1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa việt qua những sáng tác âm nhạc của trịnh công sơn

112 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn Hóa Việt Qua Những Sáng Tác Âm Nhạc Của Trịnh Công Sơn
Tác giả Phạm Hoàng Hòa
Người hướng dẫn TS. Đỗ Hương, PGS-TS. Trần Văn Ánh
Trường học Đại Học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh - Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Văn Hóa Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 6,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở trạng thái đó, âm nhạc đã biến thành một chất kích thích làm thăng hoa cuộc sống, và cũng chính trong chiều kích đó, âm thanh đã làm sản sinh ra không ít những tài danh âm nhạc trên to

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HÓA HỌC

PHẠM HOÀNG HÒA

VĂN HÓA VIỆT QUA NHỮNG SÁNG TÁC ÂM NHẠC

CỦA TRỊNH CÔNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC

MÃ SỐ: 60.31.70

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ HƯƠNG PGS-TS TRẦN VĂN ÁNH

Trang 2

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

DẪN NHẬP 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Mục đích nghiên cứu 5

3 Lịch sử vấn đề 5

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 8

5 Ý nghĩa thực tiễn 9

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 9

7 Nội dung luận văn 10

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 12

1.1 Âm nhạc và hướng tiếp cận âm nhạc từ góc nhìn văn hóa 12

1.1.1 Âm nhạc 12

1.1.2 Quan hệ giữa âm nhạc và văn hóa, hướng tiếp cận từ góc nhìn văn hóa 15 2.1 Cuộc đời, sự nghiệp Trịnh Công Sơn và sự gắn bó với văn hóa Việt 18

2.1.1 Cuộc đời 18

2.1.2 Sự nghiệp 21

CHƯƠNG 2 VĂN HÓA VIỆT QUA NỘI DUNG SÁNG TÁC CỦA TRỊNH CÔNG SƠN 31

2.1 Sự thể hiện những triết lý tư tưởng Phương Đông thấm nhuần bản sắc Việt 31

2.1.1 Triết lý âm dương 31

2.1.2 Tư tưởng Phật giáo 35

2.2 Sự biểu hiện tình cảm, tâm hồn Việt 41

2.2.1 Quan hệ với tự nhiên 41

2.2.2 Quan hệ nhân sinh 44

2.2.3 Quan hệ tâm linh 46

2.2.4 Quan hệ với bản thân 49

CHƯƠNG 3 VĂN HÓA VIỆT QUA HÌNH THỨC SÁNG TÁC CỦA 54

TRỊNH CÔNG SƠN 54

3.1 Sự dung hợp giữa giọng điệu trữ tình và tự sự 54

3.1.1 Giọng thổ lộ, giãi bày 54

3.1.2 Giọng chuyện trò, tự bạch 57

3.2 Sự dung hợp giữa chất trữ tình và chất triết lý 59

3.2.1 Thế giới lãng mạng, mộng mơ 60

3.2.2 Thế giới biểu tượng đầy ám ảnh 63

3.3 Sự dung hợp Đông - Tây, truyền thống và hiện đại 65

Trang 4

3.3.1 Từ dòng chảy vô thường đến nhịp hiện sinh 65

3.3.2 Nét trầm tư và tiết tấu mạnh mẽ, năng động 73

3.3.3 Hòa lời chung và sắc giọng riêng 77

KẾT LUẬN 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

PHỤ LỤC 1 89

TRỊNH CÔNG SƠN – MỘT ĐÓA HOA THƯỜNG HẰNG 89

1 Sứ mệnh bất tử của thân phận “cát bụi tuyệt vời” 89

2 Chỗ đứng của nhạc Trịnh Công Sơn trong lòng công chúng 90

3 Diễm xưa trên xứ Phù Tang 91

4 Hai vì sao sáng 92

PHỤ LỤC 2 96

MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA TRỊNH CÔNG SƠN 96

Trang 5

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Có thể nói âm nhạc là món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của con người, nó như một nhịp cầu tri ân nối liền quá khứ với hiện tại, từ trái tim đến trái tim cùng hòa quyện lại trong những cung bậc trầm bổng của từng thanh âm, để rồi cùng hòa điệu vào cuộc sống thực tại Ở trạng thái đó, âm nhạc đã biến thành một chất kích thích làm thăng hoa cuộc sống, và cũng chính trong chiều kích đó, âm thanh đã làm sản sinh ra không ít những tài danh âm nhạc trên toàn thế giới, như: Beethoven, Morzat, Chopin…

Ở Việt Nam, trong đời sống tinh thần người Việt, khi nói đến âm nhạc, người ta không thể không nhắc đến Trịnh Công Sơn, những ca khúc của ông cũng đã tạo ra một

cõi nhạc cho riêng ông, một “Cõi nhạc Trịnh” đã thu hút mọi giới nghe nhạc, từ

những người nông dân bình thường tới giới trí thức, mà ma lực của nhạc Trịnh Công Sơn là sự hòa quyện giữa nốt nhạc và ca từ, một tiết tấu tưởng chừng như là sự đơn điệu và buồn thảm, nhưng lại rất triết lý sâu xa về thân phận con người, về những tư tưởng phương Đông thấm nhuần bản sắc Việt, tâm hồn Việt

Trên cung bậc đó, trong luận văn này, chúng tôi xin được đi vào phân tích một số tác phẩm của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn qua hình thức sáng tác và nội dung ca từ, mà đa phần những sáng tác của ông thể hiện rõ nét tư duy sâu sắc của người Việt Âm nhạc của ông đã ăn sâu trong nhu cầu thưởng thức âm nhạc của người Việt ở khắp mọi nơi,

và âm nhạc Trịnh Công Sơn đã tạo ra một không gian tĩnh mịch, “vô thường” không chung đụng, một “Cõi nhạc” mà khi nhắc đến nó, kháng thính giả đã trân trọng đặt nó trong một thư mục riêng – Nhạc Trịnh, một “cõi âm nhạc” mà trong đó, những nét

tính cách đẹp của văn hóa Việt đã được ông diễn tả bằng tất cả những nỗi niềm khôn nguôi về thân phận mong manh của đời người, để rồi bằng tấm lòng bao dung rộng

mở, Trịnh Công Sơn đã trở thành “Kẻ du ca về thân phận và tình yêu” trên quê hương

mình Và đó cũng là lí do chúng tôi chọn đề tài này: “Văn hóa Việt qua những sáng

tác của Trịnh Công Sơn”

Trang 6

2 Mục đích nghiên cứu

Dựa trên ý nghĩa của ca từ và giai điệu trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn, chúng tôi sẽ cố gắng làm sáng tỏ triết lý sáng tác của Trịnh Công Sơn, từ đó cho phép chúng ta nhận diện được những nét tính cách truyền thống của người dân Việt và những tâm tư, tình cảm của họ

3 Lịch sử vấn đề

Trịnh Công Sơn mất ngày 1 tháng 4 năm 2001, từ đó đến nay có rất nhiều bài báo, chương trình truyền hình, truyền thanh… đăng tải về người nhạc sĩ tài hoa này, tuy nhiên để được ấn bản thành sách thì có vài tác phẩm đáng chú ý sau:

(1) Trịnh Công Sơn - Một người thơ ca, một cõi đi về, của Nhà xuất bản Âm

nhạc, xuất bản năm 2001 Ở tác phẩm này là tập hợp những bài viết ngắn của nhiều tác giả, nó thể hiện cảm xúc của người viết về cuộc đời và những sáng tác của Trịnh Công Sơn, cũng như những nuối tiếc về sự ra đi sớm của người nghệ sĩ tài hoa này hơn là những nhận định mang ý nghĩa khoa học

(2) Như những dòng sông – Tản mạn về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn của Hoàng Tá

Thích, của Nhà xuất bản Văn nghệ, xuất bản năm 2007 Đây cũng lại là một cuốn sách tản mạn về người nhạc sĩ họ Trịnh và những sáng tác của ông được Hoàng Tá Thích

viết và giới thiệu nhân ngày giỗ thứ sáu của Trịnh Công Sơn: “là một thành viên trong

gia đình, tôi xin mạo muội ghi lại đôi điều về anh, như những trang hồi ức gửi đến bạn

bè và những người đã hết lòng yêu mến anh, không chỉ lúc anh còn sống mà cả khi anh đã giã từ cõi tạm.” [Hoàng Tá Thích 2007: 7]

(3) Cuốn chuyên luận của Bùi Vĩnh Phúc, Trịnh Công Sơn ngôn ngữ và những

ám ảnh nghệ thuật, Nhà xuất bản Sài Gòn, xuất bản năm 2008 Bùi Vĩnh Phúc dạy

Anh văn, cũng như ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam tại đại học Mỹ, ngoài ra, ông còn

là một nhà lý luận phê bình văn học Cuốn chuyên luận này được nhiều độc giả văn học quan tâm theo dõi và đánh giá cao, cuốn sách là một nghiên cứu dài hơi và chuyên sâu đầu tiên có tính văn chương về ca từ trong nhạc Trịnh Công Sơn, về ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật của người nhạc sĩ trong một phương pháp luận đặc biệt của tác giả Cuốn chuyên luận này phân tích một số ám ảnh nghệ thuật trong đời sống thực

Trang 7

tế của người nhạc sĩ, cũng như cách dùng từ, ngữ rất đặc thù của riêng Trịnh Công Sơn

mà theo tác giả đó là “cung cách sai sử ngôn ngữ” được in đậm nét trên những sáng tác của người thi sĩ họ Trịnh Qua đó, những ám ảnh về chiến tranh, về sự cô đơn, về

thân phận… trong sự “giằng xé” nội tâm quyết liệt đã quyết định đến cách thức sáng

tác nghệ thuật của Trịnh Công Sơn Bùi Vĩnh Phúc viết:

“Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ, điều đó đã hẳn Nhưng, trên và trước, người nhạc sĩ đó lại chính là một thi sĩ tự trong bản chất và trong cách thế sai sử ngôn ngữ của mình Và chính là từ những dòng ca từ tuyệt đẹp pha lẫn những nét đau đớn xót xa

và rất lạnh lùng của Trịnh Công Sơn mà cuộc đời này đã mở ra chứa chan những điều tuyệt mộng và bi thiết trước mắt nhìn của chúng ta, những người nghe anh Chính vì thế, cho dù đây là một nhạc sĩ tài hoa, điểm nổi bật và đáng nói hơn hết trong nghệ thuật của Trịnh Công Sơn lại nằm trong những hình ảnh mà anh đã nhìn thấy hoặc khám phá ra, cũng như trong cái ngôn ngữ mà anh đã dùng để cất giấu, hé lộ, bật mở, hoặc nâng đỡ những hình ảnh ấy và làm cho chúng cất cánh bay.” [Bùi Vĩnh Phúc

2008: 13]

(4) Hai cuốn sách của Bích Hạnh: Biểu tượng ngôn ngữ trong ca từ của Trịnh

Công Sơn của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, ấn bản năm 2009 và Trịnh Công Sơn, Hạt bụi trong cõi thiên thu của Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, xuất bản 2011 Thực

chất hai cuốn sách này là một cuốn với hai nhan đề và hai nhà xuất bản khác nhau, viết

về ca từ nhạc Trịnh trong hệ thống các biểu tượng: đá, núi, mặt trời, lửa, biển, sông,

ngày, mùa, đời người… Đây là một tác phẩm phân tích ý nghĩa và nội dung ca từ trong

nhạc Trịnh dưới góc độ ngôn ngữ học

(5) Trịnh Công Sơn – Ánh nến và bạn bè của Nhà xuất bản Hội nhà văn, năm

2011 Đây cũng là một cuốn sách với nội dung tương tự như hai cuốn sách Trịnh Công

Sơn - Một người thơ ca, một cõi đi về và cuốn Trịnh Công Sơn – Tôi là ai, là ai, cũng

là những áng văn của nhiều tác giả và bạn bè nhớ về người nhạc sĩ tài hoa họ Trịnh

(6) Trịnh Công Sơn– Cho đời chút ơn của Nguyễn Văn Huân, do Nhà xuất bản

Văn hóa Thông tin phát hành năm 2011 Hai chương đầu, tác giả viết về cuộc đời, sự nghiệp và những sáng tác âm nhạc của Trịnh Công Sơn, những bản tình ca, quê hương

Trang 8

ca, phù sinh ca và ca khúc da vàng… còn sống mãi với thời gian; chương cuối là phần phân tích ảnh hưởng của Thiền Phật giáo lên ca từ của nhạc Trịnh Công Sơn

(7) Trịnh Công Sơn – Tôi là ai, là ai của Nhà xuất bản Trẻ, tái bản năm 2012

Cuốn sách này gồm hai phần: phần một là những áng văn, tản văn, tùy bút, thơ, truyện ngắn của chính ông; phần hai là những bài viết của nhiều tác giả, bằng hữu dưới dạng hồi ức, cảm tưởng… mà phần lớn đã được công bố trên các phương tiện truyền thông

đại chúng, nó gần giống với cuốn sách thứ nhất Trịnh Công Sơn - Một người thơ ca,

một cõi đi về của Nhà xuất bản Âm nhạc, và đôi trang là sự lập lại

(8) Trịnh Công Sơn và Bob Dylan: Như trăng và nguyệt? của John C Schafer

được Cao Huy Thuần giới thiệu và Cao Thị Như Quỳnh dịch, do Nhà xuất bản Trẻ phát hành năm 2012 Đây là một công trình so sánh hai hiện tượng âm nhạc Bob

Dylan ở Mỹ và Trịnh Công Sơn ở Việt Nam, họ được ví như “trăng” trong “nguyệt”

và như “nguyệt” trong “trăng” Vậy thật sự, họ có giống nhau như thế không? Câu trả

lời là không do hai nền văn hóa khác nhau, nhưng họ có những nét tương đồng, như:

là hai nhà thơ, nhưng soạn nhạc; họ gửi gắm tâm sự qua những bài tình ca cảm động được nhiều người yêu thích, nhưng miên man và khó hiểu; cả hai cùng sáng tác những bản tình ca phản chiến, gắn liền sự nổi tiếng cùng với những ca sĩ nữ và danh tiếng của

họ gắn liền cùng với thăng trầm của bao thế hệ; và cả hai cùng chịu ảnh hưởng từ hai tôn giáo lớn trong sáng tác của mình: Bob Dylan với Thiên Chúa giáo và Trịnh Công Sơn với đạo Phật Nhưng với chúng tôi, những người đã đọc tác phẩm này thì đó là cái

mà chúng ta khó có thể mà so sánh tương đồng hay dị biệt, mặc dù, Phật giáo và Thiên chúa giáo đều bắt nguồn từ “sự khổ”, nhưng ở hai thái cực khổ hoàn toàn khác nhau

(9) Luận văn cao học:

Ẩn dụ tri nhận: Mô hình ẩn dụ cấu trúc, trên cứ liệu ca từ Trịnh Công Sơn của

Nguyễn Thị Thanh Huyền thuộc ngành Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn TPHCM, viết năm 2009 Qua ẩn dụ cấu trúc, người viết luận văn tìm hiểu thế giới quan va nhân sinh quan của Trịnh Công Sơn thông qua lăng kính ca từ trong nhạc của ông Với khuôn khổ đó, hng nội dung luận văn, ca từ nhạc Trịnh được xem như là một hệ thống những ý niệm và dựa trên đó tác giả luận văn chọn ra hai ẩn

dụ cấu trúc cơ sở: “cuộc đời là đóa hoa vô thường” và “cuộc đời là cõi đi về”, về kiếp

Trang 9

nhân sinh diễn tiến theo vòng luân hồi của trời đất và tình yêu là cứu cánh duy nhất

cho kiếp người bất diệt, tình yêu bao dung đó đã “rọi xuống trăm năm” cho một “cõi

đi về”

Đề tài cao học: Những bài hát phản chiến của Trịnh Công Sơn của Yoshii

Michiko, được cô bảo vệ vào ngày 2 tháng 7 năm 1991 tại Đại học Paris VII, hay còn gọi là Đại học Jussieu Đó là những hồi ức về nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn được dịch sang tiếng Nhật mà cô được nghe cùng với cha mẹ lúc còn nhỏ và một vài trải nghiệm về những chuyến du lịch đến Việt Nam, đã là động lực cho Yoshii

Michiko viết luận văn này Cô viết: “Bản luận văn này vừa là một bản báo cáo của

những nghiên cứu cá nhân, không phải nhằm mục đích kinh viện, vừa là sự giới thiệu những bài hát phản chiến của Trịnh Công Sơn, để minh chứng đó là những kiệt tác Với mục đích này, điều tốt nhất là nghe trực tiếp những bản nhạc “Trăm lần đọc không bằng một lần nghe”, một bài hát, trước hết là để hát và để nghe chứ không phải

để phân tích Mục đích của tôi mong rằng bản luận văn này sẽ là một người bạn đồng hành tốt khi chúng ta nghe nhạc, và để đánh giá tốt hơn những tác phẩm phản chiến của Trịnh Công Sơn.”

[http://www.thuvien-it.net/home/giaitri/view.asp?cid=2&sid=84&tid=30390]

Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi sẽ cố hết sức của mình trong việc tìm

cách để “dệt” nên một tấm thảm của những đặc trưng mang bản sắc văn hóa Việt

trong hệ thống của nghiên cứu văn hóa học và chồng lên trên nó là một biểu trưng cho nhân cách Việt, một Trịnh Công Sơn, mà phần lớn những sáng tác của ông thể hiện một cách đậm nét tư duy, triết lý người Việt, một kiểu tâm thức chứa đựng những thắc mắc về thân phận và những xung đột cho sự lựa chọn, hay là một cách thức ứng xử với thời cuộc theo quy luật của tạo hóa, quy luật của cái đẹp

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu Văn hóa của người Việt được thể hiện qua những sáng tác âm nhạc của Trịnh Công Sơn

- Giới hạn của đề tài là phân tích những đặc điểm văn hóa dân tộc Kinh ở Việt Nam qua nội dung và hình thức sáng tác âm nhạc của Trịnh Công Sơn, bao gồm

Trang 10

phần giai điệu và ca từ trong toàn bộ các tác phẩm âm nhạc của ông Kể từ ca

khúc đầu tiên: Sương đêm, sáng tác năm ông 17 tuổi; cho đến khi ông mất vào

ngày 01 tháng 04 năm 2001

5 Ý nghĩa thực tiễn

Qua đề tài này, chúng tôi mong muốn góp phần trong việc làm sáng tỏ mạch triết

lý sống của Trịnh Công Sơn trong xuyên suốt những sáng tác của ông một cách có hệ thống, trên nền tảng lý luận của ngành Văn hóa học, từ đó giúp người nghe dễ dàng hơn khi tiếp cận với những tác phẩm của Trịnh Công Sơn trong việc hình dung bản sắc văn hóa dân tộc Việt khi nghe nhạc của ông

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

- Phương pháp mà chúng tôi sử dụng để viết đề tài này là:

(1) Phương pháp hệ thống: để nghiên cứu những đặc điểm văn hóa dân tộc Việt Nam qua những sáng tác âm nhạc của Trịnh Công Sơn một cách toàn diện, chúng tôi

sẽ phân tích những đặc điểm đó qua nội dung và hình thức sáng tác

(2) Phương pháp so sánh: để làm nổi rõ bản sắc của văn hóa Việt Nam trong nội dung và hình thức sáng tác âm nhạc của Trịnh Công

(3) Phương pháp liên ngành: để nghiên cứu một cách trọn vẹn những sáng tác âm nhạc một cách sâu sắc, người viết luận văn cũng đã nhìn ngắm nó từ nhiều góc độ khác nhau trong tư duy của triết học, phân tâm học và mỹ học âm nhạc nhằm làm sáng tỏ những tình cảm trong tâm hồn của Trịnh Công Sơn trên cơ sở nghiên cứu khoa học của các ngành có liên quan

(4) Phương pháp trải nghiệm âm nhạc: để viết luận văn về âm nhạc Trịnh Công Sơn, chúng tôi đã tìm tòi những bản nhạc, băng đĩa nhạc về những sáng tác của Trịnh Công Sơn, sắp xếp chúng trong một thư mục riêng, đọc và nghe chúng một cách thường xuyên Bên cạnh đó, chúng tôi cũng theo dõi thường xuyên các chương trình

âm nhạc về nhạc Trịnh được tổ chức trong và ngoài nước Và ghi chép lại những thông tin liên quan đến nội dung luận văn

Trang 11

(5) Phương pháp xã hôi học: chúng tôi dùng phương pháp quan sát và phỏng

vấn sâu Vì là nghiên cứu mang tính định tính, nên công tác nghiên cứu thực địa được

chúng tôi chú trọng Ở đây, chúng tôi sẽ ‘lê la’ các quán café ở Sài Gòn dành cho giới

trẻ khoảng độ tuổi từ 18 đến 25, và một số quán café dành cho lứa tuổi trung niên khoảng 35 đến 50 Từ hai nhóm tuổi này, chúng tôi sẽ so sánh sự khác biệt trong nhu cầu hưởng thụ âm nhạc và đặc biệt là những ý kiến về nhạc Trịnh Sau khi tập hợp được dữ liệu từ các cuộc phỏng vấn, chúng tôi sẽ xử lý thông tin bằng cách mã hóa các câu trả lời theo một ý đồ nghiên cứu

(6) Phương pháp sử dụng liên văn bản: để giải mã sự liên hệ của các nguồn tư liệu, văn bản khác nhau để tìm ra những ý nghĩa trọn vẹn nhất trong tư duy sáng tác của Trịnh Công Sơn mà nội dung mang dấu ấn bản sắc văn hóa Việt Và phương pháp xếp chồng văn bản: theo Charles Mauron, đây là trường hợp đặc biệt của phương pháp liên văn bản, bằng việc đan kết một cách chằng chịt các văn bản với những trích dẫn khác biệt và bằng kinh nghiệm, cá tính của những người viết luận văn, chúng tôi sẽ nhìn ngắm sự lộ diện của những tầng lớp nghĩa khác nhau từ các trang văn bản được chồng xếp lên nhau, từ đó chiết lọc những nội dung có liên quan đến văn hóa Việt

- Nguồn tư liệu được sử dụng cho đề tài bao gồm: (1) các tác phẩm âm nhạc của Trịnh Công Sơn bằng đĩa nhạc, tập nhạc, video; (2) các công trình lý luận và nghiên cứu văn hóa, âm nhạc Việt Nam, âm nhạc về Trịnh Công Sơn; (3) các tài liệu, sách báo được xuất bản trong và ngoài nước có liên quan đến âm nhạc Trịnh Công Sơn, các

tư liệu trên internet và các website uy tín

7 Nội dung luận văn

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Ở chương này, chúng tôi sẽ giới thiệu một cách khái quát về âm nhạc, phân loại

âm nhạc, từ đó, chỉ ra mối liên giữa âm nhạc và văn hóa, cũng như hướng tiếp cận âm nhạc từ góc nhìn văn hóa

Trang 12

Qua chương này, chúng ta sẽ tìm thấy trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn là sự thể hiện của những dòng tư tưởng Phương Đông, những tình cảm thấm nhuần bản sắc Việt: từ tư duy Phật giáo và triết lý âm dương; đến các mối liên hệ với tự nhiên, nhân sinh, cũng như các mối quan hệ với tâm linh và bản thân, được ghi dấu ấn rõ rệt của tinh thần Việt, triết lý Việt

Chương 3: Văn hóa Việt qua hình thức sáng tác của Trịnh Công Sơn

Qua hình thức sáng tác âm nhạc của Trịnh Công Sơn, người nghe sẽ tìm thấy ở Trịnh sự dung hợp giữa chất trữ tình và tự sự, giữa chất trữ tình và chất triết lý hay là một sự dung hợp giữa văn hóa truyền thống và hơi thở của thời đại cùng hòa điệu chung trong một sắc giọng riêng, đó là âm nhạc Trịnh

Trang 13

Một điều quan trọng hơn nữa là âm nhạc có một đặc trưng điển hình trong khả năng truyền đạt những sắc thái của tình cảm con người một cách tinh tế nhất và có thể gây ấn tượng vô cùng sâu sắc đến người nghe Từ đó, mà âm nhạc có thể cải hóa hay

có vai trò níu giữ nhân cách của con người

Theo Giáo sư Dương Viết Á thì:“Âm nhạc là một loại hình nghệ thuật lấy âm

thanh làm phương tiện diễn tả để phản ánh cuộc sống, đặc biệt là thế giới nội tâm con người.” [Dương Viết Á - Tập 2 2006: 242]

Như vậy, âm nhạc là một loại hình nghệ thuật dùng âm thanh để diễn tả cảm xúc, tình cảm của con người, nó là một loại hình nghệ thuật phong phú về thể loại, kháng thính giả khi lắng nghe một ca khúc nào đó một cách nghiêm túc và sâu sắc thì đều có thể dễ dàng nhận ra bài nhạc đang nghe thuộc thể loại nào Trong thực tế, âm nhạc có thể phân thành nhiều nhóm dựa theo hình thức biểu diễn của nó như: âm nhạc dân gian truyền miệng gồm bộ phận thanh nhạc và khí nhạc; âm nhạc thính phòng do một số nghệ sỹ điêu luyện biểu diễn trong kháng phòng hòa nhạc; âm nhạc giao hưởng viết cho dàn nhạc giao hưởng; âm nhạc viết cho dàn hợp xướng; âm nhạc sân khấu biểu diễn trong nhà hát gồm opera và nhạc kịch; âm nhạc sinh hoạt và giải trí Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể phân chia âm nhạc thành hai nhóm lớn: nhóm thanh nhạc viết cho

Trang 14

giọng hát có đệm và không đệm bằng nhạc cụ, và nhóm khí nhạc viết cho nhạc cụ diễn tấu; và cũng tùy theo hình thức sáng tác và nội dung sáng tác mà ta có âm nhạc theo lối cổ điển hay hiện đại

Ở đây, chúng tôi xin nhấn mạnh đến nhóm thanh nhạc, tức lối diễn xướng âm nhạc có lời ca, một loại hình nghệ thuật âm nhạc lâu đời nhất cùng với tiếng nói của loài người Đó là những bài ca lao động, những điệu hát ru, hay những bài dân ca mộc mạc Trải qua một chặng đường dài, cuộc sống của con người càng trở nên sinh động

và chứa đựng nhiều nỗi lòng cần được diễn cảm, thì thanh nhạc không còn là sự biểu hiện của những tình cảm tự nhiên mà đã trở nên du dương hơn với nhiều cung bậc trầm bổng khác nhau, và đã được các nhạc sỹ chuyên nghiệp diễn xướng trên những khuôn nhạc hoàn chỉnh với bảy cung âm như ngày hôm nay

Trong các tác phẩm thanh nhạc có giá trị chân chính, thì việc làm tăng sức diễn cảm của ca từ bằng giọng hát sẽ tạo nên một sức hút mạnh liệt tác động đến trái tim của kháng thính giả, sức diễn cảm này có thể sẽ là chiếc cầu nối giữa quá khứ và thực tại, giữa thế giới nội tâm của người nghệ sỹ và cảm xúc chân thành đến từ phía người nghe

Trong kho tàng âm nhạc Việt Nam rất phong phú và có lịch sử hình thành từ rất lâu đời Từ các âm điệu trầm bổng của các thể loại dân ca dân gian như: hò, hát ví, hát lượn… đến các thể loại âm nhạc truyền thống có phần nhạc đệm như: hát chèo, hát then, hát ả đào tất cả tạo nên một bức tranh chung đầy màu sắc của âm nhạc Việt Nam Trước khi người Pháp đến Việt Nam, âm nhạc cổ truyền Việt Nam đã có sự định hình và có nề nếp riêng, âm nhạc Việt có lối ký âm mẫu mực và phương pháp giảng dạy rõ ràng Đến khi người Pháp vào Việt Nam, họ đã mang theo một dòng âm nhạc mới mà theo các nhà nghiên cứu âm nhạc đó là dòng nhạc mới kiểu phương Tây, nó xâm nhập vào Việt Nam và được các nhạc sỹ Việt và người dân Việt đón nhận và trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống thường nhật

Theo giáo sư Trần Văn Khê, âm nhạc Việt Nam được phân thành bốn loại:

- Nhạc của dân tộc thiểu số

Trang 15

- Nhạc nhân dân hay dân gian của đại đa số dân tộc Việt Nam

- Nhạc cung đình và nhạc bác học

- Nhạc mới kiểu phương Tây Ở dòng nhạc mới này, chúng ta có thể chia thành

ba giai đoạn : giai đoạn đầu từ năm 38 của thế kỷ XIX đến năm 1954, giai đoạn thứ hai

từ khoảng 1954 đến 1975, và giai đoạn ba từ năm 1975 đến 2009

Trên cơ sở đó, chúng ta có thể xếp những sáng tác của Trịnh Công Sơn vào loại

thứ tư, đó là nhạc mới kiểu phương Tây hay còn gọi là Tân nhạc Tân nhạc Việt Nam

bắt đầu vào những năm 1930, những bài hát đầu tiên được ghi âm theo cách ký âm của

phương Tây được đăng trên tờ Thời nay, chúng được trình diễn trong các tư gia, quán

rượu, rạp hát… Những tên tuổi của lớp nhạc sĩ đầu tiên trong nền âm nhạc Việt Nam phải kể đến, như: ông Nguyễn Văn Tuân, Nguyễn Xuân Khoát, Văn Chung, Lê Thương, Hoàng Quý, Dương Thiệu Tước, Đặng Thế Phong… Dưới ảnh hưởng văn hóa phương Tây thời Pháp thuộc, loại nhạc này bắt đầu phát triển hơn ở những năm

1980, nhiều bài hát Việt Nam kiểu Pháp được phổ biến trong giới trẻ, hoặc bản nhạc Pháp được biên dịch sang tiếng Việt Sau đó đến các bản nhạc Việt, nhưng luôn luôn theo kiểu phương Đông, vào thời kỳ này có hai dòng nhạc chính: những bản tình ca

tạo thành một thể loại được gọi là nhạc tình ca tiền chiến và những bản nhạc đấu tranh cho nền độc lập của đất nước, còn được gọi là nhạc phản chiến

Khi nói đến nền Tân nhạc Việt Nam, thì xu hướng của những nhạc sỹ sáng tác thanh nhạc thời bấy giờ là xây dựng bài hát trên cơ sở nhạc lý âm giai thất cung của Tây Phương, nhưng lại mang phong thái của thang âm ngũ cung của Trung Hoa và

Việt Nam Ngũ âm trong âm nhạc truyền thống Trung Hoa gồm có các âm giai: Cung -

Thương - Giốc - Chủy - Vũ, tương đương với Ngũ hành, theo giáo sư Chailley Jacques

thì ngũ âm tương đương với Fa - Sol - La - Do - Re trong âm nhạc bác học phương Tây, và cùng âm vực với Xang - Xê - Cống – Liu - Ú trong âm nhạc cổ truyền Việt Nam

Trong âm nhạc truyền thống ở các nước Đông Á, những nốt nhạc trong một ca khúc luôn có cao độ tương đối cố định, tuy nhiên, nó không có cao độ tuyệt đối mẫu

Trang 16

mực như trong âm nhạc của các nước phương Tây Còn ở Việt Nam, các ca khúc thanh nhạc thường được dùng những nốt nhạc có cao độ tương đối không cố định, mà theo

nhạc lý, người ta cho là những nốt nhạc trong âm nhạc cổ truyền Việt nam hơi “già” hoặc hơi “non” so với độ cao thấp thông thường một chút Chính cái khoảng già, non

này đã tạo ra một kiểu phong cách sáng tác khác nhau tùy theo cảm hứng của người nghệ sĩ Đó là phong cách sáng tác của dân tộc nằm trong điệu thức của âm nhạc cổ truyền

Như vậy, như một cách vô tình, những người nhạc sỹ Việt thời bấy giờ, tuy học nhạc lý và lối sáng tác Phương Tây, nhưng thần thái âm nhạc lại mang dáng dấp

Á Đông, điều này lý giải yếu tố văn hóa có một vai trò quyết định lên các sáng tác của người nghệ sỹ

1.1.2 Quan hệ giữa âm nhạc và văn hóa, hướng tiếp cận từ góc nhìn văn hóa

Rõ ràng là âm nhạc có mối liên hệ mất thiết với văn hóa, điều đó được Khổng Tử

viết trong Kinh lễ: “Đức chính là thiên tính của con người; còn Âm nhạc là đóa hoa

của đạo đức tỏa sáng” Như vậy, ngay từ thời của khổng Tử, cổ nhân đã rất quan tâm

đến sự ảnh hưởng của âm nhạc đến tâm hồn con người trong xã hội, từ đó họ dùng âm nhạc để phát huy phần lễ nghĩa và trong việc tu thân, dưỡng tính Nó được dùng để chỉ dạy các tiêu chuẩn đạo đức trong xã hội [dẫn theo: http://songnhac.vn/chuyen-dong/muc- luc/goc-nhin-am-nhac/2474-am-nhac-trong-triet-ly-dong-phuong.html]

Theo cổ nhân Trung Quốc, thì âm nhạc, triết lý Âm dương và Ngũ hành có mối quan hệ liên đới với nhau và vì thế tinh hoa của âm nhạc nằm ở Đạo Sự thay đổi của

Âm và Dương, sự điều hòa của lực sống, cũng như thanh âm và nhạc điệu của vũ trụ là

cốt lõi của sự cân bằng trong cơ thể con người Trên cơ sở đó, sự tương sinh, tương khắc là một sự kết hợp đúng đắn giữa nhịp điệu, âm sắc, năng lượng và các nhân tố

khác phản ánh trong cái đạo của Âm Dương

Khi nói đến nền Tân nhạc Việt Nam, là nói đến mối liên hệ giữa nhạc lý thất cung của phương Tây và hệ thống ngũ âm trong âm nhạc cổ truyền phương Đông, và điều đó cũng có nghĩa là ca khúc thanh nhạc Việt nam luôn chứa đựng trong nó khung hình nhạc lý Phương Tây và thần thái âm giai mang âm hưởng Á Đông

Trang 17

Trong âm nhạc cổ điển Phương Tây với cấu trúc theo âm giai thất cung, nên khi lắng nghe một giai điệu hoặc một ca khúc, chúng ta sẽ tìm thấy một điều gì đó cứng cỏi và lý trí trong tư duy âm nhạc của họ, và dù là một ca khúc buồn thì cũng không man mác và đầy tính tự sự như các ca khúc ở Phương Đông Vì thế, khi nghe một đoạn nhạc thanh nhạc cổ điển nào đó của phương Tây, người nghe sẽ lắng nghe được hơi thở của cuộc sống trong một khuôn nhịp mạnh mẽ, dứt khoát và hoàn toàn không có

khoảng nhịp lơi theo kiểu hơi già hay hơi non như trong âm nhạc mang đầy tính tự sự

của người Việt

Đối với âm nhạc Trung Hoa, ngũ âm ứng với ngũ tạng của cơ thể người và dựa trên học thuyết tương sinh, tương khắc để đạt được sự hài hòa giữa Trời, Đất và người

thông qua âm nhạc, và người ta tin rằng đó là một trạng thái lý tưởng Sự khỏe mạnh của thân và tâm là có liên hệ với các nhân tố xã hội, âm nhạc tốt có thể hướng người ta trở thành tốt, và có thể mang lại lợi ích cho sức khỏe Trên tinh thần đó, âm nhạc có thể tăng cường sự điều tiết, khai mở ý tưởng, và điều hòa nhịp tim Cho nên, khi lắng nghe âm điệu của năm âm giai căn bản, người ta có thể tìm ra những ảnh hưởng khác nhau trong thân thể con người, từ đó tùy vào âm giai mà chúng ta thường hay nghe sẽ

ảnh hưởng đến tính cách của chính chúng ta Ví dụ, âm giai của dây Cung được xếp

vào hạng cao thượng, có liên hệ với Thổ, những người thường xuyên nghe loại nhạc

này thì sẽ trở nên lương thiện và nhẫn nhục; Âm điệu của dây Thương thường là cái

âm nghe nặng nề và não lòng, nó giống tiếng kim khí, không bị bẻ cong và vút cao Nếu nghe thường xuyên loại âm giai này thì người ta sẽ trở nên chân chính và thân

thiện; Khi nghe dây Giốc thì là khí của mùa Xuân tới và cảm xúc đánh thức mọi khía

cạnh của đời sống trỗi dậy trong nhịp sảng khoái và lạc quan Cho nên, nghe nó nhiều

thì người ta sẽ trở nên lương thiện và hòa giải; Với dây Chủy làm chủ là điều gì đó rất

sôi nổi về tình cảm, nhưng nhiệt tình, được tượng trưng như Hỏa, điều này khiến cho

người nghe nó trở nên rộng lượng, bao dung; Và âm điệu lấy dây Vũ làm chủ thì u sầu

và lắng động, giống như nước chảy êm đềm, vì thế khi lắng nghe những âm điệu như thế này sẽ làm cho người ta cảm thấy đầu óc được quân bình và thanh thản Một cái gì buồn, nhưng lại không đau khổ, vừa ý nhưng không đi quá mức Tất cả những âm theo từng cung bậc như trên, theo những lời giải thích cặn kẽ của cổ nhân Trung Hoa thì

Trang 18

ngưỡng thái quá của bất cứ một âm vực tình cảm nào mà được âm nhạc diễn tả đến cực độ, thì sẽ có tác dụng ngược lại, nó có thể làm hại đến thân thể và sự lưu thông

năng lượng của khí trong thân thể con người

Trong nghiên cứu về âm nhạc Việt Nam cùng với các đặc thù thực sự của ngũ cung trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, thì rõ ràng các nhạc phẩm danh tiếng đi vào lòng người là những nhạc phẩm mang nhiều vẻ đẹp tình tự của dân tộc, mang những triết lý cuộc sống của con người Việt Nam, gây cho thính giả thưởng thức có những giây phút vừa mới lạ, vừa thân quen gần gũi, dễ dàng được công chúng yêu mến đón nhận Cái mới lạ đó là các yếu tố đến từ âm nhạc phương Tây đã quyện chảy trong cái gần gũi mang đặc tính dân tộc của âm nhạc cổ truyền Việt Nam, tạo nên nét

dân tộc tính trong cá tính âm nhạc của các nhạc sỹ khi làm nghệ thuật

Và đúng như ngành lý luận mỹ học âm nhạc đã khẳng định từ lâu: “Mỗi nhân vật

phải gắn với một dân tộc nhất định, một thời đại nhất định, vì con người không có tính dân tộc không phải là một con người thật sự, mà là một khái niệm trừu tượng Vì vậy,

rõ ràng tính dân tộc trong tác phẩm nghệ thuật không phải là một thành tích, mà chỉ

là một thuộc tính tất yếu của việc sáng tạo.” [Viện nghệ thuật - Bộ văn hóa 1976: 155]

Như vậy, yếu tố văn hóa có vai trò quyết định đến tư duy của người sáng tác Cho nên, khi nghe các ca khúc thanh nhạc của các nhạc sỹ Việt Nam, chúng ta sẽ lắng nghe được hơi thở Việt ở trong đó, và có lẽ, hai giọng điệu chính chi phối toàn bộ các sáng tác của các nhạc sỹ Việt là giọng lãng mạn và trữ tình

Theo Giáo sư Trần Ngọc Thêm: “Âm nhạc và dân ca Việt Nam đều diễn tả tình

cảm nội tâm mang đậm chất trữ tình với tốc độ trầm, âm sắc trầm, và rất chú trọng luyến láy, gợi nên tình cảm quê hương với những nỗi buồn man mác ” [Trần Ngọc

Thêm 1997: 155]

Còn theo Giáo sư Dương Viết Á thì một ca khúc muốn sống được thì phải mãnh

liệt và sâu sắc: “Một mối tình muốn ca lên phải là một mối tình rất say, nhưng ca lên

để đồng bào thấy đó là tiếng ca của lòng mình thì đó phải là một mối tình rất tỉnh – rất say mà rất tỉnh, rất tỉnh táo và cũng rất đắm say Sự thống nhất giữa cái tình và

Trang 19

cái lý chính là đặc điểm tính cách con người Việt Nam.” [Dương Viết Á – Tập 2 2006:

148]

Chính vì thế, khi nghe một loại âm nhạc nào đó, tùy theo giai điệu và tiết tấu của

âm thanh mà tạo cho ta cảm giác hưng phấn hay buồn phiền, ủy mi yếm thế hay lạc quan bay bỗng Trên cung bậc đó, qua những ca khúc của mình, Trịnh Công Sơn đã tạo nên một cõi nhạc cho riêng ông, một cõi nhạc mà người nghe đã gắn nó với cái tên

thật gần gũi “nhạc Trịnh” Nó đã thu hút gần như mọi giới nghe nhạc, từ những người

nông dân chân lắm tay bùn tới giới trí thức ngồi bàn giấy trong và ngoài nước, nó như một ma lực hấp dẫn khó lý giải được Một cái gì đó rất gần gũi, giản dị, nhưng lại rất triết lý sâu xa về thân phận người, là sự hòa quyện trong những cung bậc buồn vui của từng nốt nhạc và ca từ, tạo nên một không gian chỉnh thể chứa đựng những ý nghĩa tiềm ẩn cho cuộc sống hiện sinh của người dân Việt, mà tình yêu và lòng bao dung rộng mở là cứu cánh cho kiếp người

Có thể nói khi nghe nhạc Trịnh, chúng ta sẽ cảm nhận được một không gian tĩnh mịt của phố xá, làng mạc Việt trong sự cổ kính thủy chung của những biểu tượng văn hóa Việt được in dấu ấn rõ rệt ở trong đó Yêu thương mong manh, thủy chung vô bờ bến, kiểu điệu lạc quan trong niềm bi quan sáo rõng và tình yêu đầy bao dung lớn lao

là phẩm chất quý giá nhất của người dân Viêt, họ đang dõi theo nhịp điệu không đổi của lịch sử thăng trầm ngàn đời trên đất Việt

Như vậy, nếu chúng ta dõi theo những sáng tác âm nhạc của Trịnh Công Sơn theo từng thời kỳ lịch sử đất nước cụ thể, thì chúng ta sẽ có thể nghe cảm nhận được nhịp thở của thời đại, và những chuyển biến của thời cuộc theo từng dòng nhạc của ông Nó là tiếng nói riêng của người nghệ sỹ, nhưng lại là suy nghĩ và tình cảm chung của đồng bào mình theo thân phận nổi trôi của dân tộc

2.1 Cuộc đời, sự nghiệp Trịnh Công Sơn và sự gắn bó với văn hóa Việt

2.1.1 Cuộc đời

Trang 20

Hình 1 Chân dung nhạc sỹ Trịnh Công Sơn

[http://upload.wikimedia.orgwikipediavi55bTrinhcongson.jpg] (hình trái)

[http://nikko084.files.wordpress.com/2013/03/ky_niem_trinh_cong_son.jpg] (hình phải)

Trịnh Công Sơn sinh ngày 28 tháng 02 năm 1939 tại Lạc Giao, Đaklak, trong một gia đình gốc Huế Hai năm trước đó, bố mẹ ông lên đây lập nghiệp - năm sau, sinh con trai đầu lòng, nhưng không nuôi được, năm tiếp theo, Trịnh Công Sơn chào đời Ông mất vào khoảng đúng ngọ sáng ngày 01 tháng 04 năm 2001 tại Bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn trong vòng tay yêu thương của người thân và tình bằng hữu

Thân phụ của Trịnh Công Sơn là ông Trịnh Xuân Thanh, là một doanh nhân yêu nước xuất thân là viên chức ngành tư pháp, quê ở làng Minh Hương, xã Hương Vĩnh, huyện Hương Trà, Huế Thân mẫu của Trịnh Công Sơn là bà Lê Thị Quỳnh, một người mẹ đảm đang, vừa là một nghệ sĩ vừa là một nhà văn không chuyên nghiệp và

có cảm nhận rất tinh tế về nghệ thuật

Năm 1943, năm ông được bốn tuổi, gia đình ông trở lại Huế, ở tại vùng Bến Ngự, nơi mà những tiếng chuông chùa và những lời kinh Phật, hàng ngày đã là nhịp gõ đều đặn in vào tâm hồn ông ngay từ thuở ấu thơ này Điều đó lý giải vì sao những ca từ trong nhạc của ông về sau mang đậm dấu ấn của Phật giáo, và giàu chất Huế đến thế

Ông lớn lên ở Huế trong một gia đình trung lưu với tám anh chị em, ông là anh trai lớn trong gia đình Năm ông lên tám tuổi, cả gia đình ông di cư vào Sài Gòn, ông sống và tốt nghiệp tú tài ban Triết tại trường Chasseloup-Laubat tại Sài Gòn Được hấp

Trang 21

thụ nền giáo dục của Pháp, nên ông là một trí thức thấm nhuần văn minh và văn hóa Pháp ngay ở tuổi vị thành niên, điều này góp phần lý giải tại sao tinh thần triết học hiện sinh lại tồn tại sâu thẳm trong tâm thức và trong những sáng tác của ông

Tuổi trẻ của ông là một chàng trai nhiệt huyết, khỏe mạnh và ham thích thể thao Nhưng điều gì sau đó đã đưa ông trở thành một nhạc sĩ buồn bã và bi quan đến vậy?

Năm 1955, khi ông lên mười lăm tuổi, cha ông qua đời trong một tai nạn giao thông, cái chết đột ngột và thảm khốc của người cha xấu số là cú sốc lớn đầu đời ám ảnh thường trực lên tâm thức ông về sự sống và cái chết Tiếp đó, là một tai nạn bất ngờ khi đang chơi đánh võ judo với người em trai, ông té và bị thương nặng ở ngực

Đó là năm 1957, năm ông tròn mười tám tuổi, ông nằm liệt giường trong hai năm trời

Để khuây khỏa nỗi buồn ông đọc ngấu nghiến Apollinaire, Marcel Pagnol, Jacques

Prévert, Rabindranath Tagore, Marcel Proust, Nietzsche, Nikos Kazantzakis, Albert Camus, Jean Paul Satre, Albert Camus… Không dừng ở triết học phương Tây, ông

tiếp cận với văn học dân tộc, ông đam mê Truyện Kiều của Nguyễn Du và triết lý Phật

giáo, ông mày mò thi ca, tìm hiểu dân ca Việt Nam… Ông quyết định chơi đàn guitare

và bắt đầu sáng tác Ông từng thổ lộ: “Khi rời khỏi giường bệnh, trong tôi đã có một

niềm đam mê khác – âm nhạc Nói như vậy hình như không chính xác, có thể những điều mơ ước, khát khao đó đã ẩn chứa từ trong phần sâu kín của tiềm thức bỗng được đánh thức, và trỗi dậy.” [NXB Hội Nhà văn 2011: 77]

Trải qua gần hai mươi năm đất nước trong loạn lạc và chiến tranh tàn phá, nhưng người nhạc sĩ họ Trịnh vẫn ôm trong mình tình yêu máu thịt dành cho quê hương mình Sẽ nhiều người tự hỏi rằng, tại sao ông ở lại Việt Nam? Trước ngày thống nhất đất nước 30 tháng 04 năm 1975, đã có rất nhiều lời mời đưa ông ra nước ngoài của các

hãng Thông tấn quốc tế, nhưng ông nói: “Việt Nam là nơi duy nhất tôi có thể sống và

sáng tác Ở nước ngoài, tôi không nghe ra tiếng nhạc trong đầu mình, tôi không nghe được câu thơ tôi viết ra Tôi thích đi nước ngoài, nhưng nếu ở lâu, tôi sẽ khô cạn và chết mất Hơi ấm của dân tộc Việt Nam giống như nước cần thiết cho hoa vậy.” [dẫn

theo Viet together 2011: Tr%E1%BB%8Bnh-C%C3%B4ng-S%C6%A1n-Cu%E1%BB%99c-%C4%90%E1%BB%9Di-

http://www.viettogether.com/diendan/showthread.php?630-]

Trang 22

Và hiển nhiên là như thế, với tâm hồn Việt và là người con đất Việt, có lẽ, Trịnh Công Sơn không thể sống, sáng tác âm nhạc và làm cho âm nhạc của ông trở nên bất hữu nếu thiếu đi cái hơi âm ruột rà từ đất mẹ Và chỉ trong mối giao cảm thiêng liêng

đó, thì người nghe mới có thể tìm thấy cái chất rất Việt Nam từ những giai điệu buồn thảm, lê thê trong giọng điệu của người nhạc sỹ họ Trịnh

thường trực của kiếp người, về quê hương chìm trong bom đạn… hay chỉ là về một cõi

nhạc Trịnh

Ca khúc đầu tiên được sáng tác vào năm ông 17 tuổi, bài: Sương đêm, Sao chiều,

và Chơi vơi, tiếc thay những tác phẩm đầu tiên này chưa bao giờ được ấn hành và đều

đã bị thất lạc Ba tác phẩm đầu tay này chỉ mang những nét chấm phá cho cuộc đời sáng tác âm nhạc của ông

Cho đến năm 1959, năm ông 21 tuổi, khi tác phẩm Ướt mi của ông được nhà xuất

bản An Phú, Sài Gòn in và phát hành, đó là lúc chính thức đánh dấu một cuộc rong ruổi mới của Trịnh Công Sơn vào mảnh đất tình ca, một nguồn cảm hứng khác đang trào dâng trong ông, nó “như một khu vườn mùa thu yên tĩnh được một cơn gió thổi bùng lên, đánh thức lớp lá vàng dậy, tâm hồn tôi đã bắt đầu biết xôn xao theo những tín hiệu dù nhỏ nhất của cuộc sống Tôi không còn nhìn ngắm cuộc sống một cách lơ đãng nữa, mà càng lúc càng thấy mình bị cuốn hút về những tình cảm phức tạp của con người” Và cũng kể từ đó, ông trở thành “kẻ du ca về thân phận và tình yêu” [Nguyễn Trọng Tạo - Nguyễn Thụy Kha - Đoàn Tử Huyến 2001: 137]

Trang 23

Từ đó trở đi, hàng trăm ca khúc nổi tiếng khác được ra đời cùng với nhiều album

trên băng cassette, băng video, đĩa CD… Năm 1972, ông được Đĩa Vàng ở Nhật Bản với bài Ngủ đi con (trong Ca khúc Da vàng), phát hành trên hai triệu đĩa Và tên ông

đã được ghi trong từ điển Bách khoa Pháp Encyclopédia de tous les pays du monde

Theo nhiều nhạc sỹ và các nhà nghiên cứu nhạc Trịnh, các tác phẩm âm nhạc của Trịnh Công Sơn có thể chia ra thành hai nhóm ca khúc: những ca khúc sáng tác trước năm 1975; những ca khúc sáng tác sau ngày đất nước thống nhất Ở hai nhóm ca khúc này, tùy vào từng thời kỳ lịch sử cụ thể của đất nước với chất giọng tự sự riêng, Trịnh Công Sơn đã để lại dấu ấn rõ rệt những nét tình cảm, tâm tư của người dân Việt qua

âm nhạc của ông

2.1.2.1 Những ca khúc sáng tác trước năm 1975

Tất cả những ca khúc sáng tác trong thời gian này nằm trong hai đề tài chính: Tình yêu, quê hương và thân phận; và dòng nhạc phản chiến

* Đề tài về tình yêu, quê hương và thân phận

Đã từ khi nào không biết, người ái mộ Trịnh Công Sơn đã trao tặng cho ông danh

hiệu – Kẻ du ca về tình yêu, quê hương và thân phận Và đúng vậy, người nghe có thể

dễ dàng tìm thấy sự bộc bạch về tâm tư và thân phận quê hương máu thịt trên dòng nhạc tình ca nhuốm màu u buồn, mà đôi khi lại quá bi quan của ông Ở dòng đề tài này, Trịnh Công Sơn thể hiện rõ tư tưởng Phật giáo và tâm tư tình cảm của dân tộc, nó treo lơ lững trên đó một tình yêu thủy chung vô bờ bến là cứu cánh cho kiếp nhân sinh

Và dường như những điều kiện rối ren trôi theo dòng chảy loạn lạc của đất nước đã là nguồn cảm hứng cho ông trong suốt thời kỳ đầu sáng tác

Dõi theo dòng đề tài này, chúng ta dễ dàng nhận ra những đặc trưng truyền thống

văn hóa Việt đã bao trùm lên toàn bộ các tác phẩm âm nhạc của ông, đó là sự bao

dung rộng mở và tình yêu thương lớn lao mà ông đã dành cho người, cho đời

Từ cuối những năm 50 đến đầu những năm 60, là thời kỳ của những bản tình ca

để đời của ông Như bài hát xưa nhất của ông mà bây giờ chúng ta còn nghe được đó

là bài Ướt Mi, nói về giọt nước mắt thuần khiết của một người con gái, bài hát này

Trang 24

được soạn vào năm 1958 và công bố năm 1959, dựa trên cảm xúc của một nữ ca sĩ vừa

bị mất mẹ, đau buồn và khóc suốt, xúc cảm đó đã gợi cho ông sáng tác bản nhạc tình này Tác phẩm này cho thấy một sự thành công to lớn qua số lượng đĩa bán được Mặt

khác, người con gái hát bài hát này đầu tiên cũng chính là cô ca sĩ ấy - Thanh Thúy, cô

ca sĩ chỉ mới 16 tuổi, đi hát để nuôi mẹ, vì mẹ bị bệnh lao nặng Cô xuất hiện hàng

đêm ở phòng trà Văn Cảnh, Sài Gòn với bài Giọt mưa thu của Đặng Thế Phong, đêm

nào hát bài này cô cũng khóc [Nguyễn Văn Huân 2011: 42]

Đầu thập niên 60 là thời kỳ Trịnh Công Sơn sáng tác rất nhiều bản nhạc tình Ở Huế thuở ấy, Trịnh Công Sơn lại rung động theo hình ảnh một thiếu nữ mảnh mai, con

của một vị giáo sư dạy Pháp văn - Ngô Vũ Bích Diễm, hình ảnh Diễm hàng ngày đến trường đại học Văn khoa Huế Qua bao mùa nắng và qua bao mùa mưa… và Diễm đã

đến một nơi vô định, không hò hẹn, điều đó đã để vương lại mãi trong trái tim ông như

một vết thương không bao giờ lành Với hình ảnh huyền thoại ảo tưởng đó, Diễm của

khung trời thanh xuân thơ mộng, đầy chất Huế đã bước vào ca khúc nổi tiếng của ông

Diễm xưa ra đời, một ca khúc đánh dấu đặc biệt trong cuộc đời sáng tác của ông, một

điều gì đó mong manh trong tình cờ, nhạt nhòa trong kỷ niệm [Nguyễn Văn Huân 2011: 49-54]

Những năm 1961 đến năm 1965, chiến tranh càng khốc liệt Để hoãn quân dịch, Trịnh Công Sơn rời Huế thi vào trường Sư phạm Quy Nhơn, nơi thành phố biển yên

lành này, Trịnh Công Sơn đã sáng tác những bài tình ca nổi tiếng khác, như : Hạ

trắng (1961), Tuổi đá buồn (1961), Nhìn những mùa thu đi (1961), Chiều một mình qua phố (1961), Biển nhớ (1962), Dã tràng ca (1962), Nắng thủy tinh (1963), Vết lăn trầm (1963), Cát bụi (1965) Những tình ca này đã gây kinh ngạc cho mọi giới nghe

nhạc thời đó, những hình ảnh mang đậm nét siêu thực của triết học hiện sinh với những ca từ lạ hóa, độc đáo đã gây sự chú ý và chinh phục cảm hứng người nghe Ở đây, người nghe sẽ tìm thấy được sự dung hợp giữ giọng điệu trữ tình và đầy ấp những nét ưu tư của người nghệ sỹ, nhưng lại mang dấu ấn rõ nét của kiểu sống Việt

Sau đó, là cuộc gặp gỡ định mệnh giữa ông với ca sĩ Khánh Ly, khi cô còn chưa

nổi tiếng và đang biểu diễn tại Đà Lạt, cô ca sỹ Lệ Mai Sau đó cô đã trở thành “Ca sĩ

Trang 25

chuyên hát nhạc Trịnh Công Sơn” và thể hiện thành công những nhạc phẩm của ông

với một nghệ danh mới – Khánh Ly Vào năm 1965 tại Đà Lạt, tình cờ Trịnh Công Sơn nghe Lệ Mai hát trong hộp đêm Tulipe Rouge Rồi Lệ Mai rời Đà Lạt và theo ông

xuống Sài Gòn Trịnh Công Sơn nói về cuộc trùng phùng này: “Gặp gỡ ca sĩ Khánh

Ly là một may mắn tình cờ, không phải riêng cho tôi mà còn cho cả Khánh Ly Lúc gặp Khánh Ly đang hát ở Đà Lạt, lúc đó Khánh Ly chưa nổi tiếng, nhưng tôi nghe qua giọng hát thấy phù hợp với những bài hát của mình đang viết và lúc đó tôi chưa tìm ra

ca sĩ nào ngoài Khánh Ly Tôi đã mời Khánh Ly hát và rõ ràng giọng hát của Khánh

Ly rất hợp với những bài hát của mình Từ lúc đó Khánh Ly chỉ hát nhạc của tôi mà không hát nhạc người khác nữa Đó cũng là lý do cho phép mình tập trung viết cho giọng hát đó và từ đó Khánh Ly không thể tách rời những bài hát của tôi cũng như những bài hát của tôi không thể thiếu Khánh Ly.” [Nguyễn Trọng Tạo - Nguyễn Thụy Kha - Đoàn Tử Huyến 2001: 207]

Vào khoảng cuối năm 1965, trong cái khoảnh sân sau của Trường Đại học Văn khoa, với hàng ngàn sinh viên và trí thức, với chiếc đàn thùng đơn giản của Trịnh Công Sơn và giọng hát mộc mạc, khàn khàn, rè rè của cô ca sĩ Khánh Ly, những bài tình tự quê hương và thân phận con người đã vang lên làm thức tỉnh hàng ngàn khán giả cuồng nhiệt Họ, Trịnh Công Sơn và Khánh Ly trở thành một hiện tượng và rồi trở thành thần tượng của lớp trẻ lúc bấy giờ Trịnh Công Sơn, với dáng người mảnh khảnh trong cặp kính trắng trí thức, giọng Huế nhỏ nhẹ bên cạnh hình ảnh Khánh Ly với mái tóc thẳng dài, đi chân đất và hát với chất giọng da diết, diễn tả nỗi trầm thống vô vọng Hai người đi với nhau tạo nên hình ảnh “đôi lứa”, một đôi trai - gái trong tình bạn hồn

nhiên, trong sáng Sơn nói: “Tôi và Khánh Ly chỉ là hai người bạn Thương nhau vô

cùng, trên tình bạn”, còn Khánh Ly thì viết: “Một mối liên hệ cao hơn, đẹp đẽ hơn, thánh thiện hơn là những tình cảm đời thường.” Họ hát không công, không lấy thù

lao, đã tạo ra một hình ảnh lý tưởng cho nghệ thuật, nhất là nghệ thuật ca hát – mang theo lý tưởng nhân đạo và tình yêu thể hiện sự dấn thân của người nghệ sĩ

[dẫn theo: C%C3%B4ng-%C6%A1n-Cu%E1%BB%99c-%C4%90%E1%BB%9Di-v%C3%A0-T%C3%A1c- Ph%E1%BA%A9m]

Trang 26

http://www.viettogether.com/diendan/showthread.php?630-Tr%E1%BB%8Bnh-Trong một lần trả lời phỏng vấn nhà báo Bùi Văn Phú, Khánh Ly kể lại giai đoạn

cơ cực đói khổ nhưng đầy hạnh phúc trong những năm 60 ấy: “Thực sự tôi rất mê hát

Không mê hát thì tôi không có đủ can đảm để đi hát với anh Sơn mười năm mà không

có đồng xu, cắc bạc nào, phải chịu đói, chịu khổ, chịu nghèo, không cần biết đến ngày mai, không cần biết tới ai cả, mà chỉ cảm thấy mình thực là hạnh phúc, cảm thấy mình sống khi mình được hát những tình khúc của Trịnh Công Sơn” Và cũng từ đam mê

đó, từ quán Văn nhỏ bé nơi khoảnh sân sau trường đại học Văn khoa, Khánh Ly đã

đưa nhạc Trịnh “vút” vào các phòng trà, băng cassette, rồi chinh phục mọi tầng lớp

nghe nhạc mọi thời đại.[Tạp Chí Văn, Cali, số 92, tháng 8/2004]

Đến năm 1966, Trịnh Công Sơn đã thay đổi hoàn toàn kiểu sáng tác nhạc Trong

tuyển tập nhạc đầu tiên của anh ra đời vào thời gian này với tựa đề Ca khúc Trịnh

Công Sơn Thần thoại quê hương, tình yêu và thân phận, phần lớn những tác phẩm

miêu tả nỗi thống khổ của dân tộc trong thời chinh chiến, một kiểu bộc bạch khác của Trịnh Công Sơn

Với Trịnh Công Sơn, âm nhạc là nhịp cầu tri ân nối kết những tâm hồn đơn độc,

và dĩ nhiên, nó chứa đựng trong đó một tình yêu làm thăng hoa những ca từ đẹp, một tình yêu bao gồm trong đó niềm hoan lạc viên mãn và cả những nỗi đau dai dẳng

không bao giờ dứt, ông nói : “Người ta nói trên trái đất không có gì ngoài quy luật cả

Nhưng tình yêu hình như cũng có lúc là ngoại lệ Tình yêu có thể nâng bổng con người, nhưng cũng lắm lúc nhấn chìm kẻ háo hức” Chính nỗi đau và niềm hân hoan

đó sẽ là bào thai cho sự ra đời nhiều tác phẩm âm nhạc của Trịnh Công Sơn sau này [dẫn theo: http://trinhcongsonblog.wordpress.com/category/tan-van]

Và điều đó cũng có ý nghĩa là, nếu không có bi kịch thì sẽ chẵng bao giờ có những tuyệt tác để đời

* Nhạc phản chiến

Trong dòng nhạc này, người người lắng nghe Trịnh Công Sơn sẽ tìm thấy cái tâm lớn hơn của người nhạc sỹ, ông thay mặt đồng bào mình kêu gọi hòa bình từ hai phía của trận chiến khốc liệt Đó là khao khát tồn tại trong tâm trí mọi con người Việt Nam,

Trang 27

một dân tộc luôn ưa chuộng nếp sống bình đẳng, ưa dân chủ, ưa tế nhị, và luôn luôn coi trọng sự hoà thuận

Cả cuộc đời của Trịnh Công Sơn trôi theo hoàn cảnh chiến tranh của đất nước, dân tộc ông Sự xâm lược của Nhật ở phía Bắc Việt Nam, sự trở lại của thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần hai, rồi đế quốc Mỹ đến tham chiến cuộc chiến tranh Đông Dương lần hai… Cuộc đời Trịnh Công Sơn chỉ biết Việt Nam đang

có chiến tranh Vì thế ông luôn luôn là người trốn tránh việc nhập ngũ, từ năm 1963 đến năm 1975, là suốt mười hai năm lang bạt dưới sự săn đuổi của chính quyền Sài Gòn Trong sự bế tắc và u uẩn đó ông đã cho ra đời những bản nhạc phản chiến

Năm 1964, chiến tranh ngày càng ác liệt, bi kịch thời cuộc lại đổ xô lên sự trầm

tư và uất ức về thân thế dân tộc Việt Để trốn tránh lệnh tổng động viên, Trịnh Công Sơn đã nuốt một sản phẩm làm cơ thể mất nước và đã thành công với trọng lượng cơ thể không đầy 30 kg Ông được miễn đi quân dịch, và ông bắt đầu dấn thân vào phong trào chống chiến tranh

[dẫn theo: http://www.thuvien-it.net/home/giaitri/view.asp?cid=2&sid=84&tid=30390]

Năm 1965 quân Mỹ đặt bước chân đầu tiên lên miền Nam Việt Nam, phong trào

đấu tranh của cả nước dâng cao Đề tài phản chiến trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo

trong sáng tác của Trịnh Công Sơn Con người trong chiến tranh, cuộc sống đau đớn, kinh hoàng đầy chết chóc, những người mẹ, người vợ, cụ già và em bé đã trở thành đề

tài của nhiều tác phẩm của ông, như: Gia tài của mẹ (1965), Đàn bò vào thành phố

( ?), Người già em bé (1965), Người con gái Việt Nam (1965), Người con gái Việt Nam da vàng (1965), Du mục (1965), Lại gần với nhau (1965)…

Sau đó Trịnh Công Sơn, xuất bản tuyển tập các bài hát chống chiến tranh nhân

cái Tết kinh hoàng năm 1968, đó là tuyển tập Ca khúc da vàng với nhiều tác phẩm

chống chiến tranh, như: Cúi xuống thật gần (1966), Tình ca người mất trí (1967), Ngủ

đi con (1967), Đại bác ru đêm (1967), Tôi sẽ đi thăm (1967), Ngày dài trên quê hương (1967), Đi tìm quê hương (1967), Hãy nói dùm tôi (1967), Ngụ ngôn mùa đông (1967), Chờ nhìn quê hương sáng chói (1967), Cho quê hương mĩm cười (1967), Hát trên những xác người (1968)… Nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn nổi tiếng khắp thế

Trang 28

giới, Trịnh Công Sơn từ đó trở thành thần tượng, thành kẻ du ca bất khuất trên đất

nước đầy bom đạn

Rồi giọng điệu ca từ của ông trở nên mạnh mẽ hơn trong hai tuyển tập tiếp theo,

Kinh Việt Nam năm 1968 và Ta Phải Thấy Mặt Trời năm 1969, cũng gồm những

bài hát chống chiến tranh, nhưng với một giai điệu khác: Cánh đồng hòa bình (1968),

Dân ta vẫn sống (1968), Chưa mất niềm tin (1968), Đôi mắt nào mở ra (1968), Hãy đi cùng nhau (1968), Đồng dao hòa bình (1968), Chưa mòn giấc mơ (1969), , Chính chúng ta phải nói (1969), Đừng mong ai - đừng nghi ngại (1969), Ta Phải Thấy Mặt Trời (1969)… Ông kêu gọi hòa bình và thống nhất đất nước, trước giọng điệu đó ông

bị chính quyền Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu truy lùng và bắt bớ, nhưng ông được nhiều trí thức và quần chúng cưu mang Trong đó, có đại tá Lưu Kim Cương một sĩ quan cao cấp trong không quân miền Nam Việt Nam đã che chở và giúp đỡ ông rất nhiều trong thời gian khốn khó ấy Sau khi đại tá Lưu Kim Cương mất, ông viết bài

Cho một người nằm xuống để tri ân một người bạn đã từng cưu mang mình

Tiếp theo đó là tuyển tập Phụ Khúc Da Vàng, như: Huế - Sài Gòn – Hà Nội

(1969), Người Mẹ Ô Lý (1971), Đợi có một ngày (1972), Lời ru đêm (1972), Một ngày vinh quang-một ngày hy vọng (1972), Mùa áo quan (1972) … Ông đã viết nhân cuộc

tấn công năm 1972; và tuyển tập nhạc với nhan đề Nhân danh Việt Nam sẽ không bao

giờ được xuất bản vì chính phủ cấm mọi việc xuất bản của nhạc sĩ này kể từ năm

1972 Tuy nhiên, một nhà báo Nhật thường lui tới hộp đêm mà Khánh Ly hát trên

đường Tự Do kể: “Hàng đêm vào đầu giờ, người ta chỉ nghe những bài hát cho phép,

nhưng đêm gần tàn, Khánh Ly bắt đầu hát những bài hát phản chiến của Trịnh Công Sơn, và trên thực tế, công chúng chỉ đến để nghe những bài hát này” Điều đó chứng

tỏ, những bài hát phản chiến của Trịnh Công Sơn dù đã bị cấm đoán, nhưng người dân vẫn hát vang trên khắp phố phường, làng mạc, trong các phong trào thanh niên và ngay cả trong giới sĩ quan cao cấp của chính quyền miền Nam Sài Gòn lúc bấy giờ

Đến năm 1975, đất nước thống nhất, nhạc Trịnh lại chuyển sang một giai đoạn sáng tác với những nhịp điệu khác

2.1.2.2 Những sáng tác sau khi đất nước thống nhất

Trang 29

Tháng 4 năm 1975, chiến tranh chấm dứt, và Trịnh Công Sơn đã ở lại Sài Gòn

Ông hát bài Nối vòng tay lớn trên đài phát thanh Sài Gòn vào buổi chiều cùng ngày, một bài hát đấu tranh cho sự thống nhất đất nước nằm trong tuyển tập Ca khúc da

vàng, được viết năm 1968 Vậy là anh đã không ra đi, bởi vì ông đã sáng tác và hát

cho sự thống nhất của quê hương máu thịt, một logic có lẽ là quá đời thường của riêng người nhạc sĩ họ Trịnh, và cũng là lối tư duy rất chung của người dân Việt Một sự vun

vén, một thứ tình cảm đặc biệt về nơi “chôn nhau cắt rốn” trong tiềm thức

Nhưng do tình hình khá tế nhị trong thời kỳ sau giải phóng và bầu không khí ngột ngạt ở Sài Gòn lúc bấy giờ, người nhạc sĩ họ Trịnh buộc phải quay về Huế Tuy nhiên, sự trở về Huế lại không may đối với ông, ông bị kích động bởi một số phần tử quá khích ngay chính tại quê hương thân yêu của mình Ông rơi vào tình trạng đau khổ, tuyệt vọng và chán chường, ông đã không thể sáng tác được

Có lẽ, cuộc đời nghệ sĩ luôn là những bi kịch Vì hiểu được bi kịch của Trịnh, và biết rõ tài năng, nhân cách của người nhạc sĩ tài hoa này, một nhà lãnh đạo nổi tiếng ở phía Nam đã đánh tiếng gọi ông về lại Sài Gòn Năm 1979, Trịnh Công Sơn từ giã

Huế vào Sài Gòn Năm 1980, ông lại bắt đầu sáng tác Tác phẩm Em còn nhớ hay em

đã quên ra đời trong hoàn cảnh đó, nó thể hiện nỗi nhớ nhung da diết về Sài Gòn dành

cho những người ra đi, nỗi buồn xa xứ và phản ánh triết lý sống thường nhật của người

dân Việt Rồi hàng loạt những bài nổi tiếng khác ra đời, như: Chiều trên quê hương tôi

(1980), Cánh chim cô đơn (1980), Em đến từ nghìn xưa (1980), Đời gọi em biết bao lần (1980) , Em ở nông trường em ra biên giới (1981), Em là hoa hồng nhỏ (1982), Nhớ mùa thu Hà Nội (1984), Huyền thoại mẹ (1985), Hoa xuân ca (1986), Lặng lẽ nơi này (1987)…

Năm 1992, Mẹ ông mất, ông suy sụp hoàn toàn, ông sang Canada thăm những

người em, để mong tìm chút hơi ấm tình thân Ông viết: “Khi một người mất mẹ ở tuổi

50 điều ấy có nghĩa là không còn gì có thể dàn xếp được Cái sa mạc tối tăm đó đã nhấn chìm mọi thứ trong lòng bạn, cứ thế mỗi ngày lan rộng ra và cõi lòng bạn thì tan nát như một cánh đồng xanh tươi vừa trải qua một cơn bão lớn.” [Hoàng Phủ Ngọc

Tường 2004: 9]

Trang 30

Năm 1995, ông sáng tác bài Sóng về đâu, một bài hát nói về tình yêu lấy cảm hứng từ câu kinh Bát nhã mà ông rất thích, : “Yết đế, Yết đế, ba la yết đế, ba la tăng

yết đế, bồ đề tát bà ha”, và Trịnh Công Sơn dịch ra là: “Vượt qua, vượt qua, tất cả chúng ta đều vượt qua, và đến bờ giác ngộ” [Hoàng Tà Thích 2007: 88]

Festival Huế 2000 là một sự kiện văn hóa của cả nước, Trịnh Công Sơn về Huế

tham dự, sau đó, ông trở lại Sài Gòn và ngã bệnh nặng phải đưa vào bệnh viện Ca

khúc cuối cùng ông sáng tác trên giường bệnh là bài Biển nghìn thu ở lại

Ngày 01 tháng 04 năm 2001 Trịnh Công Sơn qua đời, “con chim nhỏ hát chơi

trên đầu ngọn lau” không còn nữa, vết chim hạc để lại trên cõi trần đúng sáu mươi hai

năm Cái chết của Trịnh Công Sơn để lại nhiều tiếc thương của người dân Việt cả trong nước và ngoài nước, hàng triệu trái tim lặng lẽ khóc thương, hàng ngàn người

đưa tiễn sau linh cữu ông, họ cùng nắm tay và hát trong nước mắt bài Cát bụi và Một

cõi đi về theo tiếng kèn thống thiết của Trần Mạnh Tuấn

Người đời đã không phụ ông, Trịnh Công Sơn đã cho cuộc đời trái tim ông, thì

ngày ra đi, người đời đã cho lại ông tất cả: “Tôi ước mơ một ngày nào đó trên hành

tinh này tiếng hát sẽ được trả về với vẻ đẹp thuần khiết của nó Đó là tiếng hát bay qua các lục địa, các đại dương, mang trong lòng nó tình yêu và tình nhân ái Cái sứ mệnh huy hoàng nhất của nó là phải mang được cái thông điệp ấy đến với từng con tim Không những chỉ với những tâm hồn vốn yêu chuộng hòa bình mà cả những con tim đang ngộ độc bởi những ngòi thuốc nổ” [Nguyễn Đắc Xuân 2003: 189-190]

Tiểu kết chương 1

Như vậy, âm nhạc đóng một vai trò quan trọng đời sống tinh thần của con người

và âm nhạc có mối quan hệ mật thiết với văn hoá, qua đó, yếu tố văn hóa có vai trò quyết định đến tư duy của người sáng tác Vì vậy, khi nghe các ca khúc thanh nhạc của các nhạc sỹ Việt Nam, chúng ta sẽ lắng nghe được hơi thở Việt ở trong đó, và có lẽ, hai giọng điệu chính chi phối toàn bộ các sáng tác của các nhạc sỹ Việt là giọng lãng mạn và trữ tình

Trang 31

Qua khái quát về nhạc sỹ Trịnh Công Sơn và những sáng tác của ông, với giọng điệu trữ tình, chúng ta có thể thấy bao trùm lên toàn bộ các tác phẩm âm nhạc của Trịnh Công Sơn sự bao dung rộng mở và lớn lao mà ông đã dành cho đời Dù trong bất

cứ đề tài sáng tác nào, từ sự tụt dốc ê trề của sự sống cá nhân trong đề tài tình yên -

thân phận – quê hương, cho tới sự bế tắt nghẹn ngào của sự tồn vinh của dân tộc trong

dòng nhạc phản chiến, thì lối thoát duy nhất cho mọi hoàn cảnh vẫn chỉ vọn vẹn trong

ý nghĩa của sự thủy chung vuông tròn bất tận Và hơn ai hết, trong hành trình rong rủi trên phận người mong manh, nhạc sỹ Trịnh Công Sơn đã thể hiện tình yêu thương tha thiết đối với cõi trần thế này đến như thế nào, nó day dứt khôn nguôi, nhưng lại hết sức dịu dàng trong trạng thái ung dung, thắm đẫm triết lý nhân sinh và dòng suy tư Việt

Trang 32

Chương 2 VĂN HÓA VIỆT QUA NỘI DUNG SÁNG TÁC CỦA TRỊNH CÔNG SƠN 2.1 Sự thể hiện những triết lý tư tưởng Phương Đông thấm nhuần bản sắc Việt

2.1.1 Triết lý âm dương

Trong đời sống người Việt, cái quy luật “Dương cực sinh âm, Âm cực sinh

dương” này đã thắm thành máu thịt và được dân cư Việt vận dụng như hít thở vậy:

“trong rủi có may”, “trong dỡ có hay”, “trong họa có phúc”, “sướng lắm khổ nhiều”, “bĩ cực thái lai”… Tuy nhiên, cái triết lý quân bình âm dương được uyển

chuyển một cách linh hoạt trong hành xử thực tế của người Việt đôi khi đã trở nên quá

“âm tính”, nó quá nhu mì và cam chịu Và tính cách, lắm lúc quá nhu mì này đã đi vào

trong các ca khúc của người nhạc sĩ họ Trịnh như là một đặc trưng phong cách nhạc của ông

Với người nhạc sĩ họ Trịnh, thì tư duy triết lý Âm dương không chỉ xuất hiện một

cách thoáng qua trong suy nghĩ của ông, mà nó được ông mang, vác rong ruổi khắp

nơi trên cõi trần mà ông đang gửi tạm: “trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt” để từ đó

ánh sáng chân lý sẽ soi rọi cho ông một lối đi về trong cõi tạm bợ này Hai biểu trưng Nhật và Nguyệt xuất hiện với tần xuất khá nhiều trong các sáng tác âm nhạc của Trịnh Công Sơn

Với Trịnh, trong sự nhạy cảm thường trực với đời thường, ông đã chắc chắn rằng

“trong phúc sẽ có họa”, trong cái “phúc” gặp gỡ luôn tiềm tàng cái “họa” của cuộc

chia tay, niềm vui sẽ được nhân lên nhiều lần và tận cùng của nó sẽ là nỗi buồn muôn

thuở Em đến, rồi em sẽ ra đi, rồi “tôi đứng đó một mình”:

“Từ khi trăng là nguyệt tôi như từng cánh diều vui

Từ khi em là nguyệt trong tôi có những mặt trời…

…Từ trăng thôi là nguyệt tôi như đường phố nhiều tên

Từ em thôi là nguyệt tôi xin đứng đó một mình”

(Nguyệt Ca)

Trang 33

Có lẽ, đối với tất cả các nam nhạc sĩ thì hình ảnh người nữ luôn luôn là những

cảm hứng màu nhiệm mà cuộc sống đã mang vào trong hơi thở của nhiều tác phẩm nghệ thuật, nhưng hình như sự đổ vỡ giữa họ mới là nguồn gốc sâu xa cho đỉnh điểm những dòng xúc cảm tuông trào Sáng tác của Trịnh Công Sơn cũng vậy, trong tất cả

các sáng tác của ông, nó luôn thấp thoáng bóng dáng “em” khắp nơi trong tận cùng sự

cô đơn của “tôi” Ông hiểu được sự tha thiết của thường trực đời sống khi có sự tồn tại một cách gần gũi của một người nữ bên cạnh đời mình, một sự gắn bó cần thiết cho nhựa sống của sự sinh sôi của cái tôi trong cõi vô thường theo quy luật sống của ngàn

đời nay

Và đúng như vậy, vì chỉ cần bóng dáng em thoáng qua trong đời tôi thôi thì cũng

là quá đủ để mà tôi thật sự cảm nhận được cái chân hạnh phúc trong đời, em thoáng qua và em ướp hương thơm cho đời tôi, và tôi nghe đời là thiên đường mênh mông:

“Tôi tìm thấy em như giọt nắng kia

Làm hồng chút môi cho em nhờ,

Môi thiên đường hót chim khuyên

Ôi tóc trầm ướp vai thơm

Ta nghe trong đời rất mênh mông…

Em là phấn thơm cho rừng chút hương

Là lời hát ca cho trần gian

Dưới đường phố kia có người nhớ em

Nằm mộng suốt đêm trong thiên đường.”

(Cho đời chút ơn)

Và bởi cũng vì em đã cho tôi quá nhiều Em đã cho tôi ngàn lời trong vạn ngày,

em đã cho tôi quên đi muộn phiền trong cuộc đời, và em, nay đã “ngồi cạnh tôi”:

“Em sẽ cho tôi cho tôi một đời

Em sẽ cho tôi cho tôi một ngày…

Em đã cho tôi cho tôi bầu trời

Em đã cho tôi yêu thêm loài người”

(Em đã cho tôi bầu trời)

Trang 34

Nhưng bởi vì em đến và em đã cho tôi quá nhiều trong cái khoảnh khắc yêu thương đó, rồi em lại chợt ra đi trong cõi vô định, để lại tôi trong bao la của không gian đất trời mà hình như lại quá vô tận đối với tôi:

“Trời cao đất rộng một mình tôi đi, một mình tôi đi

Đời như vô tận một mình tôi về, một mình tôi về, với tôi.”

(Lặng lẽ nơi này)

Vậy liệu, một mình tôi trong cái quáng mắt bao la của trời cao, đất rộng sẽ đi đâu

và về đâu!? Rồi người nhạc sĩ họ Trịnh kia lại tiếp tục ra đi trong đời để tìm kiếm sự

“hội ngộ” trong trùng khơi của “Biển nhớ”, “Tình nhớ”; trong sự cô đơn vô tận của

“Tình xa”, “Tình sầu”: trong sự hoang vu ngàn cơn sóng gọi của “biển nghìn thu ở lại”, rồi tìm thấy mình thật mong manh trên đầu ngọn gió trong “Cỏ xót xa đưa”…

Rồi ông lại tiếp tục tìm kiếm hình bóng người nữ trong cái ngày tàn của mùa

xuân, đến đêm tàn của mùa hạ, và từ lời của tà dương, lời của mộ địa ông chợt nhận ra chân lý của sự quân bình âm dương trong cõi vô thường:

“Mây che trên đầu và nắng trên vai

Đôi chân ta đi sông còn ở lại

Con tinh yêu thương vô tinh chợt gọi

Lại thấy trong ta hiện bóng con người”

(Một cõi đi về)

Trịnh Công Sơn đã sáng tác “Một cõi đi về” với những chiêm nghiệm thật sâu sắc

về thân phận con người nhân một dịp ông về lại Huế năm 1974, ông đến viếng thăm

mộ ông cụ thân sinh dưới chân núi Ngự Bình Ông đã đi rất rất xa từ cõi Huế thân thương để tìm kiếm hình hài thân phận mình, để rồi ngày ông quay về lại nơi chôn nhau cắt rốn này, bên cạnh khoảnh đất nhỏ, nơi một hình hài lớn hơn đã nằm xuống ở bên kia thế giới, để trong cái khoảnh khắc nhàn nhạt đầu thu ấy, lời thì thầm của tà dương và lời của mộ địa đã đánh thức tâm hồn ông trong tiếng vó ngựa ở từ một nơi chốn rất xa đời mình:

“Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi

Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt

Trang 35

Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt

Rọi xuống trăm năm Một cõi đi về

Lời nào của cây lời nào cỏ lạ

Một chiều ngồi say một đời thật nhẹ ngày qua…

Vừa tàn mùa xuân rồi tàn mùa hạ

Một ngày đầu thu nghe chân ngựa về chốn xa”

(Một cõi đi về) [dẫn theo: http://www.tcs-home.org/ban-be/pham-van-dinh/thu-muc-ca-khuc-trinh-cong-son]

Có lẽ, khi nghe ca khúc này, nhiều thính giả sẽ cho rằng, Một cõi đi về của Trịnh Công Sơn mang đậm nét tĩnh mịch của cõi thiền, chứ không mang tư duy của triết lý

âm dương Đúng vậy, trong tâm tư Trịnh, Phật giáo đã trở thành máu thịt của ông rồi,

tuy nhiên, cái tâm thức của nguyên lý quân bình triết lý Âm dương cũng đượm màu

không kém trong thơ và nhạc của ông Và ngay cả đối với chính bản thân ông, ca từ

trong Một cõi đi về, đôi khi cũng khó có thể giải thích một cách thấu đáo, mà nó chỉ có

thể cảm nhận bằng cảm xúc trực giác của trái tim những người yêu và thưởng thức âm nhạc Trịnh Công Sơn

Bởi cái cõi hư vô, không bờ bến của đời thường đã là nơi đến của duyên phận kiếp người, rồi cũng là nơi vô tận của cõi đi về cho một lần chuyển bước qua một thế

giới khác, mà hình như chỉ có thứ ánh sáng chân lý của Nhật nguyệt mới tiềm tàng đủ

trong đó sự dài hơi để chiếu rọi xuyên suốt con đường đầy trắc trở của thường trực đời sống, của cái ngày dài mênh mang và đêm thì cứ mãi vô tận Chân lý ánh sáng đó, sẽ

là đòn bẩy cho sự minh triết trong tâm thức những con người muốn vươn tới chân trời

của sự sống bình yên, của sự quân bình Âm dương, chi phối Một cõi đi về của người

nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trong sự thanh thản của cõi Phật, để tìm kiếm một cứu cánh trong đời

Và chính Trịnh Công Sơn nói về bài Một cõi đi về của mình như sau: “Có một

cõi đến và một cõi về Đến với đời từ hư vô, và một ngày nào đó trở lại với hư vô Biết được trời đất và biết mình để giữ được lòng thanh thản trong chốn đi đi về về ấy…Ai

Trang 36

cũng có một cõi đi về, vì vậy xin có lời chúc bình an cho cuộc hành hương dành riêng cho mỗi người trong cuộc đời này”

[dẫn theo: http://nhactrinhblog.wordpress.com/2010/05/27/m%E1%BB%99t-coi-di-v%E1%BB%81]

2.1.2 Tư tưởng Phật giáo

Trịnh Công Sơn, với ca từ giản dị, trong sáng, âm nhạc của Trịnh Công Sơn đã tạo ra một phức hợp hoành tráng trong nhiều chiều kích thẩm mỹ và tâm linh Một tiết tấu tưởng chừng như mờ mịt, ảm đạm, nhưng lại gợi lên trong ta một sự tĩnh tại của một cõi vĩnh hằng ; một sự kiên nhẫn vô bờ bến của tình yêu thủy chung, ray rứt, nhưng lại thể hiện nhịp đời sinh động, hối thúc Những lời ca vừa gần gũi giản dị như lời tâm tình trong tình yêu, nhưng lại vừa thăm thẳm cho một triết lý sâu xa về thân phận người, tất cả tạo nên một không gian tĩnh mịch của thiền trong tư duy Phật giáo

Có lẽ vì thế mà nhạc của ông thấm đẫm tư duy triết học và đặc biệt là tư duy Phật giáo, nó như đã là sự giải mã cho tâm hồn, cho cuộc sống và bản thân ông Tất cả là sợi chỉ đỏ liên kết xuyên suốt trong toàn bộ cuộc đời âm nhạc của ông, nơi mà ánh sáng đẹp đẽ của ca từ, của giai điệu mượt mà mà mắt thường không thể nhìn thấy được, nơi tồn tại mải mê một cuộc du ca của những ước vọng và nghiền ngẫm về thân

phận người, về một nỗi âu lo thường trực của kiếp người – một cõi nhạc Trịnh và một

kẻ du ca trên thân phận và tình yêu

Chuyện nhà Phật kể rằng: “Ngày xưa, có một con thằng lằn chọn nghiệp… biết

mình sắp viên tịch, vị sư già quyết định đọc một biến kinh sau cùng của đời mình để bày tỏ lòng ăn năn Nhưng biến kinh của ông đã không bao giờ thực hiện được, vì khi sắp đọc hết bài kinh thì ngọn đèn chợt tắt, ánh sáng câm bặt Con thằng lằn đã bò trên mặt bàn, lên dĩa đèn và uống cạn dầu Khám phá ra con thằng lằn, vị sư già mắng nó

là “nghiệt súc” rồi cầm dùi chuông đánh chết nó Linh hồn nó bay về địa ngục, Diêm vương cho nó biết là nó được tự do hóa thân Con thằn lằn khấn nguyện xin đem nó đến đài hoàn vũ và thiêu hủy thân thể nó thành tro bụi Mỗi hạt bụi được tung ra khắp bốn phương trời, sẽ hóa thân thành một tia sáng, soi rọi vào chốn mê lầm của con người.”

Trang 37

Từ cái duyên ấy, có nhiều người đã cho rằng, thưở thiếu thời, vì hoàn cảnh riêng, nên gia đình đã gởi Trịnh Công Sơn vào một ngôi chùa, ở đó, hàng ngày Trịnh Công Sơn đã phải đứng bên vị sư già chùa Thiếu Quang để lật từng trang kinh cho sư phụ đọc Con thằn lằn đã chọn nghiệp từ thưở ấy…

Hình 2 Chùa Thiếu Quang

[Nguồn ảnh : Tác giả luận văn, 22/04/2012]

Có lẽ vậy, dù không là người đam mê nghiên cứu đạo Phật, nhưng ảnh hưởng của Phật giáo về sinh, lão, bệnh, tử đã ăn sâu vào không ít những tác phẩm của ông, dù

có hay không có ý thức

Sinh là sự bắt đầu của kiếp luân hồi, nhưng thời điểm của chữ sinh quá ngắn để

con người kịp nhận thức đầy đủ về sự ra đời của mình Vì thế mà nhà tâm lý học hiện

đại Pháp Merleau Bonty nói rằng: “… không ai có thể sinh ra trước một phút để biết

mình sinh ra như thế nào…” Cho nên, âm nhạc của Trịnh Công Sơn thường ít khi

trực tiếp nói đến sự ra đời, mà chỉ thể hiện qua những hình ảnh hát ru, đó như một cách làm dịu bớt đi ý nghĩa gay gắt của nó:

“… tiếng khóc ban đầu còn đâu, còn đâu…”

(Lời mẹ ru)

Bửu Ý viết: “Trịnh Công Sơn đã chấp cánh cho tư tưởng của anh, và tư tưởng

đó len lỏi vào mọi hóc hẻm của đời sống Cái có đang nằm trong tay, anh đã sống với cái mất nó rồi Đoá hoa nào đi qua lòng anh cũng trở thành đẹp hơn, nhưng đóa hoa

Trang 38

đương độ lại nhuốm vẻ não lòng của héo úa” [Nguyễn Trọng Tạo - Nguyễn Thụy Kha - Đoàn Tử Huyến 2001: 19] Cũng như chiếc lá xanh trên cành mới hé thì trong

mắt Trịnh nó đã nhuốm màu phôi phai Bởi Lão hóa là quy luật tự nhiên của vạn vật

trong vũ trụ:

“ Mùa xuân quá vội, mười năm tắm gội,

giật mình ôi chiếc lá thu phai.”

(Chiếc lá thu phai)

Với Trịnh, trong cõi luân hồi, con người sinh ra đã ấp ủ cảm giác của bệnh tật:

“… ngày thu đông phố xưa nằm bệnh” (Có nghe đời nghiêng), hay “… ngày tháng

trôi qua cơn đau mịt mù” (Hoa vàng mấy độ) Rồi chết là tất yếu, điều này đã ám ảnh

trong mọi giấc mơ đời thường của Trịnh Công Sơn, nó hiện hữu trong nhiều tác phẩm của ông:

“Một lần về thăm quê quán tôi xưa

Một lần nằm mơ tôi thấy tôi qua đời”

(Bên đời hiu quạnh)

“Thí dụ bây giờ tôi phải đi

Tay chia ly cùng đời sống”

(Rơi lệ ru người)

“ Dưới vành môi mọc từng nắm mộ

Dưới chân người cỏ xót xa đưa”

Trang 39

(Cỏ xót xa đưa)

Qua những ca khúc của mình, Trịnh Công Sơn đã tạo ra một cõi nhạc cho riêng ông, một cõi tư duy đặc trưng nổi bật của Phật giáo Việt Nam, một sự dung hợp với các tính ngưỡng truyền thống khác, một sự dung hợp mang xu hướng hài hòa âm dương có phần nữ tính, mang bản chất của nền văn hóa nông nghiệp bản địa - trọng tình nghĩa và trọng văn, vì thế, cái tâm của người Việt đã hòa và bên trong lòng từ bi

hỷ xả của Phật giáo, biến thành tính bao dung đặc trưng trong văn hóa và lẩn khuất trong nếp nghĩ của người Việt Chính sự dung hợp này đã làm cho cõi nhạc Trịnh thu

hút được mọi giới nghe nhạc, từ những người nông dân ít học tới giới trí thức Ma lực của nhạc Trịnh là sự hòa quyện những cung bậc của từng nốt nhạc và ca từ, nó gần gũi, giản dị, nhưng lại rất triết lý sâu xa về thân phận người, và về tâm tính dân tộc

Nguyễn Quang Sáng viết:“Tôi thích những ca khúc của Trịnh Công Sơn nghĩ về

cái sống, cái chết và thân phận con người Tôi nghe, tôi suy ngẫm và muốn tìm hiểu đến tận nguồn.” [Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Đoàn Tử Huyến 2001: 126]

Sống qua cái “cõi tạm”, để rồi chợt nhận ra “cát bụi” lại về với cát bụi:

“Đường nào dìu tôi đi đến cơn say

Một lần nằm mơ, tôi thấy tôi qua đời

Lòng thật bình yên mà sao buồn thế

Giật mình tỉnh ra ồ nắng lên rồi…”

(Bên đời quạnh hiu)

Ta tưởng rằng là bi quan yếm thế, nhưng cuối cùng thì “nắng đã lên rồi”, với cái

nhìn chăm chú vào sự chết, và đằng sau cái chết, liệu có sự tái sinh Một kiếp người, ngẫu hứng là một cuộc rong chơi, để lại trở về hình hài của cát bụi, hay còn lẽ gì lớn hơn Chống chọi với tất cả những nỗi hoài nghi ấy, ca khúc của Trịnh Công Sơn giăng mắc rất nhiều cái bẫy cho mình và cho mọi người, để rồi tìm cách thoát khỏi nó

Trang 40

Âm nhạc của Trịnh Công Sơn viết lên giữa tồn tại và hư vô, mà trên đó ông đã tạo dựng một thế giới riêng cho mình, một cái đạo của cái đẹp, đạo của tình yêu thương, mà ở đó ông đã gợi trọn tâm tư, tình cảm của mình Với Đỗ Minh Tuấn, Trịnh

Công Sơn là một Thiền sư Du ca, ông viết: “Có thể coi anh là một thiền sư, một thiền

sư đã “ngộ” cái phù du tạm bợ của cõi thế và đã lựa chọn trước cho mình những nghi

lễ của nhà Phật để giã từ cõi tạm Âm nhạc của anh là những chiêm nghiệm vừa hàm súc, vừa thăm thẳm về một cõi mà trái tim anh đã bừng ngộ trong tình yêu và nỗi đau…” [NXB Trẻ 2012: 322]

Đối với những người thích rạch ròi và náo nhiệt thì âm nhạc của ông chỉ là những khúc ca đơn giản, nhưng nó lại là một phức hợp, hoành tráng trong nhiều chiều kích của thẩm mỹ và tâm linh Một tiết tấu tưởng chừng như là sự đơn điệu, buồn thảm nhưng lại gợi lên sự tĩnh lặng, phiêu diêu tự tại của một cõi hư vô Lời ca vừa trong sáng, giản dị, lại vừa thăm thẳm như lời kinh cầu Một sự dung hòa giữa các thái cực, yêu thương đời, yêu thương người, yêu quê hương máu thịt và cả cái cảm giác vừa thản nhiên vừa day dứt trước cõi hư vô:

“Sống trong đời sống

Cần có một tấm lòng

Để làm gì em biết không ?

Để gió cuốn đi !”

(Để gió cuốn đi)

Bằng sự nhạy cảm thường trực đối với sự vô hạn của cõi nhân gian và tính hữu hạn trên thân phận người, suy tư đó đã thúc đẩy trầm tư âm nhạc của Trịnh Công Sơn tiếp cận với ý thức về cát bụi Sự lãng du qua cõi đời vô thường đã đưa bước chân Trịnh Công Sơn đến chân lý của sự vĩnh hằng trong sự thường hằng, ở đó, ông đã tìm

ra “một cõi đi về” cho người, cho đời

Phan Hạng viết: “Tôi biết Trịnh Công Sơn có nhiều nỗi buồn kể cả nỗi buồn của

sự nổi tiếng Tuy nhiên, may mà nhờ căn cơ, tâm đạo, bản lãnh và trình độ tu chứng, ông mới có thể hóa giải những hệ lụy nhân sinh để biến thành chiếc lá cỏ, ngồi hát ca

Ngày đăng: 07/05/2021, 17:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bích Hạnh 2009: Biểu tượng ngôn ngữ trong ca từ của Trịnh Công Sơn, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tượng ngôn ngữ trong ca từ của Trịnh Công Sơn
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
2. Bùi Vĩnh Phúc 2008: Trịnh Công Sơn- Ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật, NXB Văn hóa Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trịnh Công Sơn- Ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật
Nhà XB: NXB Văn hóa Sài Gòn
3. Bửu Ý 2003: Một nhạc sĩ thiên tài, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một nhạc sĩ thiên tài
Nhà XB: NXB Trẻ
4. Daisetzteitaro Suzuki 1998: Thiền luận, NXB TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiền luận
Nhà XB: NXB TPHCM
5. Đỗ Lai Thúy dịch 2004: Phân tâm học và văn học nghệ thuật, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tâm học và văn học nghệ thuật
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
6. Friendrich Nietzsche 2008a: Bên kia thiện ác, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bên kia thiện ác
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
7. Friendrich Nietzsche 2008b: Zarathustra đã nói như thế, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Zarathustra đã nói như thế
Nhà XB: NXB Văn học
8. Gail M. Trésdey, Karsten, Richard 2001: Truy tầm triết học, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truy tầm triết học
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
9. Jean Victor Hocquard 1958: Mozart, Editions du Seuil Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mozart
10. J.P. Charrier 1974: Phân tâm học, NXB Trẻ, 1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tâm học
Nhà XB: NXB Trẻ
11. John C. Schafer 2012: Trịnh Công Sơn – Bob Dylan, Như trăng và nguyệt, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trịnh Công Sơn – Bob Dylan, Như trăng và nguyệt
Nhà XB: NXB Trẻ
12. Hạnh Chiếu 2008: Phật ở trong tâm, NXB Tổng hợp TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật ở trong tâm
Nhà XB: NXB Tổng hợp TPHCM
13. Hoàng Phủ Ngọc Tường 2004: Trịnh Công Sơn và cây đàn lya của hoàng tử bé, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trịnh Công Sơn và cây đàn lya của hoàng tử bé
Nhà XB: NXB Trẻ
14. Hoàng Tá Thích 2007: Như những dòng sông, NXB Văn nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Như những dòng sông
Nhà XB: NXB Văn nghệ
15. Kim Định 1975: Triết lý giáo dục, NXB Ca dao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý giáo dục
Nhà XB: NXB Ca dao
16. Lê Văn Hảo - Trịnh Cao Tưởng 1985: Huế, NXB Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huế
Nhà XB: NXB Văn hóa
17. Lê Xuân Khoa 1965: Nhập môn triết học Ấn Độ, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn triết học Ấn Độ
21. Nguyễn Đăng Duy 1998 : Nho giáo với văn hóa Việt Nam, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo với văn hóa Việt Nam
Nhà XB: NXB Hà Nội
22. Nguyễn Đắc Xuân 2003: Có một thời như thế, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Có một thời như thế
Nhà XB: NXB Văn học
23. Nguyễn Tấn Đắc 2000: Văn hóa Ấn Độ, NXB TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Ấn Độ
Nhà XB: NXB TPHCM

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w