Ở khu vực phía Nam, ngoại trừ trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đưa môn Ngữ âm tiếng Nhật vào giảng dạy chính thức cho sinh viên thì các trường đại học khác hầu như không có m
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
SÁI THỊ MÂY
THỰC TRẠNG PHÁT ÂM TIẾNG NHẬT CỦA SINH VIÊN
VIỆT NAM TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CHÂU Á HỌC
TP.HỒ CHÍ MINH - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
SÁI THỊ MÂY
THỰC TRẠNG PHÁT ÂM TIẾNG NHẬT CỦA SINH VIÊN
VIỆT NAM TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CHÂU Á HỌC
MS: 60.31.50
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN HUỆ
TP.HỒ CHÍ MINH - 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên xin được được gửi lời cảm ơn và biết ơn trân trọng đến PGS.TS Nguyễn Văn Huệ đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo trong suốt thời gian làm luận văn Mặc dù người viết vẫn còn thiếu rất nhiều kiến thức về ngữ âm tiếng Nhật, về phương pháp phân tích ngữ âm học thực nghiệm nhưng dưới sự chỉ dẫn của PGS.TS Nguyễn Văn Huệ người viết
đã có thể hoàn thành luận văn
Tiếp theo, xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô, giáo vụ Khoa Đông Phương đã hỗ trợ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường Nhờ vào sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô và giáo vụ Khoa Đông Phương người viết mới có thể hoàn thành các môn học và luận văn
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn đến các học viên Châu Á học khóa 2010, gia đình, bạn
bè đã luôn ủng hộ và giúp đỡ người viết trong suốt quá trình học tập và viết luận văn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Lịch sử nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 10
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 11
6.1 Phương pháp nghiên cứu 11
6.2 Nguồn tư liệu 12
7 Bố cục luận văn 12
Chương một: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 14
1.1 Cơ sở lý luận 14
1.1.1 Vai trò của phát âm trong việc học ngoại ngữ 14
1.1.2 Lý luận phương pháp giảng dạy ngữ âm 17
1.1.2.1 Vai trò của giáo viên trong việc giảng dạy ngữ âm 17
1.1.2.2 Một số vấn đề về phương pháp giảng dạy ngữ âm 20
1.2 Cơ sở thực tiễn 26
1.2.1 Tình hình đào tạo tiếng Nhật ở Việt Nam 26
1.2.2 Tình hình giảng dạy tiếng Nhật và phát âm tiếng Nhật tại các trường Đại học Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 30
1.3 Tiểu kết 32
Chương hai: KHẢO SÁT PHÁT ÂM TIẾNG NHẬT CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM 33
2.1 Hệ thống ngữ âm trong tiếng Việt và tiếng Nhật 33
2.1.1 Hệ thống ngữ âm trong tiếng Việt 33
Trang 52.1.2 Hệ thống ngữ âm trong tiếng Nhật 35
2.1.3 So sánh hệ thống ngữ âm tiếng Việt và tiếng Nhật 36
2.2 Các lỗi phát âm tiếng Nhật thường gặp của sinh viên Việt Nam 37
2.2.1 Các lỗi phát âm sai về mặt đơn vị ngữ âm 37
2.2.1.1 Các lỗi phát âm trong nghiên cứu của SugimotoTaeko 37
2.2.1.2 Lỗi phát âm của sinh viên thông qua khảo sát thực tế 40
2.2.2 Các lỗi phát âm liên quan đến ngôn điệu 47
2.2.2.1 Trọng âm 47
2.2.2.2 Ngữ điệu 52
2.3 Ý thức về việc phát âm tiếng Nhật của sinh viên 55
2.4 Tiểu kết 60
Chương ba: ĐÁNH GIÁ PHÁT ÂM TIẾNG NHẬT CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM 62
3.1 Đánh giá của người Nhật làm việc tại Việt Nam 62
3.1.1 Đánh giá tổng quan về phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam 64
3.1.2 Ảnh hưởng của phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam đến giao tiếp hằng ngày 67
3.2 Đánh giá của giáo viên tiếng Nhật 71
3.2.1 Đánh giá tổng quan phát âm của sinh viên Việt Nam 72
3.2.2 Ý kiến về việc giảng dạy phát âm tiếng Nhật cho sinh viên 75
3.3 Đánh giá của bản thân sinh viên 76
3.4 Đề xuất về việc giảng dạy phát âm cho sinh viên 77
3.5 Tiểu kết 79
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 89
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Theo thống kê của Quỹ giao lưu quốc tế Nhật Bản (Japan Foundation) năm
2012 số người học tiếng Nhật ở Việt Nam đã đạt tới con số 46.762 người và đứng vị trí thứ 8 trong số các nước có đông người học tiếng Nhật Ngoài ra, tính đến tháng 10 năm 2012 có khoảng 940 công ty Nhật đầu tư vào Việt Nam (Nguồn: Hiệp hội xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO)) Bên cạnh đó, hiện nay rất nhiều doanh nghiệp Nhật đang tìm kiếm cơ hội đầu tư vào Việt Nam Thế nên dự đoán trong thời gian sắp tới, con số này sẽ còn tăng đáng kể
Để đáp ứng nhu cầu cung cấp nguồn nhân lực có khả năng sử dụng tiếng Nhật, chỉ riêng Thành phố Hồ Chí Minh đã có khoảng gần 10 trường đại học có Khoa, Bộ môn tiếng Nhật Bên cạnh đó, các hệ thống các trường chuyên giảng dạy tiếng Nhật, các trung tâm tiếng Nhật cũng ngày càng gia tăng Đáp ứng nhu cầu đào tạo của xã hội là việc rất cần thiết Thế nhưng, chất lượng đào tạo vẫn cần phải đặt lên hàng đầu Rõ ràng thị trường Việt Nam hiện nay rất cần nguồn nhân lực biết tiếng Nhật Đặc biệt là nguồn nhân lực thực sự giỏi tiếng Nhật Các doanh nghiệp Nhật chỉ mới bắt đầu đầu tư vào Việt Nam trong vài năm trở lại đây và hiện nay đang gặp phải rào cản ngôn ngữ rất lớn Vì thế các doanh nghiệp Nhật luôn mong mỏi tuyển dụng được những cá nhân sử dụng thành thạo tiếng Nhật và am hiểu văn hóa Nhật Thế nhưng đây vẫn còn là một bài toán khó Ước tính trung bình, chỉ riêng các trường đại học có đào tạo tiếng Nhật hiện nay thì hàng năm có khoảng trên dưới 1000 sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành tiếng Nhật Số sinh viên tốt nghiệp ra trường làm việc tại nhiều ngành nghề khác nhau Trong số đó, có không ít người làm trong lĩnh vực giảng dạy, biên phiên dịch Những công việc này đòi hỏi phải có sự giao tiếp với người Nhật Tuy nhiên, đa
Trang 7số người Nhật hiện nay lên tiếng rằng những người biết và có thể sử dụng tiếng Nhật để giao tiếp phát âm khá khó nghe Trường hợp, phải giao tiếp bằng tiếng Nhật trong thời gian dài sẽ khiến người Nhật cảm thấy mệt mỏi vì cứ phải chăm chú lắng nghe
Theo nghiên cứu của Matsuda Makiko (2012) thì trong số người học tiếng Nhật của Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc, Việt Nam thì phát âm của người Việt Nam xếp hạng thấp nhất Điểm qua tình hình giảng dạy chỉ riêng ở các trường đại học hiện nay thì rõ ràng thấy rằng các trường hầu như không chú trọng đến việc giảng dạy phát âm cho sinh viên Ở khu vực phía Nam, ngoại trừ trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đưa môn Ngữ âm tiếng Nhật vào giảng dạy chính thức cho sinh viên thì các trường đại học khác hầu như không có môn ngữ âm Điều này gây ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo sinh viên ngành tiếng Nhật Vì phát âm cũng là một tiêu chí quan trọng để đánh giá trình độ tiếng Nhật của mỗi sinh viên khi ra trường
Trong khi các trường đại học ở Hà Nội đã đưa môn Ngữ âm học tiếng Nhật vào giảng dạy từ rất lâu thì khái niệm giảng dạy ngữ âm tiếng Nhật có vẻ vẫn còn khá xa lạ tại các trường đại học phía Nam điển hình là Thành phố Hồ Chí Minh Lực lượng giảng viên tiếng Nhật hiện nay là những người có trình độ chuyên môn tiếng Nhật rất cao Tuy nhiên, hầu như không có ai nghiên cứu chuyên ngành ngữ âm học Không chỉ riêng gì tiếng Nhật phát âm chuẩn bất kì ngoại ngữ nào cũng khiến người nghe cảm thấy an tâm và giảm thiểu áp lực cho người nghe Vì vậy, việc giảng dạy ngữ âm tiếng Nhật là hết sức quan trọng và
sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên ngành Nhật tại Việt Nam Nắm bắt được tình hình phát âm tiếng Nhật của sinh viên hiện nay cũng như tìm hiểu những suy nghĩ, nhu cầu về học phát âm tiếng Nhật của sinh viên là rất quan trọng để tìm ra hướng đào tạo phát âm cho sinh viên trong tương lai Vì lý
Trang 8do như trên mà người viết quyết định thực hiện đề tài: Thực trạng phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam trong các trường đại học
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu gồm 5 mục đích chính
Thứ nhất là nhìn nhận lại tầm quan trọng của việc dạy và học phát âm trong
quá trình học ngoại ngữ Hiện nay, môn ngữ âm học hầu hết đã được triển khai trong ngành đào tạo tiếng Anh Tuy nhiên, ngành đào tạo tiếng Nhật chỉ mới bắt đầu nên trong thời gian tới việc đưa môn ngữ âm tiếng Nhật vào giảng dạy là rất cần thiết
Thứ hai là tìm hiểu thực trạng giảng dạy tiếng Nhật và phát âm tiếng Nhật
của sinh viên Việt Nam trong một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh Số lượng sinh viên theo học và mong muốn theo học tiếng Nhật ngày càng đông Cùng lúc đó, các khoa bộ môn tiếng Nhật phải không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng đào tạo tiếng Nhật để đáp ứng được nhu cầu đào tạo của thị trường Chính vì điều đó, tìm hiểu thực trạng giảng dạy liên quan đến tiếng Nhật
sẽ góp phần nhận rõ những vấn đề cần giải quyết tiếp theo trong quá trình giảng dạy tiếng Nhật
Thứ ba là tìm hiểu đánh giá phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam hiện
nay Trong nhiều nghiên cứu gần đây, phát âm của sinh viên Việt Nam bị đánh giá thấp hơn các nước trong khu vực Có một số lỗi phát âm sai đặc trưng mà sinh viên Việt Nam thường mắc phải Người viết sẽ tìm hiểu đánh giá phát âm tiếng Nhật thực tế của sinh viên thông qua bảng hỏi điều tra của người Nhật, giáo viên dạy tiếng Nhật và chính sinh viên đang học tiếng Nhật, sinh viên đã tốt nghiệp ngành Nhật Từ đó, hiểu rõ hơn về các vấn đề phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam
Trang 9Thứ tư là tìm hiểu một số vấn đề phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam
hiện nay Những lỗi phát âm tiếng Nhật nào thường gặp phải ở phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam và một số nguyên nhân gây ảnh hưởng tới phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam
Thứ năm là sau khi tìm hiểu các lỗi phát âm sai của sinh viên Việt Nam
người viết sẽ đề xuất một số phương pháp khắc phục và đề xuất một số ý kiến
về việc giảng dạy ngữ âm cho sinh viên Việt Nam
3 Lịch sử nghiên cứu
Môn ngữ âm là một môn học cần thiết với những sinh viên chuyên ngành ngoại ngữ Tuy nhiên, giảng viên tiếng Nhật hiện nay hầu hết tốt nghiệp chuyên ngành tiếng Nhật ở Việt Nam và rất ít người có bằng Thạc sĩ, Tiến sĩ chuyên ngành nghiên cứu tiếng Nhật Vì thế mà hiện nay có rất ít giảng viên nào thực
sự tập trung nghiên cứu riêng về tiếng Nhật Đặc biệt là môn ngữ âm tiếng Nhật Trong quá trình nghiên cứu tìm tư liệu để thực hiện đề tài, ngoài đề tài nghiên cứu của Phạm Thu Hương, hầu như không tìm thấy các đề tài liên quan đến phát
âm và phương pháp giảng dạy phát âm trong tiếng Nhật do người Việt nghiên cứu
Phạm Thu Hương (2006): Vấn đề nghe phân biệt hàng za, ja, ya trong
tiếng Nhật của người có tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt, Tập san hội nghiên cứu văn hóa ngôn ngữ Nhật, Kì số 2, Học viện nghiên cứu Seisaku, trang 83 -108
là một trong những nghiên cứu hiếm hoi của người Việt có liên quan đến ngữ âm tiếng Nhật
(Trang 83 – 108, Viện nghiên cứu Seisaku, Tập san Hội nghiên cứu Văn hóa Ngôn ngữ tiếng Nhật, Số 2)
Trang 10(ファン トゥー フォン(2006)「ベトナム語母語話者による日本のザ行音.ジャ 行音.ヤ行音の聞き分け」『日本言語文化研究会論集』
第 2 号、政策研究大学院、pp.83-108)
Nội dung của đề tài nghiên cứu này là tìm hiểu vấn đề phát âm nhầm lẫn giữa 3 từ hàng za (ザ), ja (ジャ), ya (ヤ) của sinh viên miền Bắc và miền Nam Nghiên cứu được thực hiện thông qua điều tra thu âm, phỏng vấn 208 sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội và 57 sinh viên trường Đại học Ngoại thương Thành phố Hồ Chí Minh
Kết quả điều tra được tổng hợp theo từng mục riêng biệt: Phụ âm, Vị trí của phụ
âm, Nguyên âm phía sau, Trọng âm Nghiên cứu cho thấy rằng cả sinh viên miền Bắc và sinh viên miền Nam đều xảy ra hiện tượng phát âm nhầm lẫn giữa
3 từ trên Trong đó, nhầm lẫn giữa za (ザ) và ja (ジャ) thường gặp nhất Đặc biệt, khi từ za (ザ) đứng ở đầu từ Khi nguyên âm phía sau là /u/ thì sẽ dễ nghe hơn Ngoài ra, trọng âm không ảnh hưởng đến khả năng nghe của sinh viên Ngoài ra, ở Nhật còn có một số luận văn, đề tài nghiên cứu ở Nhật có liên quan đến phát âm của người Việt như sau:
Kanamura Kumiko (1999): Đặc trưng về mặt thanh điệu phát âm tiếng
Nhật của người nói tiếng Việt, Tạp chí Khoa học ngôn ngữ, Số 12, Hội nghiên cứu Văn hóa ngôn ngữ Đại học Nagoya, Trang 77 -92
(金村久美子(1999)「ベトナム語話者による日本語の発音の音調上
の特 徴」『ことばの科学』12 号、名古屋大学言語文化研究会、pp.73-92)
Thông qua điều tra thu âm các từ có âm tiết, trọng âm khác nhau của 44 sinh viên năm tư (Nam: 11, Nữ: 33) trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, Kanamura Kumiko đã khái quát lại một số đặc trưng phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam Kết quả thu âm được phân tích theo mối liên hệ với trọng âm, mối liên hệ
Trang 11với ngôn điệu và sự liên tiếp của các từ, mối liên hệ với số âm tiết, mối liên hệ với cấu trúc âm tiết trong tiếng Việt Nghiên cứu cho thấy phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam không liên quan đến trọng âm mà liên quan đến sự liên tiếp của các từ Người Việt Nam có khuynh hướng áp đạt cấu tạo âm tiết trong tiếng Việt vào trong các từ tiếng Nhật Vì thế khi phát âm thường xảy ra 3 vấn
đề chính
- Tùy vị trị âm tiết, kéo dài nguyên âm trong tiếng Nhật để đạt cấu tạo gần giống như âm tiết trong tiếng Việt
- Hai âm tiết mở sẽ được phát âm thành một âm tiết đóng
- Khi thời gian đóng của phụ âm vô thanh kéo dài, xảy ra trường hợp thêm phụ âm của âm tiết phía trước
Nghiên cứu, cũng chỉ ra rằng cấu tạo âm tiết trong tiếng Việt cũng ảnh hưởng rất nhiều đến phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam
Loạt nghiên cứu về lỗi phát âm của sinh viên Việt Nam do Sugimoto Taeko, Đại học Ibaraki, Nhật Bản thực hiện
Sugimoto Taeko (2003): Trọng tâm vấn đề phát âm sai - Vấn đề phát âm sai
của người học tiếng Nhật có tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt I, Tuyển tập ngành giao tiếp, Kỉ yếu khoa Nhân văn, Đại học Ibaraki, Kì số 14, Trang 19 -45 (杉本妙子(2003)「ベトナム語圏日本語学習者の発音に関わる誤用について I-誤用の実態を中心に-」、『茨城大学人文学部紀要コミュニケーション学科論集』、14 号、pp.19-45)
Sugimoto Taeko (2005): Vấn đề phát âm sai của người học tiếng Nhật có
tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt II, Quan sát và so sánh các lỗi sai kéo dài và thu ngắn từ trong việc khảo sát phát âm và khả năng nghe, Tuyển tập ngành giao tiếp, Kỉ yếu khoa Nhân văn, Đại học Ibaraki, Kì số 17, Trang 73 -93
Trang 12(杉本妙子(2005)「ベトナム語圏日本語学習者の発音に関わる誤用について II-音声聞き取り調査と発音調査における長音化.短音化の誤用の比較と考察-」、『茨城大学人文学部紀要コミュニケーション学科論集』、17 号、pp.73-93)
Sugimoto Taeko (2007): Vấn đề phát âm sai của người học tiếng Nhật có
tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt III, Quan sát và so sánh các lỗi sai về phụ âm mũi
âm tiết tính (撥音) và phụ âm kép (っ), Tuyển tập ngành giao tiếp, Kỉ yếu khoa Nhân văn, Đại học Ibaraki, Kì số 2, Trang 149 -164
(杉本妙子(2007)「ベトナム語圏日本語学習者の発音に関わる誤用について III-促音と撥音における誤用の比較と考察-」、茨城大学人文学部紀要『コミュニケーション学科論集』、2 号、pp.149-164)
Cả 3 nghiên cứu trên được thực hiện ở với các sinh viên ngành Nhật Bản, khoa Đông Phương học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội Thông qua việc cho sinh viên đọc các từ vựng trong tiếng Nhật, Sugimoto Taeko đã tổng hợp lại các lỗi phát âm của sinh viên Việt Nam theo các mục: Nguyên âm, Vị trí âm tiết (đầu từ, giữa từ, cuối từ) Đồng thời, phân tích ảnh hưởng trong cấu tạo âm tiết tiếng Việt đối với các lỗi phát âm sai của sinh viên Việt Nam
Shigekawa Akemi, Nakamura Tomoko (2005): Một ví dụ về việc giảng
dạy phát âm cho người Việt Nam, Tạp chí hội nghiên cứu phương pháp đào tạo tiếng Nhật, Tập 12, Số 2, Trang 22 - 23
重川明美.中村倫子「ベトナム人学習者の発音指導の一例」『日本語教育方法研究会誌 』vol.12, No.2,pp.22~23
Nhận thấy sinh viên Việt Nam có rất nhiều lỗi phát âm tiếng Nhật Shigekawa Akemi và Nakamura Tomoko đã tổ chức một lớp học phát âm ngắn khoảng 6 tuần cho sinh viên Việt Nam Mỗi tuần các sinh viên này sẽ được
Trang 13hướng dẫn các kiến thức về phát âm tiếng Nhật như trọng âm, ngữ điệu… và thực hiện luyện tập với giáo viên bản ngữ 2 tháng sau khi khóa học kết thúc, thông qua bảng hỏi điều tra các sinh viên đã thể hiện sự thay đổi nhận thức về việc học phát âm sau khi đã được hướng dẫn cách phát âm tiếng Nhật
Matsuda Makiko (2012): Nghiên cứu tổng hợp liên quan đến đào tạo tiếng
Nhật dành cho người có tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt, Luận văn Tiến sĩ Khoa nghiên cứu xã hội Đại học Hitotsubashi
松田真希子(2012)「ベトナム語母語話者のための日本語教育に関する総合的研究」一橋大学大学院言語社会研究科博士後期論文未公
開
Luận văn Tiến sĩ của Matsuda Makiko là một bản đánh giá tổng quan về trình độ tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam qua các kĩ năng ngữ pháp, từ vựng, phát âm Toàn bộ chương 5 của luận văn đề cập đến vấn đề phát âm của sinh viên Việt Nam và phân tích các nguyên nhân gây ra các lỗi phát âm do ảnh hưởng của tiếng Việt
Nakamura Noriko (2013): Điều tra nghiên cứu tại Việt Nam – Vấn đề
giảng dạy phát âm của giáo viên bản ngữ và giáo viên phi bản ngữ, Tập san Trung tâm đào tạo tiếng Nhật du học sinh trường Đại học Ngoại ngữ Tokyo, trang 113 – 124
中村則子(2013) 「非母語話者教師と母語話者教師の発音指導-ベトナムにおけるアンケート調査の結果から-」『東京外国語大学留学生日本語教育センター論集』39:pp.113 ~124)
Nhằm tìm hiểu suy nghĩ của giáo viên Việt Nam về việc giảng dạy phát âm, những khó khăn khi giảng dạy phát âm, các vấn đề phát âm của sinh viên Việt Nam, Nakamura Noriko đã thực hiện nghiên cứu điều tra với 13 giáo viên người Việt Nam và 17 giáo viên người Nhật đang giảng dạy ở Hà Nội Kết quả: 100%
Trang 14giáo viên Việt Nam cho rằng phát âm tiếng Nhật là rất quan trọng, trong khi đó chỉ có 41% giáo viên người Nhật có cùng câu trả lời Bên cạnh đó, 62% giáo viên Việt Nam cho rằng, phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam hiện nay gặp phải rất nhiều vấn đề Tuy nhiên, chỉ 29% giáo viên người Nhật có cùng câu trả lời Điều này cho thấy, giáo viên phi bản ngữ có ý thức về tầm quan trọng của phát âm cao hơn người bản ngữ Một điều quan trọng được đề cập đến trong nghiên cứu này là do thiếu kiến thức về ngữ âm tiếng Nhật, nên cả giáo viên người Nhật và người Việt đều không có đủ tự tin để giảng dạy cho sinh viên Đây cũng là thực trạng chung trong đào tạo tiếng Nhật tại Việt Nam
Nakamura Noriko Nakagawa Chieko(2007): Báo cáo thực tế lớp phát âm
dành cho đối tượng là người Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu phương pháp đào tạo tiếng Nhật, Tập 14, Số 1
中村則子.中川千恵子(2007)「ベトナム人学習者を対象とした発音クラス実践報告」『日本語教育方法研究会誌』 vol.14, No.1
Phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam không tốt nên khi phát biểu người Nhật và sinh viên các nước khác không nghe được dẫn đến không hiểu người nói muốn nói gì Điều này gây cản trở khá nhiều trong giao tiếp Vì thế từ tháng 12 năm 2006 đến tháng 2 năm 2007, Nakamura Noriko và Nakagawa Chieko đã thực hiện hướng dẫn phát âm tiếng Nhật cho sinh viên Việt Nam trình độ tiếng Nhật cao cấp Kết quả cho thấy so với trước khi được học phát âm tiếng Nhật, các lỗi phát âm đã giảm đáng kể và các sinh viên cũng đã chú ý hơn khi phát âm tiếng Nhật
Các đề tài nghiên cứu trên có đề cập đến tình hình phát âm của sinh viên Việt Nam Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ đề cập đến vấn đề phát âm mang tính quy phạm thông qua bảng hỏi điều tra đối với sinh viên hoặc giáo viên Chứ không đề cập đến những vấn đề khó khăn gặp phải khi giao tiếp với người bản
Trang 15xứ do phát âm không tốt Việc đánh giá phát âm của sinh viên cũng chỉ được thực hiện trong phạm vi một trường đại học nhất định nào đó chủ yếu ở Hà Nội chứ không trong phạm vi Thành phố Hồ Chí Minh Vì thế, vẫn chưa đánh giá khách quan được về phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam hiện nay Do đó, người viết quyết định thực hiện bảng hỏi đối với cả đối tượng là người Nhật – những người hàng ngày giao tiếp với những sinh viên đã tốt nghiệp, sinh viên đang học ngành Nhật
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là phát âm tiếng Nhật của sinh viên tại trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh Do số lượng sinh viên theo học chuyên ngành tiếng Nhật tại các trường đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh rất đông trong phạm vi nghiên cứu của một bài luận văn thạc sĩ, người viết chủ yếu tập trung vào điều tra phân tích mẫu trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Việc nghiên cứu đề tài này vừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn
Về ý nghĩa khoa học, bổ sung thêm vào danh mục nghiên cứu một đề tài liên
quan đến mảng ngữ âm tiếng Nhật mà hiện nay vẫn còn ít người quan tâm nghiên cứu
Về ý nghĩa thực tiễn, đề tài cung cấp cho người đọc một cái nhìn toàn cảnh
về tình hình phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam hiện nay thông qua các đánh giá khách quan của người Nhật đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam, giáo viên người Nhật và người Việt đang giảng dạy tại Thành phố Hồ Chí Minh, các sinh viên đang học ngành Nhật Đồng thời, cùng với việc phân tích một số lỗi phát âm sai mà sinh viên Việt Nam thường mắc phải sẽ giúp những sinh viên đang học tiếng Nhật có thể tham khảo nhận ra được một số lỗi sai của mình và dần dần khắc phục những lỗi sai đó để việc phát âm tiếng Nhật được hoàn thiện
Trang 16hơn Bên cạnh đó, đề tài cũng đề xuất một số ý kiến xoay quanh việc giảng dạy ngữ âm tiếng Nhật thông qua kinh nghiệm của bản thân Những cá nhân có quan tâm và muốn luyện tập phát âm tiếng Nhật có thể tham khảo để áp dụng cho bản thân mình
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
6.1 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành Bên cạnh đó còn sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu và phương pháp thống kê mô tả Tiến hành điều tra trên 3 đối tượng chính: người Nhật làm việc tại Việt Nam, Giáo viên dạy tiếng Nhật, và sinh viên bằng cách tạo bảng hỏi Điều tra tra bảng hỏi được tiến hành trong thời gian từ tháng 9 năm 2012 đến tháng 2 năm 2013 Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp phân tích và tổng hợp dữ liệu
Sử dụng phần mềm SPSS để tổng hợp và phân tích kết quả qua các dữ liệu thu được thông qua bảng hỏi điều tra Đồng thời thể hiện kết quả phân tích bằng biểu đồ và con số cụ thể Sau đó đưa ra các nhận xét khách quan các về các vấn
đề có liên quan đến việc đánh giá phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam
Phương pháp phân tích ngữ âm học thực nghiệm
Phân tích ngữ âm thực nghiệm sẽ chỉ ra một cách tương đối chính xác những khác biệt về phát âm tiếng Nhật giữa người bản ngữ Nhật và sinh viên người Việt
Trang 176.2 Nguồn tư liệu
Đề tài nghiên cứu về ngữ âm tiếng Nhật còn rất mới mẻ ở Việt Nam và hầu như không có tài liệu chuyên môn nào liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu này Theo đó người viết chỉ có thể tiếp cận qua tư liệu chủ yếu bằng tiếng Nhật Do khả năng tiếng Nhật của người viết vẫn còn hạn chế nên sẽ mất khá nhiều thời gian để nghiên cứu các tài liệu này Đồng thời, hiện nay ở Việt Nam không có nhà nghiên cứu về ngữ âm tiếng Nhật nên người viết sẽ gặp khó khăn rất lớn về mặt chuyên môn tiếng Nhật Tuy nhiên, những kiến thức nền tảng chung về ngữ
âm người viết sẽ tìm hiểu thông qua giáo viên hướng dẫn và các tư liệu ngữ âm bằng tiếng Việt Bên cạnh đó, về mặt chuyên môn tiếng Nhật người viết đã nhờ
sự giúp đỡ của các giảng viên người Nhật đang giảng dạy tiếng Nhật ở Việt Nam cũng như ở Nhật Bản Dù tài liệu khan hiếm, gặp khó khăn trong sự trợ giúp chuyên môn nhưng người viết đã cố gắng hết sức mình để tiếp cận rộng rãi đến tất cả các tài liệu chuyên môn để thực hiện tốt để tài nghiên cứu
7 Bố cục luận văn
Luận văn gồm có 3 chương với bố cục như sau
Chương một: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Hệ thống ngữ âm trong tiếng Việt và tiếng Nhật
2.2 Các lỗi phát âm tiếng Nhật thường gặp của sinh viên Việt Nam
2.3 Ý thức về việc phát âm tiếng Nhật của sinh viên
2.4 Tiểu kết
Trang 18Chương ba: ĐÁNH GIÁ PHÁT ÂM TIẾNG NHẬT CỦA SINH VIÊN
VIỆT NAM
3.1 Đánh giá của người Nhật làm việc tại Việt Nam
3.2 Đánh giá của giáo viên tiếng Nhật
3.3 Đánh giá của bản thân sinh viên
3.4 Đề xuất về việc giảng dạy phát âm cho sinh viên
3.5 Tiểu kết
Ngoài ra còn có phần mở đầu và kết luận
Trang 19Chương một
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.4 Cơ sở lý luận
1.4.1 Vai trò của việc phát âm trong việc học ngoại ngữ
Các nghiên cứu gần đây đã chỉ rõ rằng khi học bất cứ một ngoại ngữ nào, người học cũng mong muốn đạt đến được trình độ phát âm giống như người bản ngữ Tuy nhiên, để đạt được trình độ phát âm gần với người bản ngữ không hề
dễ dàng Đó là cả một quá trình luyện tập, phấn đấu từ lúc bắt đầu học và chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố Thông thường, nếu không có cơ hội học tập và sinh sống tại nước bản địa trong một thời gian nhất định thì khả năng phát âm một ngoại ngữ nào đó khó có thể đạt gần đến như người bản ngữ Hoặc dù sinh sống ở nước bản địa, nhưng khi người sử dụng ngoại ngữ hoàn toàn không ý thức về phát âm của mình cũng như không ý thức việc phải luyện tập phát âm thì dù sống ở nước bản địa rất lâu thì phát âm của họ chưa chắc đã giỏi lên được
Có rất nhiều người kể cả giáo viên, học viên cho rằng khi học ngoại ngữ chỉ cần người nghe hiểu được nội dung mình đang nói thì việc giao tiếp sẽ được coi
là thành công Bởi vì việc sử dụng thành thạo một ngoại ngữ nào đó vốn dĩ đã là chuyện rất khó nên việc đòi hỏi thêm khả năng phát âm sẽ làm giảm động lực của người học ngoại ngữ Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc hiểu thôi đôi khi sẽ mang lại những tổn thất, bất lợi cho người sử dụng ngoại ngữ Vì phát âm có vai trò rất quan trọng trong giao tiếp một ngoại ngữ nào đó Phát âm chuẩn một ngoại ngữ nào đó sẽ tạo cảm giác tin tưởng, an tâm, gần gũi cho người nghe Ngược lại phát âm không chuẩn một ngoại ngữ có thể làm cho đối phương cảm thấy bất an lo lắng
Trang 20Trong giao tiếp hằng ngày, có thể phát âm không ảnh hưởng nhiều đến việc giao tiếp Tuy nhiên, trong các công việc có sự giao tiếp với người bản ngữ và đòi hòi phải sử dụng ngoại ngữ thường xuyên, phát âm có ảnh hưởng rất lớn Việc phải lắng nghe một người nước ngoài nói tiếng bản địa không chuẩn trong một thời gian dài sẽ khiến người nghe cảm thấy áp lực, mệt mỏi Đặc biệt khi nội dung công việc có tính chất chuyên môn cao Trong những trường hợp này, phát âm không tốt sẽ làm giảm hiệu suất truyền đạt, gây ra một số hiểu lầm dẫn đến công việc không được tiến hành một cách thuận lợi
Ngoài ra, Kawano Toshiyuki (2009) cho rằng việc phát âm không tốt sẽ dẫn đến các tình huống dưới đây
Phát âm không tốt khiến người nghe không hiểu dẫn đến việc giao tiếp không thành công
Đây là cản trở lớn nhất trong giao tiếp do phát âm gây ra Mục đích của giao tiếp là để truyền đạt điều muốn nói cho người nghe hiểu Khi người nghe không hiểu người nói muốn nói gì thì giao tiếp hoàn toàn thất bại
Phát âm không tốt khiến người nghe hiểu lầm dẫn đến việc giao tiếp không thành công
Khi người nghe nghe một lần không hiểu thì sẽ phải hỏi lại vài lần Nếu sau khi hỏi vài lần mà vẫn không hiểu được thì bản thân người nghe hoặc người nói
sẽ từ bỏ ý định hỏi nữa Và như thế thì giao tiếp cũng sẽ không thành công Người nói vì bị hỏi nhiều lần mà vẫn không truyền đạt được ý muốn nói nên sẽ cảm thấy bất an và không muốn sử dụng ngoại ngữ đó nữa Thậm chí có thể tránh tiếp xúc với người người bản xứ Khi người sử dụng ngoại ngữ cảm thấy
tự ti về trình độ ngoại ngữ của mình mà không tìm ra phương pháp cải thiện họ
sẽ phản ứng một cách tiêu cực hơn Và việc sử dụng ngoại ngữ sẽ là một gánh
Trang 21nặng rất lớn đối với bản thân họ Đây cũng là nguyên nhân rất lớn cản trở giao tiếp với người bản ngữ
Phát âm không tốt khiến người nghe cảm thấy mệt mỏi, không tập trung nghe hoặc không nắm bắt được hết sắc thái biểu đạt, ý đồ muốn nói dẫn đến việc hiểu lầm hoặc gây cảm giác khó chịu Điều này cũng biểu hiện sự không thành công trong giao tiếp
Trường hợp này người nghe tạm hiểu được ý của người nói tuy nhiên người nói dung các cấu trúc ngữ pháp không phù hợp khiến người nghe có cảm giác bị
ra lệnh hoặc không thoải mái lắm Lâu dần sẽ tạo sự căng thẳng cho cả người nói và người nghe
Phát âm không tốt sẽ thể hiện đặc trưng của người nước ngoài dẫn đến việc giao tiếp không thành công
Mặc dù các lỗi phát âm sai nhưng người bản xứ có thể sẽ nghe và hiểu ngay được ý muốn nói Tuy nhiên, các lỗi phát âm này tạo cho người nghe cảm giác đối phương giống như một đứa trẻ chỉ mới bập bẹ tập nói
Như vậy, trong bất cứ trường hợp giao tiếp nào, việc phát âm không tốt sẽ là rào cản ngăn cách người nghe và người nói Có những trường hợp, phát âm chuẩn sẽ tạo thêm sự tự tin trong giao tiếp và sẽ làm tăng đánh giá tích cực trong công việc Mặt khác, khả năng phát âm còn gây ảnh hưởng đến khả năng nghe hiểu Thế nên cần phải giảng dạy phát âm để nâng cao khả năng nghe của học viên
Như đã trình bày ở trên, đa phần người học ngoại ngữ đều đặt cho mình mục tiêu phát âm chuẩn như người bản ngữ Tuy nhiên đây là một việc rất khó nên hầu như mọi người đều từ bỏ ý định ngay từ đầu để tập trung vào học các môn học khác Vì thế, cần phải tạo động lực học phát âm cho người học ngoại ngữ hơn nữa
Trang 221.4.2 Lý luận phương pháp giảng dạy ngữ âm
1.1.2.1 Vai trò của giáo viên trong việc giảng dạy ngữ âm
Theo Kashima Tanomu, nhà nghiên cứu ngữ âm học trường Đại học Nagoya,
“Giảng dạy ngữ âm là hoạt động hướng dẫn cơ sở ngữ âm tạo nên hình thức ngôn ngữ, rồi cho sinh viên luyện tập.” (2002:148)
Trên thực tế, ngữ âm là một môn học rất khó và đậm tính chất lý thuyết Do
đó, các kiến thức về ngữ âm nên do các giáo viên chuyên về ngữ âm giảng dạy
Vì là một môn học khó nên rất ít sinh viên có hứng thú với môn học này Vì thế,
để sinh viên hứng thú với việc học phát âm và ý thức được tầm quan trọng của phát âm thì vai trò của giáo viên rất quan trọng Giáo viên là người truyền đạt các kiến thức và cũng người tạo động lực học và luyện tập phát âm cho sinh viên
Hiện nay có rất nhiều ý kiến xoay quanh việc giảng dạy phát âm cho người nước ngoài Phát âm chuẩn một ngoại ngữ là điều rất quan trọng và cần thiết Thế nhưng cần phải sửa phát âm đến phạm vi nào? Phát âm đến như thế nào được gọi là phát âm tốt, phát âm chuẩn? Những câu hỏi trên vẫn chưa có câu trả lời thích hợp
Trong xu hướng đào tạo ngoại ngữ hiện nay, mục tiêu nâng cao khả năng giao tiếp được đặt nên hàng đầu Thế nên có ý kiến cho rằng chỉ cần nói sao cho người nghe hiểu là được Thời gian luyện tập phát âm để dành để học tập thêm những môn như ngữ pháp, nâng cao từ vựng Chỉ những trường hợp, phát âm quá tệ khiến cho việc giao tiếp gặp trở ngại thì mới cần phải luyện tập phát âm Ngoài những trường hợp này thì không cần thiết phải luyện tập Tuy nhiên, việc học tập, chỉnh sửa phát âm cần phải được đặt ngang hàng với các môn học khác như ngữ pháp, nghe Giống như việc giáo viên thường yêu cầu sinh viên sử dụng đúng ngữ pháp, từ vựng để có thể truyền đạt chính xác ý nghĩa của câu, tạo
Trang 23ấn tượng tốt với người nghe Phát âm chính xác cũng giúp truyền đạt được đúng
ý nghĩa và làm cho người nghe cảm thấy thoải mái, tăng thêm sự tin tưởng trong giao tiếp Vì vậy, không nên cho rằng chỉ những trường hợp phát âm quá tệ mới cần thiết phải luyện tập phát âm còn những trường hợp khác thì không cần thiết Các giáo viên cần nhận thức rằng ngữ âm là môn học bắt buộc và đưa ra những yêu cầu khắt khe giống như các môn ngữ pháp, nghe trong quá trình giảng dạy Giống như các kĩ năng học ngoại ngữ khác, kĩ năng phát âm nếu được rèn luyện ngay từ đầu sẽ tạo cho người học có một nền tảng vững chắc để phát triển lên các cấp học cao hơn Nếu ngay từ đầu để người học quen dần với những lỗi phát âm của chính mình thì sẽ rất khó sửa về sau Tùy theo mục đích học ngoại ngữ của học viên mà giáo viên có thể điều chỉnh nội dung giảng dạy ngữ âm thích hợp
Mục đích học ngoại ngữ rất đa dạng Trong đó có mục đích mang tính tinh thần và mục đích mang tính thực tế Chẳng hạn như có người học ngoại ngữ chỉ nhằm mục đích biết thêm một ngôn ngữ, một nền văn hóa của đất nước nào đó Với những người này, không yêu cầu phải nói chuẩn, phát âm chuẩn Ngược lại, những người học ngoại ngữ để du học, phục vụ cho công việc cần đòi hỏi về trình độ phát âm khắt khe hơn Tùy theo mục đích học ngoại ngữ mà yêu cầu về
sự chính xác trong phát âm khác nhau Bên cạnh đó tùy theo tình huống mà đòi hỏi chính xác phát âm sẽ khác nhau Chẳng hạn trong những giao tiếp hàng ngày như đi mua sắm thì không cần phát âm chuẩn, nhưng trong những sự kiện quan trọng như phát biểu tại hội nghiên cứu, thương lượng công việc với đối tác sẽ đòi hỏi phải phát âm chính xác để tăng hiệu quả công việc Trong một số tình huống, phát âm không tốt có khả năng bị đánh giá kém, và không có lợi cho bản thân Vì thế giáo viên đứng lớp tùy theo đối tượng học viên cần linh hoạt điều chỉnh mức độ giảng dạy, yêu cầu phát âm cho phù hợp Bởi lẽ khi giáo viên đòi
Trang 24hỏi học viên chỉnh sửa phát âm nhiều sẽ làm giảm động lực học tập của học viên Hoặc ngược lại nếu làm ngơ trước phát âm sai của học viên thì cũng sẽ phủ nhận những nỗ lực muốn cải thiện phát âm của học viên
Trước khi tiến hành giảng dạy giáo viên cần phải truyền cảm hứng tăng động lực học phát âm cho học viên Dù có biết rất nhiều phương pháp giảng dạy phát
âm nhưng nếu như học viên không có động lực theo học thì hiệu quả giảng dạy
sẽ không được mong muốn Nếu như học viên có ý nghĩ rằng phát âm sao cũng được, chỉ cần truyền đạt được ý nghĩa là được thì bản thân giáo viên phải thấy
đó là chưa hoàn thiện và cần làm cho học viên thay đổi suy nghĩ rằng muốn luyện phát âm thật giỏi Điều này sẽ làm tăng động lực, ý thức luyện tập phát
âm cho học viên và tạo ra những hiệu quả tích cực
Bên cạnh đó, điều quan trọng nhất ở giáo viên dạy phát âm là phải có kiến
thức ngữ âm nhất định để phân biệt rằng mỗi từ phát âm khác nhau, biết trong một từ chỗ nào cao, chỗ nào thấp Không chỉ đơn thuần là có kiến thức ngữ âm
về ngôn ngữ mình giảng dạy mà còn phải hiểu được những phát âm mà sinh viên phát ra Một người giáo viên có thể bắt chước phát âm của học viên được xem là có tài năng trong việc giảng dạy phát âm Mặt khác, nếu giáo viên có một số kiến thức về đặc trưng ngữ âm ngôn ngữ của học viên đang theo học thì
sẽ tìm ra được nguyên nhân phát âm sai và chỉ ra được những điểm mấu chốt để học viên có thể sửa lỗi sai của mình Ngoài ra, nếu giáo viên là người có giọng chuẩn thì có thể làm mẫu phát âm cho sinh viên
Theo Kawashima Tanomu (2002), không chỉ cần khả năng, tri thức về ngữ
âm mà một giáo viên giảng dạy ngữ âm cần có các đức tính của một người giáo viên bình thường Đó là tính nhẫn nại Đây là khả năng rất cần thiết để có thể tiến hành giảng dạy ngữ âm một cách có hiệu quả Trong quá trình giảng dạy ngữ âm thì có thể học viên không hiểu những gì giáo viên đã dạy hoặc học viên
Trang 25hiểu những điều giáo viên đã dạy nhưng lại không thực hiện đúng được Khi bản thân giáo viên không biết làm sao để có thể sửa lỗi phát âm cho học viên của mình và bản thân học viên không biết làm sao để cải thiện phát âm của mình thì
cả hai bên phải chịu một áp lực rất lớn Những lúc như thế này thì cần đến kĩ thuật xử lý tình huống cũng như sự nhẫn nại của giáo viên Khi nói đến việc giảng dạy phát âm có thể người ta nghĩ ngay đến những thứ có liên quan đến ngữ âm Tuy nhiên ngữ âm chỉ là một phần trong đó Tư chất của giáo viên bao gồm cả 3 yếu tố: tính chuyên môn, tính nhẫn nại, năng lực đào tạo Ngữ âm học chỉ liên quan đến yếu tố tính chuyên môn Ngoài ra khả năng chịu đựng, năng lực quan sát thấu hiểu tâm trạng học viên, cũng là một trong vấn đề cốt lõi trong việc đào tạo giảng dạy ngữ âm có hiệu quả
1.1.2.2 Một số vấn đề về phương pháp giảng dạy ngữ âm
Để có thể giảng dạy được phát âm cho học viên thì người dạy buộc phải có các kiến thức cơ bản về đặc trưng ngữ âm của ngôn ngữ đó Mặt khác, giảng dạy ngữ âm không chỉ đơn thuần là hoạt động giảng dạy dành cho người nước ngoài mà còn cần được giảng dạy cho cả những người bản ngữ Thông qua các giờ học ngữ âm, người bản ngữ sẽ có cơ hội quan sát ngữ âm của ngôn ngữ mà chính mình đang sử dụng một cách khách quan Từ đó, có thể biết cách chỉnh sửa phát âm cho người nước ngoài có hiệu quả hơn
Theo Isomura Kazuhiro (2009) có rất nhiều phương pháp giảng dạy ngữ âm tuy nhiên không có phương pháp nào đạt hiệu quả toàn diện Tùy thuộc vào đối tượng học viên mà người dạy phải suy nghĩ ra những nội dung giảng dạy sao cho phù hợp Tuy nhiên, có một số điểm chính cần lưu ý khi giảng dạy ngữ âm
Thứ nhất, cần ý thức về tầm quan trọng của việc giảng dạy ngữ âm Có rất
nhiều người cho rằng việc giảng dạy ngữ âm là không cần thiết Bởi vì họ cho
Trang 26rằng, chỉ cần hiểu là được Không cần giảng dạy ngữ âm thì người học cũng có thể giao tiếp sơ được Có rất nhiều môn cần giảng dạy hơn là giảng dạy môn ngữ âm Việc giảng dạy ngữ âm rất khó và chỉ có thể do những giáo viên có chuyên môn đảm trách Bản thân người dạy không có hứng thú và cũng không
có kiến thức về ngữ âm Tuy nhiên quan niệm khi sử dụng ngoại ngữ chỉ cần nói sao cho người bản xứ hiểu là được là một quan niệm sai lầm Trong truyền đạt
về mặt âm thanh, ngoài các thông tin mang tính ngôn ngữ còn có những thông tin mang tính phi ngôn ngữ, chứa đựng tâm tư tình cảm của người nói Do đó chỉ cần hiểu thôi thì vẫn chưa rõ là hiểu cái gì Ở đây từ hiểu thường để chỉ các thông tin mang tính ngôn ngữ Các thông tin này do các đơn vị ngữ âm, trọng
âm hoặc ngữ điệu truyền tải đến người nghe Theo đó mà những mục này được đáp ứng triệt để thì gọi là hiểu Còn nếu như những mục này không được đáp ứng thì vẫn còn vấn đề để giải quyết Hiểu ở đây tức là hiểu được hết tâm tư tình cảm, ý đồ của người nói chứ không đơn thuần là hiểu kiểu từ ngữ Vì vậy nghĩa của từ hiểu không thể được giải thích một cách đơn giản như thế Vì người học
có thói quen phát âm khác với tiếng Nhật nên để có thể khiến người nghe hiểu một cách triệt để đến tận các thông tin mang tính tâm tư tình cảm thì cần phải giảng dạy ngữ âm
Bên cạnh đó, quan niệm không cần giảng dạy ngữ âm thì người học cũng
có thể giao tiếp sơ được cũng là một quan niệm sai lầm Có thể đúng là người học cũng sẽ bằng cách nào đó để giao tiếp được Tuy nhiên, đại đa số khi giao tiếp đều gặp một những vấn đề trục trặc mà mình không biết, không để ý tới Và
vô tình tạo cảm giác khó chịu cho người nghe Thế nên cần phải thay đổi quan điểm rằng không phải cứ để tự nhiên như thế mà cần phải tìm ra điểm mấu chốt của vấn đề và giảng dạy ngữ âm
Trang 27Điểm khó của giảng dạy ngữ âm tiếng Nhật là dạy ngữ âm khác với những môn khác như ngữ pháp, kanji có được phân chia một rách rạch ròi theo mục để luyện tập trong khi đó phát âm thì thể hiện ra tất cả các mục trong cùng một lúc
Ví dụ trong tiếng Nhật, một từ cám ơn “Arigatou gozaimasu” thì bao gồm cả các đơn vị ngữ âm, nhịp điệp, trọng âm, ngữ điệu, tốc độ nói Và mỗi người học đều bị ảnh hưởng bởi đặc trưng của ngôn ngữ mẹ đẻ khác nhau nên để đối ứng với từng trường hợp một thì mất rất nhiều thời gian công sức Chưa kể đến
là những đặc điểm trên xuất hiện trong từng câu nói chứ không phải như ngữ pháp, kanji có nội dung cần học ở mỗi bài khác nhau Có thể chính vì vậy mà việc giảng dạy ngữ âm được coi khá nhẹ so với các môn vốn vẫn được xem là quan trọng như ngữ pháp Tuy nhiên, không nên xem thường việc giảng dạy ngữ
âm và cần thiết phải yêu cầu đưa chương trình giảng dạy, phương pháp luyện tập cho người học
Ngữ âm là một môn học rất khó tách rời thành một môn chuyên biệt, và cần phải lưu ý khá nhiều điều khi giảng dạy, luyện tập Theo đó, cần phải có những giáo viên am hiểu về ngữ âm giống như các giáo viên chuyên giảng dạy về ngữ pháp chẳng hạn Tuy nhiên, việc đưa ngữ âm vào giảng dạy như một hoạt động trong lớp học thì không phải chỉ phó mặc cho giáo viên có chuyên môn mà những giáo viên khác cũng cần phải hỗ trợ
Khi hệ thống ngôn ngữ mẹ đẻ có sự khác biệt với ngoại ngữ đang theo học thì khi người học sẽ bị ảnh hưởng rất lớn từ đặc trưng phát âm tiếng mẹ đẻ Điều này dẫn đến hiện tượng phát âm sai một ngoại ngữ nào đó Vì thế, theo Kawashima Tanomu (2002) giáo viên giảng dạy phải đáp ứng được các yêu cầu sau
Hiểu rõ những đặc trưng trong hệ thống ngữ âm của ngôn ngữ mẹ đẻ của người học và ngoại ngữ đang giảng dạy
Trang 28Chẳng hạn khi giảng dạy tiếng Nhật thì giáo viên phải nắm bắt được ngữ âm tiếng Việt và tiếng Nhật khác nhau như thế nào Đồng thời phải tìm hiểu các kiến thức ở các phương diện khác nhau như âm vị học, hệ thống cấu tạo âm thanh… Việc phân tích âm thanh phát ra có vị trí phát âm ở đâu là điều rất cần thiết Khi giáo viên có được những kiến thức ngữ âm cần thiết thì sẽ dễ dàng truyền đạt lại cho học viên cách phát âm đúng
Hiểu rõ rằng mỗi học viên sinh ra và lớn lên ở các vùng miền khác nhau nên mỗi học viên chịu ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ khác nhau
Hiểu rõ các vấn đề về phát âm của học viên Tùy theo từng trình độ mà phát
âm sai khác nhau hay không Nếu vậy chỉ là lỗi tạm thời không cần sửa cũng có thể sửa được một cách tự nhiên
Chính vì điều này mà những nhà nghiên cứu thường nghiên cứu các vấn đề phát âm theo chiều ngang Tức là so sánh người học ở trình độ sơ cấp và trình
độ trung cấp Bên cạnh đó cũng có những nghiên cứu theo chiều dọc để tìm hiểu thời kì có sự thay đổi giữa người học ở trình độ sơ cấp và người học ở trình độ trung cấp
Hiểu rõ mức độ nghiêm trọng của các lỗi phát âm của học viên
Giáo viên cần phải tìm hiểu xem các lỗi phát âm nghiên trọng đến mức như thế nào Nên xem xét ở khía cạnh truyền đạt âm thanh của ngôn ngữ Cần phân biệt lỗi phát âm đó gây ảnh hưởng đến mức người nghe không hiểu những gì mà người nói muốn truyền đạt, hoặc là hiểu sai ý đồ muốn truyền đạt của người nói dẫn đến hiểu lầm về tính cách, tâm trạng của người nghe như gây ra sự mệt mỏi
Tìm hiểu tại sao lại xảy ra lỗi phát âm sai như thế
Để giải thích cho hiện tượng này thì các cơ sở nghiên cứu mang tính khoa học là rất cần thiết Trên quan điểm của ngành nghiên cứu về ngữ âm học, ngôn ngữ học thì cần phải suy nghĩ xem tại sao lại xảy ra lỗi sai đó khi có nghi vấn về
Trang 29lỗi phát âm sai của học viên Việc giải thích các lỗi phát âm sai về mặt ngữ âm
do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ là rất khó
Tìm hiểu cách chỉnh sửa phát âm để học viên có thể đạt đến phát âm gần nhất với người bản ngữ
Tìm hiểu phương pháp và nội dung giảng dạy ngữ âm
Chẳng hạn, đối với sinh viên Việt Nam nên giảng dạy những mục nào, nên giải thích như thế nào để học viên có thể cải thiện phát âm của mình từng bước một
Tìm hiểu mục đích học ngoại ngữ của học viên
Khi đã biết rõ mục đích học ngoại ngữ của học viên, giáo viên có thể đưa ra các yêu cầu về trình độ phát âm và điều chỉnh nội dung giảng dạy cho phù hợp Quá trình học tập phát âm chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau Trong đó, ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ, yếu tố về độ tuổi học ngoại ngữ thường được đề cập đến nhiều nhất Có rất nhiều nghiên cứu chứng minh rằng tuổi bắt đầu học ngoại ngữ có ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công hay thất bại của người học Trong đó có thuyết thời kì học tập tương đối (critical period hypotheses) Thuyết này được Rodney H Jones đề cập đến ở phần Lý thuyết
giảng dạy phát âm trong cuốn sách Methodology in Language Teaching: An Anthology of Current Practice (Phương pháp giảng dạy ngôn ngữ: Một số ví dụ
thực tế, 2002) Thuyết thời kì học tập tương đối cho rằng qua một độ tuổi nhất
định nào đó thì khả năng học ngoại ngữ của con người sẽ bị giảm sút Vì thế việc học ngoại ngữ ở trẻ em sẽ có lợi và có khả năng đạt đến trình độ người bản ngữ dễ hơn so với người lớn Có khá nhiều giả thiết xoay quanh độ tuổi này Tuy nhiên, thông thường tuổi dậy thì (12 tuổi đến 15 tuổi) là độ tuổi thường được đề cập đến nhiều nhất Thuyết này có ảnh hưởng rất lớn đến lý luận giảng dạy ngữ âm
Trang 30Một người bắt đầu học ngoại ngữ ở độ tuổi trưởng thành sẽ khó có thể đạt đến được trình độ phát âm như người bản ngữ Trong khi đó, một đứa trẻ 5, 6 tuổi bắt đầu học ngoại ngữ thì có khả năng đạt đến trình độ giống như người bản ngữ
Liên quan đến vấn đề giảng dạy phát âm, Christiane Dalton, Barbara Seidlhofer (1994) đề cập đến 2 xu hướng: chú trọng phần đơn vị ngữ âm (âm tiết hay phụ âm, nguyên âm) và chú trọng phần ngôn điệu (prosody) Trước đây, các nhà nghiên cứu ngữ âm thường khuyến khích việc giảng dạy phát âm cho sinh viên chú trọng đến chỉnh sửa các lỗi phát âm của từng đơn âm riêng lẻ Tuy nhiên, hình thức này chỉ phù hợp trong trường hợp giảng dạy phát âm cho đối tượng học viên có cùng nơi xuất thân Chẳng hạn, các sinh viên Việt Nam đều chịu một số ảnh hưởng chung của tiếng mẹ đẻ thế nên khi hướng dẫn phát âm phần đơn âm tiếng Nhật, so sánh với tiếng Việt tất cả các sinh viên đều hiểu được Tuy nhiên, với một lớp học tiếng Nhật tại Nhật tập trung sinh viên từ nhiều nước khác nhau, thì phương pháp giảng dạy này không mang lại hiệu quả
Vì mỗi sinh viên đến từ các nước khác nhau, chịu ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ khác nhau nên khả năng phân biệt phát âm khác nhau Trường hợp, với một lớp học có sinh viên đến từ nhiều nước khác nhau thì việc giảng dạy phát âm nên chú trọng vào ngôn điệu Chú trọng giảng dạy phát âm ở đơn vị ngôn điệu sẽ giúp sinh viên cải thiện khả năng phát âm về mặt tổng thể
Hiện nay còn có một số phương pháp giảng dạy ngữ âm như VTS tonal System), shadowing, tự đánh giá phát âm (self-monitoring) Phương pháp shadowing được cho là phương pháp luyện tập phát âm có hiệu quả nhất Tuy nhiên, hiệu quả của phương pháp shadowing vẫn chưa hoàn toàn được kiểm chứng
Trang 31(Verbo-1.5 Cơ sở thực tiễn
1.5.1 Tình hình đào tạo tiếng Nhật ở Việt Nam
Tiếng Nhật bắt đầu được đưa vào giảng dạy ở Việt Nam từ năm 1943 dành cho cả người Việt Nam, Hoa Kiều và người Pháp Một năm sau đó, năm 1944
số lượng người học tiếng Nhật khoảng 2,500 người Năm 1957, trường Đại học Sài Gòn bắt đầu đưa ngành tiếng Nhật vào giảng dạy Tuy nhiên, mãi đến tận năm 2000, đào tạo tiếng Nhật chưa thực sự phát triển Năm 2001, cùng với sự ra đời của cơ quan hợp tác nguồn nhân lực Việt Nam và Nhật Bản tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, ngành đào tạo tiếng Nhật ngày càng phát triển hơn Sau đó, trường đại học Đà Nẵng cũng đã chính thức mở ngành tiếng Nhật Năm
2003 tiếng Nhật được đưa vào giảng dạy thí điểm tại một số trường trung học cơ
sở ở Hà Nội Sau đó vào năm 2005, chương trình giảng dạy tiếng Nhật cũng bắt đầu được tiến hành ở một số trường trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh Tiếp theo đó, được mở rộng ra các trường trung học phổ thông Năm 2008, cùng với sự ra đời của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản tại Việt Nam, các hoạt động giao lưu quốc tế với Nhật Bản diễn ra trên nhiều mặt khác nhau Trong đó,
có cả việc xúc tiến, hỗ trợ các hoạt động giảng dạy tiếng Nhật Đồng thời, sự đầu tư của các công ty Nhật vào Việt Nam đã làm số lượng người học tiếng Nhật ở Việt Nam tăng đáng kể
Theo điều tra của Quỹ giao lưu quốc tế Nhật Bản (Japan Foundation) về việc đào tạo tiếng Nhật của các cơ quan nước ngoài công bố vào ngày 29/7/2010 thì tính tới năm 2009 có 133 quốc gia và lãnh thổ (125 quốc gia, 8 vùng lãnh thổ) trên khắp thế giới có đào tạo tiếng Nhật Và hơn 80% số người học tiếng Nhật là
ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á
Trang 32Bảng 1: Danh sách 10 nước có số người học tiếng Nhật đông nhất
STT Tên nước Khu vực Số người học
năm 2009
Số người học năm 2012
Tỉ lệ tăng giảm (%)
Bảng 2: Tình hình đào tạo tiếng Nhật ở Việt Nam năm 2009
Giáo dục ngoài trường học Tổng số
0 0 0 20 74 3.238 39 354 14.677 121 1.070 26.357 176 1.565 44.272
(A: Số lượng cơ quan đào tạo B: Số lượng giáo viên C: Số lượng học viên)
(Nguồn: Quỹ giao lưu quốc tế Nhật Bản)
Trang 33Chỉ trong vòng 3 năm kể từ năm 2006, số lượng người học tiếng Nhật đã tăng đột biến So sánh với kết quả của bản điều tra năm 2006 có thể nhận thấy rằng số lượng người học tiếng Nhật tại Việt Nam đã tăng gấp khoảng 1.5 lần (14.290 người) sau 3 năm Bên cạnh đó, giáo dục tiếng Nhật cấp THCS, THPT
đã đang được tiến hành tại một số trường THCS, THPT tại 4 thành phố là Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Huế
Bảng 3: Tình hình đào tạo tiếng Nhật ở Việt Nam năm 2006
Giáo dục tiểu học,
THCS, THPT
Giáo dục cao đẳng,đại học
Giáo dục ngoài trường học Tổng số
11 22 1.888 31 291 10.446 68 724 17.648 110 1.037 29.982
(A: Số lượng cơ quan B: Số lượng giáo viên C: Số lượng học viên)
(Nguồn: Quỹ giao lưu quốc tế Nhật Bản)
Theo đó, số lượng người dự thi kì thi Năng lực tiếng Nhật cũng tăng nhiều qua các năm
Bảng 4: Số lượng dự thi Năng lực Nhật ngữ từ năm 2005 – 2012
Trang 34Số lượng du học sinh Việt Nam tại Nhật vẫn tăng đều qua các năm và hiện vẫn đang đứng vị trí thứ 4 sau Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan
Bảng 5 : Số lượng du học sinh Việt Nam ở Nhật năm từ năm 2009 đến năm 2012
STT Năm
Số lượng du học sinh (người)
Tỉ lệ tăng giảm (So với năm trước)
tế thứ 3 thế giới Đây là niềm mong ước của rất nhiều sinh viên học tiếng Nhật Bên cạnh đó, vài năm gần đây văn hóa Nhật, truyện tranh Nhật đã du nhập vào Việt Nam một cách mạnh mẽ Do đó, có nhiều sinh viên chọn học tiếng Nhật do yêu thích văn hóa Nhật, yêu thích truyện tranh Nhật Bản
Trang 35Hình 1: Mục đích học tập tiếng Nhật
(Nguồn: Quỹ giao lưu Quốc tế Nhật Bản)
1.5.2 Tình hình giảng dạy tiếng Nhật và phát âm tiếng Nhật tại các trường Đại học Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Hiện nay, tại Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 10 trường Đại học có đào tạo chuyên ngành tiếng Nhật
1 Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Thành phố Hồ Chí Minh
2 Đại học Ngoại thương, Thành phố Hồ Chí Minh
3 Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
4 Đại học Ngoại ngữ và Tin học Thành phố Hồ Chí Minh
5 Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh
6 Đại học dân lập Hồng Bàng
7 Đại học dân lập Lạc Hồng
8 Đai học Nguyễn Tất Thành
9 Đại học Dân lập Hùng Vương
10 Đại học dân lập Văn Hiến
Trang 36Ngoài các trường trên, còn có một số trường đại học đưa tiếng Nhật vào giảng dạy như ngoại ngữ thứ hai
Hầu hết các trường Đại học đều tập trung vào giảng dạy các môn cơ sở (Nghe, Nói, Đọc, Viết) Chủ yếu giáo viên người Nhật phụ trách giảng dạy các môn đàm thoại Tuy nhiên, do thời lượng học khá ít, nên các sinh viên không có
cơ hội tiếp xúc, nói chuyện nhiều với giáo viên người Nhật Các môn tiếng Nhật
cơ sở và các môn liên quan tới Nhật như Văn hóa Nhật Bản, Lịch sử Nhật Bản…thường được giảng dạy bằng tiếng Việt
Ngoại trừ trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đưa môn Ngữ
âm học vào giảng dạy thì các trường khác đều không có môn học này Như đã trình bày ở trên, phát âm tiếng Nhật rất quan trọng tuy nhiên môn ngữ âm lại không được giảng dạy Thứ nhất, do không có giáo viên (kể cả giáo viên người Việt và giáo viên người Nhật) được đào tạo chuyên ngành phát âm Hiện nay, ở Việt Nam hầu như không có giáo viên tiếng Nhật có chuyên môn về ngữ âm tiếng Nhật Phương ngữ Tokyo được xem tiếng Nhật chuẩn Trong khi đó, bản thân các giáo viên người Nhật cũng xuất thân từ nhiều vùng khác nhau của Nhật Bản Những phương ngữ địa phương đôi khi phát âm hoàn toàn trái ngược với phương ngữ Tokyo Do đó, các giáo viên Nhật cũng không có đủ tự tin là mình đang phát âm đúng theo phương ngữ Tokyo Vì thế, họ không có đủ tự tin để sửa cho sinh viên Việt Nam Giáo viên người Việt cũng không có chuyên môn
về ngữ âm tiếng Nhật nên cũng không tự tin để dạy cho sinh viên Tuy nhiên, do phát âm của sinh viên Việt Nam bị đánh giá không tốt lắm nên trong việc đưa môn ngữ âm vào giảng dạy cho sinh viên là rất cần thiết
Trang 371.6 Tiểu kết
Người học ngoại ngữ luôn mong muốn sử dụng thành thạo một ngoại ngữ nào đó như một người bản xứ Phát âm là một trong những tiêu chí quan trọng
để đánh giá trình độ ngoại ngữ của người học Vì thế, hiện nay có rất nghiên cứu
về việc học tập và giảng dạy phát âm Đặc biệt là trong xu hướng học ngoại ngữ đặt mục tiêu giao tiếp lên hàng đầu như hiện nay Song song với việc giảng dạy các môn học cơ bản như ngữ pháp, nghe nói, đọc hiểu cần phải giảng dạy phát
âm cho người học ngoại ngữ
Trong những năm gần đây, mối quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản ngày càng được tăng cường trên mọi mặt về kinh tế, văn hóa, chính trị Sự đầu tư của các công ty Nhật vào Việt Nam gia tăng khiến số lượng người học tiếng Nhật cũng tăng nhanh qua các năm Do đó, ngành đào tạo tiếng Nhật ở Việt Nam đang ngày càng phát triển Thế nhưng, do thiếu giáo viên có chuyên môn về ngữ
âm tiếng Nhật, các Khoa, Bộ môn tiếng Nhật của các trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh hầu như vẫn chưa đưa môn phát âm vào giảng dạy như một môn học chính thức Trong tương lai một vài năm tới, nếu số lượng giáo viên trẻ được đào tạo chuyên ngành tại Nhật Bản tăng thì có thể sẽ khắc phục được tình trạng này
Trang 38Chương hai
KHẢO SÁT PHÁT ÂM TIẾNG NHẬT CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM
2.1 Hệ thống ngữ âm trong tiếng Việt và tiếng Nhật
2.1.1 Hệ thống ngữ âm trong tiếng Việt
* Phụ âm đầu: Trong tiếng Việt có 22 phụ âm đầu
Bảng 6: Hệ thống âm đầu tiếng Việt
Gốc lưỡi
Thanh hầu Bẹt Quặt
Tắc Ồn
Không bật hơi
Vô
ʔ
Hữu thanh b d
Âm đệm có chức năng biến đổi âm sắc của âm tiết Có 2 âm vị đóng vai trò của
âm đệm là: bán nguyên âm môi và âm vị /zêro/
Trang 39* Hệ thống âm chính
Mang âm sắc chủ đạo của âm tiết Trong tiếng Việt có 13 nguyên âm đơn
và 3 nguyên âm đôi làm âm chính
(Theo Đoàn Thiện Thuật (2004), Ngữ âm tiếng Việt,
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, trang 226)
*Thanh điệu
Tiếng Việt có 6 thanh điệu được phân biệt theo các tiêu chí khác nhau
Bảng 8: Hệ thống thanh điệu trong tiếng Việt
Tên thanh điệu
Ký hiệu ngữ âm
Thanh ngang ma thanh điệu cao thanh bằng
Thanh huyền à thanh điệu thấp thanh bằng
Thanh sắc má thanh điệu cao thanh trắc, một hướng Thanh hỏi mả thanh điệu thấp thanh trắc, hai hướng Thanh ngã mã thanh điệu cao thanh trắc, hai hướng Thanh nặng mạ thanh điệu thấp thanh trắc, một hướng
Trang 402.1.2 Hệ thống ngữ âm trong tiếng Nhật
* Nguyên âm
Trong tiếng Nhật có 5 nguyên âm: /i, e, a, o, u/
Hình 2: Hệ thống nguyên âm tiếng Nhật
Chân răng sau
Trong tiếng Nhật còn tồn tại khái niệm phách (拍-mora) là đơn vị đo độ dài
về mặt thời gian của một âm tiết Phách (mora) là cơ sở để tạo nên nhịp điệu
trong tiếng Nhật