Bài viết trình bày các nội dung: Đại học Thái Nguyên và bối cảnh hình thành đào tạo chuyên ngành luật trình độ đại học; Khung chương trình đào tạo và kết quả đào tạo ngành Luật kinh tế tại các cơ sở đào tạo của ĐHTN; Đánh giá khung chương trình với nhu cầu xã hội, năng lực của cơ sở đào tạo và năng lực người học tại ĐHTN;...
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN VÀ BỐI CẢNH HÌNH THÀNH ĐÀO TẠO CHUYÊN NGÀNH LUẬT TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC
Đại học Thái Nguyên là một trong 05 trường đại học của Việt Nam thực hiện theo
mô hình Đại học hai cấp (Đại học vùng), được giao trọng trách là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh, các cơ sở đào tạo và dạy nghề trên địa bàn vùng núi phía Bắc và cả nước Đồng thời, trường thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế - chính trị - văn hóa
- xã hội của vùng trung du, miền núi phía Bắc Tại Đại học Thái Nguyên hiện có 07 trường đại học thành viên, 02 Khoa và 01 trường Cao đẳng trực thuộc Số lượng cán
bộ, viên chức, lao động là 4.374 người, trong đó có 2.605 giảng viên (trong số giảng viên có 163 GS, PGS, 596 tiến sĩ) Quy mô đào tạo hiện nay của trường Đại học là 109 ngành với 149 chuyên ngành đào tạo trình độ đại học; Quy mô người học đạt xấp xỉ 45.000 người (trong đó có trên 5.000 học viên sau đại học); chủ yếu các ngành truyền thống thế mạnh thuộc nhiều lĩnh vực khoa học: tự nhiên, xã hội, nhân văn, nông, lâm nghiệp, kinh tế, quản trị quản lý, y học, kỹ thuật và công nghệ
Trước năm 2012 tại Đại học Thái Nguyên (ĐHTN) chưa đào tạo các chuyên ngành pháp luật; Yêu cầu phát triển tương xứng với vai trò của Đại học vùng, cùng với nhân lực của các tỉnh miền núi phía Bắc và nhu cầu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ làm công tác
HOÀN THIỆN CHƯƠNG TRÌNH
ĐÀO TẠO PHÁP LUẬT KINH DOANH -
KINH NGHIỆM TỪ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
3.
TS Lưu Bình Dương (*)
Trang 2tư pháp - pháp chế của các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đòi hỏi cần phải tổ chức đào tạo ngành pháp luật tại ĐHTN Tháng 12/2012, ĐHTN đã quyết định mở ngành đạo tạo Luật học tại hai trường đại học thành viên là Đại học Khoa học
và Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh
KHUNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO VÀ KẾT QUẢ ĐÀO TẠO NGÀNH LUẬT KINH TẾ TẠI CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO CỦA ĐHTN
a) Tại trường Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh
Khi giao nhiệm vụ đào tạo ngành Luật tại ĐHTN cho các trường thành viên, ĐHTN dựa trên đề xuất về hướng phát triển và bản thân nội lực của cơ sở đào tạo Trong đó trường Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh (ĐHKTQTKD) có thế mạnh đội ngũ giảng viên trình độ cao chuyên ngành kinh tế, ngân hàng, thương mại… đồng thời cũng là định hướng phù hợp nền tảng đào tạo của nhà trường là cơ sở đào tạo kiến thức chuyên ngành kinh tế Từ đó quyết định lựa chọn chuyên ngành Luật Kinh doanh Theo đó chương trình đào tạo theo quy định khung ngành Luật học của Bộ Giáo dục
và Đào tạo và các môn do trường đưa vào với tổng số 126 tín chỉ Phần kiến thức cơ sở của ngành là 48 tín chỉ Kiến thức chuyên ngành là 16 tín chỉ (trong đó bắt buộc là 12 tín chỉ với 06 môn, tự chọn là 04 tín chỉ bằng 02 môn/05 môn bố trí) Các môn thay thế khóa luận tương đương 06 tín chỉ chọn 03/07 môn) Ngoài ra theo chương trình sinh viên có 04 tín chỉ bắt buộc thực tập tại các cơ quan, đơn vị tương ứng sử dụng ngành
Luật Kinh tế trước khi ra trường (có Phụ lục 01 về các môn chuyên ngành).
Ngành Luật tại Trường ĐHKTQTKD đăng ký mã ngành 7380107, trường xác định
chuyên ngành đào tạo là Luật Kinh tế (Luật Kinh doanh) Quy mô tuyển sinh chính
quy là 150 SV/năm, đến nay đã tuyển sinh được 1.100 SV; đã tốt nghiệp là 180 SV) Trường tuyển sinh liên thông hệ cao đẳng lên Đại học và hệ vừa làm vừa học tính đến nay là 900 học viên
b) Tại trường Đại học Khoa học
Tại trường Đại học Khoa học (ĐHKH) khi giao nhiệm vụ đào tạo ngành Luật học, ĐHTN đã cân nhắc đánh giá định hướng của trường ĐHKH là trường đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu đào tạo Luật học có thể đảm nhận theo cả 04 chuyên ngành như các cơ sở đào tạo lớn hiện nay; song có tính đến lộ trình 04 năm đầu chia làm hai chuyên ngành là Luật Hình sự, Chuyên ngành Luật Dân
sự - Kinh tế; sang năm thứ 5 của quá trình đào tạo đào tạo đủ 04 chuyên ngành (trong
Trang 3đó có Luật kinh tế riêng biệt) Đào tạo ngành Luật tại trường Đại học Khoa học đăng
ký mã ngành 7380101, trường xác định chuyên ngành đào tạo gồm 04 chuyên ngành
là Luật Hình sự, Luật Dân sự, Luật Hành chính và Luật Kinh tế
Khung chương trình Luật gồm 135 tín chỉ Trong đó chuyên ngành Kinh tế theo quy định khung ngành Luật học của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các môn do trường đưa vào với tổng số 135 tín chỉ Phần kiến thức cơ sở của ngành là 98 tín Kiến thức chuyên ngành là 20 tín chỉ (bắt buộc là 12 tín chỉ với 05 môn, tự chọn là 04 tín chỉ bằng 02 môn/04 môn bố trí) Các môn thay thế khóa luận tương đương 07 tín chỉ chọn 02/07 môn) Ngoài ra theo chương trình sinh viên có 07 tín chỉ bắt buộc thực tập, thực
tế (gồm thực tập 03 tín, thực tế lần 01 là 02 tín, thực tế lần 02 là 02 tín) Thực tế lần 01 các SV về thực tế tại UBND cấp xã làm quen với các thủ tục hành chính; thực tế lần
02 SV về thực tế tại các cơ quan tư pháp; Thực tập tại các cơ quan, đơn vị tương ứng
sử dụng ngành Luật trước khi ra trường (có Phụ lục 01 về các môn chuyên ngành ).
Quy mô tuyển sinh chính quy ngành Luật là 200 SV/năm, đến nay đã tuyển sinh được 1.200 SV; Sinh viên học chuyên ngành Luật Kinh tế là 369 SV (đã tốt nghiệp là
123 SV) Trường tuyển sinh liên thông hệ cao đẳng lên Đại học và hệ vừa làm vừa học tính đến nay là 1.100 học viên, trong đó học chuyên ngành Luật Kinh tế là 600 học viên (đã có 150 học viên tốt nghiệp)
ĐÁNH GIÁ KHUNG CHƯƠNG TRÌNH VỚI NHU CẦU XÃ HỘI, NĂNG LỰC CỦA CƠ SỞ ĐÀO TẠO VÀ NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC TẠI ĐHTN
a) Đánh giá khung chương trình với nhu cầu người học:
Nhu cầu người học về kiến thức theo quan niệm của chúng tôi phụ thuộc vào một
số điểm chung là các đòi hỏi chung về đào tạo nguồn nhân lực ngành Luật Kinh tế đáp ứng ngưỡng của yêu cầu trong nước và hội nhập, nhưng cũng đồng thời phụ thuộc các điểm riêng của nhu cầu địa phương, vùng liên quan đến sử dụng nguồn nhân lực + Điểm chung về đào tạo nguồn nhân lực ngành Luật Kinh tế đáp ứng ngưỡng của yêu cầu trong nước và hội nhập là các kiến thức phổ thông và kiến thức cập nhật hiện đại của chuyên ngành Luật kinh tế Nghiên cứu khung chương trình của 02 cơ sở đào tạo thuộc ĐHTN cho thấy: khung đã bảo đảm tuân theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có tính đến thế mạnh của cơ sở đào tạo; các học phần trong khung đáp ứng kiến thức chung phổ biến như: Pháp Luật Cạnh tranh, pháp luật về thị trường chứng khoán, pháp luật về sở hữu trí tuệ, luật kinh doanh bảo hiểm, sở hữu trí tuệ, pháp luật
Trang 4về nhượng quyền thương mại, pháp luật về đấu thầu, pháp luật về hợp đồng tín dụng
và bảo đảm tín dụng Khung cũng đã xây dựng cập nhật được kiến thức các môn học
có kiến thức hiện đại như:Hợp đồng thương mại quốc tế, giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại, pháp luật kinh doanh của các nước ASEAN Tuy nhiên, số lượng học phần còn rất khiêm tốn
+ Các điểm riêng của nhu cầu địa phương, vùng liên quan đến sử dụng nguồn
nhân lực là các yêu cầu về sử dụng kiến thức, mức độ về kỹ năng nghề được đào tạo khi làm việc tại địa phương theo mức độ thực trạng pháp luật địa phương đặt ra phù hợp với kinh tế xã hội vùng Đánh giá khung của 02 đơn vị cho thấy đã có các môn học khá phong phú: Kỹ năng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp; soạn thảo hợp đồng thương mại; hợp đồng thương mại và kỹ năng soạn thảo, giao kết hợp đồng thương mại; pháp luật tố tụng thương mại, trọng tài Đồng thời cho phép sinh viên thực tế và thực tập hành nghề từ 04 đến 07 tín chỉ tại các tổ chức, cơ quan đơn vị
Qua khảo sát bằng việc mời nhà tuyển dụng đánh giá chuẩn đầu ra và đánh giá tuyển dụng sinh viên ngành Luật ra trường tại trường ĐHKH (trong đó đánh giá 72SV/123 SV ngành Luật Kinh tế tốt nghiệp), nhận xét của doanh nghiệp như sau:
có 19 SV đáp ứng tốt để tuyển dụng (bằng 26,3%) 37 SV đáp ứng được nhu cầu sử dụng, nhưng cần bồi dưỡng thêm (bằng 51,3%) Số còn lại không đáp ứng yêu cầu (chiếm 22,2%) Tuy nhiên, cũng phải đánh giá rằng đây là các doanh nghiệp, cơ quan địa phương có nhu cầu tuyển dụng và mức độ đòi hỏi về chuyên môn, nghiệp vụ chưa thật cao, thậm chí doanh nghiệp của họ chưa có các hoạt động thương mại quốc tế hoặc chưa tham gia thị trường chứng khoán nên đòi hỏi kiến thức pháp luật kinh tế còn thấp
b) Đánh giá khung chương trình với năng lực của cơ sở đào tạo
Khung chương trình đào tạo của hai trường được ban hành cũng trên cơ sở cân nhắc rất kỹ lưỡng về nhân lực của cơ sở đào tạo để phù hợp khi tuyển sinh không phụ thuộc quá lớn vào nguồn giảng viên bên ngoài (mời giảng) Tuy nhiên, đây là hạn chế rất lớn khi không có nhiều môn học cập nhật, chất lượng cao hoặc nhập khẩu từ nước ngoài về… sẽ không được đáp ứng, làm cho kiến thức chuyên ngành nghèo nàn theo
hướng chỉ “bán cái mình có” mà chưa phục vụ cái xã hội cần Đội ngũ giảng viên rất
mỏng (Bộ môn Luật của ĐHKTQT là 15 giảng viên trình độ thạc sĩ trong đó có 03 NCS; Bộ môn Luật của trường ĐHKH là 14 giảng viên có 01 tiến sĩ, 05 NCS còn lại
là thạc sĩ); kinh nghiệm giảng dạy và công tác còn hạn chế: Cán bộ lâu năm công tác
Trang 5pháp luật và giảng dạy là 20 năm, cán bộ trẻ là 04 năm cũng đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng chuyên môn
Trong tổng số giảng viên của hai trường giảng dạy ngành Luật, chỉ có 1/3 cán bộ là giảng dạy các môn chuyên ngành Kinh tế (ĐHKTQTKD có 05 giảng viên; ĐHKH có
04 giảng viên) Nhiều môn học phần chỉ có một giảng viên phụ trách và nhiều giảng viên phải phụ trách giảng dạy từ 03 - 05 học phần chuyên ngành
c) Đánh giá khung chương trình với năng lực người học tại ĐHTN
Người học cũng là yếu tố rất quan trọng liên quan đến thiết kế, vận hành khung chương trình đào tạo ngành Luật Xác định chất lượng nhân lực đầu vào tại ĐHTN chủ yếu là con em dân tộc vùng miền núi phía Bắc và một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ
có kiến thức phổ thông thấp hơn các trường trọng điểm quốc gia ở Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, đồng thời cùng với việc xác định nguồn nhân lực đầu ra đáp ứng nhu cầu thị trường chưa cao nên khung chương trình được thiết kế mang tính “phổ thông”; đã quan tâm nhiều đến việc định hướng kỹ năng ứng dụng cho người học; bảo đảm mọi sinh viên đã trúng tuyển có thể hoàn thành chương trình đào tạo
Từ lý do này, khung chương trình có rất nhiều hạn chế: Hạn chế lớn nhất là chương trình đào tạo ngoại ngữ (ngưỡng kiến thức rất thấp A2 hoặc dưới A2 nội bộ - sinh viên không có khả năng giao tiếp thông thường, tham khảo tài liệu phổ thông tiếng Anh); các môn cập nhật và mang tính hiện đại không có thực hành như thị trường chứng khoán, thuế, đầu tư Tư liệu nghiên cứu và kỹ năng giảng của giảng viên chưa có kinh nghiệm thực tế đây cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến thiết kế khung chương trình
MỘT SỐ NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ, KHUYẾN NGHỊ
Qua phân tích bức tranh đào tạo ngành Luật Kinh tế tại ĐHTN qua hai đơn vị đào tạo nêu trên chúng tôi có một số nhận xét bước đầu như sau:
1) Thành công của cơ sở đào tạo:
Bước vào thời kỳ đổi mới, hội nhập ĐHTN đã cho phép đào tạo chuyên ngành Luật nói chung và ngành Luật Kinh tế tại cơ sở đại học đã góp phần đưa ĐHTN vào bản đồ các cơ sở đào tạo ngành Luật ở Việt Nam; chương trình đào tạo và kết quả đã bước đầu đáp ứng nhu cầu xã hội, qua đào tạo đã cung cấp ra thị trường nhân lực có chất lượng phục vụ thị trường lao động (nhân lực là sinh viên chính quy và phi chính quy là cán bộ đáng công tác chuẩn hóa bằng cấp)
Trang 6Chương trình đạo tạo với các môn học đáp ứng kiến thức chung phổ thông và kiến thức mang tính kỹ năng, kiến thức qua thực tế, thực tập làm cho người học không chỉ tiếp cận về mặt lý thuyết mà còn bắt nhịp về mặt thực hành hơi thở cuộc sống và các vấn đề pháp lý thực tế đặt ra
Các cơ sở đào tạo đã xây dựng được đội ngũ giảng viên, định hình thành Khoa chuyên ngành (Khoa Luật và Quản lý xã hội - trường ĐHKH; Khoa Quản lý kinh tế - Luật của trường ĐHKTQTKD) Đội ngũ giảng viên đã xây dựng được một số tập bài giảng, giáo trình môn học kỹ năng của chuyên ngành mình
Đào tạo ngành Luật học nói chung và Luật Kinh tế nói riêng đã trở thành mũi nhọn trong công tác tuyển sinh của cả hai trường
2) Một số hạn chế:
Đào tạo cử nhân Luật kinh tế không chỉ đáp ứng nguồn nhân lực của địa phương
mà còn đáp ứng chuẩn “ngưỡng” của quốc gia, hội nhập quốc tế Ngày nay công dân đang trở thành “công dân toàn cầu”, nguồn nhân lực toàn cầu, vì thế không chỉ thiết kế khung đào tạo, chương trình đạo tạo nguồn nhân lực cho vùng, địa phương, cho nhóm đối tượng mà phải cho nhu cầu chung xã hội Đây là khó khăn lớn nhất cần vượt qua trong tư duy đào tạo hiện nay ở ĐHTN
Đội ngũ giảng viên còn mỏng, kinh nghiệm hạn chế, môi trường học thuật chưa hình thành là những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo; nhất là tiếp cận các xu thế mới trong lĩnh vực Luật Kinh doanh; thương mại quốc tế; hoạt động trọng tài; pháp luật thị trường chứng khoán; pháp luật bảo hiểm; pháp luật thuế, pháp luật đầu tư… Các cơ sở đào tạo có đào tạo ngành Luật là các cơ sở đào tạo đa ngành hoặc chuyên ngành rộng, ngành Luật chỉ là một ngành (Trường ĐHKH có đào tạo 19 chuyên ngành trong đó có Luật; trường Đại học KTQTKD đào tạo 10 chuyên ngành trong đó có chuyên ngành Luật Kinh tế) Vì vậy sự quan tâm và ưu tiên trong xây dựng đội ngũ, phát triển học thuật, cơ sở vật chất… phải dàn trải, chưa được chú trọng với yêu cầu đặt ra
Công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo, giáo trình, giáo án, bài giảng, học liệu thực hành chưa được quan tâm và định lượng để chuẩn hóa đánh giá khi đào tạo; hiện tượng đánh giá nội bộ, xuề xòa vẫn còn xảy ra
Trang 73) Kiến nghị:
Ở ĐHTN cần thiết phải đào tạo và mở rộng đào tạo ngành Luật thành ngành trọng điểm (trong đó có chuyên ngành Luật Kinh tế) để đáp ứng yêu cầu hội nhập là xu thế khách quan hiện nay Để phát triển được ngành Luật cần nhất thể hóa vào một cơ sở đào tạo hoặc sáp nhập, nâng cấp thành khoa trực thuộc Đại học để thu hút nguồn nhân lực, chăm lo cơ sở vật chất, tạo môi trường học thuật như: Đại học Huế trước đây, Đại học Cần Thơ; Đại học Đà Nẵng…
Quyền tự chủ mở ngành là quyền của các đơn vị đào tạo; tuy nhiên để phát triển bền vững và trú trọng chất lượng cần quy định và kiểm soát mở ngành trong đó ngành Luật cần phải nghiêm túc, bảo đảm đúng quy chế, không đủ điều kiện duy trì ngành phải dừng đào tạo
Cần quan tâm tăng cường hội thảo, thảo luận giao nhiệm vụ nghiên cứu khoa học công nghệ, đặt hàng để hình thành đội ngũ cán bộ giảng viên thạo nghề, yêu nghề công tác trong môi trường học thuật nghề luật
Trang 8Bảng phụ lục KHUNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TẠI HAI TRƯỜNG
Tổng số tín chỉ chuyên ngành 26 tín chỉ Tổng số tín chỉ chuyên ngành 30 tín chỉ
2 Luật Cạnh tranh 2 Luật Cạnh tranh - bảo vệ quyền lợi
3 Pháp luật về thị trường
5 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2 Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh
thương mại
2
6 Pháp luật về kinh doanh bất
động sản
2
1 Tiếng Anh pháp lý 2 Kỹ năng tư vấn pháp luật cho
3 Pháp luật an sinh xã hội 2 Pháp luật kinh doanh bất động sản 2
4 Pháp luật kinh doanh của các
5 Quản lý nhà nước về kinh tế 2
Tư chọn thay khóa luận 6/14
tín chỉ
Thay thế khóa luận
(chọn 1/3 môn in nghiêng)
7/13 tín chỉ
1 Pháp luật về nhượng quyền
thương mại
2 Chuyên đề kinh tế nâng cao (bắt buộc) 4
3 Hợp đồng thương mại và kỹ năng
soạn thảo, giao kết hợp đồng
thương mại
4 Pháp luật về hợp đồng tín dụng và