1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ nội dung giải phóng phụ nữ trong chủ nghĩa mác lênin đến thực tiễn vấn đề bình đẳng giới ở việt nam hiện nay

145 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời đã góp phần rất quan trọng trong việc giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ mà ngày nay theo cách gọi của các nhà khoa học hiện đ

Trang 1

HUỲNH ÁI HẬU

TỪ NỘI DUNG GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ

TRONG CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN ĐẾN THỰC TIỄN VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013

Trang 2

HUỲNH ÁI HẬU

TỪ NỘI DUNG GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ

TRONG CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN ĐẾN THỰC TIỄN VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Triết học

Mã số : 60.22.80

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN SINH KẾ

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa được ai công bố, dưới sự hướng dẫn của TS NGUYỄN SINH KẾ Tư liệu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN, TƯ TƯỞNG

HỒ CHÍ MINH, ĐẢNG CỘNG SẢN VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ, THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI 11

1.1 KHÁI NIỆM GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ VÀ BÌNH ĐẲNG GIỚI QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ, THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG

GIỚI 11 1.1.1 Khái niệm giải phóng phụ nữ và bình đẳng giới 11 1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vị trí, vai trò của phụ nữ 20 1.1.3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nguồn gốc của bất bình đẳng nam nữ và con đường giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới 33 1.2 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH, ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VÀ CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ, THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI 47 1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới 47 1.2.2 Đường lối của Đảng Cộng sản và chính sách của Nhà nước Việt Nam

về giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới 52

Kết luận chương 1 60 Chương 2 VẤN ĐỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ, THỰC HIỆN BÌNH

ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 62

2.1 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ, THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG

GIỚI Ở VIỆT NAM 62 2.1.1 Những thành tựu, hạn chế trong sự nghiệp giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam 62

Trang 5

2.1.2 Nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế trong sự nghiệp giải phóng

phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam 93

2.2 ĐỊNH HƯỚNG VÀ NHỮNG NHÓM GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN TỐT SỰ NGHIỆP GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ, THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 113 113

2.2.1 Một số định hướng nhằm giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay 113

2.2.2 Những nhóm giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt sự nghiệp giải phóng phụ nữ, tiến tới bình đẳng giới 117

Kết luận chương 2 133

KẾT LUẬN CHUNG 135

TÀI LIỆU THAM KHẢO 138

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Vấn đề con người và giải phóng con người luôn là đối tương nghiên cứu

của chủ nghĩa Mác - Lênin Có thể nói rằng, toàn bộ học thuyết Mác - Lênin

là học thuyết về con người và giải phóng con người Một trong những nội dung làm nên sức sống, sự trường tồn và khả năng phát triển của chủ nghĩa Mác chính là quan niệm về con người và giải phóng con người của

C.Mác và Ph.Ăngghen Các ông không hề dành riêng một tác phẩm lý luận

nào để bàn về con người và giải phóng con người, song, không một tác phẩm

nào, các ông lại không đề cập đến vấn đề này Các ông luôn đặt ra cho mình

nhiệm vụ phát hiện ra những tiền đề và điều kiện thiết yếu, khách quan cho

việc phát triển bản tính con người một cách thực sự tốt đẹp Phát triển con

người, giải phóng con người là điều kiện không thể thiếu để phát triển xã hội,

là mục đích cuối cùng mà nhân loại cần phải đạt tới Chính C.Mác đã khẳng

định chủ nghĩa cộng sản là một xã hội mà cùng với sự phát triển mạnh mẽ của

lực lượng sản xuất, của lao động xã hội, sự phát triển toàn diện của con người

sẽ trở thành hiện thực

Lịch sử xã hội đã chứng minh rằng sự tiến bộ của xã hội sẽ chậm lại nếu

trong xã hội có một bộ phận đông đảo người bị áp bức bóc lột, quyền con người bị hạn chế hoặc bị loại trừ Quyền con người đã từng là vấn đề

xuyên suốt của các cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc trong lịch sử, và

cho đến nay nó vẫn là một trong những vấn đề nổi bật của thời đại chúng ta

Quyền con người, dĩ nhiên trước hết là quyền cho mỗi cá nhân, quyền được

khẳng định mình là một chủ thể với những quyền lợi, nghĩa vụ như mọi người

khác Thế nhưng, loài người đã từng vạch đôi xã hội, một nửa là đàn ông, nửa kia là đàn bà, trong đó đàn bà đã từng bị hạn chế hoặc bị loại trừ khỏi

những quyền con người cơ bản Chính vì lẽ đó, vấn đề giải phóng con người,

Trang 7

đặc biệt là giải phóng phụ nữ luôn được các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa

quan tâm và ngày nay nó là vấn đề chung của toàn nhân loại, bởi lẽ quan tâm

đến phụ nữ cũng có nghĩa là quan tâm đến nguồn lực có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người

Vấn đề giải phóng phụ nữ đã được đặt ra từ rất lâu Từ giữa thế kỷ XIX,

chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời đã góp phần rất quan trọng trong việc giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ (mà ngày nay theo cách gọi

của các nhà khoa học hiện đại ở Việt Nam là bình đẳng giới) như là một trong

những nội dung của cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng xã hội, giải phóng con người Đây cũng là một trong những đóng góp vĩ đại của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với sự phát triển của khoa học giới trên thế giới

nói chung và ở Việt Nam nói riêng

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, phụ nữ luôn

giữ vị trí quan trọng và có những cống hiến to lớn, góp phần xây dựng truyền thống vẻ vang của dân tộc, đồng thời cũng tạo nên truyền thống của

chính giới mình Ngày nay, xây dựng và phát triển nhân tố phụ nữ trong

xã hội tương xứng với vai trò to lớn của họ là yêu cầu khách quan, là nội dung

quan trọng trong chiến lược của Ðảng Phải khẳng định rằng, 83 năm qua,

kể từ ngày thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (10/1930) đến nay (10/

2013), Nhà nước đã đặc biệt quan tâm và đánh giá cao sự cống hiến của phụ nữ trong quá trình phát triển xã hội Phụ nữ đã nhận thức được vai trò,

trách nhiệm của mình, không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ

chính trị, năng lực chuyên môn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình

Họ không chỉ là người mẹ hiền đảm đang giữ gìn hạnh phúc gia đình, mà còn

là những nhà khoa học, nhà giáo, nhà lãnh đạo tài năng ở cương vị cao trong

các cơ quan Đảng, Nhà nước Họ là chủ những doanh nghiệp, là những

doanh nhân ưu tú, những “Bông hồng vàng” trong vườn hoa khoe sắc

Trang 8

Đúng như lời dạy của Bác về việc nêu gương người tốt việc tốt

“Mỗi người tốt, việc tốt là một bông hoa đẹp, cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp”

Nhìn chung, trong những năm qua việc thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về bình đẳng giới đã đạt được những thành tựu bước đầu rất đáng ghi nhận Địa vị của người phụ nữ Việt Nam ngày càng được khẳng định và đề cao bởi những đóng góp to lớn của họ trong thành tựu chung của cả nước Tuy nhiên, xuất phát từ những nguyên nhân khách quan

và chủ quan nên sự nghiệp giải phóng phụ nữ, thự hiện bình đẳng giới vẫn còn một số hạn chế nhất định Tư tưởng "trọng nam khinh nữ", định kiến giới còn tồn tại phổ biến, nạn bạo hành đối với phụ nữ, tác phong gia trưởng, chuyên quyền, độc đoán của không ít đàn ông, sự thiếu bình đẳng trong việc

ra các quyết định lớn như đầu tư sản xuất, định hướng hôn nhân, nghề nghiệp cho con cái vẫn đang tồn tại ở không ít nơi, trong nhiều gia đình Mặt khác, xã hội và gia đình chưa thực sự nhìn nhận, đánh giá hết những cống hiến của phụ

nữ cũng như những khó khăn của họ, về mặt nào đó còn nặng về huy động, khai thác sự đóng góp của phụ nữ mà chưa coi trọng đúng mức việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của cuộc sống Chính những điều này đã và đang làm chậm quá trình thực hiện mục tiêu công bằng xã hội và bình đẳng giới ở nước ta hiện nay

Tình hình trên đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận về giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới một cách thấu đáo từ quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin đến thực tiễn Việt Nam, góp phần khẳng định và tìm ra những điều kiện cơ bản, giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện công cuộc giải phóng phụ nữ, phát huy vai trò phụ nữ trên tất

cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Đó là nhiệm vụ vừa cơ bản, lâu dài, vừa

Trang 9

có ý nghĩa thời sự cấp bách, đòi hỏi sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, mà

trước hết là các ngành, các cấp, các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu vấn đề

này Chính thực tế trên đã thôi thúc học viên chọn đề tài: "Từ nội dung

giải phóng phụ nữ trong chủ nghĩa Mác - Lênin đến thực tiễn vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay" làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành

Triết học của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề giải phóng phụ nữ từ lâu đã được nhiều nhà tư tưởng và các nhà

kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin quan tâm nghiên cứu và được đề cập rất

sớm trong nhiều tác phẩm, điển hình như: Mác - Ăngghen - Lênin về giải

phóng phụ nữ (1967) của nhà xuất bản Sự thật đã phân tích, tổng hợp, luận

chứng một cách hệ thống nhưng cũng không kém phần cụ thể những quan

điểm lý luận của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác về tình cảnh, địa vị, vai trò,

khả năng, cũng như những bước đi để giải phóng phụ nữ trong xã hội tư bản

chủ nghĩa đầy rẫy bất công và bóc lột lúc bấy giờ; Bác Hồ với sự nghiệp giải

phóng phụ nữ (1990) của nhà xuất bản Phụ nữ chủ yếu tập hợp những bài

viết, những bài nói chuyện của Bác về vấn đề phụ nữ, từ đó thể hiện được sự

đánh giá cao về vai trò của người phụ nữ và vai trò của bình đẳng nam nữ

trong sự nghiệp phát triển chung của đất nước Ngoài ra còn có những tác

phẩm lý luận quan trọng của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin như: Tình

cảnh của giai cấp lao động ở Anh; Gia đình thần thánh; Tuyên ngôn của

Đảng Cộng sản; Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước;

Chủ nghĩa tư bản và lao động nữ…Trong những tác phẩm này, các nhà kinh

điển đã dành một sự phân tích tỉ mỉ và đầy chất cách mạng, khoa học về sự

nghiệp giải phóng phụ nữ trong lý luận chung về sự nghiệp giải phóng giai

cấp vô sản và nhân dân lao động

Trang 10

Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ những ngày đầu của cách mạng cũng dành sự quan tâm thích đáng trong việc đề ra chủ trương, đường lối, chính sách nhằm giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự tài trợ của các tổ chức quốc tế, sự tâm huyết của các nhà khoa học, một số vấn đề lý luận và thực tiễn nghiên cứu phụ nữ đã được đặt ra, xem xét và có hướng giải quyết đúng đắn Nhiều cuộc Hội thảo khoa học ở các Trung tâm nghiên cứu đã đi vào các khía cạnh khác nhau về vai trò của phụ nữ như những công trình:

Thực trạng gia đình Việt Nam và vai trò của phụ nữ trong đình (1990); Gia đình, người phụ nữ và giáo dục gia đình (1993); Gia đình Việt Nam trong

sự nghiệp đổi mới đất nước và vấn đề xây dựng con người (1995); Đánh giá

sự tiến bộ của phụ nữ từ 1985-1995 (1995); Nâng cao năng lực về giới trong giáo dục và đào tạo (2009) Những công trình trên đã chỉ ra thực trạng về vai

trò của phụ nữ trong gia đình, ngoài xã hội ở nước ta, nêu lên những kiến nghị nhằm thay đổi và bổ sung những chính sách xã hội đối với phụ nữ để họ có điều kiện phát huy hết vai trò của mình trong sự nghiệp đổi mới Giáo sư Lê

Thị Nhâm Tuyết với quyển Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại đã làm nổi bật

vai trò phụ nữ Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, từ buổi đầu dựng nước đến những năm 1968

Nhiều công trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước về vai trò của

phụ nữ trong gia đình như: Vai trò của gia đình trong sự hình thành và phát

triển nhân cách con người Việt Nam do Giáo sư Lê Thi làm chủ nhiệm; Phụ

nữ, giới và phát triển (1996) của tác giả Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng; Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam(1998) của Giáo sư

Lê Thi; Luận cứ về khoa học cho việc đổi mới chính sách xã hội đối với phụ

nữ và gia đình do Phó giáo sư Trần Thị Vân Anh làm chủ nhiệm Tất cả

những công trình trên đều phản ánh những thay đổi về vai trò của phụ nữ

Trang 11

trong gia đình và bước đầu đã có một số kiến nghị nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong gia đình và trong công cuộc đổi mới Ngoài ra còn có các luận

văn, luận án như Bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn đồng bằng sông

Hồng hiện nay (2002) của tác giả Chu Thị Thoa; Gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong gia đình hiện nay của tác giả Dương Thị Minh; Học thuyết Mác - Lênin về phụ nữ và liên hệ với thực tiễn hiện nay ở nước ta

(2002) của tác giả Lê Ngọc Hùng Đó là những tác phẩm, luận văn, luận án bước đầu đặt cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu phụ nữ và gia đình theo phương pháp tiếp cận giới - một phương pháp nghiên cứu mới mẻ nhưng lại rất hiệu quả Các công trình nghiên cứu kể trên là những tư liệu tham khảo hết sức quan trọng giúp học viên hoàn thành đề tài luận văn

Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta, những nghiên cứu chuyên sâu các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về phụ nữ còn rất ít Trong thư mục các công trình nghiên cứu và bài viết đã công bố, xuất bản của Trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ có rất ít ấn phẩm chuyên bàn về vấn đề giải phóng phụ nữ Trước tình hình đó, học viên chọn

đề tài: "Từ nội dung giải phóng phụ nữ trong chủ nghĩa Mác - Lênin đến

thực tiễn vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay"với mong muốn được

góp một phần công sức nhỏ bé vào sự nỗ lực chung của toàn xã hội đối với

sự nghiệp giải phóng phụ nữ cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn

3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của luận văn

Mục đích của luận văn

Trên cơ sở làm rõ những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới, luận văn tập trung phân tích thực trạng vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp chủ yếu

Trang 12

nhằm giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trong thời kỳ quá độ lên

chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay

Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được mục đích đề ra, tác giả luận văn tập trung giải quyết những

nhiệm vụ sau đây:

- Trình bày những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề

giải phóng phụ nữ và làm rõ sự vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề

giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới của Chủ tịch Hồ Chí Minh và

Đảng Cộng sản Việt Nam

- Làm rõ thực trạng vấn đề giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới

ở Việt Nam hiện nay

- Đề xuất những nhóm giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện sự nghiệp

giải phóng phụ nữ, tiến tới bình đẳng giới trong tình hình hiện nay

Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đề tài nghiên cứu tiến trình giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng

giới của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta trong lịch

sử cũng như hiện nay ở Việt Nam, cả về lý luận và thực tiễn

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về

vấn đề giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới

- Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở thế giới quan và phương pháp

luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: lôgíc và

lịch sử; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp khái quát hóa; phân tích và tổng hợp tư liệu thực tế để giải quyết nhiệm vụ đặt ra Tác giả

Trang 13

luận văn cũng đã kế thừa các công cụ phân tích giới để tìm hiểu, phân tích,

lý giải thực trạng bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay

5 Ý nghĩa khoa học của luận văn

Luận văn đã trình bày một cách hệ thống vấn đề giải phóng phụ nữ,

thực hiện bình đẳng giới trong lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ

Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam Tác giả luận văn bước đầu đã kết hợp

chặt chẽ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và

Đảng Cộng sản Việt Nam với phương pháp tiếp cận giới trong xem xét và lý

giải vấn đề bình đẳng giới, đây được coi là bước phát triển lôgíc của quá trình

nhận thức, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin về giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới để từ cơ sở đó,

luận văn chỉ ra những điều kiện cơ bản và những giải pháp chủ yếu thực hiện

công cuộc giải phóng phụ nữ, tiến tới bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay

Với những đóng góp về mặt khoa học trên đây, luận văn góp phần vào

việc nghiên cứu những vấn đề lý luận đối với công cuộc giải phóng phụ nữ,

thực hiện bình đẳng giới; đồng thời cung cấp thêm các cơ sở khoa học, các căn cứ cho việc hoạch định chiến lược tổng thể và chính sách cụ thể vì sự

tiến bộ của phụ nữ, thực hiện sự nghiệp giải phóng phụ nữ nhằm phát huy mọi

khả năng sáng tạo của họ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,

giảng dạy lý luận môn học Những nguyên Lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng dạy về gia đình, về giới trong

hệ thống các trường Đảng, các trường đào tạo cán bộ nữ và tất cả những

người quan tâm, nghiên cứu vấn đề này

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham

khảo; luận văn được kết cấu thành 2 chương, 4 tiết và 9 tiểu tiết

Trang 14

Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN,

1.1.1 Khái niệm giải phóng phụ nữ và bình đẳng giới

Khái niệm giải phóng phụ nữ

Vấn đề giải phóng phụ nữ từ lâu đã được nhiều nhà khoa học quan tâm

nghiên cứu, và cho đến tận ngày nay vấn đề này vẫn được đưa ra xem xét dưới những cách tiếp cận khác nhau Có cách tiếp cận cho rằng, nói đến giải phóng phụ nữ là nói đến địa vị người phụ nữ trong xã hội có giai cấp đối kháng Lại có ý kiến khác cho rằng, giải phóng phụ nữ là vấn đề có tính lịch sử nên trong xã hội có giai cấp đối kháng, giải phóng phụ nữ thực chất là bàn về địa vị người phụ nữ trong xã hội Còn trong xã hội xã hội chủ nghĩa, giải phóng phụ nữ là đề cập đến vai trò phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội Nhìn chung, mỗi cách tiếp cận đều có tính hợp lý của nó, song, một cách

hệ thống và khái quát thì các quan niệm trên đều chưa đạt tới sự khái quát, còn loại bỏ tính phong phú, đa dạng của thuật ngữ này

Khái niệm giải phóng phụ nữ có thể được hiểu một cách đầy đủ và khái

quát như sau: Giải phóng phụ nữ là làm cho phụ nữ thoát khỏi tình trạng bị

áp bức, bóc lột, bất công, thoát khỏi tình trạng bất bình đẳng với nam giới về mặt kinh tế - xã hội, phát huy đầy đủ phẩm giá con người của mình

Chế độ tư hữu xuất hiện trong lịch sử đưa đến tình trạng áp bức giai cấp trong xã hội, đồng thời, cũng đưa đến quyền chi phối của đàn ông trong tổ chức gia đình Trong xã hội phong kiến, phụ nữ nói chung không được giao

Trang 15

những chức trách xã hội, mà chỉ làm công việc trong nhà (nội trợ); phụ nữ bị miệt thị và hoàn toàn không có quyền không chỉ ngoài xã hội, mà cả trong gia đình, thân phận của phụ nữ là phục tùng: "Ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con" Chủ nghĩa tư bản ra đời, có nhu cầu về sức lao động, nêu ra tư tưởng về giải phóng cá nhân, về quyền công dân và quyền con người Xã hội tư bản chủ nghĩa thừa nhận quyền nam nữ bình đẳng, quyền phụ nữ được học hành, làm việc như nam giới, quyền tự do kết hôn Đó là một bước tiến lớn; phụ nữ ngang quyền với nam giới, nhưng vẫn còn phải chịu gánh nặng của công việc trong nhà và lại bị bóc lột nặng nề hơn về kinh

tế (nhân công nữ rẻ hơn nhân công nam); một bộ phận trở thành đối tượng mua bán Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, trình độ giải phóng phụ nữ là một tiêu chí phản ánh trình độ giải phóng xã hội nói chung Muốn thực sự giải phóng phụ nữ thì phải xoá bỏ nguyên nhân kinh tế đẻ ra mọi hình thức áp bức, bóc lột Một mặt, sự kết hôn không còn bị lợi ích tư hữu chi phối; gia đình được xây dựng trên cơ sở bình đẳng giữa nam và nữ về quyền và trách nhiệm Mặt khác, xã hội tổ chức cho phụ nữ được học hành, lao động và cống hiến năng lực, phát triển dịch vụ công cộng để giảm nhẹ các dạng lao động trong nhà, dành thì giờ để nâng cao trình độ văn hoá và phát triển hài hoà nhân cách cho mỗi người

Như vậy, bàn về vấn đề giải phóng phụ nữ là bàn về vị trí, vai trò của phụ nữ trong xã hội và những con đường giải phóng phụ nữ, đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nhằm phát huy vai trò to lớn của phụ nữ trong gia đình cũng như trong xã hội Do vậy, vấn đề giải phóng phụ nữ bao gồm những nội dung sau:

Thứ nhất, giải phóng phụ nữ trước hết là giải phóng về chính trị Bởi vì nước mất, nhà tan, phụ nữ là người bị đọa đày, đau khổ nhất Khi dân tộc đã được giải phóng thì phụ nữ phải có quyền bình đẳng với nam giới trong việc

Trang 16

ứng cử và bầu cử vào các cơ quan dân cử, hệ thống chính trị theo Hiến pháp, pháp luật Muốn giải phóng phụ nữ một cách triệt để thì phải bằng các hình thức thích hợp đào tạo và bồi dưỡng họ trở thành những cán bộ giỏi đủ sức thực hiện tốt nhiệm vụ được giao Các cấp Uỷ Đảng, cơ quan, đơn vị phải quan tâm chăm lo công tác phụ nữ, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ, vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ

Thứ hai, giải phóng về xã hội Phụ nữ được bình đẳng với nam giới trong việc tham gia công việc xã hội Cần phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến

và đầu óc gia trưởng, tư tưởng tư sản, trọng nam khinh nữ Đồng thời phụ nữ phải tự giải phóng, tự vươn lên làm tốt vai trò của mình, chú trọng thiên chức của người phụ nữ trong gia đình Công bằng cho phụ nữ là sự phân công một cách hợp lý công việc đến từng người, tuỳ theo khả năng, hoàn cảnh cá nhân

và sức khoẻ Sự bình đẳng phải được thể hiện trên mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội

Thứ ba, giải phóng về tư tưởng của người phụ nữ Cần xóa bỏ tâm lý tự

ti, đầu óc phụ thuộc của chính người phụ nữ xuất phát từ thân phận người phụ

nữ trong chế độ phong kiến, phát huy phẩm chất truyền thống tốt đẹp của phụ

nữ trong điều kiện xã hội mới, thật sự giải phóng tư tưởng, giải phóng năng lực để người phụ nữ vươn lên làm chủ bản thân, gia đình, làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội Phụ nữ phải vươn lên để bình đẳng với nam giới về trình độ, về năng lực quản lý kinh tế và quản lý xã hội Muốn vậy phụ nữ phải

cố gắng học tập, chủ động, quyết tâm khắc phục khó khăn, phải tự tin, tự lực,

tự cường

Ngày nay, giải phóng phụ nữ vẫn là một nhiệm vụ trọng đại, bức thiết

và có ý nghĩa toàn cầu

Trang 17

Khái niệm giới và đặc điểm của giới

Thuật ngữ “giới” là một thuật ngữ thường được sử dụng trong lĩnh vực khoa học xã hội Thuật ngữ này mới được du nhập vào Việt Nam khoảng 20

năm trở lại đây và được thể hiện theo nhiều cách khác nhau Theo Từ Điển

tiếng Việt - Nhà xuất bản Đà Nẵng thì: “Giới là lớp người trong xã hội phân

theo một đặc điểm rất chung nào đó, về nghề nghiệp, địa vị xã hội” Theo

định nghĩa của tác giả Lê Thị Chiêu Nghi trong cuốn Giới và dự án phát triển

- Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh năm 2001 thì: “Giới bao gồm các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một môi trường xã hội cụ thể, hay nói cách khác, giới là sự khác biệt của phụ nữ

và nam giới trong quan hệ xã hội” Ngoài ra, trong cuốn Xã hội học về giới và

phát triển - Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2000 của hai tác giả

Lê Ngọc Hùng và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Giới dùng để chỉ các đặc điểm, vị trí, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ Hay nói cách khác, giới là khái niệm dùng để chỉ những đặc trưng xã hội của nam và nữ” Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, để thể hiện sự khác biệt về vị thế trong các quan hệ xã hội, khái niệm “đàn bà”, “đàn ông”, “trai”, “gái”, “nam”, “nữ”, “phụ nữ”,

“nam giới” đã được sử dụng trong các bản Hiến Pháp cũng như nhiều văn bản pháp luật khác nhau Lần đầu tiên khái niệm “Giới” được quy định tại Điều 5 khoản 1 Luật Bình đẳng giới: “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”

Như vậy, tuy các khái niệm trên có sự khác nhau về cách diễn đạt,

nhưng nói chung, có thể hiểu một cách khái quát nhất như sau: Giới là khái

niệm dùng để chỉ những sự khác biệt về nam và nữ trong các mối quan hệ xã hội

Có thể thấy, khái niệm “giới” một phần bị quy định bởi các yếu tố, tiền

đề sinh học của giới tính, đồng thời không mang tính bẩm sinh, di truyền mà

Trang 18

bị quy định bởi điều kiện và môi trường sống của cá nhân, được hình thành và phát triển qua hàng loạt các cơ chế bắt chước, học tập, ám thị Giới có thể bị tác động bởi các yếu tố bên trong và bên ngoài, đặc biệt là về điều kiện xã hội, mang tính đa dạng, phong phú cả về nội dung, hình thức và tính chất Các đặc điểm giới thường bộc lộ qua suy nghĩ, tình cảm, hành vi của mỗi cá nhân

và nhóm người Chính vì giới là các đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong các mối quan hệ xã hội nên giới có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, giới được hình thành từ các quan điểm, quan niệm xã hội chứ không tự nhiên sinh ra Giới là sản phẩm của xã hội và hình thành trong môi trường xã hội Ví dụ: từ khi còn nhỏ, trẻ nam đã được dạy dỗ theo quan niệm: con trai thì phải mạnh mẽ, không được chơi búp bê, phải dũng cảm ; trẻ gái thì được dạy: con gái phải dịu dàng, phải giúp mẹ làm công việc nội trợ Như vậy, sở dĩ phụ nữ thường làm nội trợ không phải vì họ là phụ nữ, mà vì

họ đã được dạy bảo để làm công việc đó từ nhỏ

Thứ hai, giới có tính đa dạng Ví dụ: phụ nữ ở các quốc gia Hồi giáo thường chỉ được ở trong nhà làm công việc nội trợ và phụ thuộc hoàn toàn vào nam giới Tại các quốc gia phát triển phương Tây, phụ nữ tham gia nhiều hoạt động cộng đồng, tham gia quản lý kinh tế, hoạt động lãnh đạo

Thứ ba, giới luôn thay đổi theo không gian và thời gian Điều kiện kinh

tế - xã hội nào thì quy định sự khác biệt về giới như thế đó Khi điều kiện kinh

tế - xã hội, văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo, đạo đức, cũng như thể chế

xã hội (bao gồm pháp luật, đường lối, chủ trương, chính sách) thay đổi thì quan hệ giới cũng thay đổi theo Ví dụ, ở Việt Nam thời phong kiến, dưới hệ

tư tưởng Nho giáo, phong kiến, chỉ có nam giới mới tham gia công việc xã hội và công tác quản lý, còn phụ nữ ở nhà nội trợ, ngày nay phụ nữ và nam giới đều tham gia công tác xã hội, san sẻ công việc gia đình, làm nội trợ và chăm sóc con cái

Trang 19

Thứ tư, giới nam (đặc điểm, vị trí, vai trò của nam trong quan hệ xã hội) và giới nữ (đặc điểm, vị trí, vai trò của nữ trong quan hệ xã hội) có thể thay đổi vai trò trong một quan hệ xã hội cụ thể Ví dụ, trong gia đình, phụ nữ thường đảm nhận công việc nội trợ, nhưng nam giới vẫn có thể giặt giũ, chăm sóc con cái, nấu ăn ; ngoài xã hội, phụ nữ thường đóng vai trò cấp dưới và là người thừa hành nhưng phụ nữ vẫn có thể giữ các cương vị như lãnh đạo, tổng thống, chủ tịch nước hay chủ tịch hội đồng quản trị

Khái niệm giới tính và đặc điểm của giới tính

Theo Từ điển Tiếng Việt - Nhà xuất bản Đà Nẵng thì: “giới tính là

những đặc điểm chung phân biệt giữa nam và nữ, giống đực và giống cái”

Theo quan điểm xã hội học trong cuốn Xã hội học về giới và phát triển của

hai tác giả Nguyễn Ngọc Hùng và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Giới tính chỉ đặc điểm sinh học của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội” Với tác giả

Lê Thị Chiêu Nghi trong cuốn Giới và dự án phát triển thì: “Giới tính là sự

khác biệt giữa phụ nữ và nam giới về mặt y - sinh học” Dưới góc độ khoa học pháp lý, giới tính lần đầu tiên được quy định cụ thể tại Điều 5 khoản 2 Luật Bình đẳng giới, theo đó: “Giới tính chỉ đặc điểm sinh học của nam, nữ”

Như vậy, giới tính là khái niệm dùng để chỉ sự khác biệt về đặc điểm sinh học

Trang 20

Thứ ba, giới tính có những biểu hiện về chất có thể quan sát trong cấu tạo, giải phẫu, sinh lý người (giữa nam và nữ có những đặc điểm khác nhau

về gen, cơ quan nội tiết, hoóc môn, cơ quan sinh dục ) Đồng thời, giới tính gắn với một số chức năng sinh học, đặc biệt là chức năng tái sản xuất con người Ví dụ, chỉ có phụ nữ mới có khả năng mang thai, đẻ con và cho con

bú Đó là những đặc điểm không thể thay đổi

Thứ tư, giới tính nam và giới tính nữ không thể thay đổi cho nhau trong một quan hệ xã hội cụ thể

Chính những đặc điểm trên cho chúng ta thấy rõ sự khác biệt giữa khái niệm “giới” và khái niệm “giới tính” Sự phân biệt hai khái niện “giới tính” và

“giới” nhằm phân biệt hai loại đặc điểm của phụ nữ và nam giới: một loại đặc điểm do yếu tố sinh học quy định - đặc diểm giới tính; đặc điểm thứ hai do quan niệm xã hội và sự phân công lao động xã hội tạo nên Từ đó, muốn đạt đến vấn đề bình đẳng giới, tức là bình đẳng xã hội giữa nam và nữ, thì vấn đề không phải là thay đổi các đặc điểm về giới tính, mà cần thay đổi quan niệm

về vị trí, vai trò của phụ nữ và nam giới, cũng như thay đổi cách phân công lao động trong gia đình và ngoài xã hội

Khái niệm và đặc điểm của bình đẳng giới

Bình đẳng giới theo quan điểm xã hội học là sự đối xử ngang quyền giữa hai giới nam và nữ, cũng như giữa các tầng lớp phụ nữ trong xã hội, có xét đến đặc điểm riêng của nữ giới Hay nói cách khác, bình đẳng giới là sự

thừa nhận, sự coi trọng ngang nhau đối với đặc điểm giới tính và sự thiết lập các cơ hội ngang nhau đối với nam và nữ

Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, các thuật ngữ “bình đẳng nam nữ”,

“nam nữ bình quyền” đã được sử dụng trong các văn bản pháp luật để thể hiện sự bình đẳng về địa vị pháp lý của nam nữ trong các quan hệ pháp luật

cụ thể Tuy nhiên, việc nam nữ bình đẳng trong quan hệ pháp lý không bao

Trang 21

hàm sự bình đẳng của nam nữ trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

Để đạt được điều này, cần có một thuật ngữ pháp lý mới: “Bình đẳng giới”

Thuật ngữ này lần đầu tiên được quy định tại Điều 5 khoản 3 Luật Bình đẳng giới Bình đẳng giới được hiểu “là việc nam, nữ có vị trí, vai trò

ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự

phát triển của cộng đồng, của gia đình và từ đó, họ được thụ hưởng như nhau

về thành quả của sự phát triển đó”

Vấn đề bình đẳng giới được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, tuy

nhiên, thực tế cuộc sống cho thấy bất bình đẳng giới vẫn nghiêng chủ yếu về

phụ nữ Đây chính là lý do vấn đề cấp bách cần giải quyết vẫn đặt trọng tâm

vào phụ nữ

Bình đẳng giới là mục tiêu và thước đo tiến độ phát triển của một xã

hội Sự bình đẳng giới được thể hiện ở nhiều phương diện, cụ thể như: nữ và

nam có điều kiên ngang nhau để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong

muốn của mình; nữ và nam có cơ hội ngang nhau để tham gia, đóng góp và

hưởng thụ các nguồn lực của xã hội trong quá trình phát triển; nữ và nam có

các quyền lợi ngang nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Như vậy, bình đẳng giới không chỉ đơn giản là số lượng của phụ nữ và

nam giới, hay trẻ em trai và trẻ em gái tham gia trong tất cả các hoạt động là

như nhau; cũng không có nghĩa là nam giới và phụ nữ giống nhau, mà bình

đẳng giới có nghĩa là nam giới và phụ nữ được công nhận và hưởng các vị thế

ngang nhau trong xã hội Đồng thời, sự tương đồng và khác biệt giữa nam và

nữ cũng được thừa nhận Từ đó, nam và nữ có thể trải nghiệm những điều

kiện bình đẳng để phát huy đầy đủ các tiềm năng của họ, có cơ hội tham gia,

đóng góp và hưởng lợi bình đẳng từ công cuộc phát triển của quốc gia trong

các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội

Trang 22

Bình đẳng giới thể hiện vị trí, vai trò của nam và nữ ngang nhau trong các quan hệ xã hội, do đó, bình đẳng giới có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, tính ngang quyền Để đạt được bình đẳng giới, phụ nữ cần được tạo điều kiện và cơ hội ngang bằng nam giới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Ví dụ, cần có quy định như nhau cho phụ nữ và nam giới về hưởng thụ các quyền và gánh vác các nghĩa vụ Đây là các quy định bình đẳng mang tính tối thiểu để đảm bảo về mặt pháp lý quyền bình đẳng nam nữ (công dân nam nữ đều có quyền học tập, quyền bầu cử, ứng cử, quyền lao động, quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật, có quyền tự do kết hôn và ly hôn )

Thứ hai, tính ưu đãi Do đặc điểm sinh học của phụ nữ khác biệt so với nam giới nên để có thể đạt được sự bình đẳng giới cần có sự đối xử ưu đãi, khuyến khích đặc biệt và hợp lý đối với pụ nữ Ví dụ, phụ nữ phải đảm nhận chức năng sinh đẻ và nuôi con nhỏ, vì vậy pháp luật lao động quy định khi phụ nữ nghỉ thai sản, họ vẫn được hưởng các chế độ trợ cấp thai sản

Thứ ba, tính linh loạt Sự đối xử ưu đãi với phụ nữ cần được điều chỉnh linh hoạt trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể, không mang tính bất biến Ví

dụ, do đặc điểm sinh học của phụ nữ thường có thể chất yếu hơn và sức chịu đựng kém hơn nam giới, vì vậy pháp luật các nước đều có quy định cấm tuyển dụng lao động nữ trong các ngành nghề, lĩnh vực nguy hiểm, nặng nhọc Tuy nhiên, khi khoa học kỹ thuật phát triển, điều kiện lao động được cải thiện thì cần có sự điều chỉnh cho phù hợp nhằm loại bỏ quy định cấm này đối với các ngành nghề, lĩnh vực đã được cải thiện điều kiện lao động, để tạo thêm cơ hội có việc làm cho phụ nữ

Thứ tư, tính phân loại Bình đẳng giới không chỉ xem xét vị thế của phụ nữ và nam giới trong xã hội mà còn xem xét giữa các tầng lớp phụ nữ thuộc các thành phần xã hội khác nhau trong các vùng lãnh thổ khác nhau,

Trang 23

trong phạm vi quốc gia và trên thế giới Ví dụ, quy định tăng độ tuổi nghỉ hưu đối với phụ nữ, thì mặt bằng chung này có thể có lợi cho nữ giới lao động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, giảng dạy nhưng lại bất lợi với phụ nữ trong khu vực lao động nặng nhọc Như vậy, quy định trên chỉ mang lại mặt bằng ưu tiên hạn hẹp, dẫn đến tạo ra phân biệt đối xử trong nữ giới nói chung

Như vậy, bình đẳng giới cần được hiểu dưới các khía cạnh sau:

Thứ nhất, bình đẳng giới không chỉ có ý nghĩa cơ học là số lượng của phụ nữ và nam giới tham gia trong tất cả các hoạt động là như nhau Bình đẳng giới có nghĩa là nam và nữ giới được công nhận và được hưởng các vị thế ngang nhau trong xã hội

Thứ hai, bình đẳng giới không có nghĩa là nhìn nhận nam giới và nữ giới giống y hệt nhau, mà sự tương đồng và khác biệt tự nhiên của nam và nữ được công nhận và có giá trị như nhau Bình đẳng giới có nghĩa là nam và nữ được hưởng các thành quả một cách bình đẳng

Hiểu sâu xa thì bình đẳng giới là vấn đề cơ bản về quyền con người và

là yêu cầu về sự phát triển bền vững Có thể nói, ý nghĩa quan trọng của bình đẳng giới là nam và nữ có thể trải nghiệm những điều kiện bình đẳng để phát huy đầy đủ các tiềm năng của họ, có cơ hội để tham gia, đóng góp vào công cuộc phát triển quốc gia trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội

1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vị trí, vai trò của phụ nữ

Về vị trí, vai trò của phụ nữ trong sản xuất Khi nói đến vị trí người

phụ nữ trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác và Ph.Ăngghen đã tố cáo kiểu bóc lột tư bản chủ nghĩa đối với lao động nữ Vào những năm 1844,

1845, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát hiện ra một xu hướng chung về việc sử dụng lao động của giới chủ tư bản, đó là việc bọn chủ tư bản tăng cường tuyển dụng lao động phụ nữ và trẻ em gái, tất cả là vì mục đích lợi nhuận, vì

Trang 24

lao động của đàn bà và trẻ em rẻ hơn lao động của đàn ông: “Việc dùng máy móc để sản xuất ngày càng loại trừ công việc của nam công nhân….Công việc này không đòi hỏi một sức khỏe nào cả, nhưng nó phải có những ngón tay hết sức nhanh nhẹn Do đó vì sử dụng máy móc mà sự hoạt động của cánh tay, mà việc dốc hết sức lực ra để làm việc, càng bị thay thế bởi sức hơi nước, thì người ta càng không cần dùng đàn ông vào công việc đó – vì thuê đàn bà

và trẻ con còn rẻ hơn.” [12, tr.8] Đây là sự tính toán tinh vi của giới chủ tư bản nhằm đạt được lợi ích kinh tế cao nhất Tính tham lam, bỉ ổi của giai cấp

tư sản đã tạo nên bao nhiêu là bệnh tật: “Phụ nữ không thể sinh đẻ, trẻ con tàn tật, đàn ông yếu đuối xanh xao, chân tay tàn phế, toàn bộ nhiều thế hệ bị hủy hoại, hom hem yếu đuối, tất cả chỉ là để nhét cho đầy túi của giai cấp tư sản”[12, tr 35] - giai cấp vỗ ngực là từ bi và không vụ lợi nhưng thực tế chỉ

có mục đích duy nhất là nhét đầy túi với bất cứ giá nào

Trong tác phẩm Tình cảnh giai cấp công nhân Anh, Ph.Ăngghen đã

chỉ ra rằng: lao động của phụ nữ và trẻ em dưới chủ nghĩa tư bản là thứ lao động rẻ mạt, sử dụng nguồn lao động này, nhà tư bản thu được món lợi kếch sù Các ông chủ tư bản luôn tìm mọi biện pháp để thải hồi nam công nhân và thu hút lao động của phụ nữ và trẻ em để thế chân họ Vì vậy trong các công xưởng tư bản, phụ nữ và trẻ em có khối việc làm, nhưng lại không có việc cho đàn ông Chính vì thuê phụ nữ với giá rẻ cùng với những đức tính “thiên bẩm” (chăm chỉ, dễ bảo…) nên bọn chủ tư bản thích sử dụng đàn bà hơn đàn ông: “Một chủ xưởng cho biết rằng ông ta chỉ toàn dùng phụ nữ để đứng máy dệt thôi, ông thích sử dụng đàn bà có chồng rồi, nhất là những người có gia đình mà họ phải nuôi; họ chăm chỉ hơn và dễ bảo hơn là những người phụ nữ chưa chồng và hơn nữa họ buộc phải làm việc đến chết

để kiếm miếng ăn Chính vì thế mà những đức tính nêu rõ tính chất của người phụ nữ hơn cả lại làm hại họ Những cái gọi là dịu dàng, nết na trong bản chất

Trang 25

của người phụ nữ trở thành công cụ biến họ thành nô lệ và đẩy họ rơi vào sự khốn cùng.”[12, tr 23] Như vậy, trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh cũng như trong giai đoạn độc quyền chủ nghĩa, địa vị người phụ nữ không có gì thay đổi, thậm chí còn tồi tệ hơn Vì muốn cả nhà được ăn

no, mặc ấm, bằng một số tiền hết sức ít ỏi nên chị em hàng ngày phải tính toán chi li, phải đầu tắt mặt tối với công việc, chỉ có sức lao động của mình là không hề tiếc Vì vậy họ sẵn sàng nhận số tiền công hết sức rẻ mạt để kiếm thêm cho bản thân hoặc gia đình một mẩu bánh mì Chính vì những đức tính đặc biệt của phụ nữ đã biến họ thành công cụ, thành nô lệ và làm cho họ ngày càng đau khổ

Bọn chủ tư bản đã bỏ tiền ra mua sức lao động của phụ nữ và bắt họ làm việc đến kiệt sức trong điều kiện không đảm bảo vệ sinh dẫn đến bệnh tật, tử vong Tỷ lệ mắc bệnh của phụ nữ bao giờ cũng cao hơn nam giới C.Mác chỉ rõ: “Trong những nghề nghiệp của phụ nữ như bông, len, lụa và

đồ gốm thì tỷ lệ bình quân chết vì bệnh phổi trong 100 nghìn người đàn bà là

643 người nhiều hơn so với tỷ lệ đàn ông là 610 người” [50, tr 428]

Như vậy, hội chứng “chết vì lao động quá sức” đã xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX đặc biệt là đối với người phụ nữ, điều này đã được các nhà nghiên cứu đặt ra câu hỏi lớn: phải chăng với những điều kiện lao động dưới chủ nghĩa tư bản như vậy phụ nữ mới mắc những chứng bệnh hiểm nghèo? Các ông cũng tìm ra câu trả lời rằng: trong xã hội tư bản chủ nghĩa, có thể nói lao động như nô lệ của phụ nữ đã dẫn đến tình trạng trên Phụ nữ làm việc lẫn lộn với đàn ông, họ làm việc hết sức nặng nhọc trong những điều kiện không phù hợp với sức khỏe và nhân phẩm, C.Mác viết: "Công nhân gồm đàn ông và đàn bà, người lớn và trẻ em thuộc cả hai giới… trong một số ngành thì ban đêm đàn bà và nữ thanh niên làm việc lẫn lộn với đàn ông.” [50, tr.377]

Trang 26

Bọn chủ tư bản bóc lột sức lao động của phụ nữ bằng cách kéo dài thời gian lao động của họ trong môi trường thiếu vệ sinh, thiếu không khí

Họ phải làm việc cật lực trung bình ngày 16 giờ và trong mùa may mặc thì có khi làm một mạch 30 giờ không nghỉ Hậu quả của tình trạng trên dẫn đến sức khỏe suy sụp về tinh thần và thể xác, thậm chí tử vong Động cơ của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là lợi nhuận, là làm giàu nên họ bất chấp tất cả C.Mác viết: “Tất cả các nữ công nhân may mặc, nữ công nhân may thời trang,

nữ công nhân may áo và nữ công nhân may thông thường đều chịu 3 thứ tai họa: lao động quá sức, thiếu không khí và thiếu ăn… Nếu một nữ công nhân may áo tạo ra được một ít khách hàng, thì sự cạnh tranh bắt buộc người đó phải làm việc cho đến chết ở nhà để giữ khách và nhất định phải bắt người giúp việc mình cũng làm quá mức như thế” [50, tr.374]

Không những vậy họ còn phải chịu những điều kiện khắc khổ của cuộc sống, nơi ở rất chật chội, bẩn thỉu, thiếu ánh sáng, thiếu không khí C.Mác đã miêu tả họ phải sinh hoạt trong những điều kiện giống thú vật hơn

là giống người: “Tình trạng chen chúc chật chội đến cao độ hầu như nhất định

phải dẫn đến chỗ bỏ hết mọi thứ lịch sự, chung đụng một cách bẩn thỉu về thân thể và về những chức năng của cơ thể, trai gái lõa lồ, đến nỗi tất cả đều giống như thú vật hơn là giống người”[50, tr.922]

Không những thế bọn chủ xưởng tư bản còn dùng những biện pháp

hà khắc, tàn khốc nhất để bòn rút những khoản tiền phạt giáng vào đầu công nhân, cắt xén từng xu, từng nửa xu của những người vô sản xác xơ để làm tăng thêm lợi nhuận của chúng: “Li-sơ kể lại rằng ông ta nhiều lần thấy nhiều nữ công nhân có mang gần đẻ vì ngồi nghỉ một lát trong thời gian làm việc, mà bị phạt 6 pen-ni”[12, tr.72] Do không khí ngột ngạt của nơi làm việc và nơi ở, do phải thường xuyên ngồi còng lưng gập ngực, do đồ ăn không tốt, khó tiêu và chủ yếu là do thời gian lao động quá dài, thiếu

Trang 27

không khí trong sạch nên sức khỏe họ bị tàn phá ghê gớm: “Không mấy chốc

họ đã thấy mệt mỏi, kiệt sức, suy nhược, ăn mất ngon, đau vai, đau lưng, đau thắt lưng, nhất là đau đầu; sau đó là xương sống bị vẹo, hai vai nhô cao và biến dạng, gầy mòn, mắt sưng, chảy nước mắt và nói chung nhức nhối, cận thị, ho, ngực lép, khó thở và mọi thứ bệnh phụ nữ”[12, tr.134]

C.Mác đã tố cáo sự lợi dụng, sự bóc lột tinh vi, dã man và tàn bạo của chủ nghĩa tư bản Phụ nữ phải lao động nặng nhọc trong những điều kiện hết sức khắc khổ, bị đối xử còn kém hơn cả so với súc vật, họ chẳng có chút địa vị, vai trò nào trong xã hội Chúng ta thấy rõ, ngay ở nước Anh, đất nước của nền đại công nghiệp phát triển rất sớm, nhưng phụ nữ còn phải làm những công việc tốn nhiều sức lực như kéo thuyền thay cho ngựa C.Mác đã miêu tả tình cảnh đó như sau:“Để kéo thuyền dọc sông Đào, thỉnh thoảng người ta vẫn còn dùng phụ nữ thay cho ngựa” [50, tr.568]

Như vậy, dưới chế độ tư hữu, phụ nữ phải chịu đựng một nghịch lý: vai trò thì lớn nhưng địa vị thì thấp hèn cả trong gia đình lẫn ngoài xã hội, họ luôn chịu cảnh bất bình đẳng với nam giới, bị bóc lột, bị tha hóa Trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau, các hình thức bất bình đẳng tuy có thay đổi nhưng bản chất thì không thay đổi Trong các công xưởng tư bản chủ nghĩa, phụ nữ phải chịu bao nỗi nhục nhã, đắng cay, phải lao động cực nhọc từ lúc mang thai cho đến lúc sinh nở, họ phải cật lực làm việc, thậm chí không được nghỉ cho con bú và khi con ốm Với đồng lương ít ỏi không đủ nuôi sống gia đình, việc làm bấp bênh, nên nhiều phụ nữ khi sinh con vài ba ngày đã phải đến công xưởng để làm việc trong điều kiện hết sức tồi tệ Do lao động quá lâu trong một tư thế nên thân hình nhiều phụ nữ trở nên dị dạng Bác sĩ Hây ở Lít-dờ, người thầy thuốc làm việc 18 năm ở bệnh viện cũng đã chứng minh: “Cột sống bị vẹo là thứ tật rất thường gặp ở công nhân công xưởng; trong một số trường hợp, đó chỉ là hậu quả của lao động quá sức;

Trang 28

trong một số trường hợp khác thì lại là hậu quả của lao động quá kéo dài đối với một cơ thể bẩm sinh yếu ớt hay vì bồi dưỡng kém mà suy nhược…

Ở đây, những dị tật các loại có thể thường thấy hơn tật vẹo cột sống; đầu gối

cong lõm vào trong, gân mắt cá thường nhão ra, xương đùi của chân bị vặn

cong; đầu to của những xương đùi ấy đặc biệt bị vặn cong và to ra quá độ,

những bệnh ấy đều đến từ những công xưởng có ngày lao động quá dài” [12, tr.89]

Chính vì lao động quá sức nên không có một người con gái nào vóc người cao dỏng và đều đặn Họ đều thấp bé, cằn cỗi, ngực hẹp, hình người rất khó coi Ngoài những bệnh tật và biến hình như miêu tả ở trên,

một số công nhân còn bị tàn phế nữa

Nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã làm tha hóa đến khủng khiếp gia đình

người nữ công nhân, “gây nên tình trạng đảo lộn đến thế nào trong tất cả

những mối quan hệ gia đình, trong khi đó tất cả những mối quan hệ xã hội

khác vẫn như cũ”[12, tr 47] Sự đảo lộn ấy ở chỗ người phụ nữ đi làm nuôi

gia đình còn người đàn ông phải làm những công việc dọn nhà, làm bếp Cái cảnh bó tay bó chân ấy gây nên sự phẫn nộ chính đáng đến dường nào

trong công nhân Hơn thế nữa, bản năng làm mẹ, những giá trị đạo đức dù tất yếu đến dường nào của người phụ nữ cũng bị mang vào xí nghiệp tư sản

bán tháo cho nhà tư bản: “Thường thường thì sau khi sanh nở được ba, bốn

ngày là các bà mẹ đã đi đến nhà máy rồi và đương nhiên là họ bỏ mặc đứa con của mình ở nhà….Chỉ có cái chế độ nhục nhã này mới khuyến khích

người ta dùng thuốc ngủ để làm cho trẻ con ngủ yên mà thôi…”[12, tr 48]

Sự phá hoại về thể chất của trẻ em và của thiếu niên, của những vợ công nhân

mà máy móc trước hết đã trực tiếp đem đặt dưới sự bóc lột của tư bản trong

các công xưởng có cơ sở là máy móc, và sau đó thì gián tiếp đặt dưới sự bóc lột của tư bản trong tất cả các ngành sản xuất Những bản báo cáo về vệ

Trang 29

sinh công cộng đã chứng minh rằng con cái của những người lao đông có tỷ lệ

tử vong rất lớn trong những năm tháng thơ ấu: “Tỷ lệ tử vong cao, chủ yếu vì

những người mẹ bị bắt buộc phải làm việc ngoài gia đình Thật vậy, chính vì

thế mà con cái không được trông nom, bị hành hạ, ăn uống thiếu thốn…

Người mẹ này đã đi đến chỗ trái với tự nhiên là họ ghẻ lạnh đối với con cái,

có khi cố ý để cho con bị đói hay cho con ăn chất độc”[12, tr 34]

Bổ sung bức tranh của C.Mác, Ph.Ăngghen về tình cảnh phụ nữ trong

xã hội tư bản, V.I Lênin đã bằng những cứ liệu của thời đại mình chỉ ra

cảnh ngộ cơ cực, bị áp bức, phải chịu nhiều bất công của phụ nữ trong các

gia đình tiểu nông, thị dân, thủ công, nhân viên công chức nhỏ Năm 1913,

trong bài Chủ nghĩa tư bản và lao động nữ, V.I Lênin đã viết: “Hàng triệu và

hàng triệu phụ nữ trong những gia đình như vậy đang sống (hoặc nói cho

đúng hơn đang bị đầy đọa) trong kiếp “gia nô”, ra sức lo ăn, lo mặc cho cả

gia đình bằng từng xu nhỏ mà họ phải trả bằng những cố gắng phi thường

hàng ngày và bằng “sự tiết kiệm” tất cả mọi thứ - chỉ trừ có “tiết kiệm” lao động của bản thân”[42, tr 173]

Trong bài Nền sản xuất nhỏ trong nông nghiệp, V.I Lênin phân tích số

liệu so sánh của phụ nữ ở nước Áo với phụ nữ ở nước Đức và đã chỉ ra rằng

việc bóc lột sức lao động của phụ nữ trong nền sản xuất nhỏ kiểu tư bản chủ

nghĩa đã đạt tới một trình độ cao và qui mô sản xuất càng nhỏ thì thành phần

sức lao động càng tồi, tỷ lệ lao động nữ càng lớn tức, là sự bóc lột lao động nữ càng nhiều Theo V.I Lênin, sự bất công đối với phụ nữ công nhân, biểu hiện rõ nhất trong tiền lương: “…Họ cùng làm ở công xưởng

10 giờ một ngày, nhưng chỉ được tất cả có 1,10 - 1,50 mác (nam giới thì được

2,50 - 2,70 mác) và nếu trả lương theo sản phẩm thì họ được 1,70 - 2,00 mác” [34, tr 198]

Trang 30

Sự bất bình đẳng đối với phụ nữ là sự bất bình đẳng “kép”: ngoài xã hội phụ nữ “không có quyền gì cả vì pháp luật không cho họ quyền

bình đẳng với nam giới”, còn trong gia đình thì họ là “nô lệ gia đình”,

“bị nghẹt thở dưới cái gánh những công việc bếp núc nhỏ nhặt nhất, lam lũ

nhất, khổ cực nhất, làm cho mụ người nhất”[38, tr 163-164]

Tuy thế - điều cần thấy rõ - V.I Lênin không chỉ đứng ở góc độ đạo đức, tình cảm để một chiều tố cáo và lên án tình trạng phụ nữ bị áp bức,

bóc lột trong xã hội tư bản, ngược lại ông còn luôn khách quan nhìn thấy sự

phát triển của chủ nghĩa tư bản tự nó tạo ra những tiền đề không thể thiếu cho

công cuộc giải phóng phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng nam - nữ Trong mọi

trường hợp V.I Lênin đều phê phán thái độ bảo thủ cố hữu - muốn giải phóng

phụ nữ, đem lại quyền bình đẳng cho họ bằng cách quay lại nền sản xuất tiểu nông thuần phác và gia đình gia trưởng Ông nhận rõ chủ nghĩa tư bản là

một giai đoạn tất yếu trong lịch sử nhân loại Ở giai đoạn này, mục tiêu giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam - nữ trở nên gần hơn, trực tiếp

hơn so với các giai đoạn trước

Trên quan điểm đó, ông đã viết về hệ thống công xưởng tư bản chủ nghĩa như sau: “Không nghi ngờ gì nữa, công xưởng tư bản chủ nghĩa đã

đẩy các người lao động đó vào tình cảnh đặc biệt khó khăn … thế nhưng

xu hướng đòi hoàn toàn cấm chỉ phụ nữ và thiếu niên không được lao động

trong công nghiệp, hoặc giả xu hướng duy trì chế độ gia trưởng về sinh hoạt

là chế độ loại bỏ lao động đó, xu hướng đó thật là phản động, ảo tưởng” [39, tr 690] Còn về các tơrớt tư bản chủ nghĩa thì V.I Lênin cho rằng:

“…đó là một bước tiến Chúng ta không muốn lùi về thủ công nghiệp, về

chủ nghĩa tư bản trước độc quyền, về thời đại mà phụ nữ chuyên làm việc nhà Hãy tiến lên, qua các tơrớt … và tiến xa hơn, tiến đến chủ nghĩa xã

hội”[45, tr 176-177] Hơn thế nữa theo V.I Lênin, đại công nghiệp báo hiệu

Trang 31

một hình thức gia đình mới, quan hệ nam - nữ mới: “Khi giao cho phụ nữ, cho thanh niên và cho trẻ con nam - nữ một vai trò quyết định trong quá trình sản xuất có tổ chức và có tính chất xã hội, ngoài phạm vi gia đình, như thế là đại công nghiệp cũng tạo ra cơ sở kinh tế cho một hình thức gia đình cao hơn

và hình thức quan hệ nam - nữ cao hơn”[44, tr.87-88]

Về vị trí, vai trò của phụ nữ trong gia đình Lĩnh vực cơ bản và quan

trọng nhất của tái sản xuất xã hội là hôn nhân và gia đình Nòi giống được duy trì và phát triển, sức người và sức lao động được nuôi dưỡng, chăm sóc

và bảo vệ như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào hôn nhân và gia đình Gia đình

là bức tranh thu nhỏ của xã hội: “Gia đình là một yếu tố năng động Nó không đứng yên, mà tiến từ hình thức thấp lên hình thức cao hơn, khi xã hội tiến từ trạng thái thấp lên trạng thái cao hơn ”[3, tr 8], trong đó bộc lộ đầy đủ và rõ ràng địa vị người phụ nữ trong mối tương quan xã hội với nam giới Chủ nghĩa tư bản ra đời thay thế cho chế độ phong kiến, điều đó có nghĩa là gia đình phong kiến cũng bị thay thế bởi gia đình tư sản Sự thay thế ấy làm thay đổi vô cùng sâu sắc và toàn diện gia đình phong kiến Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã lý giải cho sự thay đổi ấy như sau:

“Bất cứ ở chỗ nào mà giai cấp tư sản chiếm được chính quyền thì nó đã đạp

đổ những quan hệ phong kiến, gia trưởng và điền viên Tất cả những mối quan hệ phức tạp và muôn màu muôn vẻ ràng buộc con người phong kiến với

"những bề trên tự nhiên" của mình, đều bị giai cấp tư sản thẳng tay phá vỡ, không để lại giữa người và người một mối quan hệ nào khác, ngoài lợi ích trần trụi và lối "tiền trao cháo múc" không tình không nghĩa Giai cấp tư sản

đã dìm những xúc động thiêng liêng của lòng sùng đạo, của nhiệt tình hiệp sĩ, của tính đa cảm tiểu tư sản xuống dòng nước giá lạnh của sự tính toán ích kỷ

Nó đã biến phẩm giá của con người thành giá trị trao đổi; nó đã đem tự do buôn bán duy nhất và vô sỉ thay cho biết bao quyền tự do đã được ban cho và

Trang 32

đã giành được một cách chính đáng Tóm lại, giai cấp tư sản đã đem lại sự bóc lột công nhiên, vô sỉ, trực tiếp, tàn nhẫn thay cho sự bóc lột được che đậy bằng những ảo tưởng tôn giáo và chính trị Giai cấp tư sản đã xé toang tấm màn tình cảm bao phủ những quan hệ gia đình và làm cho những quan hệ ấy chỉ còn là quan hệ tiền nong đơn thuần.”[51, tr 10]

Dưới xã hội tư bản chủ nghĩa có hai loại gia đình là gia đình tư sản và gia đình vô sản, giai cấp nắm giữ tư liệu sản xuất là giai cấp thống trị và bóc lột giai cấp không có tư liệu sản xuất, điều này được thể hiện rõ trong gia đình tư sản, nơi mà những người đàn ông nắm giữ vị thế thống trị kinh tế, đồng thời cũng nắm giữ vị thế thống trị những người đàn bà không có tư liệu sản xuất Với tính cách là đơn vị của tế bào xã hội, gia đình cũng chứa đựng tất cả các mối quan hệ bất công và bất bình đẳng xã hội Ph.Ăngghen đã viết:

“Trong gia đình, người chồng là nhà tư sản, người vợ đại biểu cho giai cấp

vô sản”[51, tr 125] Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa cũng như dưới các chế độ

áp bức, bóc lột khác, phụ nữ phải luôn chịu cảnh bất bình đẳng với nam giới,

họ không có chút địa vị nào trong hôn nhân và gia đình

Nghiên cứu lịch sử xã hội loài người, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng: trong xã hội có giai cấp đối kháng phụ nữ là nạn nhân trực tiếp của sự

áp bức giai cấp và của sự bất bình đẳng trong gia đình và ngoài xã hội

Sự ra đời của chế độ tư hữu dẫn đến tình trạng áp bức, nô dịch của giai cấp

có của đối với giai cấp không có của, từ đây trong gia đình người phụ nữ trở nên phụ thuộc hoàn toàn về kinh tế, phải phục tùng tuyệt đối quyền lực của người chồng và thậm chí người chồng có thể giết vợ cũng chỉ là để thực hiện quyền lực của mình mà thôi

Khi đề cập đến hôn nhân và gia đình tư sản, Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng:

“Việc quyết định một cuộc hôn nhân là việc có tính toán lợi hại do cha mẹ thu xếp Kể cả trong môi trường đạo Thiên Chúa hay đạo Tin Lành thì phụ nữ

Trang 33

trong chế độ tư bản đều dựa trên địa vị giai cấp của đôi bên Vì vậy: hôn nhân

luôn luôn là hôn nhân có tính toán… Hôn nhân có tính toán đó thường biến

thành sự mại dâm ty tiện nhất - có khi là của cả đôi bên, nhưng thông thường

nhất là về phía người vợ; nếu ở đây, người đàn bà có khác với gái đĩ thường

chỉ là vì người đó không bán thể xác mình từng thời gian một như người nữ

công nhân làm thuê bán sức lao động của mình mà là bán mãi mãi, như người

nữ nô lệ” [3, tr.112] Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, cơ sở để duy trì sự tồn tại

của xã hội là chế độ tư hữu, là nguyên tắc sự bóc lột của một nhóm người

có của đối với một nhóm người không có của Đặc điểm này cũng hoàn toàn

tương tự trong gia đình tư sản, bởi vì, “Gia đình tư sản hiện nay dựa trên

cơ sở nào? Dựa trên tư bản, trên lợi nhuận cá nhân” [3, tr 69]; “Hôn nhân đều

bị qui định bởi địa vị giai cấp của mỗi bên; thế nên nó vẫn luôn là vì lợi ích”[3, tr 78]; “Theo quan điểm tư sản thì hôn nhân là một khế ước, một

giao dịch pháp lí; hơn nữa là giao dịch pháp lí quan trọng nhất, vì nó quyết định thể xác và tinh thần của hai con người, trong suốt đời họ.” [3, tr 89] Và cũng chính từ nguyên nhân này, mà trong gia đình dưới chế độ

tư bản chủ nghĩa, người đàn ông cũng nắm lấy quyền cai quản, còn người

đàn bà thì bị nô dịch, bị biến thành nô lệ cho đàn ông: “Đối với người tư sản,

vợ hắn chẳng qua chỉ là một công cụ sản xuất” [3, tr 77] Ph.Ăngghen đã chỉ rõ những mâu thuẫn tồn tại trong gia đình dưới chế độ tư hữu, đó là hình thức thu nhỏ của những mặt đối lập, của những mâu thuẫn tồn tại trong

xã hội có phân chia giai cấp Người phụ nữ trong gia đình dưới chế độ tư hữu

xét cho cùng chỉ là mẹ của những đứa con kế thừa chính thức tài sản dòng dõi

của chồng, là người quản gia chính của nhà chồng và là người cai quản các

tì thiếp của chồng Vì vậy, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, chế độ một vợ một chồng chỉ riêng đối với người đàn bà, chứ không phải đối với đàn ông:

“ Các ngài tư sản của chúng ta chưa thoả mãn là đã sẵn có vợ và con gái của

Trang 34

vô sản để dùng, đó là chưa kể chế độ mãi dâm công khai, các ngài ấy còn lấy

việc cắm sừng lẫn nhau làm một thú vui đặc biệt Hôn nhân của giai cấp

tư sản thật ra là chế độ cộng thê.”[3, tr.49] Nếu người vợ có muốn vượt ra

ngoài khuôn khổ ấy thì lập tức họ sẽ bị lên án và bị trừng phạt nghiêm khắc,

họ chỉ là một vật để lo việc gia đình, để đẻ con và chỉ là một người đầy tớ

chính trong gia đình

Như vậy, hôn nhân và gia đình tư sản chủ yếu dựa trên cơ sở quan hệ

kinh tế bất bình đẳng giữa nam và nữ Gia đình tư sản chứa đựng và bộc lộ rõ

mối quan hệ thống trị bóc lột của chồng đối với vợ, của đàn ông với đàn bà,

của toàn thể giai cấp đàn ông tư sản đối với giai cấp đàn bà vô sản C.Mác và

Ph.Ăngghen đã vạch trần sự ghê sợ quá ư đạo đức giả của hôn nhân và gia đình tư sản, trong đó người phụ nữ trở thành phương tiện và công cụ sản xuất, thành kẻ nô lệ của đàn ông Điều này cũng đã được Lênin làm rõ

vào nửa đầu thế kỷ XX Ông tố cáo rằng dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, phụ nữ, tức một nửa nhân loại luôn bị hai tầng áp bức, ngay ở những nước cộng hòa tư sản dân chủ nhất, phụ nữ vẫn ở trong tình cảnh “một cổ hai tròng” tức là vẫn bị bất bình đẳng, bị bóc lột và bị nô lệ cùng một lúc

trong xã hội và trong chính gia đình họ

Trong Diễn văn tại Đại hội phụ nữ công nhân toàn Nga lần thứ nhất

năm 1911, Lênin vạch rõ phụ nữ ở những nước tư bản tiên tiến nhất phải chịu

cảnh đọa đày, cảnh bất bình đẳng với nam giới, phụ nữ hoàn toàn không có

quyền gì cả, vì pháp luật không cho họ có quyền bình đẳng với nam giới :

“Trong tất cả các nước văn minh, ngay cả những nước tiên tiến nhất, phụ nữ

vẫn ở địa vị mà người ta gọi đúng là nô lệ gia đình Ở bất kỳ một nước tư bản

nào, ngay cả ở một nước cộng hòa tự do nhất, phụ nữ đều không có quyền

bình đẳng hoàn toàn”[12, tr.133] Ngoài ra, phụ nữ còn bị trói buộc bởi những

công việc vụn vặt: “Mặc dù có mọi luật lệ giải phóng, phụ nữ vẫn là người nô

Trang 35

lệ gia đình, vì những công việc nội trợ linh tinh còn đè nặng lên họ, làm cho

họ ngạt thở, đần độn, nhục nhã, bằng cách ràng buộc họ vào bếp núc, vào

buồng nuôi con, bằng cách lãng phí sức lực của họ vào những công việc

không sản xuất, tủn mủn, khó chịu, đần độn, nặng nhọc ghê gớm”[12, tr 138]

Về vị trí, vai trò của phụ nữ trong đấu tranh cách mạng C.Mác,

Ph.Ăngghen đều đánh giá rất cao vai trò, vị trí và khả năng của phụ nữ trong

các cuộc cách mạng Sự đánh giá này đã bác bỏ một cách hùng hồn những

thành kiến coi thường người phụ nữ do xã hội cũ để lại Hai ông vạch rõ, phụ

nữ là một nửa nhân loại và lại bị hai tầng áp bức, do đó, bất kỳ phong trào giải

phóng nào từ trước đến nay cũng đều có phụ nữ tham gia và phụ nữ đã luôn

luôn có tác động quan trọng đến phong trào Theo các ông: “Trong lịch sử

nhân loại, không có một phong trào to lớn nào của những người áp bức mà lại

không có phụ nữ lao động tham gia, phụ nữ lao động là những người bị áp

bức nhất trong tất cả những người bị áp bức, nên không bao giờ họ đứng

ngoài và cũng không thể đứng ngoài các cuộc đấu tranh giải phóng Phong

trào giải phóng của những người nô lệ như chúng ta đều biết, đã có hàng trăm,

hàng ngàn liệt nữ cao quý và nữ anh hùng Trong hàng ngũ những người đấu

tranh giải phóng nông nô, cũng có hàng vạn phụ nữ lao động Thế thì không

lấy làm lạ rằng phong trào cách mạng của giai cấp công nhân, phong trào

mạnh mẽ nhất trong tất cả các phong trào giải phóng của quần chúng bị áp

bức, đã lôi kéo được dưới cờ của mình hàng triệu phụ nữ lao động.” [55, tr 20-21] “Một nhà quan sát tư sản được chứng kiến Công xã đã viết hồi

tháng 5 năm 1871 trong một tờ báo Anh như sau: “Nếu dân tộc Pháp chỉ gồm

toàn phụ nữ thì sẽ là một dân tộc đáng ghê sợ biết chừng nào”.”[55, tr 23]

Nói như vậy không phải có nghĩa vai trò của phụ nữ do số lượng họ đông đảo

Ở đây, vấn đề không phải chỉ là ở chỗ phụ nữ chiếm một nửa dân số, mà ở

đây, Lênin còn trả lời cho câu hỏi: Vậy phụ nữ có thể làm được gì khi tham

Trang 36

gia vào phong trào cách mạng? Rõ ràng, có nhiều người xem thường, thậm chí còn nhạo báng, chế giễu phụ nữ, nhưng, “thưa các đồng chí, đó là một sai lầm, một sai lầm nghiêm trọng kìm hãm lực lượng của phụ nữ là có tội nặng”[55, tr 30] Bởi vì, “phụ nữ lao động, nữ công nhân, là lực lượng hậu bị

to lớn của giai cấp công nhân Lực lượng hậu bị phụ nữ sẽ ủng hộ hay chống lại giai cấp công nhân? Đó là quyết định vận mệnh của phong trào vô sản, quyết định thắng lợi hay thất bại của phong trào vô sản… nhưng phụ nữ lao động không phải chỉ là lực lượng hậu bị mà thôi, họ có thể trở thành một đội quân thật sự của giai cấp vô sản”[55, tr 21-22]

Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin không những rất đề cao vai trò của phụ nữ mà còn nêu lên như một điều kiện không thể thiếu trong các cuộc cách mạng Song, với vai trò và khả năng to lớn ấy không phải khi nào địa vị của phụ nữ cũng được xác nhận như là một tất yếu khách quan, mà chỉ khi chủ nghĩa Mác ra đời, vị trí của phụ nữ mới được nhận thức một cách khoa học và đầy đủ

1.1.3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nguồn gốc của bất bình đẳng nam nữ và con đường giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới

Nguồn gốc của bất bình đẳng nam nữ

Cũng như trong nhiều lĩnh vực khác, trong lĩnh vực giải phóng phụ nữ

và bình đẳng giới, học thuyết Mác - Lênin xuất phát từ quan niệm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cho rằng: sự phát triển của lịch sử, của xã hội

có nguồn gốc từ sự phát triển của lực lượng sản xuất, của biến đổi phương thức sản xuất của cải vật chất và của sự phân công lao động trong nền sản xuất xã hội Vấn đề giải phóng phụ nữ và bình đẳng giới được C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin xem xét gắn liền với sự phát triển và biến đổi ấy

Trang 37

Về nguồn gốc kinh tế

Trong lịch sử xã hội loài người, sự bất bình đẳng nam nữ là một sự thật diễn ra xuyên suốt trong các thời đại, và chính bản thân con người cũng nhận thức rõ điều đó Tuy nhiên, không phải nhà tư tưởng nào cũng có thể tìm ra cội rễ bản chất của hiện tượng phổ biến đó Thậm chí họ còn cho rằng việc người phụ nữ trở thành nộ lệ trong gia đình là đương nhiên, bởi vì giá trị của người đàn bà thấp hơn giá trị của người đàn ông Hoặc họ khoác lên sự bất bình đẳng tấm áo thần bí của tôn giáo, của văn hóa, của tư tưởng, của sự tiến hóa tự nhiên…

Chủ nghĩa Mác-Lênin đã đập tan những tư tưởng hạn chế đó, mà đi vào tìm kiếm nguyên nhân kinh tế - là nguyên nhân chính và chi phối toàn bộ những nguyên khác của bất bình đẳng nam nữ - bằng cách khái quát sự biến đổi địa vị của người phụ nữ qua hai thời kỳ lịch sử, đó là: thời kỳ chế độ mẫu quyền và chế độ phụ quyền; đồng thời đưa ra sự lý giải có căn cứ khoa học và phù hợp với thực tiễn lịch sử về nguồn gốc của sự bất bình đẳng nam nữ

Xã hội mẫu hệ được hình thành ngay từ buổi bình minh của xã hội loài người khi con người đang cố gắng tách ra khỏi các động vật khác Giai đoạn này được C.Mác và Ph.Ăngghen gọi là chế độ cộng sản nguyên thủy, với phương thức sản xuất chủ yếu là hái lượm và săn bắt Người đàn bà giữ vị trí quan trọng trong gia đình, con cái sinh ra chỉ biết có

mẹ, mang huyết thống mẹ và kế thừa tài sản của mẹ: “Ở mọi hình thức gia đình trong chế độ quần hôn, người ta chỉ biết chắc ai là mẹ của một đứa bé, chứ không biết cha của nó .“mẫu quyền” để chỉ việc thừa nhận duy nhất huyết tộc về bên mẹ, cùng với các quan hệ thừa kế (sau này) được phát sinh trên cơ sở đó”[3, tr 45] Do tính chất công việc nên phụ nữ tỏ rõ sự

ưu trội và có vai trò nổi bật hơn so với nam giới “Ở các dân mà đàn bà phải

Trang 38

làm lụng cực nhọc hơn nhiều, so với mức mà ta cho là hợp lí; thì sự tôn kính thực tế dành cho đàn bà cũng vượt xa, so với người châu Âu chúng ta Một quí bà ở thời văn minh - được tôn trọng một cách giả tạo, xa lạ với mọi công việc thực tế - có một địa vị xã hội vô cùng thấp; so với người đàn bà thời

dã man - phải làm lụng vất vả, nhưng lại được người ta coi là một quí bà thực sự, và thật sự là một quí bà - nếu xét theo địa vị mà người ấy có.” [3, tr 56] Ph.Ăngghen đã viết: “Kinh tế gia đình cộng sản… là cơ sở hiện thực của quyền thống trị của người đàn bà, cái quyền thống trị phổ biến khắp mọi nơi trong thời nguyên thủy” [3, tr.83] Chế độ mẫu quyền đã tồn tại hàng vạn năm trong lịch sử nhân loại, từ suốt thời đại mông muội đến giai đoạn thấp của thời đại dã man Theo năm tháng, con người dần dần có kinh nghiệm và có kiến thức hơn trong công việc tổ chức cuộc sống của mình Những người thông minh đã bắt đầu biết cách tích trữ của cải, những người

có quyền điều hành đã dựa vào quyền lực của mình để chiếm đoạt của công thành của riêng Đây là quá trình xuất hiện và xác lập chế độ tư hữu

Sự phát triển lực lượng sản xuất đã làm cho xã hội chuyển từ hái lượm, săn bắt sang kinh tế sản xuất với nghề trồng trọt, chăn nuôi, năng suất lao động cao hơn trước Trong nền sản xuất mới, đàn ông tỏ rõ ưu thế hơn đàn bà bởi vì tài sản chủ yếu của gia đình lúc này là do họ làm ra:

“Những của cải ấy, một khi đã trở thành tư hữu (của các gia đình), và tăng lên nhanh chóng; thì nó đánh một đòn chí mạng vào cái xã hội dựa trên chế độ hôn nhân đối ngẫu và thị tộc mẫu quyền Chế độ hôn nhân đối ngẫu đã đưa một yếu tố mới vào trong gia đình Bên cạnh người mẹ đẻ, nó đã đặt ra người cha đẻ xác thực, có lẽ còn xác thực hơn cả những người “cha” ngày nay Theo sự phân công lao động trong gia đình thời đó, tìm kiếm thức

ăn và sử dụng các công cụ lao động cần cho việc đó, đều là phần của đàn ông

Vì thế anh ta cũng sở hữu các công cụ ấy Tương ứng với sự tăng thêm

Trang 39

của cải, một mặt thì của cải ấy khiến cho đàn ông có địa vị quan trọng hơn đàn bà trong gia đình.”[3, tr 60] Đây cũng là thời kỳ mà chế độ phụ quyền bắt đầu đặt những viên gạch đầu tiên cho sự thống trị của mình Khi nói về quá trình chuyển đổi này, Ph.Ăngghen nhận xét: “Sự thay thế mẫu quyền bằng phụ quyền là một trong những cuộc cách mạng triệt để nhất mà loài người đã trải qua, cuộc cách mạng này đã đánh dấu sự thất bại có tính chất toàn thế giới của giới nữ” [3, tr 61] Đàn ông từ địa vị thấp kém, phụ thuộc trở thành người có địa vị cao và nắm quyền cai quản Còn đàn bà thì bị

hạ cấp, bị nô dịch, biến thành nô lệ cho sự dâm đãng của đàn ông, thành một công cụ sinh đẻ đơn thuần: “Người đàn ông nắm quyền thống trị ngay cả ở trong nhà; còn đàn bà bị hạ xuống hàng nô lệ, phục vụ cho dục vọng của đàn ông, và là công cụ sinh đẻ đơn thuần Địa vị thấp kém ấy của phụ nữ đã dần được bao biện, làm nhẹ bớt, và đôi khi được phủ dưới một hình thức

ôn hòa hơn; nhưng nó vẫn không hề bị xóa bỏ.”[3, tr 61] Ở đây, Ph.Ăngghen

đã dùng thuật ngữ “cuộc cách mạng” mang tính chất ẩn dụ sâu sắc nói lên sự thống trị của đàn ông đối với đàn bà Cuộc cách mạng này thật “nhẹ nhàng”

và rất “dễ dàng” bởi vì hầu như nó không gặp phải một sự phản kháng mãnh liệt nào từ phía đối thủ: “Việc đó không hề khó khăn như ngày nay ta vẫn tưởng Vì cuộc cách mạng đó, một trong những cuộc cách mạng triệt để nhất mà nhân loại từng trải qua, đã diễn ra mà không cần động tới một thành viên còn sống nào của thị tộc”[3, tr 61] Người phụ nữ đã bị đẩy xuống hàng “nô lệ” một cách rất tự nhiên Sự kiện này đã khoác cho sự áp bức về giới một tấm áo hào nhoáng song vô cùng chắc chắn

Như vậy, sự tan rã của chế độ công hữu nguyên thủy và thay thế nó bởi chế độ tư hữu cũng kéo theo sự thay đổi của các hình thức gia đình vì chế độ gia đình hoàn toàn bị quan hệ sở hữu chi phối Quyền chuyên chế của người đàn ông một khi được xác lập thì kết quả đầu tiên thể hiện ra trong hình thức

Trang 40

gia đình gia trưởng, trong đó quyền lực hầu như tập trung tuyệt đối vào người đàn ông, địa vị người phụ nữ ngày càng thấp kém

Sang thế kỷ XX, tình trạng bất bình đẳng nam nữ vẫn tiếp tục diễn ra như đã từng xảy ra trong lịch sử, thậm chí còn có phần sâu sắc và tinh vi hơn Bọn chủ tư bản ngày càng sử dụng nhiều thủ đoạn gian xảo để che đậy bản chất thống trị và bóc lột của nó Năm 1920, nhân kỷ niệm ngày Phụ nữ lao động quốc tế, Lênin đã vạch trần: “Chủ nghĩa tư bản chú trọng sự bất bình đẳng về hình thức, đồng thời lại chủ trương sự bất bình đẳng trong kinh tế và

trong xã hội - một trong những biểu hiện rõ ràng nhất của tính không triệt để

đó là sự bất bình đẳng giữa nam và nữ - đó là đặc điểm của chủ nghĩa tư

bản.”[12, tr 162]

Từ việc xác định đúng nguồn gốc nảy sinh và phát triển của sự bất bình đẳng trong quan hệ nam nữ, chủ nghĩa Mác đã chỉ ra chính xác nguyên nhân của sự bất bình đẳng Đó là sự áp bức của đàn ông đối với đàn bà về mặt kinh tế Ph.Ăngghen đã viết: “Tình trạng bất bình quyền

giữa họ - do các quan hệ xã hội trước kia để lại cho ta - không phải là

nguyên nhân, mà là hệ quả của việc áp bức đàn bà về mặt kinh tế Trong nền kinh tế gia đình cộng sản cổ xưa, gồm nhiều cặp vợ chồng và con cái họ, việc

tề gia nội trợ của phụ nữ là một công việc xã hội thực sự cần thiết, ngang với việc tìm kiếm thức ăn của nam giới Với gia đình gia trưởng, và hơn nữa là gia đình cá thể, thì đã có thay đổi Việc quản lí gia đình mất đi tính chất

xã hội của nó Nó không liên quan gì đến xã hội nữa Nó trở thành việc riêng; người vợ trở thành đầy tớ chính trong nhà, bị loại khỏi mọi hoạt động sản xuất xã hội.”[3, tr.115] Như vậy, kết luận của chủ nghĩa Mác trong vấn đề này là khi cơ sở kinh tế của xã hội biến đổi thì tính chất của mối quan hệ nam nữ về mặt xã hội cũng biến đổi theo

Ngày đăng: 07/05/2021, 17:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng (1996), Phụ nữ, giới và phát triển, Nxb. Phụ Nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ, giới và phát triển
Tác giả: Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb. Phụ Nữ
Năm: 1996
2. Trần Thị Vân Anh và Nguyễn Hữu Minh (2008), Bình đẳng giới ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình đẳng giới ở Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Vân Anh và Nguyễn Hữu Minh
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2008
3. Ph.Ăngghen (1961), Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước
Tác giả: Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1961
4. Lê Trọng Ân (2004), Tìm hiểu tác phẩm: Nguồn gốc gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tác phẩm: Nguồn gốc gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước
Tác giả: Lê Trọng Ân
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
5. Bác Hồ và sự nghiệp giải phóng phụ nữ (1990), Nxb. Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ và sự nghiệp giải phóng phụ nữ
Tác giả: Bác Hồ và sự nghiệp giải phóng phụ nữ
Nhà XB: Nxb. Phụ nữ
Năm: 1990
6. Bác Hồ với phong trào phụ nữ Việt Nam(1982), Nxb. Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ với phong trào phụ nữ Việt Nam
Tác giả: Bác Hồ với phong trào phụ nữ Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Phụ nữ
Năm: 1982
7. Trần Thị Báo (2003), Quyền bình đẳng của phụ nữ trong sự nghiệp và trong cuộc sống gia đình, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền bình đẳng của phụ nữ trong sự nghiệp và trong cuộc sống gia đình
Tác giả: Trần Thị Báo
Nhà XB: Nxb. Lý luận chính trị
Năm: 2003
8. Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn và Nguyễn Linh Khiếu (2002), Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn và Nguyễn Linh Khiếu
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2002
9. Bộ kế hoạch và đầu tư - Tổng cục Thống kê, Quỹ mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, Liên Hiệp quốc (2011), Số liệu thống kê giới ở Việt Nam giai đoạn 2000-2010, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thống kê giới ở Việt Nam giai đoạn 2000-2010
Tác giả: Bộ kế hoạch và đầu tư - Tổng cục Thống kê, Quỹ mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, Liên Hiệp quốc
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2011
10. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2010), Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Năm: 2010
11. Chính sách đối với phụ nữ nông thôn (1998), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đối với phụ nữ nông thôn
Tác giả: Chính sách đối với phụ nữ nông thôn
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1998
12. Chủ nghĩa Mác và vấn đề giải phóng phụ nữ (1989), Nxb. Phụ Nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa Mác và vấn đề giải phóng phụ nữ
Tác giả: Chủ nghĩa Mác và vấn đề giải phóng phụ nữ
Nhà XB: Nxb. Phụ Nữ
Năm: 1989
13. Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) (1995), Việt Nam qua lăng kính giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam qua lăng kính giới
Tác giả: Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP)
Năm: 1995
14. Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) (2011), Báo cáo phát triển con người năm 2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển con người năm 2011
Tác giả: Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP)
Năm: 2011
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1986
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 12/7/1993 của bộ Chính trị về “đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), "Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 12/7/1993 của bộ Chính trị về “đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1993
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư về “Một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1994
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính tri quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính tri quốc gia
Năm: 1996
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính tri quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính tri quốc gia
Năm: 2001
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/04/2007 của Bộ Chính trị về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/04/2007 của Bộ Chính trị về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w