LÂM QUỐC LINH ĐẢNG BỘ TỈNH NINH THUẬN LÃNH ĐẠO QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHĂM GIAI ĐOẠN 1992 – 2010 CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM MÃ
Trang 1LÂM QUỐC LINH
ĐẢNG BỘ TỈNH NINH THUẬN LÃNH ĐẠO QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHĂM
GIAI ĐOẠN 1992 – 2010
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60 - 22 - 56
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS VÕ THỊ HOA
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, do TS Võ Thị Hoa trực tiếp hướng dẫn Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực, nếu
có gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả luận văn
Lâm Quốc Linh
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 8
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
4 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài 11
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài 11
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 12
7 Kết cấu của luận văn 12
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI CHĂM Ở NINH THUẬN VÀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC ĐỐI VỚI NGƯỜI CHĂM CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH NINH THUẬN TRƯỚC NĂM 1992 14
1.1 Khái quát về tỉnh Ninh Thuận 14
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển tỉnh Ninh Thuận 14
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 16
1.1.3 Dân số, đặc điểm dân cư, dân tộc 19
1.2 Khái quát về đời sống của người Chăm ở Ninh Thuận 21
1.2.1 Hoạt động kinh tế 22
1.2.2 Hoạt động văn hóa - xã hội 25
Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH NINH THUẬN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC ĐỐI VỚI NGƯỜI CHĂM GIAI ĐOẠN 1992 - 2010 41
Trang 42.1 Cơ sở lý luận về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt
Nam 41
2.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc 41
2.1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc 46
2.1.3 Quan điểm và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới 49
2.2 Quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc đối với người Chăm của Đảng bộ Ninh Thuận (1992 - 2010) 54
2.2.1 Lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc đối với người Chăm (1992 - 2000) 54
2.2.2 Lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc đối với người Chăm (2000 - 2010) 74
Chương 3: ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH NINH THUẬN ĐỐI VỚI NGƯỜI CHĂM GIAI ĐOẠN 1992 - 2010 108
3.1 Những thành công và hạn chế 108
3.2 Kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng đối với người Chăm 118
3.3 Một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách dân tộc của Đảng đối với đồng bào Chăm ở Ninh Thuận 124
KẾT LUẬN 135
TÀI LIỆU THAM KHẢO 139
PHỤ LỤC 148
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BBSSCC: Ban biên soạn sách chữ Chăm
BBTTW: Ban Bí thư Trung ương
BCHTW: Ban Chấp hành Trung ương
BCHTWĐCSVN: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam CNXH: Chủ nghĩa xã hội
UBMTTQVN: Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam
UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 6Từ khi chiến tranh lạnh kết thúc, xu thế hòa bình, hợp tác cùng phát triển
là xu thế chung, chủ đạo trong quan hệ giữa các quốc gia với nhau Mặc dù vậy, các cuộc chiến tranh cục bộ, nhất là tình trạng xung đột giữa các dân tộc, các tôn giáo vẫn thường xuyên diễn ra và ngày càng có tính chất phức tạp, trở thành vấn đề “nóng” ở nhiều quốc gia, điều này không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh của quốc gia đó mà còn tác động đến hòa bình, an ninh của khu vực và thế giới
Hiện nay trên lãnh thổ Việt Nam có 54 dân tộc cùng sinh sống, mỗi dân tộc có trình độ phát triển khác nhau, có những đặc trưng kinh tế - văn hóa riêng, nên Việt Nam luôn phải đối đầu trước những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực chống đối trong và ngoài nước nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam, gây nên bất ổn về chính trị, về trật tự an toàn xã hội Các thế lực chống đối luôn lợi dụng những vấn đề của lịch sử, sự khác biệt giữa các dân tộc, những thiếu sót trong quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng… để kích động, tổ chức các hoạt động chống phá Do đó, vấn đề đoàn kết toàn dân tộc để giữ vững chính trị - an ninh, tập hợp được sức mạnh
Trang 7của toàn thể dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là vấn đề có vai trò hết sức quan trọng Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, Đảng Cộng sản Việt Nam trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn tình hình các dân tộc của đất nước, đã không ngừng bổ sung, hoàn thiện chủ trương, chính sách dân tộc cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng; thực hiện đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp làm nên những thắng lợi quan trọng trong cách mạng Việt Nam hơn 80 năm qua
Theo nhiều sử liệu còn lưu lại thì trước đây dân tộc Chăm cư trú trên dải đất thuộc miền Trung Việt Nam, được gọi là vương quốc Champa Nhưng cũng như nhiều quốc gia khác vào thời cổ - trung đại, Champa đã trải qua nhiều biến cố và vì những biến cố đó mà người dân Champa phải lưu tán ở nhiều nơi Trong quá trình đan xen định cư với các dân tộc khác, sự tác động của những yếu tố: môi trường, kinh tế, xã hội cũng như cùng với xu hướng phát triển ngày một đi lên của xã hội loài người nói chung mà người Chăm đã tiếp thu, sáng tạo nhiều yếu tố văn hóa mới Điều đặc biệt là trong dân tộc Chăm ngày nay đã hình thành nên ba nhóm riêng biệt mà người ta quen gọi mỗi nhóm theo tên gọi của tôn giáo: nhóm Chăm Bàlamôn, nhóm Chăm Bàni, nhóm Chăm Islam và mỗi nhóm đều thể hiện bản sắc văn hóa riêng, làm cho nền văn hóa Champa càng thêm phong phú
Trong những năm qua, nhờ sự nỗ lực vượt bậc của bản thân, nhờ sự đầu
tư và hỗ trợ to lớn theo các chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước như Nghị quyết số 22 - NQ/TW của Bộ Chính trị tháng 11 - 1989, Quyết định
số 72 - QĐ/HĐBT của Hội đồng Bộ Trưởng tháng 3 - 1990 về phát triển kinh
tế - xã hội miền núi; đặc biệt là Chỉ thị số 121 - CT/TW tháng 10 - 1981 và Thông tri 03 - TT/TW tháng 10 - 1991 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác đối với đồng bào Chăm, Chỉ thị số 06 - CT - TTg tháng 2 - 2004 của
Trang 8Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh - trật tự đối với vùng đồng bào Chăm trong tình hình mới, đồng bào đã đạt được những thành tựu đáng kể: Kinh tế không ngừng phát triển, đời sống được cải thiện rõ rệt, đời sống văn hóa có nhiều khởi sắc, giáo dục và đào tạo có tiến bộ; chính trị, xã hội từng bước được ổn định, đoàn kết dân tộc ngày càng được củng cố
Tuy vậy, tốc độ phát triển kinh tế - xã hội còn chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu phát triển của đồng bào Chăm; hệ thống chính trị cơ sở ở một số nơi còn yếu, lực lượng đảng viên, cán bộ cốt cán người Chăm còn mỏng; một số lãnh đạo đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp chưa nhận thức rõ tính đặc thù của đồng bào Chăm, lại không thường xuyên chỉ đạo thực hiện các chủ trương, chính sách và tuyên truyền vận động quần chúng để tránh sự lợi dụng kích động, chia rẽ của các thế lực thù địch, nên còn tiềm ẩn một số nhân tố bất lợi cho khối đại đoàn kết dân tộc mà địch có thể lợi dụng
Những hạn chế và bất cập nói trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự bất cập về nhận thức tính đặc thù tộc người của cán bộ các cấp trong công tác chỉ đạo thực hiện các chủ trương, chính sách cũng như vận động, tuyên truyền quần chúng Chính sự bất cập này đã tạo khoảng cách giữa mục tiêu và thành quả phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt là xây dựng hệ thống chính trị cơ sở và phát triển lực lượng đảng viên và cán bộ người Chăm, hạn chế sự nhích gần
và gắn bó của người Chăm với cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam
Xuất phát từ lý do trên, để làm rõ chính sách của Đảng đối với dân tộc Chăm tỉnh Ninh Thuận, đồng thời góp phần tìm hiểu một khía cạnh chính sách của Đảng về một dân tộc trong tổng thể chính sách của Đảng về các dân tộc ở Việt Nam, tôi đã chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận lãnh đạo quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng đối với người Chăm giai đoạn
Trang 91992 - 2010” làm đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Với một bề dày về lịch sử, văn hóa của dân tộc Chăm là một trong những
di sản văn hóa đồ sộ, phong phú trong kho tàng văn hóa của 54 dân tộc Việt Nam, là một mảng màu làm nên sự đa dạng, sinh động trên bức tranh toàn cảnh của bản sắc văn hóa Việt Nam Với nhiều lớp văn hóa tích tụ, bồi đắp trong quá trình lịch sử lâu dài, văn hóa Chăm cho đến nay vẫn luôn là đối tượng hấp dẫn của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
Tác phẩm Những vấn đề dân tộc học miền Nam Việt Nam (1978) do Viện khoa học xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản, là sự tiếp xúc đầu tiên của các nhà khoa học xã hội Việt Nam với văn hoá Chăm Đây là công trình khảo sát dân tộc học có giá trị với sức mạnh tổng hợp của nhiều chuyên ngành khác nhau mà khi nghiên cứu về văn hóa Chăm không thể bỏ qua Công trình Người Chăm ở Thuận Hải (1989) của Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp, đã nêu lên những vấn đề cơ bản về kinh tế nông nghiệp, ngành nghề thủ công, dân số, tổ chức xã hội truyền thống, hôn nhân gia đình, tín ngưỡng tôn giáo và quá trình hòa nhập của người Chăm trên con đường xây dựng xã hội XHCN Đây là công trình khảo sát có tính chất tổng hợp về đời sống vật chất lẫn tinh thần của người Chăm Hai năm sau đó, công trình Văn hoá Chăm (1991) của Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp, nghiên cứu toàn diện hơn về hoạt động sản xuất và sinh hoạt văn hoá của người Chăm ở Việt Nam
Riêng lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến như Phan Quốc Anh (2006) Nghi lễ vòng đời người của người Chăm Ahiêr ở Ninh Thuận Hoàng Minh Đô (Chủ biên), (2006) Tín ngưỡng, tôn giáo trong cộng đồng người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận chứa đựng
Trang 10nhiều tư liệu về chính sách của Đảng - Nhà nước và số liệu báo cáo về tín ngưỡng, tôn giáo của người Chăm Qua đó, đưa ra các kiến nghị về chính sách tôn giáo đối với người Chăm Nguyễn Hồng Dương (Chủ biên), (2007) Một số vấn đề cơ bản về tôn giáo, tín ngưỡng của đồng bào Chăm ở hai tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận hiện nay Đồng tác giả Ngô Thị Chính - Tạ Long (2007) Ảnh hưởng của các yếu tố tộc người tới phát triển kinh tế - xã hội của dân tộc Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận
Inrasara (1999) Các vấn đề văn hoá xã hội Chăm, Văn hoá Chăm nghiên cứu và đối thoại (2003) Sakaya (2003) Lễ hội người Chăm Phú Văn Hẳn (Chủ biên), (2005) Đời sống văn hoá và xã hội người Chăm Thành phố Hồ Chí Minh, đã giới thiệu khái quát về những hoạt động đời sống và sinh hoạt tôn giáo cũng như những tồn tại, khó khăn của người Chăm ở Thành phố Hồ Chí Minh đang đối mặt
Đổng Văn Dinh đã bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ tại Hà Nội với đề tài Ảnh hưởng của tín ngưỡng, tôn giáo đối với đời sống tinh thần người Chăm Ninh Thuận hiện nay - thực trạng và giải pháp (2005) Công trình này
đã nêu lên thực trạng và sự ảnh hưởng của tín ngưỡng, tôn giáo đối với đời sống vật chất và tinh thần của người Chăm ở Ninh Thuận - nhất là đời sống tinh thần của đồng bào hiện nay và đề ra các giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực
Hoàng Chí Bảo (chủ biên), (2009) Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay Nội dung của cuốn sách nêu rõ những nhận thức lý luận mới về dân tộc, quan
hệ dân tộc và chính sách dân tộc, đánh giá thực trạng tình hình kinh tế - xã hội
và các quan hệ dân tộc, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm giải quyết các vấn
đề dân tộc, các quan hệ dân tộc, tạo sự công bằng bình đẳng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi nước ta hiện nay
Trang 11Riêng về tài liệu văn kiện của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện chính sách dân tộc, chúng tôi chủ yếu tham khảo các tài liệu như Văn kiện Đảng, các Chỉ thị, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, của Chính phủ, của Đảng bộ tỉnh… về chính sách dân tộc đối với dân tộc Chăm; các báo cáo của
Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban Dân vận, Ban Dân tộc tỉnh Ninh Thuận về thực hiện chính sách dân tộc đối với dân tộc Chăm Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tham khảo trực tiếp Chỉ thị 121 - CT/TW ngày 26 - 10 - 1981 của Ban Bí thư Trung ương về công tác đối với đồng bào Chăm, Thông tri 03 - TT/TW ngày 17 - 10 - 1991 về công tác đối với đồng bào Chăm và Chỉ thị 06/2004/CT - TTg ngày 18 - 2 - 2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh - trật tự đối với đồng bào Chăm trong tình hình mới Đặc biệt, chúng tôi đã tham khảo trực tiếp toàn văn kế hoạch số 2887/KH - UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận theo Chỉ thị 06/2004/CT - TTg ngày 18 - 2 - 2004 của Thủ tướng Chính phủ và báo cáo sơ kết việc thực hiện kế hoạch này, để làm rõ vai trò của Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận đã vận dụng các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng đối với đồng bào Chăm để xây dựng nên Nghị quyết riêng chỉ đạo công tác dân tộc đối với đồng bào Chăm trong tỉnh
Ngoài những công trình nói trên, luận văn còn sử dụng tư liệu điền dã thu thập được trong quá trình nghiên cứu tại tỉnh Ninh Thuận Tác giả đã phỏng vấn với những người làm công tác quản lý dân tộc ở địa phương, các chức sắc và một số người dân ở địa phương Nhìn chung, tổng quan về tình hình nghiên cứu dân tộc Chăm ở tỉnh Ninh Thuận trên các lĩnh vực văn hoá,
xã hội, kinh tế, tôn giáo tín ngưỡng… đã được đề cập khá nhiều Nhưng dưới khía cạnh Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận lãnh đạo quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng đối với người Chăm giai đoạn 1992 - 2010 thì chưa có một công trình chuyên khảo nào dưới góc độ chuyên ngành lịch sử Đảng
Trang 123 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận về thực hiện chính sách dân tộc của Đảng đối với đồng bào Chăm Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn được nghiên cứu trong phạm vi ở tỉnh Ninh Thuận - nơi dân tộc Chăm sinh sống đông nhất, và đề tài được nghiên cứu giới hạn trong thời gian từ năm 1992 đến năm 2010
4 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của luận văn là làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ thể hiện ở sự vận dụng chính sách dân tộc của Đảng đối với đồng bào Chăm ở Ninh Thuận, khẳng định sự đóng góp của đồng bào Chăm đối với sự nghiệp xây dựng đất nước Từ đó rút ra một số kinh nghiệm để lãnh đạo tốt chính sách dân tộc của Đảng đối với đồng bào tại địa phương
Để thực hiện mục đích đó, nhiệm vụ của luận văn là:
- Tìm hiểu đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào Chăm Ninh Thuận
- Phân tích, đánh giá kết quả thực hiện quá trình lãnh đạo của Đảng bộ Ninh Thuận đối với đồng bào Chăm giai đoạn 1992 - 2010
- Đồng thời, đưa ra những giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với đồng bào Chăm ở Ninh Thuận
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Cơ sở lý luận của luận văn là những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng về vấn đề dân tộc
và chính sách dân tộc
Trang 13Phương pháp nghiên cứu của luận văn là: phương pháp lịch sử, phương pháp logíc kết hợp với phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Đối với những quốc gia đa dân tộc như Việt Nam, nghiên cứu về chính sách dân tộc của Đảng đối với dân tộc không những phản ánh đặc điểm nơi cư trú, điều kiện sinh hoạt, sự giao tiếp văn hóa… mà còn nói lên trình độ phát triển kinh tế, xã hội của từng dân tộc Do vậy về chính sách của Đảng đối với các dân tộc là một trong những chương trình lớn mà Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Vì đó là cơ sở nhằm xây dựng ngày càng vững chắc khối đoàn kết dân tộc và tạo điều kiện giúp đỡ các bộ phận dân tộc thiểu số phát triển tương đồng với dân tộc đa số trên mọi lĩnh vực
Đồng thời, qua việc nghiên cứu, luận văn làm rõ sự quan tâm của Đảng
và Nhà nước ta đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Chăm nói riêng, đập tan luận điệu xuyên tạc của kẻ thù, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Qua việc nghiên cứu sẽ góp phần tạo nguồn tư liệu có hệ thống vào việc nghiên cứu về chính sách của Đảng đối với các dân tộc ở địa phương Đề tài cũng có thể cung cấp cho chính quyền địa phương làm tài liệu tham khảo để
đề ra những chính sách đúng đắn nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đồng bào Chăm cùng các dân tộc khác trong cộng đồng dân tộc Việt Nam vươn lên giành thắng lợi mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo
Đề tài được chia thành 3 chương
Trang 14Chương 1: Khái quát về người Chăm ở Ninh Thuận và quá trình thực hiện chính sách dân tộc đối với người Chăm của Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận trước năm 1992
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc đối với người Chăm giai đoạn 1992 - 2010
Chương 3: Đánh giá chung về quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận đối với người Chăm giai đoạn 1992 -
2010
Trang 15Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI CHĂM Ở NINH THUẬN VÀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC ĐỐI VỚI NGƯỜI CHĂM CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH NINH THUẬN
TRƯỚC NĂM 1992
1.1 Khái quát về tỉnh Ninh Thuận
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển tỉnh Ninh Thuận
Ninh Thuận là một tỉnh của vùng cực Nam Trung Bộ đã nhiều lần thay đổi địa giới hành chính Trong vương quốc Champa xưa, Ninh Thuận và Bình Thuận (Thuận Thành) thuộc châu Panduranga, nằm ở cực Nam Trung Bộ và
là một trong bốn châu (có giai đoạn là ba châu) của Champa bao gồm: Amaravati ở phía Bắc từ vùng Bình Trị Thiên đến Quảng Nam; Vijaya từ Quãng Ngãi đến Bình Định; Kauthara từ Phú Yên đến Khánh Hòa và Panduranga từ Ninh Thuận đến Bắc Bình Thuận
Năm 1693, Ninh Thuận là một phủ của Bình Thuận gồm hai huyện của Yên Phước và Tuy Phong, ranh giới từ Vĩnh Xương (Khánh Hòa) đến Hòa Đa (Bình Thuận) Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) Ninh Thuận vẫn là một phủ thuộc Bình Thuận nhưng chỉ có hai huyện là Tuy Phước và An Phước Năm Đồng Khánh thứ 3 (1888) Ninh Thuận thuộc tỉnh Khánh Hòa Năm Thành Thái thứ 13 (1901), Phủ Ninh Thuận đổi thành đạo Ninh Thuận Đạo Ninh Thuận bấy giờ gồm ba huyện là An Phước, huyện Thổ và huyện Hán
Năm Duy Tân thứ 7 (1913), đạo Ninh Thuận đổi làm tỉnh Ninh Thuận, qua năm 1915 lại cải thành phủ Ninh Thuận thuộc vào tỉnh Khánh Hòa, gồm
có huyện An Phước và 5 tổng là Phú Quý, Kinh Dinh, Mỹ Tường, Vạn Phước
và Đắc Nhơn Đến năm Khải Định thứ 7 (1922) một lần nữa phần đất Ninh
Trang 16Thuận lại được tách khỏi tỉnh khánh Hòa để lập thành đạo Ninh Thuận Đến năm Bảo Đại thứ 7 (1942), đạo Ninh Thuận được cải thành tỉnh Ninh Thuận Sau cuộc đảo chánh Nhật ngày 9 - 3 - 1945, Chính phủ Trần Trọng Kim cải tổ nền hành chính, Ninh Thuận vẫn giữ làm một tỉnh, đứng đầu là một viên Tuần vũ, đóng trụ sở tại tòa sứ cũ, ở Phan Rang
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tỉnh Ninh Thuận được chia thành
ba huyện: Ninh Hải hạ, Ninh Hải thượng và Ninh Sơn Năm 1958, tỉnh Ninh Thuận gồm có 3 quận (24 xã): Thanh Hải (quận lị Khánh Hải), An Phước (quận lị Hậu Phước), Bửu Sơn (quận lị An Sơn) Ngày 6 - 4 - 1960, thành lập quận Du Long, do tách một phần đất quận Bửu Sơn và một phần đất của quận Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa Trước ngày 16 - 4 - 1975, tỉnh Ninh Thuận gồm
có 5 quận: Thanh Hải, An Phước, Bửu Sơn, Du Long và Sông Pha
Sau ngày 30 - 4 - 1975, Ninh thuận được sát nhập với Bình Thuận, Tuyên Đức, Lâm Đồng thành tỉnh Thuận Lâm
Đầu tháng 2 năm 1976, thực hiện chủ trương giải thể khu, hợp nhất tỉnh
ở miền Nam Việt Nam, ba tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Bình Tuy hợp nhất thành tỉnh Thuận Hải Trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận có một thị xã (Phan Rang) và 3 huyện (Ninh Sơn, Ninh Hải, An phước) Từ 1977 đến 1981, địa bàn tỉnh Ninh Thuận từ một thị xã và 3 huyện hợp nhất thành 2 huyện là huyện An Sơn với thị trấn huyện lỵ Tháp Chàm và huyện Ninh Hải (mới) với thị trấn huyện lỵ Phan Rang Từ năm 1981 lại quay lại các đơn vị hành chính
cũ là 1 thị xã và 3 huyện
Ngày 26 - 12 - 1991, theo Nghị quyết của Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 10, tỉnh Thuận Hải được chia tách thành 2 tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận Ngày 1 - 4 - 1992, tỉnh Ninh Thuận chính thức đi vào hoạt động Khi
đó, tỉnh Ninh Thuận gồm có 1 thị xã (Phan Rang) và 3 huyện (Ninh Sơn, Ninh Hải, Ninh Phước) Hiện nay, Ninh Thuận có 1 thành phố (Thành phố
Trang 17Phan Rang - Tháp Chàm) và 6 huyện (Ninh Phước, Ninh Sơn, Ninh Hải, Bác
Ái, Thuận Bắc, Thuận Nam)
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
110 km, thuận tiện cho việc giao lưu phát triển kinh tế - xã hội
Ninh Thuận được bao bọc bởi ba mặt núi và một mặt biển Phía Tây là vùng núi cao giáp Đà Lạt, Phía Bắc và phía Nam có hai dãy núi chạy ra biển Giữa tỉnh và ven biển là vùng đồng bằng khô cằn nên được mệnh danh là miền Viễn Tây của Việt Nam Ninh Thuận là một tỉnh đa dạng địa hình: miền núi, đồng bằng, ven biển Vùng núi cao chiếm 63,2% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, vùng gò đồi chiếm 15,4% và đồng bằng là 22,4%
Đồng bằng
Do đặc điểm của địa hình kiến tạo, vùng đồng bằng Ninh Thuận là một cái trũng nằm sát hệ thống chân núi Lâm Viên - Lâm Đồng trải dài đến tận biển Đồng bằng ở đây được phù sa bồi đắp, một phần là nước mưa xâm thực mạnh vào các sườn núi tạo nên các “phay” và những dòng sông lớn mang theo phù sa lắp dần vùng vịnh Phần khác do vùng này là một lòng chảo, có
Trang 18núi bao bọc cho nên mặt nước ở đồng bằng này yên lặng, phù sa dễ dàng lắng đọng không bị cuốn trôi ra biển cả Qua thời gian lâu dài phù sa đọng lại thành nhiều lớp lấp đầy vùng vịnh tạo nên đồng bằng ngày nay
Tuy nhiên, vì khí hậu nơi đây đặc biệt khô nóng, ít mưa, nên xưa kia việc khai khẩn trồng trọt trên đồng bằng này gặp rất nhiều trở ngại, nhất là thiếu nước Mỗi năm chỉ vào mùa mưa, nông dân mới có thể cày bừa được và chỉ thu hoạch một mùa Diện tích đất nơi đây nhiều nơi còn bị bỏ hoang vì thời tiết nắng nóng, khô cạn
Tuy nhiên, người dân nơi đây không đầu hàng bởi sự tàn phá của thiên nhiên trên bước đường sinh tồn và phát triển Trước đây người Chiêm Thành
đã biết xây đắp các công trình thủy lợi, ngăn nước sông, nước suối cho chảy vào các mương rạch xuyên qua các cánh đồng, tăng gia diện tích canh tác và một số ruộng cấy được hai mùa Nhờ vậy diện tích canh tác được gia tăng, sản xuất được nhiều lương thực nuôi nấng dân làng, hình thành nên làng xóm,
cư dân trù phú và đồng bằng màu mỡ như ngày nay
Ma Ty, suối Tía, suối Than, suối Trại Thịt, suối Yahac, suối Dầu, suối Me… Trong đó chỉ có con sông lớn nhất là sông Dinh, dài khoảng 100 cây số bắt nguồn từ các dãy núi cao ở Tây Bắc với nguồn chính là sông Tô Hạp (Khánh
Trang 19Hòa) rồi chảy qua nhiều khe núi và cuối cùng tạo thành nhiều cửa sông đổ ra biển Đông
Đặc điểm của sông ở đây là ngắn, dốc có nhiều khe đá Do vậy sông ngày thường thì nước cạn không sâu lắm, đến mùa mưa thì nước đổ xuống từ các núi đá chảy xiết, đổ vào lòng chảo, gây nên nhiều cơn lũ lụt Do đặc điểm của sông như vậy, nên hầu hết các sông, suối ở Ninh Thuận rất cạn, không thể dùng làm phương tiện thủy vận được, chỉ dùng vào nông nghiệp mà thôi
Bờ biển
Ninh Thuận là một tỉnh miền Duyên hải Bờ biển Ninh Thuận bắt nguồn
từ mũi Cà Tiên giáp giới Cam Ranh ở phía Bắc xuống đến thôn Lạc Nghiệp, giáp Bình Thuận về phía Nam Bờ biển Ninh Thuận dài 105km, vùng lãnh hải 18.000km2, có các cửa biển chính như Vĩnh Hy, Khánh Hải, Đông Hải và Cà
Ná
Nhìn lên bản đồ Ninh thuận, chúng ta thấy bờ biển theo chiều những đường thẳng gãy, mỗi chỗ gãy như vậy được đánh dấu bằng một mũi đá nhô đầu ra biển Nhiều đoạn bờ biển nằm sát ngay núi, có những ngọn núi cao tới hơn 1.000m và hình thành nên những con suối nước ngọt chảy từ trên núi xuống, từ trong núi ra tạo nên những mạch nước ngọt ngầm ngay bờ biển
Bờ biển Ninh Thuận cao và dốc, có những bãi cát đẹp mịn màng như bãi Ninh Chữ Nhưng cũng có bãi đá lô nhô nằm sát chân núi như biển Cà Ná… Bãi biển lại nằm gần với các cửa sông cho nên rất thuận lợi cho việc tìm nước ngọt, đào giếng nước ngọt trong chuyến viễn hành của ngư dân biển Ngoài những bãi biển đẹp và các cửa sông nước ngọt, biển Ninh Thuận còn có những hòn đảo xếp thẳng hàng, làm bình phong cho bờ phía trong Đó là đảo Hòn Trứng, Hòn Chụt, Hòn Tý, Hòn Sam, Hòn Đỏ… (Mỹ Tân - Ninh Thuận), đảo Hòn Khỉ (Cà Ná - Ninh Thuận)… Tuy vậy đây chỉ là những hòn đảo nhỏ nằm trên diện tích biển rộng, nên mặt biển ở đây trống trải, cộng với
Trang 20vách núi bao quanh đã chắn gió làm cho bờ biển Ninh Thuận không có gió bão như ở nơi khác, ghe thuyền qua đây ít khi bị tai nạn
Khí hậu
Khí hậu ở Ninh Thuận chịu ảnh hưởng của vùng nhiệt đới gió mùa Ở đây có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 8 năm sau Nhưng do địa thế khá đặc biệt nên dù mùa mưa kéo dài, Ninh Thuận vẫn là tỉnh khô hạn Những dãy núi cao bao quanh đã trở thành những bức bình phong chắn những luồng gió mùa Đông - Bắc và Tây - Nam mang mây và mưa tới Ninh Thuận Vì vậy, vùng trời Ninh Thuận luôn trong xanh, nắng chói chang và có lượng mưa thấp nhất cả nước Lượng mưa trung bình hàng năm 700 - 800 mm, độ ẩm không khí từ 75 - 77%, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26 - 270c
Với những đặc điểm địa lý, khí hậu như vậy đã làm cho Ninh Thuận trở thành một vùng khí hậu đặc thù, khác biệt với các vùng khác ở Việt Nam, ít nhiều góp phần làm cho Ninh thuận có những nét khá riêng về kinh tế, chính trị và văn hóa
1.1.3 Dân số, đặc điểm dân cư, dân tộc
Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Ninh Thuận năm 2009, dân số tỉnh Ninh Thuận có 565.677 người cư trú ở 6 huyện, 1 thành phố với 47 xã, 15 phường, 3 thị trấn, 265 thôn Trong đó tập trung đông nhất ở Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm (162.547 người) và thấp nhất ở huyên Bác Ái (24.350 người) Mật độ dân số là 168 người/km2
Ngoài người Việt với dân số 393.000 người chiếm 78,3%, hiện nay có
26 dân tộc ít người với tổng số 19.034 hộ với 111.850 người Trong đó, dân tộc Chăm 61.359 người, chiếm 11,3% dân số toàn tỉnh, dân tộc Raglai có 47.596 người chiếm 9,4% Còn lại 24 dân tộc thiểu số khác với số lượng không nhiều (3.119 người)
Trang 21Ninh Thuận cũng là tỉnh hội đủ các tôn giáo lớn trên thế giới mà ít có địa phương nào ở Việt Nam có được là Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Phật giáo, Hồi giáo, Bàlamôn giáo Trong đó, Bàlàmôn giáo trong người Chăm chiếm tỷ
lệ gần 60% số người Chăm và là tôn giáo cổ xưa nhất, du nhập sớm nhất vào Đông Dương
Người Việt (Kinh) ở Ninh Thuận sống bằng hai nghề chính là ngư nghiệp và nông nghiệp Các làng người Việt làm nghề đánh cá biển trải dọc suốt 105km bờ biển từ thôn Bình Tiên, xã Công Hải (nam vịnh Cam Ranh) đến vịnh Cà Ná Đây là cộng đồng ngư dân có nguồn gốc từ Nam - Ngãi - Bình - Phú Họ vẫn giữ được những nét văn hóa dân gian của cư dân ven biển Trung Bộ như tục thờ cá Ông, hò và múa bả trạo Các làng người Việt làm nông nghiệp đa phần ở đồng bằng, trồng lúa nước, nho, hành, tỏi và những năm gần đây có thêm nghề chăn nuôi bò, dê, cừu, nuôi tôm giống, sản xuất muối v.v
Người Chăm ở đồng bằng, từ lâu đời sinh sống bằng nông nghiệp, nghề chính là trồng lúa nước, một số vùng trồng nho, chăn nuôi bò, dê và cừu Kinh tế của vùng nông thôn người Việt cũng như người Chăm cũng còn nhiều khó khăn, phụ thuộc vào thời tiết, nguyên nhân chính là không chủ động nước
do hệ thống thủy lợi chưa hoàn thiện Ngày nay, người Chăm ở Ninh Thuận không chỉ còn trồng lúa mà đã phát triển cơ cấu công nông nghiệp, trồng nho, cây công nghiệp và phát triển chăn nuôi Nuôi cừu, bò và dê là một trong những thế mạnh của nông dân Ninh Thuận nói chung và của người Chăm nói riêng Ở Ninh Thuận còn lưu giữ được hai làng nghề nổi tiếng là làng gốm Chăm cổ truyền ở Palei Hamu Chrawk (Bầu Trúc) và làng nghề dệt thổ cẩm ở Palei Chaklaing (Mỹ Nghiệp) Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng Đảng và Chính quyền địa phương cùng với bà con Chăm đã tìm mọi cách để duy trì,
Trang 22bảo tồn và phát triển hai làng nghề độc đáo của người Chăm, bởi vì đây không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà cả về văn hóa
Kinh tế - văn hóa - xã hội của vùng đồng bào Chăm từ sau khi đất nước đổi mới (1986), nhất là những năm gần đây có sự phát triển rõ rệt Hạ tầng cơ
sở được xây dựng, 100% các palei (làng) Chăm đã có điện, nước sạch nông thôn, hệ thống thủy lợi, đường giao thông đã hoàn chỉnh, toàn bộ các palei đã được phủ sóng phát thanh truyền hình, 100% các xã vùng đồng bào Chăm đều
có trường học, trạm y tế Ở các palei Chăm hôm nay, hầu hết các nhà xây kiên
cố, có nhiều nhà tầng Đội ngũ trí thức người Chăm ngày càng đông đảo Nhưng, để hòa nhập vào dòng chảy của sự phát triển trong văn hóa Chăm cũng đang diễn ra quá trình giao thoa mạnh, những yếu tố văn hóa truyền thống đang mất đi, thay vào đó là những yếu tố văn hóa của thời đại
Người Raglai sinh sống ở miền núi, trồng lúa rẫy, bắp, đậu và chăn nuôi
bò, dê Trước đây, người Raglai sống du canh du cư trên các dẻo núi cao, những năm gần đây đã định canh định cư và đang diễn ra quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hóa
1.2 Khái quát về đời sống của người Chăm ở Ninh Thuận
Ninh Thuận là địa bàn cư trú xưa nhất và hiện nay tập trung người Chăm đông nhất ở Việt Nam Theo thống kê của Ban Dân tộc tỉnh Ninh Thuận năm
2010, người Chăm ở Ninh Thuận có số dân là 67.274 người (chiếm 41, 6% tổng số người Chăm tại Việt Nam), họ sống tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng, xen kẽ với các dân tộc anh em ở 22 làng (29 thôn) thuộc 13 xã của 6 huyện, 1 Thành phố (Ninh Phước, Ninh Hải, Ninh Sơn, Bác Ái, Thuận Bắc, Thuận Nam và Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm); trong đó tập trung đông nhất là ở huyện Ninh Phước với dân số khoảng 51.527 người
Trang 231.2.1 Hoạt động kinh tế
Những hoạt động kinh tế của đồng bào Chăm khá phong phú, đa dạng và phát triển Có thể thấy rõ hai hoạt động sản xuất chính của đồng bào Chăm là nông nghiệp và thủ công nghiệp
Về nông nghiệp
Người Chăm là một cư dân có truyền thống nông nghiệp Trong nền kinh
tế truyền thống, người Chăm có một nền nông nghiệp phát triển khá sớm Từ lâu đời họ đã biết đắp đặp khai mương để trồng lúa nước mà đến nay vẫn còn các dấu vết các công trình thủy lợi trên dải đất miền Trung như: đập Do Linh (Quảng Trị), đập Nha Trinh và đập Marên (Ninh Thuận) Họ còn có kỹ thuật canh tác ruộng nước khá cao Tùy theo loại ruộng như ruộng gò (hamu tanu), ruộng cát (hamu cwah), ruộng sâu (hamu dhong) mà họ có kỹ thuật canh tác
và sử dụng các loại giống lúa khác nhau Bên cạnh làm ruộng người Chăm còn là những người làm vườn giỏi, họ trồng nhiều hoa màu và cây ăn trái Trước kia người Chăm còn làm nghề đi biển, họ là những thủy thủ can trường, là những người buôn bán giỏi Nói chung, kinh tế truyền thống của người Chăm bao gồm cả nghề nông, nghề đi biển và khai thác rừng Ba hình thái kinh tế đó đã góp phần làm cho đời sống kinh tế Chăm phát triển phồn thịnh và hiện nay còn in dấu ấn đậm nét trong lễ hội Chăm Tuy nhiên ngày nay, một số ngành kinh tế truyền thống đã bị mất đi, hiện nay người Chăm không làm nghề biển Tuy một số làng Chăm ở Ninh Thuận như Bỉnh Nghĩa, Tuấn Tú vẫn còn sống gần biển nhưng họ không làm nghề biển mà quay lưng với biển Đa số người Chăm ở Ninh Thuận (khoảng hơn 90%) sống bằng nghề nông, và một ít làm nghề chăn nuôi và khai thác rừng Đến nay họ vẫn còn phát huy truyền thống làm lúa nước và chăn nuôi gia súc, gia cầm Hoạt động nông nghiệp vẫn là nền kinh tế chủ đạo trong đời sống kinh tế của người Chăm Ninh Thuận hiện nay
Trang 24Về thủ công nghiệp
Người Chăm là một dân tộc ít người ở Việt Nam đã có nghề thủ công như làm gốm, dệt vải, đóng thuyền, đóng xe trâu, xe bò, chạm vàng sớm nổi tiếng Sản phẩm của các nghề thủ công ấy trước đây từng được trao đổi, buôn bán không chỉ trong phạm vi vương quốc Champa cổ mà còn với nhiều nơi khác trong vùng Tìm hiểu về nghề thủ công cổ truyền của đồng bào Chăm vừa có thể góp phần soi sáng những đặc điểm văn hóa truyền thống vừa có thể rút ra được những kinh nghiệm phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở vùng Chăm hiện nay
Tuy nhiên, ngày nay các nghề thủ công trên bị thất truyền Hiện nay, người Chăm ở Ninh Thuận chỉ còn lưu giữ lại hai nghề: nghề làm gốm (làng Bầu Trúc) và nghề dệt (làng Mỹ Nghiệp)
Nghề gốm thủ công, Đồ gốm của người Chăm rất phong phú và đa dạng
về chủng loại Nhìn chunng, nếu dựa vào chức năng sử dụng để phân loại thì
có thể xếp đồ gốm Chăm vào hai nhóm: đồ đun nấu hoặc để thực hiện đun nấu như (nồi, trã, lò các loại…) và đồ đựng như (dụ, thạp, khương, lu, chậu…) Nguyên liệu làm gốm có đất sét và cát Chúng được trộn đều theo tỷ
lệ ít, nhiều tùy thuộc vào đồ gốm sẽ được làm nhỏ hay lớn
Nghề gốm Chăm vẫn còn mang tính tự sản, tự tiêu theo phương thức sản xuất - kinh doanh khép kín ở mỗi gia đình người thợ từ khâu tìm kiếm nguyên liệu đến tiêu thụ sản phẩm Họ mang sản phẩm do chính mình làm ra đi bán khắp nơi Gần đây mới xuất hiện hình thức mua bán nguyên liệu và thầu đồ gốm
Ngày nay ở Ninh Thuận còn tồn tại duy nhất một làng gốm Bầu Trúc Gốm ở đây là gốm cổ truyền, làm bằng tay, không có bàn xoay Gốm được trang trí nhiều loại hoa văn như: hoa văn khắc vạch, sóng nước, các hoa văn hình học… Gốm Bầu Trúc được nung lộ thiên với ít nhiên liệu là củi và rơm
Trang 25nhưng lò gốm vẫn cho ra sản phẩm tròn trịa, nhiều sắc màu khác nhau: gốm chín đỏ, chín xám, xanh, đen, vàng… Sản phẩm gốm Bầu Trúc có nhiều loại như: lu, chậu, lò nấu, đồ đựng và các sản phẩm nông nghiệp, đồ dùng để cúng tế Sản phẩm gốm được ưa chuộng trên thị trường và được trao đổi với các cư dân quanh vùng như một số tỉnh miền Trung, miền Nam
và Tây Nguyên nước ta
Hiện nay, người Chăm Bầu Trúc có đến 90% số người dân còn làm gốm
Họ vẫn còn bảo lưu nhiều truyền thống, kỹ thuật cổ xưa chưa có gì biến đổi Nghề gốm đang góp phần quan trọng cho kinh tế của người Chăm Bầu Trúc - Ninh Thuận [81, tr 30]
Nghề dệt thổ cẩm, vào đầu thế kỷ XX, nghề dệt vải của người Chăm vẫn còn phổ biến ở vùng Thuận Hải (Ninh Thuận và Bình Thuận) và hầu hết phụ
nữ Chăm đều biết đến việc kéo sợi, dệt vải Khác với nghề gốm, nghề dệt thủ công cổ truyền này đã và đang tồn tại và tiến triển ở các làng Chăm Bàlamôn
và các làng Chăm Bàni, tập trung tiêu biểu nhất vẫn là ở các làng Chăm Bàlamôn như Mỹ Nghiệp (palei Caklaing), Hữu Đức (palei Hamu Tanran) và Chương Thiện (palei Hamu Ak)
Trước kia, lao động nghề dệt đóng khung trong mỗi gia đình Tùy theo điều kiện và khả năng về nhân lực, tiền vốn và thời gian mà vải dệt có nhiều hoặc ít ở mỗi gia đình Gần đây, bắt đầu xuất hiện sự thuê mướn nhân công dưới một vài hình thức: thuê làm tháng, công nhật hoặc khoán ở một số khâu Ninh Thuận vẫn còn lưu truyền và phát triển nghề dệt ở làng Chăm Mỹ Nghiệp Làng Mỹ nghiệp có hơn 90% hộ gia đình làm nghề dệt Nghề dệt Chăm lắm công phu, phức tạp từ trồng bông, tách bông, quấn sợi, se chỉ… cho đến dệt vải Ngày nay trong kỹ thuật dệt họ đã bỏ qua các khâu trên mà dệt từ sợi chỉ công nghiệp Với kỹ thuật dệt đã đạt đến độ tinh xảo, phụ nữ Chăm Mỹ Nghiệp đã tạo nên nhiều hoa văn và màu sắc đẹp mắt như hoa văn
Trang 26quả trám (bingu tamun), hoa văn cách điệu hình rồng (bingu hăng), chân chim (takay wak)… Với nhiều tấm vải phong phú như váy, áo, khăn đội đầu, khăn quấn; các loại vải trải bàn, trải giường, dây thất lưng, ví đeo… Hiện nay sản phẩm dệt của đồng bào Chăm được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng
Năm 1992, Cơ sở dệt thổ cẩm Chăm Inrahani được thành lập ở làng Chăm Mỹ Nghiệp Cơ sở đã kết hợp với các công ty may mặc ở thành phố Hồ Chí Minh tìm đầu ra cho hàng thổ cẩm Chăm Không dừng lại ở các sản phẩm thô, cơ sở đã chế tác ra nhiều mẫu mã như túi xách, ví, balô.v.v, các loại hợp với thị hiếu khách hàng đủ tầng lớp, mọi lứa tuổi Chính việc làm này, đã đóng vai trò quyết định thúc đẩy thổ cẩm Chăm đi lên
1.2.2 Hoạt động văn hóa - xã hội
Về tín ngưỡng, tôn giáo
Đặc điểm gây ấn tượng nhất trong nền văn hóa cũng như trong đời sống
xã hội của người Chăm là vai trò nổi bật của tín ngưỡng, tôn giáo, với một tầng lớp tu sĩ và một hệ thống lễ nghi đậm nét Tín ngưỡng, tôn giáo đã tác động mạnh mẽ đến nhiều mặt của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, đến tâm
lý, đến hoạt động nghệ thuật - dù là dân gian, và đến quan hệ thẩm mỹ của người Chăm Ở đồng bào Chăm, tín ngưỡng, tôn giáo đã trở thành một đặc trưng tộc người, một yếu tố văn hóa tộc người
Tín ngưỡng của người Chăm rất phong phú, đa dạng, là một bộ phận cấu thành nền văn hóa Chăm, chi phối sâu sắc trong đời sống cộng đồng và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Tín ngưỡng sơ khai, tín ngưỡng liên quan đến thờ cúng Tổ tiên, tín ngưỡng liên quan đến sản xuất nông nghiệp, lễ nghi vòng đời người… Hiện nay trong đời sống người Chăm vẫn còn tồn tại hình thức tô tem giáo thể hiện qua tục thờ các loại cây, thờ dòng núi (atâu cơk) và dòng biển (atâu tasik) của các dòng họ Chăm Tín ngưỡng người Chăm, ngoài
Trang 27lễ nghi liên quan đến chu kỳ vòng đời người như lễ cúng đứa trẻ mới sinh, đám cưới, đám tang, lễ nhập kút… họ còn có các lễ nghi khác như lễ hội múa Rija Nưgar (lễ múa đầu năm), lễ hội Rija Praung (lễ múa lớn), lễ Rija Harei (lễ múa ban ngày) Ngoài lễ nghi trên họ còn cúng tế các lễ nghi nông nghiệp như lễ cúng thần lúa (yang sri), lễ xuống cày (ngak yang trun li-oa), lễ đắp đập khai mương (trun jamưng hatăm) Cùng với các lễ nghi đó người Chăm tôn thờ các vị thần núi, thần sông, thần sấm sét, thần mặt trời, thần đất, thần sóng biển…
Từ sự phong phú và đa dạng về lễ nghi tín ngưỡng, người Chăm hình thành một tầng lớp thầy cúng dân gian Theo số liệu thống kê hiện nay ở Ninh Thuận có tới 22 thầy cúng đuổi tà ma (Ôn tiap bhut), 13 thầy Kadhar (thầy kéo đàn Rabap cúng tế đền tháp và lễ nghi dân gian), 9 thầy Kaing (thầy bóng), 3 bà bóng (Muk Pajâu) và 36 thầy Mưduôn (thầy vỗ trống Basanưng cúng lễ múa Rija) [81, tr 34 - 35] Ngày nay tín ngưỡng Chăm tuy một số không còn phù hợp với cuộc sống nữa nhưng từ lâu nó đã là một bộ phận của đời sống tâm linh Tín ngưỡng người Chăm là hạt nhân cơ bản hình thành nên diện mạo tôn giáo, lễ hội Chăm
Tôn giáo, Trừ các tôn giáo mới du nhập sau này với số lượng không lớn, người Chăm ở Ninh Thuận hiện nay chịu ảnh hưởng hai tôn giáo chính: Đạo Bàlamôn (người Chăm ảnh hưởng Ấn Độ giáo, còn gọi là Chăm Ahiêr) và đạo Bàni (người Chăm ảnh hưởng Islam, còn gọi là Chăm Awal) Ngoài ra còn có một bộ phận người Chăm theo đạo Islam (Hồi giáo mới) nhưng không nhiều Tên gọi thì như vậy, nhưng đã từ lâu, hai tôn giáo Bàlamôn và Bàni tồn tại độc lập, không có mối quan hệ với nước ngoài, và qua quá trình lịch sử, cả hai tôn giáo này đã bị bản địa hóa trở thành một kiểu tôn giáo địa phương Người Chăm ở Ninh Thuận, có sự phân chia theo khu vực đền tháp thờ
tự, phân chia theo cộng đồng tôn giáo Mỗi khu vực cộng đồng tôn giáo lại có
Trang 28hệ thống chức sắc chịu trách nhiệm về cộng đồng tín đồ của khu vực mình cai quản Hiện nay cộng đồng chăm Ahiêr ở Ninh Thuận có 37 vị pàxế (passhe - chức sắc Bàlamôn), trong đó có 3 vị cả sư pôxà (Po dhia), phụ trách 3 khu vực cộng đồng tín đồ và chịu trách nhiệm cúng lễ ở 3 khu vực đền tháp như sau:
+ Khu vực tháp Po Rame (làng Hậu Sanh) có 6 làng gồm: Hậu Sanh, Hiếu Thiện, Vụ Bổn, Mỹ Nghiệp, Chung Mỹ, Phước Lập, khu vực này do cả
Ngoài ra, còn một khu vực đền Po Bin Thuôr (Po Bin Swơr - thôn Bỉnh Nghĩa, xã Phương Hải, huyện Ninh Hải) chỉ có một làng và không có chức sắc Bàlamôn Mọi hoạt động tôn giáo đều do Ban phong tục của làng đảm nhiệm Mỗi khi có những nghi lễ cần đến chức sắc Bàlamôn đều phải mời các chức sắc từ khu vực tháp Po Klaung Garai về làm lễ Vì vậy, có thể quy Bỉnh Nghĩa về khu vực tôn giáo của tháp Po Klaung Garai [1, tr 63]
Cộng đồng Chăm Awal có 121 vị tu sĩ (Po Acar) đứng đầu là 7 vị cả sư (Po Gru) cai quản 7 thánh đường (sang mưgik) và phục vụ nghi lễ cúng tế tôn giáo cho tín đồ Chăm Awal như đám karơh, katát (lễ cắt tóc, đặt tên thánh), lễ cưới (bang likhak), lễ tang (padhi), lễ hội Ramưwan…
Ngôn ngữ và chữ viết
Đến nay các nhà khoa học hầu như đã thống nhất, xếp ngôn ngữ Chăm vào gia đình ngôn ngữ Nam đảo
Trang 29Về chữ viết, trong suốt quá trình lịch sử của mình, người Chăm đã dùng một số kiểu chữ như: akhar rik (chữ thánh, cổ tự), akhar tapuk (chữ sách), akhar jok (chữ bí ẩn, chữ thần bí), akhar kalimưng (chữ con nhện), akhar ator (chữ tắt, chữ treo), nhưng thứ chữ được thông dụng và được giới nghiên cứu biết đến nhiều nhất là akhar thrah (chữ thảo) [14, tr 314]
Cũng như nhiều ngôn ngữ khác trong khu vực Đông Dương, tiếng Chăm
đã và đang diễn ra một số biến đổi theo xu hướng đơn tiết hóa Quá trình này
đã làm thay đổi căn bản diện mạo ngữ âm của tiếng Chăm: một số lớn từ đa tiết biến thành đơn tiết, hệ thống âm vị có sự phân bố lại, và hiện tượng ngữ
âm thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu là sự hình thành của sự phân biệt về thanh nhằm bù đắp cho một số phân biệt về phụ âm đã bị mất Tuy nhiên, các biến đổi ấy diễn ra không đồng đều ở các hình thức hoạt động ngôn ngữ và ở các nhóm thành viên khác nhau của cộng đồng ngôn ngữ Chăm Ở hình thức khẩu ngữ, đặc biệt là ở lớp người trẻ tuổi, ít chịu ảnh hưởng của chữ Chăm akhar thrah, những biến đổi nói trên được thể hiện rất rõ, và như thế, hình thức ngôn ngữ nói này khác biệt khá nhiều so với ngôn ngữ được ghi bằng chữ akhar thrah Mặc dù hình thức khẩu ngữ được sử dụng phổ biến, nhưng trong quan niệm của người Chăm hiện nay, cách phát âm theo akhar thrah được xem là dạng chuẩn Do đó, người Chăm dùng nó trong những hoàn cảnh nói năng trang trọng, dùng để sáng tác thơ, văn và giảng dạy ở các lớp học [14, tr 320]
Trang 30chiến đấu chống những bất công của xã hội, đối nhân xử thế, hướng con người đến cái thiện và ước mơ có một cuộc sống thanh bình, yên ả…
Văn chương Chăm bên cạnh những dòng văn xuôi, thơ (ariya) còn phải
kể đến những lời ca, lời khấn thần thánh trong lễ hội Nội dung của những bài
ca, tục cúng đó không chỉ chứa đựng những tiểu sử, huyền thoại các vị vua thần có công với dân, với nước mà còn là những bài hát kể gắn với những tên đất, tên vùng, với những sự kiện lịch sử dân tộc
Âm nhạc và điệu múa
Trong nghệ thuật biểu diễn truyền thống Chăm, âm nhạc và múa là những loại hình nghệ thuật quan trọng phản ánh những nhận thức, thể hiện những tình cảm, quan niệm về thẩm mỹ… của người Chăm Âm nhạc truyền thống Chăm với những bài ca nghi lễ, những làn điệu dân ca, những bài hát
ru, những điệu ngâm ariya… cũng như với những điệu múa được biểu diễn trong các lễ hội đã ăn sâu vào tâm hồn của mỗi người Chăm ngay từ tấm bé Trong loại hình ca, múa, nhạc thì múa Chăm chiếm vị trí đáng kể Múa Chăm có mặt trên những đền tháp, tượng thờ như tượng thờ thần Siva, Vũ nữ Apsara Múa Chăm còn hiện diện ở các đền tháp trong mỗi dịp cúng tế, trong các lễ hội như lễ hội Katê, lễ hội múa đầu năm (Rija Nưgar), lễ hội múa lớn (Rija Praung) Tùy theo nghi lễ, vị thần thánh, điệu trống lễ khác nhau thì họ
có những điệu múa, trang phục, đạo cụ khác nhau Bên cạnh múa, người Chăm còn có nhiều nhạc cụ như trống Ginăng, Basanưng, kèn Saranai, Chiêng, Kanhi, Rabap… với nhiều điệu nhạc khác nhau Tùy theo lễ cúng mà
họ sử dụng loại nhạc cụ và điệu trống lễ khác nhau Ví dụ đàn Rabap chỉ được thầy Kahar kéo hát trong lễ nghi đền tháp; trống Basanưng chỉ được thầy Mưduôn vỗ hát cùng với trống Ginăng, kèn Saranai trong các lễ múa Rija Trong các loại nhạc cụ Chăm, trống Ginăng và kèn Saranai là nhạc cụ chỉ đạo, chỉ riêng trống Ginăng mà đã có đến 76 điệu khác nhau Múa và nhạc
Trang 31Chăm là cặp song sinh không thể thiếu được trong nghệ thuật biểu diễn truyền thống Chăm
Đi đôi với múa, nhạc, người Chăm còn có những làn điệu dân ca mượt
mà, sâu lắng như các điệu hát vãi chải (puơc jal), hát đối đáp (dauh sa), các điệu dân ca ân tình (dauh mư jut), dân ca giao duyên (dauh dam tara)… Những điệu dân ca chủ yếu phục vụ trong lao động, tình yêu đôi lứa và trong cuộc sống hàng ngày
Với những sắc thái độc đáo riêng, nghệ thuật biểu diễn truyền thống Chăm đã sớm góp phần và giữ một vai trò nhất định trong quá trình hình thành và phát triển nền nghệ thuật biểu diễn truyền thống của cộng đồng dân tộc Việt Nam
Đền tháp Chăm và nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc
Trong di sản văn hóa người Chăm hiện nay nổi bật nhất là hệ thống đền tháp, điêu khắc, tượng thờ, thành quách, bia ký… Hầu hết từ miền Trung cho đến Tây Nguyên, nơi nào có người Chăm sinh sống thì họ đều xây dựng đền tháp để thờ thần Điều đó cho ta thấy tầm quan trọng đền tháp đối với người Chăm Tất cả đền tháp Chăm được xây dựng để thờ ba vị thần chính: Shiva, Vishnu, Brahma Về sau tháp Chăm ngoài thờ thần Ấn giáo họ còn thờ các vị vua Chăm như tháp Po Klaung Garai, Po Rame (Ninh Thuận) Những đền tháp Chăm đều có đặc điểm chung là một cụm kiến trúc bao gồm một tháp trung tâm hình vuông, mái thon “tượng trưng cho ngọn núi Mêru - Ấn Độ, trung tâm vũ trụ nơi ngự trị của thánh thần” Xung quanh tháp chính là những tháp nhỏ nằm theo vị trí bốn hướng tượng trưng cho các lục địa và ngoài cùng
là hào rãnh, biểu tượng của đại dương Sơ đồ kiến trúc đó được xây dựng theo khái niệm vũ trụ luận của Ấn Độ Các tháp Chăm hướng về hình khối đơn giản, không quy mô bề thế như các tháp ở Ấn Độ, đền tháp Ăngco (Campuchia), tháp Bôđôbuđua (Inđônêsia) Tháp Chăm luôn hướng về tiểu
Trang 32phẩm cân xứng, đẹp mắt, vừa độc đáo vừa có cá tính, kỹ thuật, bí quyết riêng
mà đến nay vẫn còn là một điều bí ẩn Đó là thành tựu rực rỡ, là nét bản sắc riêng biệt “thể hiện sự sáng tạo, tài ba độc đáo của những nhà kiến trúc, điêu khắc Chăm thời xa xưa” [14, tr 145]
Hiện nay ở Ninh Thuận còn tồn tại 3 ngôi tháp, mang 3 phong cách và niên đại khác nhau: Tháp Hòa Lai (Ba Tháp) được xây dựng vào thế kỷ IX được xếp vào phong cách Hòa Lai; tháp Po Klaung Garai được xây dựng vào giữa thế kỷ XII đầu thế kỷ XIII - Tháp được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật vào năm 1979; tháp Po Rame được xây dựng vào thế kỷ XVIII - Tháp được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật vào năm
1992 Ngoài 3 ngôi tháp trên người Chăm ở Ninh Thuận còn có 7 thánh đường (sang mưghik) Hồi giáo Bàni rải rác ở 7 thôn như: Văn Lâm, Tuấn Tú, Thành Tín, Lương Tri, Phú Nhuận, Phước Nhơn, An Nhơn Bên cạnh các thánh đường ở các làng Chăm còn có khoảng 15 ngôi đền làng (danok) thờ thần làng Hiện nay, tất cả đền, tháp, thánh đường của người Chăm Ninh Thuận (ngoài tháp Hòa Lai) thì người Chăm vẫn còn bảo tồn khá tốt Hàng năm họ vẫn còn thực hiện nhiều nghi lễ, hội hè liên quan đến đền tháp và thánh đường trong các làng Chăm
Cùng với đền tháp và kiến trúc, điêu khắc Champa cũng thể hiện vẻ đa dạng, độc đáo Những đề tài điêu khắc Chăm là những tượng thờ Shiva, Vishnu, Brahma Ngoài tượng thờ các vị thần chính, điêu khắc ở đền tháp Chăm còn trang trí bằng tượng thờ Vũ nữ (Ápsara), người cưỡi ngựa đánh cầu; những con vật huyền thoại như Garuda, Kala, bò thần Nandin…Một số tác phẩm đã trở thành kiệt tác mà tiêu biểu là tượng Vũ nữ Trà Kiệu (Ápsara)
đã được đánh giá là “đỉnh cao của nghệ thuật tạc tượng Champa và của cả miền Đông Nam Á” [79, tr 37] Nghệ thuật điêu khắc Chăm tuy có những nét ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, Inđônêsia, Khơme nhưng họ không tiếp thu, sao
Trang 33chép một cách nguyên vẹn mà luôn cải biên sáng tạo trên cơ sở văn hóa bản địa Với tính bản địa vững chắc, nền nghệ thuật điêu khắc Chăm đã dung hòa được tất cả các yếu tố bên ngoài biến thành cái riêng của mình để rồi qua mỗi thời kỳ, lại được phát huy và biến nó thành một cá tính nghệ thuật mãnh liệt, không thể lầm lẫn với cá tính của bất cứ một nền nghệ thuật nào khác
1.3 Quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc đối với người Chăm của Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận trước năm 1992
Đây là thời kỳ tỉnh Ninh Thuận nằm trong tỉnh Thuận Hải (bao gồm Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay) Từ sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, dân tộc Chăm ở Thuận Hải đã hoàn toàn xóa bỏ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ và mới, bước vào một chặng đường mới, chặng đường đầu tiên xây dựng CNXH Tuy nhiên, tình hình đồng bào Chăm ngay khi mới giải phóng tại Thuận Hải cũng gặp khó khăn chung như cả nước
Vào thời điểm này, người Chăm ở Thuận Hải có dân số khoảng 50.000 người, sinh sống tập trung ở các huyện Bắc Bình, Ninh Phước, Tuy Phong, và một số ít sống rải rác tại các huyện Ninh Hải, Ninh Sơn, Hàm Thuận Bắc… Địa bàn cư trú của người Chăm là dải đồng bằng hẹp ven biển, đất pha cát và thiếu nước, họ sống thành từng palei (làng) riêng biệt và lân cận với các làng xóm người Việt
Vùng nông thôn đồng bào Chăm ở Thuận Hải đã trải qua nhiều biến động lớn lao, chịu nhiều hậu quả nặng nề của chủ nghĩa thực dân cũ và mới Vấn đề cấp thiết đặt ra đối với vùng Chăm sau ngày giải phóng là phải ổn định và tổ chức lại sản xuất, đời sống, cùng nhiều mặt khác Ruộng đất ở vùng Chăm là tư liệu sản xuất chính, nhưng trong quá khứ hầu hết tập trung trong tay giai cấp địa chủ, tầng lớp phú nông Đa số nông dân Chăm thiếu ruộng hoặc không có ruộng phải làm thuê làm mướn cho địa chủ, phú nông Mâu thuẫn giai cấp giữa nông dân với địa chủ ở vùng Chăm trước năm 1975
Trang 34rất gay gắt, yêu cầu về ruộng đất của nông dân Chăm trở thành cấp bách Những chính sách ruộng đất của Mỹ - Ngụy không giải quyết được tình trạng
và yêu cầu ruộng đất vùng Chăm, trái lại chủ nghĩa thực dân mới đã đẩy xã hội vùng Chăm vào con đường bế tắc
Đứng trước tình hình đó, ngày 26 - 10 - 1981, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra chỉ thị 121 - CT/TW về công tác đối với đồng bào Chăm, tạo điều kiện cho đồng bào Chăm phát triển toàn diện trên tất
cả các lĩnh vực
♦Về kinh tế
Phát triển sản xuất nông nghiệp: ngay sau khi mới giải phóng, chính quyền cách mạng ở vùng Chăm đã coi trọng và khẩn trương giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân Chăm Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận hồi bấy giờ và các huyện Bắc Bình, Tuy Phong, An Phước… nơi
có đông đồng bào Chăm sinh sống đã tiến hành tịch thu và trưng thu ruộng đất của địa chủ ác ôn tay sai Mỹ - Ngụy đem chia cho bà con nông dân Chăm, Việt Chỉ tính riêng vùng Chăm thuộc huyện Ninh Phước hiện nay (lúc đó là huyện An Phước thuộc tỉnh Ninh Thuận), chính quyền cách mạng đã thu hồi
715 ha ruộng và 147 ha đất của địa chủ và ruộng đất các loại như ruộng công điền, ruộng vô chủ, hoang hóa… gồm khoảng 800 ha chia cấp cho gần 5.000 gia đình nông dân không ruộng hoặc thiếu ruộng
Song song với việc thu hồi đất của địa chủ, phú nông phản động và tay sai ác ôn bỏ chạy, chính quyền cách mạng ở các địa phương đã tích cực vận động bà con nông dân Chăm - Việt “nhường cơm xẻ áo” kêu gọi những gia đình có diện tích ruộng đất khá hơn san sẻ bớt cho các gia đình nghèo, thiếu ruộng và không có ruộng Chủ trương này vừa nhằm điều chỉnh lại việc phân phối ruộng đất, vừa thể hiện tình đoàn kết gắn bó, thương yêu của bà con nông dân Việt - Chăm Chỉ trong một thời gian ngắn, nhiều gia đình trung
Trang 35nông lớp trên, phú nông và cả một số địa chủ có công với cách mạng đã tự nguyện hiến bớt một số diện tích ruộng đất để chính quyền chia sẻ cho nông dân nghèo
Chủ trương và chính sách phân phối lại ruộng đất cho nông dân Chăm của Đảng và chính quyền cách mạng địa phương ngay sau năm 1975 đã đạt được những kết quả to lớn Vấn đề ruộng đất của nông dân Chăm đã được giải quyết một cách thỏa đáng, đã xóa bỏ tình trạng phân phối bất bình đẳng trước đây, nông dân Chăm đã thực sự sở hữu ruộng đất của mình Giải quyết thành công vấn đề ruộng đất đã tạo nên sự phấn khởi, tin tưởng trong đông đảo nông dân Chăm với sự nghiệp cách mạng, với Đảng và Nhà nước Chính sách ruộng đất của Đảng và chính quyền địa phương đã đem lại quyền lợi thiết thực cho đồng bào Chăm, đã xóa bỏ ách áp bức bóc lột của giai cấp địa chủ, bọn phản động đối với đồng bào Chăm từ bao đời nay Mặt khác giải quyết đúng đắn vấn đề ruộng đất ở vùng đồng bào Chăm, đã tạo điều kiện quan trọng và quyết định cho sự phát triển xã hội vùng Chăm
Từ giữa năm 1981, thực hiện Chỉ thị 100 CT của BBTTW Đảng về khoán sản phẩm trong sản xuất nông nghiệp, đồng bào Chăm đã chủ động và thật sự làm chủ trong sản xuất Việc khoán sản phẩm đã tạo điều kiện thuận tiện, kích thích nông dân Chăm tăng năng suất gieo trồng bằng nhiều biện pháp tích cực như thủy lợi, phân bón, giống lúa… Ruộng đất vùng đồng bào Chăm từ đây được khai thác một cách hiệu quả nhất so với trước, hệ số sử dụng ruộng đất được nâng lên 1,6 lần so với trước ngày giải phóng Năng suất lúa tăng từ 1,2 đến 2 lần trong năm 1985 so với năm 1979 Hầu hết các Hợp tác xã vùng Chăm đạt năng suất vào loại cao trong toàn tỉnh, và trên 5 tấn/ha, các Hợp tác xã Chất Thường, Hoài Trung, Bình Mỹ… đạt năng suất 10 tấn/ha Bình quân lương thực cho vùng Chăm từ 350 đến 500kg/người/năm đảm bảo đủ lương thực tối thiểu cho sinh hoạt của đồng bào Chăm
Trang 36Các ngành, nghề truyền thống: bên cạnh sản xuất nông nghiệp, các hoạt động kinh tế khác của đồng bào Chăm cũng được phục hồi và phát triển như các nghề thủ công nghiệp (dệt thổ cẩm và làm đồ gốm) Trong quá khứ nghề dệt và nghề làm đồ gốm của đồng bào Chăm đã đáp ứng một phần nhu cầu sinh hoạt của dân tộc Chăm, và là mặt hàng trao đổi quan trọng của đồng bào Chăm với các dân tộc ở Tây Nguyên Nhưng trước năm 1975, những nghề thủ công truyền thống của đồng bào ngày càng mai một Từ sau ngày giải phóng, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương nên các nghề thủ công nghiệp của đồng bào được khôi phục và phát triển Thôn
Mỹ Nghiệp (huyện Ninh Phước) nghề dệt cổ truyền đã bước đầu được khôi phục và phát triển, thu hút đông đảo phụ nữ Chăm tham gia, sản phẩm dệt được nhiều nơi trong nước biết đến và được nước ngoài ưa chuộng Thôn Bầu Trúc (huyện Ninh Phước) là nơi có truyền thống làm gốm, hiện nay đang tiếp tục mở rộng sản xuất các sản phẩm gốm theo phong cách kỹ thuật Chăm Các nghề thủ công khác như đan đát, đóng xe trâu, mỹ nghệ, vẫn tiếp tục tồn tại rãi rác trong khắp các làng Chăm, một mặt bảo tồn những truyền thống văn hóa Chăm, mặt khác tạo thêm nguồn thu nhập nhằm nâng cao đời sống gia đình
♦ Về văn hóa - xã hội
Cùng với những thành tựu bước đầu về kinh tế, đồng bào Chăm ở Thuận Hải đã có những biến đổi to lớn trên các mặt văn hóa, giáo dục, y tế… Trước năm 1975, đông đảo người Chăm mù chữ Chăm và chữ Việt, tỷ lệ trẻ em thất học chiếm hơn 80% Tình trạng mê tín di đoan, thiếu thốn tiện nghi y tế, văn hóa ở các vùng người Chăm càng làm kìm hãm sự phát triển xã hội vốn đã trì trệ trong dân tộc Chăm Đứng trước tình hình đó, Đảng bộ và chính quyền các cấp tỉnh Thuận Hải vừa lãnh đạo, vừa động viên đồng bào Chăm vượt qua
Trang 37mọi khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu to lớn về văn hóa, giáo dục, y tế…
Về văn hóa: đời sống văn hóa vùng Chăm từ sau ngày giải phóng đã có nhiều đổi thay Việc xây dựng cuộc sống mới, con người mới xã hội chủ nghĩa trên cơ sở kết hợp những truyền thống văn hóa dân tộc và hiện đại đang được tiến hành có kết quả Nhiều vốn văn hóa, văn nghệ truyền thống của dân tộc Chăm được sưu tầm, nâng cao Trước năm 1975 tình trạng mê tín dị đoan, những nghi lễ tôn giáo đè nặng lên cuộc sống vốn đã cơ cực của đồng bào Chăm, trải qua một thời gian ngắn sau ngày giải phóng, các hủ tục lạc hậu đã
bị xóa bỏ, các tập tục lạc hậu trong nghi lễ cưới xin, tang ma… được giảm nhẹ phù hợp với nếp sống mới Lễ tang của người Chăm Bàlamôn không còn kéo dài nhiều ngày, tốn kém và có thể gây ra dịch bệnh như trước Nếp sống văn hóa mới ở đồng bào Chăm đang được hình thành, góp phần làm cho cuộc sống nông thôn Chăm văn minh và hạnh phúc, mặt khác những truyền thống văn hóa Chăm vẫn được gìn giữ, hài hòa với hiện đại Các tháp Chăm là những di sản văn hóa quý báu, đặc sắc đã được Nhà nước ta quan tâm trùng
tu, bảo quản Văn học dân gian Chăm như truyện cổ, trường ca, thơ ca… đã được các cơ quan văn hóa Trung ương và địa phương bước đầu tổ chức sưu tầm, nghiên cứu và xuất bản
Về xã hội: dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính quyền địa phương ở tỉnh Thuận Hải, đồng bào Chăm cũng bước đầu phát huy quyền làm chủ xã hội trên mọi mặt đời sống của mình Đồng bào Chăm Thuận Hải đã tích cực tham gia các cuộc bầu cử HĐND các cấp và bầu cử Quốc hội của cả nước Năm 1985 đồng bào Chăm ở Thuận Hải có 295 đại biểu HĐND các cấp và đại biểu Quốc hội Trong đó có 3 đại biểu cấp tỉnh, 25 đại biểu cấp huyện và 266 là đại biểu HĐND cấp xã [13, tr 357] Bên cạnh chính quyền, các tổ chức đoàn thể như Thanh niên, Phụ nữ, Thiếu niên, Mặt
Trang 38trận Tổ quốc ở vùng Chăm được chú trọng xây dựng, phát triển và đóng vai trò tích cực trong các phong trào hoạt động xã hội của đồng bào Chăm
Về giáo dục: chưa đầy mấy tháng sau ngày giải phóng, các trường học vùng Chăm đã khai giảng niên khóa đầu tiên, thu hút đông đảo con em đồng bào Chăm đến trường Tỷ lệ học sinh Chăm đi học ngày càng tăng lên nhanh chóng, riêng số học sinh phổ thông Chăm đầu năm 1977 đã chiếm 10,40% và đến năm 1985 đã tăng lên 15% so với dân số Chăm Hầu hết các vùng đông người Chăm đều có hệ thống trường phổ thông cơ sở tận cấp xã, tạo điều kiện thuận lợi cho con em đồng bào Chăm đến trường Đến năm 1985 có 2/3 con
em người Chăm đến độ tuổi đi học đã được đến trường Một số học sinh Chăm đã tham gia các kỳ thi học sinh giỏi và năng khiếu của tỉnh, toàn quốc Một số lượng đáng kể thanh niên Chăm đã và đang được đào tạo trong các trường đại học khác nhau Nhờ những cố gắng về giáo dục, nhìn chung trong hơn mười năm sau ngày giải phóng trình độ học vấn của đồng bào Chăm, đặc biệt là thanh thiếu Chăm đã được nâng lên một bước đáng kể, nạn mù chữ đã
và đang được xóa dần, vấn đề phổ cập giáo dục đang được bắt đầu và có nhiều triển vọng
Về y tế: tình trạng y tế và sức khỏe của đồng bào Chăm trước ngày giải phóng hầu như không được quan tâm Ngoài hoạt động có tính chất mê tín của các thầy cúng, thầy phù thủy… nhằm chữa bệnh cho nhân dân, hầu như các cơ sở chữa bệnh y tế ở vùng Chăm rất thiếu thốn hoặc không có Trong vòng chưa đầy mười năm sau ngày giải phóng, mạng lưới y tế, vệ sinh phòng chữa bệnh cho đồng bào Chăm đã được thiết lập đến tận cơ sở Hầu hết các xã vùng Chăm đều có phòng y tế, nhà hộ sinh, các đội vệ sinh phòng dịch, đội ngũ chữ thập đỏ… Theo những số liệu thống kê chưa đầy đủ, cho đến năm
1985, 22 xã vùng Chăm Thuận Hải đã có 22 trạm xá, hai huyện đông người Chăm là Bắc Bình và Ninh Phước có hai bệnh viện cấp huyện được trang bị
Trang 39tương đối đầy đủ Đội ngũ cán bộ y tế vùng Chăm cũng không ngừng phát triển, tính riêng số cán bộ y tế chuyên nghiệp ở vùng Chăm có 66 người (2 bác sỹ, 16 y sỹ, 12 y tá, 2 dược tá, 10 nữ hộ sinh) [13, tr 361] Từ sau ngày giải phóng đến nay, các bệnh dịch thường niên ở vùng Chăm như dịch hạch, thương hàn, thổ tả… đã được xóa bỏ hoặc nhanh chóng dập tắt Những phương pháp chữa bệnh cổ truyền bằng các cây thuốc ở địa phương cũng được ngành y tế vùng Chăm phát huy góp phần chữa bệnh và tăng cường sức khỏe cho nhân dân Chính nhờ những cải thiện về vệ sinh và y tế đã góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho đồng bào Chăm
Công tác giữ gìn an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội: nhìn chung công tác giáo dục, tuyên truyền về chủ trương, chính sách dân tộc đoàn kết, bình đẳng của Đảng và Nhà nước, lòng tin của đồng bào, chức sắc tôn giáo được củng cố thêm một bước, những băn khoăn trước đây về “mất chữ viết”,
“mất tiếng nói”… do tác động của âm mưu chia rẽ của các thế lực chống đối
về cơ bản không còn nữa, ở một số nơi đồng bào Chăm đã chủ động tố giác những âm mưu bạo loạn với chính quyền
Những thành tựu trên là kết quả của việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ta ở vùng Chăm, cụ thể là Chỉ thị 121 của Ban Bí thư (1981) và của Hội đồng bộ trưởng (1982), chủ trương chính sách của cấp ủy Đảng và Chính quyền địa phương Thuận Hải
* *
* Người Chăm là một dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, có quá trình lịch sử lâu đời với nền văn hoá phong phú và đa dạng Trải qua các thời kỳ lịch sử, hiện nay người Chăm cư trú xen kẽ với các dân tộc anh em ở một số tỉnh miền Trung và Nam Bộ nước ta như Bình Định, Phú Yên, Ninh
Trang 40Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Phước, An Giang, trong đó tập trung đông nhất ở tỉnh Ninh Thuận
Kinh tế của đồng bào Chăm chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, trồng lúa nước là chính Một số ít trồng thêm cây công nghiệp, cây ăn trái, hoa màu, chăn nuôi gia súc, gia cầm như trâu, bò, heo, cừu, dê, gà vịt và kinh doanh buôn bán Có một thôn làm nghề gốm và một thôn làm nghề dệt thổ cẩm Ngoài tín ngưỡng dân gian truyền thống, hiện nay người Chăm ở Ninh Thuận theo 2 tôn giáo chính: Đạo Bàlamôn (người Chăm ảnh hưởng ấn Độ giáo, còn gọi là Ahiêr) và đạo Bàni (người Chăm ảnh hưởng Islam, còn gọi là Awal) Ngoài ra còn có một số ít đi theo đạo Công giáo, Tin Lành
Trải qua các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, nhất là trong thời
kì kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, dân tộc Chăm luôn đoàn kết với các dân tộc anh em trong tỉnh, đóng góp sức người sức của cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Nhiều cơ sở cách mạng đã hình thành và phát triển trong các làng Chăm như Hậu Sanh, Như Bình, Vĩnh Thuận, Phước Lập… Nhiều gương sáng trong 2 thời kỳ kháng chiến có anh hùng liệt sĩ Đổng Dậu, liệt sĩ Phú Như Lập, Tài Đại Thông, Từ Hậu, Lưu Đặng, Thiên Sanh Sửu…
Người Chăm ở Ninh Thuận cư trú theo từng làng và có tính cộng đồng rất cao Bà con thường giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, nhất là lúc ốm đau, hoạn nạn và trong việc thực hiện các nghi lễ thuộc tín ngưỡng, tôn giáo Hàng năm, trong vùng đồng bào Chăm, các nghi lễ diễn ra dày đặc Các nghi lễ này vẫn còn chi phối khá mạnh trong đời sống tinh thần của đồng bào
Hiện nay, trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng bào Chăm ở Ninh Thuận đang đoàn kết cùng với các dân tộc anh em trong tỉnh ra sức xây dựng quê hương tỉnh nhà ngày càng phát triển, góp phần vào sự phát triển chung của cả