1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa ứng xử với môi trường của người hội an

125 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 3,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời, qua quá trình nghiên cứu tài liệu, tác giả biết được những bài viết có liên quan đến văn hóa, trong đó có văn hóa ứng xử với môi trường ở Hội An.. Tác giả cũng đã có dịp đến v

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN VĂN ĐỀ

VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG

CỦA NGƯỜI HỘI AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN VĂN ĐỀ

VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG

CỦA NGƯỜI HỘI AN

Chuyên ngành: Văn hóa học

Mã số: 60.31.70

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS ĐOÀN ĐỨC HIẾU

Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2013

Trang 3

Lời cảm ơn Xin hết lòng cảm ơn quí thầy cô dạy Lớp Văn hóa học khóa 2010 - 2012 đã cung cấp những kiến thức và niềm cảm hứng vô cùng quí báu để tác giả có thể tiến hành nghiên cứu Văn hóa học

Xin hết lòng cảm ơn PGS.TS Đoàn Đức Hiếu đã nhiệt tình giúp đỡ và hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài

Xin cảm ơn đồng nghiệp đã cung cấp tài liệu về Hội An Kính chúc quí thầy cô, cán bộ hướng dẫn khoa học và đồng nghiệp luôn tràn đầy sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC HÌNH ẢNH 4

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu 6

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 11

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 12

6 Bố cục của Luận văn 13

NỘI DUNG 15

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 15

1.1 C Ở SỞ LÝ LUẬN 15

1.1.1 Khái niệm văn hóa ứng xử với môi trường 15

1.1.2 Khái niệm người Quảng Nam 16

1.2 C Ơ SỞ THỰC TIỄN 17

1.2.1 Định vị theo không gian 17

1.2.2 Định vị theo chủ thể 21

1.2.3 Định vị theo thời gian 25

Chương 2: Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của người Hội An 33

2.1 V ĂN HÓA SỬ DỤNG MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN QUA ẨM THỰC 33

2.1.1 Nội dung cơ bản về ẩm thực của người Hội An 33

2.1.2 Đặc trưng ẩm thực của người Hội An 36

2.2 V ĂN HÓA SỬ DỤNG MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN QUA GIAO THÔNG 42

2.2.1 Khái quát về giao thông ở Hội An 42

2.2.2 Đặc trưng giao thông ở Hội An 44

2.3 V ĂN HÓA SỬ DỤNG MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN QUA TRANG PHỤC 48

2.3.1 Quan niệm về mặc và dấu ấn nông nghiệp trong chất liệu may mặc của người Hội An 48

2.3.2 Trang phục của người Hội An qua các thời kỳ 49

2.2.3 Đặc trưng trang phục của người Hội An 52

2.4 V ĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN QUA NHÀ CỬA 53

2.4.1 Mô hình nhà cửa ở Hội An 53

2.4.2 Chọn hường nhà, hướng đất cho nhà cửa ở Hội An 54

2.4.3 Cách thức kiến trúc nhà cửa ở Hội An 55

2.4.4 Hình thức kiến trúc nhà cửa ở Hội An 57

T IỂU KẾT 60

Chương 3: Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội của người Hội An 62

3.1 V ĂN HÓA TÍN NGƯỠNG Ở H ỘI A N 62

3.1.1 Những tín ngưỡng chủ yếu ở Hội An 62

Trang 5

3.1.2 Đặc trưng tín ngưỡng ở Hội An 69

3.2 V ĂN HÓA TÔN GIÁO Ở H ỘI A N 71

3.2.1 Những tôn giáo lớn ở Hội An 71

3.2.2 Đặc trưng tôn giáo ở Hội An 82

3.3 V ĂN HÓA KIẾN TRÚC Ở H ỘI A N 84

3.3.1 Những công trình kiến trúc tiêu biểu ở Hội An 84

3.3.2 Đặc trưng kiến trúc ở Hội An 103

T IỂU KẾT 105

KẾT LUẬN 107

Tài liệu tham khảo 111

Trang 6

MỤC LỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1: Bản đồ hành chính Hội An 18

Hình 2.1: Làng rau thôn 1 Trà Quế 35

Bảng 2.2: Tên một số món ăn được sửa lại 42

Hình 2.3: Sông ở Hội An 44

Hình 2.4: Các trục giao thông đường thủy chính ở Hội An 45

Hình 2.5: Phiên chợ Tết ở Hội An năm 1947 .46

Hình 2.6: Trang phục người phụ nữ .50

Hình 2.7: Trang phục ngoài phố .50

Hình 2.8: Hình ảnh về trang phục nam 51

Hình 2.9: Hình ảnh về trang phục phụ nữ .51

Hình 2.10: Nhà cửa ở phố cổ Hội An 53

Hình 2.11: Mái ngói âm dương .54

Hình 2.12: Bộ khung .56

Hình 2.13: Hệ thống vì kèo .56

Hình 2.14: Sơ đồ .56

Hình 2.15: Mắt cửa 57

Hình 2.16: Mắt cửa 57

Hình 2.17: Nhà cổ Phùng Hưng 58

Hình 2.18: Lan can 59

Hình 2.19: Hệ thống vì kèo .59

Hình 2.20: Hệ thống vì kèo 4 mái kiểu Nhật Bản .59

Hình 2.21: Ô vuông sứ .60

Hình 2.22: Bộ vì kèo .60

Hình 2.23: Vòm gỗ .60

Hình 3.1: Chùa Chúc Thánh .73

Trang 7

Hình 3.2: Chùa Vạn Đức .74

Hình 3.3: Bàn thờ chính điện Hội quán Phúc Kiến 75

Hình 3.4: Cổng tam quan cách điệu 81

Hình 3.5: Nhà thờ Hội An hiện nay 81

Hình 3.6: Cầu Nhật Bản (Chùa Cầu) 85

Hình 3.7: Mái ngói .86

Hình 3.8: Bộ vì kèo Cầu Nhật Bản 86

Hình 3.9: Mặt lát ván Cầu Nhật Bản 86

Hình 3.10: Hệ thống vì kèo Hội quán Phước Kiến 90

Hình 3.11: Mái hai tầng chính điện Hội quán Phước Kiến 90

Hình 3.12: Mái chính điện Hội quán Quảng Triệu 91

Hình 3.13: Hệ thống vì kèo chính điện Hội quán Quảng Triệu 91

Hình 3.14: Khảm sành sứ nóc phương đình Hội quán Triều Châu 91

Hình 3.15: Song mái Hội quán Quỳnh Phủ 92

Hình 3.16: Chính điện Hội quán Trung Hoa 93

Hình 3.17: Cổng tam quan Chùa Chúc Thánh 94

Hình 3.18: Cổng tam quan Hội quán Phúc Kiến 94

Hình 3.19: Mái ngói Chùa Chúc Thánh 97

Hình 3.20: Hệ thống vì kèo Chùa Chúc Thánh 97

Hình 3.21:Tháp Tổ Minh Hải Chùa Chúc Thánh 98

Hình 3.22: Tam quan Chùa Hải Tạng 99

Hình 3.23: Liên kết các cây rường .99

Hình 3.24: Tiền sảnh Miếu Quan Công 100

Hình 3.25: Khối gỗ Miếu Quan Công 100

Hình 3.26: Hệ vì kèo chính điện Miếu Quan Công 100

Trang 8

sự tôn trọng, sống hòa hợp với tự nhiên; trong ứng xử với môi trường xã hội là sự giao lưu, tiếp biến mạnh mẽ Văn hóa ứng xử với môi trường ở Hội An từ khi hình thành cho đến nay cũng không nằm ngoài qui luật đó Trong ứng xử với môi trường

tự nhiên, người Hội An đã biết sử dụng và bảo tồn một cách hợp lý Chính điều đó

đã giúp cho người Hội An hạn chế tối thiểu những ảnh hưởng xấu, đồng thời phát huy tối đa những tác động tốt từ tự nhiên để có được cuộc sống hài hòa với môi trường Một cuộc sống hài hòa là điều kiện cần thiết cho con người và xã hội phát triển nhanh và bền vững Trong ứng xử với môi trường xã hội, người Hội An đã tiếp thu và xử lý khôn khéo trên cả hai lĩnh vực: tinh thần và vật chất Con người nơi đây luôn mở rộng vòng tay để đón những người bạn mới và đồng thời cũng tiếp thu

cả những giá trị văn hóa họ mang đến từ nhiều vùng miền, quốc gia Với sự năng động và sáng tạo của mình, người Hội An đã tạo ra những giá trị văn hóa tinh thần

và vật chất mới trên nền tảng những giá trị truyền thống

Ngày 4 - 12 - 1999, Ủy Ban Di Sản Thế Giới đã ghi tên Đô Thị Cổ Hội An vào Danh Mục Di Sản Thế Giới - Ghi tên vào danh mục này là công nhận có giá trị toàn cầu đặc biệt của một tài sản văn hóa để được bảo vệ vì lợi ích của nhân loại

Đô thị cổ Hội An đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia để trở thành giá trị đặc biệt của thế giới Văn hóa ứng xử với môi trường của người Hội An có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của Hội An Đồng thời, thông qua quá trình nghiên cứu sẽ

Trang 9

tìm ra được những điều bổ ích để áp dụng vào thực tiễn, góp phần làm cho Hội An càng ngày càng phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn

Lý do chủ quan:

Học cao học chuyên ngành Văn hóa học, tác giả biết được những kiến thức

về văn hóa và phương pháp nghiên cứu Văn hóa học Tác giả đã đọc một số tài liệu nói về Hội An và biết có những người trong và ngoài nước đã dành phần lớn cuộc đời mình say mê nghiên cứu về phố cổ Hội An Nhờ những người này, giá trị văn hóa nơi đây đã từng bước được công nhận và phổ biến cho nhiều người trên thế giới Đồng thời, qua quá trình nghiên cứu tài liệu, tác giả biết được những bài viết

có liên quan đến văn hóa, trong đó có văn hóa ứng xử với môi trường ở Hội An Tác giả cũng đã có dịp đến với Hội An và chính nơi đây đã gợi lên cho mình rất nhiều cảm hứng, trong đó có cảm hứng nghiên cứu về văn hóa ứng xử với môi trường của người Hội An Một học viên cao học ngành Văn hóa học, được các thầy cô truyền cảm hứng nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực văn hóa, tác giả muốn khởi đầu hành trình nghiên cứu Văn hóa học của mình bằng một đề tài liên quan đến văn hóa ở Hội An Tuy đã có sự chuẩn bị chu đáo cho việc nghiên cứu về văn hóa ở Hội An, nhưng khi tiến hành nghiên cứu, tác giả cũng có những khó khăn nhất định Với sự động viên của các thầy cô và đồng nghiệp, tác giả đã chọn hướng nghiên cứu về văn hóa ứng xử với môi trường

Xuất phát từ lý do khách quan và chủ quan như đã trình bày ở trên, tác giả

tiến hành nghiên cứu đề tài: Văn hóa ứng xử với môi trường của người Hội An

- Mục đích nghiên cứu:

Tác giả đặt văn hóa ứng xử với môi trường của người Hội An trong hệ trục tọa độ: không gian - chủ thể - thời gian (K - C - T) để nghiên cứu Chính vì thế, đề tài sẽ nghiên cứu để rút ra những đặc trưng về không gian, con người và quá trình phát triển của Hội An Văn hóa ứng xử với môi trường có hai nội dung là: văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội Cho nên, tác giả sẽ tiến hành nghiên cứu để làm rõ đặc trưng của văn hóa ứng xử với môi trương tự nhiên; sau đó, tác giả nghiên cứu làm rõ đặc trưng của văn hóa ứng xử với

Trang 10

môi trường xã hội Cuối cùng, từ những đặc trưng riêng của từng nội dung trên, tác giả rút ra đặc trưng chung trong văn hóa ứng xử với môi trường của người Hội An

Qua đề tài này, tác giả còn muốn nói đến văn hóa ứng xử với môi trường của người Hội An có đóng góp quan trọng trong sự phát triển của văn hóa ở Hội An nói riêng và Việt Nam nói chung Đồng thời, tác giả cũng muốn góp phần rất nhỏ vào việc gợi cảm hứng cho những người khác tìm hiểu và nghiên cứu văn hóa ở Hội An

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đã có một số tài liệu nghiên cứu về Hội An như:

“Hội An di sản thế giới” của tác giả Nguyễn Phước Tương Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu sự hình thành và phát triển đô thị Hội An, thời hưng thịnh của cảng thị Hội An, các công trình kiến trúc đặc sắc ở Hội An; một số vấn đề khác liên quan đến Hội An như tình yêu lứa đôi trong ca dao dân gian ở Hội An, cảng thị Hội An với sự ra đời của chữ quốc ngữ… Công trình này đã cho người đọc một khối lượng kiến thức khá đầy đủ về Hội An thuộc nhiều lĩnh vực như lịch sử, kiến trúc, con người Hội An Công trình đã thành công trong việc giới thiệu văn hóa

ở Hội An Trong công trình này, tác giả chưa đi vào nghiên cứu sâu một lĩnh vực nào đó của văn hóa ở Hội An

“Hội An di sản văn hóa thế giới” của nhiều tác giả do Hoàng Minh Nhân biên soạn Công trình gồm nhiều bài của các tác giả trong và ngoài nước viết về Hội

An Nội dung những bài viết phong phú Ngoài những bài viết về văn hóa ở Hội An, còn có bài ghi lại tình cảm cũng như những kỉ niệm không quyên của tác giả khi sống ở đây Thành công của tác phẩm là phản ánh chân thực tình cảm của những tác giả là dân gốc Hội An hay những người đã từng sống ở Hội An Đặc biệt, trong tác phẩm có nhiều bài viết dưới góc độ nghiên cứu của những tác giả trong và ngoài nước Thế nhưng, có lẽ đây cũng chỉ là tác phẩm có khuynh hướng giới thiệu về văn hóa ở Hội An hơn là đi sâu nghiên cứu một lĩnh vực náo đó của văn hóa

“Đô thị cổ Hội An” của tác giả Phạm Quang Vinh (chủ biên) Tác giả tập hợp nhiều bức ảnh về những công trình kiến trúc tiểu biểu, đặc biệt có một số bức ảnh về mái ngói và bản vẽ cấu trúc nhà cửa ở Hội An Có lẽ đây là một trong những

Trang 11

phóng sự ảnh khá đầy đủ về Hội An đã được xuất bản Các tác giả đã miêu tả Hội

An bằng những bức ảnh chân thực Qua tác phẩm, người đọc có thể hình dung được một phần nào về Hội An, nhất là về các công trình kiến trúc Dùng hình ảnh để giới thiệu về Hội An, nên trong tác phẩm, tác giả không nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa ở Hội An theo từng lĩnh vực Có lẽ mục đích chính của các tác giả là qua tác phẩm cho người đọc biết về nét đẹp kiến trúc và tìm ra cho mình những điều thú vị

về vùng đất này

“Di sản thế giới ở Việt Nam” của tác giả Lê Tuấn Anh (chủ biên) Công trình viết về những di sản thiên nhiên và di sản văn hóa thế giới ở Việt Nam trong đó có Hội An Trong phần nói về Di sản văn hóa thế giới phố cổ Hội An, các tác giả đã giới thiệu về lịch sử, những công trình kiến trúc, cảnh đẹp cũng như nghề truyền thống… Có lẽ đây là cuốn sách nghiêng về giới thiệu, cung cấp cho độc giả một cái nhìn khái quát Hội An chứ không đi vào nghiên cứu sâu một lĩnh vực nào của văn hóa nơi đây

“Những di sản thế giới ở Việt Nam” của nhóm tác giả do Huỳnh Yên Trầm

My đứng đầu Công trình gồm các bức ảnh về các di sản văn hóa thế giới ở Việt Nam Trong những bức ảnh về Hội An có ảnh chợ Hội An năm 1930, Phố cổ và cảnh sinh hoạt của người dân nơi đây qua nhiều thời kỳ khác nhau… Đây là tài liệu thú vị về các di sản thế giới ở Việt Nam trong đó có Hội An Trong tác phẩm này,

có những bức ảnh rất quí về Hội An những năm đầu thế kỷ XX Nhìn chung, tác phẩm này vẫn thiên về giới thiệu các di sản thể giới ở Việt Nam là chủ yếu

Ngoài những tài liệu trên, còn có những tác giả khác nghiên cứu về văn hóa

ở Hội An dưới nhiều góc độ và được công bố trong nhiều tài liệu như sách, báo viết, báo mạng và các phương tiện truyền thông khác…

Nhìn chung, các tài liệu trên chủ yếu giới thiệu cho người đọc một cái nhìn tổng quan về một Hội An - Di Sản Thế Giới Có tài liệu nghiên cứu khá toàn diện

về Hội An với nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng không đi sâu vào bất cứ một lĩnh vực nào, riêng về văn hóa ứng xử với môi trường dưới góc độ Văn hóa học thì chưa

có tác giả nào nghiên cứu

Trang 12

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu văn hóa ứng xử với môi trường của người Hội An trong hai lĩnh vực: văn hóa ứng xử của người Hội An với môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử của người Hội An với môi trường xã hội Trong văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, tác giả nghiên cứu về văn hóa sử dụng môi trường tự nhiên của người Hội An Ở nội dung này, tác giả tập trung nghiên cứu về văn hóa ứng xử qua

ăn mặc, ở và đi lại của con người nơi đây Trong văn hóa ứng xử với môi trường xã hội, tác giả tập trung nghiên cứu về tín ngưỡng, tôn giáo và kiến trúc có nguồn gốc

từ bên ngoài được du nhập vào Hội An trong lịch sử

- Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu văn hóa ứng xử với môi trường của người Hội

An trong không gian là Hội An Hội An có hai phần: phần đất liền và đảo Cù Lao Chàm Nhưng các di tích tập trung hầu hết ở phần đất liền nên tác giả tập trung nghiên cứu văn hóa ứng xử của người Hội An chủ yếu ở đây, còn phần đảo Cù Lao Chàm chỉ nói đến khi cần thiết Văn hóa ứng xử với môi trường có nhiều nội dung, nhưng đề tài chỉ có điều kiện nghiên cứu văn hóa qua ăn, mặc, ở và đi lại của con người nơi đây Tín ngưỡng ở Hội An phong phú, nhưng trong đề tài, tác giả chỉ chọn nghiên cứu một số tín ngưỡng tiểu biểu cho sự giao lưu và tiếp biến mà không

có điều kiện nói đến tất cả các loại tín ngưỡng Tuy Hội An có nhiều tôn giáo, nhưng trong đề tài này, tác giả chọn nghiên cứu hai tôn giáo có số lượng người theo (tín hữu) tương đối nhiều so với các tôn giáo còn lại; đó là Phật giáo và Công giáo Hội An có đến 1360 di tích thuộc nhiều kiểu kiến trúc có nguồn gốc từ nhiều nền văn hóa khác nhau nằm ở 12 phường, trong đó 90% tập trung ở nội thị (phường Minh An 64,2%, Cẩm Phô 12,7%, Sơn Phong 8,1%, Thanh Hà 3%, Tân An 0,7%), tác giả không có điều kiện nghiên cứu tất cả các công trình mà chọn một số công trình kiến trúc tiêu biểu có nguồn gốc từ văn hóa bản địa Việt Nam, Trung Hoa và Nhật Bản Những nhóm công trình kiến trúc tác giả nghiên cứu là: nhà cổ, cầu, chùa

- miếu và hội quán

Trang 13

Chủ thể văn hóa ở đây là dân cư trong và ngoài nước đã sống và làm việc ở Hội An qua các thời kỳ như: người Chăm, người Việt, người Hoa, người Nhật và người phương Tây Dân cư ở Hội An được tập hợp từ nhiều địa phương của Việt Nam và nhiều nước trên thế giới Khi nghiên cứu, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những cộng đồng dân cư đã sống ở đây từ khi xuất hiện địa danh Hội An, còn cộng đồng dân cư trước đó, tác giả chưa có điều kiện nghiên cứu

Trong đề tài này, tác giả chỉ có điều kiện nghiên cứu văn hóa ứng xử của con người nơi đây từ lúc hình thành địa danh Hội An (khoảng đầu thế kỷ XVII) cho đến nay Vùng đất này đã có lịch sử lâu đời, người Chăm đã sống và để lại nhiều dấu ấn đậm nét tại đây, trong đó có các công trình kiến trúc và tín ngưỡng Văn hóa ứng xử với môi trường của họ đã được thể hiện qua các thời kỳ khác nhau trước khi có địa danh Hội An

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học:

Đề tài đóng góp về mặt lí luận dưới góc độ Văn hóa học:

Văn hóa ứng xử với môi trường là một thành tố quan trọng trong cấu trúc của văn hóa Một trong những cấu trúc của văn hóa là “cấu trúc ba thành phần”: nhận thức, tổ chức và ứng xử Đề tài đi sâu nghiên cứu văn hóa ứng xử với môi trường sẽ góp phần làm rõ hơn thành tố văn hóa này ở Hội An Nghiên cứu một thành phần trong “cấu trúc ba thành phần” của văn hóa, đề tài cũng góp phần làm rõ hơn tính hợp lý của kiểu cấu trúc này khi nghiên cứu văn hóa trong một không gian có nhiều loại đối tượng khác nhau

- Ý nghĩa thực tiễn:

Đề tài góp phần làm người đọc hiểu hơn những đặc trưng của văn hóa ứng

xử với môi trường của người Hội An Thành tố văn hóa này đã đóng góp lớn cho sự phát triển của Hội An trong lịch sử Tác giả nghiên cứu làm rõ những đặc trưng cơ bản của văn hóa ứng xử ở đây sẽ có tác dụng: thứ nhất, góp phần làm cho người đọc hiểu hơn những đặc trưng cơ bản của văn hóa ứng xử với môi trường; thứ hai, việc vận dụng những đặc trưng này vào trong đời sống sẽ thúc đẩy Hội An phát triển

Trang 14

nhanh và bền vững trong hiện tại và tương lai Ngày nay, Hội An là thành phố du lịch, những đặc trưng trong văn hóa ứng xử với môi trường sẽ góp phần định hướng cho suy nghĩ và hành động của con người để họ làm việc tốt hơn, hiệu quả hơn và sản phẩm du lịch ngày càng được nâng cao hơn về chất và lượng

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

* Phương pháp nghiên cứu:

Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, tác giả đã sử dụng các phương pháp: Phương pháp hệ thống: phương pháp này giúp tác giả sưu tầm tài liệu đa ngành, xử lí tài liệu đa ngành về Hội An một cách khoa học để phục vụ cho việc nghiên cứu Hội An là địa danh nổi tiếng không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới nên có nhiều tài liệu nói về vùng đất này Việc sưu tầm đúng tài liệu và xử lí nó là bước quan trọng để tác giả thực hiện quá trình nghiên cứu đề tài

Phương pháp loại hình: nhằm phát hiện những đặc trưng của mỗi nền văn hóa, sắp xếp chúng theo quan hệ tôn ty với nhau và đúc kết thành quy luật văn hóa nói chung Nhờ phương pháp này, tác giả đã có thể biết được văn hóa nói chung và văn hóa ứng xử với môi trường của người Hội An nằm trong loại hình văn hóa nào, đồng thời với loại hình văn hóa đó, sự biểu hiện của các sản phẩm văn hóa như thế nào

Phương pháp thống nhất giữa lịch sử và lô gíc: nhằm nghiên cứu quá trình phát triển của cảng thị Hội An Khi nghiên cứu đề tài, tác giả chú ý tới quá trình hình thành và phát triển của Hội An Phương pháp này giúp tác giả nghiên cứu được quá trình vận động, phát triển của Hội An từ lúc hình thành cho đến nay một cách toàn diện

Phương pháp điền dã: tác giả đã đi thực tế đến Hội An để quan sát, phỏng vấn và ghi chép về văn hóa ứng xử với môi trường ở đây Qua quá trình thực hiện phương pháp này, tác giả đã có được nhiều thông tin đáng tin cậy phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài

- Nguồn tư liệu:

Các tài liệu nói về lịch sử của Hội An nhằm đặt văn hóa ứng xử với môi trường của người Hội An trong hệ trục tọa độ K - C - T (không gian - chủ thể - thời gian)

Trang 15

Các tài liệu nói về phong tục - tập quán của người Hội An

Các tài liệu nói về ẩm thực của người Hội An

Các tài liệu nói về nhà cửa ở Hội An

Các tài liệu nói về giao thông ở Hội An

Các tài liệu nói về tín ngưỡng của người Hội An

Các tài liệu nói về tôn giáo ở Hội An

Các tài liệu nói về kiến trúc ở Hội An

Những tài liệu trên, tác giả đã tham khảo từ nhiều nguồn khác nhau như: sách, báo, các websites…

6 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn dự kiến gồm 3 chương: chương một là “Cở sở lí luận và thực tiễn”, chương hai là “Văn hóa ứng xử với môi trường

tự nhiên của người Hội An” và chương ba là “Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội của người Hội An” Theo tác giả thì số lượng ba chương là đủ để đáp ứng nội dung cần nghiên cứu Người ta thường chia môi trường ra hai thành tố là: môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Văn hóa ứng xử với môi trường của người Hội An có văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội Muốn nghiên cứu chúng thì phải dựa vào cơ sở lý luận và thực tiễn ở Hội An

Chương đầu tiên, tác giả đưa ra nền tảng lí luận và đặt đối tượng nghiên cứu trong hệ trục tọa độ K - C - T; do đó, nhan đề của chương một là “Cơ sở lý luận và thực tiễn” Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, tác giả tiến hành nghiên cứu văn hóa ứng xử với môi trường của người Hội An trên hai lĩnh vực: tự nhiên và xã hội Ở chương tiếp theo, tác giả nghiên cứu về văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên; vì thế, nhan đề chương hai là: “Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của người Hội An” Chương cuối cùng, tác giả nghiên cứu văn hóa ứng xử với môi trường xã hội; bởi vậy, nhan đề chương ba là: “Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội của người Hội An”

Trang 16

Dựa trên cơ cơ lý luận và thực tiễn của văn hóa ứng xử với môi trường ở đây, tác giả đi vào nghiên cứu văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội Chính vì thế, tác giả đã sắp xếp thứ tự các chương như trên để đảm bảo tính hệ thống của đề tài

Trang 17

NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 1.1 Cở sở lý luận

1.1.1 Khái niệm văn hóa ứng xử với môi trường

Ứng xử là thái độ và hành vi của chủ thể (con người) với khách thể (sự vật, hiện tượng bên ngoài) Do đó, ứng xử của con người có thể tác động tiêu cực hay tích cực đối với khách thể Con người nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với thế giới bên ngoài nên qua ứng xử, thế giới bên ngoài cũng tác động trở lại con người Từ

đó, chúng ta có thể nói văn hóa ứng xử với môi trường là mọi hành vi của con người có tác động tích cực với môi trường, làm cho môi trường ngày càng tốt hơn

Thông thường người ta chia môi trường thành hai loại là: môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Chính vì thế khi nghiên cứu văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, tác giả đi vào nghiên cứu những quan niệm cũng như hành động của con người trong việc sử dụng Môi trường tự nhiên ở đây bao gồm đất đai, địa hình, sông, biển, khí hậu Trong quá trình sử dụng nguồn nguyên liệu từ tự nhiên, con người đã đúc kết được những tri thức và kinh nghiệm để tạo ra những sản phẩm đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu của mình Nhu cầu cơ bản của con người là ăn, mặc, ở

và đi lại Trong suốt lịch sử phát triển, con người đã tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đa dạng và phong phú của mình tùy theo điều kiện tự nhiên của từng vùng, miền, quốc gia Ăn, mặc, ở và đi lại luôn mang sắc thái của điều kiện tự nhiên, nơi con người sinh sống Nói đến con người là nói đến mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội Mọi sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người đều được lấy từ tự nhiên Không có tự nhiên, con người không thể tồn tại và phát triển Con người luôn luôn gắn bó chặt chẽ với tự nhiên Sự gắn bó chặt chẽ này thể hiện trong quá trình con người sử dụng tự nhiên, tác động vào tự nhiên thông qua các công cụ lao động khác nhau để tạo nên sản phẩm phục vụ cho nhu cầu mình (có tính nhân sinh) Những sản phẩm này phục vụ cho nhu cầu con người, giúp con người ngày càng phát triển hơn (có tính giá trị), được sắp xếp theo một cấu trúc và chúng có quan

hệ với nhau (có tính hệ thống), đồng thời chúng được truyền qua nhiều thế hệ (có tính

Trang 18

lịch sử) Những sản phẩm như thế trở thành văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của con người

Con người không chỉ có quan hệ với tự nhiên và còn có quan hệ với nhau trong quá trình tồn tại và phát triển Nói tới xã hội là nói tới mối quan hệ giữa con người với con người Đồng thời, chúng ta còn quan tâm đến những tác động qua lại làm thay đổi cá nhân và cộng đồng thông qua những quan hệ đó Con người luôn phải sống với người khác Sống trong xã hội, con người có mối liên hệ với nhau theo một cơ sở nhất định Nếu con người gắn bó chặt chẽ với tự nhiên thì con người cũng phải gắn bó chặt chẽ với nhau Sự gắn bó chặt chẽ này được thể hiện qua việc con người tạo ra rất nhiều mối quan hệ; lúc đó, quan hệ con người mang tính nhân sinh Quan hệ giữa con người được thể hiện qua sự tương tác giữa con người với con người Nhờ đó, con người ngày càng trở nên hoàn thiện hơn cả về vật chất và tình thần Khi mối quan hệ giữa con người với con người làm cho con người thay đổi theo chiều hướng tốt lên, lúc đó nó có tính giá trị Mối quan hệ của con người trong xã hội lại được sắp xếp theo một cấu trúc dựa trên một cơ sở nào đó, lúc đó mối quan hệ con người có tính hệ thống Đồng thời, mối quan hệ đó được người đời sau duy trì, phát triển, lúc đó nó có tính lịch sử Khi có những tính chất như thế, mối quan hệ con người trở thành văn hóa ứng xử với môi trường xã hội

Như vậy, văn hóa ứng xử với môi trường bao gồm mọi hành vi của con người đối với thế giới bên ngoài được biểu hiện ra qua các sản phẩm vật chất và tình thần, đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của mình, theo một cấu trúc dựa trên một cơ sở nhất định, tồn tại trong lịch sử của một cộng đồng

1.1.2 Khái niệm người Quảng Nam

Người ta biết đến danh xưng Quảng Nam từ khoảng năm 1471 khi “Vua Lê Thánh Tông (Hồng Đức năm thứ 2) đã tổ chức hành chính tại các châu Thăng, Hoa,

Tư, Nghĩa đồng thời đặt làm Đạo Thừa Tuyên Quảng Nam” [45, tr.40] Khu vực Đạo Thừa Tuyên Quảng Nam vào thời đó là một vùng rộng lớn từ nam Thuận Hóa vào sát núi Thạch Bi ở Phú Yên Đến năm 1490, Đạo Thừa Tuyên Quảng Nam gọi

là trấn Quảng Nam bao gồm ba phủ: Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn Trong

Trang 19

quá khứ, khi nói đến người Quảng Nam, người ta thường hiểu là người làm ăn, sinh sống ở địa bàn thuộc trấn Quảng Nam Năm 1832, đời vua Minh Mạng thứ 13 đổi trấn Quảng Nam thành tỉnh Quảng Nam, tên gọi này tồn tại cho đến năm 1945 Đến năm 1997, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng tồn tại từ sau ngày giải phóng được tách ra thành 2 đơn vị hành chính là thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam Từ đó, người Quảng Nam thường được hiểu là người sinh sống và làm việc lâu dài trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

Do có sự thay đổi về địa bàn hành chính cũng như tên gọi trong lịch sử, nên

để cho đơn giản và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình nghiên cứu, người Quảng Nam được hiểu là người có hộ khẩu thường trú ở tỉnh Quảng Nam

1.1.3 Khái niệm người Hội An

Người Hội An được hiểu là những người Quảng Nam thuộc nhiều quốc gia, dân tộc sinh sống và làm việc tại Hội An từ khi hình thành Hội An cho đến nay Hội

An đã trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài Nơi đây đã có một thời phát triển cực thịnh về kinh tế và trở thành thương cảng quốc tế sầm uất Trong quá trình phát triển, có biến đổi về dân số, nhiều người mới đến đây để làm ăn, lập nghiệp nhưng cũng có người phải rời bỏ mảnh đất này vì những lí do khác nhau Khi nghiên cứu đề tài, tác giả dùng khái niệm “người Hội An” để chỉ dân cư sinh sống trên địa bàn Hội An qua các thời kỳ Những người này trực tiếp hay gián tiếp

đã tạo nên văn hóa ứng xử với môi trường ở đây Như vậy, khi nói đến người Hội

An là nói tới những người Quảng Nam sống trong khu vực địa giới hành chính Hội

An, đã có một thời gian nhất định sinh sống, lập nghiệp tại đây và đến từ nhiều vùng trong và ngoài nước

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Định vị theo không gian

1.2.1.1 Vị trí địa lý của Hội An

Trang 20

Hội An ngày nay có tọa độ địa lý: từ 15015’20” đến 15055’15” độ vĩ bắc và từ 108017’08” đến 108023’10”

độ kinh đông; diễn tích khoảng 60

km2 Hội An nằm ở vùng hạ lưu ngã ba sông Thu Bồn thuộc vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng về phía Bắc khoảng 30

km Phía Đông giáp Biển Đông, phía Nam giáp huyện Duy Xuyên, phía Tây

và Bắc giáp huyện Điện Bàn (Xem hình 1.1) Hội An và tất cả các huyện nói trên đều thuộc tỉnh Quảng Nam

Địa giới hành chính của Hội An có sự thay đổi qua các thời kỳ Căn cứ vào một văn bản của Dinh Trấn Quảng Nam gửi các bang trưởng Hoa Kiều dưới thời Minh Mạng (1826), người ta biết phố cảng Hội An gồm có sáu làng (hay xã): Hội

An, Đông An, Diên Hộ, Minh Hương, Cổ Trai, Hoa Phố Sau Cách Mạng Tháng Tám 1945, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ra Nghị định quy định rõ về cơ cấu hành chính của thị xã Hội An gồm mười tám xã, vạn ghe và hải đảo Đến ngày 25/7/1978, Chính phủ nước ta ra quyết định số 131 - BT thành lập xã Tân Hiệp (Cù Lao Chàm) trực thuộc thị xã Hội An

Hội An bao gồm phần đất liền và một xã đảo - Cù Lao Chàm (cách Cửa Đại

- Hội An 15 km) Hội An là một thành phố cổ đặc thù ở Việt Nam, có đất liền, biển

và đảo

1.2.1.2 Điều kiện tự nhiên của Hội An

Hội An nằm trong vùng đồng bằng ven biển của Quảng Nam được bồi đắp bởi phù sa sông Thu Bồn, địa hình bằng phẳng, đất đai màu mỡ Điều thú vị là Hội

An được bao quanh bởi ba mặt sông và biển Phía Nam là sông Thu Bồn, phía Bắc

là sông Cổ Cò (Lộ Cảnh Giang trước đây), phía Đông là biển Đặc biệt Hội An có 7

km bở biển, Cửa Đại là cửa ngõ của sông Thu Bồn và Biển Đông Thời Hội An còn Hình 1.1: Bản đồ hành chính Hội An

(phần đất liền)

Trang 21

trong giai đoạn cực thịnh, sông Thu Bồn chưa bị phu sa nên rất sâu, tàu lớn có thể ra vào một cách dễ dàng Hội An ở một vị trí thuận lợi cho giao thông sông biển, bởi

lẽ nơi đây vừa gần biển lại vừa gần sông Mặc khác, Hội An lại có sông Lộ Cảnh Giang chạy dọc ven biển, qua Hội An nối liền sông Thu Bồn với Sông Hàn (Đà Nẵng) Chính điều này tạo cho giao thông đưởng thủy ở vùng đất này thêm thuận lợi Tàu có thể vào Hội An bằng 2 đường: từ Biển Đông qua Cửa Đại vào Hội An hoặc từ Vịnh Đà Nẵng theo Sông Hàn, dọc theo sông Cổ Cò tới Hội An Tất cả các sông Vu Gia, sông Bà Rén, sông Ly Ly, sông Trường Giang đều đổ vào sông Thu Bồn chảy qua Hội An Nếu dọc theo biển phía Bắc có sông Cổ Cò nối với Đà Nẵng thì phía Nam Hội An có sông Trường Giang chạy dọc ven biển bắt nguồn từ huyện Duy Xuyên (nối với sông Thu Bồn) Qua huyện Thăng Bình (Quảng Nam) đến thành phố Tam Kỳ, huyện Núi Thành (phần đất cuối phía Nam của tỉnh Quảng Nam) rồi đổ ra cửa An Hòa Có thể nói, đây là dòng sông nối liền Bắc và Nam của Quảng Nam Với hệ thống sông biển như thế, hàng hóa xứ Quảng có thể dễ dàng đi theo những con sông này để đến Hội An, qua Hội An đi khắp nơi trên thế giới

Hội An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Chế độ nhiệt tương đối

ôn hòa, trung bình vào khoảng 250C Nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất không dưới 150C, sự chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa tháng lạnh nhất và tháng nóng nhất không lớn, khoảng dưới 100C Hội An ít chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc so với những nơi khác ở phía bắc đèo Hải Vân Tuy nhiên, những đợt gió mùa cực mạnh cũng có thể tràn tới đem lại sự hạ thấp nhiệt độ ở đây Lượng mưa phân

bố không đều giữa các tháng, mưa nhiều hơn khoảng tháng 9 đến tháng 12, chiếm khoảng 70 - 80% lượng mưa cả năm Mùa mưa ở Hội An nói riêng và Quảng Nam nói chung thường tập trung một lượng rất lớn trong thời gian ngắn Những đợt mưa như thế thường gây nên những đợt lũ lớn tàn phá Hội An và những vùng khác trong tỉnh Mùa mưa cũng là mùa hoạt động của các đợt gió mùa Đông Bắc, áp thấp nhiệt đới

và bão Người dân Hội An cũng thường bị đe dọa bởi những hiện tượng thời tiết này

Như vậy, với một địa hình được bao bọc bởi 3 mặt sông và biển (một mặt là biển, hai mặt còn lại là sông), Hội An có đủ điều kiện để phát triển giao thông đường thủy Khí hậu ở Hội An dễ chịu hơn các vùng phía Bắc Đèo Hải Vân, nhưng

Trang 22

vẫn bị đe dọa bởi lũ lụt do mưa lớn, áp thấp nhiệt đới hay bão từ Biển Đông như nhiều vùng ven biển khác ở nước ta Người Hội An đã biết sử dụng điều kiện thuận lợi từ tự nhiên để phát triển kinh tế - xã hội Họ đã thành công trong việc biết khai thác thế mạnh của mình để biến Hội An thành cảng thị quốc tế trong suốt khoảng 2 thể kỷ (cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỳ XVIII)

1.2.1.3 Đặc trưng vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Hội An

Hội An có vị trí thuận lợi cho giao thông đường thủy Một đô thị có diễn tích không lớn lắm so với Đà Nẵng (diễn tích thành phố Đà Nẵng khoảng 1.255,53 km²

- trong đó phần đất liền là 950,53 km², phần huyện đảo Hoàng Sa là 305 km²) ở phía Bắc và Tam Kỳ (diễn tích thành phố Tam Kỳ khoảng 92,63 km²)ở phía Nam Giao thông đường thủy thuận lợi trong nội và ngoại thị Từ Hội An, có thể đi bằng đương thủy ra Đà Nẵng bằng cả đường sông và đường biển Bằng đường sông, từ nơi này,

có thể ngược lên phía Tây hoặc phía cực Nam của Quảng Nam Bằng đường biển,

có thể đi tới các nơi khác của Việt Nam và qua Biển Đông đến với các nước trên thế giới Vị trí này đã làm cho Hội An có điều kiện phát triển nhanh thành một thương cảng quốc tế sầm uất trong qua khứ Khi giao thông đường bộ chưa phát triển, giao thông đường thủy giữ vai trò chủ đạo thì một vị trí thuận lợi cho cả giao thông sông

và biển như Hội An là điều hấp dẫn với nhiều người, kể cả người nước ngoài

Hội An thường bị đe dọa từ những hiện tượng bất thường của thời tiết Hội

An có thể bị đe dọa bởi lũ lụt cục bộ từ thượng nguồn sông Vu Gia và sông Thu Bồn đổ về, có thể bị đe dọa từ những cơn áp thấp nhiệt đới hoặc bão từ Biển Đông Đây là một thành phố có thể phải chịu nhiều mối đe dọa từ những hiện tượng thời tiết bất thường hơn Đà Nẵng hoặc Tam Kỳ Đà Nẵng có thể chịu nhiều hơn mối đe dọa nước dâng từ biển, Tam Kỳ có thể chịu nhiều hơn mối đe dọa lũ lụt từ thượng nguồn; thế nhưng, Hội An phải chịu mối đe dọa cả nước dâng từ biển và lũ lụt từ thượng nguồn Trong lich sử phát triển của mình, Hội An đã phải trải qua những tàn phá rất nặng nề từ bão lụt

Với đặc trưng thuận lợi giao thông đường thủy và thường bị đe dọa bởi các hiện tượng thời tiết bất thường, Hội An vừa có những thuận lợi, vừa có những khó

Trang 23

khăn trong ứng xử với môi trường tự nhiên Con người nơi đây đã biết tận dụng những thuận lợi, đồng thời linh hoạt và sáng tạo để hạn chế tối đa những thiệt hại có thể có từ tự nhiên để phát triển kinh tế - xã hội

1.2.2 Định vị theo chủ thể

1.2.2.1 Dân cư ở Hội An

Có thể nói, quá trình tụ cư của người Việt ở Quảng Nam gắn bó mật thiết với quá trình mở cõi về phương Nam của dân tộc ta, diễn ra liên tục trong nhiều thế kỷ, với nhiều nguyên nhân chính trị của các vương triều phong kiến trước đây Có nhiều đợt di dân đến Quảng Nam; trong đó, đợt di dân lớn thời kỳ các chúa Nguyễn

là đáng quan tâm nhất, bởi vì nó góp phần quan trọng làm nên diện mạo của dân cư vùng Quảng Nam, trong đó có Hội An Quê hương bản quán của người Việt có thể

từ nhiều vùng khác nhau ở Bắc Bộ, nhưng chiếm số đông nhất vẫn là dân cư vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh Suốt từ thế kỷ II đến thế kỷ XV, một dải đất miền trung Việt Nam nằm dưới sự quản lý của Vương quốc Chămpa Từ khi Xứ Quảng thuộc về Đại Việt, trong đó có Hội An, thì một số người Chăm tiếp tục ở lại Hội An Có thể nói dân cư bản địa của Hội An trước hết là người Chăm Thế nhưng, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà người Chăm ở đây vắng dần Người Kinh ở Hội An ngày càng đông và thay thế người Chăm

Người Nhật đến Hội An buôn bán từ rất sớm “có thể từ năm 1598, một số thương gia Nhật Bản đã đến Hội An và xin phép chúa Nguyễn lập phố và dựng chùa” [47, tr.22] Họ đến Hội An sinh sống và làm ăn Người Nhật xuất hiện ngày càng đông và họ đã xây dựng phố Nhật ở phía Đông cảng thị Hội An Thế nhưng, sau một thời gian làm ăn, buôn bán phát đạt họ phải trở về cố hương theo lệnh của Mạc Phủ Tokugawa (năm 1635) cấm người Nhật buôn bán, giao dịch ra nước ngoài Việc hồi hương này đã làm cho số lượng và vai trò của người Nhật ở đây càng ngày càng giảm “Đến năm 1695, Hội An chỉ con lại bốn năm gia đình người Nhật” [82].Giữa thế kỷ XVI - năm 1567, hoàng đế Trung Hoa - Minh Mục Tông đã dỡ bỏ lệnh cấm các tàu thuyền buôn bán của nước mình không được đi ra nước ngoài (lệnh cấm này có từ năm 1371, thời hoàng đế Minh Thái Tổ) Từ lúc này, các thương

Trang 24

nhân người Hoa ồ ạt đến Hội An Một làn sóng người Hoa khác đến Hội An vào năm 1644, khi Nhà Thanh lật đổ Nhà Minh Những quan lại và người dân trung thành với chế độ cũ rời đất nước để di tản đến nhiều nước ở Đông Nam Châu Á, trong đó có Đàng Trong của Đại Việt, rất nhiều người Hoa đã đến sống và buôn bán

ở Hội An Cộng đồng người Hoa ở Hội An trong những thế kỷ trước được chia làm

2 loại: Hoa Kiều là những người Hoa vẫn giữ quốc tịch Trung Hoa, người Việt gọi

họ là khách trú Những người Hoa nhập quốc tịch Việt Nam, người Việt gọi họ là Minh Hương (những người Hoa trung thành với nhà Minh) và xem họ như đồng bào Vào đầu thế kỷ XVII, ở Hội An đã có 2 phố ngoại kiều: phố Nhật ở phía Đông

và phố Khách ở phía Tây của đô thị, cách nhau bởi Cầu Nhật Bản Mỗi khu vực có người quản lí riêng và người dân sống theo phong tục, tập quán của mình

Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, người phương Tây đã có mặt tại Hội An với những mục đích khác nhau như truyền giáo, thương mại và kèm theo những ý

đồ xâm lược hay hành động quân sự Người Bồ Đào Nha có mặt ở Hội An từ rất

sớm Năm 1535, thuyền trưởng Antonio De Faria đến vùng biển Hội An và Đà Nẵng Ông thấy sự phát triển các thương cảng tại đây nên có ý định chiếm đóng để biến Hội An - Đà Nẵng trở thành thành phố Goa, Malacca như người Bồ đã làm, nhưng không thành Vào năm 1523, Duark Coelho đã đến đảo Cù Lao Chàm và tạc lên một hình thánh giá lớn để làm lưu niệm khi tới đây Sau đó, năm 1615 các linh mục Francisco Buzomi, Diego Cavarlho và thầy Antonio Dias đã đến truyền giáo ở Đàng Trong mà trước tiên là ở Hội An Người phương Tây của công ty Đông Ấn -

Hà Lan đã lập thương điểm tại Hội An để buôn bán vào các năm 1636 - 1765 Người Pháp có mặt ở Hội An muộn hơn, cho đến năm 1742, một thương gia tên là

Dumont đến Hội An bàn việc thương mại cũng như toan tính xâm lược Như vậy,

tuy số lượng hiện diện của người phương Tây ở Hội An không nhiều như người Nhật hay người Hoa, nhưng sự có mặt của họ cũng đã làm cho văn hóa ở Hội An thêm màu sắc và đóng góp nhất định cho sự phát triển văn hóa tại đây

Nhìn chung, người Phương Tây đến với Hội An có nhiều mục đích khác nhau: Thương mại, truyền giáo, quân sự, cai trị chính trị Nhưng với lý do nào đi nữa, sự

có mặt của người Tây cũng là cơ sở trực tiếp phổ biến, giao lưu văn hóa Phương

Trang 25

Tây ở Hội An qua đó tạo ra đặc trưng nổi bật của văn hóa Hội An là mang đậm dấu

ấn giao hòa văn hóa Đông Tây tại thương cảng, đô thị Hội An [123]

Có thể nói, người Việt ở Hội An chủ yếu là người đến từ Bắc Bộ và Bắc Miền Trung (Thanh - Nghệ - Tĩnh) Những người Việt này có những nét văn hóa khác nhau nên khi đến Hội An, họ cũng góp phần làm cho văn hóa ở đây thêm phong phú Người Hoa và người Nhật có mặt đông đảo tại Hội An từ rất sớm Họ

đã sống thành từng cộng đồng và làm ăn phát đạt tại vùng đất mới Xét về phương diện giao lưu văn hóa thì sự có mặt của người phương Tây ở Hội An đã đem đến một luồng văn hóa hoàn toàn mới thời bấy giờ Chính sự mới mẻ này đã làm cho văn hóa ở Hội An có điều kiện chọn lọc, tiếp thu và biến đổi để tạo ra những giá trị phù hợp điều kiện mới Hội An là điểm gặp gỡ giữa văn hóa phương Đông và phương Tây trên đất Việt Nam Sự gặp gỡ này góp phần vào sự phát triển cho văn hóa Hội An nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung ở mức độ nhất định

1.2.2.2 Đặc trưng dân cư ở Hội An

Từ những nội dung trên, chúng ta có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản của dân cư ở Hội An như sau:

Trước hết, dân cư Hội An có tính đa dạng Hội An là một trong những đô thị

cổ của Việt Nam xuất hiện công dân của nhiều quốc gia Họ hiện diện ở đây với nhiều mục đích khác nhau Ngoài công dân ở các nước trong vùng Đông Nam Á và Đông Bắc Á, còn có công dân của nhiều quốc gia ở châu Âu Trong điều kiện thông tin liên lạc, giao thông đường bộ chưa phát triển, giao thông trên biển khó khăn vì phải phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, khí hậu; thế nhưng, có nhiều người từ các quốc gia, trong đó có cả những quốc gia xa xôi ở Châu Âu tìm đến với Hội An Đây thực sự là điều đáng quan tâm khi nghiên cứu về dân cư ở đây Cộng đồng người nước ngoài khi vào sinh sống ở Hội An đều có ý ở lại lâu dài Đối với người nước ngoài, đặc biệt người phương Tây thì Hội An là vùng đất quá xa lạ, nhưng khi tới,

họ vẫn hòa nhập được với cuộc sống mới Người Hội An phải có một sự ứng xử linh hoạt và sáng tạo mới có thể giữ họ ở lại với mình Sự cộng cư của nhiều dân tộc

đã tạo cho con người Hội An có một lối sống, một cái nhìn rất mở Họ mở rộng tay

Trang 26

để đón nhận những người từ phương xa tới làm ăn và lập nghiệp Đồng thời, người Hội An cũng mở rộng tấm lòng đón nhận những nét văn hóa mới để làm cho văn hóa bản địa ngày càng phong phú và đa dạng Nếu người Hội An mở rộng tay đón nhận những người bạn từ nơi khác tới, thì những người khách mới này cũng đã hòa nhập rất tốt với cuộc sống của người bản xứ Người đến trước đối xử rất tốt với người đến sau, tạo mọi điều kiện thuận lợi để họ có thể làm ăn, lập nghiệp lâu dài trên đất Hội An Đây là cơ sở cho sự giao lưu và tiếp biến văn hóa Tuy là người tiếp nhận văn hóa người khác mang đến, nhưng người Hội An không thụ động mà ngược lại họ luôn chủ động tiếp nhận những giá trị mới Đồng thời, họ cũng tạo điều kiện để cho những người mới đến sống theo nét văn hóa riêng của họ miễn là không ảnh hưởng tiêu cực đến văn hóa bản địa Tuy cơ cấu dân cư là đa quốc gia, nhưng không có sự kì thị, phân biệt nào giữa người bản xứ và người nước ngoài, giữa các cộng đồng người nước ngoài với nhau Không phân biệt quốc gia, dân tộc, người có tài đều được trọng dụng (như trường hợp Khổng Thiên Như - người gốc Hoa đã được chúa Nguyễn giao cho chức quan cai bộ tàu, ông là một vị quan rất có thế lực ở Đàng Trong)

Thứ đến, người Hội An sống quân bình, linh hoạt và sáng tạo Dân cư ở Hội

An trong quá khứ là sự thay thế nhau giữa các lớp người, người đến sau thay thế người đến trước Đã có nhiều biến động về dân số ở đây vì nhiều lý do khác nhau Thời còn thuộc về vương quốc Chămpa, dân cư bản địa nơi đây chủ yếu là người Chăm Sau khi Hội An thuộc về Đại Việt, người Việt thay thế dần người Chăm Sự thay thế dân cư này là bước ngoặc lớn đối với Hội An Có thể nói, từ khi người Việt vào vùng đất này đã mở đầu cho những đợt di dân của người nước ngoài tới đây Người Nhật là những người nước ngoài đến buôn bán và lập nghiệp tại Hội An từ rất sớm, thế nhưng sau một thời gian làm ăn phát đạt, họ phải hồi hương theo lệnh của Mạc Phủ Tokugawa Người Hoa đã tiếp bước người Nhật đến Hội An và thay thế dần người Nhật ở đây Điều thú vị là sự thay thế này đã diễn ra đối với cả cộng đồng người bản xứ và cộng đồng người nước ngoài Tuy nhiên, sự thay thế này chỉ diễn ra trong một giai đoạn lịch sử nhất định Những cộng đồng người Việt và người Hoa là những người đến sau nhưng đã gắn bó với mảnh đất này cho đến ngày

Trang 27

nay Có thể nói cộng đồng người Việt bản xứ và người Hoa đã có công lớn trong việc hình thành, nuôi dưỡng và phát triển văn hóa nói chung và văn hóa ứng xử với môi trường nói riêng ở Hội An Trong lịch sử, người Hội An đã biết tận dụng rất tốt thời cơ để phát triển Điều này thể hiện ở việc họ đã biết kết hợp một cách tài tình những những gì là cực đoan nhất Người Hội An vừa sành sỏi vừa rất thật thà Sống rất thư thái, an bình nhưng cũng rất sôi động (thương mại trước đây và dịch vụ ngày nay) “Đến năm 2011, dân số Hội An khoảng 125.000 người và khoảng 5000 khách

dụ lịch mỗi ngày” [126] Tất cả người Hội An ngày nay cũng như trong quá khứ đều kiên trì tích lũy kinh nghiệm qua các thế hệ và biết tận dụng thời cơ để phát

triển Người Hội An “Không đi trước, nhưng cũng không đến mức ở những hàng

sau” [110] Điều kỳ lạ là người Hội An dù trong bất cứ hoàn cảnh nào vẫn là chính mình, không bị tính cách bên ngoài làm mai một

Người Hội An ăn không nhanh, đi không vội, nói không to Cái gì cũng chậm rãi, không ào ào, có cung bậc của nó; luôn thay đổi nhưng không biến động Một thời cả Hội An nhà nhà dệt vải, nhưng họ vẫn làm trong ngôi nhà cổ chật hẹp của mình, không cơi nới Nhờ đó mà còn lại nhà cổ, phố cổ chứ không thì đã mất hết Đối với những người thích sự đổi thay, ở Hội An lâu ngày dễ thấy chán nhưng khi rời Hội An lại thấy nhớ [85]

Tóm lại, dân cư Hội An có những nét đặc thù riêng mà nhiều nơi khác ở nước ta không có Điều quan trọng là với hai đặc trưng nói trên, người Hội An đã ứng xử khôn ngoan trước những nét khác biệt về văn hóa nơi người mới đến và tiếp thu có chọn lọc

để tạo nên sự hài hòa cho cuộc sống chung của tất cả mọi người ở đây

1.2.3 Định vị theo thời gian

1.2.3.1 Lịch sử đô thị Hội An

Cho đến đầu thế kỳ XIV, vùng đất thành phố Hội An ngày nay vẫn còn thuộc lãnh thổ của Chămpa, ngày đó Hội An có tên gọi là Lâm Ấp Phố Lâm Ấp Phố là một thương cảng nằm bên bờ sông Chợ Củi (về sau được gọi là sông Thu Bồn), gần với cửa biển Hải Khẩu Đại Chiêm (tức Cửa Đại ngày nay) Giữa năm 1306, vua Chămpa là Chế Mân dâng hai châu là Châu Ô và Châu Lý cho nhà Trần làm lễ vật

Trang 28

xin cưới công chúa Huyền Trâm thì vùng Đại Chiêm và Lâm Ấp Phố thuộc về lãnh thổ Đại Việt “Năm 1307, vua Trần Anh Tông đã đặt tên cho hai châu mới đó là Thuận Châu và Hóa Châu Hóa Châu có huyện cực nam là Điện Bàn thuộc phủ

Triệu Phong mà ở đó có Lâm Ấp Phố” [47, tr.4-5] Địa danh Hội An xuất hiện từ

lúc nào đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu Có người cho rằng Hội

An ngày xưa có tên là Hoài Phố, bởi vì theo một cuốn sách được in dưới thời Nam - Bắc Triều thì vào năm 1553, huyện Điện Bàn có nhiều xã trong đó có Hoài Phố Hoài Phố chính là Lâm Ấp Phố trước đó “Theo sách “Ô Châu Cận Lục” do Nguyễn Văn An nhuận sắc và được in dưới thời Nam - Bắc Triều (1527 -1592) vào năm

1553 đã cho thấy vào thời kỳ đó, huyện Điện Bàn có 66 xã, trong đó xã Bàn Thạch, Hoài Phố, Cẩm Phô, Lai Nghi” [47, tr.8] Tên gọi Hội An Phố xuất hiện lần đầu tiên trên một tấm bản đồ của Đỗ Công Luận (tức Đỗ Bá) vẽ vào khoảng từ năm

1630 đến năm 1653 Như thế có thể nói tên gọi Hội An xuất hiện vào khoảng đầu thế kỷ XVII Qua các thời kỳ khác nhau, tên gọi này vẫn được giữ nguyên cho đến ngày nay Sau khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Ủy ban Nhân dân Cách mạng khu Trung Trung Bộ ngày 4/10/1975 đã ra quyết định hợp nhất tỉnh Quảng Đà và tỉnh Quang Nam thành một đơn vị hành chính với tên gọi là tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng Quốc hội nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa IX kì họp thứ 10 (từ ngày 13/10 đến ngày 1/11/1996) đã ra quyết định tách tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng thành hai đơn vị Hành Chính: Tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng (trực thuộc Trung ương) Thị xã Hội An là một đơn vị hành chính tương đương cấp Huyện trực thuộc tỉnh Quảng Nam Thị xã Hội An được nâng cấp lên thành phố trực thuộc tỉnh từ ngày 28 - 3 - 2008 theo Nghị định số 10/2008 của Thủ tướng Chính phủ

Quá trình phát triển cực thịnh của Hội An vào cuối thế kỷ XVI đến đầu thế

kỷ XVII gắn với hoạt động của thương nhân ngoại kiều, nội bật nhất là hoạt động của người Nhật và người Hoa Vào đầu thế kỷ XVII, cùng với sự biến đổi của tình hình kinh tế - xã hội và tác động của bối cảnh quốc tế, các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã mở cửa giao lưu với các nước Châu Á và phương Tây Các chúa Nguyễn cho tổ chức xây dựng các bến cảng, nhà trạm thuận tiện cho việc lưu thông thủy bộ

Trang 29

Quảng Nam là tỉnh giàu có nhất của Đàng Trong, nhiều sản vật, hàng hóa được sản xuất hoặc vận chuyển từ nơi khác tới đây Với vị trí thuận lợi, Hội An trở thành nơi tập trung hàng hóa để lưu thông ở Đàng Trong Quảng Nam thời đó có dinh trấn Thanh Chiêm ở làng Thanh Chiêm, cách Hội An khoảng 6 dặm (khoảng 9 km) Quảng Nam là nơi trấn giữ vùng biên giới phía Nam Vì tầm quan trọng của nó, nên chúa Đàng Trong thường cử một công tử làm trấn thủ thay mặt chúa giải quyết những công việc quan trọng, trực tiếp giao thiệp với thương nhân nước ngoài Điều này khiến cho các thương thuyền nước ngoài rất thuận lợi vì không phải tới dinh chính để trình báo Với vị trí thuận lợi về đường biển và thủ tục hành chính được rút ngắn về thời gian (không phải đi xa), “Hội An trở thành nơi “đại đô hội” thương thuyền của các nước Bồ Đào Nha, Hà Lan, Tây Ban Nha, Anh, Trung Quốc, Nhật Bản đã là những thương khánh thương xuyên của Hội An” [45, tr.177] Theo một số nhà nghiên cứu, có thể từ 1598, người Nhật đã đến Hội An và xin phép chúa Nguyễn lập phố, dựng chùa Họ là những người nước ngoài lưu trú đầu tiên sống ở Hội An và xây dựng phố Nhật ở phía Đông cảng thị này Vào thế kỷ XVII, quan hệ ngoại giao và thương mại giữa Nhật Bản và Đàng Trong rất tốt đẹp Chính vì thế

mà các thuyền buôn Nhật Bản đã cập bến Hội An rất nhiều Trong vòng 30 năm khoảng từ năm 1604 đến 1634, số lượng thuyền buôn Nhật Bản đến Hội An chiếm đến một phần tư số thuyền buôn đã cập bến các nước Đông Nam châu Á Các nhà buôn Trung Hoa đến Hội An sau người Nhật khoảng 20 năm Có thể từ trước 1618,

họ cũng được phép chúa Nguyễn xây dựng phố Khách ở phía bên kia cầu Nhật Bản Người Hoa đến Hội An ngày càng đông hơn sau đương lối mở cửa và những rối loạn nội bộ ở Trung Hoa thời đó Vào đầu thế kỷ XVII ở cảng thị Hội An, người ta

có thể phân biệt hai phố ngoại kiều: phố Nhật ở phía Đông và phố Khách ở phía Tây, cách nhau bởi cây cầu Nhật Bản Phố Nhật phát triển cực thịnh ở Hội An vào đầu thế kỷ XVII Lúc đó, khu phố này đã có những dãy nhà hàng trăm mét, ở vị trí gần chợ và dọc theo cảng sông rất thuận tiện cho việc buôn bán Thế nhưng, các thương thuyền Nhật Bản bị hải tặc (chủ yếu là người Hà Lan và Tây Ban Nha) cướp bóc Để tránh tổn thất, Nhật Bản cấm xuất dương các thương thuyền Đến năm

1635, Nhật Bản có chủ trương cấm các công dân Nhật đi ra nước ngoài và buộc

Trang 30

những người Nhật lưu trú ở hải ngoại phải hồi hương, nếu không họ sẽ bị xử tội Chính vì thế, người Nhật sống ở Hội An phải trở về tổ quốc Đây là nguyên nhân chính làm cho người Nhật vắng dần ở Hội An Các thương gia người Hoa đã mua lại các cơ sở buốn bán của người Nhật và xây dựng các hội quán lộng lẫy, các cửa hiệu trên phố Nhật Trong khoảng 2 thế kỷ (từ thế kỷ XVII đến XVIII), Hội An là cảng trung chuyển hàng hóa quốc tế lớn “Hội An là điểm trung chuyển của con đường tơ lụa và gốm sứ xuyên đại dương giữa các nước phương Tây và phương

Đông” [47 tr.29] Hoạt động thương mại quốc tế ở Hội An diễn ra rất sớm bởi sự

hiện diện của thương gia nhiều nước trên thế giới như: người Bồ Đào Nha đã đến buốn bán ở Hội An từ khoảng năm 1525 đến năm 1570, người Trung Hoa từ khoảng năm 1557, người Nhật từ khoảng năm 1592, người Hà Lan từ khoảng năm

1633 - 1654, người Anh từ khoảng năm 1695, người Ai Len khoảng năm 1734, người Pháp năm 1752 Ngoài ra, trước đây người Ba tư, người Tây Ban Nha, người Thái Lan, người Inđônêxia, người Philíppin, người Singapo… cũng đã cập bến Hội An để mua những hàng hóa của Đàng Trong tại cảng thị Hội An Một trong những hoạt động thương mại ở Hội An đáng chú ý thời kỳ này là hình thức “Hội chợ quốc tế” kéo dài nhiều tháng và phụ thuộc vào quy luật gió mùa ở Đông Nam châu Á Hàng năm, hội chợ quốc tế kéo dài từ 4 đến 6 tháng, mở cửa từ tháng giêng cho đến tháng 6 trong năm Hội An là điểm đến của hầu hết các tàu buôn của Nhật đến Đông Dương lúc đó “Trong vòng 30 năm đầu thế kỷ XVII thì chừng ½ số tàu trong 331 tàu đến Đông Dương là đi Giao Chỉ tức Quảng Nam” [45, tr.182] Trong cuộc nội chiến vào cuối thế kỳ XVIII giữa lực lượng quân Trịnh và quân Nguyễn, cảng thị Hội An bị tàn phá nặng nề Vào năm 1775, sau khi chiếm được Hội An, quân Trịnh đã triệt phá nhà cửa của khu vực thương mại và chỉ để lại các công trình tín ngưỡng Khoảng 5 năm sau, cảng thị Hội An dần dần được hồi sinh, hoạt động thương mại được phục hồi, nhưng không được như thời kì định cao trước đó Người Việt và người Minh Hương (người Hoa nhưng quốc tịch Việt) xây dựng lại Hội An

từ những đổ nát của đô thị cũ Họ xây dựng nhà cửa mới theo kiểu kiến trúc của họ

Từ cuối thế kỳ XVIII đến đầu thế kỳ XIX, thương mại ở Hội An bắt đầu suy giảm, Hội An đi vào con đường suy thoái Theo một số nhà nghiên cứu thì “nguyên nhân

Trang 31

chính dẫn đến sự suy thoái của cảng thị Hội An là do cuộc nội chiến kéo dài giữa quân Trịnh và quân Tây Sơn và quân Tây Sơn với quân Nguyễn và nhất là đường lối đóng

cửa không giao thương với phương Tây của Triều Nguyễn” [47, tr.150] Những

thương gia giàu có Việt, Hoa chuyển nơi định cư và lập nghiệp ở Sài Gòn (khu vực Chợ lớn) hoặc ra Đà Nẵng, để lại Hội An yên tĩnh với những ngôi nhà cổ kính

Như vậy, từ lúc ban đầu là Lâm Ấp Phố trải qua quá trình phát triển lâu dài với nhiều lần thay đổi, nơi đây ngày nay có tên gọi là thành phố Hội An Suốt khoảng hơn 4 thế kỳ hình thành và phát triển, Hội An đã trải qua các giai đoạn khác nhau từ hình thành, phát triển cực thịnh rồi đến suy tàn Nói suy tàn là xét dưới góc

độ kinh tế - cảng thị buôn bán quốc tế - còn dưới góc độ văn hóa thì Hội An đã để lại một di sản văn hóa không chỉ cho chúng ta mà còn cho cả nhân loại Di sản văn hóa này được các thế hệ nối tiếp nhau gìn giữ và phổ biến

1.2.3.2 Đặc trưng lịch sử đô thị Hội An

Qua lịch sử phát triển Hội An, chúng ta có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản sau đây:

Trước hết, sự phát triển của Hội An gắn liền với thương mại trong nước và quốc tế Có thế nói đây là một nét đáng chú ý ở Hội An Hàng hóa xuất nhập khẩu tại Hội An chủ yếu đều thông qua Cửa Đại bằng đường biển Khi con sông Sài Thị Giang (sông Thu Bồn ngày nay) bị bồi lấp bởi phù sa, lòng sông cạn đi, tàu có trọng tại lớn không thể đến trực tiếp Hội An qua Cửa Đại Những tàu này phải neo đậu tại Vịnh Đà Nẵng Để vận chuyển, người ta phải chuyển hàng hóa xuống các tàu nhỏ hơn ngược Sông Hàn rồi theo sông Cổ Cò (sông Lộ Cảnh Giang) tới Hội

An Cho đến đầu thế kỷ XVIII, các tàu, thuyền buôn trong và ngoài nước tùy theo trọng tải có thể cập bến Hội An bằng hai con đường: qua Cửa Đại (từ biển đi vào), hoặc qua Cửa Hàn, ngược Sông Hàn theo con sông Cổ Cò Vai trò của sông Cổ Cò đối với các hoạt động thương mại trong đất liền quan trọng đến mức có người ngộ nhận suy thoái ở Hội An gắn với việc con sông này bị bồi lấp Giai đoạn Hội An phát triển cực thịnh cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII cũng là giai đoạn có nhiều thuyền, tàu buôn trong và ngoài nước đến đây để mua hoặc bán hàng hóa Trong

Trang 32

quá khứ, Hội An là một thương cảng quốc tế nhộn nhịp kẻ bán người mua Trong suốt quá trình phát triển, Hội An luôn giữ vai trò là nơi trung chuyển Hàng hóa từ

xứ Quảng được mang ra Đàng Ngoài và Quốc tế; đồng thời, hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam qua Hội An Khi giao thông đường thủy tới Hội An gặp khó khăn thì hàng hóa trong nước và quốc tế vẫn đi vào đây bằng nhiều hướng theo đường này, chứng tỏ Hội An là một nơi buôn bán rất thuật lợi Một mặt, ở đây có nhiều hàng hoá và nguyên liệu quí được xuất đi; mặt khác, cũng là nơi hàng hóa đưa đến bán rất chạy Vùng đất này phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn thương mại trong nước

và quốc tế thuận lợi Sự xuất hiện nhiều nhà buôn với hoạt động mua bán tấp nập đã làm cho cuộc sống của người dân trở nên nhộn nhịp và tươi mới Thế nhưng, từ năm 1820 (thời vua Minh Mạng) trở đi, do chính sách bế quan tỏa cảng của Nhà Nguyễn, tàu buôn phương Tây chỉ còn được phép tới đậu tại cảng Đà Nẵng, không được vào các cảng khác, trong đó có cảng thị Hội An, Hội An bắt đầu suy thái Vai trò trung chuyển hàng hóa trong nước và quốc tế chuyển dần sang cảng Đà Nẵng

Từ đó, thương mại ở Hội An không thể phát triển như trước Như vây, có thể nói sự phát triển của Hội An đã chững lại khi thương mại ở đây bị đình trệ và cũng là lúc Hội An bước vào con đường suy thoái

Tiếp đến, ngoài công lao của người Việt bản xứ, có sự đóng góp của người nước ngoài trong sự phát triển của Hội An Mặc dù thương mại đã diễn ra ở đây từ thời người Chăm, nhưng từ khi có cộng đồng người nước ngoài thì thương mại ở Hội An đã mang một diện mạo mới Bên cạnh cộng đồng người Việt, Hội An còn

có khu phố của cộng đồng người Nhật Điều này làm cho Hội An trở nên nhộn nhịp

và thúc đẩy mạnh mẽ việc xuất nhập khẩu hàng hóa tại đây Những dãy nhà nối tiếp nhau hàng 100m, gần chợ, gần cảng có lẽ là một trong những điểm mới trong kiến trúc đô thị ở Việt Nam thời kỳ đó Khi người Nhật hồi hương thì Người Hoa đến thay thế Cộng đồng người Hoa hiện diện ở Hội An ngày càng nhiều Đặc biệt, cộng đồng làng Minh Hương đã có đóng góp lớn trong việc phát triển cảng thị Hội An về kinh tế và văn hóa “Người ta nói rằng thành phố có đến 6 vạn dân mà một phần ba

là người Trung Hoa… Các thuyền buôn Trung Hoa trọng tải đến 600 tấn, hàng năm đến ăn hàng ngay trước thành phố” [47, tr.130]

Trang 33

Cuối cùng, chính sách ngoại thương của Trung Quốc và Nhật Bản có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của Hội An Nhà Minh chủ trương bế quan tỏa cảng, đến năm 1567 mới mở cửa cho thuyền buôn vượt biển buôn bán với các nước Đông Nam Á, nhưng vẫn cấm xuất khẩu một số nguyên liệu quan trọng sang Nhật Mạc Phủ Toyotomi phải mở rộng quan hệ thông thương với Đông Nam Á để mua hàng Trung Quốc từ các quốc gia phương Nam Chính điều này đã tạo ra một giai đoạn buôn bán phát đạt giữa Nhật Bản và Việt Nam mà chủ yếu là với Hội An Chính sánh mở cửa của Trung Quốc thúc đẩy rất mạnh việc buôn bán giữa Hội An với Trung Hoa

Đồng thời nhu cầu hàng hóa Trung Hoa của người Nhật càng làm cho thương mại ở Hội An có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn vì hàng hóa Trung Hoa rất nhiều tại đây

Như vậy, chúng ta thấy quá trình phát triển của Hội An chịu nhiều tác động của yếu tố chủ quan và khách quan Con người Hội An vốn khôn khéo và linh hoạt trong giao tiếp, sẵn sang tiếp nhận cái mới Sự xuất hiện người nước ngoài có kinh nghiệm buôn bán, nhanh nhảy với nhu cầu thị trường, tận dụng tốt thời cơ để làm ăn phát đạt Chính họ là một trong những nhân tố quan trọng làm cho nghề kinh doanh buôn bán ở đây phát triển Chính sách thương mại nước ngoài có lợi cho việc giao lưu buôn bán hàng hóa Điều này đã tác động một cách tích cực tới thương mại quốc tế ở Hội An Tất cả những điều đó đóng góp vào sự phát triển của Hội An

Tiểu kết

Hội An có diễn tích không rộng, dân số cũng không đông lắm và giai đoạn phát triển đến cực thịnh chỉ kéo dài khoảng 2 thế kỷ, nhưng nơi đây đã trở thành một trong những đô thị có giá trị bậc nhất ở Việt Nam dưới góc độ văn hóa và trở thành “Di sản thế giới” Như vậy, cái làm nên diện mạo Hội An ngày nay là những giá trị văn hóa đã được nhiều tộc người thuộc nhiều quốc gia kế tiếp nhau sáng tạo

và giữ gìn Sự phát triển cực thịnh về thương mại quốc tế đã chấm dứt, nhưng một thời kỳ giữ gìn, phát huy những giá trị văn hóa ở Hội An đã và đang mở ra Văn hóa

Trang 34

ở Hội An vẫn tiếp tục cuộc hành trình đi về phía trước, mặc dù có khó khăn, nhiều

lúc mất mát nhưng nó vẫn tiếp tục tiến lên và phát triển không ngừng

Hội An bên cạnh những thuận lợi về vị trí, địa hình và khí hậu cũng có những khó khăn về các hiện tượng thời tiết bất thường Người Hội An đã biết tìm mọi cách để sử dụng và bảo tồn hợp lý, thích nghi tốt nhất điều kiện tự nhiên và hạn chế thấp nhất những thiệt hại do thiên nhiên gây ra Trải qua nhiều thế hệ khác nhau, người Hội An đã tạo nên văn hóa ứng với môi trường tự nhiên Sống trong môi trường đa dân tộc đã làm cho người Hội An biết tạo ra những quan hệ tốt đẹp với nhau cho dù có sự khác biệt về nguồn gốc cũng như văn hóa

Bên cạnh đó, họ còn biết học hỏi lẫn nhau để càng ngày càng hoàn thiện hơn chính mình và làm đẹp hơn cuộc sống Chính điều đó đã tạo nên văn hóa ứng xử với môi trường xã hội của người Hội An Văn hóa ứng xử với môi trường của người Hội An được tác giả đặt trong hệ trục tọa độ K - C - T (không gian - chủ thể - thời gian) để nghiên cứu Những nội dung trên sẽ phục vụ cho việc nghiên cứu những chương tiếp theo

Trang 35

Chương 2: Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của người Hội An 2.1 Văn hóa sử dụng môi trường tự nhiên qua ẩm thực

2.1.1 Nội dung cơ bản về ẩm thực của người Hội An

Cũng như bao người Việt khác, người Hội An rất coi trọng ăn uống Qua quá trình phát triển, con người nơi đây đã tạo ra thói quen ăn uống có nét riêng so với nhiều

đô thị khác ở Việt Nam Điều này thể hiện trong quan niệm, cơ cấu bữa ăn và đồ uống của người Hội An

Về quan niệm ăn uống, người Hội An cho rằng phải có sự hài hòa, đơn giản, trung thực và coi trọng nghề ẩm thực Trước hết, người Hội An luôn quan niệm phải có

sự hài hòa âm - dương trong ẩm thực Điều này thể hiện trong cách chọn và kết hợp các nguyên liệu để tạo nên các món ăn Người Hội An luôn vận dụng nguyên lý âm - dương một cách linh hoạt và sáng tạo Đó là sự kết hợp hài hòa giữa âm (-) và dương (+) thuộc các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống, trong đó có ẩm thực Người Hội An biết kết hợp những loại dân dã nhất, thô sơ nhất với cái tinh túy nhất trong cùng một món để tạo nên những món độc đáo như “món chè đậu ván” Thứ đến, người Hội An quan niệm phải có sự đơn giản trong ẩm thực Các món ăn mang tính dân dã và không cầu kì trong cách ăn Sự đơn giản thể hiện ở việc chọn nguyên liệu Nguyên liệu thường là những thứ có sẵn, do chính họ làm ra ở ngay trên đất Hội An Trong chế biến, không có những kỹ thuật thao tác cầu kì, phức tạp như một số nơi khác Sự kết hợp các loại thực phẩm khác nhau cũng hết sức đơn giản, thông thường chỉ hai hay ba thứ Không gian ăn uống ngoài phố cũng rất dung dị, người Hội An trong truyền thống thường bày bán các món ăn ngay trên các hè phố, chỉ là một vài cái bàn ít chiếc ghế, hay những gánh hàng rất thô sơ Ngoài ra, người Hội An còn cho rằng: phải trung thực trong ẩm thực Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải thể hiện được cái tâm, sự thành thật của người bán và người chế biến các món ăn Họ sẵn sàng chịu cảnh ít lời hoặc nâng giá cao hơn một chút để đảm bảo cho thực phẩm đúng chất lượng Trong chế biến

Trang 36

các món ăn, không vì lợi nhuận mà lừa dối khách hàng “Khi nấu nướng phục vụ khách, chủ quán luôn phải biết lựa chọn nguyên liệu tốt nhất, dẫu có đắt một chút cũng phải mua, có thể bớt đi một chút thịt xíu trong tô cao lầu nhưng dứt khoát là phải tươi ngon” [96] Người Hội An trung thực và giữ chữ tín với khách hàng đến mức một múi tỏi trong chén nước mắm nêm cá cơm của món Bánh Tráng Đập phải lấy từ đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), không dùng của nơi khác Nhà văn Nguyên Ngọc có kể:

Một lần, cũng là dịp gia đình có giỗ, chị vợ anh đi chợ Hội An và chị vô cùng ngạc nhiên Chị đến một hàng thịt, hỏi mua Người bán hỏi lại: -Chị mua thịt làm chi? -Tôi định mua làm giò chả Chị bán thịt bảo: -Rứa thì đừng mua thịt của tui, chị à Thịt của tui bữa ni dỡ lắm, quết chả không ngon đâu Chị xuống cái hàng gần cuối dãy kia kìa, hàng đó bữa ni thịt ngon đó [33, tr.573]

Cuối cùng, người Hội An rất coi trọng nghề ẩm thực Không dừng lại ở sự thật thà, chân chất trong sáng mà họ còn đem cả tâm tình của mình trong từng sản phẩm để phục vụ khách hàng tốt nhất Người Hội An không chỉ yêu nghề mà còn coi cái nghề của mình như một “tôn giáo” Đó là một thứ đạo đức thiêng liêng được truyền lại nơi đây Ở Hội An, người ta có kể chuyện một người bán Xíu mà suốt gần ba phần tư thế

kỷ bán món này đã tâm sự: giá cả thay đổi từ mấy xu đến mấy trăm một chén, nhưng một trăm hay một xu cũng phải nấu cho đúng cách, đảm bảo chất lượng “Người bán Xíu mà coi cái nghề xíu của mình là một tôn giáo Làm sai, chết không nhắm mắt được” [33, tr.576] Những người bán hàng hóa tầm thường ở chợ cũng có quan niệm phải tôn trọng khách hàng, không gian dối, lừa đảo - đó là thái độ đối với nghề nghiệp Cho dù chỉ bán rau thôi thì cũng phải nghiêm túc với chất lượng rau của mình “Hay như Bà Một ở Trà Quế chuyên bán rau sống ở chợ Hội An cũng thế, coi nghề bán rau của bà suốt cuộc đời hơn năm mươi năm là một tôn giáo Đã là một tôn giáo thì phải hết sức nghiêm cách” [33, tr.578]

Trang 37

Về cơ cấu bữa ăn, người Hội An thiên về dùng thực vật trong bữa ăn của mình Trong thực vật thì lúa gạo đứng đầu bảng Sau lúa gạo là rau Bữa ăn của người Hội An

không thể không có rau Hội An nổi tiếng nhất là rau Trà Quế (Xem hình 2.1) Hầu hết dân cư Hội An đều dùng rau ở đây, họ

ít dùng rau nơi khác Có lẽ một phần do chất lượng rau và một phần khác do thói quen dùng sản phẩm họ làm ra Trong bữa

ăn hằng ngày của người dân Hội An, thủy hải sản luôn chiếm một phần đáng kể Môi trường sông biển đã ảnh hưởng trực tiếp đến thói quen ẩm thực nơi đây Ngoài chợ, số lượng tôm, cua, cá tiêu thụ thường gấp đôi lượng thịt Trong các loại thức ăn động vật thì cá trở thành một món ăn không thể thiếu trong khẩu phần hằng ngày của dân cư Hội An Cá đóng vai trò quan trọng trong thực phẩm ở đây đến mức người ta gọi khu vực bán thức ăn là chợ cá mặc dù có bán cả thịt Đối với một vùng sông nước như Hội An thì các loại thức ăn như cá, tôm rất phong phú Nguồn thực phẩm này vừa dễ kiếm, vừa tươi nên đã góp phần hình thành nên thói quen ăn nhiều cá của họ

Về đồ uống, người Hội An thường uống rượu, chè và một số loại nước khác Đồ uống được nói đến đầu tiên ở Hội An là rượu Người Hội An dùng nhiều nhất là rượu

gạo (loại rượu được nấu bằng gạo) Loại rượu gạo này do người địa phương sản xuất

“Rượu gạo ở Hội An có vị hơi chua, không quá nặng như “Quốc Lụi”, “Đá Bạc” cũng không quá nhẹ như rượu cúng” [100] Từ rượu gạo người ta có thể ngâm với một số vị thuốc Bắc để làm nên rượu thuốc Một loại rượu khác cũng khá nổi tiếng ở Hội An là rượu nếp Loại rượu này có hai loại: nếp trắng và nếp than Rượu nếp trắng có màu trắng đục như sữa đậu nành loãng Rượu nếp than có màu nâu chín, đục, không trong Loại nước uống thường dùng phổ biến nhất là nước chè Để nấu nước chè, người ta Hình 2.1: Làng rau thôn 1 Trà Quế

(Tháng 12/2012)

Trang 38

dùng loại chè lá phơi khô (chè đen), chè Huế, chè Biển Hồ Đó là những loại chè bình dân được làm từ phần lá, thân hoặc cọng chè phơi khô, bỏ vào từng bao lớn để bán hoặc dùng Người Hội An nấu chè trong những nồi đồng, ấm đất, sau này là ấm nhôm Khi uống, rót chè ra bát hoặc dùng gáo dừa có cán để múc nếu nấu trong nồi Bát uống chè là loại bát tròn, lớn, bằng đất nung, tráng men thô Cho đến nay, loại bát này vẫn được dùng phổ biến mặc dù đã có nhiều loại bát tráng men đẹp, màu sắc lòe loẹt hơn Một loại nước uống khác cũng rất được ưa chuộng ở Hội An là Nước Mát Loại nước này được bán ở chợ hoặc ven đường các khu phố cổ Có lẽ ở Hội An mới còn những người gánh nước bán trong những con phố nhỏ Nước Mát được nấu khá cầu kì với lá trà, vỏ quýt, đậu ván rang vàng và một số loại lá khác nữa Uống Nước Mát thì uống bằng tô loe miệng, lòng nông

Tóm lại, với quan niệm như trên, người Hội An đã tạo cho xứ sở của họ những món ăn đảm bảo chất lượng, ngon đặc trưng và giá cả phải chăng Người thưởng thức những món ăn ở đây sẽ không bị cuốn hút bởi cách trang trí màu sắc sặc sỡ như một số nơi khác, nhưng sẽ rất hài lòng và thích thú với hương vị đặc sắc, đậm đà từ từ ngấm vào người Thức ăn chính trong bữa ăn của người Hội An là cơm - rau - cá Cả ba thứ này đều là những thức ăn dễ tìm và phổ biến ở đây Thức ăn thực vật giữ vai trò chủ yếu trong bữa ăn của người Hội An Đó là cơ cấu bộc lộ rõ dấu ấn của truyền thống văn hóa nông nghiệp lúa nước Người Hội An vẫn uống rượu, nước chè như nhiều nơi trên đất nước ta, nhưng trong cách chế biến vẫn mang nét riêng của con người nơi đây Người ta vẫn rất chú ý đến sự quân bình âm dương để tạo cho đồ uống vừa ngon, vừa đậm đà, lại vừa có lợi cho sức khỏe

2.1.2 Đặc trưng ẩm thực của người Hội An

Trước hết, ẩm thực của người Hội An là sự kết hợp hài hòa Điều này được thể hiện trong cách chế biến, sử dụng nguyên liệu thực vật với động vật, trong cách ăn và nét đa văn hóa

Trang 39

Hầu hết các món ăn ở Hội An đều được chế biến từ nhiều nguyên liệu khác nhau Đó là sự kết hợp giữa các loại rau với nhau Người Hội An rất ít khi dùng một loại rau trong một món ăn Điều này thể hiện trong bữa ăn thường ngày của người Hội

An hay trong những bữa tiệc long trọng Cao Lầu và Mì Quảng là món nổi tiếng nhất ở Hội An thì cũng dùng rất nhiều loại rau củ khác nhau, nhiều gia vị khác nhau, nhiều loại thịt khác nhau Sự kết hợp trong ẩm thực Hội An còn thể hiện ở việc sử dụng nguyên liệu thực vật với động vật Trong hai món nổi tiếng nhất ở Hội An là Cao Lầu

và Mì Quảng, đều xuất hiện sợi mì (nguyên liệu từ gạo - thực vật) với thịt - cá - tôm (nguyên liệu động vật) và rau Để chế biến được món Cao Lầu, người ta dùng đến khoảng 20 loại khác nhau như: có 3 loại củ (cá rốt, cải trắng và su su), 3 loại thịt (ức gà

ta, thịt nạc lưng và nạc dăm), xương, chả lụa, nhiều loại nước khác nhau (giấm đỏ, nước tương, xúp rượu thơm) và nhiều loại rau lá (lá hoàn thánh, ngò, hành lá, hẹ, xà lách) Tất cả được dùng với mì sợi (chế biến từ gạo) Hay như món Mì Quảng là món đặc sản của Quảng Nam nói chung và Hội An nói riêng thì cũng được làm từ rất nhiều nguyên liệu khác nhau: xương heo, xương gà, heo nạc hay ức gà, tôm tươi, đậu phổng rang, bánh tráng mè loại dày, búp chuối hột (chuối sứ), hột điều, chanh, rau xà lách, rau thơm (húng, trà quế), rau muống chẻ, rau đắng, giá sống, hành tím, ngò, tỏi khô, tiêu, đường, bột ngọt, nước mắm Tất cả được dùng với Mì Quảng được chế biến từ gạo Ngoài ra, sự kết hợp hài hòa còn thể hiện trong cách ăn Cũng như bao người Việt khác, mân cơm của người Hội An bao giờ cũng có đồng thời nhiều món: cơm, canh, rau, cá, thịt (xào, nấu, luộc, kho) Suốt bữa ăn là cả quá trình kết hợp các món ăn Trong mỗi một bát cơm, miếng cơm đều có đủ cơm - canh - rau - cá - thịt Khi ăn món Cao Lầu, hay Mì Quảng, người ta thường trộn lẫn mọi thứ đều vào nhau với một ít nước lèo (khác với phở, bún thường dùng nhiều nước), sau đó mới ăn Mỗi một miếng

ăn có đủ mùi vị của rau, thịt, nước lèo Cách ăn kết hợp của người Hội An cũng tác động đủ vào mọi giác quan như người Việt nói chung: “mũi ngửi mùi thơm ngọt ngào

từ những món ăn vừa bưng lên, mắt nhìn vào sắc thái hài hòa của bàn ăn, lưỡi nếm vị

Trang 40

ngon của đồ ăn, tai nghe tiếng kêu ròn tan của thức ăn” [53, tr.193] Cuối cùng, sự kết hợp hài hòa được thể hiện ở nét đa văn hóa trong ẩm thực của người Hội An Một số món ăn nơi đây là kết quả của sự kết hợp phong cách ẩm thực của Hội An với nhiều nơi khác Người ta có thể nhận thấy được bóng dáng của nhiều nét văn hóa khác nhau qua một món ăn Ở đây đã sớm xuất hiện món ăn có nguồn gốc từ nhiều quốc gia Cao Lầu là món ăn nổi tiếng của người Hội An, ngoài sự kết hợp như đã nói ở trên, còn có

cả sự kết hợp, dung hợp về văn hóa từ Trung Hoa và Nhật Bản Tuy là món ăn thực sự của người Hội An, nhưng tên gọi và thịt xá xíu có bóng dáng của ẩm thực Trung Hoa, kiểu ăn nguội lại có nét giống với một món mì ở vùng Icé (Icé udon) của xứ sở Hoa Anh Đào (Nhật Bản) Trong Ẩm thực của người Hội An, không chỉ có món ăn thuần Việt, mà còn có nhiều món ăn có nguồn gốc từ nước ngoài, đặc biệt từ Trung Hoa

“Riêng về văn hóa ẩm thực, có thể nói rằng trong truyền thống ẩm thực “Hội An trăm vật trăm ngon” có sự góp phần rất lớn của bà con người Hoa” [68] Người Hoa đã có công trong việc truyền tải, phổ biến nhiều món ăn cũng như kinh nghiệm ẩm thực từ bên ngoài vào Hội An từ rất sớm Một số tư tiệu cổ cho thấy đến thế kỷ XVII, ở Hội

An đã có những món ăn có nguồn gốc từ Trung Hoa như Bánh Vân Phiến, bún Phúc Kiến , từ Thái Lan như Đậu Xiêm, từ phương Tây như Nho Đồng thời, người Hoa ở đây cũng đã sáng tạo nên một số món ăn mang tính địa phương - trở thành đặc sản - như Xí Mà, Lục Tàu Xá, Lường Phảnh, Hoành Thánh v.v…

Tiếp theo, ẩm thực của người Hội An mang tính cộng đồng Tính cộng đồng thể

hiện trong việc ăn chung trong gia đình, không gian ăn uống ngoài phố và nhiều người biết chế biến, thưởng thức

Vào các bữa ăn, các thành viên trong gia đình ở Hội An thường ăn chung với nhau, vì thế họ có liên quan và phụ thuộc vào nhau Trong bữa ăn của người Hội An bao giờ cũng có một chén nước mắm “Mọi thành viên trong gia đình đều dùng chung những thức ăn đã bày sẵn sàng trên mân chứ không có kiểu chia phần trước” [46, tr.164] Do đó, người ăn phải biết nhường nhịn nhau Cho dù thức ăn ngon đến đâu và

Ngày đăng: 07/05/2021, 17:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w