Những thành tựu của Giáo dục và Đào tạo đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Cần Thơ trong giai đoạn hiện nay và nguyên nhân của nó .... Những hạn chế của Giáo dục và Đào t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH – 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Hồ Anh Dũng Những số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực Đề tài nghiên cứu và các kết luận là khách quan, chưa được ai công bố
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
HỒ THỊ HÀ
Trang 31 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 4
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn 8
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 8
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 9
6 Kết cấu của luận văn 9
PHẦN NỘI DUNG 10
Chương 1 LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 10
1.1 LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 10
1.1.1 Quan niệm về giáo dục và đào tạo 10
1.1.2 Quan niệm về phát triển kinh tế – xã hội 27
1.1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa phát triển giáo dục và đào tạo với phát triển kinh tế – xã hội 35
1.2 VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 45
1.2.1 Vai trò của giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển kinh tế 47
1.2.2 Vai trò của giáo dục và đào tạo đối với chính trị, xã hội 53
1.2.3 Vai trò của giáo dục và đào tạo đối với văn hóa, tư tưởng 60
1.2.4 Vai trò của giáo dục và đào tạo đối với khoa học, kỹ thuật 65
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ HIỆN NAY 69
Trang 4GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ 69
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý tác động đến giáo dục và đào tạo ở thành phố Cần Thơ 69
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống văn hóa, bản sắc và đặc điểm con người tác động đến giáo dục và đào tạo thành phố Cần Thơ 71
2.2 THỰC TRẠNG PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ HIỆN NAY 75
2.2.1 Những thành tựu của Giáo dục và Đào tạo đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Cần Thơ trong giai đoạn hiện nay và nguyên nhân của nó 75
2.2.2 Những hạn chế của Giáo dục và Đào tạo đối với phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Cần Thơ trong giai đoạn hiện nay và nguyên nhân của nó 114
2.3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ 132
2.3.1 Phương hướng phát huy vai trò của giáo dục và đào tạo đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Cần Thơ 132
2.3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của giáo dục và đào tạo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội tại thành phố Cần Thơ 136
PHẦN KẾT LUẬN 148
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC 162
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
3 Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Cần Thơ nằm ở trung tâm Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long màu mỡ, với đất phù sa và nước ngọt quanh năm Đây không chỉ nổi tiếng bởi “gạo trắng, nước trong”, có một vùng cây trái trù phú, mà còn là thành phố phát triển hàng đầu của miền Tây Nam Bộ Thành phố Cần Thơ là cầu nối giao thông thủy, bộ và đường hàng không của Đồng bằng sông Cửu Long đang ngày càng vươn lên ngang tầm một trung tâm kinh tế và văn hóa của vùng
Nghị quyết số 45 – NQ/TW ngày 17/02/2005 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước khẳng định: “thành phố Cần Thơ phải phấn đấu trở thành trung tâm về công nghiệp, thương mại, dịch vụ và du lịch; trung tâm giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ; trung tâm y tế và văn hóa…đóng vai trò động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của toàn vùng”[6]
Đại hội Đảng bộ thành phố Cần Thơ lần thứ XII xác định: “Phấn đấu xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trở thành thành phố đồng bằng cấp quốc gia văn minh, hiện đại, xanh, sạch, xứng đáng là thành phố cửa ngõ của cả vùng hạ lưu sông Mêkông; là trung tâm công nghiệp, trung tâm thương mại - dịch vụ, du lịch, trung tâm giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, trung tâm y tế và văn hóa, là đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc tế; là địa bàn trọng điểm giữ vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và của cả nước”[32, tr.39]
“Cần Thơ phấn đấu là một trong những địa phương đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cơ bản trở thành thành phố công nghiệp trước 2020, là một cực phát triển, đóng vai trò động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển toàn vùng” [32, tr.39]
Trang 6Tuy có vị trí quan trọng, nhưng quy mô kinh tế của vùng còn nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của thành phố, nhất là về công nghiệp, thương mại - dịch vụ, vai trò trung tâm đối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long chưa được phát huy rõ nét
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng nhưng để trở thành trung tâm công nghiệp còn nhiều khó khăn; việc xác định ngành kinh tế mũi nhọn và sản phẩm chủ lực còn lúng túng Chất lượng quy hoạch của thành phố còn thấp, thiếu chiến lược; quản lý quy hoạch và quản lý đô thị chưa chặt chẽ Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đô thị được quan tâm đầu tư nhưng vẫn còn nhiều yếu kém chưa đồng bộ Nhiều lĩnh vực, nhất là thương mại, dịch vụ, giao thông chưa bắt kịp nhịp độ phát triển của đô thị loại I trực thuộc Trung ương Việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững còn lúng túng; tình trạng ô nhiễm môi trường, sạt lở bờ sông, ngập lụt đường phố, tai nạn giao thông đang trở thành những vấn đề bức xúc trong quá trình phát triển
Trong những năm qua, giáo dục và đào tạo ở thành phố Cần Thơ đã khẳng định vai trò của mình trong việc tạo ra “xã hội học tập”, tạo điều kiện
để mọi người được “học tập suốt đời”, tạo cơ hội cho nhiều người mong muốn được học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, đào tạo nghề nghiệp cho người lao động, tạo cơ hội tìm kiếm việc làm và nâng cao chất lượng cuộc sống của từng cá nhân, gia đình Giáo dục và đào tạo với vai trò nâng cao dân trí; phát triển nguồn nhân lực; bồi dưỡng nhân tài, đang đóng vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm
vụ công nghiêp hóa, hiện đại hóa tại địa phương
Tuy nhiên, cũng giống như các tỉnh của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giáo dục và đào tạo thành phố Cần Thơ hiện đang nằm ở vị trí thấp nhất trong bản đồ giáo dục và đào tạo của cả nước, thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực thuộc nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kỹ thuật – công nghệ; quy
mô giáo dục chưa tương xứng với tầm vóc và vị trí chiến lược của vùng Tỷ lệ
Trang 7dân số trong độ tuổi từ 20 – 24 của vùng học đại học mới chỉ xấp xỉ 4,58 % Quy mô sinh viên đại học và cao đẳng / vạn dân hiện chỉ cao hơn vùng Tây Bắc [17] Đây thật sự là trở ngại lớn nhất để thành phố Cần Thơ có được nguồn nhân lực cao đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ công nghiêp hóa, hiện đại hóa
Trước thực trạng đó, Chính phủ chỉ đạo: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nền tảng, là khâu đột phá cho sự phát triển bền vững của Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long nói chung và thành phố Cần Thơ nói riêng; phấn đấu nâng mức hưởng thụ giáo dục và đào tạo của nhân dân lên ngang bằng với mức bình quân chung của cả nước vào năm 2010, tiến tới đuổi kịp một số khu vực có tỷ lệ phát triển cao vào năm 2015” [4]
Phát triển giáo dục và đào tạo đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, là đòn bẩy để thúc đẩy thành phố Cần Thơ phát triển bền vững Đây chính là nhiệm vụ trung tâm vừa cơ bản, vừa cấp bách đối với thành phố Cần Thơ hiện nay
Việc nghiên cứu vai trò của giáo dục và đào tạo với sự phát triển kinh
tế - xã hội của thành phố Cần Thơ một mặt tìm hiểu thực trạng giáo dục và đào tạo của thành phố Cần Thơ, nhằm đánh giá những thành tựu để thấy vai trò quyết định của giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng Mặt khác, chỉ ra những hạn chế, bất cập, yếu kém của ngành giáo dục và đào tạo đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội tại thành phố Cần Thơ, từ đó đề ra những phương hướng, giải pháp để phát huy ưu điểm, khắc phục những yếu kém, nhằm thúc đẩy giáo dục và đào tạo của vùng phát triển, xứng tầm với vị trí đô thị loại I
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Vai trò của giáo dục và đào tạo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Cần Thơ hiện nay” làm luận văn thạc sỹ triết học, nhằm cung cấp một phần tư liệu cho
những ai quan tâm nghiên cứu vấn đề này, đồng thời cũng mong muốn đóng
Trang 8góp một phần nhỏ về mặt lý luận, làm cơ sở cho việc giải quyết những vấn đề thực tiễn hiện nay đang đặt ra cho ngành giáo dục và đào tạo thành phố Cần Thơ trước yêu cầu của công nghiêp hóa, hiện đại hóa tại địa phương
4 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Giáo dục và đào tạo là đề tài đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, nhiều công trình đã được xuất bản và phổ biến rộng rãi trong xã hội Trong đó có một số công trình liên quan đến hướng nghiên cứu của luận
văn như: Các công trình nghiên cứu của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng: Sự nghiệp giáo dục trong chế độ xã hội chủ nghĩa (1986) Về vấn đề giáo dục và đào tạo (1999), Giáo dục đào tạo quốc sách hàng đầu, tương lai của dân tộc
(2008), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Rất nhiều công trình nghiên cứu về
giáo dục và đào tạo có giá trị của GS VS Phạm Minh Hạc, trong đó đặc biệt nhất là Về Giáo dục, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội – 2003; và Những vấn
đề lý luận cơ bản của Khoa học giáo dục do tác giả Lê Văn Giạng, Nxb
Chính trị Quốc Gia, Hà Nội – 2001 Tất cả những công trình trên đã cung cấp cho chúng ta đầy đủ những lý luận về phát triển giáo dục và đào tạo như sau:
Thứ nhất, phân tích các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề giáo dục và đào tạo
Thứ hai, phân tích vai trò của giáo dục và đào tạo đối với tương lai của dân tộc và khẳng định “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”
Thứ ba, phân tích các vấn đề, các nhiệm vụ cần giải quyết trong hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay
Thứ tư, cung cấp những thông tin và tư liệu của nền giáo dục thế giới qua một số nước tiêu biểu
Bên cạnh đó, còn có những công trình đi sâu nghiên cứu, khai thác góc độ vai trò của giáo dục và đào tạo đối với phát triển nguồn nhân lực như:
Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, do
Vũ Huy Chương (Chủ biên),(2002), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Luận án
Trang 9tiến sỹ triết học chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của
Tác giả Nguyễn Thanh năm 1999 về “Phát triển nguồn nhân lực và vai trò của giáo dục và đào tạo đối với phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Các công trình trên đã đề cấp một cách sâu
sắc vai trò của giáo dục và đào tạo trong việc cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay, đồng thời chỉ ra những hạn chế, yếu kém của nguồn nhân lực và các phương hướng và giải pháp để phát huy hơn nữa vai trò của giáo dục và đào tạo trong vấn đề đào tạo nguồn nhân lực Tuy nhiên, do phạm vi đề tài đề cập đến vai trò của giáo dục và đào tạo trong việc phát triển nguồn nhân lực, nên các công trình nghiên cứu trên chưa đánh giá đẩy đủ những tác động của giáo dục và đào tạo đối với văn hóa, xã hội ở Việt Nam hiện nay
Ngoài các công trình nghiên cứu trên còn có nhiều bài viết về giáo dục
và đào tạo như: Nâng cao chất lượng đào tạo phải dựa trên các nguyên tắc mang tính bền vững, do NGƯT.PGS.TS Đỗ Văn Dũng (2010), Tạp chí Giáo dục và thời đại, số 69 – 2010 Bàn về mô hình phát triển giáo dục những thập niên đầu thế kỷ 21 của Lê Phúc Đức, Tạp chí nghiên cứu giáo dục, Số 1 – 2000; Đào tạo tại chức, chính quy hay phổ cập của Trương Hiệu, trên báo pháp luật thành phố Hồ Chí Minh số 09 ngày 17 - 12 - 2007; Bốn kiến nghị cho Đồng bằng sông Cửu Long của Lưu Phước Lương (Phó trưởng ban chỉ
đạo Tây Nam Bộ), đăng trên http://www.giaoduc.edu.vn Phát triển mạnh giáo dục và đào tạo phục vụ đặc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đỗ Mười (1996), v.v…
Trước thực trạng phát triển giáo dục và đào tạo nói riêng và vấn đề kinh tế - xã hội hiện nay của thành phố Cần Thơ nói chung, đặc biệt từ sau khi có nghị quyết số 45 – NQ/TW ngày 17/02/2005 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trong thời kỳ công nghiêp hóa, hiện đại hóa đất nước, thì vấn đề nghiên cứu giáo dục và đào tạo ở góc độ phát
Trang 10triển nguồn nhân lực tại thành phố Cần Thơ đã thu hút nhiều cơ quan, các tổ chức chính trị, các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu, khảo sát với nhiều hình thức và cấp độ khác nhau Phần lớn các công trình nghiên cứu, bài viết về giáo dục và đào tạo ở thành phố Cần Thơ đều tập trung nghiên cứu tác động của giáo dục và đào tạo đối với việc phát triển nguồn nhân lực, cụ thể như:
Tháng 8/2005, Bộ giáo dục và đào tạo tổ chức hội nghị “Phát triển giáo dục và đào tạo vùng Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long đến năm 2010
và định hướng đến năm 2020” tại thành phố Cần Thơ Hội nghị đánh giá hiện
trạng giáo dục của cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tình trạng yếu kém trong giáo dục và đào tạo nghề, cũng như nguồn nhân lực có trình độ đại học còn quá thấp không thể đáp ứng nhu cầu phát triển của từng địa phương Hội nghị đã nghe nhiều bài tham luận của các bộ, ban ngành Trung ương, các địa phương và trường Đại học Cần Thơ Các báo cáo tham luận xoay quanh chủ
đề về lĩnh vực giáo dục như giáo dục nghề, giáo dục công nghiệp, giao thông vận tải, du lịch…đặc biệt, tham luận của Tiến sỹ Lê Quang Minh nguyên hiệu
trưởng trường Đại học Cần Thơ về “Một số đề xuất nhằm thúc đẩy nhanh tốc
độ đào tạo nguồn nhân lực cho vùng Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long”
Nội dung tập trung phân tích phát triển mô hình cao đẳng cộng đồng, trong
đó giáo dục theo phương thức liên kết, liên thông để đào tạo nguồn nhân lực
có trình độ đại học, cao đẳng
Công trình nghiên cứu khoa học cấp tỉnh của Tiến sỹ Phước Minh Hiệp
về Hiện trạng sử dụng và nhu cầu đào tạo nhân lực có trình độ trung cấp trở lên ở thành phố Cần Thơ đến năm 2010; đã đánh giá một cách sâu sắc hiện
trạng của nguồn nhân lực qua đào tạo tại thành phố Cần Thơ giai đoạn từ
2001 – 2005 và dự báo hiện trạng đến 2010; Đánh giá lực lượng lao động nông thôn và đề xuất giải pháp đào tạo nghề cho lao động nông thôn của thành phố Cần Thơ của Tiến sỹ Dương Ngọc Thanh – Thạc sỹ Trương Ngọc Chi; Một số giải pháp đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật phục vụ quá trình
Trang 11công nghiêp hóa, hiện đại hóa trong nông nghiệp ở tỉnh Cần Thơ của thạc sỹ
Tô Minh Giới; Giáo dục đại học không chính quy với việc phát triển nguồn nhân lực ở thành phố Cần Thơ hiện nay, Luận văn thạc sỹ Chủ nghĩa xã hội
khoa học của Nguyễn Thị Xuân Thu (2009) Những công trình nghiên cứu này tập trung phản ánh các vấn đề sau:
Thứ nhất, khẳng định vai trò to lớn của giáo dục và đào tạo đối với
việc phát triển nguồn nhân lực của thành phố
Thứ hai, đánh giá tình hình đào tạo nghề cho người lao động chưa đáp
ứng được yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của thành phố Cần Thơ trong thời kỳ công nghiêp hóa, hiện đại hóa
Thứ ba, phần lớn các đề tài tập trung đưa ra những phương hướng và
các giải pháp khắc phục khó khăn đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo để phát triển nguồn nhân lực cho thành phố Cần Thơ
Mặc dầu đã có nhiều công trình đánh giá vai trò của giáo dục và đào tạo đối với việc phát triển nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiêp hóa, hiện đại hóa của thành phố Cần Thơ Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh
tế - xã hội ở thành phố Cần Thơ đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết đối với
sự phát triển giáo dục và đào tạo của thành phố cần tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống hơn
Xuất phát từ yêu cầu xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội tại thành phố Cần Thơ xứng tầm trung tâm kinh tế - chính trị, văn hóa – xã hội của Đồng bằng sông Cửu Long, không có con đường nào khác là đẩy mạnh quá trình công nghiêp hóa, hiện đại hóa Nhưng muốn tiến hành công nghiêp hóa, hiện đại hóa tại thành phố Cần Thơ thành công thì thành phố phải đầu tư, phát triển giáo dục và đào tạo ngày càng hiện đại, bởi đó chính là đòn bẩy quan trọng để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhanh, bền vững Đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển, đầu tư có lợi nhất Từ mục đích lý luận và thực tiễn như vậy, cho nên tôi cố gắng góp phần xây dựng cơ sở lý
Trang 12luận và thực tiễn nhằm phát huy hơn nữa vai trò của giáo dục và đào tạo đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội tại thành phố Cần Thơ
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là làm rõ thực trạng phát triển giáo dục và đào tạo và tác động của nó đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Cần Thơ trong thời gian qua, nhằm đề xuất phương hướng và giải pháp tiếp tục phát triển giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
ở thành phố Cần Thơ hiên nay
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Thứ nhất, phân tích làm rõ lý luận gồm: Khái niệm về giáo dục và đào tạo; phát triển kinh tế - xã hội, mối quan hệ giữa giáo dục và đào tạo với kinh
tế - xã hội và vai trò của giáo dục và đào tạo đối với phát triển kinh tế - xã hội
ở Việt Nam hiện nay
Thứ hai, phân tích thực trạng phát triển giáo dục và đào tạo tại thành phố Cần Thơ để khảo sát, đánh giá những thành tựu, hạn chế của nó đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương trong những năm qua
Thứ ba, đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát huy vai trò của giáo dục và đào tạo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội tại thành phố Cần Thơ
3.3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Trang 134 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
4.1 Cơ sở lý luận của luận văn
Luận văn dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề con người, về giáo dục và đào tạo, về giáo dục con người; về phát triển kinh tế - xã hội
4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn Tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp cụ thể sau: phương pháp logic và lịch sử; phân tích – tổng hợp; thống kê – đối chiếu – so sánh và
hệ thống hóa để nghiên cứu đề tài luận văn
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
5.1 Ý nghĩa khoa học của luận văn Góp phần làm rõ hơn lý luận về giáo dục và đào tạo, về vai trò của giáo dục và đào tạo đối với qúa trình phát triển kinh tế - xã hội
5.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn Luận văn cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn giúp các cấp chính quyền tham khảo trong việc hoạch định chính sách phát triển giáo dục và đào tạo, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội tại thành phố Cần Thơ
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học các chuyên ngành Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Chính trị học, Giáo dục học
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết
Trang 14PHẦN NỘI DUNG Chương 1
LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1.3 LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
1.3.1 Quan niệm về Giáo dục và Đào tạo
Quan niệm về Giáo dục:
Từ khi loài người xuất hiện thì cũng đồng thời xuất hiện hoạt động giáo dục Trong quá trình tìm kiếm các phương tiện để sống, con người đã sớm nhận thức được sự cần thiết phải trao đổi kinh nghiệm với nhau và truyền thụ cho lớp người sau Xã hội càng phát triển thì sự tích lũy kinh nghiệp, tri thức ngày càng nhiều, càng phong phú, đa dạng về nhiều mặt, như kinh nghiệm trong sản xuất, đời sống v.v…; con người ngày càng được nâng cao kiến thức
về tự nhiên, về thẫm mỹ, về đạo đức, triết học Thực chất của giáo dục là truyền thụ tri thức và kinh nghiệm lịch sử, xã hội cho thế hệ sau, nhằm chuẩn
bị cho họ bước vào cuộc sống xã hội và lao động sản xuất
Theo quan niệm sơ khởi của phương Đông, chữ “Giáo” nghĩa là dạy, là
sự rèn luyện về tinh thần nhằm phát triển tri thức và rèn luyện tình cảm đạo đức “Dục” nghĩa là nuôi nấng, chăm sóc về mặt thể chất Vậy giáo dục là một sự rèn luyện con người về cả ba phương diện trí tuệ, tình cảm và thể chất
Quan niệm của phương Tây, danh từ “Education” có gốc từ tiếng la
tinh “Educare” có nghĩa là “làm bộc lộ ra” Có thể hiểu “giáo dục là quá trình, cách thức làm bộc lộ ra những khả năng tiềm ẩn của người được giáo dục nhằm đưa con người từ không biết đến biết, từ xấu đến tốt, từ thấp kém đến tốt đẹp” [106, tr.324]
Như vậy, trong quan niệm sơ khởi của phương Đông cũng như của phương Tây đều giống nhau ở chỗ lấy con người làm đối tượng của giáo dục
Trang 15và nhằm phát triển con người trên ba phương diện trí tuệ, tình cảm và thể chất
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển và thực tiễn, người ta hiểu giáo dục theo nhiều cách, nên đã đưa ra những quan điểm khác nhau về khái niệm này
Ở Việt Nam, Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học giải thích:
“Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra” [116, tr 593]
Theo đó, giáo dục được hiểu là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực, nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những động tác có ý nghĩa từ bên ngoài đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội đương đại
Trên thế giới, Từ điển Giáo dục (Dictionary of education Ed.By Carter,
V Good, McGraw Hill Book Company, New York – Toronto – London,
+ Thông thường, thuật ngữ nói về “kỹ thuật” chỉ các lớp học chuyên nghiệp cao cấp để đào tạo các thầy giáo, liên hệ đến tâm lý giáo dục, triết lý giáo dục, lịch sử giáo dục, khóa trình, các phương pháp tổng quát, đặc biệt sự giảng dạy điều hành, hướng dẫn v.v…một cách rộng hơn, đó là mẫu mực
Trang 16toàn diện về đào tạo, chính thức hay không chính thức, sự trưởng thành chuyên môn cho các thầy giáo
Theo tài liệu Bách khoa thư giáo dục (The Education s encyclopedia) của ba học giả Mỹ E.W.Smit, S.W.Krouse và M.M Atkinson, 1969, USA,: Giáo dục là toàn thể những cố gắng có ý thức để giúp tạo hóa trong sự phát triển các năng lực thể chất, tinh thần và đạo đức của con người, hướng về sự hoàn thiện, hạnh phúc và sứ mạng xã hội của con người
Như vậy, dù còn nhiều cách tiếp cận và cách biểu đạt khác nhau nhưng khái niệm “giáo dục” được hiểu chung nhất gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, Giáo dục là sự truyền thụ kinh nghiệm xã hội từ thế hệ trước
cho thế hệ sau nhằm chuẩn bị cho thế hệ sau bước vào cuộc sống Với ý nghĩa
đó, giáo dục đã ra đời từ khi loài người mới hình thành, do nhu cầu của xã hội, nó trở thành một chức năng sinh hoạt không thể thiếu được và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát triển của xã hội Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất sức lao động xã hội và trở thành một yếu tố cơ bản để phát triển loài người, phát triển xã hội Giáo dục là một hoạt động có ý thức của con người nhằm vào mục đích phát triển chính con người và phát triển xã hội Vì thế giáo dục là một hiện tượng xã hội và là một trong những nhu cầu tất yếu của xã hội
Giáo dục ban đầu được thực hiện một cách tự phát, đơn giản, rời rạc trong lao động và trong cuộc sống, ở mọi lúc mọi nơi Khi xã hội ngày càng phát triển, kinh nghiệm xã hội, tri thức về thế giới được đúc kết nhiều hơn, yêu cầu của xã hội đối với con người cao hơn, các loại hình hoạt động xã hội ngày càng mở rộng hơn thì giáo dục theo phương thức rời rạc, tự phát không còn phù hợp mà đòi hỏi phải có thêm một phương thức giáo dục khác có hiệu quả hơn Giáo dục nhà trường có kế hoạch, có hệ thống được thực hiện một
Trang 17cách chuyên nghiệp ra đời và ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội
Do đó, xã hội càng phát triển, giáo dục ngày càng trở nên phức tạp
Từ khi ra đời, giáo dục đã trở thành một yếu tố cơ bản thúc đẩy sự phát triển thông qua các chức năng xã hội của nó Đó chính là những tác động tích cực của giáo dục đến các mặt hay các quá trình xã hội, để tạo ra sự phát triển cho xã hội
Thứ hai, Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân
cách dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một cách có ý thức của con người trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội Giáo dục là nền tảng cho việc truyền thụ, phổ biến văn hóa từ thế hệ này qua thế hệ khác Giáo dục là phương tiện để đánh thức và phát huy khả năng, năng lực tiềm ẩn của mỗi cá nhân, nâng cao trí tuệ của mỗi người Ví dụ như ảnh hưởng của các hoạt động đa dạng nội khóa, ngoại khóa của nhà trường; lối dạy bảo, nếp sống trong gia đình; ảnh hưởng của phim, ảnh, tin tức trên màn hình; những tấm lòng nhân từ của người khác, ảnh hưởng của những di tích lịch sử văn hóa đối với nhân cách con người Với nghĩa này của giáo dục, chúng ta nhận thấy rằng, để giáo dục nhân cách con người, cần xây dựng được môi trường nhà trường; xã hội lành mạnh và sáng tạo
Thứ ba, Giáo dục là những hoạt động học tập giúp cho con người bước
vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề khác thích hợp hơn trong tương lai Hoạt động này sẽ hướng vào từng cá nhân, thông qua công tác hướng nghiệp mỗi cá nhân sẽ lựa chọn cho mình một nghề nghiệp phù hợp Hoạt động giáo dục được thực hiện dần dần nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức phổ thông về một nghề nào đó Giáo dục sẽ trang bị cho người lao động hành trang nghề nghiệp cơ bản để hướng tới tương lai
Giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích xác nhận được tổ chức một cách khoa học (có kế hoạch, có phương pháp, có hệ thống) của các cơ quan giáo dục chuyên nghiệp (nhà trường) nhằm phát triển toàn
Trang 18diện nhân cách, tài năng, làm chủ được các mặt như ngôn ngữ, tâm lý, tình cảm, tinh thần trong cách ứng xử xã hội, để chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất
Nhà trường với những hoạt động đa dạng nội khóa và ngoại khóa, nghĩa là qua các bài học của các môn học ở trên lớp, cũng như qua những hoạt động như báo cáo thời sự, biểu diễn văn nghệ, cắm trại, tham quan…được tổ chức ngoài giờ lên lớp, tạo ra những ảnh hưởng tích cực đến
sự hình thành và phát triển nhân cách của người được giáo dục, dưới tác dụng chỉ đạo của giáo viên, của nhà giáo dục Giáo dục với nghĩa này bao hàm nội dung rộng, thể hiện một phức hợp các mặt giáo dục: trí dục, đức dục, mỹ dục, thể dục, giáo dục lao động do nhà trường phụ trách trước xã hội
Ngày nay khi công nghệ truyền thông, phát thanh truyền hình, mạng internet phát triển đã tạo nên một thế giới mở Vì vậy, khái niệm giáo dục không còn dừng lại ở việc dạy và học ở trong nhà trường mà giáo dục được hiểu như là sự tác động nhiều chiều của môi trường thông tin (thông tin về vũ trụ, thông tin về môi trường thiên nhiên, thông tin về xã hội, thông tin về khoa học công nghệ, ) lên con người, giúp cho họ hoàn thiện phương pháp tập hợp thông tin, xử lý thông tin, khai thác thông tin để giải quyết những vấn đề của cuộc sống đặt ra
Từ những phân tích trên, tôi theo quan niệm của Đảng Cộng sản Việt
Nam: “Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người, nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu, chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội Nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại được kế
Trang 19thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên”.[113, tr.3]
Quan niệm về Đào tạo:
Cũng giống như khái niệm giáo dục, khi bàn về khái niệm đào tạo các nhà nghiên cứu cũng có nhiều quan điểm đánh giá khác nhau
Trên thế giới, thông thường đào tạo được cho là “quá trình tác động đến con người làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định” Đào tạo được xem như là một quá trình làm cho người ta “trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”.[ 106, tr.246 ]
Đào tạo được xác định như là quá trình làm biến đổi hành vi con người một cách có hệ thống thông qua việc học tập Việc học tập này có được là kết quả của việc giáo dục, hướng dẫn, phát triển, và lĩnh hội kinh nghiệm một cách có kế hoạch Theo định nghĩa của Uỷ ban Nhân lực của Anh, đào tạo
được xác định như là: “một quá trình có kế hoạch làm biến đổi thái độ, kiến thức hoặc kỹ năng thông qua việc học tập rèn luyện để làm việc có hiệu quả trong một hoạt động hay trong một loạt các hoạt động nào đó Mục đích của
nó, xét theo tình hình công tác ở tổ chức, là phát triển nâng cao năng lực cá nhân và đáp ứng nhu cầu nhân lực hiện tại và tương lai của cơ quan”.[ 83 ]
Trong đạo luật Liên bang của Mỹ, đào tạo được xác định như: “là một quá trình cung cấp và tạo dựng khả năng làm việc cho người học và bố trí, đưa họ vào các chương trình, khoá học, môn học, hệ thống hoặc nói cách khác là huấn luyện và giáo dục được chuẩn bị, có kế hoạch, có sự kết hợp trong các lĩnh vực khoa học, chuyên ngành, kỹ thuật, cơ khí, thương mại, văn phòng, tài chính, hành chính hay các lĩnh vực khác nhằm nâng cao kết quả thực hiện công việc của cá nhân, tổ chức và giúp họ hoàn thành nhiệm vụ và mục tiêu công tác”.[ 83 ]
Trang 20Ở Việt Nam, từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học giải thích Đào
tạo là “quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp về những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập, góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước Ngày nay, đào tạo đang dần tiến tới hợp tác song phương với người học để giúp họ chủ động, tích cực, tự giác chiếm lĩnh lấy tri thức, tự trang bị hành trang nghề nghiệp, chuyên môn”.[116, tr.734]
Đào tạo là những hoạt động học tập nhằm nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, trình độ lành nghề nhằm giúp người lao động thực hiện công việc hiện tại của họ tốt hơn Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo
cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo Hoạt động đào tạo sẽ trang bị những kiến thức thông qua đào tạo mới áp dụng đối với những người chưa có nghề; đào tạo lại
áp dụng đối với những người đã có nghề nhưng vì lý do nào đó nghề của họ không phù hợp nữa và đào tạo nâng cao trình độ lành nghề Trình độ lành nghề của nguồn nhân lực thể hiện mặt chất lượng của sức lao động, nó có liên quan chặt chẽ với lao động phức tạp và biểu hiện ở sự hiểu biết về lý thuyết
và kỹ thuật sản xuất và kỹ năng lao động, cho phép người lao động hoàn thành được những công việc phức tạp Hoạt động đào tạo sẽ hướng vào cá nhân cụ thể và cần tiến hành ngay để đáp ứng nhu cầu hiện tại, thực tế công việc đòi hỏi
Đào tạo chính là việc tổ chức những cơ hội cho mọi người học tập, nhằm giúp họ đạt được mục tiêu của mình bằng việc tăng cường năng lực,
Trang 21làm gia tăng giá trị của nguồn lực cơ bản quan trọng nhất là con người, đào tạo là quá trình tác động đến con người một cách có tổ chức, giúp họ có thể làm việc tốt hơn, cho phép họ sử dụng hiệu quả hơn các khả năng, tiềm năng
và năng lực vốn có của mình trong công việc và cuộc sống
Quá trình đào tạo bao gồm việc giáo dục và giáo dưỡng, dạy dỗ và tập luyện, hình thành và phát triển nhân cách học sinh Đó là hoạt động truyền thụ
và hoạt động lĩnh hội của thầy và trò, của xã hội và thế hệ trẻ, của cha mẹ và con cái Quá trình này mở đầu bằng những yêu cầu của xã hội, cụ thể hóa theo từng giai đoạn vào mục tiêu và phương thức đào tạo và khâu cuối cùng của quá trình ấy là những phẩm chất nhân cách của học sinh (bao gồm cả năng lực hành động), được bộc lộ trong khi các em thực hiện chức năng của mình trong xã hội Quá trình đào tạo bao giờ cũng là vòng khép kín có mối hàn là hoạt động sản xuất xã hội Mối hàn này được tiến hành theo quy trình công nghệ đã được đúc kết thành nguyên lý giáo dục: học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội Phương thức đào tạo này không tách khỏi hệ thống các phương tiện tổ chức hoạt động đào tạo, đồng thời bao giờ cũng gắn với hệ thống tác động từ phía những cái được giáo dục, những người giáo dục Các mối quan hệ qua lại giữa các thành tố của quá trình đào tạo, sự hình thành và vận hành của các mối quan hệ này là lôgic của quá trình đào tạo
Từ những quan điểm trên, tôi nhận thấy rằng đào tạo là hoạt động
nhằm: Trang bị, bổ sung, nâng cao kiến thức, kỹ năng của người học liên quan đến công việc, nhằm thay đổi thái độ và hành vi của họ để nâng cao hiệu quả thực hiện công việc, hoàn thành những mục tiêu của cá nhân và của
tổ chức đặt ra
Mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục và đào tạo
Giữa giáo dục và đào tạo có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại chặt chẽ với nhau, chúng vừa là điều kiện, vừa là tiền đề cho nhau
Trang 22Giáo dục và đào tạo giống nhau ở đối tượng và mục đích Về đối tượng, giáo dục và đào tạo đều có mối quan hệ, sự tương tác giữa thầy – trò; giữa người dạy – người học, với mục đích cung cấp cho người học hệ thống kiến thức khoa học, bồi dưỡng phương pháp tư duy sáng tạo và kỹ năng hoạt động thực tiễn, nhằm nâng cao trình độ học vấn, hình thành lối sống văn hóa, mà mục đích cuối cũng là làm cho mỗi con người trở thành người lao động tự chủ, năng động, thông minh và sáng tạo
Tuy nhiên, giáo dục và đào tạo cũng có điểm khác nhau: Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, được giáo dục
và có một trình độ nhất định, thời gian diễn ra quá trình đào tạo ngắn Còn khái niệm giáo dục rộng hơn đã bao hàm trong đó nghĩa về đào tạo Giáo dục
là một quá trình diễn ra lâu dài, thường xuyên để làm biến đổi đối tượng theo chiều hướng phát triển tiến bộ, hoàn thiện
Giáo dục đã tạo ra những tiền đề, cơ sở cho đào tạo phát triển và chính đào tạo lại làm cho quá trình giáo dục ngày càng đúng đắn, thiết thực hơn Giáo dục thực chất là quá trình truyền thụ tri thức và kinh nghiệm lịch sử xã hội cho thế hệ trẻ, nhờ giáo dục mà con người trải qua một quá trình phát triển, đi từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, giáo dục đã tạo ra sợi dây liên kết từ quá khứ đến hiện tại và tương lai, từ thế hệ này đến thế hệ khác thông qua sự hiểu biết tri thức tự nhiên – xã hội Từ những tri thức đó, con người bước vào quá trình đào tạo, để chuyển từ tri thức, kinh nghiệm sang thành kỹ năng, kỹ xảo Đến lượt mình, kỹ năng, kỹ xảo đó lại giúp cho người học nhận thức và lựa chọn đúng những tri thức đã tích lũy được trong quá trình giáo dục để vận dụng vào cuộc sống và lao động, làm giàu thêm trí tuệ
và bản lĩnh của mình
Nếu không có quá trình giáo dục thì con người hình thành những kỹ năng, kỹ xảo rất khó khăn, lâu dài và phức tạp, vì giáo dục đã cung cấp cho
Trang 23con người những kiến thức căn bản nhất về tự nhiên và xã hội để con người đi vào cuộc sống, học tập và lao động được thuận tiện, dễ dàng Cũng giống như gốc của cây, móng của nhà, gốc có vững cây mới tốt, móng có chắc nhà mới bền, giáo dục cung cấp kiến thức cho con người càng đầy đủ, sâu sắc thì khi bước vào quá trình đào tạo, con người nhanh chóng biến những tri thức đó thành kỹ năng, kỹ xảo để ứng dụng vào thực tiễn, góp phần làm giàu thêm kiến thức và kinh nghiệm cho loài người Nhưng nếu không có quá trình đào tạo, thì những kiến thức đã tích lũy được ở quá trình giáo dục chỉ dừng lại ở mức độ lý luận và kinh nghiêm Cũng giống như con đường biện chứng của quá trình nhận thức, nhờ hai quá trình này mà lý luận và thực tiễn được gắn kết chặt chẽ, tri thức và kinh nghiệm kết hợp với kỹ năng, kỹ xảo sẽ giúp con người giải quyết nhanh chóng, đúng đắn, triệt để những vấn đề do cuộc sống
và công việc đặt ra Nhờ đó chất lượng của nguồn nhân lực được nâng cao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội
Từ những lý luận trên cho ta thấy được giáo dục và đào tạo là hai quá trình có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ trợ cho nhau, là điều kiện cần và đủ để thúc đẩy con người phát triển
Quan niệm về phát triển giáo dục và đào tạo
Ở bất cứ quốc gia nào, giáo dục và đào tạo cũng luôn được coi là vấn
đề then chốt và là “quốc sách hàng đầu” Vai trò của giáo dục và đào tạo trong việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao cũng như góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội là điều không thể phủ nhận
Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo, ngay từ Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848), C.Mác và Ăngghen đã thể hiện quan điểm xây dựng nền giáo dục như sau: “Giáo dục công cộng và không mất tiền cho tất cả trẻ em Xóa bỏ việc dùng trẻ em làm trong các công xưởng như hiện nay Kết hợp giáo dục với sự sản xuất vật chất” [71, t.4, tr 628] Đây là một
Trang 24tư tưởng lớn, đã trở thành tư tưởng của thời đại ngày nay, trở thành sức mạnh vật chất tạo nên những tiến bộ cực kỳ to lớn trên thế giới và từng nước
Như vậy là trong cương lĩnh hoạt động của Đảng cộng sản, về phần giáo dục, các nhà sáng lập Chủ nghĩa cộng sản khoa học đã chỉ ra các vấn đề
có tính nguyên tắc như sau:
+ Giáo dục là một trong những biện pháp không thể thiếu được để cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội Xã hội chủ nghĩa, nói cách khác, giáo dục là một bộ phận thiết yếu của toàn bộ cuộc cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo
+ Nền giáo dục đó phải do nhà nước chuyên chính vô sản tổ chức và quản lý
+ Phải thực hiện phổ cập giáo dục
+ Phải kết hợp giáo dục với sản xuất vật chất
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đã mở ra thời đại mới – quá độ lên Chủ nghĩa xã hội Một trong những sản phẩm đặc biệt quý giá mà cuộc cách mạng vĩ đại này đóng góp vào kho tàng văn hóa nhân loại là những tư tưởng, quan điểm về giáo dục Tại diễn đàn Đại hội giáo dục toàn Nga lần thứ nhất, ngày 28-8-1918, V.Lênin – lãnh tụ của Cách mạng Tháng Mười đã khẳng định vai trò to lớn của công tác giáo dục, coi đó là một điều kiện đảm
bảo thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Lênin nói: “Người
mù chữ là người đứng ngoài xã hội”[72, t.37, tr 89] Trong văn kiện: “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết” (ngày 26-4-1918) người còn coi
giáo dục là bộ phận trong kết cấu hạ tầng xã hội Cuối năm 1920, khi nhận xét
Đề cương báo cáo về giáo dục của Crupxcaia, Lênin viết: Trong bất cứ hoàn cảnh nào chúng ta phải mau chóng từng bước chuyển sang giáo dục kỹ thuật tổng hợp để mang lại cho học sinh một tầm nhìn kỹ thuật tổng hợp và các tri thức cơ bản ban đầu của giáo dục kỹ thuật tổng hợp, cụ thể là có các bài giảng về điện, điện khí hóa, về nông học, hóa học kết hợp với tham quan nhà
Trang 25máy, nhất là nhà máy điện, nông trường, bảo toàn kỹ thuật ” Người chủ trương “Phải thực hiện một chế độ giáo dục không mất tiền và bắt buộc, phổ thông và tổng hợp cho tất cả trẻ em trai gái dưới 17 tuổi” trên cơ sở nguyên
lý “Giảng dạy phải kết hợp chặt chẽ với lao động sản xuất xã hội, đào tạo những thành viên phát triển toàn diện cho xã hội cộng sản”[72, t.41, tr 342]
Đây chính là những nguyên tắc cơ bản của giáo dục, chỉ đạo việc tổ chức nhà trường và tiến hành hoạt động giảng dạy, giáo dục
Có thể nói những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về giáo dục - đào tạo đã đề cập một cách sâu sắc, toàn diện cả về lý luận và chiến lược xây dựng, phát triển một nền giáo dục quốc dân không chỉ đối với các nước đi lên Chủ nghĩa xã hội mà với tất cả các quốc gia và dân tộc trên thế giới
Kế thừa truyền thống văn hoá lịch sử của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại mà điển hình là Chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm và đề cao vai trò của giáo dục - đào tạo Tư tưởng
Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo xuất phát từ mục đích cao cả của sự nghiệp cách mạng mà người theo đuổi, thể hiện nhất quán và xuyên suốt trong
tư tưởng, trong cuộc đời hoạt động của Người Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi con người là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định của sự nghiệp cách mạng Chính vì vậy mà toàn bộ tư tưởng và cuộc đời hoạt động của người đều nhằm thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng
xã hội, giải phóng con người, vì con người và cho con người Người từng nói:
“Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn
áo mặc, ai cũng được học hành”.[74, t.4, tr.240]
Ngay sau khi cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Hồ Chủ tịch
đã kêu gọi toàn dân đoàn kết chống: “Giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm”
và ban hành sắc lệnh thành lập Nha bình dân học vụ để tổ chức thực hiện việc
chống mù chữ Người nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”[74, t.4, tr.8]
Trang 26Đồng thời khẳng định: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” [74, t.4, tr 32-33] Do đó, “Muốn xây dựng Chủ nghĩa xã hội phải biến một đất nước dốt nát thành một nước có nền văn hoá cao, khoa học phát triển”[74, t.4, tr.212] Người cho rằng: “Học để làm việc, làm người, làm cán
bộ Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”
rõ:“Trách nhiệm nặng nề và vẻ vang của người dạy học là: Chăm lo dạy dỗ con em của nhân dân thành người công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà” Người cho rằng sự nghiệp
“Trồng người” là rất lâu dài, khó khăn và rất quan trọng Do đó, Người căn
dặn “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây; vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”[74, t.9, tr.222] Trong bức thư cuối cùng gửi cho ngành giáo dục nhân dịp khai giảng năm học 1968-1969, Bác đã dạy: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt Trên nền tảng giáo dục chính trị
và lãnh đạo tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hoá và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn đề do cách mạng nước ta đề
ra và trong một thời gian không xa, đạt những đỉnh cao của khoa học kỹ thuật”[74, t.12, tr.403]
Trang 27Nguyên lý giáo dục Người nêu lên cho nhà trường xã hội chủ nghĩa
là:“Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội” Thực tiễn đã cho thấy, quá trình giáo dục tự giác là quá
trình giáo dục thường xuyên, là quá trình lâu dài và thiết thực nhất, bởi lẽ nó
gắn bó với cả cuộc đời của mỗi con người và “Việc học không bao giờ cùng, học hành sáng tạo suốt đời” Lý luận và thực tiễn về tư tưởng tự học, tự giáo
dục của Người được xem là tư tưởng chiến lược của việc tiếp tục đổi mới và phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ đổi mới công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
Tại khóa họp lần thứ 27 Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO), đã thông qua báo cáo tổng kết với
đầu đề “Học tập, của cải nội sinh” (Pari, 1996) đã đưa ra bốn trụ cột trong
giáo dục là: Học để biết (Learning to know), Học để làm (Learning to do), Học để tự khẳng định (Learning to be) và Học để cùng chung sống (Learning
to live together) Đồng thời, nêu ra khuyến nghị 21 điều trong chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo thế kỷ XXI như sau:
+ Giáo dục thường xuyên phải là nét chủ đạo của mọi chính sách giáo dục trong những năm tới tại các nước công nghiệp phát triển cũng như các nước đang phát triển
+ Giáo dục thường xuyên cho mọi lứa tuổi, trong suốt cuộc đời, không chỉ bó hẹp trong phạm vi nhà trường - có nghĩa là phải cải tổ toàn diện nền giáo dục Giáo dục phải trở thành phong trào quần chúng thực sự
+ Giáo dục phải được tiến hành và tiếp thu bằng nhiều cách khác nhau Điều quan trọng là không phải học theo cách nào mà là học cái gì và học được cái gì
+ Xóa bỏ các hàng rào giả tạo hoặc lỗi thời giữa các ngành giáo dục và các cấp - bậc giáo dục chính thức và không chính thức
Trang 28+ Giáo dục cho trẻ trước tuổi đến trường phải là một trong những mục tiêu lớn của chiến lược giáo dục
+ Vẫn còn hàng triệu trẻ em và thanh niên không được hưởng bất kỳ một nền giáo dục nào Giáo dục phổ thông cơ bản dưới những hình thức khác nhau tuỳ theo khả năng và nhu cầu của mỗi nước, phải là mục tiêu hàng đầu của chính sách giáo dục
+ Phải xoá bỏ những phân biệt cứng nhắc giữa các ngành giáo dục (phổ thông, khoa học, kỹ thuật và chuyên nghiệp…); Ngay từ cấp sơ học giáo dục
đã mang đặc tính kết hợp với lý thuyết, công nghệ, thực hành và thủ công + Giáo dục không chỉ nhằm mục đích đào tạo cho thanh niên những công việc cụ thể mà còn trang bị cho họ thích ứng với nhiều loại nghề nghiệp khác nhau
+ Không chỉ riêng hệ thống nhà trường phải chịu trách nhiệm về việc đào tạo kỹ thuật mà cả các xí nghiệp, các ngành kinh doanh và giáo dục ngoài nhà trường cũng phải chịu chia sẻ trách nhiệm với các trường học
+ Giáo dục cao đẳng cần được mở rộng và đa dạng hoá để đáp ứng các đòi hỏi của cá nhân và cộng đồng Muốn vậy, trước hết phải có sự thay đổi trong các thái độ (quan niệm) cổ truyền đối với các trường đại học
+ Được nhận vào các ngành giáo dục các nghề nghiệp khác nhau chỉ tuỳ thuộc ở kiến thức, khả năng và năng lực của mỗi người
+ Phát triển nhanh chóng việc phát triển giáo dục người lớn cả trong lẫn ngoài nhà trường phải là mục tiêu ưu tiên của các chiến lược trong 10 năm tới
+ Mọi hoạt động xoá nạn mù chữ đều phải hướng vào mục tiêu phát triển xã hội - kinh tế của đất nước
+ Đạo đức của giáo dục phải làm cho mỗi người trở thành thầy dạy và người kiến tạo nên tiến bộ văn hoá của bản thân mình
Trang 29+ Khi soạn thảo và lập kế hoạch cho hệ thống giáo dục cần tính đến các khả năng do các kỹ thuật mới đem lại
+ Các chương trình đào tạo thầy giáo cần triệt để sử dụng các thiết bị giảng dạy mới nhất
+ Mọi sự khác biệt, chênh lệch về ngôi thứ giữa thầy giáo các trường tiểu học, các trường kỹ thuật, các trường trung học và giảng viên các trường đại học phải được huỷ bỏ
+ Thầy giáo phải được đào tạo để trở thành nhà giáo dục nhiều hơn là chuyên gia truyền thụ kiến thức
+ Bên cạnh những giáo viên chuyên nghiệp phải viện đến các trợ thủ có trình độ chuyên môn ở các ngành nghề (công nhân, kỹ thuật viên, cán bộ ), phải viện đến cả sự tham gia của học sinh, sinh viên - họ sẽ tự giáo dục trong khi dạy người khác
+ Trái với thông lệ cổ truyền, việc giảng dạy phải thích nghi với người học chứ không phải người học phải tuân theo những quy định đã đặt ra sẵn trước khi giảng dạy
+ Người học và công chúng nói chung cần được có tiếng nói nhiều hơn trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến giáo dục
Từ những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và UNESSCO về phát triển giáo dục và đào tạo không những đã khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo đối với quá trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc mà còn là cơ sở để Đảng ta vạch ra đường lối chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo Quan điểm của Đảng xuyên suốt thời
kỳ đổi mới cho đến nay là: Giáo dục là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển; sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp của toàn dân Trong các văn kiện của Đảng, từ Đại hội VI đến Đại hội VIII, Đảng ta khẳng định “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
Trang 30tài” Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII (1996), Đảng ta đã xác
định mục tiêu cơ bản và nhiệm vụ của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, có tri thức, kỹ năng, vừa hồng vừa chuyên; giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa; thực sự xem giáo dục là quốc sách hàng đầu; giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, Nhà nước và toàn dân; phát triển giáo dục và đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Đại hội lần thứ
IX, Đảng ta tái khẳng định giáo dục là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục
và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu
tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; thực hiện giáo dục cho mọi người, học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã
hội Đến Đại hội lần thứ X năm 2006, Đảng ta quyết định: “Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao” Để thực hiện
mục tiêu nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại năm
2020, tại Đại hội Đảng lần thứ XI, Đảng ta đã tiếp tục khẳng định triết lý giáo dục theo đường lối đổi mới Tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, Đảng ta đã thông qua Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Từ các văn kiện nêu trên, đường hướng phát triển giáo dục và đào tạo được chỉ đạo nhất quán như sau: + Xây dựng “Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa
có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng”
+ Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện,
có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý
Trang 31tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, tức là con người trung thành với lý tưởng độc lập và chủ nghĩa xã hội
+ Coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu cùng với khoa học và công nghệ là yếu tố quyết định góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội
+ Giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, với khoa học công nghệ và củng cố quốc phòng an ninh
+ Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội
Đây là quan điểm đúng đắn thể hiện sự đổi mới, bám sát vào thực tiễn, giáo dục và đào tạo không tách rời với xu thế phát triển chung Trong bối cảnh trong nước và thế giới có nhiều thay đổi, thì những định hướng, quan điểm đúng đắn của Đảng sẽ trở thành đòn bẩy thúc đẩy sự chuyển biến thực
sự, bền vững cho nền giáo dục và đào tạo Việt Nam
1.3.2 Quan niệm về phát triển kinh tế – xã hội
Quan niệm về tăng trưởng kinh tế
Quan niệm tăng trưởng kinh tế cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau Trong kinh tế học thì tăng trưởng kinh tế là một khái niệm được dùng
để chỉ sự gia tăng về quy mô, sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Các chỉ tiêu thường được sử dụng để đo mức tăng trưởng kinh tế là mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), GDP bình quân đầu người và các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp khác [89, tr.63] Tăng trưởng kinh tế còn được hiểu “là việc mở rộng sản lượng quốc gia tiềm năng của một nước, sự tăng lên không ngừng GDP tiềm năng thực (GDP thực là GDP đã được điều chỉnh theo sự thay đổi giá: GDP thực = GDP danh nghĩa - giảm phát của GNP)” [89, tr 64]
Trang 32Từ những quan điểm trên, tôi theo quan niệm của các nhà kinh tế học:
tăng trưởng kinh tế chỉ là sự tăng lên đơn thuần về tổng sản phẩm quốc gia hay tổng sản phẩm quốc nội trong một thời gian nhất định Tăng trưởng kinh
tế là tạo ra điều kiện để mở rộng sản xuất, làm tăng sản lượng, năng suất, thu nhập và những đại lượng khác của nền kinh tế theo chiều hướng đi lên”.[89
Tr.60]
Quan niệm về phát triển kinh tế
Phát triển là một thuật ngữ quen thuộc, xoay quanh phạm trù này có rất nhiều quan niệm khác nhau Theo nghĩa triết học, phát triển được coi là một trường hợp đặc biệt của vận động, đó là khái niệm dùng để chỉ quá trình vận động đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật Phát triển là một hiện tượng phổ biến, tồn tại
cả trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy
Trong xã hội, phát triển là một xu hướng tồn tại tất yếu khách quan của mỗi con người cũng như từng quốc gia dân tộc Biểu hiện ở mọi khía cạnh của đời sống, trong đó phát triển kinh tế giữ vai trò vô cùng quan trọng, được coi là nhân tố hàng đầu cho sự phát triển của mỗi quốc gia Phát triển kinh tế là khái niệm được quan tâm giải thích từ nhiều học giả trên thế giới cũng như ở Việt Nam trong những năm gần đây Các học giả ở nước ta xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau, chủ yếu là từ phương diện kinh tế học, đã giải thích khá cặn kẽ, đầy đủ vấn đề này Dưới đây là một số quan niệm đó: Phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến về mọi mặt) của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản xuất (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế -
xã hội
Phát triển kinh tế là sự gia tăng về số lượng và chất lượng của nền kinh tế quốc dân trong một thời kỳ nhất định Các chỉ tiêu phản ánh phát triển kinh tế là hiệu quả của nền kinh tế, hiệu quả đầu tư, cơ cấu kinh tế, khả năng
Trang 33cạnh tranh của nền kinh tế so với các nước khác nhau trong khu vực và trên thế giới
Phát triển kinh tế là một quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh
tế trong một thời kỳ nhất định, trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội Đó là sự tiến bộ, thịnh
vượng và cuộc sống tốt đẹp hơn
Phát triển kinh tế được xem như là một quá trình mà thu nhập bình quân đầu người thực tế của một nước tăng lên trong một thời gian xác định với tiêu chí là không tăng thêm số người sống dưới “mức nghèo tuyệt đối” và
sự bất công trong phân phối thu nhập
Như vậy, khi đề cập đến phát triển kinh tế, các quan điểm trên đã cho thấy rõ phát triển kinh tế không chỉ là sự tăng lên đơn thuần về mặt số lượng mà còn là sự thay đổi về mặt chất lượng của nền kinh tế Từ các quan niệm trên, tôi đồng nhất với quan điểm của các nhà kinh tế học Việt Nam cho
rằng: “Phát triển kinh tế là sự thay đổi một cách tổng thể nền kinh tế quốc dân, là quá trình “lớn lên” của nền kinh tế trên cả phương diện chất và lượng Hay nói cách khác, phát triển kinh tế là tăng trưởng kinh tế gắn kết với
sự thay đổi toàn bộ trong nền kinh tế, tức là sự chuyển biến đi lên của toàn bộ
hệ thống kinh tế trong xã hội ở một thời kỳ nhất định”.[ 89, tr.64]
Phát triển kinh tế là khái niệm có nội dung phản ánh rộng hơn so với
khái niệm tăng trưởng kinh tế Nếu như tăng trưởng kinh tế về cơ bản chỉ là
sự gia tăng thuần tuý về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: GNP, GNP/đầu người hay GDP, GDP/đầu người… thì phát triển kinh tế ngoài việc bao hàm quá trình gia tăng đó, còn có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, đó là những biến đổi về mặt chất của nền kinh tế - xã hội, mà trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền sản xuất – xã hội theo hướng công nghiêp hóa, hiện đại hóa Kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao mức sống toàn
Trang 34dân, trình độ phát triển văn minh xã hội thể hiện ở hàng loạt tiêu chí như: thu nhập thực tế, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, trình độ dân trí, bảo vệ môi trường, và khả năng áp dụng các thành tựu khoa học – kỹ thuật vào phát triển kinh tế - xã hội …Với nội hàm rộng lớn trên đây, về cơ bản khái niệm phát triển kinh tế đã đáp ứng được các nhu cầu đặt ra cho sự phát triển toàn diện nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội…
Như vậy, phát triển kinh tế và tăng trưởng kinh tế có quan hệ với nhau, nhưng hai khái niệm này không đồng nhất với nhau Tăng trưởng kinh
tế vẫn chưa phải là phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh tế mới chỉ là một trong những điều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế Để có phát triển kinh
tế, ngoài tăng trưởng kinh tế phải có các điều kiện đảm bảo cho phát triển bền vững Đó là tuân thủ tính cân đối, hiệu quả; tính mục tiêu; tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường tự nhiên; đảm bảo an toàn, an ninh quốc gia, chủ quyền toàn vẹn lành thổ và thực hiện tốt sự tiến bộ và công bằng xã hội Hay nói cách khác, phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế đi kèm với
sự hoàn chỉnh cơ cấu kinh tế, hoàn thiện thể chế kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư Phát triển kinh tế biểu hiện ở ba chỉ tiêu sau: Một là, tăng trưởng kinh tế phải lớn hơn mức tăng dân số
Hai là, có sự thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, phù hợp với xu thế thời đại
Ba là, chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư được cải thiện, tăng lên
Muốn vậy, không chỉ có sự gia tăng của GDP bình quân đầu người mà còn phải phân phối hợp lý kết quả tăng trưởng, ổn định lạm phát, ngăn ngừa khủng hoảng Sản phẩm làm ra có số lượng và chất lượng ngày càng cao Ngoài ra, việc phát triển văn hóa, giáo dục và đào tạo, y tế, giữ gìn và bảo vệ môi trường tự nhiên đang là một tiêu chuẩn quan trọng của chất lượng cuộc sống, là điều kiện quan trọng để phát triển kinh tế bền vững
Trang 35 Quan niệm về phát triển xã hội
Ở Việt Nam, thuật ngữ “xã hội” là để chỉ chung về xã hội theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng Còn trong ngôn ngữ nhiều nước châu Âu, mỗi nghĩa hẹp
và rộng như vậy có riêng một thuật ngữ để xác định; thí dụ trong tiếng Anh
“sociality” là xã hội theo nghĩa hẹp, còn “society” là xã hội theo nghĩa rộng
Dù nghĩa hẹp hay rộng thì theo C.Mác, “xã hội không phải gồm các cá nhân, mà xã hội biểu hiện tổng số những mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân đối với nhau” [71, t.3, tr.11]
Việc tiếp cận xã hội, dù ở nghĩa rộng hay nghĩa hẹp cũng đều chú ý hai phương diện: “tĩnh” với tính cách là một dạng vận động trong cân bằng của số lượng và chất lượng, và “động” nhằm chỉ trạng thái phát triển về chất Ở dạng tĩnh, xã hội theo nghĩa rộng gồm Nhà nước pháp quyền và xã hội công dân;
và ở dạng vận động, xã hội theo nghĩa rộng trong quá trình phát triển được khái quát là hình thái kinh tế - xã hội
Quan niệm về phương diện xã hội của đời sống loài người, đương nhiên cũng không tách rời những con người và các cộng đồng người với các quan hệ và hoạt động của họ trên cùng một lãnh thổ nhất định, trong cùng một thể chế luật pháp, chính trị, một nền kinh tế và văn hóa nhất định Sự phát triển các quan hệ và hoạt động đó diễn ra trong mối tương tác với phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, giữ vững an ninh - quốc phòng, bảo vệ môi trường
và hội nhập quốc tế, đặc biệt trước sự tác động của các quá trình toàn cầu hoá như hiện nay
Quan niệm về xã hội, dù theo nghĩa hẹp hay nghĩa rộng, về nguyên tắc, đều phải gắn với phát triển Thuật ngữ “phát triển xã hội” được thế giới quan tâm từ khoảng giữa những năm 1990, cụ thể từ sau Hội nghị thượng đỉnh phát triển xã hội năm 1995, Hội nghị Bắc Kinh năm 2000, và nhất là sau khi
có văn kiện Tầm nhìn thiên niên kỷ mới của Liên hợp quốc năm 2001 Cho
Trang 36đến nay, khi bàn về khái niệm “phát triển xã hội”, các nhà lý luận ở Việt Nam
đã đưa ra những tiêu chí sau:
+ Phát triển xã hội đồng nghĩa xã hội ngày càng dân chủ, công bằng và văn minh và luôn tiến bộ hơn
+ Phát triển xã hội là con người ngày càng có đời sống vật chất, tinh thần cao, có năng lực sáng tạo cao hơn
Phát triển xã hội không chỉ thuần túy là sự phát triển của riêng lĩnh vực
xã hội, mà là sự phát triển đồng thời của phương diện xã hội thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, nhằm bảo đảm cho con người được phát triển toàn diện và xã hội phát triển bền vững Chỉ báo đánh giá sự phát triển
xã hội cơ bản là sự vận động lên một chất lượng mới cao hơn của nền sản xuất xã hội, mà theo quan niệm C.Mác và Ph Ăngghen trong Hệ tư tưởng Đức (1845), gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần, sự tái sản sinh các thế
hệ người, sự phát triển nhu cầu và phát triển ý thức của con người Đây là một phức hợp năm loại chỉ báo, cho nên để đạt được sự phát triển xã hội, mục tiêu phải đạt được của phát triển xã hội là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và vươn lên làm giàu của mọi thành viên trong xã hội
Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội
Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội là mối quan
hệ có sự tác động qua lại, biện chứng với nhau, vừa là tiền đề, vừa là điều kiện của nhau Phát triển kinh tế là cơ sở, là điều kiện để thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; đồng thời là thước đo của tiến bộ, dân chủ, công bằng xã hội
Tiến bộ và công bằng xã hội quan hệ chặt chẽ với phát triển kinh tế ở hai khía cạnh: vừa là động lực, vừa là thành quả của phát triển kinh tế, thể hiện sự phân phối thành quả của phát triển kinh tế Tiến bộ và công bằng xã hội là động lực, mục tiêu của phát triển kinh tế Không đảm bảo tiến bộ, dân
Trang 37chủ, công bằng xã hội sẽ gây cản trở cho tăng trưởng kinh tế ở giai đoạn tiếp theo
Phát triển kinh tế là điều kiện tiên quyết để tạo ra những tiến bộ về xã hội, hoạt động của nền kinh tế ngày càng gia tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh, tạo cơ sở cho việc đạt được những tiến bộ xã hội một cách sâu rộng
nhất
Kết quả của những tiến bộ xã hội đạt được lại làm gia tăng không ngừng năng lực nội sinh của nền kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa và đô thị hoá; đó không đơn thuần là sự gia tăng về quy mô, mà còn bao hàm việc mở rộng chủng loại và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ được sản xuất ra; hoạt động của nền kinh tế ngày càng gia tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh, tạo cơ sở cho việc đạt được những tiến bộ xã hội một cách sâu rộng, cải thiện chất lượng cuộc sống của mọi thành viên trong xã hội như là hàng đầu và là kết quả của sự phát triển
Ngày nay, để đánh giá một xã hội phát triển, các tổ chức quốc tế quan tâm không chỉ đến các con số biểu thị quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế, biểu thị sự tăng thu nhập cá nhân, mà còn quan tâm đến những chỉ số phản ánh chất lượng cuộc sống như: có việc làm, được học tập, vui chơi, đi lại thuận tiện, được chăm sóc sức khỏe, hài lòng về cuộc sống người dân Tính nhân văn, mục đích phát triển xã hội vì con người, cho con người ngày càng được khẳng định
Việc giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội cũng được Đảng ta đặc biệt quan tâm Từ Đại hội VII đến Đại hội IX của
Đảng luôn xác định một tư tưởng nhất quán: “Phát triển kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường sinh thái”
Trang 38Cùng với hệ thống chính sách ngày càng hoàn thiện và phát huy hiệu quả trong thực tiễn, trong những năm qua Việt Nam đã có những tiến bộ trong giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội Về kinh
tế, vị thế của Việt Nam được cải thiện rõ rệt cả ở khu vực và trên thế giới Lựa chọn xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong những năm qua đã chứng tỏ sự đúng hướng trong phát triển kinh tế Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân cơ bản được cải thiện Trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực và tính năng động xã hội của con người được nâng lên đáng kể Các địa phương trong cả nước đã hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ và phổ cấp giáo dục tiểu học, trung học cơ sở Công tác đào tạo nghề được mở rộng Năng lực nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ mới được nâng cao Xóa đói giảm nghèo đạt kết quả nổi bật, được thế giới đánh giá cao Việc “đền ơn đáp nghĩa” đối với những người có công với Tổ quốc, công tác bảo trợ xã hội, chăm sóc và giúp đỡ những người bị ảnh hưởng chất độc da cam, người tàn tật, người già không nơi nương tựa, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được quan tâm và thực hiện tốt Việc bảo vệ và chăm sóc trẻ
em, chăm sóc sức khỏe cộng đồng đạt nhiều tiến bộ
Bên cạnh những kết quả tích cực, việc giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội ở nước ta vẫn còn những hạn chế Những thách thức mới đặt ra vô cùng lớn: nền kinh tế phát triển chưa hợp lý khiến tăng trưởng kinh tế chỉ ở bề rộng mà thiếu chiều sâu và tính bền vững; tình trạng phân hóa giàu nghèo, mâu thuẫn giữa các nhóm lợi ích xã hội gia tăng, tham nhũng và đạo đức xã hội xuống cấp nghiêm trọng , tiềm ẩn nguy cơ bất
ổn định trong phát triển xã hội
Để giải quyết tốt hơn mối quan hệ này, Đảng, Nhà nước cần quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện tốt hơn nữa quan điểm kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng chính sách, từng bước đi và xuyên suốt quá trình đổi mới; kiện định mục tiêu phát triển
Trang 39toàn diện con người và vì hạnh phúc của con người; xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao thành động lực phát triển chủ chốt của công cuộc đổi mới; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước trong việc gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ, công bằng và dân chủ trong xã hội
1.3.3 Mối quan hệ biện chứng giữa phát triển giáo dục và đào tạo với phát triển kinh tế – xã hội
Ngày nay, nhân loại ngày càng nhận rõ được mối quan hệ giữa giáo dục
và đào tạo với kinh tế – xã hội Đây là hai quá trình có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng, chúng vừa là tiền đề vừa là điều kiện, vừa là nguyên nhân và kết quả của nhau
Giáo dục và đào tạo là hoạt động xã hội đặc biệt, nó khác với các hoạt động xã hội khác như: hoạt động kinh tế, hoạt động chính trị, hoạt động nghệ thuật ở chỗ, nếu hoạt động sản xuất vật chất của con người là sự tác động của con người vào đối tượng vật chất, nhằm biến đổi đối tượng ấy và tạo ra sản phẩm, phục vụ cho nhu cầu của con người và xã hội, thì hoạt động giáo dục
và đào tạo tác động vào chính con người với tư cách là chủ thể của mọi hoạt động xã hội, nhằm biến đổi chủ thể đó thành con nguời có nhân cách, chủ động, tích cực, sáng tạo Song giữa chúng có sự tác động lẫn nhau và tác động đến sự phát triển xã hội
Theo đó, có thể nói rằng, nhờ có giáo dục và đào tạo mà xã hội đã tái sản xuất ra nhân cách, tái sản xuất ra năng lực hoạt động của con người, thúc đẩy xã hội phát triển Với ý nghĩa đó, giáo dục và đào tạo đã tái sản xuất ra cả
xã hội
Với tư cách là một hoạt động xã hội đặc thù – hoạt động tái sản xuất ra nhân cách và năng lực hoạt động xã hội của con người, giáo dục và đào tạo không nằm riêng ở một bộ phận cấu trúc nào của một hình thái kinh tế - xã hội nào đó Nó thuộc cả cơ sở hạ tầng lẫn kiến trúc thượng tầng của xã hội
Trang 40Khi hình thái kinh tế - xã hội đó thay đổi, chuyển sang một hình thái kinh tế -
xã hội khác thì hoạt động giáo dục và đào tạo cũng thay đổi theo một cách tương ứng Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, tương ứng với một hình thái kinh tế - xã hội là một nền giáo dục và đào tạo Trong lịch sử, đó là các nền giáo dục công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa
và nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Khi hình thái kinh tế - xã hội mới thay thế hình thái kinh tế - xã hội cũ thì nền giáo dục cũ cũng mất đi và được thay thế bằng nền giáo dục mới phù hợp với hình thái kinh tế - xã hội mới, phản ánh
sự thay đổi trong chế độ kinh tế - xã hội
Mặt khác, sự phát triển kinh tế - xã hội đã đặt ra cho giáo dục những yêu cầu cao hơn, đòi hỏi giáo dục phải thích ứng Điều đó nói lên rằng, giữa chế độ kinh tế - xã hội và hoạt động giáo dục và đào tạo có mối quan hệ biện chứng, trong đó chế độ kinh tế - xã hội đóng vai trò là nhân tố quyết định đối với hoạt động giáo dục và đào tạo, còn hoạt động giáo dục và đào tạo có tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một hình thái kinh tế -
xã hội
Về vai trò của kinh tế: Trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia có tác dụng quyết định đối với giáo dục và đào tạo trên các mặt: chương trình giáo dục, điều kiện học, quy mô và tốc độ phát triển giáo dục và đào tạo Kinh
tế quyết định hệ thống, cấu trúc giáo dục và đào tạo Tương ứng với quá trình phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội từ xã hội cổ đại sang xã hội hiện đại, thì hệ thống giáo dục gia đình chuyển sang giáo dục xã hội; giáo dục dành cho thiểu số sang giáo dục dành cho đa số; giáo dục chính quy chuyển sang đa phương thức; giáo dục từ chỗ bó hẹp ít ngành sang nhiều ngành
Về chức năng phát triển kinh tế của giáo dục và đào tạo: giáo dục và đào tạo đối với nền kinh tế được hiểu theo cả hai mặt chi phí và lợi ích Nếu giáo dục sử dụng các nguồn lực cũng được đặc trưng và phân tích chi phí như