1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thủ tướng tanaka kakuei trong sự nghiệp hiện đại hóa và tự chủ ngoại giao của nhật bản những năm 70 của thế kỷ xx

106 46 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thủ Tướng Tanaka Kakuei Trong Sự Nghiệp Hiện Đại Hóa Và Tự Chủ Ngoại Giao Của Nhật Bản Những Năm 70 Của Thế Kỷ XX
Tác giả Quan Yến Anh
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Tiến Lực
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Châu Á học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (8)
  • 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (9)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (12)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (13)
  • 5. Mục tiêu của luận văn (14)
  • 6. Đóng góp của luận văn (14)
  • 7. Bố cục của luận văn (15)
  • CHƯƠNG I NHẬT BẢN VÀ THẾ GIỚI VÀO NHỮNG NĂM 60- (16)
    • 1.1. Nhật Bản vào những năm 60 -70 của thế kỷ XX (17)
      • 1.1.1. Tình hình kinh tế (17)
      • 1.1.2. Tình hình chính trị - ngoại giao (24)
      • 1.1.3. Tình hình xã hội (31)
    • 1.2. Tình hình thế giới vào những năm 60-70 của thế kỷ XX (35)
      • 1.2.1. Nước Mỹ và các “cú sốc Nixon” (35)
      • 1.2.2. Trung Quốc và “Đại cách mạng văn hóa” (40)
      • 1.2.3. Chiến tranh Việt Nam (42)
  • CHƯƠNG II CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA TANAKA (46)
    • 2.1. Từ doanh nhân đến nghị sĩ quốc hội (47)
    • 2.2. Từ nghị sĩ quốc hội đến Bộ trưởng (51)
    • 2.3. Trở thành Thủ tướng thứ 64 của Nhật Bản (56)
  • CHƯƠNG III VAI TRÒ CỦA THỦ TƯỚNG TANAKA KAKUEI VỚI NHẬT BẢN NHỮNG NĂM 70 CỦA THẾ KỶ XX (62)
    • 3.1. Cách tiếp cận để đánh giá Tanaka Kakuei (63)
    • 3.2. Vai trò của Thủ tướng Tanaka đối với Nhật Bản trong những năm 1970 (67)
      • 3.2.1. Khởi xướng kế hoạch rộng lớn hiện đại hóa Nhật Bản (67)
      • 3.2.2. Bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Trung Quốc (69)
      • 3.2.3. Thực thi nền ngoại giao tự chủ (77)
  • KẾT LUẬN (84)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (88)

Nội dung

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong quá trình nghiên cứu, người viết đã tìm kiếm tài liệu từ nhiều nguồn như sách, báo, internet và tạp chí Tuy nhiên, số lượng tài liệu về nhân vật lịch sử này ở Việt Nam còn rất hạn chế Các cuốn sách lịch sử Nhật Bản xuất bản từ những năm 1990 trở lại đây đều nhắc đến giai đoạn những năm 1970 và công tích của Tanaka Kakuei, nhưng thông tin vẫn còn khá sơ lược.

Các tài liệu tham khảo về lịch sử Nhật Bản bao gồm: Vĩnh Sính (1991) với cuốn "Nhật Bản cận đại" do Nxb TP Hồ Chí Minh xuất bản; Phan Ngọc Liên (chủ biên, 1995) với "Lịch sử Nhật Bản" từ Nxb Văn hóa Thông tin; Lê Văn Quang (1998) cung cấp thông tin trong "Lịch sử Nhật Bản" tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân Văn TPHCM, trang 274 – 275 và 284 – 289; và Nguyễn Quốc Hùng (chủ biên, 2007) với "Lịch sử Nhật Bản" xuất bản bởi Nxb Thế giới, Hà Nội, trang 243.

Cuốn sách "Thủ tướng Tanaka Kakuei" của Nguyễn Thanh Bình, xuất bản năm 2004, trình bày quan hệ Nhật - Trung từ 1972 đến 2002, nhấn mạnh vai trò quan trọng của Thủ tướng Tanaka trong việc bình thường hóa mối quan hệ này Bài viết "30 năm quan hệ Nhật – Trung Thành quả và triển vọng" của Nguyễn Tiến Lực cũng đề cập đến vai trò của Tanaka nhưng chưa đánh giá toàn diện trong bối cảnh lịch sử những năm 1970 Một bài viết gần đây trên Báo Công an Nhân dân điện tử chỉ tập trung vào các scandal chính trị liên quan đến Tanaka, thiếu tính nghiên cứu khoa học Việc thiếu các nghiên cứu toàn diện về Tanaka bằng tiếng Việt có thể dẫn đến cái nhìn phiến diện về nhân vật lịch sử này Tại Nhật Bản, có nhiều công trình nghiên cứu về Tanaka Kakuei, nhưng bài viết này chỉ điểm qua một số tài liệu mà tác giả đã tiếp cận.

2 Nguyễn Tiến Lực, 2003: 30 năm quan hệ Nhật – Trung, thành quả và triển vọng, Nghiên cứu Trung Quốc, Số 49, tr.68-69

Cuốn "Chính trị gia Tanaka Kakuei" của Hayasaka Shigezo, xuất bản năm 1993, là tiểu sử chính trị của Tanaka Kakuei, phân tích những mốc quan trọng trong sự nghiệp của ông, đặc biệt là thời kỳ làm Thủ tướng Nhật Bản Tiếp theo, cuốn "Những quyết sách mang tính cách mạng của Tanaka Kakuei – Đại Tể tướng thời Showa" của Sugita Nozomu (2006) nói về các chính sách cách mạng của Tanaka trong những năm 1960-1970, nhưng chưa đánh giá đúng vai trò của ông Cuốn "Tanaka Kakuei và tinh thần thời hậu chiến" của Hayano Toru phân tích vai trò của Tanaka trong việc khuyến khích tinh thần dám nghĩ, dám làm của người dân Nhật Bản sau Thế chiến II, tập trung vào tư duy và quyết sách hiện đại hóa mà chưa đề cập nhiều đến ngoại giao Cuốn "Những vấn đề của chính trị Nhật Bản" của Yamaguchi Jiro (1997) nêu ra các vấn đề chính trị Nhật Bản, trong đó có thành công của Tanaka trong hiện đại hóa và quan hệ ngoại giao, nhưng chỉ dừng lại ở việc liệt kê mà chưa phân tích sâu.

Năm 2012, nhân dịp kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Nhật Bản và Trung Quốc, các nhà khoa học Nhật Bản đã công bố nhiều nghiên cứu quan trọng về mối quan hệ này, đặc biệt là trong công trình "Quan hệ Trung-Nhật 1972-2012: Quan hệ chính trị".

Cuốn sách "関係 1972-2012: 政治" do Takahara Akio và Hattori Ryuji biên soạn, đã phân tích sâu sắc ý nghĩa của việc bình thường hóa quan hệ giữa Nhật Bản và Trung Quốc Tác phẩm cũng ghi nhận sự quyết đoán của Thủ tướng Tanaka Kakuei khi ông đã đặt toàn bộ sứ mệnh chính trị của mình vào chuyến thăm Trung Quốc.

Trên các trang web nước ngoài, thông tin về sự nghiệp của Thủ tướng Tanaka Kakuei chủ yếu là những tin tức thời sự, do đó chưa phản ánh đầy đủ và khoa học vai trò của ông trong lịch sử.

Tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện, nhằm làm rõ vai trò của nhân vật lịch sử nổi tiếng Nhật Bản Nghiên cứu dựa trên nền tảng của các nhà nghiên cứu trước đây và các nguồn tài liệu nước ngoài cập nhật nhất.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận của luận văn này dựa trên nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhấn mạnh vai trò của quần chúng và cá nhân trong lịch sử Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định rằng quần chúng nhân dân là lực lượng quyết định sự phát triển của lịch sử, đồng thời cũng đánh giá cao vai trò của cá nhân, đặc biệt là các lãnh tụ Những lãnh tụ với trình độ nhận thức cao có khả năng nhìn xa trông rộng, nhận diện xu hướng tất yếu của lịch sử, từ đó đưa ra dự đoán khoa học và tổ chức, lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ cụ thể để đạt được thành công trong tiến trình lịch sử.

Phương pháp nghiên cứu chính trong luận văn là các phương pháp lịch sử, nhằm đặt Tanaka Kakuei vào bối cảnh lịch sử Nhật Bản những năm 1970 Điều này giúp người viết nhận diện vai trò quan trọng của ông trong lịch sử Nhật Bản thời kỳ đó Luận văn trình bày và đánh giá vai trò của Thủ tướng Tanaka gắn liền với các sự kiện lịch sử tiêu biểu, qua đó làm nổi bật ảnh hưởng của ông đối với sự phát triển của đất nước.

Phương pháp logic như tổng hợp, phân tích và so sánh được áp dụng để làm rõ vai trò của Tanaka Kakuei trong quá trình hiện đại hóa và tự chủ ngoại giao.

Mục tiêu của luận văn

Thứ nhất, làm sáng tỏ về cuộc đời và sự nghiệp của Tanaka Kakuei, từ một doanh nhân thành đạt đến chính trị gia hàng đầu của Nhật Bản

Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của cá nhân trong lịch sử, có thể đánh giá rằng Tanaka Kakuei đã đóng góp quan trọng trong sự nghiệp hiện đại hóa và tự chủ ngoại giao của Nhật Bản trong những năm 70 Ảnh hưởng chính trị của ông trong chính phủ Nhật Bản sau này cũng thể hiện rõ nét tầm quan trọng của lãnh tụ trong việc định hình chính sách và hướng đi của quốc gia.

Đóng góp của luận văn

Luận văn này nghiên cứu Tanaka Kakuei, một nhân vật lịch sử quan trọng của Nhật Bản, người đã có ảnh hưởng lớn đến chính phủ và các chính sách hiện đại hóa cũng như tự chủ ngoại giao, góp phần nâng cao vị thế của Nhật Bản trên trường quốc tế.

Luận văn này hy vọng sẽ trở thành tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học, cũng như những người quan tâm đến lịch sử, chính trị và quan hệ quốc tế của Nhật Bản.

Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Nhật Bản và thế giới trong những năm 60-70 của thế kỷ

XX trình bày hoàn cảnh lịch sử của Nhật Bản và các nước có liên quan để đánh giá nhân vật lịch sử hoạt động trong thời kỳ đó

Chương 2: Cuộc đời và sự nghiệp của Tanaka Kakuei, trình bày về con đường từ doanh nhân đến chính trị

Chương 3: Thủ tướng Tanaka Kakuei đã đóng góp quan trọng vào sự nghiệp hiện đại hóa và tự chủ ngoại giao của Nhật Bản, thể hiện qua hai công tích lớn nhất của ông đối với đất nước.

NHẬT BẢN VÀ THẾ GIỚI VÀO NHỮNG NĂM 60-

Nhật Bản vào những năm 60 -70 của thế kỷ XX

Sau Thế chiến II, Nhật Bản trải qua sự phát triển kinh tế thần kỳ, thu hút sự chú ý toàn cầu Nhiều nhà nghiên cứu từ Nhật Bản, Việt Nam và quốc tế đã tiến hành nghiên cứu để lý giải nguyên nhân của hiện tượng này, đặc biệt trong bối cảnh Nhật Bản là một quốc gia nghèo tài nguyên và thường xuyên chịu thiên tai.

Trong phần này, tôi xin tổng quát lại sự phát triển kinh tế Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II đến đầu những năm 1970

Sau chiến tranh thế giới thứ II, Nhật Bản rơi vào tình trạng sụp đổ với tổng số người chết, bị thương và mất tích lên đến 3 triệu người Hơn 34% máy móc, 25% công trình xây dựng và 80% tàu biển bị phá hủy, gây thiệt hại tài sản lên đến 64,3 tỉ yên vào năm 1945 Toàn bộ tài sản mà Nhật Bản tích lũy được trong 10 năm trước đó đã bị tiêu tan.

1945) đã bị tiêu hủy hoàn toàn trong thời kỳ chiến tranh 3

Sau khi chiến tranh kết thúc, Nhật Bản đối mặt với tình trạng thất nghiệp nghiêm trọng với 13,1 triệu người, bao gồm 4 triệu công nhân từ các công xưởng quân sự, 7,6 triệu binh lính bị giải ngũ và 1,5 triệu người di cư trở về Cùng với đó, nạn đói do mất mùa đã dẫn đến tình trạng thiếu lương thực, trong khi lạm phát gia tăng nhanh chóng, khiến đất nước rơi vào khủng hoảng trầm trọng.

3 Nguyễn Quốc Hùng (Chủ biên), 2007: Lịch sử Nhật Bản, Sđd, tr 325 phủ hầu như không thể kiểm soát được tình hình kinh tế trong nước nữa 4

Nhờ công cuộc cải cách của Bộ Tổng tư lệnh tối cao quân đội Đồng minh (GHQ/SCAP) và nỗ lực phi thường của chính phủ cùng nhân dân, nền kinh tế Nhật Bản đã từng bước được khôi phục và bắt đầu thời kỳ phát triển cao độ từ năm 1952.

Bảng : Tỷ lệ tăng trưởng GDP Nhật Bản (1952-1973)

Năm Tỷ lệ danh nghĩa

4 Xem thêm Lê Văn Sang – Lưu Ngọc Trịnh, 1991: Nhật Bản đường đi tới một siêu cường kinh tế, NXB Khoa học Xã hội, tr 84

Trong luận văn này, chúng tôi áp dụng cách viết tắt GHQ theo phong cách sách báo Nhật Bản, thay vì sử dụng cách viết tắt SCAP như trong sách báo Mỹ và Anh.

Nguồn: Keizai Kikakucho Naikakufu, Niên báo thống kê kinh tế quốc dân, 2005

Từ năm 1952 đến 1958, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng trưởng trung bình 6,9% mỗi năm Đến năm 1959, tốc độ tăng trưởng GDP vượt 10% và tiếp tục duy trì mức độ này trong suốt những năm 1960, ngoại trừ năm 1962.

1965) Tốc độ tăng trưởng GDP tăng trưởng trung bình của thập niên

Thời kỳ từ 1955 đến 1973 chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế Nhật Bản, với GDP thực tế hàng năm (năm gốc 1965) thường đạt tốc độ tăng trưởng hai chữ số (trên 10%) Trong giai đoạn này, Nhật Bản đã nhanh chóng đuổi kịp các nền kinh tế tiên tiến trên thế giới Cụ thể, GDP của Nhật Bản năm 1950 chỉ đạt 24 tỷ USD, thấp hơn nhiều so với các nước phương Tây và chỉ bằng một phần nhỏ so với Mỹ Tuy nhiên, đến năm 1960, GDP Nhật Bản đã vượt qua Canada, và đến năm 1966, đã vượt qua Pháp.

Năm 1967, Nhật Bản đã vượt qua Anh và đến năm 1968, nước này đã vượt qua Tây Đức, trở thành cường quốc kinh tế đứng thứ hai thế giới, chỉ sau Mỹ Đến năm 1973, tổng sản phẩm quốc dân của Nhật Bản đạt khoảng 360 tỷ USD, tương đương một phần ba so với Mỹ và đứng thứ hai toàn cầu.

Nhật Bản đã trải qua sự tăng trưởng nhanh chóng nhờ vào nhiều yếu tố quan trọng, bao gồm cách mạng công nghệ, lực lượng lao động dồi dào và có kỹ năng, khai thác hiệu quả lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp, tỷ lệ tiết kiệm cao, mức đầu tư tư nhân lớn, cùng với việc đồng yên Nhật được cố định vào đồng đô la Mỹ.

Tỷ giá 360 JPY/USD mang lại lợi thế cho xuất khẩu Nhật Bản, thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng mạnh mẽ Giá dầu lửa vẫn ở mức thấp, cùng với nguồn tài chính ổn định cho đầu tư nhờ vào chính sách của chính phủ, giúp các ngân hàng tránh khỏi nguy cơ phá sản Chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chính sách tài chính và công nghiệp, đang được triển khai tích cực để đáp ứng nhu cầu lớn từ thị trường.

Mỹ đối với hàng quân dụng do chiến tranh Việt Nam tạo ra 7

Trong kỷ nguyên tăng trưởng nhanh, Nhật Bản đã hoàn thành giai đoạn thay thế nhập khẩu tư liệu sản xuất, đồng thời gia tăng xuất khẩu hàng tiêu dùng bền vững và chuyển hướng sang xuất khẩu máy móc, bao gồm ô tô và thiết bị điện tử cao cấp như máy tính Đến năm 1970, 72,4% kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản đến từ các sản phẩm công nghiệp nặng và hóa chất.

Về công nghiệp: Tốc độ phát triển bình quân hàng năm từ

Từ năm 1950 đến 1960, tỷ lệ tăng trưởng công nghiệp của Việt Nam đạt 15,9%, gấp 6 lần so với Mỹ, hơn 5 lần so với Anh, xấp xỉ gấp 3 lần Pháp và gần gấp đôi Tây Đức Tổng giá trị sản lượng công nghiệp đã tăng mạnh, từ 4,1 tỷ USD vào năm 1950 lên 56,4 tỷ USD vào năm 1969.

6 Theo Lưu Ngọc Trịnh, 1998: Kinh tế Nhật Bản- Những bước thăng trầm trong lịch sử, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội tr 187

7 Theo Nakamura Takafusa, 1998: Những bài giảng về lịch sử kinh tế Nhật Bản hiện đại, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội

Ngành công nghiệp chế tạo đã phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn 1960-1970, với sản lượng tăng từ 5-6 lần, thậm chí gần 20 lần trong ngành sản xuất ôtô du lịch Đặc biệt, trong giai đoạn 1965-1970, ngành chế tạo ghi nhận mức tăng trưởng 118%, bao gồm các sản phẩm từ dệt, giấy, hóa chất, dầu, gốm, sắt, thép, kim loại màu và máy móc.

Vào năm 1960, Nhật Bản đứng thứ 5 thế giới về sản lượng máy móc và thiết bị điện, và đến năm 1963 đã vươn lên vị trí thứ 2, chỉ sau Mỹ Trong lĩnh vực sản xuất thiết bị điện tử, từ năm 1967, Nhật Bản chiếm vị trí thứ 2 toàn cầu với giá trị sản lượng gần bằng 1/4 của Mỹ, đặc biệt trong một số sản phẩm như radio, tivi và bóng bán dẫn, Nhật Bản đã vượt qua Mỹ về sản lượng.

Ngành chế tạo ôtô và đóng tàu biển của Nhật Bản đã có những bước tiến vượt bậc, với năng lực sản xuất ôtô gấp 100 lần so với trước chiến tranh Đến năm 1967, Nhật Bản đã vươn lên vị trí thứ hai thế giới trong sản xuất ôtô, chỉ sau Mỹ Trong khi đó, ngành đóng tàu của Nhật Bản liên tục dẫn đầu trên toàn cầu.

Tình hình thế giới vào những năm 60-70 của thế kỷ XX

Trong phần này, tôi sẽ nêu bật những yếu tố chính của tình hình thế giới ảnh hưởng đến chính sách đối nội và đối ngoại của Nhật Bản trong những năm 1970 Mục đích là để đánh giá khách quan vai trò của Tanaka trong việc đề ra các quyết sách quan trọng, có tác động lớn đến sự phát triển lịch sử của Nhật Bản.

1.2.1 Nước Mỹ và các “cú sốc Nixon”

Trong những năm 70, Mỹ trải qua sự suy giảm nghiêm trọng về địa vị, với các chính sách đối nội tập trung vào cải thiện tình hình xã hội và khắc phục khó khăn Thời kỳ này được người Mỹ gọi là “thập niên suy thoái”, “thập niên lạm phát” và “thập niên thất nghiệp” Trong khi đó, Nhật Bản và Tây Âu lại có tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng cùng với nhiều lĩnh vực khác.

Nền kinh tế Mỹ rất lớn và có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế toàn cầu, vì vậy khi Mỹ gặp khó khăn, tác động của nó đến kinh tế thế giới là không thể xem nhẹ.

Mỹ, với bản chất tư bản chủ nghĩa, không thể tránh khỏi những vấn đề tiềm ẩn của nền kinh tế này, đặc biệt là sự phụ thuộc vào ngành công nghiệp quân sự và chiến tranh Sự can thiệp quân sự của Mỹ vào miền Nam Việt Nam đã dẫn đến một cuộc chiến kéo dài, tiêu tốn 352 tỉ USD và khiến 52.000 binh sĩ thiệt mạng Hậu quả của cuộc chiến không chỉ làm suy giảm uy tín của Mỹ trên trường quốc tế mà còn gây ra bất ổn chính trị trong nước, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình cải cách và phát triển quốc gia.

Cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu năm 1973 đã dẫn đến suy thoái kinh tế kéo dài ở Mỹ, làm gia tăng lạm phát và khiến đồng đô la bị phá giá Hệ quả là ngành công nghiệp suy giảm và cán cân mậu dịch trở nên mất cân bằng.

Trong giai đoạn Tổng thống Nixon, Đảng Cộng hòa đã thực hiện các chính sách kinh tế nhằm khôi phục nền kinh tế, nhưng đồng thời cắt giảm phúc lợi xã hội, gây ảnh hưởng lớn đến đời sống của người lao động Chính sách này đã hạn chế phong trào đấu tranh của công nhân và các lực lượng tiến bộ, dẫn đến sự gia tăng mâu thuẫn xã hội và giai cấp Sự chênh lệch giữa người giàu và người nghèo ngày càng lớn, tạo ra bất bình đẳng xã hội ngày càng trầm trọng.

Mỹ đang phải đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng như thuế khóa, lạm phát, giá cả leo thang, đồng đôla mất giá, tiền lương giảm sút, thất nghiệp và ô nhiễm, khiến đời sống người dân trở nên khó khăn hơn Tình trạng này đã dẫn đến các cuộc biểu tình và đấu tranh diễn ra thường xuyên tại các thành phố, cũng như trong các trường đại học, phản ánh "sự nổi loạn của thế hệ trẻ" và "khủng hoảng của các thành phố Mỹ".

Bài viết phản ánh sự phẫn nộ của quần chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ, đối với các chính sách phản động của chính quyền Mỹ và cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo tại Việt Nam Các phong trào đấu tranh yêu cầu hòa bình, dân chủ và phản đối chiến tranh xâm lược đang ngày càng mạnh mẽ trong cộng đồng công dân.

Mỹ đã trải qua những biến động mạnh mẽ nhưng cũng đối mặt với sự đàn áp đẫm máu Các vụ bê bối như tài liệu mật ở Lầu Năm Góc và vụ Watergate đã phơi bày nhiều vấn đề, dẫn đến sự sụt giảm nghiêm trọng lòng tin của quần chúng Mỹ vào chính quyền tư sản.

Trong những năm 1970, nước Mỹ đối mặt với khủng hoảng chủng tộc nghiêm trọng, đặc biệt là sự phân biệt đối xử với người da đen và người da đỏ Tình trạng bất ổn chính trị trong nước gia tăng do các cuộc đấu tranh không ngừng của hai cộng đồng này nhằm đòi quyền lợi, bao gồm cả các cuộc kháng chiến vũ trang diễn ra vào tháng 2/1973.

Trước bối cảnh khó khăn, Tổng thống Nixon đã áp dụng các biện pháp kinh tế, tiền tệ và ngoại giao mạnh mẽ, gây ra một cú sốc lớn cho nước Mỹ và toàn cầu, được ghi nhận trong lịch sử với tên gọi “Cú sốc Nixon”.

"Cú sốc Nixon" hay "Cú sốc dollars" là hệ quả của các chính sách kinh tế-tiền tệ do Tổng thống Richard Nixon thực hiện Vào ngày 15 tháng 8 năm 1971, Mỹ đã tuyên bố thả nổi tỷ giá đồng dollar và chấm dứt khả năng quy đổi USD ra vàng, dẫn đến sự giảm giá mạnh của đồng USD so với các đồng tiền mạnh khác kể từ sau Thế chiến II Mỹ đã phá giá đồng USD từ 35 USD/ounce vàng lên 38 USD/ounce vàng, và sau đó, đồng USD tiếp tục suy yếu so với các đồng tiền của các nước tư bản khác Sự kiện này đã dẫn đến sự tan vỡ của hệ thống tiền tệ thế giới Bretton Woods.

10 Vũ Dương Ninh (Chủ biên), 2001: Một số chuyên đề về lịch sử thế giới, NXB Đại học Quốc gia

Hà Nội, tr 289-290 Các biện pháp nhằm ngăn chặn sự thất thoát vàng dự trữ trong nước và ép các nước khác chấp nhận tỉ suất hối đoái mới, cũng như những phương thức mậu dịch mới, đã được thực hiện để giảm thâm hụt trong cán cân ngoại thương của Mỹ Những hành động này chủ yếu nhắm vào Nhật Bản và Tây Âu, mặc dù là đồng minh chiến lược của Mỹ, nhưng lại trở thành đối thủ cạnh tranh kinh tế ngày càng lớn Nhật Bản chịu tác động nặng nề từ "Cú sốc Nixon", với hàng nhập khẩu vào Mỹ bị đánh thuế phụ thu 10% và giá USD so với đồng yen giảm từ 360 xuống 308, làm tăng áp lực lên ngoại thương song phương.

Mỹ chịu nhiều khó khăn kể từ năm 1971 trở đi

Chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Richard Nixon vào năm 1972 đã tạo ra "cú sốc Nixon", đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong ngoại giao Mỹ-Trung Để chuẩn bị cho sự kiện lịch sử này, vào tháng 7/1971, các trợ lý của Nixon đã tiến hành nhiều cuộc thảo luận và chuẩn bị chiến lược nhằm cải thiện mối quan hệ với quốc gia từng được coi là kẻ thù "không đội trời chung".

Henry Kissinger, cố vấn an ninh của Tổng thống Nixon, đã có chuyến thăm quan trọng đến Trung Quốc, nơi ông hội đàm với Thủ tướng Chu Ân Lai, nhân vật thứ hai trong lãnh đạo Trung Quốc Qua các cuộc thảo luận, hai bên đã đạt được sự nhượng bộ về lợi ích và xác định các nguyên tắc cơ bản cho chuyến viếng thăm của Tổng thống Nixon, nhằm cải thiện mối quan hệ căng thẳng giữa hai quốc gia.

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA TANAKA

VAI TRÒ CỦA THỦ TƯỚNG TANAKA KAKUEI VỚI NHẬT BẢN NHỮNG NĂM 70 CỦA THẾ KỶ XX

Ngày đăng: 07/05/2021, 17:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thanh Bình (2004), Quan hệ Nhật – Trung từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Nhật – Trung từ sau chiến tranh thế giới thứ hai
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2004
2. Nguyễn Thanh Bình (2006), Quan hệ Nhật – Trung qua điều tra dư luận hai nước, Nghiên cứu Đông Bắc Á, 7(67), tr.14-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Nhật – Trung qua điều tra dư luận hai nước
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2006
3. Ngô Xuân Bình (2000), Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ sau chiến tranh lạnh, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ sau chiến tranh lạnh
Tác giả: Ngô Xuân Bình
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2000
4. Ngô Xuân Bình (Chủ biên) (2006), Về một số vấn đề sau thống nhất của bán đảo Triều Tiên – Góc nhìn từ Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một số vấn đề sau thống nhất của bán đảo Triều Tiên – Góc nhìn từ Việt Nam
Tác giả: Ngô Xuân Bình (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2006
5. Chin-ning Chu (1997), Mưu lược châu Á, Lê Anh Minh dịch, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mưu lược châu Á
Tác giả: Chin-ning Chu
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 1997
6. Eric Foner (2003), Lịch sử mới của nước Mỹ, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử mới của nước Mỹ
Tác giả: Eric Foner
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
7. Dương Lan Hải (1992), Quan hệ quốc tế của Nhật Bản với các nước Đông Nam Á sau chiến tranh thế giới thứ hai (1945-1975), NXB Viện Châu Á & Thái Bình Dương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ quốc tế của Nhật Bản với các nước Đông Nam Á sau chiến tranh thế giới thứ hai (1945-1975)
Tác giả: Dương Lan Hải
Nhà XB: NXB Viện Châu Á & Thái Bình Dương
Năm: 1992
8. Dương Phú Hiệp –Nguyễn Duy Dũng (2002), Điều chỉnh chính sách kinh tế của Nhật Bản, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh chính sách kinh tế của Nhật Bản
Tác giả: Dương Phú Hiệp –Nguyễn Duy Dũng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
9. Lê Phụng Hoàng (2005), Lịch sử quan hệ quốc tế ở Đông Bắc Á từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến cuối chiến tranh lạnh (1945- 1991), NXB Đại học sư phạm TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử quan hệ quốc tế ở Đông Bắc Á từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến cuối chiến tranh lạnh (1945-1991)
Tác giả: Lê Phụng Hoàng
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm TP.HCM
Năm: 2005
10. Lê Phụng Hoàng (2007), Lịch sử Quan hệ Quốc tế sau Chiến tranh Thế giới thứ hai – Tập 1: 1945 – 1975, Tài liệu lưu hành nội bộ, Trường Đại học Sư phạm TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Quan hệ Quốc tế sau Chiến tranh Thế giới thứ hai – Tập 1: 1945 – 1975
Tác giả: Lê Phụng Hoàng
Năm: 2007
13. Kanamori Hisao (1994), Thành công của Nhật Bản – Những bài học về phát triển kinh tế, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành công của Nhật Bản – Những bài học về phát triển kinh tế
Tác giả: Kanamori Hisao
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1994
14. Nigel Holloway – Philip Bowring (1992), Chân dung nước Nhật ở Châu Á, NXB Thông tin lý luận, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung nước Nhật ở Châu Á
Tác giả: Nigel Holloway – Philip Bowring
Nhà XB: NXB Thông tin lý luận
Năm: 1992
15. Nguyễn Quốc Hùng (Chủ biên) (2007), Lịch sử Nhật Bản, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lịch sử Nhật Bản
Tác giả: Nguyễn Quốc Hùng (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2007
18. Trần Hoàng Long (2012), Nhìn lại sự kiện Nhật Bản và Trung Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao, TTNCNB, Viện nghiên cứu Đông Bắc Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại sự kiện Nhật Bản và Trung Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao
Tác giả: Trần Hoàng Long
Năm: 2012
19. Phạm Quý Long (2000), Quan hệ Nhật Bản - Trung Quốc trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ sau chiến tranh lạnh, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Quan hệ Nhật Bản - Trung Quốc trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ sau chiến tranh lạnh
Tác giả: Phạm Quý Long
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2000
67. Bộ ngoại giao Việt Nam: http://www.mofa.gov.vn/ Link
68. Bộ ngoại giao Nhật Bản: http://www.mofa.gov.jp/ Link
69. Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam: http://www.vn.emb- japan.go.jp/ Link
70. Thông tin Nhật Bản: http://www.thongtinnhatban.net Link
71. Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản: http://www.ncnb.org.vn 72. http://www.toquoc.gov.vn/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w