõ những quan điểm và chủ trương của Đảng và nhà nước, của Đảng

bộ tỉnh Quảng Bình về vấn đề xây dựng và phát triển kinh tế trang trại

Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở địa phương nhằm tìm ra những mặt thành công, những hạn chế

Đánh giá về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Bình về xây dựng và phát triển kinh tế trang trại

Đưa ra các định hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển ở Quảng Bình một cách hiệu quả

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lãnh đạo xây dựng và phát triển kinh tế trang trại ở địa phương

Trang 17

Phạm vi nghiên cứu là: địa bàn tỉnh Quảng Bình, từ năm 1996 đến năm

2012

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp lịch sử: nhìn nhận vấn đề theo tiến trình lịch sử, quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng và Nhà nước, của Đảng bộ tỉnh Quảng Bình đối với vấn đề xây dựng và phát triển kinh tế trang trại

Phương pháp phân tích: phân tích những tài liệu thu thập được tác giả phân tích tổng hợp theo mục đích nghiên cứu của đề tài

Phương pháp thống kê toán học sử dụng phần mềm Excel để tính toán số liệu, vẽ biểu đồ để mô tả, phác họa rõ hơn vấn đề nghiên cứu

Phương pháp khảo sát thực địa để hiểu rõ hơn về thực trạng trên địa bàn tỉnh, tác giả đi khảo sát thực tế tại một số trang trại trong tỉnh để tìm hiểu và kiểm chứng những thông tin thu thập

Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp một số chủ trang về tình hình trang trại, những thành tựu, những khó khăn Lắng nghe ý kiến của họ về chính sách, sự quan tâm của Đảng ủy cũng các cấp chính quyền Đồng thời ghi nhận các kiến nghị để phát triển kinh tế trang trại một cách có hiệu quả tốt nhất

Nguồn tài liệu:

Các Nghị quyết, Quyết định của Trung ương Đảng và Nhà nước, Đảng bộ, UBND tỉnh Quảng Bình

Các văn bản của sở NN&PTNT của tỉnh Quảng Bình, Cục Thống kê tỉnh Quảng Bình, Phòng Thống kê các huyện, cũng như số liệu của các xã, thuộc địa bàn tỉnh

Trang 18

Những tác phẩm và công trình nghiên cứu đã được đăng tải trên sách báo, tạp chí, các luận văn, luận án liên quan đến phát triển kinh tế trang trại ở tầm vĩ mô cũng như ở các địa phương

Nguồn tài liệu từ các cuộc điền dã, khảo sát thực tế tại một số trang trại ở tỉnh Quảng Bình

6 Những đóng góp của luận văn

Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần giúp các cấp ủy và chính quyền có đủ cơ

sở khoa học để lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế trang trại trên tỉnh Quảng Bình

Góp phần kiến nghị, đề xuất việc điều chỉnh, giải pháp phát triển kinh tế trang trại của Đảng và Nhà nước nói chung và của Đảng bộ tỉnh Quảng Bình nói riêng

Là tài liệu cung cấp thông tin tin cậy về kinh tế trang trại cho các nhà nghiên cứu, các cấp chính quyền, người hoạch định chính sách và những người quan tâm đến kinh tế trang trại ở Quảng Bình

Kết quả nghiên cứu giúp các chủ trang trại có những định hướng và giải pháp đúng đắn nhằm phát triển mô hình, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn chia thành 3 chương:

Chương 1 Một số tiền đề lý luận và thực tiễn: trong chương này, chúng tôi xem xét những khái niệm có sử dụng trong đề tài như: kinh tế trang trại, đặc trưng của kinh tế trang trại, khái quát chung về tỉnh Quảng Bình: điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội,…

Trang 19

Chương 2 Những quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng và phát triển kinh tế trang trại Chủ trương và quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ Quảng Bình về xây dựng và phát triển kinh tế trang trại

Chương 3 Quá trình phát triển kinh tế trang trại ở Quảng Bình; đánh giá những ưu nhược điểm về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Bình, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm phát triển kinh tế trang trại tỉnh trong thời gian tới

Trang 20

Chương 1

1.1 Tiền đề lý luận

1.1.1 Khái niệm

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đang tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau

về trang trại Điều này là do sự khác nhau về qui mô, hình thức tổ chức và tính chất

sở hữu của trang trại

Về mặt từ vựng thì trong tiếng Anh trang trại được gọi là Farm, tiếng Pháp

là Ferme, tiếng Nga là Oepma,… thường được dịch sang tiếng Việt là Trang trại, được hiểu một các đơn giản là cơ sở sản xuất nông nghiệp gắn với hộ gia đình nông dân Các thuật ngữ trên được hiểu chung là nông dân, chủ trang trại gia đình, người nông dân gắn với ruộng đất, với đất đai nói chung

Các quan điểm về kinh tế trang trại của các nhà nghiên cứu:

C.Mác đã phân biệt chủ trang trại với người tiểu nông bằng sự so sánh như sau:

Người chủ trang trại bán ra thị trường hầu hết các sản phẩm làm ra

Còn người tiểu nông thì đại bộ phận sản phẩm làm ra được, mua bán càng ít càng tốt

Điểm cơ bản của kinh tế trang trại là sản xuất ra nông sản hàng hóa, khác với kinh tế tiểu nông là sản xuất tự cung tự cấp Nhưng có điểm giống nhau là lấy gia đình làm đơn vị cơ sở Quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại là quá trình chuyển từ kinh tế hộ nông dân tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa ở mức độ cao

Trang 21

Nhà kinh tế người Nga Traianov đã tổng kết các kinh nghiệm về trang trại ở

Mĩ, Anh, pháp, Đức, cùng với các trang trại ở Nga trong giai đoạn cải cách nông nghiệp (1906 - 1910) đã chứng minh hiệu quả của kinh tế hộ nông dân trên mảnh đất của mình

Theo ông, ở nước Anh đã có nền công nghiệp sớm nhất thế giới ngay từ cuối thế kỉ XVII, họ đã có quan niệm: trong nền kinh tế hàng hóa tư bản, nông nghiệp cũng phải xây dựng các xí nghiệp tập trung qui mô lớn như các xí nghiệp công nghiệp Vì vậy, họ đã tập trung ruộng đất, xây dựng các nông nghiệp tư bản lớn và làm cho các trang trại gia đình bị phân tán và thậm chí có thể phá sản Nhưng trên thực tế thì lại khác đi Hiệu quả sản xuất của các xí nghiệp nông nghiệp lớn lại thấp hơn các trang trại gia đình

Ở Việt Nam, tuy kinh tế trang trại ra đời chậm hơn so với thế giới những cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu chung và về khái niệm nói riêng

Nhà nghiên cứu Trần Đức cho rằng: Trang trại là chủ lực của các tổ chức làm nông nghiệp ở các nước tư bản cũng như các nước đang phát triển và theo nhiều nhà khoa học thì đây là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh của nhiều nước trên thế giới trong thế kỉ XXI [69, tr 244]

Nhà nghiên cứu Lê Trọng đưa ra khái niệm kinh tế trang trại như sau: Kinh

tế trang trại bao gồm kinh tế nông trại, lâm trại, ngư trại là hình thức tổ chức kinh tế

cơ sở của nền sản xuất nông nghiệp xã hội, bao gồm một số người lao động nhất định, được các chủ trang trại trang bị những tư liệu sản xuất nhất định để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với nền kinh tế thị trường có sự bảo hộ của Nhà nước.[69, tr.244]

Nhà nghiên cứu Trần Hữu Quan, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương với tư cách là chủ nhiệm đề tài cấp Bộ: “Mô hình kinh tế trang trại - triển vọng phát triển ở Việt Nam năm 1995” cho rằng: Trang trại là hình thức sản xuất

Trang 22

nông nghiệp dựa trên cơ sở lao động và đất đai của gia đình là chủ yếu có tư cách pháp nhân, tự chủ sản xuất kinh doanh và bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, có chức năng là sản xuất nông sản hàng hóa, tạo ra nguồn thu nhập chính cho gia đình và đáp ứng nhu cầu cho xã hội.[69, tr.244]

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn hình thành và phát triển kinh tế trang trại ở nước ta trong những năm 1980, 1990, Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP của Chính phủ (2000) về kinh tế trang trại cũng đã xác định rõ khái niệm về kinh tế trang trại ở nước ta như sau: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản.” [13, tr.2]

1.1.2 Vai trò của kinh tế trang trại

Kinh tế trang trại là hướng đi có tính đột phá để nâng cao giá trị sản phẩm trong nông nghiệp, góp phần xóa đói giảm nghèo và làm giàu, giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn Nó có vai trò quan trọng trong các mặt kinh tế, xã hội, môi trường,

Về mặt kinh tế: Các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát

triển các loại cây trồng vật nuôi có giá trị hàng hóa cao, tạo nên các vùng chuyên môn hóa, thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến, dịch vụ và sản xuất ở nông thôn Việc phát triển kinh tế trang trại ở những nơi có điều kiện bao giờ cũng đi liền với việc khai thác và sử dụng một cách đầy đủ và có hiệu quả các loại nguồn lực trong nông nghiệp nông thôn so với kinh tế hộ Do vậy, phát triển kinh tế trang trại góp phần tích cực vào thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn

So với kinh tế hộ, kinh tế trang trại đẩy nhanh quá trình tích lũy vốn đầu tư vào phát triển nông nghiệp Hơn nữa, sản xuất của trang trại hiệu quả nhiều hơn so với nông hộ, do đó, lợi nhuận được nhanh chóng mở rộng Kinh nghiệm quốc tế cho

Trang 23

thấy khi mà lợi thế về qui mô lớn đang phát huy hiệu quả, nhà sản xuất sẽ huy động tối đa lợi nhuận để đầu tư và mở rộng sản xuất Như vậy, việc tái sử dụng, mở rộng qui mô vốn trong nông nghiệp sẽ thực hiện một cách nhanh chóng từ kinh tế trang trại

Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm vốn sản xuất của trang trại ở nước

ta trong 5 năm qua là 13,8 % Đến năm 2007, tổng vốn sản xuất của hệ thống trang trại là 29.320,1 tỷ đồng, vốn sản xuất bình quân của trang trại là 257,8 triệu đồng, nhiều tỉnh phía Nam có số vốn hơn 500 triệu đồng (Lâm Đồng, TP Hồ Chí Minh, Bình Phước,…) Lợi nhuận bình quân đạt 413 triệu đồng/trang trại, cao gấp 15 lần

so với lợi nhuận kinh tế nông hộ Nguồn vốn đầu tư của các trang trại thông thường

có trên 85% là vốn tự có, một phần huy động từ người thân và một phần rất nhỏ từ tín dụng Nhà nước [52, tr 3] Điều này cho thấy, nguồn vốn hình thành để mở rộng qui mô là từ lợi nhuận của chủ trang trại

Trong điều kiện hiện nay, sự gia tăng sản lượng nông nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào sự gia tăng qui mô vốn sản suất Do đó, phát triển kinh tế trang trại sẽ góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng nông nghiệp

Về áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất trong nông nghiệp: là đơn vị kinh tế sản xuất, kinh doanh trên qui mô lớn nên các trang trại thường đầu tư vào mua các máy móc vào quá trình sản xuất Mặt khác, các trang trại thường là nơi tập trung vào các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị cao; đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ cao vào sản xuất, nhằm nâng cao năng suất Do đó, kinh tế trang trại tiếp tục là khâu đột phá nhằm đẩy nhanh việc ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất nông nghiệp

Về mặt xã hội: Phát triển kinh tế trang trại đã góp phần khai thác thêm

nguồn vốn trong dân, hình thành đội ngũ nông dân năng động, dám nghĩ dám làm

để phát triển sản xuất, làm giàu cho gia đình và xã hội, góp phần xoá đói giảm nghèo, giữ vững chính trị, an ninh quốc phòng, ổn định dân cư và xây dựng nông thôn mới

Trang 24

Mặt khác, trang trại cũng góp phần vào giải quyết việc làm và tạo thu nhập bền vững cho nông dân vùng nông thôn Với lợi thế về qui mô, hiệu quả cao trong sản xuất, khả năng ứng dụng nhanh các công nghệ mới vào sản xuất, năng lực cạnh tranh, trình độ quản lý và tổ chức sản xuất của chủ trang trại Kinh tế trang trại có khả năng phát triển bền vững trong điều kiện biến động lớn của rủi ro tự nhiên và cạnh tranh trong lộ trình thực hiện hội nhập quốc tế WTO Trên cơ sở mở rộng sản lượng hàng hóa bền vững, việc làm ở nông thôn được mở rộng và thu nhập cho người lao động ở vùng nông thôn cũng ở mức ổn định

Về mặt môi trường: Phát triển kinh tế trang trại đã khai thác và sử dụng có

hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, mở mang thêm diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá, nhất là ở các vùng trung du, miền núi và ven biển, góp phần cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái

Các trang trại trồng cây lâu năm, trang trại lâm nghiệp cũng đồng thời tạo ra một môi trường tự nhiên trong lành, làm phong phú thêm cảnh quan thiên nhiên và môi trường sinh thái Do đó, kinh tế trang trại giữ vai trò quan trọng thực hiện phát triển nông nghiệp bền vững

1.1.3 Tiêu chí trang trại ở nước ta

Trong thời kì đổi mới, nhất là những năm 1990 đến nay, kinh tế trang trại

đã phát triển mạnh ở khắp hầu hết các địa phương trong cả nước, hình thành mô hình sản xuất mới trong nông nghiệp và nông thôn nước ta Tuy nhiên do trong quá trình phát triển ở mỗi địa phương có mỗi đặc điểm khác nhau (về tính chất sản xuất hàng hóa, qui mô, diện tích đất đai, số lượng gia súc gia cầm,…) của trang trại nên các tỉnh đã tự đề ra các tiêu chí về trang trại

Và do sự khác nhau đó nên các tiêu chí cũng rất khác nhau giữa các địa phương Để có sơ sở tổng kết, đánh giá về kinh tế trang trại và đề xuất chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại, bộ NN&PTNT và Tổng cục Thống kê, đã có Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK (23 - 6 - 2000) Theo đó, một hộ

Trang 25

sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được xác định là trang trại phải đạt được một trong hai tiêu chí định lượng sau đây:

Tiêu chí 1: Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm: Ðối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên Ðối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên

Tiêu chí 2: Qui mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế Cụ thể:

Ðối với trang trại trồng trọt:

Trồng cây hàng năm có từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung; từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên

Trang trại trồng cây lâu năm: Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung; từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên Trang trại trồng hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên

Trang trại lâm nghiệp: Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước Ðối với trang trại chăn nuôi:

Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò, : Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên; chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên

Chăn nuôi gia súc: lợn, dê,…: Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với lợn 20 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên; chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa) dê thịt từ 200 con trở lên

Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng, có thường xuyên từ 2000 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi)

Trang trại nuôi trồng thuỷ sản: Diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản

có từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên)

Trang 26

Ðối với các loại sản phẩm nông lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản có tính chất đặc thù như: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thuỷ sản và thuỷ hải sản, thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hoá (tiêu chí 1)

Ngày 20 - 5 - 2003, bộ NN&PTNT - Tổng cục Thống kê đã ra Thông tư số 27/2003/TT-BNN&PTNT (2003) về sửa đổi mục III của Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK về việc hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại Thông tư này bổ sung như sau:

Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản được xác định là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hóa, dịch

vụ bình quân 1 năm, hoặc về qui mô sản xuất của trang trại

Đối với trang trại sản xuất tổng hợp có nhiều loại sản phẩm hàng hóa của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản thì tiêu chí xác định là giá trị lượng hàng hóa, dịch vụ bình quân 1 năm

Sau hơn 10 năm phát triển, nền kinh tế Việt nam đã có nhiều phát triển mạnh Theo đó, sự gia nhập Tổ chức kinh tế thế giới cũng làm cho nền kinh tế nông nghiệp chuyển biến theo hướng sản suất hàng hóa nhiều hơn Tính chất của sản xuất của kinh tế trang trại cũng tập trung vào sản xuất hàng hóa, chuyên môn cao hơn

Để phù hợp với tình hình mới, ngày 13 - 04 - 2011, bộ NN&PTNT đã ra Thông tư

số 27/2011/TT-BNNPTNT về Qui định về tiêu chí và cấp thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại đã qui định lại tiêu chí mới, cụ thể theo điều 5 và điều 6 là:

Điều 5: Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau:

1 Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt: a) Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:

 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long

Trang 27

 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại

b) Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm

2 Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên

3 Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên

Điều 6 Thay đổi tiêu chí xác định kinh tế trang trại

Tiêu chí xác định kinh tế trang trại được điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ, ổn định trong thời gian tối thiểu là 5 năm

Sự thay đổi về tiêu chí trang trại được thể hiện ở bảng 1.1 và bảng 1.2 Bảng 1 1: Các tiêu chí về kinh tế trang năm 2011

2,1 ha (3,1 ha đối với vùng Đông Nam

Bộ và đồng bằng sông Cửu Long)

Trang 28

Bảng 1.2: Các tiêu chí về kinh tế trang năm 2000

Nội dung

Khu vực Phía Bắc

và duyên hải miền Trung

Phía Nam

Tây Nguyên Tiêu chí 1:Sản lượng hàng hóa

(bình quân một năm)

≥ 40 triệu đồng

≥ 50 triệu đồng

Tiêu chí 2: Qui mô

Sinh sản: lợn: ≥ 20 con, dê, cừu: ≥ 100 con

Lấy thịt: lợn: ≥100 con, dê, cừu: ≥ 200 con

Gia cầm: gà, vịt…

Có thường xuyên ≥ 2000 con + Nuôi trồng thủy sản Diện tích mặt nước : ≥ 2 ha

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các Thông tư của Bộ NN&PTNT

Trang 29

Nhận xét: Việc thay đổi tiêu chí (điều kiện cao hơn) đã làm giảm một số lượng lớn kinh tế trang trại trên cả nước và tỉnh Quảng Bình nói riêng, cụ thể:

Cả nước: Từ 145.880 trang trại xuống còn 20.078 trang trại

Quảng Bình: là từ 1570 xuống còn 537 trang trại (nguồn: Tổng cục Thống kê)

Tiêu chí thay đổi đã ảnh hưởng nhiều tới các chủ trang trại cũ, đặc biệt là về nhu cầu vốn đầu tư Giấy chứng nhận kinh tế trang trại là điều kiện để các chủ trang trại vay vốn đầu tư sản xuất Tiến hành khảo sát ý kiến của các chủ trang trại không

đủ tiêu chuẩn, chúng tôi thấy rằng đây là các trang trại thật sự cần vốn sản xuất Việc không còn được cấp giấy chứng nhận trang trại gây trở ngại cho các chủ trang trại trong vay vốn ngân hàng

1.1.4 Những đặc trưng của kinh tế trang trại

Ở nhiều địa phương, quan niệm kinh tế trang trại là hình thức phát triển cao của kinh tế hộ nông dân là chủ yếu, ngoài ra còn thu hút một số thành phần khác như công chức, hưu trí đầu tư sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, dù thành phần chủ

sở hữu như thế nào thì trang trại vẫn mang bản chất là kinh tế hộ Xuất phát từ bản chất như vậy nên trang trại mang một số đặc trưng sau:

 Trang trại là một loại hình kinh tế trong các ngành sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, kết quả của bước phát triển mới từ kinh tế hộ nông dân đi lên sản xuất hàng hóa cao hơn

 Trang trại có quy mô diện tích nhất định (lớn hơn mức hạn điền cho một hộ nông dân), đó là kết quả của sự tích tụ, tập trung ruộng đất qua quyền chuyển nhượng hoặc cho thuê lại quyền sử dụng đất của các hộ khác

 Chủ trang trại là người lao động tại chỗ (chủ hộ nông dân) hoặc có thể

từ nơi khác đến đầu tư Là người có ý chí làm giàu, có vốn, có năng lực tổ chức

Trang 30

quản lý, có kiến thức và kinh nghiêm sản xuất nông nghiệp, đồng thời có hiểu biết nhất định về kinh doanh và nắm bắt nhu cầu thị trường

 Các yếu tố sản xuất của trang trại trước hết là đất đai và tiền vốn được tập trung với quy mô nhất định theo yêu cầu phát triển sản xuất hàng hóa

 Lực lượng lao động chủ yếu là thành viên trong gia đình và mướn thêm một số lao động (thường xuyên hoặc theo thời vụ) làm theo hợp đồng với tiền công theo thỏa thuận

 Trang trại hoạt động theo cơ chế thị trường, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong khuôn khổ pháp luật, tương tự như một doanh nghiệp, có thể huy động

cổ phần và tham gia các hình thức liên kết phù hợp Chủ trang trại trực tiếp điều hành sản xuất

 Trang trại có cách tổ chức và quản lý sản xuất tiến bộ dựa trên cơ sở chuyên môn hóa sản xuất, thâm canh, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, thực hiện hạch toán điều hành sản xuất hợp lý và thường xuyên tiếp cận thị trường

Trên đây là những đặc trưng của trang trại, từ các đặc trưng đó có thể hình dung trang trại như một doanh nghiệp vừa và nhỏ với loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần trong nông, lâm, ngư nghiệp khi có đầy đủ điều kiện pháp lý

1.1.5 Tình hình phát triển trang trại ở nước ngoài

Trang trại có lịch sử phát triển lâu đời Các chuyên gia về sử học và kinh tế học thế giới đã chứng minh từ thời đế quốc La Mã, các trang trại đã hình thành trong đó lực lượng sản xuất chủ yếu là các nô lệ Ở Trung Quốc, trang trại có từ thời nhà Đường Trang trại trên thế giới bắt đầu phát triển mạnh khi chế độ tư bản chủ nghĩa ra đời Năm 1802 ở Pháp có 5.672.000 trang trại, năm 1882 ở Tây Đức

có 5.278.000, năm 1990 ở Mỹ có 5.737.000, năm 1963 Thái Lan có 3.214.000 và

Ấn Độ có hơn 44 triệu trang trại

Trang 31

Việc phát triển trang trại đã tạo cho trên 2 triệu nông dân Mỹ sản xuất ra một số lượng nông sản chiếm 41% dự trữ lúa mì và 87% dự trữ ngô trên thế giới Trên 10.000 trang trại gia đình ở Malaixia năm 1992 đã sản xuất ra trên 6 triệu tấn dầu cọ, chiếm 53% sản lượng dầu cọ thế giới và xuất khẩu ra 40 nước, và 60% sản lượng cao su thế giới Ở Pháp có 0,98 triệu trang trại, sản xuất một lượng nông sản gấp 2,2 lần nhu cầu trong nước; 1.500 trang trại của Hà Lan mỗi năm sản xuất 7 tỷ bông hoa, 600 triệu chậu hoa; 4 triệu lao động trong các trang trại của Nhật Bản (chiếm 3,7% dân số cả nước) nhưng bảo đảm lương thực, thực phẩm cho hơn 100 triệu người [95, tr.1]

Bằng hình thức phát triển kinh tế trang trại gia đình mà những quốc gia như Israel đã biến vùng cát sa mạc thành những vùng nông nghiệp trù phú với những cánh đồng hoa quả có năng suất cao, phát triển đồng cỏ chăn nuôi bò và đã trở thành nước xuất khẩu với nhiều sản phẩm nông nghiệp có giá trị Trung Quốc có số dân trên một tỷ người, để nuôi sống được số dân này, Chính phủ Trung Quốc đã có chính sách mạnh mẽ về phát triển kinh tế hộ, trang trại, đầu tư khai thác triệt để và

có hiệu quả các loại hình đất đai, tạo ra được nguồn lương thực thực phẩm đáp ứng nhu cầu cuộc sống của nhân dân trong nước và còn dư thừa để xuất khẩu

Như vậy, trên thế giới kinh tế trang trại đã ra đời từ rất sớm Hiện nay, đây

là một mô hình tổ chức sản xuất phổ biến trong nông nghiệp, và là xu thế tất yếu của sản xuất nông nghiệp hàng hoá Nhiều chính phủ các nước trên thế giới cũng đang khuyến khích mô hình này phát triển

1.1.6 Tình hình phát triển trang trại ở trong nước

Trong hơn 20 năm qua, nước ta đã có nhiều chương trình đầu tư nghiên cứu khai thác và sử dụng có hiệu quả đất đồi núi, đất gò đồi và đất cát ven biển như các dự án, các đề tài phủ xanh đồi trọc, phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả, chương trình nông lâm kết hợp Các chương trình phủ xanh đồi trọc, chương trình phát triển mô hình nông nghiệp góp phần xoá đói giảm nghèo cho đồng bào vùng sâu, vùng xa đều mang lại hiệu quả tốt Bên cạnh những chủ trương chính sách

Trang 32

nhằm thúc đẩy kinh tế vùng miền núi thì một nội dung không thể thiếu đó là định canh định cư trên những vùng kinh tế mới

Những năm qua đã có nhiều chương trình như: Chương trình 135, 134, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo; Chương trình bố trí dân cư theo QĐ

193 của Thủ tướng về phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi; Quyết định số 78/2008/QĐ-TTg ngày 10 tháng 6 năm

2008 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ Chương trình bố trí dân cư, Mô hình trang trại đã và đang có một vai trò quan trọng quyết định quá trình xóa đói giảm nghèo, cải thiện bộ mặt nông thôn, phát triển nông nghiệp hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn Ở tỉnh Gia Lai bằng các chính sách định canh định

cư các trang trại đã phát triển hơn 10 năm nay, tuy quy mô còn nhỏ nhưng nó tỏ rất hiệu quả Ở tỉnh Đắclak tập trung giải quyết hoàn thành giao đất ở và đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ theo Chương trình 135 của Chính phủ, chấm dứt tình trạng du canh, du cư, 70% số xã, buôn và 85% số hộ đạt tiêu chí hoàn thành Tỉnh Thừa Thiên Huế có mô hình "canh tác trên đất dốc theo đường đồng mức" tại xã Hương Hữu, huyện Nam Đông và xã A-Ngo, xã Hồng Trung huyện A-Lưới Ở tỉnh Bình Phước hiện nay có 5600 trang trại, Điều đáng ghi nhận là kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh đã góp phần giải quyết việc làm ổn định cho 46.659 lao động, trung bình mỗi trang trại sử dụng 8 lao động, với mức thu nhập từ 1,2 đến 1,6 triệu đồng/người/tháng [52, tr.2]

Như vậy, nhờ vào những chủ trương về giao đất, giao rừng, của Đảng và Nhà nước ta kinh tế trang trại đã phát triển phổ biến, nó chứng tỏ là một mô hình sản xuất hàng hóa nông sản mang lại hiệu quả cao Trong nông nghiệp mô hình sản xuất trang trại có hiệu quả cao, mang lại lợi nhuận cao hơn nhiều so với nông hộ Nhiều nhà nông đã trở thành những tỷ phú về cà phê, cao su, tiêu, điều,

Trang 33

1.2 Tiềm năng phát triển kinh tế trang trại ở Quảng Bình

1.2.1 Điều kiện tự nhiên

Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh: 806.526.67 ha

và miền Bắc Trung bộ nói chung thì có sự phân hoá sâu sắc của địa hình và chịu ảnh hưởng khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam nước ta Các yếu tố khí

Trang 34

tượng có sự phân cực lớn: mùa quá nóng, mùa rét lạnh, mùa quá hạn, mùa quá ẩm,… Trong năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 3 đến tháng 9 và mùa khô, lạnh từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau

Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm khoảng 250C - 260C Tổng lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.000 mm - 2.500 mm, tập trung vào các tháng 9, 10,

11 Độ ẩm tương đối 83% - 84%

1.2.1.3 Đặc điểm địa hình

Quảng Bình có địa hình hẹp và dốc từ phía Tây sang phía Đông, dọc theo lãnh thổ đều có núi, trung du, đồng bằng và vùng cát ven biển Ven biển là các đồng bằng nhỏ hẹp, chủ yếu tập trung theo hai ben bờ sông; diện tích chiếm khoảng 15% tổng diện tích tự nhiên, khoảng 85% diện tích là đồi núi, đá vôi

Toàn bộ diện tích được chia thành các vùng sinh thái cơ bản: vùng rừng núi, vùng gò đồi, vùng đồng bằng và vùng cát ven biển

Về hệ thống sông ngòi: Quảng Bình có 5 hệ thống sông chính (hệ thống sông Ròn, sông Gianh, sông Lý Hòa, sông Dinh, sông Nhật Lệ), trong đó có 2 hệ thống sông lớn nhất là sông Gianh và sông Nhật Lệ Sông suối trong tỉnh phân bố với mật độ tương đối cao, trung bình đạt 1,1 - 2,1 km/km2 Hầu hết các con sông bắt nguồn từ đỉnh núi Trường Sơn đổ ra biển Đông, sông ngắn và dốc Do vậy, khả năng gây lũ lụt lớn vào mùa mưa và hạn hán vào mùa khô ở đồng bằng là rất cao

Có nhiều công trình thủy lợi được xây dựng trên các con sông như đập, hồ chứa Có những hồ chứa lớn như Vực Hồ Tròn diện tích mặt nước 829 ha, hồ Cam

Ly 651 ha và hàng trăm hồ chứa, đập dâng lớn nhỏ khác Đây cũng là một điều kiện thuận lợi nhằm tạo tiết khí hậu, làm tăng dần độ ẩm không khí, gây ẩm cho đất, hạn chế một phần tác hại của gió Tây Nam gây khô nóng, đối với cây trồng, vật nuôi cũng như mọi sinh hoạt của đời sống dân cư xung quanh cũng như khu vực hạ lưu

Trang 35

1.2.1.4 Tài nguyên thiên nhiên

là địa bàn để phân bố các cơ sở công nghiệp mới Hiện còn 2.388 ha mặt nước chưa

sử dụng - là điều kiện mở mang phát triển nuôi trồng hải sản ngọt, lợ trong tương lai

Về loại đất: nhìn chung đất đai trên địa bàn tỉnh Quảng Bình chủ yếu là đất ferlit đồi và núi phát triển trên nhiều loại đá mẹ, đất hình thành tại chỗ, do địa hình dốc nên dễ bị rửa trôi, thoái hóa, có độ phì nhiêu thấp

b Tài nguyên biển

Quảng Bình có bờ biển dài 116 km từ Đèo Ngang đến Hạ Cờ với vùng đặc quyền lãnh hải khoảng 20.000 km2 Dọc theo bờ biển có 5 cửa sông chính tạo nguồn cung cấp phù du sinh vật có giá trị cho việc phát triển nguồn lợi thuỷ sản Ngoài khơi có 5 đảo nhỏ tạo ra những vịnh có vị trí thuận lợi cho các hoạt động kinh tế biển như Hòn La Bờ biển có nhiều bãi tắm đẹp, vùng biển có một số ngư trường với nhiều loại hải sản quý hiếm như tôm hùm, mực, hải sâm,… cho phép Quảng Bình phát triển kinh tế tổng hợp biển

Ngoài ra, vùng ven biển Quảng Bình có tiềm năng rất lớn về cát thạch anh, nguyên liệu để sản xuất thuỷ tinh cao cấp xuất khẩu

Biển Quảng Bình có hầu hết các loài hải sản có mặt ở vùng biển Việt Nam (1.000 loài), có những loài hải sản có giá trị kinh tế cao mà các tỉnh khác ít có hoặc không có như: tôm hùm, tôm sú, mực ống, mực nang,… Phía Bắc biển Quảng Bình

Trang 36

có bãi san hô trắng với diện tích hàng chục ha, không những là nguồn nguyên liệu

mỹ nghệ có giá trị mà còn tạo điều kiện duy trì hệ sinh thái san hô đặc thù của vùng biển sâu miền Trung Theo số liệu điều tra và đánh giá của bộ Thuỷ sản (năm 1996), trữ lượng cá ở vùng biển Quảng Bình (chưa kể đến một số loài cá như cá ngừ, cá chuồn) là khoảng 51.000 tấn; trữ lượng tôm biển ước tính là 2.000 tấn chủ yếu là các loài tôm mũ ni, đánh bắt vào vụ nam Trữ lượng mực là 8.000 - 10.000 tấn

Diện tích tiềm năng mặt nước nuôi trồng thuỷ sản (sông ngòi, ao hồ nhỏ, hồ chứa, mặt nước lớn, diện tích trồng lúa có khả năng nuôi, diện tích bãi bồi ven sông, ven biển, nước mặn) là 15.000 ha, trong đó diện tích có khả năng nuôi trồng thuỷ sản mặn lợ là 4.000 ha, nuôi trồng thuỷ sản ngọt là 11.000 ha

Đất trống không rừng có 163,4 nghìn ha, chiếm 20,29% diện tích tự nhiên, cần được trồng lại rừng và trồng cây chống cát bay, cát chảy Tài nguyên rừng và đất rừng của Quảng Bình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ với kinh tế mà

cả đối với môi trường

Tài nguyên sinh vật bao gồm nhiều khu hệ thực, động vật đa dạng, độc đáo với nhiều nguồn gen quý hiếm Đặc trưng cho đa dạng sinh học ở Quảng Bình là vùng Karst Phong Nha - Kẻ Bàng

Trang 37

1.2.1.5 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên

Quảng Bình có vị trí thuận lợi trong giao lưu, trao đổi hàng hóa, phát triển nông nghiệp nói chung và kinh tế trang trại nói riêng Có điều kiện khí hậu và đất đai thuận lợi để phát triển trang trại với qui mô lớn và nhiều mô hình trang trại nông lâm nghiệp và thủy sản trên các vùng sinh thái và các dạng địa hình khác nhau

Tuy vậy, điều kiện tự nhiên của tỉnh cũng gây ra nhiều bất lợi cho sản xuất nông nghiệp nói chung và phát triển kinh tế trang trại nói riêng Đất đai tuy rộng nhưng kém màu mỡ, phần lớn là đất nghèo dinh dưỡng Khí hậu nhiệt đới lắm nắng nhiều mưa thuận lợi cho sinh trưởng của thực vật nhưng lại là vùng trọng điểm của gió mùa Tây - Nam có tốc độ lớn và gây nóng dễ gây hạn hán, làm cát di chuyển lấn lấp đồng ruộng Là vùng thường bị các cơn bão lớn từ biển Đông tàn phá

1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

1.2.2.1 Dân số, lao động và việc làm

Hiện nay, dân số toàn tỉnh khoảng 847.956 người, phần lớn là người Kinh, dân tộc ít người tập trung ở huyện miền núi Tuyên Hóa, Minh Hóa và một xã miền Tây Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thủy Dân cư phân bố không đều, tập trung chủ yếu

ở nông thôn (85%), thành thị chiếm số lượng ít (15%)

Quảng Bình có nguồn lao động dồi dào, hiện nay có 452.136 người đang làm việc trong các ngành kinh tế, chiếm 53,3% dân số Trong đó 300.560 người làm việc trong nông lâm nghiệp, thủy sản

Về đơn vị hành chính: Quảng Bình có một thành phố (Đồng Hới) và sáu huyện (Quảng Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa, Bố Trạch, Lệ Thủy, Quảng Ninh)

1.2.2.2 Cơ sở hạ tầng

Các hệ thống thủy lợi, điện, đường, giao thông, thông tin liên lạc,…về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu phát triển của tỉnh Tuy nhiên ở những khu vực miền núi xa, hệ thống điện đường còn rất yếu kém Trong 1.325 trang trại, còn 30 trang

Trang 38

trại (2,3%) chưa có điện thắp sáng do xa lưới điện, rải rác ở Quảng Trạch, Tuyên Hóa, Lệ thủy Ôtô đã đến được tất cả các trang trại nhưng chủ yếu là đường đất, chưa được cứng hóa hay bê tông hóa nên việc vận chuyển vật tư, đi lại còn gặp nhiều khó khăn, nhất là vào mùa bão lũ

1.2.2.3 Cơ sở chế biến và thị trường tiêu thụ

Có 4 nhà máy chế biến mủ cao su tại Lệ Thủy, Bố Trạch, Tuyên hóa và nhiều cơ sở khác tại Đồng Hới đã hoạt động Ngoài ra còn có một số cơ sở chế biến khác ở Bố Trạch nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu chế biến mủ cao su của các trang trại, nhất là chế biến mủ khô

Có 1 cơ sở chế biến thịt lợn tại Lệ Thủy, 4 lò giết mổ gia súc cầm, gia cầm tại Quảng Ninh, Đồng Hới, Quảng Trạch, Quảng Ninh Có 3 nhà máy chế biến thủy sản tại Đồng Hới và Bố Trạch Về chế biến lâm sản, toàn tỉnh có khoảng 9.000 cơ

1.2.2.4 Đánh giá chung về điều kiện kinh tế - xã hội

Tỉnh có nguồn lao động dồi dào có khả năng đáp ứng nhu cầu về sử dụng lao động của các ngành kinh tế nhất là phát triển kinh tế nông lâm, ngư nghiệp và thủy sản Nhân dân có truyền thống lao động cần cù chịu khó, có ý chí vươn lên từ lao động Các chính sách của Nhà nước phần nàođáp ứng được các nguyện vọng của các chủ trang trại Tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được đẩy nhanh Nhiều nguồn vốn, chương trình dự án ưu tiên đầu tư cho nông nghiệp trong

đó có phát triển kinh tế trang trại Chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng qui mô, áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật từng bước nâng cao năng suất, tạo điều kiện phát triển kinh tế trang trại

Trang 39

Tuy vậy, điều kiện kinh tế - xã hội tỉnh cũng còn nhiều hạn chế làm ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại như: nguồn lao động chất lượng chưa cao, hầu hết là lao động phổ thông, lao động qua đào tạo nghề chiếm tỷ lệ thấp Mật độ dân số không đồng đều, vùng đồng bằng và những nơi thuận tiện giao thông có mật

độ cao, trong khi đồng bào dân tộc sống rải rác rất khó khăn cho việc xây dựng cơ

sở hạ tầng, phát huy tiềm năng đất đai để phát triển trang trại

Tích lũy vốn, thu nhập của một bộ phận dân cư còn thấp, đặc biệt là ở miền núi, điều này gây khó khăn cho đầu tư thâm canh, khoa học kĩ thuật Cơ sở hạ tầng tuy được đầu tư nhưng nhìn chung còn yếu và thiếu, đặc biệt là ở nông thôn, miền núi làm ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế

Dịch vụ nông nghiệp tuy đã phát triển, nhưng chưa đáp ứng nhu cầu sản xuất, nhất là khâu chế biến và tiêu thụ sản phẩm Chất lượng giống chưa đảm bảo nên việc xây dựng hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung chất lượng cao rất khó khăn Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi diễn biến phức tạp

1.2.3 Tình hình kinh tế trang trại tỉnh Quảng Bình trước năm 1996

Mô hình kinh tế trang trại xuất hiện ở Quảng Bình từ cuối thập niên 80 của thế kỉ trước Các trang trại còn ở qui mô nhỏ, giá trị hàng hóa ở mức thấp, đang còn

ở giai đoạn bắt đầu hình thành, chính vì thế thu nhập mang lại từ kinh tế trang trại chưa cao

Kinh tế trang trại là sản phẩm đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, nhưng trên cả nước nói chung và Quảng Bình nói riêng thì trong những năm đầu thập niên 90, các trang trại hình thành đều do tự phát Thực tế cho thấy sự phát triển một cách tự phát có thể mang lại giá trị kinh tế cao trong thời gian đầu nhưng do thiếu định hướng nên không ít trang trại đã gặp khó khăn Sản phẩm làm ra không

có thị trường tiêu thụ, hay bị ép giá Giá trị gia tăng của nông sản không cao Do chưa có cơ chế kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp với các loại hình dịch vụ khác

Trang 40

như du lịch sinh thái, du lịch xanh, nên hoạt động của các trang trại khá đơn điệu, hiệu quả khai thác chưa cao

Bên cạnh đó, cơ chế chính sách cho phát triển kinh tế trang trại ở Quảng Bình chưa thực sự phát huy hiệu quả và chưa đồng bộ Các chủ trang trại vẫn còn thiếu sự hỗ trợ về vốn, khoa học công nghệ, thiếu các mối liên hệ theo chiều ngang

và quản lý theo chiều dọc

Như vậy, trong thời kỳ manh nha hình thành và phát triển này, kinh tế trang trại ở Quảng Bình gặp rất nhiều khó khăn, khó khăn lớn nhất đó là về nguồn vốn và thị trường đầu ra Ở thời điểm những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 theo ước tính có khoảng 280 trang trại lớn nhỏ ở Quảng Bình

Ngày đăng: 07/05/2021, 18:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w