Bùi Huy Bích trong Hoàng Việt thi tuyển cũng đã viết: “Nguyễn Trung Ngạn tên chữ là Bang Trực, hiệu là Giới Hiên, người lang Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi, Hưng Yên nay huyện Ân Thi, 12 tu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN VĂN LỘC
TÌM HIỂU GIỚI HIÊN THI TẬP
CỦA NGUYỄN TRUNG NGẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN VĂN LỘC
TÌM HIỂU GIỚI HIÊN THI TẬP
CỦA NGUYỄN TRUNG NGẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN CÔNG LÝ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013
Trang 3MỤC LỤC
DẪN NHẬP 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
4 Phương pháp nghiên cứu 15
5 Đóng góp chính của luận văn 16
6 Cấu trúc luận văn 16
Chương 1 XÃ HỘI ĐẠI VIỆT TỪ THỊNH TRẦN SANG VÃN TRẦN VÀ TÁC GIA NGUYỄN TRUNG NGẠN 17
1.1 Xã hội Đại Việt từ thịnh Trần sang vãn Trần 17
1.2 Cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Trung Ngạn 28
1.3 Về văn bản Giới Hiên thi tập 37
Tiểu kết 40
Chương 2 GIỚI HIÊN THI TẬP NHÌN TỪ NỘI DUNG CẢM HỨNG 41
2.1 Cảm hứng yêu nước 41
2.1.1 Giới Hiên thi tập ngợi ca đất nước thanh bình, thể hiện niềm vui hân hoan của tác giả 41
2.1.2 Giới Hiên thi tập thể hiện sự quan tâm của tác giả đối với vận mệnh đất nước 48
2.2 Cảm hứng nhân văn 54
2.3 Cảm hứng thế sự và nỗi niềm hoài cổ 61
2.4 Cảm hứng thiên nhiên 70
2.4.1 Thiên nhiên đất nước Việt Nam 71
2.4.2 Thiên nhiên đất nước Trung Quốc 77
2.5 Cảm hứng Thiền Phật và Lão Trang 85
Tiểu kết 92
Trang 4Chương 3 GIỚI HIÊN THI TẬP NHÌN TỪ NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN
3.1 Thể thơ 93
3.2 Đề tài 102
3.3 Ngôn ngữ thơ 109
3.4 Giọng điệu và phong cách 117
Tiểu kết 124
KẾT LUẬN 126
TÀI LIỆU THAM KHẢO 129
Trang 5DẪN NHẬP
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nguyễn Trung Ngạn là một chính khách nổi tiếng dưới đời Trần, làm quan trải qua các triều vua Anh Tông (1293-1314), Minh Tông (1314-1329), Hiến Tông (1329-1341), Dụ Tông (1341-1369) Đương thời, ông được người đời đánh giá là một nhân tài, văn chương trác việt Ông không chỉ là một nhà Nho hiển đạt, không chỉ là vị quan to trong mấy triều từ thịnh Trần sang vãn Trần mà còn là một nhà thơ lớn trong văn học Lý - Trần Thơ ông đã được
nhiều nhà làm sách đưa vào tuyển tập như: ở thế kỷ XV có Việt Âm thi tập của Phan Phu Tiên, Tinh tuyển chư gia luật thi của Dương Đức Nhan, Trích diễm
thi tập của Hoàng Đức Lương Sang thế kỷ XVIII và đầu XIX, thơ ông cũng
được Lê Quý Đôn tuyển vào Toàn Việt thi lục; Bùi Huy Bích tuyển vào
Hoàng Việt thi tuyển và đặc biệt là Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí mục Văn tịch chí và mục Nhân vật chí đã có những đánh giá
rất cao về nhân cách và thơ văn của ông Toàn bộ thơ văn của ông đã được
Phan Huy Ôn (Uông) thế kỷ XVIII sưu tập trong Giới Hiên thi tập có 83 bài
Thơ Nguyễn Trung Ngạn đậm đà tình yêu nước, niềm tự hào dân tộc, nhất là những vần thơ đi sứ sang nhà Nguyên (Trung Quốc) vào năm 1314 với trên 50 bài Những vần thơ viết về thiên nhiên, về đời sống cũng dạt dào cảm xúc thể hiện một tình yêu quê hương sâu đậm, một tấm lòng nồng hậu với cuộc đời
Dù biết mình còn hạn chế nhiều mặt nhưng được sự gợi ý của giáo sư hướng dẫn và của Hội đồng khoa học Khoa Văn học và Ngôn ngữ, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí
Minh, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Tìm hiểu Giới Hiên thi tập của Nguyễn
Trung Ngạn” để nghiên cứu không ngoài mục đích tìm hiểu về cuộc đời, sự
Trang 6nghiệp của Nguyễn Trung Ngạn đối với vương triều nhà Trần, cũng như tìm
hiểu về giá trị và nội dung của tập thơ Giới Hiên thi tập
Từ thế kỉ XV, thơ của Giới Hiên Nguyễn Trung Ngạn đã được người xưa
sưu tầm và giới thiệu trong các tuyển tập thơ như Phan Phu Tiên trong Việt
âm thi tập tuyển 33 bài, Hoàng Đức Lương trong Trích diễm thi tập tuyển 18
bài, Dương Đức Nhan trong Tinh tuyển chư gia luật thi tuyển 39 bài Điều
đáng tiếc là hồi ấy các bậc tiền nhân tuyển thơ của ông chưa đầy đủ
Đến giữa thế kỉ XVIII, Lê Quý Đôn trong Toàn Việt thi lục bản
A.1262/1 đã tuyển 90 bài thơ của Nguyễn Trung Ngạn (?) Cuối thế kỷ XVIII
và đầu thế kỷ XIX, Bùi Huy Bích trong Hoàng Việt thi tuyển và Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí mục Văn tịch chí thì chỉ tuyển
một ít bài Đặc biệt, lần đầu tiên thơ Nguyễn Trung Ngạn được chép đầy đủ thành một tập riêng do cử nhân Phan Huy Ôn (Uông) sưu tầm, biên soạn vào
cuối thế kỷ XVIII, mang tên Giới Hiên thi tập, bản chép tay chữ Hán, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.601, chép 81 đầu đề với 83 bài
Nhận định về Nguyễn Trung Ngạn trong các bộ chính sử, trong các bộ tuyển tập thơ có thể thấy như sau:
Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại khá đầy đủ và chi tiết về cuộc đời
cũng như hành trạng của Nguyễn Trung Ngạn Đây là bộ chính sử với những
Trang 7tư liệu gốc rất đáng tin cậy mà sau này các nhà nghiên cứu đều dựa vào đó để tìm hiểu về Nguyễn Trung Ngạn Nói chung tất cả đều là những lời đánh giá
cao về những cống hiến của ông cho vương triều nhà Trần.“Mùa xuân, tháng
hai, ngày 15, năm Nhâm Thân, phụ táng Thuận Thánh Bảo Từ Hoàng Thái
hậu vào Thái Lăng Tháng ba năm ấy, Nguyễn Trung Ngạn được cử vào Nội
mật viện phó sứ, giữ sổ sách ở nội sảnh cung Quan Triều Đến tháng bảy ông lại được cử làm Tri thẩm hình viện, kiêm An phủ sứ Thanh Hoa Ông lập Bình doãn đường xét xử ngục tụng, xét xử nghiêm minh, không ai bị xử oan hoặc xử quá đáng” [55, 153]
Bùi Huy Bích trong Hoàng Việt thi tuyển cũng đã viết: “Nguyễn Trung
Ngạn tên chữ là Bang Trực, hiệu là Giới Hiên, người lang Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi, Hưng Yên (nay huyện Ân Thi), 12 tuổi sung làm Thái học sinh, 16 tuổi đậu Hoàng giáp cùng khoa ông Mạc Đỉnh Chi đậu Trạng nguyên, có đi
sứ nhà Nguyên, làm quan trải 5 triều Trần, có nhiều kiến nghị điều trần” [2,
69]
Năm 1821, Phan Huy Chú trong bộ Lịch triều hiến chương loại chí mục
Văn tịch chí đã dành nhiều lời bình phẩm tốt đẹp về Nguyễn Trung Ngạn:
“Lời thơ phần nhiều hào mại, có khí phách và cốt cách Đỗ Lăng Những bài làm trong khi sang sứ Trung Quốc, như các bài luật Động Đình Hồ, Nhạc Dương Lâu, Hùng Tương dịch, Ung Châu, bài nào lời thơ cũng mạnh mẽ, phóng khoáng khác thường” [11, tập IV, 65]; “Những câu hay rất nhiều, không thể kể hết Thơ tứ tuyệt lại càng hay, không kém gì thời Thịnh Đường”
(…) “Lời thơ đều thanh nhã, xinh đẹp, có phong thể như thơ của Long Tiêu,
Cung Phụng” [11, tập IV, 68]
Cũng trong Lịch triều hiến chương loại chí mục Nhân vật chí, Phan
Huy Chú đã xếp ông là một trong mười người phò tá có công ở đời Trần
Trang 8(Mười người đó là: Trần Quang Khải, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Trương Hán Siêu, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Đoàn Nhữ Hài, Trần Thì Kiến, Phạm Tông Mại, Trần Nguyên Đán) Phan Huy Chú đã nhận định về Nguyễn Trung Ngạn như sau:
Người làng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi, Hưng Yên Thời Anh Tông, năm Giáp Thìn (1304) ông đỗ Hoàng giáp, bấy giờ mới có 16 tuổi Khi Minh Tông lên ngôi, ông cùng Phạm Ngộ sang Nguyên báo tin
và dâng cống Năm Đại Khánh thứ 8 (1321) ông làm chức Thị Ngự sử ở Đài Ngự sử Năm đầu Khai Thái (1324), sứ Nguyên là bọn Mã Hợp Mưu cưỡi ngựa đến quãng đường đi xe ở cầu ao Tây Thấu, không chịu xuống ngựa Ông đem lý ra bắt bẻ, chúng phải xuống đi bộ Sau trái ý vua, ông bị đổi ra làm Thông phán ở châu Anh Lãng (Đại Việt sử ký toàn thư chép là Viêm Lãng) Ở đấy, ông nổi tiếng về chính sự, lại được cất nhắc làm Thiêm tri coi việc ở cung Thánh từ Năm thứ 3 (1326) lại đổi làm An phủ sứ Thanh Hoa Năm thứ 6, Hiến Tông nối ngôi (1329), Thượng hoàng đi đánh Ngưu Hống, ông đi theo hộ giá, làm ra quyển
“Thực lục” Năm Khai Hựu thứ 4 (1332), được phong Nội Phó sứ viện Nội mật, được cất lên coi việc ở viện Thẩm hình, nhưng vẫn kiêm An phủ sứ Thanh Hoa Ông dựng nhà Bình Doãn xử kiện không có ai bị oan lạm Khi Thượng hoàng đi đánh Ai Lao, ông làm Phát vận sứ ở Thanh Hoa, Ai Lao trốn chạy, ông vâng mệnh ghi công ở bia Ma nhai rồi về Năm thứ 9 (1337) đổi qua An phủ sứ Nghệ An, kiêm coi việc chép quốc sử ở viện Quốc sử; rồi lại làm Tào vận sứ ở lộ Khoái Châu, đặt Tào thương kho chứa thóc tô để chẩn cấp cho dân đói Vua xuống chiếu cho các lộ phỏng theo đó mà làm Năm thứ 12 (1340) được làm Đại doãn ở kinh sư Dụ Tông lên ngôi sai ông cùng với Trương Hán Siêu biên định bộ “Hoàng triều đại điển”, khảo soạn bộ “Hình thư” thi
Trang 9hành Năm Thiệu Phong thứ 2 (1352) lại thăng Nhập nội hành khiển nhưng vẫn coi việc ở viện Khu mật Năm thứ 15 (1355) ông được thăng Kinh lược sứ trấn Lạng Giang, Đại hành khiển, Thượng thư hữu bật, kiêm cả việc viện Khu mật, Đại học sĩ ở tòa Kinh diên, Trụ quốc Khai huyện bá, gia thân quốc công Hơn mười năm sau ông mất, thọ hơn 80 tuổi ( ) Ông bình sinh thích ngâm vịnh, lời thơ hùng hồn mạnh mẽ, sở đắc nhiều phong cách thơ của Đỗ Thiếu Lăng Có Giới Hiên thi tập lưu hành ở đời [8, 186-187]
2.2 Nhận định về Nguyễn Trung Ngạn trong các bộ lịch sử và văn học sử, hợp tuyển thơ văn, tổng tập văn học từ thế kỷ XX đến nay
Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược (1919) có đánh giá về Nguyễn
Trung Ngạn như sau: “Năm Giáp Dần 1314 Thái tử Mạnh lên ngôi vua, tức là
vua Minh Tông Thời bấy giờ làm quan tại triều có Đoàn Nhữ Hài, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Chu Văn An đều là những người có tài cán, trí lực cả.” [34, 204]
Nguyễn Đổng Chi trong Việt Nam cổ văn học sử (1942) có nhắc đến
Nguyễn Trung Ngạn ở chương X khi viết về văn học đời Trần Trong mục
Thơ ca và thi xã đời Trần, Nguyễn Đổng Chi đã giới thiệu về nhóm Bích
Động như sau:“Một vài thi xã đã thấy thành lập Trong đó có thi xã của Trần
Quang Triều ở am Bích Động (Quỳnh Lâm) là còn có ghi chép vào sách Những nhân viên thường xướng họa thơ trong thi xã như Trần Quang Triều, Nguyễn Sưởng, Nguyễn Trung Ngạn, Nguyễn Ức, Tự Lạc tiên sinh ” [5,
294]
Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu (Nha Học chính
Đông Pháp, 1943) chương thứ 4, thiên thứ 2 mục “Thi gia đời Trần” có nhắc
Trang 10đến tập thơ của Nguyễn Trung Ngạn và giới thiệu tiểu sử, bên cạnh còn trích dẫn một số bài thơ của ông [20]
Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 1 (Văn
học truyền khẩu, văn học lịch triều: Hán văn) (Quốc học tùng thư xuất bản
1961) có nhắc đến Nguyễn Trung Ngạn và tập Giới Hiên thi tập ở phần chú
thích trong thư mục thứ IV: Thời kỳ thịnh đạt thứ nhất: đời Trần [67, 120]
Bùi Văn Nguyên (chủ biên) trong Lịch sử văn học Việt Nam, tập 2, thế
kỷ X - giữa thế kỷ XIII, NXB GD, HN, 1962 Trong phần viết về văn học Việt Nam thế kỷ X-XIV có đánh giá về thơ Nguyễn Trung Ngạn: ca ngợi cảnh đẹp nước ngoài mà lòng vẫn hướng về Tổ quốc [63, 82]
Đinh Gia Khánh (chủ biên) trong Văn học Việt Nam thế kỷ X - nửa đầu
thế kỷ XVIII, 1977 cũng có đề cập đến Nguyễn Trung Ngạn và bình bài thơ
Ung Châu được ông viết lúc đi sứ khi đi qua thành này ở Quảng Tây, Trung
Quốc: “Nỗi lo sợ ấy của quân xâm lược cũng lại được Nguyễn Trung Ngạn
phản ánh trong bài thơ Ung Châu Bài thơ này ông làm khi đi sứ sang triều đình nhà Nguyên năm 1317, tức là ba chục năm sau cuộc xâm lược của giặc Nguyên, kết thúc bằng hai câu:
“Tòng quân lão thú tằng chinh chiến, Thuyết đáo nam chinh các tự sầu.”
(Lính già thuở trước từng trải qua chiến trận, Nói tới Nam chinh luống ngậm ngùi.) [39, tr.72]
Trong Tổng tập Văn học Việt Nam, Trần Lê Sáng (chủ biên), tập 2, Nxb
KHXH, 2000, có ghi lại tiểu sử và tuyển một số bài thơ Nguyễn Trung Ngạn,
có nhận định: “Nguyễn Trung Ngạn từ nhỏ đã thông minh xuất chúng, nổi
tiếng thần đồng Trong cuộc đời làm quan qua 3 đời triều Trần, ông từng
Trang 11được phong Đại học sĩ Trụ quốc Hướng huyện bá, Thiếu Bảo Khai quốc nội hầu… Tính ông cương trực, tài kiêm văn lẫn võ, có nhiều đóng góp cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước lúc bấy giờ” (Xin được mở ngoặt nói
thêm, thực tế là Nguyễn Trung Ngạn làm quan qua 4 đời triều Trần, chứ không phải là 3 đời như cụ Trần Lê Sáng đã ghi)
Trong Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam (thế kỷ X-XIX), tập 1,
Bùi Duy Tân (chủ biên), Nxb Giáo dục, 2004 có nhắc đến Nguyễn Trung Ngạn và thơ văn của ông, trong đó giới thiệu sơ lược về tiểu sử Nguyễn Trung
Ngạn và có tuyển bảy bài, đó là các bài: Lũ Tuyền, Kiệt Đặc sơn, Giang Ôn
dịch, Quy hứng, Thái Bình lộ, Động Đình hồ, Ung Châu
2.3 Nhận định về Nguyễn Trung Ngạn trong các công trình nghiên cứu và các bài viết đăng trên tạp chí
Trong bài viết “Nguyễn Trung Ngạn - nhà văn xuất sắc và nhà chính
trị có tài” đăng trên Tạp chí Văn học số 7 - 1965, Nguyễn Đức Vân đã đánh
giá Nguyễn Trung Ngạn: “là một nhà thơ lớn đời Trần và là một trong những
nhà thơ xuất sắc của lịch sử văn học nước ta” (…)“Nguyễn Trung Ngạn không chỉ là một nhà thơ mà còn là một nhà chính trị, một nhà trước thuật và một nhà ngoại giao có tài Khí phách của ông, tinh thần yêu nước, yêu dân của ông, cũng như nghệ thuật sáng tác điêu luyện của ông, là những điều mà chúng ta cần học tập” [104, 75]
Mai Quốc Liên trong bài “Thơ đi sứ, khúc ca của lòng yêu nước và ý
chí chiến đấu” đăng trên Tạp chí Văn học số 3 - 1979 có đề cập đến thơ đi sứ
của Nguyễn Trung Ngạn: “Nguyễn Trung Ngạn, người sứ giả của Đại Việt
thời Trần, đã viết các bài Ung châu, Động Đình Hồ, Hùng Tương dịch với những âm hưởng ít thấy trong thơ xưa” Theo tác giả đấy là “những vần thơ
Trang 12hùng hồn, đầy niềm tin”, là “những bước đi lên của chế độ phong kiến Việt Nam đang đầy niềm tin ở sức mạnh lịch sử”
Trên Tạp chí Hán Nôm, số 3, năm 1997 có bài viết Đôi điều cần đính
chính lại của Nguyễn Công Lý Bài viết đính chính lại cách gọi học vị của
Nguyễn Trung Ngạn cho chính xác mà trước đó một số bài viết đăng trên báo
Văn nghệ đã nhầm lẫn, bởi “đời Trần lúc Nguyễn Trung Ngạn thi không có
học vị Tiến sĩ mà chỉ có học vị Thái học sinh (dĩ nhiên hai học vị này tương đương nhau) Ông đỗ Hoàng giáp (Đệ nhị giáp), tức đứng trên Thái học sinh (Đệ tam giáp) lúc 16 tuổi ở khoa thi Đại tỷ năm Giáp Thìn (tháng 3 năm 1304) đời vua Trần Anh Tông, niên hiệu Hưng Long thứ 13” Bài viết còn xác định lại năm mất của Nguyễn Trung Ngạn là 1369 chứ không phải là 1368, hay
1370 như một số tư liệu trước đây đã nêu Về bài thơ Quy hứng của Nguyễn Trung Ngạn, ngoài bản dịch quen thuộc của nhóm Lê Quý Đôn trong Hoàng
Việt thi văn tuyển (1958), tác giả còn cung cấp một bản dịch khác của Xuân
Thuỷ; đồng thời có lời bình: “thể hiện phong vị quê hương… Tất cả mang
nặng nỗi lòng nhớ quê, tự hào về đất nước của người con xa xứ”
Nguyễn Tài Cẩn trong Ảnh hưởng Hán văn Lí Trần qua thơ và ngôn ngữ
thơ Nguyễn Trung Ngạn xuất bản năm 1998 lấy Giới Hiên thi tập làm đối
tượng nghiên cứu chính Tác giả lý giải các sáng tác theo nhiều bình diện khác nhau và cũng đã nêu lên được nhiều điều mới mẻ Đây là một công trình dày
dặn, công phu góp phần soi sáng tập thơ Giới Hiên thi tập trên bình diện ngôn
ngữ học
Trong Thơ đi sứ do Phạm Thiều và Đào Phương Bình (biên dịch, giới
thiệu) có giới thiệu một số sáng tác của Nguyễn Trung Ngạn và đánh giá rất
cao về thơ đi sứ của ông “Thơ Nguyễn Trung Ngạn chan chứa lòng tự hào
Trang 13dân tộc, lòng yêu đất nước và cũng thể hiện rất rõ khát vọng hòa bình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt - Trung”
Tạ Ngọc Liễn trong bài viết “Nguyễn Trung Ngạn - một hồn thơ hào
phóng, giàu khí phách” in trong Danh nhân Thăng Long - Hà Nội, Nxb Hà
Nội, 2000 có đề cập đến Nguyễn Trung Ngạn và thơ văn của ông Tác giả bài
viết cho rằng “Nguyễn Trung Ngạn là người có chí lớn và tài năng lớn”, “Về
thơ, Nguyễn Trung Ngạn có Giới Hiên thi tập (tập thơ của Giới Hiên)” Theo
tác giả “Thơ Nguyễn Giới Hiên vừa có khí phách mạnh mẽ, vừa thanh nhã,
đẹp đẽ”
Trịnh Khắc Mạnh trong Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam,
Nxb KHXH, 2002 có nhận định: “Nguyễn Trung Ngạn là một nhà chính trị,
một nhà thơ, nhà văn nổi tiếng và có nhiều cống hiến cho triều đại nhà Trần”
Tác phẩm “Hoàng triều đại điển và Hình thư soạn chung với Trương Hán
Siêu (nay chưa tìm thấy), Giới Hiên thi cảo, Ma nhai kỷ công văn, có nhiều thơ trong các sách: Trích diễm thi tập, Toàn Việt thi lục, Tinh tuyển chư gia
thi tập”
Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội,
2003, trang 188 có đề cập đến tác gia Nguyễn Trung Ngạn bằng cách tóm lược những nét chính trong cuộc đời Nguyễn Trung Ngạn và giới thiệu về thơ
Nguyễn Trung Ngạn và cho rằng “Thơ Nguyễn Trung Ngạn phần lớn làm trên
đường đi sứ, có lẽ là thơ sứ trình sớm nhất của Việt Nam”
Năm 2009, Đoàn Lê Giang trong Tư tưởng lý luận văn học trung đại
Việt Nam trang 41 cũng có đề cập đến Nguyễn Trung Ngạn và tập thơ của
ông Cụ thể tác giả viết “Nếu quý tộc và tăng sĩ sáng tác rất ít (người nhiều
thì còn lại trên dưới mười bài, người ít thì chỉ một, hai bài), thì ngược lại nho
sĩ viết rất nhiều Dường như ai cũng có thi tập và ít nhiều sách khác: Chu An
Trang 14có Tiều Ẩn thi tập, Quốc ngữ thi tập, Tứ thư thuyết ước; Nguyễn Trung Ngạn
có Giới Hiên thi tập; Phạm Sư Mạnh có Hiệp Thạch tập; Hồ Tông Thốc có Thảo nhàn hiệu tần, Việt sử cương mục ”
Trong bài “Về một số chức quan của Nguyễn Trung Ngạn” của Nguyễn
Đức Nhuệ đăng trên Tạp chí Xưa và nay, số 327, tháng 3 năm 2009, Nguyễn
Đức Nhuệ tóm lược những nét chính trong cuộc đời làm quan của Nguyễn
Trung Ngạn trong vương triều Trần: “thông qua một số chức quan của
Nguyễn Trung Ngạn cho thấy hoạn lộ của ông khá hanh thông, nhất là từ sau 1336”
Nguyễn Vinh Phúc trong 1000 năm Thăng Long Hà Nội, Nxb Trẻ, 2009
có đoạn nhắc đến Nguyễn Trung Ngạn, cụ thể trang 1033 viết “Năm 1341 đổi
chức Đại An phủ sứ ở kinh đô thành Kinh sư đại doãn bổ Nguyễn Trung Ngạn giữ chức ấy”
Nguyễn Minh Tường trong bài viết “Danh nhân văn hóa Nguyễn Trung
Ngạn” trên Tạp chí Xưa và nay, số 327, tháng 3-2009, có đoạn viết “Hiện
nay, chúng ta chỉ còn lại một số bài thơ của Nguyễn Trung Ngạn được sưu tầm vào thế kỷ thứ XV, lưu giữ trong các bộ hợp tuyển “Việt âm thi tập” của Phan Phu Tiên và Chu Xa, “Tinh tuyển chư gia luật thi” của Hoàng Đức Lương” Trong bài viết này tác giả Nguyễn Minh Tường nhận xét “Nguyễn Trung Ngạn là một thi sĩ có tài, âm hưởng trong thơ khá đa dạng”
Trong một bài viết của Quốc Chấn có tựa đề “Một danh nhân hội tụ các
phẩm chất của trí thức Việt Nam” trên Tạp chí Xưa và nay, số 327, tháng 3
năm 2009, có nhắc đến Nguyễn Trung Ngạn và tập thơ Giới Hiên thi tập của ông: “Sách Đại Việt sử ký toàn thư có chép một bài thơ do Giới Hiên Nguyễn
Trung Ngạn tự viết về mình ” Bài viết ca ngợi phẩm chất nhân cách của
Trang 15Nguyễn Trung Ngạn, xem Nguyễn Trung Ngạn là “tự biết đánh giá đúng về
bản thân, biết tự khẳng định mình”
Bài viết của Đinh Khắc Thuân đăng trên Tạp chí Xưa và nay, số 327,
tháng 3 năm 2009 “Về quê hương và gia thế của Hoàng Giáp Nguyễn Trung
Ngạn”, Đinh Khắc Thuân đã căn cứ vào các sách Lược truyện các tác gia
Hán Nôm của Trần Văn Giáp, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam do Nguyễn
Q Thắng và Nguyễn Bá Thế biên khảo, tác giả đã “bổ sung tư liệu điền dã,
gia phả để lý giải về những nghi vấn” những vấn đề về quê hương dòng họ và
gia thế của Nguyễn Trung Ngạn còn tồn tại ít nhiều nghi vấn trước đó Đinh Khắc Thuân cho rằng năm sinh của Nguyễn Trung Ngạn là năm Canh Dần bởi
vì theo tác giả “với sự nghiệp và cuộc đời thăng trầm, nhưng đầy hiển hách
và thành danh như vậy hoàn toàn tương ứng với tuổi Canh Dần (1290) hơn là tuổi Kỷ Sửu (1289)” Theo tác giả “Nguyễn Trung Ngạn là dòng dõi Trạng nguyên Nguyễn Hiền, được sinh ra từ Thổ Hoàng (Hưng Yên), thi đỗ Hoàng giáp khoa Thái học sinh nhà Trần”
Bài viết của Nguyễn Vinh Phúc có tựa đề “Những đền thờ Nguyễn
Trung Ngạn tại Hà Nội”, Tạp chí Xưa và nay, số 327, tháng 3 năm 2009, đã
thống kê được ở Hà Nội có 7 nơi thờ cụ, Nguyễn Vinh Phúc cho rằng rất có
thể nhà Nguyễn Trung Ngạn ở phường gần khu vực cửa sông Tô: “Nguyễn
Trung Ngạn quê Hưng Yên, làm quan và sinh hoạt ở nhiều nơi nhưng gắn bó không ít với Hà Nội… Thời Trần thành Thăng Long chia ra 61 phường, không
rõ nhà cụ ở phường nào song có khả năng là gần khu vực cửa sông Tô vì ở
Hà Nội vốn có 7 nơi thờ cụ thì đều là thuộc vùng bến Tô Giang cũ”
Bài viết “Về cuốn gia phả họ Nguyễn Công (làng Bình Thọ, xã Thái
Sơn, hụyên Đô Lương, tỉnh Nghệ An)” của tác giả Vũ Duy Mền đăng trên Tạp chí Xưa và nay, số 327, tháng 3 năm 2009, có nhắc đến Nguyễn Trung
Trang 16Ngạn “trong gia phả họ Nguyễn Công ghi danh nhiều người đỗ đạt Đại khoa,
tiêu biểu như Trạng nguyên Nguyễn Hiền, Hoàng giáp Nguyễn Trung Ngạn”
Bài viết “Một số vấn đề liên quan đến danh nhân Nguyễn Trung
Ngạn” của Nguyễn Tài Cẩn đăng trên Tạp chí Xưa và nay, số 327, tháng 3
năm 2009, cũng có đề cập “Kho từ ngữ trong Giới Hiên thi tập (huyền huyền,
tiên tào, nguyệt nữ… đốn giác, tàng lị tháp, chân thân…) chứng tỏ điều ấy và nhiều câu nhiều bài trong thơ ông cũng chứng tỏ là ông luôn luôn cập nhật kịp thời với thời đại ông” Nguyễn Tài Cẩn cho rằng “Nguyễn Trung Ngạn xứng đáng được coi là một danh nhân lớn của đất nước”
Bài viết “Vài nét về thể chế chính trị Đại Việt thời Nguyễn Trung Ngạn
(1298-1370)” của Trần Thị Vinh đăng trên Tạp chí Xưa và nay, số 327, tháng
3 năm 2009, có đoạn nhắc đến Nguyễn Trung Ngạn “Xã hội Đại Việt thời
Nguyễn Trung Ngạn là xã hội của ba lần kháng chiến chống Nguyên - Mông thắng lợi Đây là thời điểm quân dân Đại Việt thời Trần bước vào giai đoạn khắc phục những hậu quả sau chiến tranh và xây dựng lại đất nước với chí khí của những người chiến thắng”
Trong bài “Đền thờ Nguyễn Trung Ngạn tại Thổ Hoàng” của Phạm
Văn Kính trên Tạp chí Xưa và nay, số 327, tháng 3 năm 2009, tác giả giới thiệu về phần mộ Nguyễn Trung Ngạn, bài viết đề cập “phần mộ của cụ
Nguyễn Trung Ngạn đặt ở cồn Con Nhạn (hình đất như con Nhạn) nằm ở phía tây nam làng Thổ Hoàng khoảng 1 km đường chim bay”
Bài viết “Hiện trạng tấm bia Ma nhai kỷ công bi văn (1335) của
Nguyễn Trung Ngạn” của Nguyễn Phúc Giác Hải đăng trên Tạp chí Xưa và
nay, số 327, tháng 3 năm 2009, có viết: “Năm Giáp Tuất (1334) Thượng hoàng Trần Minh Tông đi tuần thú đạo Nghệ An và dẹp loạn ở biên giới Ai
Trang 17Lao, thắng trận Chiếu cho Nguyễn Trung Ngạn mài sườn núi khắc chữ ghi công rồi về”
Nguyễn Hải Kế trong bài viết “Nguyễn Trung Ngạn - Tấm gương tiêu
biểu cho thế hệ vàng của trí thức Thăng Long - Đại Việt nửa đầu thế kỷ XIV” in trong Tuyển tập công trình nghiên cứu văn hóa Thăng Long - Hà Nội, đã nhận định “Nguyễn Trung Ngạn người tiêu biểu cho thế hệ những anh
tài” là nhân vật kiệt xuất của thời đại do chính triều Trần tạo ra bằng chính hào khí và hồng phúc mà thời đại này có”, tác giả cho rằng: “Trên dưới nửa thế kỷ, sau cơn “xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã” có một Nguyễn Trung Ngạn người tiêu biểu trong thế hệ những anh tài Đó là nguyên khí, là hồng phúc và cũng là chính sản phẩm của triều Trần, quốc gia Đại Việt nửa đầu XIV dựng xây”
Nguyễn Công Lý trong bài viết “Thơ đi sứ trung đại Việt Nam viết về
danh thắng ở Hồ Nam - Trung Hoa và trường hợp Nguyễn Trung Ngạn”
(2011) đã nêu diện mạo thơ sứ trình trung đại Việt Nam, từ đó đi sâu giới thiệu thơ đi sứ Nguyễn Trung Ngạn, trong đó có thơ viết về danh thắng ở Hồ
Nam: “Riêng thơ của ông viết về Hồ Nam có đến 13 bài: Tương giang thu
hoài, Hồ Nam, Du Nhạc Lộc tự, Nhạc Dương lâu (kỳ nhất), Nhạc Dương lâu (kỳ nhị), Tương Trung tức sự, Tương Trung tống biệt, Động Đình hồ, Kinh Nam tình vọng, Đàm Châu Hùng Tương dịch, Hồi Nhạn phong, Hoài Giả Nghị, Dạ bạc Giang Lăng thành” Tác giả cho rằng: “Con số 13 bài (với 12 đầu đề) trên 53 bài thơ đi sứ hiện còn, tỷ lệ đó ít nhiều cũng đã nói lên tình cảm sâu đậm mà Nguyễn Trung Ngạn đã dành cho đất Hồ Nam Điều này cũng chứng tỏ Hồ Nam là nơi có nhiều danh thắng kỳ thú, và chính phong cảnh hữu tình ấy đã gợi cảm hứng cho thi nhân - sứ giả không thể không cất bút ghi lại”
Trang 18Phạm Văn Khoái - Tạ Doãn Quyết trong bài viết “Hán văn Lý-Trần và
Hán văn thời Nguyễn trong cái nhìn vận động của cấu trúc văn hóa Việt Nam thời trung đại” in trên Tạp chí Hán Nôm năm 2011 có đoạn viết “Thơ
đời Lý chủ yếu là các bài kệ của các Thiền sư Thơ của các vua Trần (Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông ) chủ yếu đề cập đến chủ đề Thiền với ngôn ngữ phác thực giản dị mang biểu tượng Thiền Có thể xem thơ của họ là bước chuyển tiếp từ thơ có nhiều yếu tố của ngữ lục thời Lý sang thơ có nhiều yếu tố của ngôn ngữ sách vở hơn của nho sĩ thời Trần mà thơ của Chu Văn An, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trung Ngạn, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh được xem là những đại diện tiêu biểu nhất.”
Bài viết của Trần Thị Băng Thanh “Tập thơ Giới Hiên thi tập của
Nguyễn Trung Ngạn” đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 1-2012 có đề cập đến
cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trung Ngạn; điểm qua những nét tổng quát
về nội dung và đặc điểm thơ Nguyễn Trung Ngạn Bên cạnh, bài viết còn lý giải sự ảnh hưởng nhất định của chiều sâu lịch sử đối với những sáng tác của Nguyễn Trung Ngạn trong thời gian ông đi sứ ở xứ người
Nguyễn Đăng Na trong “Về bài Quy hứng của Nguyễn Trung Ngạn”
đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 3/2012 có đoạn “Hoàng Việt thi tuyển gồm sáu
quyển do Bùi Huy Bích soạn, Hi Văn Đường khắc, Nguyễn Tập viết tựa Trong quyển hai, tờ 8a có bài Quy hứng của Nguyễn Trung Ngạn, theo thất tuyệt nhưng 2 vần bằng cách dòng 1-3” Bài viết nêu lên cách hiểu bài thơ có
vài ý khác so với cách hiểu trước đây về một vài từ ngữ
Có thể nói, cho đến nay việc nghiên cứu về Nguyễn Trung Ngạn đã không còn xa lạ, theo như chúng tôi thấy có đến hơn vài chục công trình, bài viết có liên quan đến ông Những thành tựu đó là rất quý để người viết luận văn này tuiếp thu, kế thừa trong khi triển khai nội dung đề tài
Trang 193 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu cuộc đời và chủ
yếu là thơ văn hiện còn của Nguyễn Trung Ngạn Cái khó khăn là Giới Hiên
thi tập hiện chưa được xuất bản trọn vẹn, chúng tôi lại không đọc được trực
tiếp văn bản thơ chữ Hán là một trở ngại để tìm hiểu tác phẩm, nên trong quá
trình triển khai đề tài luận văn, chúng tôi xin dựa vào các bộ sách sau: Hoàng
Việt thi tuyển của Tồn Am Bùi Huy Bích (bản dịch của Trung tâm Nghiên
cứu Quốc học), Ảnh hưởng Hán văn Lý - Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ
Nguyễn Trung Ngạn của Nguyễn Tài Cẩn (53 bài thơ), trong các bộ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập 2, do Đinh Gia Khánh, Bùi Văn Nguyên,
Nguyễn Ngọc San biên soạn, và trong bộ Tổng tập văn học Việt Nam, tập 2,
do Trần Lê Sáng chủ biên Riêng bộ Thơ văn Lý - Trần, 3 tập, của Viện Văn
học thì rất tiếc là không có trích tuyển thơ Nguyễn Trung Ngạn, bởi tập 2,
quyển hạ chưa xuất bản Phạm vi là tìm hiểu nội dung và nghệ thuật trong tập
thơ
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để triển khai đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu văn học sử: cụ thể là phương pháp phân tích
và phương pháp tổng hợp Trên cơ sở những gì đã phân tích chúng tôi sẽ dùng phương pháp tổng hợp để khái quát, hệ thống vấn đề Bên cạnh, trong lúc triển khai đề tài, luận văn còn sử dụng thao tác thống kê, phân loại
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: chúng tôi dùng phương pháp này để tìm hiểu những nét tương đồng, dị biệt trong thơ văn Nguyễn Trung Ngạn qua
so sánh bút pháp, đề tài, v.v mục đích tiếp cận đối tượng theo nhiều hướng khác nhau nhằm tìm ra những đặc điểm quan trọng
Trang 20- Vận dụng thi pháp học: nhằm đi sâu vào những hình thức nghệ thuật, ngôn từ để tìm hiểu và cảm nhận sâu hơn về giá trị nội dung cảm hứng cũng như tìm hiểu nghệ thuật thơ Nguyễn Trung Ngạn
5 ĐÓNG GÓP CHÍNH CỦA LUẬN VĂN
Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những thành tựu đã có, với đề tài này lần đầu
tiên Nguyễn Trung Ngạn và Giới Hiên thi tập của ông được chúng tôi tìm
hiểu một cách hệ thống toàn diện, đầy đủ và chuyên sâu trên phương diện nội
dung cảm hứng và những biểu hiện nghệ thuật
6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần Dẫn nhập trình bày những vấn đề chung, trọng tâm của luận văn gồm có ba chương như sau:
Chương 1: Xã hội Đại Việt từ thịnh Trần sang vãn Trần và tác gia Nguyễn Trung Ngạn (24 trang, từ trang 17 đến 41)
Chương 2: Giới Hiên thi tập nhìn từ nội dung cảm hứng (51 trang, từ
trang 42 đến 93)
Chương 3: Giới Hiên thi tập nhìn từ nghệ thuật biểu hiện (35 trang, từ
trang 94 đến 129)
Cuối cùng là phần Kết luận, Tài liệu tham khảo với 104 danh mục
Chương 1, luận văn tìm hiểu về bối cảnh lịch sử, lai lịch tiểu sử tác giả, như là nền tảng, để sang chương 2 nghiên cứu về những nội dung cảm hứng chính, và sang chương 3 tìm hiểu về nghệ thuật thơ Nguyễn Trung Ngạn
Trang 21CHƯƠNG MỘT
XÃ HỘI ĐẠI VIỆT TỪ THỊNH TRẦN SANG VÃN TRẦN
VÀ TÁC GIA NGUYỄN TRUNG NGẠN
1.1 XÃ HỘI ĐẠI VIỆT TỪ THỊNH TRẦN SANG VÃN TRẦN
Nhà Trần (1225-1400) tồn tại trong 175 năm, là một trong những triều đại thịnh trị trong lịch sử dân tộc Đây là triều đại hào hùng với truyền thống chống giặc ngoại xâm, là triều đại in đậm chiến tích khi ba lần đại thắng quân Nguyên-Mông Thời đại lẫy lừng đó luôn ngân vang cùng với những tên tuổi: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Thủ Độ, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải… mãi là niềm tự hào lớn cho lịch sử nước Việt Trong giai đoạn thịnh Trần, Đại Việt là một quốc gia phát triển hùng mạnh, uy thế lẫy lừng, nhà Nguyên (Trung Quốc) và các nước lân bang đều kính nể Kết thúc chiến tranh, vương triều phong kiến nhà Trần lãnh đạo toàn dân đoàn kết xây dựng, khôi phục kinh tế Trần Phu, sứ giả nhà Nguyên, năm
1293 sang nước ta có làm bài thơ “An Nam tức sự” có câu ca ngợi cảnh Đại Việt như sau: “Lúa mỗi năm chín 4 lần; Tuy vào giữa mùa đông mà mạ vẫn
mườn mượt” Hay Uông Đại Uyên, một tác giả đời nhà Nguyên đã từng viết:
“Nước Đại Việt đất rộng, người đông, khí hậu thường nóng, ruộng đất phì nhiêu”
Đây là giai đoạn mà triều đình trung ương đã có nhiều chính sách thúc đẩy các mối quan hệ xã hội phát triển Các vua đời Lý - Trần đều có nhiều chính sách khuyến khích nông nghiệp: đắp đê, trị thủy, bảo vệ mùa màng
Chẳng hạn: “Năm 1118, vua Lý cho đắp đê Cơ Xá Tiếp theo nhà Lý, nhà
Trần đã từng bước phát triển và củng cố các hệ thống đê ở các sông, đặc biệt
Trang 22là sông Nhĩ Hà, lại đặt ra những chức Hà đê chánh sứ, phó sứ để chuyên coi việc đào kênh ngòi, đắp đê đập nhằm phục vụ giao thông và thủy lợi” [72,71]
Năm 1248, vua Trần ra lệnh cho các lộ đắp đê đầu nguồn sông ra đến biển Tiếp đến năm 1255 vua sai Lưu Miễn đi sửa đắp các đê tại Thanh Hoa, nhà
nước còn có quy định: “hàng năm vào tháng giêng hoặc khi mùa màng rỗi
rãi, tất cả nhân dân không phân biệt sang hèn, già trẻ đều phải đi đắp đê, học sinh Quốc tử giám cũng không được miễn” [72,117] Qua đó có thể thấy một
đất nước thuần nông như nước ta, việc việc triều đình quan tâm, chú trọng phát triển nông nghiệp là một chính sách đúng đắn và đúng hướng Bên cạnh
đó, nhiều chính sách khai khẩn đất hoang, mở rộng diện tích canh tác cũng được quan tâm chú trọng, chính sách “ngụ binh ư nông” áp dụng từ thời nhà
Lý cũng đã được nhà Trần kế thừa, góp phần đảm bảo lương thực cho quốc gia khi đất nước có ngoại xâm, nhất là từ phương Bắc tới
Giáo dục được xem là một trong những mấu chốt quan trọng trong việc phát hiện, đào tạo cũng như tuyển chọn nhân tài cho quốc gia nên dưới đời Trần rất được quan tâm, đề cao và khuyến khích Trong việc tuyển chọn nhân tài vào bộ máy chính quyền, nhà Trần ngày chú trọng đến việc khảo thí hơn là
đề cử, tiến cử hoặc thế tập Những người tuy không đỗ đạt cao nhưng có tài cũng được triều đình cất nhắc và trọng dụng, trường hợp Đoàn Nhữ Hài là một ví dụ Bàn về việc dùng người tài Phan Huy Chú, một sử gia đầu đời
Nguyễn đã từng nhận định: “Triều Trần dùng người thật là công bằng, tuy đã
đặt khoa mục mà trong việc kén dùng chỉ cốt tài là được, cho nên những nho
sĩ có chí thường được trổ tài mình, không đến nỗi bó buộc, hạn chế về tư cách , chỉ cần người dùng được chứ không câu nệ xuất thân Nhân tài và văn học được thịnh cũng nhờ thế chăng ?” [72, 115]
Năm 1070 vua Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn miếu Năm 1076 vua
Lý Nhân Tông cho xây dựng Quốc tử giám bên cạnh Văn miếu chủ yếu là
Trang 23dùng vào việc dạy học cho các con em của vua, hoàng thân, quan lại đại thần, quý tộc thì đến thời Trần năm 1252 Quốc tử giám được mở rộng tuyển sinh góp phần giúp cho những phần tử xuất sắc trong con em thứ dân cũng được vào học Năm 1397, triều đình đặt các chức quan ở các lộ, phủ, châu nhằm mở rộng việc học ra cả nước Việc mở rộng học hành trong toàn dân đã góp phần đào tạo nên rất nhiều nho sĩ tài năng phục vụ đắc lực cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Đó là một trong nhiều lý do làm cho đất nước hùng cường, đã chiến đấu và chiến thắng kẻ thù hùng mạnh phương bắc đến nhiều lần, làm cho kẻ thù khiếp đảm, kinh hồn bạt vía khi nghe nhắc đến Nam chinh thì chỉ biết lặng lẽ “ngậm ngùi” buồn và có lẽ cũng nhờ thế mà Đại Việt thời Trần đã tạo dựng cho mình một công trạng hiển hách, đầy hiên ngang và
rất đỗi hào hùng trong dòng chảy của lịch sử dân tộc
Từ sau chiến thắng Nguyên - Mông lần thứ ba (1288), đất nước về cơ bản
là thái bình, họa xâm lăng từ phương Bắc không còn đáng lo ngại nữa nhưng hoạ chiến tranh ở biên giới phía Nam thi thoảng vẫn diễn ra, thêm vào đó lúc này nội bộ triều đình lại có nhiều rối ren Các danh tướng một thời đánh Nam dẹp Bắc, làm quân thù khiếp sợ, thì trong thời bình lại sa vào hưởng thụ, chỉ
lo cho điền trang thái ấp của mình, có khi vơ vét bóc lột nhân dân, không quan tâm đến lợi ích của quốc gia dân tộc Trường hợp của danh tướng Trần Khánh
Dư là một ví dụ Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Nhân Huệ Vương Trần Khánh
Dư từ Bài Áng vào chầu, người trong trấn kiện Trần Khánh Dư tham lam thô
bỉ Hành khiển đem sự trạng tâu lên Trần Khánh Dư nhân đó tâu vua:
‘Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ?’ Vua không hài lòng Trần Khánh Dư bèn trở về Trần Khánh Dư vào chầu không quá 4 ngày đã trở về vì sợ ở lâu bị vua khiển trách” [55, 91]
Chính những mâu thuẫn nội bộ, những tranh giành về quyền lực của các phe phái trong hoàng tộc và trong triều đình là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự
Trang 24phá vỡ khối đại đoàn kết trong tôn thất nhà Trần Vụ biến Trần Quốc Chẩn là một minh chứng chua xót:
Bấy giờ, vua ở ngôi 15 năm, tuổi đã cao mà chưa lập Thái tử Cha hoàng hậu là Quốc Chẩn giữ ý định đợi hoàng hậu có con rồi sẽ lập Thái tử Cương Đông Văn Hiến hầu là con (có sách chép là em) của Tá Thánh Thái sư Nhật Duật, muốn đánh đổ hoàng hậu để lập hoàng tử Vượng, mới đem 100 lạng vàng đút lót cho gia thần của Quốc Chẩn là Trần Phẫu, bảo nó vu cáo Quốc Chẩn âm mưu phản loạn Vua tin là thực giam Quốc Chẩn ở chùa Tư Phúc rồi đem việc ấy hỏi Thiếu bảo Trần Khắc Chung Khắc Chung cùng cánh với Văn Hiến lại cùng mẹ với Vượng, đều là người Giáp Sơn và đã từng làm thầy dạy thái tử Trần Vượng, liền trả lời: ‘Bắt hổ thì dễ, thả hổ thì khó’ Vua mới cấm tiệt không cho ăn uống, bắt phải tự tử Hoàng hậu lấy áo tẩm nước cho Quốc Chẩn uống, uống xong thì chết Nhà vua ra lệnh bắt bớ đến hơn trăm người liên quan Mỗi khi xử án, bị can phần nhiều đều kêu oan Vài năm sau, gặp khi vợ cả, vợ lẽ tên Phẫu ghen nhau, đem chuyện Văn Hiến đút vàng tâu lên vua Phẫu bị hạ ngục Ngục quan Lê Duy là người cương trực xét xử ngay ngày hôm ấy Tên Phẫu bị lăng trì, nhưng chưa kịp hành hình thì gia nô Thiệu Võ (không rõ tên) đã ăn sống hết cả thịt của nó Văn Hiến được miễn tội chết, bị giáng làm dân thường, xoá tên trong sổ hoàng tộc [55, 142]
Câu chuyện ấy là dấu hiệu khởi đầu cho sự suy tàn của triều đại nhà Trần Qua đó chứng tỏ danh lợi, quyền thế, sự hưởng lạc, lòng phản trắc đang chiếm ưu thế trong tâm lý tư tưởng của con người trong xã hội ở giai đoạn cuối thịnh Trần sang vãn Trần
Trang 25Ngay như chuyện sinh hoạt của nhà vua trong triều cũng là một đề tài đáng phải bàn luận, việc chữa bệnh kỳ quái của Trâu Canh và việc thông dâm loạn luân của nhà vua với chị ruột cũng bị sử sách ghi lại và phê phán một
cách nặng nề Đại Việt sử ký toàn thư chép:
Trâu Canh thấy vua bị liệt dương, dâng phương thuốc nói rằng giết đứa
bé con trai, lấy mật hoà với dương khởi thạch mà uống và thông dâm với chị hay em ruột của mình thì sẽ hiệu nghiệm Vua làm theo, thông dâm với chị ruột là công chúa Thiên Ninh, quả nhiên công hiệu Canh từ đấy được yêu quý hơn, được ngày đêm luôn ở trong hậu cung hầu hạ thuốc thang Canh liền thông dâm với cung nữ, việc phát giác, Thượng hoàng định bắt Canh chết, nhưng vì có công chữa khỏi bệnh cho vua nên được tha” [55,165] Ngay trong
tôn thất họ Trần chỉ vì mắc lỗi tư thông với cung nữ mà bị giết Đại Việt sử ký
toàn thư chép:
Bảo Uy Vương Hiến có tội bị đuổi ra làm Phiêu Kỵ tướng quân trấn Vọng Giang, rồi bị giết ở sông Vạn Nữ, lộ Trường Yên Buổi đầu dựng nước, thuyền buôn nước Tống sang dâng người nước Tiểu Nhân, thân dài bảy tấc, tiếng như ruồi nhặng, không thông ngôn ngữ, lại dâng một tấm vải hoả hoãn (loại vải chống lửa), giá mỗi thước ba trăm quan tiền, lưu truyền làm của quý Sau đem may áo vua, cắt hơi ngắn, sai cất trong nội phủ Bảo Uy tư thông với cung nhân lấy trộm áo ấy Một hôm Bảo Uy mặc áo ấy vào trong rồi vào hầu, tâu việc trước mặt Thượng hoàng, để lộ ống tay áo ra Thượng hoàng trông thấy có ý ngờ, cho người kiểm xét lại, quả nhiên chiếc áo cất giữ đã mất Người cung nhân sai người thị tỳ già đến nhà Bảo Uy vương lấy áo đem về, rồi ngầm đem vào cung dâng trình Thượng hoàng không nỡ giết, đuổi Bảo Uy vương
ra làm quan ở trấn ngoài Đến sông Vạn Nữ, sai vũ sĩ đi thuyền nhẹ đuổi giết, vứt xác vào bãi cát rồi về, giáng làm Bảo Uy hầu [55,163]
Trang 26Sự xa hoa lúc này đã trở nên quá mức, việc thăng chức, thưởng phạt cho quan lại phải dựa vào công trạng giúp nước nhưng Dụ Tông lại dựa vào tài uống rượu mà phẩm định, Dụ Tông còn gọi bọn nhà giàu vào cung đánh bạc
một cách công khai tạo tiền đề xấu cho dân chúng xem thường luật pháp: “Lại
cho các nhà giàu trong nước, như ở làng Đình Bảng ở huyện Bắc Giang, làng Nga Đình thuộc Quốc Oai vào cung đánh bạc làm vui Có tiếng bạc đặt tới
300 quan tiền, ba tiếng thì đã gần ngàn quan rồi.” [55,177]
Dưới triều Dụ Tông chính sự ngày càng sa sút, lũ lụt hạn hán liên tục xảy
ra, dân ngày càng nghèo đi khiến nông dân bất mãn khởi nghĩa chống lại triều đình Thế nhưng, trái lại Dụ Tông thì ngày càng xa hoa chỉ ham hưởng lạc Sử chép việc phung phí làm hồ trong vườn ngự ở hậu cung như sau :
Mùa đông, tháng 10, đào hồ ở vườn ngự trong hậu cung Trong
hồ xếp đá làm núi, bốn mặt đều khai ngòi cho chảy thông nhau Trên bờ
hồ trồng thông, tre và các thứ hoa thơm cỏ lạ Lại nuôi chim quý, thú lạ trong đó Phía tây hồ trồng hai cây quế, dựng điện Song Quế Lại gọi tên điện là điện Lạc Thanh, tên hồ là hồ Lạc Thanh Lại đào một hồ nhỏ khác Sai người Hải Đông chở nước mặn chứa vào đó, đem các thứ hải vật như đồi mồi, cua, cá nuôi ở trong hồ Lại sai người Hoá Châu chở
cá sấu đến thả vào đó Lại có hồ Thanh Ngư để thả cá thanh phụ Đặt chức Khách đô để trông coi Giáp Thìn, Đại Trị năm thứ bảy (1364) Mùa xuân, tháng hai, xây dãy khách lang ở Tây điện, thẳng đến cửa Hoàng Phúc Mùa hạ, tháng 4, gọi Chánh chưởng phụng cung Vĩnh An
là Bùi Khoan cùng uống rượu Khoan lập mẹo uống vờ hết 100 thăng rượu, được thưởng tước 2 tư Tháng 5, vua đi hóng gió chơi trăng Vì uống rượu quá say, lại lội xuống sông tắm nên bị ốm Sai quan thầy thuốc là bọn Trâu Canh thay nhau hầu thuốc thang [55,178-179]
Trang 27Sau khi Dụ Tông băng, Thái hậu đã trao giang sơn cho Dương Nhật Lễ:
“Nhật Lễ tiếm vị, rượu chè dâm dật, hàng ngày chỉ rong chơi, thích các trò hát xướng, muốn đổi lại họ là họ Dương Người tôn thất và các quan đều thất vọng” [55, 186] Lúc này là giai đoạn đen tối nhất trong triều đại nhà Trần
Cung Định Vương Trần Phủ cùng hoàng tộc bày kế tiêu diệt Dương Nhật Lễ rồi lên ngôi (1370) hiệu là Trần Nghệ Tông Ông là vị vua tuy giỏi văn chương thi phú nhưng cương nghị, quyết đoán lại không đủ Chính điều này là nguyên dẫn đến việc hàng loạt các vị vua bị phế truất, bị giết Quyền lực dần
dần tập trung vào tay Hồ Quý Ly Phan Phu Tiên viết: “Nhà Trần từ sau khi
Dụ Tông hoang dâm phóng túng, lại thêm Chiêm Thành xâm lược, quấy rối thì giặc cướp rất nhiều Chúng cướp của bắt người giữa ban ngày, pháp luật không thể ngăn cấm được Quý Ly nắm quyền cai trị, tìm cách lùng bắt mới hạn chế được phần nào!” [55,233]
Từ bao đời nay Chiêm Thành là nước được ta bảo hộ, hằng năm phải triều cống nhưng đến giai đoạn này giặc Chiêm Thành dám ngang nhiên cướp
phá kinh thành, khiến vua phải lo sợ sai người chở vàng vào núi cất giấu Đại
Việt sử ký toàn thư ghi:
Mùa đông, tháng 10, giấu tiền ở khám Khả Lãng, Lạng Sơn, là vì
sợ nạn người Chiêm đốt cung điện Sử thần Ngô Sĩ Liên bàn: Thiên tử có
cả bốn bể, kho tàng, phủ khố đâu phải là của mình? Đương nhiên nước nhà nhàn hạ thì làm tỏ chính hình, sửa sang lễ nghĩa, ví như con chim đi lấy rễ dâu ràng buộc cửa tổ, thì ai làm nhục mình được? Thế mà sợ tai nạn Chiêm Thành đốt cướp, đem chở tiền của giấu tận hang cùng núi thẳm, làm kế tránh giặc, thật là nhử giặc đến, chuốc lấy tiếng chê cười ở đời sau Có thể coi là cả nước không còn người nữa vậy! [55,208]
Trang 28Thế lực của Hồ Quý Ly lúc này đã rất lớn lấn áp cả vua, đoạn sau trong
Đại Việt sử ký toàn thư minh chứng rõ hơn về điều này: “Thượng hoàng chiêm bao thấy Duệ Tông đem quân đến và đọc bài thơ như sau:
“Trung gian duy hữu xích chuỷ hầu,
Ân cần tiếm thượng bạch kê lâu
Khẩu vương dĩ định hưng vong sự, Bất tại tiền đầu tại hậu đầu”
(Ở giữa có loài mỏ đỏ, Lăm le lấn lên đầu gà trắng
Khẩu vương đã định việc hưng vong, Không ở trước mà ở về sau)
Thượng hoàng tự mình chiết tự đoán là: “xích chuỷ” là Quý Ly, “bạch kê” là Thượng hoàng, vì thượng hoàng tuổi Tân Dậu; “khẩu vương” là chữ quốc; chữ nước còn hay mất sau sẽ thấy Thượng hoàng suy nghĩ về giấc chiêm bao này lung lắm, nhưng thế không thể làm gì được nữa” [55,233]
Vua Trần Thiếu Đế bị Quý Ly tiếm ngôi bằng chiêu thoái vị để tu đạo
Sử viết năm Mậu Dần, Quang Thái năm thứ 11 tức năm 1398, mùa xuân, tháng 3, ngày 15, Quý Ly bức vua phải nhường ngôi cho hoàng tử An Quý
Ly có ý cướp ngôi nhưng đã trót thề với Nghệ hoàng rồi, sợ trái lời thề ngầm
sai đạo sĩ Nguyễn Khánh ra vào trong cung, thuyết phục vua rằng: “cõi tiên
thanh nhã, thơm tho, khác hẳn phàm trần, Liệt thánh triều ta chỉ thờ đạo Phật, chưa có ai đi theo chân tiên Bệ hạ được tôn ở ngôi cửu ngũ, nhưng muôn việc khó nhọc, chi bằng truyền ngôi cho Đông cung để giữ khí hư hoà
[55,242] Vua nghe lời, rồi Khánh làm lễ tâu ghi vào sổ phụng đạo vào cõi tiên Quý Ly làm cung Bảo Thanh ở phía tây nam núi Đại La, mời vua tới ở
Trang 29đó Vua bèn nhường ngôi cho Hoàng thái tử Hồ Quý Ly bức tử con rể của mình, tức vua Thuận Tông, tranh đoạt vương quyền dưới chiêu bài nhiếp chính Đây là một kết cục bi thảm mà con cái nhà Trần phải gánh chịu, việc này gợi nhớ đến Trần Thủ Độ cũng bức tử vua nhà Lý để đoạt vương triều về tay họ Trần Khi hoàng thái tử An lên ngôi được hai năm thì Hồ Quý Ly phế truất làm Bảo Ninh Đại Vương, do ông là cháu ngoại Hồ Quý Ly nên không
bị giết, sau đó Quý Ly tự lên ngôi lập nên nhà Hồ Cơ nghiệp nhà Trần, một triều đại vốn một thời huy hoàng với những chiến công chống ngoại xâm hiển hách, tồn tại một trăm bảy mươi lăm năm đến đây thì chấm dứt
Nhà Trần mất ngôi là bởi các vua thời vãn Trần không chú trọng vào việc
an dân Triều đình có an dân thì mới tạo được khối đoàn kết để làm nên sức mạnh tổng hợp Sức dân như sức nước, nước có thể đẩy thuyền nhưng cũng có thể làm lật thuyền Sau này, lúc nhà Hồ bị nhà Minh sang xâm lược thì câu nói của Tả Tướng quốc Hồ Nguyên Trừng như là một mô tả sống động về sức
mạnh của lòng dân: “Thần không sợ đánh chỉ sợ lòng dân không theo thôi!”
Đấy là một trong những kinh nghiệm quý báu cho hậu thế mai sau noi theo Bên cạnh đó, một lý do khác cũng khiến nhà Trần sụp đổ là vì luật pháp thiếu
sự nghiêm minh và cứng rắn
Thời vãn Trần, vua chúa, quan lại suy thoái về đạo đức diễn ra một cách nặng nề nhất Sự tranh đoạt quyền thế, tham danh, vụ lợi là đặc điểm chung dùng để mô tả giai cấp quan lại, quý tộc bấy giờ Lúc này, giai cấp thống trị đắm chìm trong sự hoang lạc, ham thụ hưởng Những nơi thanh nghiêm, trang trọng trước đây như chốn Thiền môn, cửa Phật thì nay cũng bị ảnh hưởng gây xáo trộn Số lượng tăng lữ thì gia tăng một cách nhanh chóng bởi họ xem nhà chùa là nơi vụ lợi, trốn lính, tránh đời chứ không phải tìm đến để mà mộ đạo, tham Thiền Chính vì vậy, triều đình cần phải có những chính sách mới nghiêm khắc hơn những triều vua trước nhất là khi Hồ Quý Ly giữ chức Tể
Trang 30tướng kiêm Phụ chính đại thần Ý thức Nho giáo dần dần chiếm thế áp đảo, Phật giáo lúc này đã suy yếu đi rất nhiều Nhiều nho sĩ phê phán Phật giáo rất cực liệt và mạnh mẽ như trường hợp của Trương Hán Siêu, Lê Quát… Lê Quát từng làm bài văn bia tại chùa Thiệu Phúc, thôn Bái ở Bắc Giang có đoạn
phê phán Phật giáo: “Thuyết họa phúc của nhà Phật tác động tới con người,
sao mà được người ta tin sâu sắc và bền vững đến như thế? Trên từ vương công, dưới đến dân thường, hễ bố thí vào việc nhà Phật, thì dẫu đến hết tiền của cũng không sẻn tiếc Nếu ngày nay gởi gắm vào tháp chùa thì mừng rỡ như nắm được khoán ước để lấy quả báo ngày sau Cho nên trong từ kinh thành, ngoài đến châu phủ, cho tới thôn cùng ngõ hẻm, không có mệnh lệnh
mà người ta vẫn theo, không thề thốt mà người ta vẫn tin Chỗ nào có người
ở, tất có chùa Phật, bỏ rồi lại xây, hỏng rồi lại sửa, chuông trống lâu đài chiếm đến nửa phần so với dân cư, đạo Phật hưng thịnh rất dễ mà được rất mực tôn sùng Ta thuở trẻ đọc sách, để tâm khảo xét xưa nay, cũng hiểu sơ sơ đạo của thánh nhân để giáo hóa dân chúng mà rốt cuộc vẫn chưa được một hương tin theo Ta thường dạo xem núi sông, vết chân trên khắp nửa thiên hạ,
đi tìm những “Học cung”, “Văn miếu” mà chưa hề thấy một ngôi nào! Đó là điều ta vô cùng hổ thẹn với bọn tín đồ nhà Phật Bèn viết ra đây để tỏ lòng ta”
[55,192]
Từ 1341 trở đi, dưới thời vãn Trần, chiến tranh loạn lạc khiến cho dân khốn khổ, lầm than Quan lại người có tài đức, có chí khí nhưng chốn triều đình là nơi hiểm ác, vua u mê không nghe lời can thẳng chỉ ham chuộng kẻ xu thời nịnh thế nên không làm gì được Những nhân tài như: Chu Văn An, Phạm Sư Mạnh, Lê Quát, Hồ Tông Thốc, Nguyễn Tử Thành, Phạm Nhân Khanh, Chu Khắc Nhượng, Chu Đường Anh, Nguyễn Phi Khanh, Phạm Ngộ, Phạm Mại… cũng đành bó tay ngậm ngùi Chu Văn An là thầy của hai vị vua,
khi dâng Thất trảm sớ nổi tiếng xin chém bảy kẻ nịnh thần được vua yêu
Trang 31nhưng không được chấp thuận nên ông đã cáo quan về núi ở ẩn Trong xã hội phong kiến quân chủ chuyên chế, vua là tối thượng, vua sáng bề tôi giỏi là yếu
tố quyết định để xã tắc vững bền, nhân dân no ấm, yên vui; vua hèn mà tôi giỏi thì bề tôi thường chịu uất ức, tâm trạng uất ức ấy khó lòng giãi bày được Ngay cả hoàng thân quốc thích danh giá, cũng là người học thức uyên thâm như Băng Hồ tướng công Trần Nguyên Đán cũng đành xuôi tay bất lực trước
thời cuộc trắng đen lẫn lộn
Thái uý Trang Định vương Trần Ngạc đã viết bài thơ tặng Tư Đồ Chương Túc Quốc thượng hầu Trần Nguyên Đán có câu rằng:
Ngã thị đương niên khí vật, Công phi đại hạ kỳ tài
Hội thủ nhất ban lão bệnh, Điền viên tảo bệnh quy lai
(Ngày nay tôi là đồ bỏ, Ông không tài lạ cứu đời
Cùng một lớp già đau ốm, Ruộng vườn sớm liệu về thôi!) [55, 213]
Bởi lúc ấy Hồ Quý Ly đang giữ binh quyền, các bậc hiền nhân quân tử đành mượn lời thơ để bày tỏ tâm trạng, giãi bày nỗi niềm, lo lắng cho thời thế nhiễu nhương Chính thời cuộc như vậy nên trong thơ văn thời vãn Trần không còn có cái giọng hào sảng như trong thời thịnh Trần Thời thịnh Trần các tác giả vừa là nhà trí thức lớn vừa giữ những vị trí khác nhau: đó là những
vị vua anh minh như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, hoặc những danh tướng lẫy lừng trên chiến trường như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão hoặc những
Trang 32Thiền sư lỗi lạc như Tuệ Trung Thượng sĩ, Pháp Loa, Huyền Quang… Nội dung thơ văn thời thịnh Trần chủ yếu là thơ văn kháng chiến chống giặc, thơ Thiền, thơ trữ tình Hồi này, Phật giáo thịnh đạt nên cuối đời các vị vua thường vào núi tu hành Nhưng từ thời vãn Trần tính từ vua Dụ Tông trở đi (1341) không có vị vua nào nối gót tổ tiên cả
Có thể thấy, sang giai đoạn vãn Trần, xã hội Đại Việt đã có những đổi thay lớn lao làm cho ý thức con người giai đoạn này đã có những biến chuyển
rõ rệt Chính yếu tố thời đại đã tạo ra những tác phẩm mang sắc thái nội dung khác xa so với giai đoạn trước đó Nếu như trước đây là tâm trạng hào hứng, xông pha vào hiện thực, thì trong giai đoạn này nhiều tác phẩm vừa có nét bi
ai, vừa phảng phất nỗi buồn man mác như muốn thoát li xa lánh hiện thực Tất
cả là tiền đề để tạo nên cảm hứng thời thế, cảm hứng nhàn dật trong văn chương
1.2 CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP NGUYỄN TRUNG NGẠN
Đến nay đã có nhiều công trình, bài viết về Nguyễn Trung Ngạn và thông qua đó cũng dần hé lộ nên những điều còn nghi vấn trong cuộc đời nhà thơ Ở đây, chúng tôi chỉ xin nêu lại những thành tựu mà các bậc tiền bối đã làm
Về phần tiểu sử hành trạng của Nguyễn Trung Ngạn thì trong các bộ sách
sử xưa nay có đề cập nhưng lại nằm tản mác khắp nơi, và nói về ông tập trung
hơn cả là trong hai bộ tài liệu Thứ nhất là bộ Đại Việt sử ký toàn thư, ở phần Bản kỷ, kỷ nhà Trần, quyển 6 và quyển 7; Thứ hai là bài Giới Hiên tích lịch kí trong Giới Hiên thi tập, ký hiệu A.601, thư viện Viện Hán Nôm [3, 10] Dựa
vào hai tài liệu này có thể phát thảo một cách tương đối cơ bản về phần hành trạng, tiểu sử nhà thơ Theo đó thì quê quán Nguyễn Trung Ngạn là làng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi (nay là huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên) Nguyễn Trung Ngạn tự là Bang Trực, hiệu là Giới Hiên, biệt hiệu Ái Sơn Giả
Trang 33Về năm sinh, trong các bộ chính sử có ghi chép và trong giới học thuật xưa nay đều cho rằng Nguyễn Trung Ngạn sinh năm 1289 Nhưng gần đây
theo Đinh Khắc Thuân trong một bài viết đăng trên tạp chí Xưa và nay số 327,
tháng 3-2009 thì năm sinh của cụ Nguyễn đúng hơn phải là năm Canh Dần
1290 Đinh Khắc Thuân đã căn cứ theo tài liệu gia phả Nguyễn Trung Ngạn ở Thổ Hoàng, và ông cho rằng, Nguyễn Trung Ngạn với tính cách khí khái, công trạng hiển hách và nhiều thăng trầm như thế thì phù hợp với tuổi Canh Dần hơn là tuổi Kỷ Sửu, và điều quan trọng theo Đinh Khắc Thuân là “tư liệu
trong gia phả này hoàn toàn phù hợp với chính sử” Thiết nghĩ, xét đến cùng
đó chỉ là suy đoán của Đinh Khắc Thuân và những suy đoán ấy cũng chưa thật
thuyết phục, bởi lẽ có một căn cứ chắc chắn là sách Đại Việt sử ký toàn thư
chép khoa thi Đại Tỷ năm Giáp Thìn (1304), Nguyễn Trung Ngạn đỗ Hoàng giáp, lúc này ông 16 tuổi (tuổi âm) Từ đó suy ra ông sinh kỷ sửu 1289
Về năm mất, trong rất nhiều tài liệu ghi ông mất vào năm 1370, nhưng
trong bài viết “Đôi điều cần đính chính lại” của Nguyễn Công Lý đăng trên tạp chí Hán Nôm, số 3 năm 1997 thì năm mất Nguyễn Trung Ngạn chính xác
phải là năm 1369, thọ 81 tuổi, bởi tác giả căn cứ vào nhiều cứ liệu khác nhau
mà chính sử đã ghi chép để chứng minh và khẳng định như trên [xin xem: 41] Giới nghiên cứu cho rằng Nguyễn Trung Ngạn là dòng dõi thuộc hậu duệ của Trạng nguyên Nguyễn Hiền Vấn đề này vẫn còn nhiều nghi vấn Trong
một bài viết của Đinh Khắc Thuân đăng trên tạp chí Xưa và nay số tháng
3-2009 thì theo sự nghiên cứu tìm hiểu và so sánh đối chiếu, Đinh Khắc Thuân
đã đưa ra kết luận “Nguyễn Trung Ngạn là tổ thứ ba tính từ Trạng nguyên
Nguyễn Hiền, tổ thứ hai là Nguyễn Công Đức” [92, XI] mà trong cuốn gia
phả họ Nguyễn Công tại làng Bình Thọ, xã Thái Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An cho rằng Nguyễn Công Đức tức Nguyễn Trung Ngạn là do có sự nhầm lẫn
Trang 34Nguyễn Trung Ngạn đỗ Hoàng giáp năm 1304 khi mới 16 tuổi, đương thời gọi là thần đồng Ông đỗ đạt “vào thời điểm tầng lớp nho sĩ đã giành
được một vị trí xứng đáng trong bộ máy chính quyền nhà Trần” [91, XXX],
ông đậu cùng khoa với Mạc Đĩnh Chi (Trạng nguyên), Bùi Mộ (Bảng nhãn), Trương Phóng (Thám hoa), tất cả có 44 người đỗ Thái học sinh Sự kiện này
đã được Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại như sau: “Tháng 3, thi kẻ sĩ trong
nước Ban cho Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi chức Thái học sinh Hỏa dũng thủ, sung làm Nội thư gia; Bảng nhãn Bùi Mộ chức Chi hậu bạ thư mạo sam, sung làm Nội lệnh thư gia; Thám hoa Trương Phóng chức Hiệu thư quyền miện, sung làm Nhị tư; Nguyễn Trung Ngạn đỗ Hoàng giáp; Tất cả 44 người
đỗ Thái học sinh Dẫn ba người đỗ đầu ra cửa Long môn của Phượng thành
đi du ngoạn đường phố 3 ngày Còn 330 người khác thì ở lại học tập Trung Ngạn mói 16 tuổi, đương thời gọi là thần đồng” [55, 109] Ông được xem là
một bậc kỳ tài trong giai đoạn ấy, song khi đậu Hoàng giáp khoa Đại Tỷ năm
đó không thấy tài liệu chính sử ghi chức quan mà Nguyễn Trung Ngạn đảm nhiệm, chỉ biết rằng ông có bảy năm ở ẩn không chịu ra làm quan (1304-
1311), vua Anh Tông có làm bài thơ Chiêu ẩn và ông có họa lại bài thơ từ
chối không vâng mệnh Về điều này, giới nghiên cứu từ trước tới nay, trong
đó có ý kiến của Nguyễn Tài Cẩn cho rằng: bảy năm Nguyễn Trung Ngạn không ra làm quan là do vấn đề về lý lịch dòng họ không “sạch”, và ở đây chúng tôi xin mạn phép đưa ra thêm một nghi vấn nữa là: liệu sau khi đỗ Hoàng giáp năm 1304, lý do mà ông không ra làm quan có phải là ông không thích dính dáng vào chính trường hay không và sự đi thi năm ấy phải chăng là mang một sự thúc ép của gia đình, xã hội hay vì một lý do gì khác nữa Sở dĩ chúng tôi nói thế vì khi xem thơ ông chúng tôi nhận thấy có nhiều lần ông mong tìm một sự tự do, sống một cuộc sống an nhiên tự tại, ông ước ao với
cái mộng “làm du tử” từ lúc xưa: “Yên thủy sơ đề du tử mộng” (Cùng khói,
Trang 35nước xưa đã cam kết với cái mộng làm du tử” (Lưu biệt Bắc Thành liệt thai)
[5, 227] Điều đó có nghĩa việc ông tham gia chính trường sau đó tức năm
1312, rất có thể là do một bức thư của vua từ kinh đô gởi cho ông, mà theo ông, đó là một nơi chỉ làm cho mình thêm “cái danh nổi mà thôi”, sau này có lần ông xem đó như là một sai lầm vì vướng vào cái nợ hư danh đó và có thể trong suy nghĩ của ông chính trường là nơi đấu đá thường xảy ra tranh chấp Những điều ấy được ông bộc lộ trong một vài câu thơ sau:
Sơ cuồng tự tiếu thủ phù danh, Mậu điếm trưng thư thướng đế kinh
(Gàn dở tự cười mình đã mắc cái danh nổi,
Đã sai lầm vì bức thư vời mà lên chốn đế kinh.)
(Lưu biệt Bắc Thành liệt thai) [3, 228]
Nguyễn Trung Ngạn từng làm bài thơ nói về mình như sau:
Giới Hiên tiên sinh lang miếu khí, Diệu linh dĩ hữu thốn ngưu chí
Niên phương thập nhị Thái học sinh, Tài đăng thập lục sung Đình thí
Nhị thập hựu tứ nhập Gián quan, Nhị thập hựu lục Yên kinh sứ
Dịch thơ: Giới Hiên tiên sinh tài lang miếu,
Có chí nuốt trâu từ niên thiếu
Tuổi mới mười hai Thái học sinh, Vừa đến mười sáu dự thi Đình
Trang 36Hai mươi bốn tuổi làm quan Gián, Hai mươi sáu tuổi sứ Yên kinh
[55, 139]
Năm 1312 ông ra nhận làm Gián quan (một chức quan trong Ngự sử đài) Tháng ba năm Giáp Dần, niên hiệu Hưng Long thứ 22 (tức năm1314), vua Anh Tông nhường ngôi cho hoàng Thái tử Mạnh (Minh Tông hoàng đế), đổi niên hiệu là Đại Khánh năm thứ nhất, xưng là Ninh Hoàng, tôn Thượng hoàng
là Quang Nghiêu Duệ Vũ Thái Thượng Hoàng đế, sứ Nguyên sang làm lễ đọc Quốc thư Chính vì sự kiện này, nên cuối năm Giáp Dần (khoảng tháng 10 năm 1314), triều Trần sai Nguyễn Trung Ngạn và Phạm Mại sang nhà Nguyên đáp lễ Năm 1315, năm Ất Mão, Đại Khánh nhị niên, cả đoàn xuất phát, đến khoảng hơn giữa năm 1317 thì cả đoàn đã về lại kinh đô Thăng Long, tổng thời gian đi sứ là trên một năm rưỡi [3, 43]
Nguyễn Trung Ngạn làm quan dưới 4 triều vua: Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông, Dụ Tông, là một trong những đại quan rất được vua tin cẩn giao cho nhiều chức vụ khác nhau Ông thường được giao cho những việc khó khăn mà ít người có thể làm được, ví như việc được triều đình giao đi sứ sang nhà Nguyên đáp lễ mà trong đó có ghi lại chuyện của sứ giả nước ta (ngày nay được cho là của Nguyễn Trung Ngạn) có một câu trả lời rất mạnh mẽ và khôn
khéo mà sách Đại Việt sử ký toàn thư có chép lại, thể hiện quốc uy của nước Đại Việt Khi vua nhà Nguyên hỏi: “Tôi nghe nói thế tử vẻ người thanh tú,
nhẹ nhõm như thần tiên đúng không?” Sứ (Nguyễn Trung Ngạn) ta trả lời:
“Đúng như thế, song cũng là tiêu biểu cho phong thái cả nước” [55, 124],
một câu nói đầy thâm ý Hay như Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại việc ông
phụng chỉ tiếp sứ nhà Nguyên là Mã Hợp Mưu và Dương Tông Thụy năm
1324 như sau: “Vua Nguyên sai Mã Hợp Mưu, Dương Tông Thụy sang báo
Trang 37tin lên ngôi và trao cho 1 quyển lịch Bọn Mưu đi ngựa đến tận đường ở cầu tây Thấu Trì không xuống Những người biết tiếng Hán, vâng lệnh tiếp chuyện, từ giờ Thìn đến giờ Ngọ, khí giận càng tăng Vua sai Thị ngự sử Nguyễn Trung Ngạn ra đón Trung Ngạn lấy lẽ bẻ lại, Hợp Mưu đuối lý, phải xuống ngựa bưng chiếu đi bộ Vua rất hài lòng” [55, 137] Sự việc này cho
thấy một điều rất đáng chú ý: ngoài tài năng thông hiểu kinh thư, Nguyễn Trung Ngạn còn là một người giỏi ứng đối, lời lẽ cứng cỏi và mạnh mẽ nên mới làm sứ thần nhà Nguyên “đuối lý đến như vậy” Đây có thể là nguyên nhân chính khiến ông được triều đình giao trọng trách làm Gián quan trong khi ông còn rất trẻ (tức năm 1312, lúc mới 24 tuổi), Gián quan là một chức quan ở Ngự sử đài có nhiệm vụ can gián vua, đàn hặc các quan làm sai trái, chức quan này thường được giao cho những người đỗ đại khoa, có uy tín, có tuổi đời và kinh nghiệm dày dặn
Sau đó, vì bàn việc trái ý vua nên ông bị đổi ra làm Thông Phán ở châu Viêm Lãng, nhưng ít lâu sau được tiếng là chính sự giỏi nên được thăng làm Thiêm tri Thánh Từ cung sự Sử ghi ông nổi tiếng thông minh, giỏi chính sự nhưng có tật hay sơ xuất nên bị giáng chức, chẳng hạn vụ Bảo Vũ Vương
được ban tước Tạo Y thượng vị hầu, điều này Đại Việt sử ký toàn thư có ghi lại: “Trung Ngạn có tính hay sơ xuất Bấy giờ Bảo Vũ Vương được ban tước
Tạo y thượng vị hầu, Trung ngạn ghi sổ, lại xếp vào hàng Tử y Vua thương
có tài, vả lại cũng là do lầm lỡ, không bắt tội, nên đuổi ra làm quan bên ngoài” [55, 139]
Mùa đông năm Khai Thái thứ 16 tức năm 1329, Thượng hoàng Trần Minh Tông đi tuần thú đạo Đà Giang, đích thân Trần Minh Tông đi đánh man Ngưu Thống, sai Thiêm tri Nguyễn Trung Ngạn theo để biên soạn thực lục Trong chiến dịch này, Thượng hoàng hiệu lệnh nghiêm minh, uy thanh vang dội, quân Ai Lao nghe tiếng chạy tan rã vì khiếp sợ
Trang 38Mùa xuân, tháng hai, ngày 15, năm Nhâm Thân, phụ táng Thuận Thánh Bảo Từ Hoàng thái hậu vào Thái Lăng Tháng ba năm ấy, Nguyễn Trung Ngạn được cử vào Nội mật viện phó sứ, giữ sổ sách ở nội sảnh cung Quan Triều Đến tháng bảy ông lại được cử làm Tri thẩm hình viện, kiêm An phủ sứ Thanh Hóa Ông lập Bình doãn đường xét xử ngục tụng, xét xử nghiêm minh, không ai bị xử oan hoặc xử quá đáng [55, 153]
Mùa xuân năm Giáp Tuất (1334), Thượng hoàng Trần Minh Tông tuần thú đạo Nghệ An, đích thân đi đánh Ai Lao Nguyễn Trung Ngạn được lấy làm Phát vận sứ Thanh Hóa, vận tải lương thực đi trước Khi Thượng hoàng
xa giá tới châu Kiềm (tức Mật Châu, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An) Quân Ai Lao nghe tin chạy trốn Thượng hoàng Minh Tông sai ông mài vách
núi khắc chữ ghi công rồi về “Tấm bia mài ở vách núi ghi công này được Đại
Nam nhất thống chí ghi là “Ma nhai kỷ công bi văn” tức bia mài vách núi ghi
công Theo tài liệu Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Nxb KHXH, HN, 1992,
mục từ số 1901 thì bia này có khổ rộng 1m45 × 2m15, không có hoa văn trang
trí Toàn văn chữ Hán gồm 16 dòng, 155 chữ Theo Việt sử thông giám cương
mục thì “bài bia ấy, chữ to bằng bàn tay, khắc vào đá, sâu vào một tấc đến nay hãy còn” [19, XXVI]
Tháng 9, năm Đinh Sửu (1337), ông được đổi sang làm An phủ sứ Nghệ
An, kiêm Quốc sử viện Giám tu quốc sử, hành Khoái Châu lộ Tào vận sứ Nguyễn Trung Ngạn kiến nghị lập Tào thương chứa thóc tô để chẩn cấp dân
bị đói kém, mất mùa Sáng kiến này của ông được triều đình đánh giá cao, xuống chiếu cho các lộ bắt chước theo mà làm tại địa phương mình
Năm Tân Tỵ, mùa Xuân năm 1341, triều đình tin cẩn gọi Nguyễn Trung Ngạn về kinh, cử ông làm Đại doãn Kinh sư Thăng Long (tức Đại An phủ Kinh sư, chức này được đổi từ Bình Bạc ty ở Kinh sư mà thành, từ tháng ba
Trang 39năm Ất Sửu (1265) triều vua Trần Thánh Tông (1258-1278), đứng đầu bộ máy cai trị kinh đô của nước ta thời bấy giờ Đây chính là một trong những vinh dự rất lớn giành cho Nguyễn Trung Ngạn lúc đó, bởi những người được triều đình giao trọng trách giữ chức Đại doãn Kinh sư đều là những bậc hiền tài, danh tiếng lẫy lừng, được triều đình hết sức tin cậy như Kiểm pháp quan Trần Thì Kiến từng giữ chức này vào năm 1297, hay Ngự sử đại phu Trần Khắc Chung đã nhậm chức này vào năm 1298, v.v Quá trình xét duyệt quan lại đề cử vào chức vụ này cũng rất khó khăn, trải qua nhiều gian lao thử thách,
Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại qua trình này như sau: “Theo chế độ trước, An phủ sứ qua trị nhậm các lộ, đủ lệ khảo duyệt thì vào làm An phủ sứ Thiên Trường, lại đủ lệ khảo duyệt nữa thì bổ làm việc ở Thẩm hình viện, rồi mới được làm An phủ sứ Kinh sư” [55, 43]
Tháng 7, năm Nhâm Ngọ (1342), ông được phong lên chức Hành khiển tri Khu mật viện sự; cùng lúc Trương Hán Siêu cũng được đề bạt làm Tả ty lang trung kiêm Kinh lược sứ Lạng Giang Theo quy chế cũ, cấm quân thuộc
về Thượng thư sảnh, nhưng đến đây đặt Khu mật viện để quản lãnh Trung Ngạn chọn đinh tráng các lộ bổ sung vào ngạch thiếu của cấm quân, định thành sổ sách Và cũng từ lúc này, Khu mật viện quản lãnh cấm quân bắt đầu
từ Nguyễn Trung Ngạn
Đến năm Tân Mão (1351), lại thăng Nguyễn Trung Ngạn lên làm Nhập nội Hành khiển, nhưng vẫn coi việc tại Khu mật viện Tháng 11, mùa đông năm này, vua Dụ Tông ngự điện Thiên An, duyệt cấm quân ở Long Trì, ban cho Nguyễn Trung Ngạn mặc chiến bào, đội mũ võ, đeo thẻ bài gỗ, nghiên vàng để duyệt cấm quân, định loại hơn kém
Bốn năm sau, tức năm Thiệu Phong thứ 15 (1355), vào tháng 9 năm ấy, Nguyễn Trung Ngạn được giao kiêm giữ các chức: Kinh lược sứ trấn Lạng
Trang 40Giang, Nhập nội đại Hành khiển, Thượng thư hữu bật, Thị Kinh diên đại học
sĩ, Trụ quốc Khai huyện bá Có thể nói trong thế hệ trí thức làm quan trọng yếu ở thế kỷ XIV thì Nguyễn Trung Ngạn là nổi bật hơn ngay lúc đương thời [86, 738] Nguyễn Trung Ngạn là một trong những đại quan tài năng vào hàng bậc nhất, là một trong những trí thức được vua tín nhiệm cử giữ nhiều chức vụ khác nhau như trên đã đề cập Bên cạnh, ông còn là một nhà chính trị tài ba, bởi ở đâu trên đất nước ta hồi ấy có loạn lạc, dân tình đói kém, hoặc việc cai trị khó khăn là nhà vua tín nhiêm cử ông đến trị nhậm Ví như giữ chức An phủ sứ Thanh Hoa (1326), An phủ sứ Nghệ An (1337), Kinh lược sứ Lạng Sơn, Bắc Giang (1355) Với tài năng như thế, Nguyễn Trung Ngạn được giao
nhiều trọng trách quan trọng khác như là soạn bộ Hoàng triều đại điển và
Hình thư cùng với danh nho Trương Hán Siêu: “Năm Tân Tỵ (1341) Mùa xuân lấy Nguyễn Trung Ngạn làm Đại doãn Kinh sư Sai Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn biên soạn bộ ‘Hoàng triều đại điển’ và khảo soạn bộ
‘Hình thư’ để ban hành” [55, 159] Tiếc thay những tác phẩm ấy đến nay
phần lớn không còn
“Thông qua một số chức quan của Nguyễn Trung Ngạn cho thấy hoạn lộ của ông khá hanh thông, nhất là từ năm 1326 Tuy không thuộc dòng dõi tôn thất nhưng so với các bạn đồng liêu xuất thân từ tầng lớp Nho sĩ, chức vụ và tước phẩm của Nguyễn Trung Ngạn đã đạt đến tột đỉnh Điều đó thể hiện tài năng vượt trội của ông trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là tài năng về chính trị”
[62, XXXII] Nguyễn Trung Ngạn thọ hơn 80 tuổi, được đánh giá luôn “giữ
trọn tiếng tốt không phụ là bậc Nho giả” Về thơ, ông còn để lại cho đời Giới Hiên thi tập được đánh giá rất cao Ngày nay, để ghi nhớ công ơn, ở Hà Nội
có bảy nơi lập đền thờ ông