Đọc tác phẩm của Linda Lê, mỗi chúng ta không chỉ đọc mà, như một người có biệt tài thôi miên, người phụ nữ viết văn này “buộc ta” phải “dấn thân” vào tận ngõ ngách bí hiểm của văn chươn
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS HUỲNH NHƯ PHƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2013
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3 Lịch sử vấn đề 3
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Đóng góp của luận văn 8
6 Kết cấu của luận văn 8
Chương 1 QUÊ NHÀ VÀ LƯU ĐÀY TRONG TÁC PHẨM LINDA LÊ 10
1.1 Quan điểm nghệ thuật .10
1.1.1 Viết là tự lưu đày bản thân 10
1.1.1.1 Lưu đày để hiến mình cho văn chương 10
1.1.1.2 Lưu đày để phóng tới điều mới lạ 14
1.1.2 Viết để giải thoát .17
1.1.2.1 Diễn ngôn là phương thức trị liệu duy nhất cứu nhà văn 17
1.1.2.2 Văn học là nhịp cầu kết nối những con tim 22
1.2 Yếu tố di dân trong tác phẩm của Linda Lê 25
1.2.1 Tiếng nói của kẻ lưu đày và niềm thống khổ của kẻ biệt xứ 25
1.2.2 Linda Lê và nỗi ám ảnh quê nhà .29
1.2.3 Linda Lê và nỗi ám ảnh ngôn ngữ 31
1.2.4 Linda Lê và nỗi ám ảnh quá khứ 33
1.2.4.1 Kí ức tuổi thơ 33
1.2.4.2 Hình bóng người cha 34
1.2.4.3 Ám ảnh chiến tranh 36
1.2.5 Linda Lê và ám ảnh hậu thuộc địa 37
Chương 2 CON NGƯỜI VÀ THA NHÂN TRONG TÁC PHẨM LINDA LÊ 42
2.1 Thế giới nhân vật 42
2.1.1 Nhân vật người điên 43
Trang 42.1.1.1 Nhân vật bị điên 43
2.1.1.2 Nhân vật bị “dán nhãn” điên 46
2.1.1.3 Nhân vật kì dị, thần bí 51
2.1.2 Nhân vật nổi loạn 55
2.1.2.1 Linda Lê và tâm tình kẻ nổi loạn 55
2.1.2.2 Nổi loạn – căn nguyên từ những điều phi lý .56
2.1.2.3 Nổi loạn – phương cách tìm lại niềm tin bị đổ vỡ .57
2.1.2.4 Nổi loạn – chống đối, hạ bệ và khát khao đổi mới 59
2.1.2.5 Nổi loạn – cuộc hành trình truy tìm bản thể 60
2.1.2.6 Nổi loạn – cách đoạn tuyệt với một cuộc sống vô nghĩa 63
2.1.2.7 Nổi loạn – sự giải thoát bằng mọi giá .64
2.1.3 Nhân vật người cô đơn .67
2.1.3.1 Cô đơn – vết sẹo của quá khứ 67
2.1.3.2 Cô đơn – tiếng vọng của niềm đau 72
2.1.3.3 Cô đơn – phương thức để tồn tại 74
2.1.4 Nhân vật người lưu vong .78
2.1.4.1 Người lưu vong – tù nhân của quá khứ 79
2.1.4.2 Người lưu vong – kẻ đứng bên lề và ở “không nơi nào” 84
2.2 Kinh nghiệm tha nhân .89
2.2.1 Từ những thân phận, những mảnh đời 90
2.2.2 Đến niềm đau tha nhân .94
2.2.2.1 Cái ác .94
2.2.2.2 Cái chết 97
2.2.2.3 Sự sợ hãi 101
Chương 3 NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TÁC PHẨM LINDA LÊ 104 3.1 Điểm nhìn trần thuật 104
3.1.1 Trần thuật khách quan và điểm nhìn bên ngoài 105
3.1.2 Trần thuật chủ quan và điểm nhìn bên trong 108
3.1.3 Đa dạng hóa điểm nhìn trần thuật 112
Trang 53.2 Kết cấu trần thuật 118
3.2.1 Kết cấu mê lộ và kĩ thuật giữ bí mật 118
3.2.2 Kết cấu phân mảnh và “trò chơi” lắp ghép 125
3.3 Ngôn từ trần thuật 130
3.3.1 Ngôn từ đa sắc thái và hàm súc 130
3.3.2 Ngôn từ sáng tạo 134
3.4 Giọng điệu trần thuật 136
3.4.1 Giọng điệu giễu nhại, trào phúng, châm biếm 136
3.4.2 Giọng điệu tỉnh táo, lạnh lùng triết lý 138
KẾT LUẬN 140
TÀI LIỆU THAM KHẢO 143
PHỤ LỤC 153
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong dòng chảy văn học đương đại, đã xuất hiện một nữ văn sĩ mà tên tuổi của cô, sự lôi cuốn kì diệu của cô đã trở thành một hiện tượng nổi bật của văn học nữ: Linda Lê – một nhà văn bị giằng co giữa lòng chung thủy với phương Đông,
mà người cha Việt Nam của cô là đại diện, và sự cám dỗ của phương Tây, mà người mẹ Pháp là hiện thân Có lẽ Linda Lê sinh ra để viết văn và văn chương đã trở thành máu thịt, trở thành sứ mệnh thiêng liêng mà cuộc đời này tin tưởng trao cho cô
Rời Việt Nam từ năm 14 tuổi, Linda Lê cùng mẹ sang Pháp, trong cô luôn thường trực nỗi đau của sự xa cách với người cha mà cô hằng yêu kính, ngưỡng
mộ Như một lẽ tự nhiên, Linda Lê đọc sách rất nhiều và bắt đầu viết lách để chạy trốn cảm giác cô đơn xứ lạ Cũng kể từ đó cô đem tinh lực trọn đời để viết văn Cô không thuộc bất kì một hội nhóm văn chương nào, cô đã chọn cho mình một lối đi riêng, lối đi của một kẻ đơn độc nhưng thừa bản lĩnh, bởi cô không thích bị “dán nhãn đặt tên”, cô muốn thoát ra khỏi mọi định nghĩa có sẵn, mọi khuôn phép trói buộc Chính vì thế văn chương của Linda Lê không giống với bất cứ nhà văn nào
và cũng chính vì thế mà văn chương Linda Lê, dù ở đâu cũng kén chọn người đọc Song, khi người đọc đã hòa được vào dòng chảy văn chương ấy thì chắc chắn sẽ bị
mê hoặc không gì cưỡng lại được Cách Linda Lê tạo chữ, lập câu khiến độc giả,
dù khó tính đến mấy cũng bị chinh phục vì hết ngạc nhiên này đến thú vị khác Đọc tác phẩm của Linda Lê, mỗi chúng ta không chỉ đọc mà, như một người có biệt tài thôi miên, người phụ nữ viết văn này “buộc ta” phải “dấn thân” vào tận ngõ ngách bí hiểm của văn chương để sống từng câu của cô, nhập mình trong những hứng khởi của cô
Tên tuổi của Linda Lê trở thành một chuyên mục được xuất hiện thường
xuyên trên các tờ báo nổi tiếng của Pháp như: Le Monde, Le Figaro, Télérama…
Ở đó có một loạt những bài phỏng vấn và bài nhận xét về các tác phẩm của cô Một bằng chứng về tiếng vang của Linda Lê là việc cô ký hợp đồng với nhà xuất
Trang 7bản Christian Bourgois, Paris, nhà xuất bản rất nổi tiếng trong việc chọn sách của
các nhà văn Pháp và nước ngoài giới thiệu đến độc giả
Có thể nói, Linda Lê đã dốc hết sức lực và mê say cho những đứa con tinh thần của mình Đối với cô, viết là sự sẻ chia những suy nghĩ bí mật, dĩ nhiên cô luôn có cách của riêng mình để thể hiện một sự sẻ chia lặng lẽ và xót xa Thế cho nên, đằng sau giọng văn tưởng chừng rất lạnh lùng và sắc “như một mũi khoan sâu” của cô, ta vẫn thấy nóng hổi một trái tim ấm áp và bao dung, ta vẫn thấy gióng lên một cái nhìn đau đáu và ám ảnh về kiếp nhân sinh Những góc khuất u tối của tâm lí con người, những số phận bi thảm luôn cuốn hút bút lực của cô Cô
đã xác định, đã tự giao cho mình nhiệm vụ đón nhận những mảnh đời đã bị chìm đắm và cô luôn hy vọng làm sống lại những người mình từng gặp trong đường đời Chính vì say mê thứ văn ảo diệu của nữ văn sĩ này, chúng tôi nghiên cứu đề
tài Thế giới nghệ thuật trong tác phẩm của Linda Lê với mong muốn được góp
một phần nhỏ vào việc nghiên cứu chân dung của cô, người đàn bà viết văn gốc
Việt đã tạo được dấu ấn mạnh mẽ trong nền văn học đương đại Pháp, và đang là
một hiện tượng mới mẻ, nổi bật trong văn học hôm nay
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng
Đối tượng chính mà đề tài hướng đến là Thế giới nghệ thuật trong tác phẩm
của Linda Lê Cụ thể là những vấn đề: Quê nhà và lưu đày; con người và tha nhân;
nghệ thuật trần thuật trong tác phẩm của Linda Lê
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài Thế giới nghệ thuật trong tác phẩm của Linda Lê, chúng tôi sử
dụng các tác phẩm chính là:
- Linda Lê (2005), Tiếng nói (Voix), Nguyễn Đăng Thường dịch, NXB Văn
- Linda Lê (2009), Vu khống (Calomnies), Nguyễn Khánh Long dịch, NXB Văn học
- Linda Lê (2010), Lại chơi với lửa (Autres jeux avec le feu), Nguyễn Khánh Long dịch, NXB Văn học
Trang 8Ngoài ra, trong trường hợp cần thiết, chúng tôi tham khảo nguyên tác thông qua các trang web hoặc các nguồn tư liệu khác những tác phẩm chưa được dịch sang tiếng Việt của Linda Lê
3 Lịch sử vấn đề
Linda Lê là một trong những nhà văn đương đại có phong cách sáng tác đặc
sắc Văn chương Linda Lê là một “lãnh địa” mới lạ đối với người đọc Các tác phẩm của cô, đặc biệt là tiểu thuyết, truyện ngắn đã tạo được sự hấp dẫn, gây chú
ý mạnh mẽ đối với độc giả trong và ngoài nước Sáng tác của Linda Lê rất nhiều
và khá phong phú về thể loại, nhưng được dịch ở Việt Nam lại hạn chế, riêng những bài nghiên cứu về tác giả và tác phẩm vẫn còn rất ít, lại chưa sâu và chưa có đóng góp nhiều
3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Linda Lê là nhà văn có nhiều tác phẩm gây ấn tượng đặc biệt đối với độc giả
và giới nghiên cứu phê bình Mục điểm sách của báo Le Monde nhận xét “Không
cần ồn ào, các tác phẩm của Linda Lê tự chứng tỏ giá trị của chúng” Nhà văn
Marine Landrot của báo Télérama đã ví các tác phẩm của Linda Lê là “bài diễn
văn tang lễ khổng lồ trong đó mỗi phần có vẻ là sự phản ánh của nhau với một sự tinh tế và làm xoa dịu tâm hồn”
Trong chuyên đề của mình về Linda Lê, Nhà phê bình văn học Jack Yeager
viết “Các nhà văn Việt Nam thuộc thế hệ trước viết bằng tiếng Pháp đã kín đáo
bày tỏ hy vọng hòa nhập, còn tiểu thuyết của Lê thể hiện mong muốn đứng ngoài lề” [23] Trong những bài viết trên của tác giả Lan Dương,“Linda Lê, Tác phẩm
và sự tiếp nhận” (Đặng Phương dịch), người viết đã xác định vị trí những sáng tác của Linda Lê trong nền văn hóa, chính trị và chủng tộc của Pháp bị phân hóa sâu sắc Bài viết này nêu những thiếu sót trong việc đánh giá tác phẩm của Linda Lê cũng như của những người cùng thời với cô bằng cách chỉ ra rằng hoàn cảnh lịch
sử chi phối và tiếp tục làm công cụ hòa giải trong sáng tác của họ: “Xem xét sáng
tác của người Việt Nam chuyển di và những cuộc đối thoại của họ với những nhà
Trang 9chính trị về chủng tộc hiện nay ở Pháp có ý nghĩa quyết định trong việc phân tích những quan tâm về thẩm mỹ và chủ đề của các nhà văn này”
Có thể nói bài viết của Lan Dương đã mang đến cho chúng tôi cái nhìn sâu rộng về tình hình nghiên cứu cũng như tiếp nhận văn chương Linda Lê ở nước ngoài Từ đó cũng giúp chúng tôi gián tiếp nắm bắt được những nguồn tư liệu quý giá đã và đang nghiên cứu về Linda Lê như:
- Luận án của Sharon Lim-Hing (1993): Tiểu thuyết Việt Nam bằng tiếng Pháp:
Lại viết về cái Tôi, Giới tính và Dân tộc, luận án đại học Harvard, tháng 9/1993
nghiên cứu tác phẩm của Linda Lê theo hướng phân tích tâm lý
- Bài viết của Martine Delvaux (2001): “Linda Lê và sự thay thế cội nguồn”,
Các câu chuyện kể về di dân ở nước Pháp đương đại, (Susan Ireland & Patrice J
Proulx Westport, Connecticut: cơ sở ấn hành Greenwood) nghiên cứu tác phẩm
của Linda Lê theo hướng phá vỡ cấu trúc, qua đó bàn về những ước vọng của
Linda Lê được trở về nguồn cội của mình
- Michèle Bacholle – Boskovic (2002), Gánh nặng của người phụ nữ lưu vong:
Hình ảnh người cha trong các tác phẩm của Lan Cao và Linda Lê
- Sylvie Blum-Reid (2003), Các cuộc gặp gỡ Đông-Tây: Điện ảnh và văn học
Pháp –Á (London và New York: Cơ sở ấn hành Wall flower)
- Jana Evans Braziel (2000), Du mục, chuyển di và sự mất gốc trong các dòng
văn học di dân đương thời, luận án, đại học Massachusetts Amherst Luận án này
góp Linda Lê vào nhóm các nhà văn nữ hậu thuộc địa chuyên về đề tài du mục và chuyển di
- Nancy Marion Kelly (2003), Mối liên kết Sài Gòn – Paris: Marguerite Duras
& Linda Lê: Cuộc sống lưu vong và chủ nghĩa thực dân, Luận án tiến sĩ, Đại học
Boston
- Nathalie Huỳnh Châu Nguyên (2003), Những tiếng nói của người Việt: Giới
tính và bản sắc văn hóa trong tiểu thuyết Francophone của người Việt Nam, Đại
học Bắc Illinois
Trang 10- Jack Yeager (1997), Văn hóa, quyền công dân, Dân tộc: Những truyện kể của
Linda Lê, Các dòng văn hoá hậu thuộc địa ở Pháp Alec Hargreaves & Mark
McKinney (London & New York: Routledge) [23]
Ngoài các công trình nghiên cứu dài hơi trên đây thì còn có nghiên cứu của
Leakthina C Ollier (2000) về đề tài Văn hoá tiêu thụ: tiểu thuyết tự truyện của
Linda Lê” do Nguyễn Thị Ngọc Nhung dịch đăng trên http://www.nhanvan Năm
2010, cuốn tiểu luận The Disillusion of Linda Lê: Redefining the Vietnamese
Diaspora in France 1 của Lise-Hélène Smith đăng ở tạp chí French Forum cũng để
lại dấu ấn khá rõ của tác giả khi xoáy sâu về giọng điệu châm chọc của Linda Lê,
đặc biệt là trong tác phẩm Les trois Parques
Trên đây là những công trình nghiên cứu giá trị của những nhà nghiên cứu
và những độc giả quan tâm đến tài năng văn chương Linda Lê Chúng tôi chưa
có điều kiện tiếp cận đầy đủ những nguồn tài liệu nghiên cứu về Linda Lê ở trên nhưng những gì mà chúng tôi lĩnh hội được, dù ở dạng khái quát, vẫn là những gợi
ý quý báu cho chúng tôi thực hiện luận văn này
3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, cho đến nay, trong các tài liệu mà chúng tôi bao quát được, tác phẩm Linda Lê mới chỉ được nghiên cứu ở quy mô nhỏ lẻ, các bài báo, phỏng vấn, điểm sách… Ở cấp độ lớn nhất đó là luận văn Những bài viết, những công trình nghiên cứu đáng kể về Linda Lê có thể nói đến là:
- Lê Thị Vân Anh (2009) với bài Tính chất nước đôi của chủ thể hậu thuộc địa
trong Vu khống của Linda Lê Trong bài báo này, tác giả khai thác trạng thái nước
đôi của chủ thể hậu thuộc địa trong Vu khống Lê Thị Vân Anh nhận định: Đối với
mẫu quốc, họ vừa lảng tránh vừa mong muốn đến gần Đối với quê nhà, họ vừa muốn dứt bỏ, vừa bị níu giữ lại Và những chủ thể hậu thuộc địa vẫn đang trên hành trình tự giải thoát
1
Cuốn tiểu luận được rút gọn thành bài Giọng điệu châm chọc của Linda Lê đăng ngày 07/07/
2011 trên http://www.bbc.co.uk/vietnamese/culture
Trang 11- Nguyễn Thị Hiền (2010) Tiểu thuyết “Vu khống” của Linda Lê nhìn từ lý
thuyết hậu thuộc địa, Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học KHXH & NV TP Hồ
Chí Minh Giống như tiêu đề của khóa luận, tác giả đề cập đến lý thuyết hậu thuộc
địa, một vấn đề khá mới mẻ ở Việt Nam, và mổ xẻ tác phẩm Vu khống của Linda
Lê dưới cái nhìn khái quát của lí thuyết này
- Khi trả lời phỏng vấn của báo Thể Thao & Văn Hóa ngày 15 – 10 – 2010, dịch
giả Nguyễn Khánh Long – người hiểu Linda Lê khá rõ đã tâm sự: “Tôi “khám
phá” Linda Lê vào năm 1997 […] Tình cờ đọc trên báo Le Monde một bài ca ngợi cuốn Les Trois Parques, tôi đi mua cuốn sách này Mới đọc vài trang đầu tôi
đã bị chinh phục tức khắc và bật kêu (tôi còn nhớ rõ): “Đây là một kiệt tác” Khi
hỏi về phong cách sáng tác của Linda Lê, Nguyễn Khánh Long cho biết thêm:
“Phong cách của Linda Lê không nên đem so sánh với các nhà văn khác Sự độc đáo đó trước hết nằm trong việc sử dụng tuyệt vời ngôn ngữ Pháp, cộng với di sản văn hóa phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng Sau nữa, đó là cái nhìn của Linda Lê về kiếp nhân sinh Và tất cả đòi hỏi người đọc “đặt lại vấn đề” về chính bản thân mình” Trong quá trình đọc các tác phẩm của cô, ông đã bị “chinh
phục ngay tức khắc” như ông thổ lộ với báo chí Càng đi sâu vào khám phá thế giới văn chương của nữ văn sĩ này, ông càng thấy hấp dẫn mãnh liệt và ông cho
rằng “Đọc Linda Lê, khi nắm được những gì gửi gắm trong từng từ, từng câu,
phải nói đó quả là một niềm hoan lạc, dẫu cho tác phẩm nói lên những nỗi bi quan Như lời một độc giả Pháp, đọc Linda Lê là một “lecture ardue, mais magique” (đọc rất khó khăn, nhưng thần diệu)”
- Nhã Thuyên trong mục “Người đọc của Linda Lê” in trên Văn nghệ trẻ, số
tháng 11.2010 cũng có những đánh giá khá xác đáng về Linda Lê Tác giả cho
rằng: “Cái cảm giác về “tự truyện”, hay cảm giác khác, “sự ăn mình” khi đọc
Linda Lê là có thể hiểu được” [124]
- Nhà phê bình Cao Việt Dũng trong bài viết “Tự mắc bẫy”, đăng trên báo Sài
Gòn Tiếp Thị, Số 13 ngày 15/2/2012, trang 25 đã đưa ra nhiều nhận xét về nhà văn
Linda Lê và về tác phẩm mới ra mắt của cô: Gửi đứa con mà tôi sẽ không sinh (À
l’enfant que je n’aurai pas) Cao Việt Dũng cho rằng, Linda Lê là người giỏi khai
Trang 12thác lối viết văn chương cận kề với “non-fiction” (tác phẩm văn chương giống như tiểu luận) Cao Việt Dũng cũng là tác giả của một số bài phỏng vấn đặc sắc về nhà văn Linda Lê.
Ngoài ra phải kể đến một số lượng không ít những bài viết trên các trang web, blog của các nhà phê bình nghiên cứu văn học tập trung khai thác khá nhiều đến vấn đề hậu thuộc địa trong tác phẩm của Linda Lê như: Đào Trung Đạo
(2006) Nhà/quê nhà trong văn chương vô xứ Việt Nam; Hương Lan (2010), Nhà
văn Linda Lê: Trong tôi luôn tồn tại cảm giác lưu vong, Đoàn Ánh Dương, Viết như là kiến tạo căn cước, trường hợp Linda Lê v.v…
Bên cạnh những bài viết tiêu biểu có đề cập tới văn chương của Linda Lê ở trên thì cũng có khá nhiều bài thể hiện sự ngưỡng mộ đối với cô Mặc dù những bài viết, những bài phỏng vấn, những ý kiến đó không liên quan nhiều tới đề tài
mà chúng tôi sẽ nghiên cứu nhưng cũng giúp chúng tôi có cái nhìn hoàn chỉnh hơn, đầy đặn hơn về nữ văn sĩ nổi tiếng này và cũng giúp ích cho chúng tôi trong quá trình tìm hiểu sâu hơn nữa về Linda Lê
Nhìn chung các bài nghiên cứu về tác phẩm đã thể hiện được một số vấn đề
cơ bản trong sáng tác của Linda Lê Song phần lớn vẫn là những đánh giá tổng quát về nội dung tư tưởng của tác phẩm chứ chưa có sự đào sâu phân tích kĩ càng
về thi pháp Đến nay, ở Việt Nam vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về thế
giới nghệ thuật trong tác phẩm của Linda Lê, một trong những yếu tố quan trọng
làm nên giá trị văn chương của cô Do đó, đây là một khía cạnh mới cần được khai thác
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
4.1 Phương pháp lịch sử
Mối quan hệ giữa văn học và thế giới thực tại khách quan là điều đã được chứng minh và thừa nhận Nhà văn Linda Lê cùng với những sáng tác của cô ít nhiều chịu sự chi phối của hoàn cảnh thời đại, xã hội mà nữ văn sĩ đã và đang
Trang 13sống Vì vậy để nghiên cứu về thế giới nghệ thuật trong tác phẩm của Linda Lê chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử để thấy rõ sự chi phối ấy
4.2 Phương pháp phân tích theo thi pháp học
Đây là phương pháp quan trọng được chúng tôi sử dụng chủ yếu trong quá
trình nghiên cứu đề tài Thế giới nghệ thuật trong tác phẩm của Linda Lê
5 Đóng góp của luận văn
Tác phẩm của Linda Lê đã xuất hiện ở Việt Nam nhưng chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu Do đó, thông qua việc thực hiện đề tài, chúng tôi muốn cung cấp một cái nhìn cụ thể về thế giới nghệ thuật trong tác phẩm của Linda Lê, một trong những yếu tố quan trọng tạo nên giá trị tác phẩm của cô Từ
đó, chúng ta có thể thấy được những yếu tố nghệ thuật mới lạ, đặc sắc mà Linda
Lê đã sử dụng, thấy được nét đổi mới trong văn xuôi nghệ thuật của cô so với văn xuôi truyền thống và những đóng góp quan trọng của cô trong sự vận động của nền văn học đương đại
6 Kết cấu của luận văn
Thế giới nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo tinh thần của người nghệ sĩ Thông qua thế giới nghệ thuật, chủ thể sáng tạo thể hiện nhân sinh quan, thế giới quan, vũ trụ quan và lịch sử quan qua lăng kính của mình Bằng thái độ nghiêm túc và niềm
Trang 14đam mê nghệ thuật cháy bỏng, Linda Lê đã tạo ra được một thế giới nghệ thuật riêng với tính phức tạp của nó Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy thế giới nghệ thuật trong tác phẩm của Linda Lê được hình thành từ các yếu tố sau: Quê nhà và lưu đày trong tác phẩm Linda Lê; Con người và tha nhân trong tác phẩm Linda Lê; Nghệ thuật trần thuật trong tác phẩm Linda Lê
Khám phá thế giới nghệ thuật trong tác phẩm của Linda Lê thông qua các phương diện trên sẽ giúp người đọc lí giải được phần nào thế giới tâm hồn Linda
Lê cũng như tình yêu nghệ thuật và tình yêu tha nhân của nữ văn sĩ này Vì vậy, ngoài phần dẫn nhập và kết luận, chúng tôi triển khai luận văn với kết cấu chia thành 3 chương:
Chương 1 Quê nhà và lưu đày trong tác phẩm Linda Lê
Trong chương này luận văn tập trung tìm hiểu quan điểm nghệ thuật và yếu tố
di dân trong tác phẩm của Linda Lê nhằm định hướng khai thác và cắt nghĩa thế
giới nghệ thuật của tác giả: Viết là tự lưu đày bản thân và Viết để giải thoát; yếu tố
di dân bộc lộ trong thế giới nghệ thuật qua những nỗi ám ảnh: ám ảnh quê nhà, ám
ảnh ngôn ngữ, ám ảnh quá khứ, ám ảnh hậu thuộc địa
Chương 2 Con người và tha nhân trong tác phẩm Linda Lê
Ở chương 2, luận văn đi sâu vào hai vấn đề: Một là khảo sát, giải mã thế giới nhân vật thông qua bốn “mẫu” chính: Nhân vật người điên, nhân vật nổi loạn, nhân vật người cô đơn và nhân vật người lưu vong Hai là làm rõ kinh nghiệm tha nhân trong tác phẩm của Linda Lê
Chương 3 Nghệ thuật trần thuật trong tác tác phẩm Linda Lê
Đây là chương luận văn tập trung nghiên cứu cách tổ chức điểm nhìn trần thuật, kết cấu trần thuật, ngôn từ trần thuật và giọng điệu trần thuật trong những sáng tác của Linda Lê
Cuối cùng là tài liệu tham khảo và phần phụ lục
Trang 15Chương 1 QUÊ NHÀ VÀ LƯU ĐÀY TRONG TÁC PHẨM
LINDA LÊ
1.1 Quan điểm nghệ thuật
Đến với thế giới nghệ thuật của văn chương hiện đại, chúng ta nhận thấy, địa hạt này đã có nhiều đột phá đáng kể Nó cho phép nhà văn tự biểu hiện ý tưởng, quan điểm, cách nhìn của mình toàn vẹn và đầy đặn hơn, thành thục và tự do hơn Hòa trong dòng chảy mới mẻ ấy, Linda Lê đã đánh dấu tên tuổi của mình bằng một thế giới nghệ thuật đầy sự sáng tạo, mang những nét riêng cá tính và dị biệt của một con người coi văn chương là sự sống của mình Quan điểm sáng tác của Linda
Lê được được thể hiện chủ yếu ở hai phương diện chính: Viết là tự lưu đày bản thân và viết để giải thoát
1.1.2 Viết là tự lưu đày bản thân
Mệnh đề “viết là lưu đày” từ lâu nay đã gắn chặt với Linda Lê Lưu đày ở đây không phải là lưu đày về mặt không gian địa lí mà đó là cảm thức lưu đày trong tư tưởng, trong sáng tạo nghệ thuật của cô Đã viết văn thì phải yêu văn, đó hoàn toàn
là tất yếu, thế nhưng tự lưu đày mình trong thế giới của văn chương, không bao giờ dời chân khỏi thế giới ấy mà sống luôn trong đóthì không phải nhà văn nào cũng vậy Đấy là trường hợp của Linda Lê Cô chấp nhận thách đố lưu đày để hiến mình
cho văn chương và cũng là để phóng tới điều mới lạ
1.1.2.1 Lưu đày để hiến mình cho văn chương
Có thể nói Linda Lê chính là kẻ hiến mình cho văn chương Rất nhiều nhân vật là hiện thân hoặc phản ánh một phần nào đó con người của Linda Lê ngoài đời
Nó lí giải vì sao trong hầu hết các sáng tác của cô đều có sự hiện diện của kiểu nhân vật là những kẻ coi văn chương là lẽ sống, sẵn sàng hóa thân, hiến mình trọn vẹn cho văn chương Ở đó, văn chương chiếm hữu con người họ, làm rung chuyển
cả hồn xác họ, thậm chí hòa nhập làm một với họ – những chủ thể sáng tạo nên
bản thân nó Nhân vật xưng “tôi” trong Vết cắn là một trường hợp như thế khi
Trang 16“Càng ngày tôi viết càng khó khăn, vì mỗi lần tôi đặt một từ lên giấy, nó chiếm
hữu tôi và tôi trở thành nó”
Hiến mình cho văn chương đối với Lê cũng đồng nghĩa với việc đày mình trong cảm thức cô đơn, thậm chí cô đơn tuyệt đối, để sáng tạo Linda Lê tự nhận mình là một người cô đơn khi viết văn Cô chưa bao giờ cố gắng vùng vẫy khỏi cảm thức ấy mà ngược lại cô còn ấp ủ, nuôi dưỡng nó như nuôi dưỡng ngọn nguồn sáng tạo trong mình Con đường văn chương, như Linda Lê vẫn thường chia sẻ, phải chịu nhiều hi sinh và cô đơn Còn tác phẩm không phải để truyền đạt thông
điệp Người đọc sẽ tự nhận ra thông điệp dưới nhiều cách, nhiều kiểu khác nhau
Và với thân phận kẻ tự lưu đày – kẻ oằn mình với ngôn từ mỗi ngày, dằn vặt bởi câu chữ mỗi đêm ấy, chúng ta đã có một Linda Lê nhà văn gặt hái nhiều thành công trên mảnh đất văn chương mà cô cần mẫn xới cày Sự thành công này, như
Lê nói, là do “hằng ngày tôi đã “chiến đấu” với từng từ, từng câu của mình, mỗi
khi bắt đầu một cuốn sách mới tôi đều cảm thấy như bắt đầu một trận chiến Và xa hơn có lẽ tôi đã học được cách sống cô đơn để sáng tác” [40] Linda Lê còn cho
rằng: “Cô đơn, đó thật sự là một yếu tố cần thiết nhất cho sáng tạo của nghệ sĩ,
người ta rất khó sáng tạo được một cái gì đó thật sự nếu cứ sống “bầy đàn” [40].
Nghiêm túc trong sáng tạo nghệ thuật, Linda luôn tâm niệm: sáng tác văn học là một cuộc chiến đấu rất cam go và bắt buộc nhà văn phải vượt lên chính mình Tất cả những kĩ thuật trong sáng tác của Linda Lê được tạo nên bởi một nữ văn sĩ hằng ngày phải vật vã với từng từ, từng câu Mấy ai hiểu hết sự cam go của trận chiến ấy khi chưa biết rõ những suy tư, dồn nén, những băn khoăn, trăn trở
của cô chỉ để tạo tác một từ chân xác thích hợp: “Đôi khi tôi ngồi hàng giờ, vì có
một chữ không hợp… Đến khi tôi bỏ đi dạo, tự rủa mình, và cuối cùng tôi cũng tìm ra được đúng chữ” [79].
Bị không ít người cho là khó đọc, là điên rồ, nhưng cũng lại không ít người say mê thứ văn chương ảo diệu ấy, Linda Lê dường như không mấy quan tâm Với
cô, văn chương đã trở thành máu thịt Viết có thể là lưu đày, có thể là điên rồ, nhưng chính bản thân con người, phải chăng đều chất chứa một phần nào đó điên
Trang 17rồ và nổi loạn như cô nhận định: “Tất cả các tác phẩm, do được hoàn thành trong
bóng tối đều tỏ ra nổi loạn” [10] Tác phẩm của cô cũng không là ngoại lệ
Năng lực sáng tạo cũng như sức bền của ngòi bút Linda Lê được khẳng định mạnh mẽ và chắc chắn qua hàng loạt tác phẩm cũng như nhiều giải thưởng mà cô
đã đạt được Linda Lê luôn viết một cách say sưa, cần mẫn Sự miệt mài, mê đắm đến cuồng nhiệt của cô trong sáng tạo nghệ thuật làm người ta liên tưởng đến
Amélie Nothomb, một trong những nhà văn hiếm hoi được mệnh danh là kẻ “tử vì
đạo văn chương”, thậm chí “bị” xếp vào đội ngũ nhà văn mắc chứng bệnh “cuồng viết” Ở Lê, văn chương là mạch sống, viết là đam mê, là sự lưu đày trong hạnh
phúc chứ không phải chỉ là khổ đau Vậy nên, thật hiển nhiên, với cô, không viết cuộc đời này cũng chẳng có nghĩa gì, thậm chí nó còn khủng khiếp hơn cả cái
chết: “Cái ý nghĩ, rằng ngày nào đó, tôi sẽ không thể viết nữa, sẽ không còn ngôn
từ Điều ấy làm tôi ớn lạnh nhiều hơn so với ý nghĩ về cái chết” 2
Đối diện với tác phẩm của Linda Lê, người đọc đứng trước một sự thách đố
về khả năng tri nhận Các sáng tác cô viết luôn nằm trong thế lấp lửng giữa những
cái khả tri và những cái bất khả tri Tiểu thuyết Vu khống là một ví dụ điển hình
Đọc tác phẩm này quả không hề dễ dàng, đơn giản với bất cứ ai lần đầu tiếp cận
nó Mỗi câu chữ, mỗi sự kiện, tình tiết trong tiểu thuyết đều trở thành những ám ảnh, những lời tự vấn để mỗi người đọc tự soi, tự phán xét, thẩm thấu Nó cũng thách thức khả năng tri nhận của người đọc bởi một hệ thống ngôn từ có khi trống rỗng, có khi nhảy múa hỗn loạn, có khi tưởng chừng như đứt gãy không có sự nối kết nào Rất khó định hình nhà văn muốn nói gì khi chưa đọc hết tác phẩm bởi cái cách cô đẩy người đọc lạc vào mê lộ chữ nghĩa với những câu chuyện của nhiều nhân vật dường như chẳng liên quan gì tới nhau Đang là câu chuyện của người cậu điên, Linda Lê bất ngờ chuyển sang cuộc đời cô cháu gái, của Ricin rồi đột ngột khám phá bí mật của một nhân vật hoàn toàn lạ khác: Thầy Tu, tiếp đến là cô gái điếm, anh thợ sửa giày và “một nửa” bà mẹ, Viên tham vấn v.v… Linda Lê đã
2
Trích theo Leslie Barnes (2008), “Văn chương và kẻ ngoại cuộc”, World Literature Today, số
tháng 5 + 6, tr.53 – 56
Trang 18ẩn mình trong bóng tối để thách thức, lưu đày người đọc, bắt người đọc buộc phải
tư duy, kết nối trước hàng loạt các thông tin, sự kiện đầy mông lung và bất tín Sức cuốn hút lạ thường của ngòi bút Linda Lê còn ở chỗ cô không bao giờ tạo ra kiểu nhân vật làm chỗ dựa chắc chắn cho độc giả Con đường lần ra cốt truyện theo cách thông thường là dõi theo nhân vật chính đã bị Lê bít lối Cô không có nhân vật đại diện cho cái đúng hay sự khẳng định sau cuối về nhận thức Mọi thứ cô đều để độc giả tự phán xét Tất cả nửa như khiêu khích, nửa như mời gọi người ta khám phá, kiếm tìm và sẵn sàng vật lộn với vô vàn những bất tín, những rối rắm của văn bản đến con chữ cuối cùng để tìm ra sự thật Người đọc khó hình dung một cách chính xác sự tự lưu đày của Linda Lê diễn ra như thế nào
trong quá trình viết Vu khống, chỉ biết rằng chính bản thân họ cũng đã tự nguyện
bị lưu đày khi đọc cuốn tiểu thuyết này của cô Viết một cuốn sách đối với Lê nhiều khi giống như phải vượt qua một con đường dài, mất đến hàng năm Đó cũng chính là sự băn khoăn, tìm kiếm, khám phá bản thân trong một cái nhìn tỉnh táo và nghiêm khắc
Viết là lưu đày trong cô đơn, trong vô vàn thiệt thòi, gian khó nhưng lại được hiến mình cho văn chương, được sống với văn chương đích thực, âu cũng là một
sự “trả giá” xứng tầm Trong tiểu thuyết Vu khống, Linda Lê đã thể hiện rõ quan
niệm ấy của mình khi nói về nhân vật Ricin:
Ricin kiếm đủ sống, những kẻ khác hốt bạc Ricin viết bài, những kẻ khác làm báo Ricin mê mải văn chương Những kẻ khác cùng lắm là những
kẻ dốt nát, tệ ra thì là bầy kền kền Ricin chảy máu Anh không chịu chăm sóc vết thương Anh có phe của anh Phe những người chảy máu Anh làm vua phe ấy, những kẻ khác chỉ là bọn phù phiếm và tham lam
Hình ảnh nhân vật Ricin một mình một ngựa, rong ruổi trên chặng đường văn chương chân chính để khỏi bị xếp chung với những kẻ phù phiếm, tham lam, cơ hội làm người ta liên tưởng đến nữ văn sĩ Linda Lê cũng lặng lẽ bước đi tựa một chiến binh mang trong lòng vương quốc của mình và chấp nhận thách đố lưu đày
Đó là vương quốc duy nhất tồn tại trong cô: vương quốc của văn chương nghệ thuật, nơi cô sẵn sàng hiến mình để dựng xây, tạo tác nên sự diệu kì của nó
Trang 191.1.2.2 Lưu đày để phóng tới điều mới lạ
Từ chối quy chuẩn, từ chối truyền thống, từ chối mọi đường lối có sẵn, Linda
Lê bước lên chuyến tàu văn chương đầy cao ngạo như một kẻ sẵn sàng liều mình
để được chạm tới cái đẹp đúng nghĩa, dù phải trả giá bằng mọi cách Với cô: “Viết
tức là tự lưu đày Khi viết ta không còn mái nhà, chỉ có bầu trời là nơi ẩn trú, và
ta yêu cái trơ trụi trước sự vật ấy Một nhà văn chỉ có thể viết khi cảm thấy mình
là một đứa trẻ được lượm nhặt về, một đứa con hoang” [9].
Với Linda Lê viết là tự lưu đày bản thân và văn học có thể là một lựa chọn để giữ khoảng cách với chính mình, để ra khơi, để đứng xa và nhìn vào cuộc đời
mình Hai cậu cháu trong Vu khống là hai kẻ lội ngược dòng, kẻ vác dao, kẻ phản
bội lại truyền thống gia đình Tuy nhiên, nhìn sâu vào bản chất thì sự lựa chọn của
họ không đơn giản là sự lựa chọn thuần tuý thuộc về lối sống, một giải pháp tránh
xa sự phù phiếm đám đông (phải thủ tiền cho đầy túi, biết phụng sự vật chất và làm nô lệ cho quyền lực ), mà còn là một cách đoạn tuyệt, ly khai, thậm chí là đạp đổ bức tường thành truyền thống như tuyên ngôn của hai cậu cháu: “Chúng tôi quay lưng lại thế giới, chúng tôi cùng đi về một hướng, chúng tôi đi chinh phục Cõi Không Nơi Nào” Trong trường hợp này, ngòi bút của Linda Lê đã tuyên ngôn cho quan điểm viết là tự lưu đày, nhưng lưu đày là để phóng tới, đạt tới cái mới, cái khác biệt, cái tuyệt đích chỉ có ở riêng mình Chính sự lưu đày ấy của Linda Lê
đã tạo nên sức hút ám ảnh, mạnh mẽ của tiểu thuyết Vu khống nơi người đọc
Tạo một nhãn giới thấu thị như Rimbaud từng nói, xác định cho mình một nhiệm vụ như nhà văn Ingeborg Bachmann đã đặt ra, Linda Lê buộc mình phải luôn mở to đôi mắt để không dính kẹt trong dối trá, trong thực tại tàn khốc Linda
Lê cho rằng, phận sự của nhà văn trên hết phải là chính mình, là sự đập vỡ, băng qua mọi rào cản và phiêu lưu vào cái chưa biết để khám phá cái mới: “ Tất cả các tác phẩm nghệ thuật đều phải là một mưu phản … Tất cả mọi tác phẩm đều phải
là một chuyến du lãng trong những vùng đất chưa khai phá, một bước vượt qua những biên giới ngăn cách cái thực và giấc mơ, sự tầm thường và chủ nghĩa lý tưởng, người khác và chính ta” [10]
Trang 20Bước đi trong cô đơn, lặng lẽ, Linda Lê tự mình làm chủ mình, độc lập một cách thật dữ dằn Nếu như các nhà văn khi viết tiểu luận thường bị lôi cuốn bởi sức hấp dẫn của các tác giả hoặc tác phẩm nổi tiếng thì Linda Lê hoàn toàn ngược lại Những gì cô say mê là tác phẩm của vô số nhà văn gần như đã bị lãng quên,
điều này có thể thấy rất rõ trong tập tiểu luận mang tên Au fond de l’inconnu pour
trouver du nouveau (Đến tận cùng cái chưa biết để tìm sự mới mẻ) Trong toàn bộ
cuốn sách này, Linda Lê đã dùng ngòi bút sắc sảo, tinh tế và đầy sáng tạo của mình để làm sống dậy các nhà văn từ mọi miền của trái đất mà ngày nay không còn được ai nói đến nữa
Linda Lê thực sự là một kỵ sĩ độc hành của văn chương Tự do phiêu lãng trên những miền đất lạ, cô luôn nỗ lực và sẵn sàng dấn thân thử nghiệm trong những cuộc phiêu lưu đầy cam go, thách thức Đó cũng là cách cô lưu đày để phóng tới, để khám phá ra cái mới và cũng để tự khẳng định mình Cô gái nhà văn
trong Vu khống là phát ngôn viên cho điều Lê muốn thể hiện: “Con bé thích bắt
chất xám của mình làm việc Nó sẽ chết với họ vì thế Nó còn trẻ, nó sẵn sàng thử nghiệm hết” Vậy nên, tất cả những gì khác thường, thậm chí là lập dị đều có sức hút đặc biệt với nhân vật cô gái nhà văn ấy và cũng là với chính Linda Lê: “Điều
gì thúc đẩy nó cứ tích lũy những hành động lập dị, bẻ cong số mạng, chỉ ham các
tì tật? Nó sống bằng những chối bỏ, nuôi mình bằng những phản bội"
Linda Lê tự lưu đày mình trong văn chương, trong sáng tạo, sống với từng câu chữ Đó là sự nghiêm khắc đến nghiệt ngã trong nghệ thuật để người đọc dù muốn cũng không thể để tác phẩm trôi tuột khỏi tâm trí mình, ngược lại, nó sẽ mãi
ám ảnh, không thôi Cô luôn viết với cảm giác “mình có thể nói mà chẳng ai nghe
Nhưng điều này không làm tôi nản lòng Trái lại Theo một cách nhìn nào đó, có thể như vậy hay hơn”[79]
Trong quá trình sáng tạo, Linda Lê luôn khắc cốt ghi tâm câu nói của Armand
Robin, nhà thơ của vùng Bretagne rằng “Trên mỗi vùng đất, tôi sẽ là một người lạ
thường” Quan niệm này được cô thể hiện rất rõ trong cuốn tiểu luận Étranges
Étrangers (Những người xa lạ kì lạ) mà cô hoàn thành năm 2010 Linda Lê khẳng
định: “Thu hút cái lạ là một trong những đòi hỏi cấp bách của sáng tạo Cần phải
Trang 21lạc bước trong một mớ bòng bong những điều bối rối và những mối kinh hãi gây
ra bởi sự đối đầu giữa bản thân mình và người khác - một ẩn số cần làm sáng tỏ, miễn là người ta sẵn sàng phá vỡ vỏ bọc của mình” [10]. Và lẽ dĩ nhiên, chủ thể
viết phải ý thức được sự giàu có của mình khi hướng tới người khác và chấp nhận
kẻ lạ trong chính mình Người khác và Kẻ lạ được Linda Lê nhấn mạnh không chỉ
như là một cặp kết cấu nhị trùng trong nhân cách người cầm bút mà còn là một thái
độ, tâm niệm dấn thân, lưu đày trên con đường sáng tạo của riêng cô Vì vậy, như một hệ quả tất yếu, cô đã tạo được dấu ấn riêng trong thế giới nghệ thuật văn chương mà cô đã một lòng một dạ phụng sự
Khi viết, Linda Lê luôn đẩy mình trong tâm trạng hết sức căng thẳng như
người mộng du đang lặng bước trên một sợi dây căng giữa trời Linda Lê viết
không phải là để phá vỡ sự căng thẳng ấy, ngược lại, để nuôi dưỡng nó, để nạp
thêm năng lượng và viết ra những điều cô muốn diễn tả Cô cháu gái nhà trong Vu
khống, giống như Linda Lê, cũng thích mạo hiểm với trò đu dây kia và luôn sẵn
sàng buông mình cuốn theo tất cả những thứ làm lâm nguy tới dây thần kinh: “Nếu tiếp tục trò ấy quá lâu, thần kinh nó sẽ lâm nguy, và buổi tối lên giường nó sẽ xoa nắn thái dương, tưởng như đầu mình chỉ còn là một cục thịt lởm chởm những đinh” Và như thế, việc tự lưu đày bản thân trở thành một nhu cầu tất yếu để giữ mình trọn vẹn với “người tình” văn chương
Nếu viết là sự tự lưu đày bản thân của tác giả thì lẽ nào việc đọc không phải
là sự đòi hỏi khó nhọc để chúng ta khám phá những nấc thang sâu kín nhất của thế giới nghệ thuật Linda Lê Với quan niệm viết là tự lưu đày bản thân, Linda Lê đã tận hiến cho văn chương, đã nghiệt ngã với chính mình để lưu đày trong sáng tạo nghệ thuật, để phóng tới cái mới, đem đến cho nền văn học một thế giới nghệ thuật đích thực nhưng cũng đầy thách đố với người đọc Sẽ khó lòng chạm vào được chiều sâu trong thế giới nghệ thuật của cô nếu chúng ta chỉ đón nhận nó bằng công
cụ lý tính thuần túy hay trực cảm bình dân Nó khiến người ta buộc mình phải cự tuyệt với sự dễ dãi lười biếng trong tiếp nhận văn chương Đó cũng chính là yêu
cầu, là trách nhiệm và cũng là đam mê của người đọc chân chính
Trang 22Ẩn sâu trong những lưu đày khổ ải của việc viết ở Linda Lê là nét đẹp huyền
bí pha lẫn cao ngạo của văn chương đích thực Nơi ấy ta nhận ra một cách chân xác tình yêu văn chương đậm đặc không lúc nào nhạt bớt của Linda Lê Nơi ấy ta cũng cảm thấy một sự sáng suốt hiếm có của nữ văn sĩ khi xây dựng thế giới nghệ thuật đầy những ám ảnh, đối nghịch và hai mặt Chính quan niệm viết là tự lưu đày bản thân đã khiến Linda Lê sở hữu một giọng văn ảm đạm và độc đáo đến kì
dị Đó là cách cô khiến người đọc tự nguyện “lưu đày” mình để trăn trở cùng những trang viết đậm chất nhân văn của cô
1.1.2 Viết để giải thoát
Giải thoát nghĩa là đạt tự do sau khi buông xả tất cả những trói buộc trong cuộc sống Giải thoát trong Phật giáo là giải phóng ra khỏi Khổ bằng cách thấy, biết nguyên nhân của khổ và tận diệt nó Ấn Độ giáo thì cho rằng giải thoát hướng con người vượt qua sự mê ngộ, vô minh, nhận ra bản tính của mình và thực tướng của vạn vật, hòa nhập được vào với bản thể vũ trụ tuyệt đối, chân thực, bằng nhận
thức trực giác, “thực nghiệm tâm linh” Giải thoát theo tiếng Phạn là moksha, mukti (mộc xoa, mộc đề) “Giải” nghĩa là gỡ ra, cởi ra, chia tách ra hay giải thích cho rõ; chữ “thoát” nghĩa là vượt ra khỏi sự trói buộc, vượt ra ngoài sự ràng buộc…Nói một cách ngắn gọn thì giải thoát là “cứu ra khỏi sự ràng buộc hoặc áp
lực” [49, tr.228]
Từ khái niệm chung về giải thoát, khi soi chiếu vào thế giới nghệ thuật của Linda Lê, chúng ta nhận thấy, đối với cô, viết không chỉ là tự lưu đày bản thân đến những vực thẳm tuyệt cùng của tư tưởng, mà còn là sự cứu rỗi, sự giải thoát, là con đường đến với tự do, vượt ra khỏi những gì trói buộc bản ngã của chủ thể sáng tạo
và có sức mạnh kết nối những con tim
1.1.2.1 Diễn ngôn là phương thức trị liệu duy nhất cứu nhà văn
Diễn ngôn là phương thức trị liệu duy nhất cứu nhà văn Linda Lê đã viết như thế Có thể thấy rằng, cuộc đời của Linda Lê cũng là cuộc hành trình đi tìm sự giải thoát đến thế giới văn chương Tuổi thơ của cô trải qua tại Việt Nam nhưng khác với Marguerite Duras (nữ văn sĩ Pháp đã có một thời thơ ấu gắn bó thân thiết với
Trang 23những đứa trẻ da vàng người Việt nghèo khổ, lam lũ), Lê luôn cảm thấy mình xa lạ
và lạc lõng với những người bạn cùng trang lứa trên chính mảnh đất quê hương mình Chị em cô buộc phải học tiếng Pháp, nói chủ yếu bằng tiếng Pháp và được giáo dục bởi người mẹ đến từ nước Pháp Vì vậy, cái cảm giác cô đơn, cách biệt thật sâu xa với bạn cùng trang lứa nơi quê nhà đã khiến cô bỏ chạy, vượt thoát, rất sớm, qua những cuốn sách Tuổi thơ chứa đầy những vết thương, những nỗi đau xa cha luôn ám ảnh cô Ngay từ nhỏ, cô đã say mê đọc Balzac, Hugo và nghĩ mình sẽ
là nhà văn Cô thú nhận là đã bị lôi cuốn vào sự khổ hạnh của tuổi thơ và đặc biệt say mê những chuyện thần tiên như chuyện cô bé bán diêm bị chết vì cóng lạnh
Từ đây, văn chương đã trở thành người bạn thân thiết đồng hành cùng Lê trong mọi cảm xúc, mọi cung bậc của tâm hồn, là chỗ dựa tinh thần, “đấng cứu rỗi” của
Lê trước vô vàn những va đập, thương tổn từ cuộc sống Nó giúp cô thoát khỏi sự rụt rè, hãi sợ để phát triển thành một thứ ham muốn, đói thèm đối với tất cả những
gì ở cách xa cô, những gì có vẻ thật khổng lồ, quá khổ đối với cô, quá trình ấy bắt đầu từ việc đọc và sau này là viết văn Một nhà thơ đã viết:
Có những phút ngã lòng Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy
(Phùng Quán) Linda Lê của chúng ta cũng đứng dậy, mạnh mẽ hơn sau vấp ngã, đổ vỡ và mất mát, nhờ văn chương Mặc dầu bị những trang viết đen tối ám ảnh, cô vẫn cho
việc đọc sách là một hình thức cứu rỗi: “Tôi có cảm tưởng văn học giúp tôi tạo ra
những mối liên hệ với đồng loại Tôi từng là người rất rụt rè Nhờ sách, tôi mới cởi mở với thế giới bên ngoài hơn một chút” [79]
Cũng giống như M Proust, Marguerite Duras, Linda Lê viết văn là cách để
cô giải cứu cuộc đời mình Viết để sống lại một thời mà mình không thể nào quay lại nữa, dù đau đáu trong nuối tiếc, trong xót xa, ân hận Xa Việt Nam theo mẹ sang Pháp là cô phải xa cả người cha mà cô rất mực thần tượng, yêu thương Cha
cô từng là mẫu người lý tưởng của cô và các chị em luôn nói đùa cô là đệ tử của ông Ông là người có ảnh hưởng sâu sắc nhất và cũng là người tạo nên huyết mạch
trong dòng máu văn chương chảy trong tâm hồn cô: “Nếu không có ông, nếu
Trang 24không có ý chí mà ông truyền vào các mạch máu của tôi, cũng như sự giáo dục mà ông đã dành cho tôi, thì hẳn tôi đã không khởi sự viết văn” [41].
Và như một điều tất yếu, Linda Lê đã dựa vào cái phao duy nhất để đồng hành, để vượt qua nỗi đau ấy, đó chính là cái phao văn chương Viết văn đã giúp
cô sống lại những tháng ngày hạnh phúc bên cha Viết văn là liệu pháp để cô trút
những niềm đau ám ảnh thường trực về cha Tiểu thuyết Tiếng nói với những cơn
khủng hoảng của cô gái về bóng ma người cha chính là minh chứng cho điều đó Viết văn cũng là cách Linda Lê vọng kính người cha đã mất khi cô cho ra đời
Thư chết - một tác phẩm đau thương nhất, mê hoặc nhất của cô Linda Lê cũng
từng phát biểu chỉ có một lần duy nhất cô nghi ngờ hiệu lực của văn chương, ấy là sau cái chết của cha cô và sự suy sụp của chính cô Tuy vậy, ngay cả trong những tình huống cực đoan, cuối cùng cô cũng tìm được điểm tựa để vùng đứng dậy, đó lại vẫn là điểm tựa văn chương Điều này ở Linda Lê làm người ta nhớ đến giai
thoại về Dostoevsky, khi người ta hỏi ông thích nhất tác phẩm nào, ông nói Anh
em nhà Karamazov, ông thú thực đã viết khi đang bị bệnh trĩ hoành hành, chứng
động kinh quằn quại về thể xác và những chấn thương cùng cực về tinh thần Không nỗi đau đớn nào bỏ qua ông, không một nhục hình nào quên ông nhưng ông lại gom tất cả những thứ ấy để đốt cháy thành niềm đam mê sáng tạo Viết giúp ông trượt qua nỗi đau rất thực đó giống như Linda Lê vịn vào câu chữ để tồn tại trước vô vàn nỗi đau hữu hình và vô hình của cuộc đời Cả Dostoevsky và Linda Lê đều viết về nỗi đau để vượt qua nỗi đau
Sống trong thế giới nghệ thuật, Linda Lê như được giải thoát khỏi mọi ràng buộc và tự do tái tạo đời sống theo lý tưởng của riêng mình Chọn một lối đi đơn độc, Linda Lê xây dựng thế giới nhân vật mà ở đó người ta có thể tự giải phóng mình ra khỏi những thành kiến đạo đức, giải phóng cá nhân, thể nghiệm hết chiều
sâu, sự táo bạo trong sáng tác văn học Thông qua Vu khống, Lê chứng minh rằng
việc đọc sách là một cách rút lui khỏi xã hội đầy những căng thẳng và viết văn như một phương tiện, mặc dù không hoàn hảo, nhưng nhờ nó những người yếu kém
bên lề xã hội có được tiếng nói Trong tác phẩm này, sách được coi là thứ thuốc an
thần của cả người cậu “điên” và cô cháu gái nhà văn Mỗi người đều tìm đến sách
Trang 25vở theo cách của riêng mình Với người cậu, sách vở là liệu pháp tách khỏi quá khứ Với cô cháu gái, sách vở là phương cách thâu tóm lại những gì đã mất Cả hai cậu cháu đều bám víu vào sách để mong mình không bị bào mòn, trượt dốc trước hiện thực đong đầy những tổn thương Sách vở là văn hóa cứu vớt, là thuốc dịu đau hữu hiệu của cậu: “Tối về phòng mình, tôi vừa ăn vừa đọc […] Tôi không ngờ lại có thứ thuốc an thần hạng nhất này – văn hóa” Sách vở là phép nhiệm màu và sách vở trở thành vũ khí duy nhất để bảo vệ, để cứu vớt cuộc đời cậu
Nếu sách vở đã giúp cậu thoát khỏi điên loạn, thoát khỏi ám ảnh quá khứ, thoát khỏi sự bủa vây của nỗi cô đơn lạc lõng giữa mênh mông biển đời, thì trái lại, cô cháu gái đã dùng chữ nghĩa để thách thức cuộc đời, lật tìm quá khứ Với vai trò “làm bà chủ chữ nghĩa”, cô ngang nhiên “chưng cất thuốc dịu đau, chế biến thuốc an thần” Cô biến việc viết văn bằng tiếng Pháp thành công cụ giúp cô có thể sống được một mình, không cần gia đình, cũng chẳng cần Đất Nước Cả hai cậu cháu đều tìm đến văn chương để làm lối thoát, để bật rễ hoàn toàn khỏi gia đình, để không bị tán dẹp trong những mẫu sản phẩm theo ý đồ tạo tác của gia đình
Khi sống trong một gia đình thừa tính toán và thiếu sẻ chia thì sách chính là cứu cánh, là con đường giải thoát hữu hiệu nhất mà Linda Lê chọn cho các nhân vật của mình, và biết đâu, đó cũng là cách cô chọn cho cô Hai nhân vật chính
trong Vu khống đều tìm đến sách một cách tự nhiên, kiên trì và vô thức như con
người tìm đến hơi thở của sự sống: “Nó buộc số kiếp nó với sách vở Một cách
kiên trì Tôi cũng vậy, một cách vô thức Sách vở đã cứu chúng tôi, con bé và tôi”
Vậy nên, trong tác phẩm của Lê xuất hiện rất nhiều kiểu nhân vật nhà văn, nhân vật người đọc Tất cả những nhân vật ấy đều có một điểm chung là họ tuyệt
đối trân trọng sách hơn bất cứ thứ gì, họ nâng niu sách như nâng niu một báu vật:
“Tôi đem sách bên mình, giữ trong túi Nó sưởi ấm tôi” (Vu khống)
Một mình trơ trọi giữa thế gian, nhân vật trong tác phẩm của Linda Lê không tìm một con người để sẻ chia, không tìm một con đường để đến mà chỉ duy nhất tìm vào nhịp rung của câu chữ, tìm vào độ nóng sáng của ngôn từ, bám víu vào một bến bờ tuyệt đối an toàn: sách, như người chết đuối vớ được cọc: “Chúng đã
Trang 26tạo nên thành lũy quanh tôi”; “Trong chân không đã đến ngự trị ấy, tôi cố bám lấy
sách vở; chúng từng cứu tôi, chúng sẽ cứu tôi một lần nữa” (Vu khống) Dẫu cho
trong quá trình vượt thoát ấy, cũng khá nhiều lần con người suýt ngạt thở và chết đuối, nhưng còn hơi thở là còn muốn vượt thoát, còn hơi thở là còn tiếp tục đấu tranh: “Ông thấy ở nơi tôi một người vùng vẫy, lội ngược dòng, suýt ngạt thở và
chết đuối, nhưng vẫn không thôi chống chọi, không để mình cho sóng dập vùi”
(Vu khống)
Viết là một nhu cầu, một cuộc trò chuyện bất tận với chính mình như người
cậu trong Vu khống: “Một lần nữa, tôi trốn vào sách vở Nhờ sách vở, tôi đã đạt được một thỏa hiệp với chính tôi, nuốt trôi được nỗi chán ghét” Viết còn trở thành
vũ khí giải thoát, trút bỏ mọi hận thù, yêu ghét như cô gái chuyên viết những bài
diễn văn cho ông chủ của mình trong truyện ngắn Lọ mực: “Tôi sảng khoái không
tả xiết mỗi lần chấm bút lọ mực này viết ra lòng thù hận của tôi đối với Lynx cùng tất cả những gì hắn là hiện thân” Viết cũng là cách con người tìm đến Chân Thiện
Mỹ Quan điểm này của Linda Lê giống với Nguyễn Huy Thiệp khi ông cho rằng:
“Văn chương vừa là cứu cánh, vừa là công việc Văn chương là đạo giúp mình sáng nước hơn, nhìn ra những cái mới” và “Văn học như cái phanh, làm cho con người sống chậm, sống tử tế hơn.” 3
Rõ ràng, chỉ có viết và sách mới làm cho nhân vật của Linda Lê cảm thấy an
toàn và sẵn sàng buông thả mình trọn vẹn với nó Ở đó không có hoài nghi, không
có gian dối, không có giả trá, lọc lừa Nó giúp cho người ta giải thoát và tìm thấy
lẽ sống đúng nghĩa của cuộc đời mình: “anh buông thả mình trọn vẹn trong sách
vở Ấy là lẽ sống của anh” (Phénix trong Vết cắn) Sách còn là điểm tựa vực người
ta lên sau những phút yếu lòng, sách là nguồn nước mát lành xua tan cơn khát cháy trong những ngày nắng hạn, và đôi khi thật bình yên, sách trở thành “cái
máng nước cho tôi vục cái đầu mỏi mệt của tôi vào” (người cậu trong Vu khống)
Có được bình yên, Linda Lê đã chọn một cuộc sống đơn độc để sáng tạo,
không chồng, không con: “Cô sợ mang thai, sợ cho con bú, vì e rằng từ bầu vú
3
Trích theo Kim Yến (2012), Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp: Danh càng cao, hoạ càng nhiều,
http://nhavantphcm.com.vn
Trang 27mình lại tiết ra những tia mật đắng của nỗi sầu nơi mình” 4 Cho đến giờ phút
này, Linda Lê không có gì nuối tiếc, ân hận Cô tìm được sự giải thoát cho tâm hồn mình nhờ văn chương Như vậy, cô đã chọn cái thế giới này một cách có chủ đích và đứng vững trong đó, không cần biết đến sự tồn tại của thế giới khác Cô
khẳng định “Tôi chỉ biết đấu tranh bằng ngòi bút Có thể một ngày nào đó thời
thế sẽ buộc tôi hành động khác đi Nhưng ngay bây giờ, trong xã hội nơi tôi sống, vũ khí duy nhất của tôi vẫn là ngòi viết” [79].Cá tính của một nhà văn “cay nghiệt và vĩ đại” ấy phần nào giống Kafka – đời tư của ông đã góp phần làm nên thiên tài nơi ông Trong suốt cả cuộc đời ngắn ngủi của mình, bất chấp bệnh tật
và những bất hạnh đời tư (quan hệ với cha không mặn mà, vợ con không có), Kafka vẫn không ngừng đấu tranh để tồn tại đúng nghĩa và ông đã chọn phương
tiện đấu tranh là văn học Ông đã viết trong Nhật kí: “Tôi sẽ tiếp tục viết văn bất
chấp tất cả, với bất cứ giá nào Đó là cuộc đấu tranh cho sự sống còn của tôi”
[17, tr.43]
Không còn nghi ngờ gì nữa, với Linda Lê, viết là sự giải thoát, sách vở là hình thức cứu rỗi tâm hồn con người Quan niệm này đã đang và có lẽ sẽ chi phối đời sống nội tâm các nhân vật trong hầu hết các tác phẩm của cô khi họ vượt qua
sự cô đơn bằng một cách rất đơn giản, đó là nhờ tình yêu và những cuốn sách Thế nên, thật dễ hiểu khi cuối cùng, sau bao năm trải nghiệm bằng tình yêu văn chương, bằng sức bền của ngòi bút, Linda Lê đã rút ra chân lí, rút ra quan điểm
của riêng mình khi cô để nhân vật người cậu trong Vu khống kết luận rằng: “Hạnh phúc thay kẻ là một cuốn sách”
1.1.2.2 Văn học là nhịp cầu kết nối những con tim
Quan niệm viết để giải thoát đã giúp Linda Lê giải phóng lối viết khỏi những nguyên tắc truyền thống Thay cho sự bó buộc bởi hàng loạt quy chuẩn vốn có là cái nhìn cởi mở trong sáng tạo nghệ thuật Với cô, sáng tác văn chương không cần thiết phải tuân theo bất kì một phương pháp sáng tác cụ thể nào cả và cũng không nhất thiết phải bó hẹp trong một khung hình nào Linda Lê đã thể hiện rõ quan
4
Trích theo RFI (2011), Nhật báo Libération, http://wwwbaocalitoday
Trang 28điểm sáng tác ấy của mình qua hệ thống nhân vật trong các tác phẩm của cô Đối với Linda Lê, viết là giải thoát khỏi những cái gì vốn được xem là truyền thống, giải thoát là dám từ bỏ cái thói thường người ta tưởng là uyên thâm giống như cái
cách mà Thầy Tu (Vu khống) khuyên người bệnh nhân đặc biệt của mình: “trau dồi cảm tính thay vì nhồi sọ cho đầy”
Linda Lê còn cho rằng trong sáng tạo nghệ thuật, sự rập khuôn, lặp lại dưới bất kì hình thức nào, dụng ý nào đều đáng khinh như nhau Với cô, giải thoát là nổi loạn, là làm phản, là đi ngược với cái cũ giống như câu nói của nhân vật
Bellmot trong Vu khống: “Đệ tử mà không phản thầy thì chỉ là kẻ vô ơn”
Trong quá trình sáng tạo, với lối viết mới mẻ, khác biệt, Lê mang đến cho đối tượng tiếp nhận một thế giới hoàn toàn MỞ để họ tự do quan sát, chiêm nghiệm, nhìn nhận chứ cô không cố gắng “ép” độc giả theo một cái nhìn chủ quan của bản thân mình Nói cách khác, cô đã giải thoát cho chính mình, cho độc giả và cả nhân vật của mình ra khỏi thế giới của những quy chuẩn cảm tính chủ quan từ người
sáng tạo Cô không có nhân vật đại diện cho cái Đúng, cái Tuyệt đối, cái Chuẩn
hay sự khẳng định cuối cùng về nhận thức, mà nhà văn giải thoát cho nhân vật của mình bằng sự quan sát, sự phán xét của mỗi độc giả Và thế là, chúng ta phải tự mình đi xuống mê đồ trận đó, không người hướng dẫn để tới tận cùng những xúc cảm trong sâu thẳm nội tâm nhân vật mà Lê đã dựng lên Ở một khía cạnh nào đó,
ta thấy cách tìm đến với sự giải thoát của Linda Lê đồng nghĩa với việc “đẩy trách nhiệm”, “buộc nghĩa vụ” cho người đọc phải đồng sáng tạo với nhà văn Điều đó cho thấy, Linda Lê đã thành công, đã làm được cái điều mà J.Ricardou từng đặt ra đối với người sáng tạo nghệ thuật: nơi kết thúc cuộc phiêu lưu của việc viết chính
là nơi bắt đầu cuộc phiêu lưu của người đọc Điểm này, Linda Lê gặp gỡ quan
niệm của Robbe – Grillet: “Cái tác giả yêu cầu người đọc không còn là tiếp nhận
ngay một thế giới đã hoàn hảo, đầy đủ đóng kín đối với anh ta nữa, mà ngược lại anh ta phải tham gia vào việc sáng tác, đến lượt mình, anh ta cũng phải sáng tạo
ra tác phẩm – và cả thế giới nữa – và như vậy tức là anh ta học cả việc sáng tạo cuộc đời riêng của mình” [ 3, tr.74].
Trang 29Chính bởi sự cởi mở trong sáng tạo nghệ thuật và cảm giác lưu vong luôn tồn tại trong cuộc sống của mình, nên với Lê việc bị xếp loại trong một dòng văn học nào đó, một đất nước nào đó là điều cô luôn khước từ Cô thích cái ý nghĩ mình không ở đâu cả, không bị mất gốc rễ nhưng cũng không có ràng buộc Cô thích mình cứ ở vị thế chênh vênh và viết bằng một ngôn ngữ không mang tính quy phạm Đấy là cách cô chọn để phá mọi xiềng xích gò bó trong sáng tạo văn
chương Ngay từ khi bắt đầu cầm bút, Linda Lê đã đặt ra mục tiêu: trở thành một
nhà văn không quốc tịch với những tác phẩm không biên giới Linda Lê tiến bước
vào thế giới văn chương “với hành lý duy nhất là khát khao tri thức, với tấm hộ
chiếu duy nhất là lòng quyết tâm phá vỡ xiềng xích, tức là thoát ra khỏi một sự cắm rễ quá sâu vào lòng đất mẹ ảnh hưởng xấu đến sự thăng hoa và phát triển trí tuệ” [10]. Nhân vật trong tác phẩm của Linda Lê cũng nhiều lần phát ngôn cho quan điểm ấy của cô: “Chúng tôi Không Thuộc Nơi Nào, con bé với tôi Tôi sẽ
không trở về Đất Nước Tôi sẽ là gã điên vô tổ quốc” Điệp khúc “Chúng tôi Không Thuộc Nơi Nào” được nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần trong tiểu thuyết Vu
khống vừa như một tiếng kêu riết róng của nỗi niềm cô đơn, vừa như một niềm tự
hào vượt thoát khỏi xích xiềng, ràng buộc
Trong những buổi giao lưu với độc giả, Lê luôn tỏ rõ quan niệm “Văn học
không có biên giới”, ngược lại chúng có một sức mạnh mãnh liệt kết nối những
con tim Với quan niệm viết để giải thoát, Linda Lê không để mình phụ thuộc vào bất cứ thứ gì Cô đặt mình, về phương diện thẩm mỹ, trong nghệ thuật như một nơi giao kết văn hóa với bản thân và với người khác Viết văn bằng tiếng Pháp trên đất Pháp nhưng cô lại thấy mình kiêu hãnh như một người ngoại quốc viết tiếng Pháp Khái niệm giải thoát của Linda Lê khiến cô tự xếp mình là kẻ xa lạ với cuộc đời, với thực tại, với mảnh đất mà cô đang ở và với cả quê hương của cô, Việt Nam Linda Lê khước từ mọi tình cảm lệ thuộc Với cô, phụ thuộc có nghĩa là chết Chỉ
có văn chương là thứ tổ quốc mà cô nhìn nhận“như một chỗ ở mà tôi chưa thăm thú hết những căn phòng của nó”[10]
Các tác phẩm được viết bằng tiếng Pháp của Linda Lê còn là những trải
nghiệm về “ngôn ngữ lai chủng”, một ý hướng về văn chương không biên giới
Trang 30Sự đặc biệt ấy cũng chính là con đường mà Lê chọn để đi: “Không mang Tổ quốc
dán chặt dưới đế giày”, không đầu hàng khi đứng trước thách thức của “những người xa lạ kỳ lạ”, không chùn bước trước một thế giới mênh mông đa văn hoá
Linda Lê đã làm cho người ta biết đến một nhà văn Việt nhưng lại tồn tại nhờ một
ngôn ngữ khác, đầy kiêu hãnh Cô tự nhận là “kẻ bội phản đã quên đi tiếng mẹ đẻ
của mình và đã lấy tiếng Pháp để kể lại những nỗi gian truân của những nhân vật
mơ hồ, hai mặt, luôn ở giữa dòng” Nhưng cũng từ vị trí ấy mà người viết sẽ đóng
nhiều vai: “vai một công dân tương lai của thế giới, vai một người chở đò có triển
vọng, hành động để thống nhất, vai một thợ thủ công tiềm năng làm cho các dân tộc xích lại gần nhau” Như vậy, nghĩa là, quốc tịch và địa lí cụ thể của nhà văn
không còn là điều bận tâm “Làm nổ quốc tịch” mới cần thiết.5 Tác phẩm của cô,
vì thế, là “liên văn hóa” Để đạt được điều đó là nhờ sự can trường của cô, sự tôi
rèn lắm nghiệt ngã và cũng nhiều đam mê để bản thân cũng trở nên rộng lớn, tương cập mà vẫn bình thản trước cái đa diện, hỗn năng, uy quyền của những nền văn hoá lớn khác Và như thế, với Linda Lê, viết bằng ngôn ngữ nào không còn quan trọng nữa Vấn đề mà cô muốn hướng tới là từ bỏ những định kiến, những khái niệm đã xơ xác, mất đi ý nghĩa lành mạnh, tìm kiếm những nội dung mới mẻ cho nhận thức của con người và vươn tới một lối thụ cảm sâu sắc về thế giới
1.2 Yếu tố di dân trong tác phẩm của Linda Lê
1.2.1 Tiếng nói của kẻ lưu đày và niềm thống khổ của kẻ biệt xứ
Văn học di dân là sáng tác của các nhà văn sống ở nước ngoài Phần lớn những vấn đề nhà văn phản ánh trong tác phẩm của họ thường đề cập đến yếu tố nguồn cội, quê hương, sự giao thoa văn hóa giữa đất nước mình sinh ra và đất nước mình trú ngụ…Lịch sử văn học thế giới có rất nhiều những nhà văn di dân,
có người chọn nơi mình đến, có người chọn nơi mình từ đó bước đi để làm quê hương trong lòng, có người không chọn một nơi nào cả, đó là trường hợp của Linda Lê Dù xa Việt Nam đã rất lâu nhưng những ám ảnh về nơi chôn nhau cắt
5
Trích theo vietvan.vn (2010), Nhà văn Linda Lê nói chuyện văn chương với khoa Viết Văn, http//vietvan.vn
Trang 31rốn vẫn còn in dấu ấn mạnh mẽ trong Lê, và cứ mỗi lần như thế, cô lại tìm đến với văn chương để khám phá những chiều kích tiềm ẩn trong tâm trạng của một kẻ lưu vong xa xứ Chính vì vậy, Đào Trung Đạo không ngần ngại khi khẳng định:
“Linda Lê chính là nhà văn vô xứ toàn phần nhất” [29]
Linda Lê luôn cảm thấy mình là một “khách trú” (métèque) Lưu vong đã nâng Lê lên tới những cô đúc về tình cảm mà một người không phải xa xứ sẽ
không bao giờ cảm nhận được: “Cảm giác lưu vong rõ nét nhất là khi tôi cảm thấy
mình như một người xa lạ ngay trên đất nước tôi đang sống Các nhân vật của tôi cũng vậy, hầu hết đều không thể gắn kết được với thế giới xung quanh” [66].
Trường hợp Linda Lê giống như W.G Sebald không có một thứ tiếng để viết, dù viết bằng tiếng Đức, nơi ông sinh ra, hay tiếng Anh, nơi ông sống trên 30 năm vì ở đâu ông cũng chẳng cảm thấy ít ra đây là nhà của mình Ông chỉ là một di dân viết về di dân Cả ông và cả Linda Lê đều chứng minh rằng, tinh thần viết của
họ không trụ vào một nước, một ngôn ngữ Linda Lê viết nhiều về quê nhà Việt Nam như nhà văn Albert Camus viết nhiều về xứ sở ông đã ra đi Những tiểu
thuyết L'Etranger (Kẻ xa lạ), La Peste (Dịch hạch) cho đến Le Premier Homme
(Người đầu tiên) đều lấy bối cảnh là thành phố Alger bởi với ông quê hương chỉ
nhận ra khi nào đã mất nó Tâm cảm lưu đày in dấu ở khắp các tác phẩm, Camus thổ lộ: ở bất kỳ nơi nào, tôi cũng chỉ là kẻ lưu đày Về điểm này, Linda Lê đã chịu ảnh hưởng rất nhiều từ Camus Trong cảm thức di dân của một kẻ lưu vong, nhân
vật của Lê luôn bị ám bởi những Tiếng nói xua đuổi: “Đuổi cái con đó đi đi, ở đây không ai muốn thấy cái thứ đó cả” để rồi nỗi tủi thân, thương mình ngập tràn tâm
hồn kẻ lưu vong khi nghĩ tới một thân phận lưu vong khác, như mình: “Tôi đi tới mãi vùng ngoại biên Paris, tôi đang ở Meudon, nơi một nữ thi sĩ người Nga6đã sống những năm cuối cùng của đời mình trước khi trở về treo cổ nơi quê nhà Tôi
là hóa thân của bà” (Tiếng nói)
Trong những cuộc phỏng vấn, Linda Lê tự nhận mình là người phụ nữ phương Đông mất phương hướng, bị chia rẽ giữa khát khao giải phóng mình khỏi
6
Marina Tsvetaieva (1892 – 1941): nữ thi hào Nga
Trang 32tất cả những rào cản và ước muốn được giữ gìn những mối quan hệ tình cảm với
nơi mình sinh ra Cô nói: “Tôi chỉ có thể tìm thấy tính thống nhất của tôi khi tôi
viết, khi tôi lục tìm trong những kỷ niệm của mình để khôi phục lại những nỗi đau
và những nỗi ngất ngây từng cảm nhận”[10]
Như vậy, sự hiện hữu của văn chương là nỗi ám ảnh thường trực đối với nhà văn lưu vong bởi vì họ đang bị đe dọa mất dần những nguồn động lực sáng tạo Linda Lê cũng thế Angel Rama đã chứng minh điều đó qua nhận xét về nhà văn
lưu đày: "Không có những chướng ngại nào không vượt qua được, nhưng chúng là
những rào cản làm trở ngại truyền đạt Chúng đặt để nhà văn lưu đày vào vị trí một người khách tạm của một văn hóa” [99]
Như vậy, hiểu theo nghĩa rộng, lưu đày mang theo niềm thống khổ của biệt
xứ, nhưng đồng thời lại giúp người ta tiến thân vào cuộc đời mới, vượt khỏi giới hạn của những gì thân quen gần gũi Trường hợp của Linda Lê quả là như thế Cô luôn thấy mình như một người ngoại quốc viết tiếng Pháp, một kẻ xa lạ với cuộc đời, với thực tại, với đời sống, với xứ sở mà cô đang ở và với cả quê hương Cảm thức xa lạ của kẻ lưu đày Linda Lê cũng rất giống với Phạm Thị Hoài trong tiểu thuyếtThiên Sứ: “Tôi từ chối không đứng vào bất kì thế hệ nào Tôi từ chối bất kì
bộ đồng phục quá chật hoặc quá rộng nào” ; “Người ta kháo nhau, ở đám tang hôm ấy có một đứa trẻ chừng mười bốn mười lăm tuổi, không khóc, không cười, không hoa, không chứng chỉ, một mình đến viếng rồi lặng lẽ bỏ đi.”
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân đã nhìn nhận rằng: “người không chứng
chỉ có nghĩa không phải là thành viên của cộng đồng, là đứng ngoài cộng đồng, theo một nghĩa nào đó chính là kẻ xa lạ trong xã hội”[17, tr.111] Còn Linda Lê
thì thành thật chia sẻ với báo giới nước ngoài khi được hỏi về quê nhà: “Nguồn
cảm hứng Việt Nam cho tôi là thứ mà người ta có thể nhận được khi đã quên mất đường về Tôi xem Việt Nam như một đất nước trinh nguyên mà tôi đã biết những nỗi đau và ước mong một ngày, tôi có thể dùng sự phản bội để ngợi ca nó, nghĩa
là phải dùng đến một ngôn ngữ khác” [9].
Sự bội phản bản thân khi viết, những ám ảnh về Việt Nam luôn thấp thoáng
trong tác phẩm viết bằng tiếng Pháp của Linda Lê. Cô viết khá nhiều về những
Trang 33thân phận lưu vong Họ không được biết và không thể biết về Đất Nước mình buộc phải lìa bỏ Thế nhưng khát khao muốn biết và nỗi nhớ vô hình về nơi quê cha đất
tổ ấy khiến nó trở nên thiêng liêng, ngay cả trong nỗi buồn và sự tuyệt vọng Nhà
văn Lê Thị Huệ đã rất có lí khi cho rằng: “Lưu vong về tinh thần dễ tàn tật và tuyệt
vọng hơn lưu vong về địa lý” [47, tr.42] Nhân vật của Linda Lê cũng chịu sự “tàn
tật” về tinh thần ấy trong tâm thế của kẻ lưu vong bị khảo tra tội lỗi quá khứ: “Cả đời tôi, tôi chỉ yêu dấu hai thành phố, Sài Gòn và Paris Sài Gòn, nơi tôi phạm tội Paris, nơi tôi đền tội Tôi đã lê bước trên các đường phố hai thành phố ấy […]
Paris là một bà mẹ khảo tra, còn Sài Gòn là kẻ đồng lõa với tôi” (Nói với tôi đi)
Les trois Parques (Ba nữ thần số mệnh) của Linda Lê là câu chuyện của ba
phụ nữ Paris gốc Việt – không có tên, tượng trưng cho ba miền Nam Trung Bắc
của Việt Nam Người chị cả chỉ được gọi là bụng tròn (đang mang bầu), chân dài (đứa em phù phiếm), còn người em họ được gọi là một tay (cô ta mất một tay thời
thiếu nữ khi bị phát hiện mối quan hệ loạn luân với người anh sinh đôi) Tự cho mình là người gìn giữ truyền thống, bà chị cả xem hai đứa em là kẻ đào tẩu mất gốc vì khước từ quan hệ với quê cha nhưng chính bà chị cả lại là người chối bỏ cội nguồn, chối bỏ truyền thống trong tiềm thức Bị ám ảnh vì tội lỗi, ngột ngạt vì
chấn thương bị dồn nén, những nhân vật trong tác phẩm Les trois Parques (Ba nữ
thần số mệnh) luôn cần biện hộ cho sự ra đi của họ Vì vậy quê hương không còn
là những kí ức đẹp đẽ mà chỉ toàn là chiến tranh, cái đói và sự phản bội Ngôi nhà không còn là bình yên mà luôn chực chờ đe dọa bởi những thiếu hụt, khổ đau, mất mát
Cuốn tiểu thuyết mới nhất của Linda Lê, Lame de fond (Sóng ngầm) 7 được xem là cuốn sách nói về số phận của những kẻ xa xứ Cả bốn nhân vật chính của
Lame de fond (Sóng ngầm) đều bất lực trong việc thích nghi với thế giới bao quanh
họ Ám ảnh quá khứ và thân phận kẻ lưu đày chẳng khác nào những con sóng ngầm dữ dội dưới đại dương, cứ âm thầm, lặng lẽ, rồi khi đủ mạnh thì nó cuồn cuộn, trào dâng như muốn hất tung cuộc đời họ
7
Lame de fond (Sóng ngầm) là một trong bốn tác phẩm lọt vào vòng chung kết giải văn chương
Goncourt năm 2012, một giải thưởng Văn học danh giá của Pháp, chỉ sau giải Nobel.
Trang 34Tất cả những điều ấy đều xuất phát từ mục đích duy nhất là khao khát lấp đầy khoảng trống tạo ra bởi sự phải ra đi, phải lưu vong Nhưng nó cũng phản ánh một sự thật: Không bao giờ cắt đứt được cội nguồn trong tiềm thức kẻ biệt
xứ Nó sẽ mãi ám ảnh, mãi đeo bám và xuất hiện trước mắt họ ở mọi nơi, mọi
nẻo, mọi chốn Người họa sĩ trong Nói với tôi đi những tưởng khi đến Paris anh
sẽ quên được cái đêm mưa tầm tã ở Sài Gòn, cái đêm anh đã “bội phản tất cả,
tình yêu cũng như tổ quốc” Nhưng không dễ dàng như anh nghĩ, anh trở thành
“một bóng ma lẩn quất ở Paris, đi tìm tha thứ trong mắt những kẻ bị gạt ngoài lề”
Và đây, kẻ lưu đày tự nhận lãnh bản án từ tòa án lương tâm của chính anh ta kết tội khi tưởng rằng mình đã có thể hả hê với nỗi niềm vô xứ, mình có thể thanh thản khi “thoát” khỏi ám ảnh quê nhà, đoạn tuyệt với cội rễ Nhưng: “Lời vĩnh biệt đất nước, tôi tưởng đã dứt khoát, hóa ra chỉ là nhất thời” Tiếng nói của kẻ lưu đày
vì thế mà càng thêm khắc khoải, nỗi thống khổ của kẻ biệt xứ cũng từ đó mà càng khoét mãi sâu: “Tôi thao thức không sao chợp mắt Câu cuối cùng cuốn tiểu thuyết
của tôi, lời vĩnh biệt quê hương xứ sở, khiến tôi hối hận” (Người khách).
Yếu tố di dân còn thấy rõ trong cảm thức của Linda Lê – “một đứa con rơi,
bơ vơ trên tất cả xứ sở trên thế gian này ngoài huyền thoại của văn chương” 8 Cho
nên chúng ta cũng không có gì ngạc nhiên khi yêu tiếng Pháp đấy, viết văn bằng ngôn ngữ Pháp đấy nhưng cô thấy mình thật cô đơn, trơ trọi, thật khó hòa nhập với
Paris, mảnh đất cô đang trú ngụ Không ít lần trong Tiếng nói, Linda Lê để cho
nhân vật phải thảng thốt kêu lên: “Paris thật độc ác” Hiểu được điều này chúng ta
dễ dàng lí giải vì sao hầu như tác phẩm nào của Linda Lê cũng đều xuất hiện nỗi
ám ảnh quê nhà Đó cũng chính là tiếng nói của kẻ lưu đày, đó chính là sản phẩm của niềm thống khổ biệt xứ nơi nữ văn sĩ Linda Lê
1.2.2 Linda Lê và nỗi ám ảnh quê nhà
Quê nhà không phải là một đề tài mới lạ mà nó đã được những nhà văn di dân
đề cập tới từ trên 100 năm nay Theo quan điểm của Đào Trung Đạo, khái niệm
8
Đinh Linh, Lời tựa trong Tiếng nói
Trang 35“nhà” luôn gắn liền với khái niệm chủ thể (subject) Tuy không hẳn những người đang có/ở quê nhà không có hay ít khi nhắc tới khái niệm này nhưng quê nhà chỉ
có ý nghĩa sâu sắc đối với những người mất, không có hoặc xa quê Vậy khái niệm này nói lên cái khoảng cách xa rời: quê nhà là một điểm cố định và ở đầu kia là đất khách, là lữ thứ, ra đi, du hành, góc biển chân trời Với những người vô xứ dù bị bật rễ (uprooted), di rời (displaced) đất sống, không thể nói họ hoàn toàn không có nhà Nhưng quả thực hiện tại họ không còn có quê nhà nữa Vậy nên những nhà văn này luôn bị dằn vặt quay quắt về quê nhà và sự dằn vặt đó ám ảnh, đeo bám trong tác phẩm của họ[29].Trường hợp Linda Lê là một điển hình
Trong Vu khống, 26 lần Linda Lê nhắc tới Đất Nước thì cả 26 lần hai tiếng thiêng liêng ấy được cô viết hoa một cách trang trọng
Ám ảnh về nơi chôn nhau cắt rốn luôn thường trực trong những trang viết của
Linda Lê Trong tất cả các cuốn tiểu thuyết đã xuất bản, nhất là ba quyển Les trois
Parques (Ba nữ thần số mệnh), Voix (Tiếng nói) và Lettre morte (Thư chết) “quê nhà hồi tưởng là cái nền tối thẳm các nhân vật tiểu thuyết đã đem theo trong cuộc đời bỏ xứ để trải lên những chốn nào hôm nay tạm trú” [29]
Nhân vật người lưu vong trong truyện ngắn Trát đòi luôn cố gắng tống táng
căn nhà tuổi thơ, chối bỏ tất cả những sự ràng buộc nguồn cội nhưng lại không thể đóng cửa con đường tìm về với những hoài niệm trong thẳm sâu tâm thức: “Tôi vui thích lặp lại lời cầu nguyện của Phu nhân Macbeth9, hãy đóng kín nơi tôi mọi lối, mọi nẻo tới hối hận Nhưng không đại dương từ ngữ nào đủ rửa sạch máu xưa ấy”
Những dằn vặt bội phản làm cho nhân vật của Linda Lê tự trừng phạt mình, nguyền rủa mình như một tội nhân không bao giờ được tha thứ Đó chính là bằng chứng cho một con người luôn mang tâm trạng kẻ chạy trốn đất nước, và cũng là mặc cảm nhân bản của người con Tổ quốc Đến một nơi chốn khác nhưng vết thương từ nơi cũ cứ thế bám riết lấy nhân vật của Linda Lê Miền đất hứa Paris
bỗng trở thành nơi đền tội, nơi chỉ để cày hối tiếc, nơi chỉ để gặt cô đơn
9
Nhân vật trong kịch của văn hào Anh Shakespeare (1564 – 1616)
Trang 36Nhưng cuối cùng, dù không nhiều song đâu đó trong những tác phẩm của Lê, người ta vẫn thấy những khao khát, những ước mong được trở lại quê hương, được
quay về nguồn cội như người cậu và cô cháu gái trong Vu khống: “Chúng tôi trôi
giạt, hy vọng sóng nước sẽ cuốn chúng tôi về cội nguồn” Khao khát ấy, mơ ước
ấy luôn đeo đẳng con người lưu vong nên dù đang ở bất cứ nơi đâu, dù tận hưởng bất cứ những thứ tiêu khiển thú vị nào, họ cũng đều cảm thấy lạc lõng và không thể quên được hình bóng quê nhà
Người họa sĩ, kẻ trốn chạy quê hương trong Nói với tôi đi là trường hợp như
thế Anh đến với Paris chẳng khác nào “người tình lưu đày mà những giọt nước mắt, rượu đắng của hoàng hôn, vẫn chẳng thể làm quên lãng vương quốc của mình” Âu đó cũng chính là lí lẽ của con tim kẻ lưu đày, âu đó cũng chính là những nhịp rung của tình yêu quê hương nơi người xa xứ
Những kí ức quê nhà luôn thường trực trong nhân vật của Linda Lê và trong chính con người cô Đó cũng là lí do vì sao các tác phẩm văn học Việt Nam luôn đem lại cho cô cảm giác kì lạ, cô gọi đó là cảm xúc của một người con xa quê Và khi các tiểu thuyết của mình được dịch sang tiếng Việt, ngôn ngữ của quê hương bản xứ mình, Lê đã không giấu nổi niềm xúc động và cô cho rằng điều đó giống như là một bức thư cô viết đã đến được đúng địa chỉ, tương tự như khi người ta ném một cái chai xuống biển và nó đến được tay người nhận
Thì ra cuối cùng mọi con đường đều có đích đến và đích đến của những sáng tác mà Lê viết kia hẳn đong đầy bóng dáng quê nhà, cho dù bóng dáng ấy được tạo tác bởi sự bội phản, chối bỏ, lãng quên hay sự quay quắt, mong ngóng được trở về
Đó là một sự thật hiển nhiên Đó là một tình cảm không thể phủ nhận
1.2.3 Linda Lê và nỗi ám ảnh ngôn ngữ
Thực tế cho thấy, chốn lưu đày không có những sợi dây ràng buộc, mọi thứ
chỉ ở bên ngoài không lặn được vào trong Để chiếu rọi, tìm kiếm lại quê nhà, những nhà văn di dân đã sử dụng ánh sáng của ngôn ngữ Người dùng Việt văn để viết cho rằng họ không thể mất mát thêm một lần nữa (mất tiếng mẹ đẻ) Còn ngược lại, Linda Lê đã dùng ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ bằng thái độ nổi
Trang 37loạn, phản kháng Vì vậy, ngôn ngữ của Linda Lê cũng là ngôn ngữ lưu vong, thứ ngôn ngữ không thể dựa vào, trụ vào được một nơi chốn, một quốc gia nào Cô
từng thú nhận rất thành thực: “Ecrire dans une langue qui n'est pas la sienne, c'est
fair l'amour avec un cadavre” (Tạm dịch: “Viết trong một ngôn ngữ không phải của mình, chẳng khác gì làm tình với một thây ma”) Cô chọn tiếng Pháp, tuy
nhiên cô vẫn đau đáu về tiếng mẹ đẻ và luôn cảm thấy lạc lõng xa lạ với ngôn ngữ Pháp Điều này được Lê diễn tả như một sự đánh đổi, sự trả giá khá đắt trong cuộc
đời mình: “Tôi luôn cố gắng để nói tiếng Pháp giỏi hơn cả người bản địa và tôi đã
làm được được điều đó Tôi luôn cố gắng để làm tất cả những gì người bản địa làm được và không chấp nhận trước một thất bại nào Đổi lại tôi đã đánh mất tiếng mẹ đẻ của mình Đấy có lẽ là cái giá khá đắt mà tôi đã đánh đổi” [67]
Có thể nói Linda Lê là một trong những nhà văn hải ngoại thành công nhất hiện nay Đổi lấy thành công như bây giờ cô đã hy sinh rất nhiều, dằn vặt cũng rất nhiều vì đánh mất tiếng mẹ đẻ, cho dù sự mất mát này nằm ngoài mong muốn của cô:
Tôi không bao giờ chối bỏ ngôn ngữ mẹ đẻ Giao tiếp bằng tiếng Pháp, viết bằng tiếng Pháp, như vậy không có nghĩa tôi xa rời tiếng Việt Nhưng điều này đã xảy ra ngoài ý muốn, đó là khi cha con tôi buộc phải chia tay Tôi buồn đến mức, có cảm giác một phần con người mình đã ở lại Việt Nam Khó khăn lắm tôi mới vượt qua được nỗi đau ấy [66].
Sự ám ảnh bội phản bởi đánh mất ngôn ngữ mẹ đẻ cứ trở đi trở lại trong các tác phẩm của Linda Lê Những nhân vật mà Lê tạo dựng luôn rơi vào thế giằng xé, mâu thuẫn giữa việc nên hay không nên dùng tiếng Pháp thay cho tiếng mẹ đẻ Đôi khi nó làm con người hoang mang, ngờ vực vào chính bản thân mình: “Tôi lại phải
ra đi thôi Nếu như tôi xiêu lòng được – nhưng bằng ngôn ngữ nào đây? – cái gã
gác cửa dữ dằn đòi xét giấy thông hành của tôi” (Trát đòi)
Hằn lên trong từng câu chữ là sự dằn vặt, giằng xé, khổ đau bởi hai thứ ngôn ngữ: ngôn ngữ mẹ đẻ (Tiếng Việt) và ngôn ngữ để tồn tại, để khẳng định mình (Tiếng Pháp) Nhân vật của Linda Lê rơi vào tình trạng mâu thuẫn cực độ để rồi bị
lạc lối, bị lưu vong trong tâm hồn mình “Tôi lại phải ra đi thôi”, lời nói nghe chua
Trang 38chát như buộc phải cắt lìa một bộ phận trên cơ thể, như buộc phải bịt kín dòng máu cội nguồn đang dào dạt tuôn chảy trong con người cô
Ở Le Complexe de Caliban (Phức cảm Caliban), phần u tối, phản kháng, bất
quy tắc khi sử dụng ngôn ngữ khác càng rõ nét hơn Qua đây, Linda Lê đã chia sẻ một thông điệp: Nhà văn lưu vong chọn viết bằng tiếng Pháp phải chịu mặc cảm Caliban Caliban được Prospero dạy để nói được bằng một thứ tiếng không phải của mình Học từ ông thầy Prospero, nhưng ngôn từ của Caliban không thông thái,
thuận hòa mà chỉ được dùng cho một mục đích duy nhất: nguyền rủa
Tâm thế lưu vong và đề tài lưu vong sẽ còn cháy mãi trong nhà văn vô xứ Linda Lê Và dĩ nhiên, viết bằng ngôn ngữ nào với Linda Lê không còn quan trọng nữa bởi tư tưởng kẻ xa lạ vẫn luôn hiện hữu trong từng trang viết của cô
1.2.4 Linda Lê và nỗi ám ảnh quá khứ
Linda Lê bắt đầu thăm dò phần đất của sự hoài nhớ như một sự luyến tiếc quá khứ Cô cảm nhận quá khứ trong những gì thiêng liêng nhất, chứ không phải
là thứ màu mè hay đa cảm Do đó, những nhân vật trong tác phẩm của Linda Lê không ngừng nhìn lại phía sau vì họ luôn bị gặm nhấm bởi những ám ảnh quá khứ
1.2.4.1 Kí ức tuổi thơ
Cuộc đời ai cũng trải qua những năm tháng tuổi thơ Những năm tháng đó không dài nhưng nó lại là điểm khởi đầu có vai trò quyết định cả một chặng đường đời sau đó Vậy nên, kí ức tuổi thơ là một ám ảnh quá khứ được nhắc đến
khá nhiều trong các sáng tác của Linda Lê Trong truyện ngắn Trát đòi, nhân vật
“tôi” khao khát quay trở về ngôi nhà tuổi thơ với những hồi ức trong sáng ghi dấu
ấn trên mọi kỉ vật: Này đây “Cái bàn viết, với các vệt mực, nhắc tôi rằng tôi đã
ngồi đấy nguệch ngoạc những chữ đầu bảng chữ cái” Nó còn giữ dấu vết những
bước đầu của cô bé trong thế giới các từ ngữ, thuở ấy vô cùng huyền bí với cô
Này đây “đôi giày đính những cái vòng, quà sinh nhật của tôi năm lên ba” Hồi đó
cô thích đôi giày ấy đến độ cô đòi bó chân để có thể mang chúng suốt đời Này
đây “dưới đất, lăn lóc những hòn bi tôi đã đem mấy con tem đánh đổi” Này đây
Trang 39“Cái kệ trên bàn viết trưng ra tựa những vết thương những cuốn sách rã rời xưa
kia” đã dạy cô mơ mộng và rồi cô đã bỏ đó để đi săn đuổi những kho tàng khác
Và này đây kí ức tuổi thơ cô đơn cũng song hành ùa về: “Nằm vắt ngang trên một cái ghế, con rối bằng gỗ từng chơi với tôi trò Chỉ – có – chúng – ta – trên – đời đã mất một tay và nụ cười ảm đạm của nó đã trách tôi đã bội phản người bạn đầu tiên của mình” … Lật tất cả mọi ngăn kéo từ kí ức tuổi thơ, “tôi” như được chạm vào những khoảnh khắc thật gần gũi, thật ngọt ngào mà cũng rất đỗi thiêng liêng trong cảm thức về nguồn cội Từ chốn lưu vong về quê hương, tìm lại ngôi nhà thuở ấu thơ, “tôi” mong tìm lại mùi thơm trái cây mình trồng lúc tuổi lên năm, mong nhìn lại khoảnh khắc lén cha mẹ trèo lên cây ấy thuở lên mười, mong nghe lại một bài
ru em đã quên lời nhưng âm điệu du dương vẫn vang vọng trong miền kí ức như một thánh ca nội tâm Thế nhưng tất cả dội về không còn là ngôi nhà tuổi thơ mà
trở thành quan tòa với Trát đòi như tựa đề tác phẩm: “Tôi bị kết án phải thấy ngôi
nhà tuổi thơ mất tích Tịch thu quá khứ là hình phạt tôi phải chịu cho tội phản
bội”
Còn trong Lettre morte (Thư chết), căn nhà thời thơ ấu và người cha đã chết
cô độc là nỗi ám ảnh bám riết lấy người con vô xứ “Những bóng ma của quá khứ
nuốt chửng nàng, tương lai mở ra trước mắt nàng như một cõi hư vô…Nàng trở thành một kẻ cư trú bất chính trong thế giới này”10
Và đồng hành cùng ám ảnh tuổi thơ là hình bóng người cha luôn xuất hiện dày đặc trong hầu hết các tác phẩm của Linda Lê
1.2.4.2 Hình bóng người cha
Trong miền kí ức của Linda Lê, hình bóng người cha chiếm một vị trí lớn lao nhất, có ảnh hưởng nhiều nhất Những kỉ niệm ngọt ngào bên người cha bao giờ cũng là những khoảnh khắc bình yên trong tâm hồn của các nhân vật Lê viết Cô
đã kí gửi vào đó sự tôn kính, mến phục gần như tuyệt đối người cha và cũng là
điểm tựa tinh thần duy nhất của cô Người cậu trong Vu khống không thể nào quên
10
Linda Lê (1999), Lettre morte, NXB Christian Bourgois, tr.103 : "Les fantomes du passé la dévorent, le futur s’ouvre devant elle comme un néant…Elle est devnue l’hôte inconvenant de ce monde.”
Trang 40người cha của đứa cháu gái khi ông mò mẫm: “mua gỗ đem về đóng một cái bàn viết cho nó, và sơn màu xanh da trời như nó đã đòi” Còn đứa cháu thì vẫn thường
“cong mình trên chiếc xe đạp nhỏ với một chồng báo cũ buộc ở yên sau Nó sục sạo khắp thành phố, tìm cách kiếm ra tiền” để lo cho cha khi ông thèm một chút gì bất thường Hai tâm hồn cô đơn, Cha và Con gái, đã dựa vào nhau để tồn tại, nương vào nhau để vui sống, tìm thấy trong nhau mối tương giao lạ kì tuôn chảy
bởi dòng máu tình thân Kí ức tuổi thơ của đứa cháu gái luôn đong đầy nỗi nhớ
những buổi sáng cùng đi với cha đến nhà thờ, những buổi chiều, ngày cuối tuần theo cha tới các rạp chiếu bóng Ấy là thú tiêu khiển vụng trộm của họ Ấy là lúc
cô bé giúp người cha ngồi trong bóng tối, quên mình với đồng lương nhỏ mọn, quên mình là kẻ bất đắc chí, kẻ chỉ có mỗi một điều để hãnh diện: cho cô bé mang
họ của ông, để nó ghép vào cái tên quốc tế của nó Tất cả những giây phút ấy như một lá bùa hộ mệnh cho cô Những năm tháng sau này, nó hóa thành niềm thương cảm sâu sắc với người cha nơi quê nhà Nó cũng khiến cho tâm hồn cô không bao giờ tìm được sự thanh thản, bình yên
Có thể nói, chưa đầy 20 năm xa cha, xa quê nhưng Linda Lê đã chịu hàng thế
kỉ dằn vặt Sự dằn vặt vẫn cứ tồn tại ngay cả khi đối tượng gây ra nó không còn nữa Linda Lê kí thác nỗi niềm ấy vào những cơn khủng hoảng, những hoài nhớ
của người con trong tiểu thuyết Tiếng nói: “Tôi trỗi dậy, lấy trong ngăn kéo ra cái
phong bì lớn đựng những lá thư của cha tôi, những lá thư cha viết trong ngôi nhà thời thơ ấu của tôi mà tôi đã cất giữ, đọc lại hàng mấy năm sau khi người mất”
Năm 1995, người cha thân yêu của Linda Lê mất khi ông chuẩn bị sang viếng thăm Pháp sau ròng rã hai mươi năm cha con không gặp nhau Sau cái chết của ông, Linda Lê lâm vào tình trạng khủng hoảng tinh thần, cô bị ám ảnh bởi những hình ảnh tự sát và có những hành động hoảng loạn Sự đau đớn vì mất mát này
khiến cô phải vào bệnh viện Tất cả được phản ánh trong hai tác phẩm Tiếng nói
(Voix) và Thư chết (Lettre morte) Hình ảnh người cha chết và bị bỏ rơi cùng với
việc thiêu hủy những lá thư đã in đậm trong cả hai tác phẩm Trong Tiếng nói,
người con gái đốt những lá thư của người cha quá cố, khiến người cha liên tục trở
về với những cảnh tượng hỗn độn hãi hùng và chất chứa đau đớn, cắt chia Trong