Bài viết nghiên cứu tác động của dịch Covid-19 đến tình hình hoạt động doanh nghiệp Việt Nam và giải pháp khắc phục trong thời gian tới. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp từ báo cáo kết quả khảo sát, đánh giá tác động của dịch Covid-19 đến hoạt động của doanh nghiệp ở Việt Nam năm 2020 của Tổng cục Thống kê; kết quả từ Hội thảo Khoa học cấp Quốc gia “Chính sách vượt qua tác động Covid-19 để phục hồi và phát triển kinh tế” của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội) năm 2020.
Trang 1TÁC ĐỘNG COVID-19 ĐẾN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM THỜI GIAN TỚI
THE IMPACTS OF COVID-19 PANDEMIC TO VIETNAM
ENTERPRISES AND SOLUTIONS FOR DEVELOPMENT
THE ENTERPRISES IN COMING TIME
PGS.TS Nguyễn Hồng Hà 1 , ThS Nguyễn Thị Bích Ngân 2
Tóm tắt – Bài viết nghiên cứu tác động của dịch Covid-19 đến tình hình
hoạt động doanh nghiệp Việt Nam và giải pháp khắc phục trong thời gian tới Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp từ báo cáo kết quả khảo sát, đánh giá tác động của dịch Covid-19 đến hoạt động của doanh nghiệp ở Việt Nam năm 2020 của Tổng cục Thống kê; kết quả từ Hội thảo Khoa học cấp Quốc gia “Chính sách vượt qua tác động Covid-19 để phục hồi và phát triển kinh tế” của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội) năm 2020 Bằng phương pháp đánh giá, so sánh và phân tích, bài viết phân tích thực trạng và hoạt động doanh nghiệp Việt Nam thời dịch Covid-2019, những ảnh hưởng của dịch và đề xuất các giải pháp khắc phục trong thời gian tới; đưa kinh tế Việt Nam sống chung với dịch Covid-19 trong trạng thái bình thường mới
Từ khóa: dịch Covid-19, doanh nghiệp Việt Nam, giải pháp phát triển
doanh nghiệp, Việt Nam
Năm 2020, kinh tế thế giới có nhiều biến động do dịch Covid-19 Những nền kinh tế lớn như Mĩ, Trung Quốc, Nhật Bản, các quốc gia thành viên liên minh châu Âu… phải đối mặt với tình trạng suy thoái kinh tế trầm trọng Nguyên nhân của tình trạng suy thoái trên chủ yếu là do chiến tranh thương mại Mĩ – Trung, giá dầu giảm, biến đổi khí hậu, thiên tai và đặc biệt là đại dịch Covid-19 bùng phát từ Vũ Hán (Trung Quốc) vào cuối năm 2019
Trang 2Hình 1: Tăng trưởng kinh tế toàn cầu giai đoạn 2015-2020
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát)
Để đối phó dịch, nhiều quốc gia đã áp đặt các biện pháp phong tỏa Một số nước như Trung Quốc, Hoa Kì, các quốc gia thành viên liên minh châu Âu… đã đóng cửa biên giới nhằm ngăn chặn dịch lây lan Điều này đã làm đứt gãy chuỗi cung ứng và làm tăng nguy cơ thiếu hụt nguyên liệu sản xuất, sản phẩm tiêu dùng Trong nước, bên cạnh những thuận lợi từ kết quả tăng trưởng tích cực năm
2019, tuy kinh tế vĩ mô ổn định nhưng nền kinh tế phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, khó lường làm tăng trưởng ở hầu hết các ngành, lĩnh vực chậm lại, tỉ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm tăng cao Bên cạnh đó, thời tiết những tháng đầu năm không thuận lợi, hạn hán, xâm nhập mặn diễn ra sớm ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cây trồng, dịch tả lợn châu Phi đã ảnh hưởng nặng nề đến nguồn cung thịt lợn, đây là một trong những nguyên nhân làm cho chi phí giá tiêu dùng tăng cao Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2020 ước tính tăng 3,82% so với cùng kì năm trước, đây là mức tăng thấp nhất của quý I các năm trong giai đoạn 2011-2020
Trước tình hình đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã kịp thời chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp, vừa phòng chống dịch, bảo đảm sức khỏe người dân, vừa chống suy giảm kinh tế
và giữ vững ổn định xã hội, nỗ lực phấn đấu cao nhất thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2020 Ngày 04/3/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 11/CT-TTg về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo
gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19 [1]
-6
-4
-2
0
2
4
6
8
2015 2016 2017 2018 2019 8
tháng 2020
3.9
3.2 3.8 3.9 2.9
-4.9
6.68 6.21 6.81 7.08 7.02
1.81 Tăng trưởng kinh tế
Thế giới (%) Tăng trưởng kinh tế Việt Nam (%)
Trang 32 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
VIỆT NAM DƯỚI TÁC ĐỘNG DỊCH COVID-19
2.1 Đánh giá chung về cuộc điều tra
Cuộc điều tra được tiến hành từ ngày 10 – 20/4/2020, kết quả cho thấy, có
tới 85,7% số doanh nghiệp (DN) trên phạm vi cả nước bị tác động của dịch Covid-19
Kết quả khảo sát cho thấy, có tới 85,7% DN được hỏi cho rằng họ đang phải
chịu tác động tiêu cực của dịch Covid-19 Theo quy mô, các DN có quy mô càng
lớn, tỉ lệ DN chịu tác động từ dịch Covid-19 ngày càng cao Điều này có thể lí
giải, các DN có quy lớn thường là những DN hoạt động kinh doanh đa ngành
nghề, có chuỗi giá trị liên kết trong nước và quốc tế chặt chẽ, rộng hơn nhóm DN
quy mô nhỏ, vì vậy, các DN có quy lớn sẽ chịu tác động lan tỏa nhiều hơn khi
dịch bùng phát trên phạm vi toàn cầu Nhóm DN lớn (hiện chiếm 2,8% tổng số
DN) là nhóm có tỉ lệ DN chịu tác động nhiều nhất với 92,8%; tỉ lệ này của nhóm
DN vừa là 91,1%, của nhóm DN nhỏ là 89,7%; và của nhóm DN siêu nhỏ (hiện
chiếm 62,6% toàn bộ DN) là 82,1%
Theo loại hình DN, DN FDI là đối tượng đang chịu nhiều tác động của dịch
Covid-19 nhất, với 88,7%; tỉ lệ này đối với nhóm DN nhà nước và DN ngoài nhà
nước lần lượt là 87,3% và 85,5%
Theo khu vực kinh tế, tại thời điểm hiện nay, khu vực công nghiệp – xây dựng
và khu vực dịch vụ đang chịu nhiều tác động nhất từ dịch Covid-19 với tỉ lệ DN bị tác
động lần lượt là 86,1% và 85,9%; trong khi khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
chịu ảnh hưởng ít hơn với 78,7%, tuy nhiên, quy mô của các DN khu vực này chỉ
chiếm tỉ lệ rất thấp trong toàn bộ DN
Đáng chú ý, một số ngành kinh tế có tỉ lệ DN chịu tác động tiêu cực của dịch
Covid-19 cao, điển hình như ngành hàng không (100%); ngành dịch vụ lưu trú
(97,1%); dịch vụ ăn uống (95,5%); hoạt động của các đại lí du lịch (95,7%); giáo
dục và đào tạo (93,9%); tiếp đến là các ngành dệt, may, sản xuất da, các sản phẩm
từ da, sản xuất các sản phẩm điện tử, sản xuất ô tô đều có tỉ lệ trên 90%
Theo vùng kinh tế: vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc Trung Bộ và
Duyên hải miền Trung (vùng có nhiều DN hoạt động trong lĩnh vực du lịch, khách
sạn, nhà hàng) là hai vùng có tỉ lệ DN chịu tác động nhiều nhất từ dịch Covid-19,
với tỉ lệ trên 88,5% Một số địa phương như Hà Nội, Hải Phòng, Khánh Hòa có tỉ
lệ DN chịu tác động của dịch Covid-19 cao nhất, trên 92% Đối với các tập đoàn,
tổng công ti có quy mô kinh tế lớn, tỉ lệ DN chịu tác động lên tới 94,6%
Trang 4Hình 2: Tỉ lệ doanh nghiệp chịu tác động từ dịch Covid-19
(Nguồn: Báo cáo Tổng cục Thống kê, 2020 [2])
2.2 Những khó khăn và gánh nặng từ doanh nghiệp
Dịch Covid-19 đã và đang ảnh hưởng sâu, rộng tới mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội, kéo theo hàng loạt vấn đề mà doanh nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt như thiếu hụt nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh, thị trường cung – cầu trong nước bị thu hẹp, hoạt động xuất – nhập khẩu bị đình trệ Những khó khăn chính của DN Việt Nam hiện nay:
Thị trường tiêu thụ bị thu hẹp
Có tới 57,7% số DN bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 cho rằng, thị trường tiêu thụ bị giảm mạnh Đáng chú ý, trong các DN có hoạt động xuất khẩu, có tới 47,2% DN khẳng định hàng hóa sản xuất ra không xuất khẩu được
Thị trường tiêu thụ bị thu hẹp đang là vấn đề quan tâm hàng đầu của đại bộ phận DN hiện nay Trong giai đoạn hiện nay, thị trường tiêu thụ trong nước và thị trường xuất khẩu đều gặp khó khăn Đây là hệ quả tất yếu khi đại dịch bùng phát, người dân Việt Nam và các nước thuộc thị trường xuất khẩu truyền thống của nước ta (Mĩ, Trung Quốc, Nhật, các nước thành viên Liên minh châu Âu ) phải thực hiện giãn cách xã hội, lao động mất việc làm, thu nhập giảm sút nên nhu cầu tiêu thụ giảm mạnh Có tới 57,7% số DN bị ảnh hưởng cho rằng thị trường tiêu thụ bị giảm mạnh Đáng chú ý, trong các DN có hoạt động xuất khẩu, có tới 47,2% DN khẳng định thời gian qua hàng hóa sản xuất ra không xuất khẩu được
Trang 5Hình 3: Tỉ lệ doanh nghiệp bị tác động đến thị trường tiêu thụ
(Nguồn: Báo cáo Tổng cục Thống kê, 2020 [2])
Theo quy mô DN: Có 68,1% DN có quy mô lớn và 64,7% DN có quy mô vừa là các nhóm chịu nhiều ảnh hưởng nhất do thị trường tiêu thụ bị thu hẹp Đây cũng là hai khu vực DN chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu xuất khẩu của toàn bộ nền kinh tế DN không chỉ chịu ảnh hưởng nhiều bởi thị trường tiêu thụ trong nước bị thu hẹp mà còn do hàng hóa sản xuất ra không xuất khẩu được Trong số các DN
có hoạt động xuất khẩu, tỉ lệ DN không xuất khẩu được hàng hóa lên tới 56,9% và 46,2% cho nhóm DN có quy mô lớn và quy mô vừa; tỉ lệ này ở nhóm DN quy mô nhỏ và siêu nhỏ thấp hơn với 40,7% và 28,0%
Theo loại hình DN: Có 61,2% DN FDI chịu tác động từ thị trường tiêu thụ
và có đến 53,8% DN có hoạt động xuất khẩu không xuất khẩu được hàng hóa Theo ngành kinh tế: Một số ngành công nghiệp trọng điểm đang phải đối mặt với những khó khăn khi hầu hết các DN quy mô lớn phụ thuộc nhiều vào thị trường xuất khẩu, cụ thể: đối với DN xuất khẩu ngành may mặc và da giày, tỉ lệ
DN không xuất khẩu được hàng hóa lần lượt là 64,5% và 65,0% Tiếp theo, ngành sản xuất các sản phẩm điện tử và sản xuất ô tô cũng gặp khó khăn khi DN không xuất khẩu được hàng hóa chiếm tỉ lệ khá cao, trên 45,0 %
Thị trường cung cấp nguyên liệu đầu vào bị thiếu hụt
Dịch Covid-19 càng kéo dài, nguyên vật liệu đầu vào dự trữ của doanh nghiệp càng cạn kiệt Tính đến thời điểm điều tra, có 22,1% DN bị thiếu hụt nguyên liệu đầu vào Đây là vấn đề dễ dàng nhận thấy khi thị trường nhập khẩu chủ yếu của nước ta đều là các nước đang phải hứng chịu hậu quả nặng nề từ dịch như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Nông, lâm, thủy
Công nghiệp, xây dựng Dịch vụ
DN Nhà nước
DN ngoài Nhà nước DN FDI
DN siêu nhỏ DN nhỏ
DN vừa DN lớn
CẢ NƯỚC
72.5 59.4
64.7 58.7 57.5 61.2 54.8 59.4 64.7 68.1 57.7
Trang 6Hình 4: Tỉ lệ doanh nghiệp bị tác động đến thị trường nguyên liệu đầu vào
(Nguồn: Báo cáo Tổng cục Thống kê, 2020 [2])
DN quy mô lớn là đối tượng gặp nhiều khó khăn nhất trong tiếp cận nguồn nguyên liệu đầu vào, với 42,8% số DN Nguồn nguyên liệu bị thiếu hụt của DN chủ yếu đến từ nguồn nguyên liệu nhập khẩu Nếu xét riêng DN quy mô lớn có hoạt động nhập khẩu nguyên liệu đầu vào, khi đó, tỉ lệ DN thiếu hụt lên tới 53,8%
DN FDI là đối tượng chủ yếu thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào, với 39,6% số DN bị thiếu hụt Nếu chỉ tính riêng đối với DN nhập khẩu thì tỉ lệ trên tăng lên mức 56,9%
Đối với các DN thuộc nhóm ngành may mặc và da giày cần sử dụng nguồn nguyên liệu nhập khẩu, tỉ lệ DN thiếu hụt lên tới 70,3% đối với ngành may mặc và 71,0% đối với ngành da giầy Ngành sản xuất các sản phẩm điện tử và sản xuất ô
tô có tỉ lệ thiếu hụt nguyên vật liệu nhập khẩu lần lượt là 62,1% và 58,1%
Thiếu hụt nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh
Có tới 45,4% số DN khảo sát đang bị thiếu hụt nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh, đây là một trong những khó khăn hàng đầu của DN hiện nay và cũng là tình trạng chung của toàn bộ khu vực DN Theo loại hình DN, khu vực DN nhà nước có tỉ lệ thiếu hụt nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh cao nhất với 49,8% Theo ngành kinh tế, khu vực DN nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản có tỉ lệ thiếu hụt vốn cao nhất với 54,1% số DN Khu vực DN công nghiệp và xây dựng
có tỉ lệ thiếu hụt vốn là 52,1%, tỉ lệ này ở khu vực dịch vụ là 40,5%
Những gánh nặng của DN do tác động của dịch Covid-19
Chi trả công lao động được đánh giá là gánh nặng lớn nhất đối với DN thời điểm hiện nay
Nông, lâm, thủy
Công nghiệp, xây dựng
Dịch vụ
DN Nhà nước
DN ngoài Nhà nước DN FDI
DN siêu nhỏ
DN nhỏ
DN vừa
DN lớn
CẢ NƯỚC
26.1 25.3 32.3 24.4 21.2
39.6 16.8
25.3 32.3
42.8 22.1
Trang 7Dịch Covid-19 làm cho tình hình kinh tế cả nước gặp khó khăn, hoạt động sản xuất kinh doanh của DN bị đình trệ Bên cạnh đó, DN còn chịu áp lực từ các khoản chi phí rất lớn để duy trì hoạt động của DN như chi phí thuê mặt bằng, chi trả lãi vay ngân hàng, trả công cho lao động, chi phí thường xuyên khác
Theo thang điểm từ 1 đến 5, trong đó: 1 là gánh nặng lớn nhất, 5 là gánh nặng nhỏ nhất, các DN đánh giá mức độ từng loại chi phí DN đang phải đối mặt như sau:
Hình 5: Gánh nặng cho doanh nghiệp thời dịch Covid-19
(Nguồn: Báo cáo Tổng cục Thống kê, 2020 [2])
Xếp hạng theo điểm trung bình của toàn bộ khu vực DN, chi trả công lao động được đánh giá là gánh nặng lớn nhất đối với DN thời điểm hiện nay, với điểm số trung bình là 1,89; chi trả lãi vay ngân hàng 2,41 điểm; chi phí hoạt động thường xuyên khác 2,67 điểm; chi phí thuê mặt bằng 2,68 điểm; chi phí khác 4,02 điểm Nếu xếp theo tỉ lệ DN chọn loại chi phí là gánh nặng lớn nhất thì khoản chi trả công lao động được nhiều DN chọn nhất, chiếm tới 40,3%, chi trả lãi vay ngân hàng
và chi thuê mặt bằng, với tỉ lệ lựa chọn lần lượt là 30,8% và 27,2%, cuối cùng là chi cho hoạt động thường xuyên khác 16,8%
Tương tự, xu hướng chung của toàn bộ khu vực DN, đánh giá với chi trả công lao động là gánh nặng lớn nhất, khoản chi phí có số lượng DN cho điểm bằng 1, nhiều thứ hai là trả lãi vay ngân hàng (trừ khu vực DN FDI lựa chọn là các khoản chi thường xuyên khác)
Trang 83 MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC HẬU QUẢ COVID-19 CHO
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
3.1 Đối với Nhà nước
Trong thời gian tới, Chính phủ, các cấp, các ngành, địa phương cần đẩy
mạnh tiến độ triển khai các giải pháp hỗ trợ đã ban hành và tiếp tục đề ra các giải
pháp hỗ trợ thiết thực hơn nữa để những giải pháp này trở thành động lực cho
doanh nghiệp vượt qua khó khăn, khôi phục, ổn định và phát triển sản xuất kinh
doanh Trước mắt, các cấp, các ngành, địa phương cần thực hiện kịp thời, hiệu quả
Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 04 tháng 03 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ về
các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo
đảm an sinh xã hội, ứng phó với dịch Covid-19, các công việc cụ thể như sau:
Nới lỏng và thúc đẩy nhanh chóng gói hỗ trợ tài khóa
Gói hỗ trợ này với giá trị ước tính 73,1 nghìn tỉ đồng (1,2% GDP) theo Nghị
quyết S41 g (1,2%P ngày 09/4/2020 của Chính phủ gồm các biện pháp cho phép
miễn, giảm thuế, phí, lệ phí (khoảng 69,3 nghìn tỉ đồng) và gia hạn nộp thuế và
tiền thuê đất (khoảng 180 nghìn tỉ đồng trong 5 tháng) Tổng số tiền đã thực hiện
tính đến ngày 31/7/2020 khoảng 56.200 tỉ đồng, chiếm khoảng 31,2% quy mô gói
hỗ trợ [3] Đến nay, gói hỗ trợ chưa đạt yêu cầu do rào cản về thủ tục và đối tượng
thụ hưởng
Giải ngân nhanh chóng gói hỗ trợ tín dụng từ các ngân hàng thương mại
Gói này giá trị ước tính 36,6 nghìn tỉ đồng (0,6% GDP), bao gồm: (i) mức
lãi suất khi các tổ chức tín dụng cho vay mới với lãi suất ưu đãi (giảm 1,0 –
2,5%/năm so với thông thường) với quy mô cam kết khoảng 600 nghìn tỉ đồng,
(ii) các tổ chức tín dụng cơ cấu lại thời hạn trả nợ mà vẫn giữ nguyên nhóm nợ
(không tính lãi phạt); (iii) miễn, giảm lãi (giảm 0,5 – 1,5%/năm cho các khoản vay
hiện hữu bị ảnh hưởng); (iv) miễn, giảm phí, nhất là phí thanh toán và một số phí
dịch vụ khác [4]
Các khoản hỗ trợ này dẫn đến giảm lợi nhuận trước thuế (giảm 20 – 25%)
cả năm 2020 của các tổ chức tín dụng và giảm thu ngân sách tương ứng Song
song với đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng đã hai lần giảm lãi suất điều
hành, giúp các tổ chức tín dụng có điều kiện giảm lãi suất Theo Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam, đến ngày 13/7/2020, các tổ chức tín dụng đã cơ cấu lại thời hạn
trả nợ cho hơn 272.000 khách hàng với dư nợ hơn 210 nghìn tỉ đồng; miễn, giảm,
hạ lãi suất cho 435.000 khách hàng với dư nợ hơn 1,27 triệu tỉ đồng; cho vay mới
lãi suất ưu đãi với doanh số lũy kế đạt 1,17 triệu tỉ đồng cho hơn 247.000 khách
hàng [4]
Trang 9 Nâng cao vai trò an sinh xã hội
Thực tế gói hỗ trợ an sinh xã hội có giá trị khoảng 45,8 nghìn tỉ đồng (0,8% GDP), chứ không phải là con số 62 nghìn tỉ đồng, đây là con số dự kiến (do chi phí của gói hỗ trợ cho vay trả lương về bản chất chỉ là phần tiền lãi không tính do lãi suất là 0%, khoảng 390 tỉ đồng); đến hạn, DN vẫn phải trả lại phần tiền gốc đã vay Tính đến ngày 13/7/2020, các tổ chức đã thực hiện giải ngân khoảng 12 nghìn tỉ đồng để hỗ trợ 11,5 triệu người và 12.000 hộ kinh doanh Nhìn chung, công tác chi trả về cơ bản đã đảm bảo đúng đối tượng, song tiến độ còn rất chậm, trong đó, gói 16.000 tỉ đồng cho vay hỗ trợ trả lương chưa giải ngân được do: (i) điều kiện đặt ra còn chưa phù hợp, chưa sát thực tiễn, (ii) quy trình, thủ tục còn phức tạp, xử lí lâu khiến nhiều DN e ngại; (iii) nhiều DN tự xoay sở [5]
Chú trọng các hỗ trợ khác
Các gói hỗ trợ này ước tính có tổng giá trị 26 nghìn tỉ đồng (0,43% GDP) bao gồm: gói hỗ trợ giảm 10% giá điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) trị giá 10.900 tỉ đồng và gói hỗ trợ giảm giá dịch vụ viễn thông trị giá 15.000 tỉ đồng Đến hết ngày 30/6/2020, EVN đã giảm giá, giảm tiền điện cho 26,79 triệu khách hàng với tổng số tiền 6.800 tỉ đồng (62,4%) Đối với gói giảm giá dịch vụ viễn thông, hiện chưa có thông tin công bố kết quả thực hiện cụ thể [6]
Thúc đẩy giải ngân đầu tư công
Đảng, Quốc hội, Chính phủ chỉ đạo quyết liệt tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy mạnh mẽ giải ngân vốn đầu tư công, nhất là nguồn vốn ODA, tạo động lực góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm cho người lao động Đầu tư công không chỉ góp phần tăng trưởng, phát triển cơ sở hạ tầng của đất nước mà còn giải quyết đời sống, thu nhập cho hàng triệu người Theo tính toán của Tổng cục Thống kê, cứ 1,0% đầu tư thì sẽ góp phần tăng GDP 0,06% Bởi vậy, mục tiêu là phải giải ngân 100% vốn đầu tư công [7]
Tính đến nay, đã có 52/53 bộ, cơ quan Trung ương và 63/63 địa phương
có phương án phân bổ vốn ngân sách nhà nước năm 2020 tuân thủ nguyên tắc, tiêu chí, phân bổ vốn đầu tư công quy định tại Luật Đầu tư công và các Nghị quyết của Quốc hội về ngân sách nhà nước năm 2020 Tuy vậy, chỉ có 38 bộ, cơ quan Trung ương và 43 địa phương giao chi tiết hết 100% kế hoạch vốn cho các
dự án; 05 bộ, cơ quan trung ương và 15 địa phương giao chi tiết trên 90% cho các dự án; còn lại 09 bộ, cơ quan Trung ương và 05 địa phương giao chi tiết dưới 90% cho các dự án Tổng số vốn ngân sách nhà nước mà các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương đã có văn bản giao chi tiết cho các dự án đủ điều kiện giải ngân vốn là 455.491 tỉ đồng, đạt 95,4% kế hoạch đầu tư vốn được Thủ tướng Chính phủ giao (477.573 tỉ đồng) [8]
Trang 10gồm vốn kéo dài từ các năm trước sang) Ước giải ngân đến ngày 31/8/2020 là 221.768 tỉ đồng, đạt 47,0% so với kế hoạch, cùng kì năm 2019 đạt 41,39% [9]
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính chung 8 tháng năm 2020, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước đạt 250.000 tỉ đồng, bằng 50,7% kế hoạch năm và tăng 30,4% so với cùng kì năm trước Có 05 bộ, cơ quan Trung ương và 19 địa phương có tỉ lệ giải ngân trên 60% Tuy nhiên, có 29 bộ, cơ quan Trung ương
và 06 địa phương có tỉ lệ giải ngân đạt dưới 35%, trong đó, có 15 bộ, cơ quan Trung ương và một địa phương có tỉ lệ giải ngân đạt dưới 15% [9]
3.2 Đối với Doanh nghiệp
Cần linh hoạt, sáng tạo chuyển đổi mô hình sản xuất kinh doanh hiệu quả trong giai đoạn cả nước và toàn cầu vẫn đang phải gánh chịu tác động của dịch Covid-19
Chú trọng đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các công nghệ có tính tiên phong trong giảm chi phí
Chủ động đổi mới sáng tạo, chủ động tư duy kinh doanh, nâng cao năng lực quản trị, năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ; chuẩn hóa sản xuất kinh doanh để đáp ứng các yêu cầu, tiêu chí của thị trường quốc tế Tăng cường liên kết, hợp tác kinh doanh phát triển các chuỗi sản xuất, chuỗi giá trị, nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, dịch vụ, tiến tới nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu
Chú trọng xây dựng mô hình sản xuất kinh doanh gắn với mục tiêu phát triển bền vững: sản xuất sạch, xanh, tiết kiệm, sử dụng hiệu quả năng lượng, bảo
vệ môi trường, hướng tới nhóm người yếu thế trong xã hội
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Thủ tướng Chính phủ Chỉ thị về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ
khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19 Chỉ thị số 11/CT-TTg, 2020 Truy cập từ https://luatvietnam.vn/y- te/chi-thi-11-ct-ttg-giai-phap-thao-go-kho-khan-cho-san-xuat-kinh-doanh-do-dich-covid-19-181152-d1.html [Ngày truy cập 20/10/2020]
[2] Tổng cục Thống kê Báo cáo kết quả khảo sát đánh giá tác động của
COVID-19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 2020; trang 01-18
[3] Cấn Văn Lực và Cộng sự Chính sách hỗ trợ Kinh tế của các nước và kiến
nghị đối với Việt Nam Tạp chí Thị trường Tài chính – Tiền tệ 2020; số
tháng 9