MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Khảo sát tình hình sử dụng bản đồ/Atlas trong việc học và tra cứu của học sinh,
Nhằm hiểu rõ nhu cầu sử dụng bản đồ/Atlas trong học tập và tra cứu của sinh viên, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát đối với sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh cũng như trên mạng xã hội Facebook.
Nội dung và phương pháp khảo sát và cách chọn mẫu:
Bảng 2.1 Mô tả bảng khảo sát
STT Nơi khảo sát Số lượng phát ra
1 Trường đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn
100 99 Khảo sát ngẫu nhiên tại các Dãy
C, D, Sân B (Cơ sở Đinh Tiên Hoàng)
2 Mạng xã hội Facebook 14 14 Ứng dụng công cụ google drive để làm khảo sát trên mạng facebook
Nội dung: (đính kèm nội dung bảng hỏi trong phần mục lục)
Tình hình sử dụng bản đồ trong cuộc sống và học tập của sinh viên
Sự cần thiết xây dựng Atlas điện tử thành phố Hồ Chí Minh và các ý kiến đóng góp để hoàn thiện Atlas
Điều tra bằng bảng hỏi, do giới hạn về thời gian nên chỉ thực hiện khảo sát được
100 sinh viên đang học tại khu vực trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
TP HCM là nơi thu hút nhiều sinh viên từ các trường khác nhau, đặc biệt là thông qua các nhóm tự học trên mạng xã hội Facebook.
Xử lý toàn bộ bảng hỏi bằng công cụ Google drive
Tình hình s ử d ụ ng b ả n đồ trong cu ộ c s ố ng và h ọ c t ậ p c ủ a sinh viên
Khảo sát cho thấy 83% sinh viên sử dụng bản đồ trong cuộc sống hàng ngày, với 26% trong số đó sử dụng thường xuyên Điều này chứng tỏ rằng bản đồ là công cụ hữu ích, hỗ trợ sinh viên trong các hoạt động thường nhật.
Theo Biểu đồ 2.1, 67% sinh viên sử dụng bản đồ chủ yếu để tìm đường, trong khi 21% dùng để tìm địa điểm vui chơi, giải trí Chỉ có 12% sinh viên sử dụng bản đồ cho mục đích học tập và nghiên cứu khoa học Điều này cho thấy rằng các bản đồ hành chính, giao thông và chỉ đường được sử dụng phổ biến, trong khi việc áp dụng các bản đồ chuyên đề cho học tập và nghiên cứu vẫn còn hạn chế.
Biểu đồ 2.2 cho thấy tỉ lệ mức độ sử dụng bản đồ của sinh viên trong học tập, với chỉ 51% sinh viên cho biết họ sử dụng bản đồ cho các môn học, đặc biệt là trong thuyết trình, trong khi 49% không sử dụng Điều này cho thấy rằng việc sử dụng bản đồ trong học tập vẫn giữ một vị trí quan trọng trong thói quen học tập của sinh viên.
Kết luận khảo sát cho thấy hầu hết sinh viên sử dụng bản đồ chủ yếu để tìm kiếm địa điểm vui chơi, giải trí và chỉ đường Ngoài ra, việc sử dụng bản đồ cho học tập, thuyết trình và nghiên cứu khoa học cũng được đánh giá cao Do đó, nhóm cần xây dựng một Atlas với nhiều thông tin hữu ích, giúp sinh viên tìm kiếm địa điểm thư giãn sau những giờ học căng thẳng, đồng thời cung cấp các bản đồ phục vụ cho thuyết trình và nghiên cứu khoa học.
Biểu đồ 2.3 Tỉ lệ mức độ sử dụng bản đồ trong học tập của sinh viên
Việc xây dựng Atlas điện tử cho thành phố Hồ Chí Minh là rất cần thiết nhằm cung cấp thông tin chính xác về địa lý tự nhiên và kinh tế xã hội Atlas sẽ giúp người dân và những người quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu về thành phố Ngoài ra, nó còn tạo ra các tiện ích như tìm đường, cung cấp địa chỉ cần thiết cho khách du lịch và thông tin về các chính sách phát triển của thành phố.
Nhóm nghiên cứu đã phát triển Atlas nhằm hỗ trợ học sinh và sinh viên, đặc biệt là những người từ tỉnh khác, trong việc tìm kiếm thông tin học tập và làm quen với môi trường sống tại thành phố Hồ Chí Minh.
Sau khi khảo sát tình hình sử dụng bản đồ của sinh viên, nhóm đã đề xuất xây dựng một Atlas điện tử cho thành phố nhằm phục vụ việc học tập và tra cứu Đa số ý kiến khảo sát đều ủng hộ việc có một Atlas về thành phố.
Hồ Chí Minh với đầy đủ thông tin, từ địa lý, chính trị, văn hóa, kinh tế, du lịch…
Biểu đồ 2.4 Tỉ lệ mức độ ý kiến về việc nên xây dựng Atlas điện tử thành phố Hồ Chí
Minh phục vụ học tập và tra cứu
Hầu hết mọi người đồng ý rằng thành phố nên phát triển một Atlas điện tử cung cấp thông tin trung thực, chính xác và khách quan Những thông tin này sẽ trở thành tài liệu tham khảo đáng tin cậy cho sinh viên trong việc quản lý và tìm kiếm các địa điểm tham quan, giải trí và du lịch Đây là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng, thể hiện sự quan tâm của chính quyền thành phố đối với đời sống và học tập của sinh viên, đồng thời là kênh thông tin giúp thành phố nắm bắt nhu cầu và thực trạng đời sống của sinh viên trên toàn quốc.
Biểu đồ 2.5 Tỉ lệ mức độ ý kiến về việc thành phố Hồ Chí Minh nên xây dựng Atlas điện tử nhằm cung cấp thông tin cho người dân
Nhóm nghiên cứu đề xuất cài đặt các Atlas điện tử tại thư viện trường học và các trạm thông tin xe buýt để sinh viên và người dân có thể tra cứu miễn phí Ý kiến này nhận được sự ủng hộ từ 94% sinh viên tham gia khảo sát Việc cài đặt và sử dụng Atlas rất nhanh chóng, dễ dàng và không tốn nhiều thời gian cũng như chi phí, cho thấy đây là một đề tài thực tế và khả thi.
Biểu đồ 2.6 cho thấy tỷ lệ ý kiến của người dân về việc cung cấp miễn phí Atlas điện tử tại các thư viện và trạm thông tin xe buýt ở thành phố Hồ Chí Minh.
Bảng khảo sát cũng bao gồm một câu hỏi để thu thập ý kiến và ý tưởng về việc xây dựng nội dung chương trình và hình thức của Atlas Sinh viên đã đóng góp nhiều ý kiến quý giá nhằm làm phong phú thêm nội dung và hình thức của phần mềm, đồng thời đề xuất các chức năng cần nghiên cứu và những tính năng cần có.
- Phần mềm phải có giao diện tiếng Việt
- Phần mềm phải dễ dàng cài đặt
- Cần có nhiều hình ảnh, âm thanh video làm phong phú nội dung cho phần mềm
- Phải có công cụ in ấn
- Nên xây dựng công cụ tra cứu trực tuyến
- Cần liên kết thông tin với các trang web khác…
Tất cả các ý kiến, ý tưởng của các bạn sẽ được nhóm tổng hợp và hoàn thiện cho sản phẩm của nhóm
Kết luận: Như vậy chúng ta thấy việc xây dựng cho thành phố Hồ Chí Minh một
Atlas điện tử là cần thiết.
Nghiên cứu lựa chọn công nghệ
2.2.1 Ngôn ngữ Lập trình ứng dụng
Hiện nay, công nghệ khoa học kỹ thuật, đặc biệt trong lĩnh vực GIS, đã phát triển mạnh mẽ Qua khảo sát, các công nghệ phù hợp với yêu cầu của đề tài cho thấy khả năng cài đặt đơn giản và hiệu quả.
Yêu cầu cấu hình thấp, phù hợp với đại đa số các máy tính hiện nay
Tương thích với cả môi trường mạng và môi trường WINDOW Đề tài quyết định sử dụng các công nghệ sau:
SVG, hay còn gọi là Scalable Vector Graphics, là một ngôn ngữ đánh dấu XML dùng để mô tả hình ảnh đồ họa véc tơ hai chiều, bao gồm cả hình ảnh tĩnh và hoạt hình, thường được sử dụng trên các trang web Đây là một tiêu chuẩn mở do tổ chức World Wide Web Consortium (W3C) quản lý, cùng với nhiều chuẩn khác như HTML và XHTML.
Tập tin có đuôi ".SVG" là định dạng tập tin SVG, cho phép phóng to và thu nhỏ mà không làm giảm chất lượng hình ảnh Chính vì vậy, SVG thường được sử dụng rộng rãi trong các bản đồ và sơ đồ.
SVG là định dạng đồ họa vectơ, mang lại lợi thế hiển thị tốt ở mọi kích cỡ và độ phân giải So với các định dạng nhị phân như GIF hay PNG, một tệp SVG có thể chứa nhiều thông tin hơn với kích thước tương đương Là một chuẩn mở, SVG cho phép tùy biến dễ dàng theo mục đích sử dụng, và các hình ảnh SVG có thể dễ dàng sửa chữa và phát triển sau này, khác với đồ họa mảng thường là sản phẩm cuối cùng và không chứa mã nguồn các lớp ảnh.
Các tập tin SVG ở dạng văn bản, việc chỉnh sửa có thể thực hiện bằng các trình soạn thảo đơn giản nhất
Hình 2.1.Soạn thảo SVG trên Notepad ++
SVG không phải là ngôn ngữ được thiết kế để chỉnh sửa trực tiếp trên mã nguồn, mà để tạo ra hình ảnh SVG, người dùng cần sử dụng các công cụ hỗ trợ.
SVG đang trở thành một lựa chọn tiềm năng cho hình ảnh trên các trang web trong tương lai, mặc dù hiện tại vẫn còn khá mới mẻ và phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ các trình duyệt Hiện tại, Firefox đã hỗ trợ SVG tương đối đầy đủ, trong khi Internet Explorer 8 và một số trình duyệt khác vẫn cần cài đặt plug-in riêng để sử dụng.
Nhóm đã quyết định sử dụng SVG để phát triển thành phần bản đồ trong phần mềm, cho phép tạo ra các đối tượng địa lý như đơn vị hành chính, hệ thống sông ngòi và đường độ cao.
Nhưng khuyết điểm là đối với các đối tượng qua phức tạp thì dung lượng file
*.SVG thường rất lớn, do vậy ta không thể thể hiện chi tiết các thành phần không gian địa lí được
HTML, viết tắt của HyperText Markup Language, là ngôn ngữ đánh dấu được sử dụng để xây dựng các trang web, giúp trình bày thông tin trên World Wide Web một cách hiệu quả.
HTML là một ứng dụng đơn giản của SGML, được sử dụng rộng rãi trong các tổ chức có nhu cầu xuất bản phức tạp.
HTML, do tổ chức World Wide Web Consortium (W3C) duy trì, đã trở thành chuẩn Internet chính thức Phiên bản mới nhất trước đây là HTML 4.01 (1999), sau đó được thay thế bởi XHTML Hiện tại, HTML đang được phát triển với phiên bản HTML5, hứa hẹn mang đến một diện mạo mới cho Web.
Sử dụng HTML động hoặc Ajax, lập trình viên có thể tạo và xử lý nhiều công cụ khác nhau, từ các trình soạn thảo văn bản đơn giản đến các công cụ xuất bản WYSIWYG phức tạp HTML là ngôn ngữ nguồn mở, cho phép bất kỳ ai xem mã nguồn trang HTML của bạn.
Nhóm sử dụng HTML để thiết kế giao diện phần mềm, trình bày trang và nhúng mã JavaScript cũng như SVG, tạo ra môi trường chạy cho các đoạn lệnh lập trình bên trong.
Visual Basic (VB) là ngôn ngữ lập trình hướng sự kiện và môi trường phát triển tích hợp (IDE) được phát triển ban đầu bởi Alan Cooper dưới tên Dự án Ruby, sau đó được Microsoft mua lại và nâng cấp.
Visual Basic đã được thay thế bằng Visual Basic NET
Phiên bản cũ của Visual Basic được phát triển dựa trên ngôn ngữ BASIC, giúp lập trình viên tạo ra giao diện người dùng đồ họa (GUI) thông qua mô hình phát triển ứng dụng nhanh (RAD) Nó hỗ trợ truy cập cơ sở dữ liệu bằng các công nghệ như DAO (Data Access Objects), RDO (Remote Data Objects) và ADO (ActiveX Data Objects), đồng thời cho phép lập trình viên xây dựng các điều khiển và đối tượng ActiveX.
Lập trình viên có thể phát triển ứng dụng bằng cách sử dụng các thành phần có sẵn trong Visual Basic, giúp tiết kiệm thời gian và công sức Ngoài ra, các chương trình được viết bằng Visual Basic cũng có khả năng tận dụng những thành phần này để nâng cao tính năng và hiệu suất.
Windows API, nhưng làm vậy thì phải sử dụng các khai báo hàm bên ngoài