1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa tổ chức đời sống của người mạ

189 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn Hóa Tổ Chức Đời Sống Của Người Mạ
Tác giả Trần Tuấn Anh
Người hướng dẫn PGS.TS. Phan Xuân Biên
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh - Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Văn Hóa Học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2013
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 189
Dung lượng 13,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công trình đã đưa ra những nét khái quát cơ bản về các tộc người thiểu số ở Lâm Đồng, đặc biệt trong công trình này có các chuyên khảo về người Mạ của các tác giả: Phan Ngọc Chiến, Một s

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN TUẤN ANH

VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI MẠ

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HOÁ HỌC

MÃ SỐ: 603170

Hướng dẫn khoa học PGS.TS Phan Xuân Biên

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013

Trang 2

Mục lục

MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Mục đích nghiên cứu 8

3 Lịch sử nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 16

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 17

7 Bố cục luận văn 18

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 19

1.1 Cơ sở lí luận 19

1.1.1 Các khái niệm 19

1.1.2 Các lí thuyết tiếp cận 23

1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 26

1.2.1.Tỉnh Lâm Đồng 26

1.2.2 Địa bàn khảo sát nghiên cứu-huyện Đạtẻh 28

1.2.3 Người Mạ ở Đạtẻh 30

Tiểu kết chương 1 36

Chương 2 VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MẠ 37

2.1 Tổ chức cư trú 37

2.1.1 Theo huyết thống 37

2.1.2 Theo địa vực 44

2.2 Tổ chức hoạt động mưu sinh 49

2.2.1 Kinh tế chiếm đoạt 49

2.2.2 Nông nghiệp 51

Trang 3

2.2.3 Thủ công nghiệp 57

2.3 Đặc trưng văn hoá tổ chức đời sống cộng đồng người Mạ 61

2.3.1 Tính cộng đồng 61

2.3.2 Tính tự quản 62

2.3.3 Tính hòa hợp với thiên nhiên 62

Tiểu kết chương 2 64

Chương 3 VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CÁ NHÂN NGƯỜI MẠ 65

3.1 Tín ngưỡng 65

3.2 Phong tục, tập quán 68

3.2.1 Nghi lễ vòng đời người 68

3.2.1.1 Sinh nở và đặt tên cho trẻ 68

3.2.1.2 Trưởng thành 70

3.2.1.3 Hôn nhân 72

3.2.1.4 Tang ma 80

3.2.2 Nghi lễ nông nghiệp 84

3.2.3 Đặc trưng phong, tục tập quán của người Mạ 87

3.3 Văn hoá giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ 89

3.3.1 Đặc trưng văn hoá giao tiếp của người Mạ 89

3.3.2 Đặc trưng nghệ thuật ngôn từ của người Mạ 91

3.4 Nghệ thuật thanh sắc và hình khối 93

3.4.1 Đặc trưng nghệ thuật thanh sắc của người Mạ 93

3.4.2 Đặc trưng nghệ thuật hình khối của người Mạ 97

3.5 Đặc trưng của văn hóa tổ chức đời sống cá nhân của người Mạ 99

3.5.1 Tính thiêng liêng 99

3.5.2 Tính thế tục 99

Trang 4

Tiểu kết chương 3 101

KẾT LUẬN 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

PHỤ LỤC 112

Trang 5

Xin cảm ơn các anh chị và các bạn đã giúp đỡ tôi trong thời gian qua

Xin cảm ơn mọi người thân đã thông cảm và chia sẻ với tôi

Ngày 30 tháng 08 năm 2013

Trần Tuấn Anh

Trang 6

Lời cam đoan

Tôi cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân Kết quả nghiên cứu trong luận văn này chưa từng được công bố Luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, các công trình nghiên cứu, các tạp chí và các trang thông tin điện tử theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn

Tác giả luận văn

Trần Tuấn Anh

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam là một quốc gia đa tộc người, bao gồm 54 tộc người sống hòa hợp với nhau Người Mạ là một trong những tộc người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, cư trú tập trung ở tỉnh Lâm Đồng, ngoài ra còn

có một số cư trú ở các tỉnh Đắk Nông, Đồng Nai, Bình Phước, v.v…

Theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Mạ ở Việt Nam có dân số 41.405 người, cư trú tại 34 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố, nhưng cư trú tập trung tại tỉnh Lâm Đồng (31.869 người, chiếm 77,0 % tổng số người Mạ tại Việt Nam), ngoài ra cũng có khá đông người Mạ cư trú ở Đắk Nông (6.456 người) và Đồng Nai (2.436 người)

Tộc người Mạ là cư dân bản địa của khu vực Nam Tây Nguyên - Đông Nam

Bộ Trong lịch sử tồn tại và phát triển, tộc người Mạ đã từng là một tộc người phát triển phồn thịnh, từng được coi là chủ nhân của “vương quốc Mạ” Cư dân Mạ ở khu vực Nam Tây Nguyên - Đông Nam Bộ nói chung có truyền thống văn hóa phong phú, thể hiện sống động trong đời sống sinh hoạt hàng ngày

Văn hóa giữ vai trò quan trọng trong đời sống các tộc người nói chung và cộng đồng người Mạ nói riêng Văn hóa góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của một dân tộc, một quốc gia Văn hóa bao gồm tất cả những quan niệm sống, các sinh hoạt hàng ngày, cách thức tổ chức đời sống hàng ngày, tổ chức cộng đồng cư trú, cách thức sản xuất, các nghi lễ trong đời sống con người v.v… Những yếu

tố đó tạo nên văn hóa đặc sắc của mỗi tộc người, góp phần làm nên sự đa dạng của văn hóa Việt Nam đa tộc người

Tộc người Mạ có nền văn hóa truyền thống lâu đời, tiếp nối qua các thế hệ, tạo nên một nét văn hóa độc đáo góp phần hình thành nên nền văn hóa đa dạng và thống nhất của các dân tộc Việt Nam

Trong xu thế phát triển chung hiện nay, với sự phát triển về nhiều mặt, trong đó yếu tố kinh tế, xã hội đã tác động đến cộng đồng Mạ Các tộc người cộng cư cũng đã

Trang 8

có những ảnh hưởng làm biến đổi nhất định các giá trị văn hóa của họ Việc sưu tầm,

nghiên cứu và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của người Mạ là vấn đề cấp

thiết hiện nay Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài Văn

hóa tổ chức đời sống của người Mạ làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học

2 Mục đích nghiên cứu

Luận văn làm rõ văn hóa tổ chức đời sống cá nhân và văn hóa tổ chức đời sống

cộng đồng của người Mạ Qua đó nhận diện những giá trị văn hóa người Mạ trong

truyền thống cũng như trong quá trình phát triển hiện nay

Với xu thế phát triển và với những tác động của môi trường tự nhiên, xã hội,

giao lưu tiếp biến văn hóa của các tộc người cộng cư đối với người Mạ hiện nay, văn

hóa tổ chức đời sống của người Mạ đã có những thay đổi so với thời gian trước giải

phóng, thống nhất đất nước (1975) Luận văn mong muốn tìm hiểu những biến đổi đó

có ảnh hưởng như thế nào đối với cộng đồng người Mạ nói chung và văn hóa tổ chức

đời sống của người Mạ nói riêng

3 Lịch sử nghiên cứu

Nghiên cứu các tộc người nói chung và việc nghiên cứu tộc người Mạ nói riêng

đã được nhiều nhà nghiên cứu trong nước cũng như ngoài nước tiến hành từ rất lâu

Trong đó có rất nhiều công trình và bài viết đã được công bố, có thể nêu ra những công

trình nghiên cứu sau đây:

3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Từ những năm đầu của thế kỷ XX, công việc nghiên cứu cộng đồng người Mạ

phần lớn đều do các nhà nghiên cứu người Pháp thực hiện

Người đầu tiên phải kể đến là Adelé với công trình Renseignement recueillis sur

les coutumes des Ma de B'sre, Archives de la province de Haut Donnai (Chỉ dẫn việc

thu thập phong tục của người Mạ ở B'sre), Djring 1932 [83] Tác giả đã thu thập và

phân tích khá kĩ những phong tục của người Mạ

Kế đến là tác giả J Boulbet, một người được xem là nhà nghiên cứu chuyên sâu

với những công trình xuất sắc về tộc người Mạ vào những năm 50 - 60 của thế kỉ

Trang 9

trước Năm 1957, ông xuất bản tác phẩm Quequees aspects du Coutumier (Ndri) des

Cau Maá “Vài phương diện của bộ luật tục N’Dri người Mạ” [84], công trình đã ghi chép và phân tích khá tỉ mỉ luật tục của người Mạ ở khu vực Đồng Nai Thượng, bao gồm các qui định về hôn nhân, về tập quán sinh hoạt của cộng đồng Đây là nguồn tài liệu để chúng tôi tìm hiểu phong tục tập quán, đời sống cộng đồng Mạ Công trình tiếp

theo của ông là Trois Légendes Maa’ (Ba truyền thuyết Mạ) [85] viết về những truyền

thuyết của người Mạ Năm 1960, công trình Description de la végétation en Pays

Maa’ (Mô tả thảo mộc xứ Mạ) xuất bản ở Paris [87] Một công trình khác cũng được

xuất bản trong năm là Bordee au Rendez – vous des Génies (Men theo điểm hẹn với

thần linh) [86], trong đó mô tả một lễ hiến tế trâu của người Mạ ở làng Bordee, những nghi thức cúng tế và những lời khấn đã được ghi chép rất chi tiết Đây là một nguồn tài liệu cần thiết cho chúng tôi Qua công trình này, chúng tôi có thể hình dung được những sinh hoạt đời sống tinh thần của người Mạ trước đây Đến năm 1984, công trình

Forêt et pays (Rừng và xứ sở) được in trong BEFEO [91] là tài liệu giúp chúng tôi tìm hiểu thêm về hệ thống rừng cùng với những quan niệm về rừng của người Mạ Công

trình Modes et Techniques du Pays Maa (Phương thức và kỹ thuật của xứ Mạ) [88],

viết về những quan niệm thẩm mĩ, những kiểu và cách thức làm đẹp, cùng với những

kĩ thuật dệt của người Mạ Tài liệu này giúp chúng tôi có được những cơ sở khoa học

khi nghiên cứu về văn hóa nghệ thuật hình khối và thẩm mĩ của người Mạ Bài viết Le

Miir, Culture itinérante avec jachère forestiere en Pays Maa’ (Miir, du canh với đất rừng bỏ hóa ở xứ Mạ) [89], nghiên cứu việc canh tác lưu động (du canh) với đất rừng

bỏ hoang ở xứ Mạ, trong đó cách thức trồng tỉa được mô tả một cách chi tiết trong bài viết là nguồn tài liệu cho chúng tôi Một công trình khác đã được J Boulbet bỏ công sưu tầm và nghiên cứu khá sâu sắc cũng là nguồn tài liệu cần thiết cho nghiên cứu luận

văn của chúng tôi là Dialogue Lyrique des cau Maa' [90], bao gồm những khúc hát tâm tình nổi tiếng của những chàng trai xứ Mạ, với 200 câu hát được sưu tầm trực tiếp

từ những Kôong, K’Yai, từ đó đã khắc họa bức tranh sinh hoạt của trai gái vùng người

Mạ Năm 1967, công trình Pays des Maa' Domaine des génies, Nggar Yang (Xứ người

Mạ, lãnh thổ của thần linh)[92], mô tả rất chi tiết toàn bộ xứ Mạ gồm nếp sống, phong tục, tập quán, các dòng họ, các bài tình ca, v.v Đây là những tài liệu giúp chúng tôi tìm hiểu rõ hơn toàn bộ cuộc sống vùng người Mạ

Trang 10

Ngoài Adelé và J.Boulbet là những tác giả có công trình chuyên khảo về người

Mạ còn có các tác giả như J Dournes với các công trình: Chants antiques de la

Montagne (Cổ ca miền núi) [98], Structure sociale des Montagnards du Haut-Donnai,

Tribu des Riziculteurs (Cấu trúc xã hội của người miền núi ở Đồng Nai thượng, bộ lạc những người làm ruộng) [97], Les Populalations Montagnardes du sud Indochinois

(Các tộc người miền núi Nam Đông Dương) [99]; G Condominas: Nous avons mangé

la forêt (Chúng tôi ăn rừng) [95], Không gian xã hội vùng Đông Nam Á [96] Các công trình nói trên dù không viết riêng về người Mạ nhưng đã giúp chúng tôi nhiều tài liệu cần thiết như những khái niệm và những quan điểm về không gian xã hội, không gian sinh sống, cách thức sinh hoạt trong đời sống kinh tế, đời sống văn hóa tinh thần, nghệ thuật, môi trường sinh thái v.v…

3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Việc nghiên cứu các tộc người thiểu số nói chung, tộc người Mạ nói riêng cũng

đã được các nhà nghiên cứu trong nước thực hiện từ rất lâu Trong đó gồm có Gia

Định Thành thông chí [27] của Trịnh Hoài Đức biên soạn vào khoảng đầu thế kỉ thứ

XIX, Đại Nam Nhất thống chí tỉnh Biên Hòa [19], Phủ biên Tạp lục [25] của Lê Quý Đôn, Phương đình dư địa chí [54] của Nguyễn Siêu là những công trình đầu tiên

nghiên cứu về những vấn đề “thổ dân”, “man sách”, “máu” ở khu vực Đông Nam

Bộ Mặc dù các công trình nghiên cứu này không nghiên cứu và đưa ra những tài liệu

cụ thể về người Mạ nhưng dựa vào những công trình này chúng tôi có thể nghiên cứu

để tìm ra những dấu tích lịch sử của cư dân Mạ

Năm 1970, trong Tập san Sử Địa số 19, Sài Gòn đã in bài nghiên cứu của tác

giả Bình Nguyên Lộc Việc mãi nô dưới vòm trời Đông Phố [34], viết về việc mãi nô ở vùng đất Nam Bộ xưa, về tộc người và ngôn ngữ Mạ Mặc dù vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, song đây cũng là tài liệu để chúng tôi tham khảo và so sánh trong quá trình thực hiện luận văn này

Từ sau năm 1975 đến nay, việc nghiên cứu đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị của các tộc người ở Tây Nguyên nói chung và người Mạ nói riêng cũng đã được các nhà Dân tộc học triển khai nghiên cứu

Đầu tiên phải kể đến là các nghiên cứu của Phan Xuân Biên: Một số ý kiến về

Trang 11

thành phần dân tộc của cư dân bản địa Lâm Đồng [6] được công bố trên tạp chí Dân

tộc học năm 1977, tiếp theo là nghiên cứu Những vấn đề dân tộc học vùng Lâm Đồng

[7] công bố vào năm 1979 Các nghiên cứu trên đã đưa ra những nét khái quát về các tộc người cư trú và sinh sống trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong đó có tộc người Mạ

Năm 1983, công trình Những vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng [29] do Mạc Đường chủ biên được công bố Công trình đã đưa ra những nét khái quát cơ bản về các tộc người thiểu số ở Lâm Đồng, đặc biệt trong công trình này có các chuyên khảo về

người Mạ của các tác giả: Phan Ngọc Chiến, Một số vấn đề dân tộc học nông nghiệp ở

vùng người Mạ tỉnh Lâm Đồng; Phan Xuân Biên, Xã hội cổ truyền của người Mạ qua

một số đặc điểm hôn nhân gia đình; Nguyễn Đình, Một vài nét về văn hóa tinh thần

của người Mạ; Phan Ngọc Chiến - Phan Xuân Biên, Người Mạ Cũng trong năm này, Viện Dân tộc học xuất bản Sổ tay về các Dân tộc ở Việt Nam [79], trong đó chú giải tỉ

mỉ về đặc điểm nhân chủng, ngôn ngữ, tộc danh v.v… của người Mạ Đây là kết quả của các chuyến điền dã, nghiên cứu các tộc người ở tỉnh Lâm Đồng Nội dung nghiên cứu sâu về những đặc điểm môi trường địa lí, quá trình hình thành các tộc người của

cư dân vùng đất này

Năm 1984, Viện Dân tộc học Việt Nam đã công bố công trình nghiên cứu Các

dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam)[21], viết về những đặc điểm văn hóa truyền thống của các tộc người cư trú ở các khu vực phía Nam tổ quốc, trong đó có tộc người Mạ ở Lâm Đồng

Công trình Địa chí tỉnh Lâm Đồng [76] có phần viết về các dân tộc ít người ở

Lâm Đồng, trong đó có người Mạ Năm 1986, cuốn Truyện cổ Mạ [67] của tác giả Tạ Văn Thông ghi chép tỉ mỉ các truyện cổ Mạ được tác giả sưu tầm trực tiếp từ cộng đồng người Mạ ở Lâm Đồng

Năm 1987, Võ Quang Trọng với bài viết Truyện cổ Mạ [71], trong đó đã công

bố nhiều tư liệu về truyện cổ Mạ Tuy nhiên, với dung lượng có hạn, bài viết chỉ nêu những nét chung, khái quát chứ không đi vào cụ thể từng truyện cổ một

Năm 1989, trên Tạp chí Dân tộc học có in bài của các tác giả Phạm Văn Lý,

Lâm Tuyền Tỉnh, Khai thác, giới thiệu và phát huy vốn văn hóa văn nghệ truyền thống

của các dân tộc gốc ở Lâm Đồng [36], đề cập đến việc phát huy những loại hình văn

Trang 12

học dân gian của các dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng trong cuộc sống hiện đại, các loại hình văn học dân gian của các tộc người thiểu số, trong đó có người Mạ

Năm 1997, Ngô Văn Lệ và nhóm tác giả đã công bố công trình nghiên cứu Văn

hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam [33], trình bày khái quát về văn hóa các tộc người thiểu số, trong đó nêu lên những đặc trưng văn hóa của họ

Năm 1998, nhạc sĩ Trần Viết Bính (Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Đồng

Nai) đã sưu tầm và ghi âm 34 bài dân ca Châu Mạ, cho ra đời tác phẩm Dân ca Châu

Mạ [10] trong đó có phần kí xướng âm của chính mình

Năm 1999, tác giả Trần Sỹ Thứ công bố công trình Dân tộc - Dân cư Lâm Đồng [69], công trình “Điều tra di sản văn hóa Mạ, Chu Ru” do Sở Văn hóa Thông

tin Lâm Đồng chủ trì [57], công trình Văn hóa truyền thống K’Ho - Mạ [73] do Trung tâm Kinh tế - Văn hóa - Xã hội Tây Nguyên - Đại học Đà Lạt chủ trì, đã cung cấp những tài liệu cụ thể và chi tiết và về văn hóa truyền thống của người Mạ, người Chu

Ru và người K’Ho ở Lâm Đồng Mặc dù các công trình này có tính chất nghiên cứu định lượng, chưa đi sâu vào phân tích, nhưng đây cũng là nguồn tài liệu giúp chúng tôi nghiên cứu

Năm 2000, thực hiện chương trình mục tiêu 4 của Bộ Văn hóa Thông tin về bảo tồn văn hóa Phi vật thể, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Đồng Nai - Nhà Bảo tàng Đồng

Nai đã tiến hành sưu tầm và biên soạn công trình Khảo luận Tâm Pớt (Loại hình hát kể

của người Mạ ở Đồng Nai) [57]. Công trình được nghiên cứu khá công phu gồm 160 bài hát được sưu tầm bằng tiếng Mạ và được dịch sang tiếng Việt Đây là nguồn tài liệu được chúng tôi tham khảo sử dụng trong luận văn khi nghiên cứu văn hóa nghệ thuật ngôn từ và thanh sắc của người Mạ

Năm 2001, Tạp chí Xưa và Nay có đăng tải bài viết Địa danh Bà Rịa đất đỏ và

dân tộc Mạ [22] của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu với những chú giải khá công phu nhằm chứng minh những luận điểm và giả thuyết cho rằng xưa kia người Mạ đã từng sinh sống ở vùng đất đỏ Bà Rịa - Vũng Tàu

Tác phẩm Truyện kể dân gian Mạ [74] đã được Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam trao giải khuyến khích năm 2001, là một công trình sưu tầm các chuyện kể về

Trang 13

người Mạ, phần lớn tập trung ở Lâm Đồng Bên cạnh đó, công trình Địa chí văn hóa

Thành phố Hồ Chí Minh [24] cũng có đề cập về tộc người Mạ Công trình Địa chí Đồng Nai, 2001 [23] là một chuyên khảo, trong đó phần tộc người Mạ được viết khá công phu, bao gồm phong tục, tập quán, văn học nghệ thuật, đời sống kinh tế v.v Đây là tài liệu quan trọng giúp chúng tôi có được những cứ liệu cụ thể để tìm hiểu đời sống văn hóa tinh thần của người Mạ ở Đồng Nai, qua đó có thể so sánh, đối chiếu trong quá trình nghiên cứu người Mạ ở Đạtẻh, tỉnh Lâm Đồng, nơi chúng tôi chọn để khảo sát nghiên cứu sâu

Năm 2002, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia đã xuất bản công

trình Một số vấn đề phát triển kinh tế xã hội buôn làng các dân tộc Tây Nguyên [72],

trong đó, bài viết được quan tâm là Một số vấn đề mô hình định canh định cư ở Lâm Đồng của tác giả Trần Bình đã mô tả sự thành công của mô hình định canh, định cư của cư dân Mạ ở xã Lộc Lâm, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng

Tác giả Lê Hồng Phong với hàng loạt các bài nghiên cứu về truyện cổ Mạ in

trong các tạp chí như: Nhân vật mồ côi trong truyện cổ dân tộc Mạ [44], Về con số 7 trong truyện cổ Mạ [46], Huyền thoại Mạ – K’Ho về nguồn gốc tộc người [47], Yếu tố văn hóa nguyên thủy qua truyện cổ Mạ – K’Ho [50], thể hiện những quan điểm của người Mạ về nguồn gốc tộc người, về các con số v.v… đã cho thấy rõ những nét văn

hóa tinh thần của họ Ngoài ra, tác giả còn có các công trình Huyền thoại Mạ – K’Ho

[49], Truyện cổ tích Mạ – K’Ho qua tư liệu điền dã tại Lâm Đồng [48] Năm 2003, Lê

Hồng Phong đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài Đặc điểm truyện cổ Mạ –

K’Ho (Lâm Đồng) [51] Công trình nghiên cứu về truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn và huyền thoại về hai tộc người Mạ và K’Ho ở Lâm Đồng Thông qua các nhân vật trong truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn để thể hiện yếu tố văn hóa tinh thần của người Mạ Đây là tài liệu quan trọng giúp chúng tôi nghiên cứu về đời sống văn hóa tinh thần của người Mạ

Năm 2003, tác giả Nguyễn Thành Đức bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Múa

dân gian các tộc người Mạ, Chơ-ro, Xtiêng vùng Đông Nam Bộ [28] Luận án là một chuyên khảo về múa dân gian, với phần lịch sử tộc người, văn hóa truyền thống được nghiên cứu khá đầy đủ Việc chuyển thể Tâm Pớt thành một chương trình múa hát

Trang 14

nhạc của dân tộc Mạ gồm 6 tiết mục được dàn dựng công phu là một đóng góp to lớn của tác giả Cũng trong năm 2003, Bộ phận tư liệu của Nhà bảo tàng Đồng Nai thực

hiện chuyên khảo Bước đầu sưu tầm chuyện kể Châu Ro, Châu Mạ ở Đồng Nai [41]

với 39 văn bản chuyện kể Châu Mạ và cả những kiến giải khoa học đã được đưa ra

Năm 2004, tác giả Bùi Thiết công bố công trình 54 dân tộc Việt Nam và các tên

gọi khác [66] Đây là công trình nghiên cứu các tộc người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Trong phần tộc người Mạ tác giả đã nêu ra một số nét đại cương như: nguồn gốc tộc người, địa bàn cư trú, đời sống kinh tế, tín ngưỡng và các phong tục - tập quán v.v…

Năm 2005, tác giả Nguyễn Tấn Đắc công bố công trình Văn hóa xã hội và con

người Tây Nguyên [20] Công trình đã mô tả xã hội truyền thống của các tộc người vùng Tây Nguyên, những biến đổi về dân số, kinh tế, văn hóa, các phong tục tập quán v.v… Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra những kiến nghị để Tây Nguyên hội nhập và cùng phát triển Cũng trong năm 2005, Nguyễn Đăng Hiệp Phố bảo vệ thành công luận

văn thạc sĩ Tìm hiểu đời sống tinh thần của người Mạ qua hát kể (kết quả sưu tầm ở Đồng Nai) [52] Luận văn nghiên cứu các bài hát kể của người Mạ, thể hiện đời sống văn hóa tinh thần phong phú của người Mạ Luận văn này là tài liệu quan trọng để chúng tôi nghiên cứu nghệ thuật thanh sắc của người Mạ

Năm 2006, Trương Minh Dục công bố công trình Một số vấn đề lý luận và thực

tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên[17] Công trìnhnghiên cứu khái quát

về mặt lí luận và thực tiễn các đặc điểm văn hóa, kinh tế, xã hội, giáo dục, các phong tục tập quán v.v… của các dân tộc Tây Nguyên trước và sau ngày đất nước được giải phóng hoàn toàn

Năm 2008, Nguyễn Văn Chánh bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ Sự biến đổi

cơ cấu việc làm của người Châu Mạ trong quá trình biến đổi kinh tế xã hội hiện nay: Nghiên cứu trường hợp Định Quán - huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai [11] Luận văn nghiên cứu những biến đổi trong đời sống văn hóa vật chất của người Mạ ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai Những biến đổi trong đời sống kinh tế do những tác động của biến đổi xã hội đã làm ảnh hưởng đến cơ cấu việc làm của người Châu Mạ

Năm 2009, Trần Nguyễn Tường Oanh bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ Việc

Trang 15

tiếp cận chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ Châu Mạ tại xã Lộc Bảo, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng [43] Luận văn nghiên cứu về việc chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ Châu Mạ, qua đó cho thấy việc chăm lo sức khỏe nói chung, sức khỏe sinh sản nói riêng theo xu hướng hiện đại đã mang lại những đảm bảo sức khỏe cho người dân Châu Mạ

Các công trình nghiên cứu kể trên đã đề cập khá khái quát về đời sống kinh tế,

xã hội, văn hoá vật chất, văn hóa tinh thần v.v… của người Mạ Tuy nhiên, đi sâu chi tiết vào nghiên cứu liên quan đến Văn hóa tổ chức đời sống của người Mạ vẫn chưa được khai thác, nghiên cứu một cách hệ thống Việc đi sâu tìm hiểu văn hóa tổ chức đời sống của người Mạ vẫn chưa được nghiên cứu kĩ Đặc biệt văn hóa tổ chức đời sống của người Mạ bao gồm: tổ chức cư trú, ăn, ở, đi lại, sản xuất, phong tục tập quán, nghi lễ vòng đời, văn hóa nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật thanh sắc, nghệ thuật hình khối v.v… vẫn chưa được nghiên cứu sâu sắc

Những biến đổi của kinh tế - văn hóa - xã hội trên cả nước cũng như trên thế giới hiện nay tác động đến đời sống sinh hoạt văn hóa của các tộc người nói chung và tộc người Mạ nói riêng có làm mất đi những nét văn hóa truyền thống của người Mạ? Việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của người Mạ có phù hợp với xu thế hiện nay hay không cũng là vấn đề chúng tôi rất quan tâm

Trên cơ sở nguồn tư liệu được tập hợp và khái quát trên đây, chúng tôi đã đi sâu khảo sát, nghiên cứu vùng người Mạ ở huyện Đạtẻh, tỉnh Lâm Đồng, vốn là một

trong những “trung tâm” có đông dân cư Mạ cư trú và từ đó chúng tôi chọn đề tài Văn

hóa tổ chức đời sống của người Mạ, mong muốn góp một phần vào việc giải quyết một số vấn đề khoa học đang tồn tại trong việc nghiên cứu văn hóa tổ chức đời sống của người Mạ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn Văn hóa tổ chức đời sống của người Mạ bao gồm: tổ chức cư trú, tổ chức hoạt động mưu sinh, tín ngưỡng, phong tục-tập quán, văn hóa giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ v.v… của người Mạ

Trang 16

4.2 Phạm vi nghiên cứu

4.2.1 Không gian

Tỉnh Lâm Đồng là nơi người Mạ cư trú đông nhất, chiếm 70% tổng số người

Mạ trong cả nước Ở Lâm Đồng người Mạ sinh sống tập trung ở huyện Bảo Lâm, Đạtẻh, Cát Tiên và một số nơi khác Sự phát triển kinh tế xã hội, giao lưu tiếp biến văn hóa với các tộc người cộng cư v.v… đã có những ảnh hưởng nhất định đến cộng đồng

Mạ Vì vậy, chúng tôi chọn cộng đồng người Mạ sinh sống ở huyện Đạtẻh, tỉnh Lâm Đồng, cụ thể là: bon Tố Lan (xã An Nhơn), bon Đạ Nha (xã Quốc Oai), bon Con Ó (xã

Mỹ Đức) và khu phố 1C (thị trấn Đạtẻh) để khảo sát nghiên cứu

4.2.2 Thời gian

Luận văn tập trung nghiên cứu văn hoá tổ chức đời sống của người Mạ từ truyền thống đến hiện đại Từ đó nêu rõ quá trình, động thái biến đổi của nó để góp phần nghiên cứu đặc trưng văn hóa cũng như quá trình văn hóa tộc người của họ

4.2.3 Khách thể

Khách thể nghiên cứu của luận văn là cộng đồng người Mạ hiện đang sinh sống trên địa bàn huyện Đạtẻh, tỉnh Lâm Đồng Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tiến hành khảo sát, nghiên cứu cộng đồng Mạ sinh sống ở các địa phương khác để so sánh đối chiếu nhằm tìm ra những tương đồng và khác biệt trong văn hóa tổ chức đời sống của họ Ngoài ra chúng tôi cũng tiến hành khảo sát các tộc người cộng cư và lân cận với tộc người Mạ như Stiêng, K’Ho, M’Nông v.v… để có thể so sánh nhằm làm rõ một số đặc trưng trong văn hóa tổ chức đời sống của người Mạ

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

Trong quá trình thực hiện luận văn chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành Văn hóa học và các ngành khác như: Nhân học văn hóa, Lịch sử, Dân tộc học v.v…

Phương pháp Lịch sử được vận dụng trong quá trình tìm hiểu và phân tích văn hóa người Mạ dưới góc độ lịch đại thông qua các tài liệu thư tịch, đặc biệt là tài liệu sử học, tài liệu hồi cố khi đề cập đến tiến trình văn hóa Mạ qua các thời kì

Trang 17

Phương pháp So sánh đối chiếu được vận dụng để so sánh đối chiếu giữa các dạng thức văn hóa các nhóm người Mạ cư trú ở các tỉnh thành khác nhau trên cả nước

và so sánh với văn hóa tương đồng của các tộc người khác

Điền dã Dân tộc học-Nhân học được vận dụng trong suốt quá trình thực hiện luận văn kết hợp với các phương pháp và thao tác dưới đây:

Quan sát tham dự được vận dụng khi chúng tôi tham gia trực tiếp với đồng bào

Mạ trong các nghi thức sinh hoạt cộng đồng, tham dự một số nghi lễ tín ngưỡng của người Mạ tại huyện Đạtẻh, tỉnh Lâm Đồng như: các lễ cúng nông nghiệp, cúng giải hạn, tang ma, cưới, hỏi v.v… và các hoạt động sinh hoạt kinh tế - xã hội, mưu sinh v.v… của người Mạ Chúng tôi ghi chép đầy đủ mọi hoạt động này để tổng hợp thành nguồn tư liệu phục vụ cho nghiên cứu

Phỏng vấn sâu được vận dụng khi tiếp xúc với đồng bào Mạ để hỏi và nghe họ trả lời về các vấn đề luận văn nghiên cứu Các vấn đề đó được hỏi nhiều lần, hỏi nhiều người khác nhau, thời gian và địa điểm cũng khác nhau nhằm tìm ra những kết quả cần thiết cho việc nghiên cứu

Phỏng vấn hồi cố là phương pháp phỏng vấn lịch sử theo những lời kể nhằm tìm

ra những cảm nhận của mỗi cá nhân trong cộng đồng Mạ về những vấn đề chúng tôi đang nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tham khảo có chọn lọc các tài liệu và

tư liệu từ nhiều nguồn bao gồm: sách, báo, Tạp chí Khoa học, Luận văn, Luận án, tài liệu điện tử, phim, ảnh và các thông tin điện tử v.v… có liên quan đến việc nghiên cứu tộc người Mạ

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa khoa học

Từ nghiên cứu văn hóa tổ chức đời sống của người Mạ bao gồm cả loại hình văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần cả ở góc độ cộng đồng cũng như cá nhân sẽ góp phần nghiên cứu đặc trưng văn hóa cư dân Mạ được hình thành trong lịch sử định cư, khai phá vùng thượng sông Đồng Nai Kết quả đó còn góp phần nghiên cứu quá trình tộc người của họ Nghiên cứu về con người Mạ dưới góc độ Nhân học văn hóa trong

Trang 18

bối cảnh chung của lịch sử đất nước cũng như những đặc điểm riêng của người Nam Tây Nguyên - Đông Nam Bộ

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài nghiên cứu làm rõ những giá trị văn hóa truyền thống của người Mạ Góp thêm cơ sở khoa học cho việc đề xuất việc bảo tồn những giá trị truyền thống văn hóa người Mạ trong phát triển và hội nhập hiện nay Bổ sung tư liệu để hoạch định các Chính sách Dân tộc tại địa phương

7 Bố cục luận văn

Mở đầu

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2 Văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng người Mạ

Chương 3 Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân người Mạ

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 19

Đến nay, trên thế giới đã có rất nhiều định nghĩa về văn hóa được đưa ra bởi các

cá nhân và tổ chức E.B.Tylor đã công bố công trình Văn hoá nguyên thủy ở Luân Đôn

vào năm 1871, trong đó tác giả định nghĩa: “Văn hoá là một phức thể bao gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và mọi khả năng, thói quen

mà con người với tư cách là thành viên xã hội, đạt được” [94; tr 13] Đây là định nghĩa đầu tiên về văn hóa, là cái mốc cho bước ngoặt để nghiên cứu văn hóa phương Tây ra đời

Đến năm 1982, tại Mêhicô, Hội nghị Thế giới về Chính sách Văn hóa vì sự phát triển đã thông qua Tuyên bố ngày 6 tháng 8, còn gọi là Tuyên bố Mêhicô về Chính sách văn hóa: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần

và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán

và dấn thân một cách đạo lí Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”1.

Còn theo Phan Ngọc, “Văn hóa là mối quan hệ Nó là quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại Mối quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác” [39; tr 24]

Thập niên 40 của thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày một quan niệm

1 T uyên bố về chính sách văn hóa-Hội nghị quốc tế do Unesco chủ trì từ 26-7 đến 6-8 năm 1982 tại Mêhicô

Trang 20

về văn hoá: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo

và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức

sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá” [37; tr 431]

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực

vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà

có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử v.v… cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống chính trị; tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” [26; tr 16]

Năm 2002, tổ chức UNESCO đã đưa ra một định nghĩa chung về văn hóa như sau: “Văn hóa là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng ngoài văn học

và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” Định nghĩa này có giá trị là mẫu số chung cho các định nghĩa về văn hoá khác trên thế giới

Trong những thập niên cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI, ngành Văn hóa học phát

triển khá rầm rộ ở nước ta Theo đó đã có đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn

hóa, đặc biệt đã có nhiều giáo trình về Cơ sở Văn hóa ra đời, trong đó đều đã có định

nghĩa về văn hóa

Giáo sư Trần Quốc Vượng định nghĩa: “Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hội loài người” [81],theo ông, văn hóa gắn liền

với sự phát triển của con người, “ở phương Đông, từ Văn hóa đã có trong đời sống

ngôn ngữ từ rất sớm” [81]

Phó Giáo sư Chu Xuân Diên đã đưa ra những nét chủ yếu của văn hóa bao gồm: văn hóa là hoạt động sáng tạo chỉ riêng con người mới có; hoạt động sáng tạo đó bao trùm lên mọi lĩnh vực của đời sống con người bao gồm đời sống vật chất, tinh thần và

xã hội; giá trị của sự sáng tạo được kế thừa qua các thế hệ; đặc biệt văn hóa là đặc

Trang 21

trưng của mỗi cộng đồng nhằm phân biệt với các cộng đồng khác [16].

Nghiên cứu văn hóa theo phương pháp Hệ thống - Loại hình, Trần Ngọc Thêm

đã đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần

do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình [61; tr 25]

Định nghĩa của Trần Ngọc Thêm đã chỉ ra một hệ tọa độ ba chiều Con người là

Chủ thể văn hóa, môi trường tự nhiên và xã hội là Không gian văn hóa và quá trình hoạt động là Thời gian văn hóa Giới hạn theo không gian, văn hóa được sử dụng để

chỉ ra những giá trị đặc thù của từng vùng (như Vùng ăn hóa Nam Bộ, Vùng văn hóa Tây Nguyên v.v… ) Định nghĩa nêu trên cũng bao gồm bốn đặc trưng cơ bản của văn

hóa là tính Hệ thống, tính Giá trị, tính Nhân sinh và tính Lịch sử Các đặc trưng này

không chỉ giúp để phân biệt văn hóa với những khái niệm, hiện tượng có liên quan mà

còn là cơ sở để xác định các chức năng của nó như chức năng Tổ chức xã hội, chức năng Điều chỉnh xã hội, chức năng Giao tiếp và chức năng Giáo dục Chủ thể của một

nền văn hóa luôn luôn tồn tại và hoạt động trong mối quan hệ tương tác với môi trường

tự nhiên và môi trường xã hội Vì vậy, xét về cấu trúc, văn hóa là hệ thống qui định bởi

một loại hình văn hóa nhất định bao gồm ba thành tố gồm Văn hóa nhận thức, Văn hóa

tổ chức và Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Trong thành

tố Văn hóa tổ chức, kế thừa nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm, chúng tôi nghiên cứu

theo cấu trúc văn hóa tổ chức đời sống bao gồm hai vi hệ: Văn hóa tổ chức đời sống

cộng đồng và Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân của tộc người Mạ

1.1.1.2 Tộc người và văn hóa tộc người

Tộc người là một khái niệm thuộc ngành Dân tộc học cũng như Nhân học Tộc người là đối tượng nghiên cứu của Dân tộc học, Nhân học và Văn hóa học

Viện sĩ Xô Viết Iu.V.Bromlei định nghĩa tộc người như sau: “Tộc người được

hiểu là một tập đoàn người ổn định có mối liên hệ chung về địa bàn cư trú, ngôn ngữ, kinh tế và đặc điểm sinh hoạt văn hóa Mỗi tộc người đều có nguồn gốc ý thức về tộc người của mình” [32; tr 21].Định nghĩa này đã có những ảnh hưởng sâu sắc đến các trường phái nghiên cứu Dân tộc học của Liên Xô (cũ) và Việt Nam

Trang 22

Văn hóa Tộc người: “Văn hóa Tộc người được hiểu là bao gồm tổng thể các yếu tố về văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, giúp cho việc phân biệt tộc người này với tộc người khác Chính văn hóa tộc người là nền tảng nảy sinh và phát triển ý thức tộc người” [32; tr 318].

Các khái niệm trên đây là cơ sở lí luận, định hướng cho quá trình tìm hiểu, nghiên cứu về tộc người và văn hóa tộc người Mạ và những thay đổi văn hóa của họ trong quá trình phát triển tộc người cho đến hiện nay

1.1.1.3 Văn hóa tổ chức đời sống

Văn hóa là một hệ thống, chính vì thế, có nhiều cách nhận diện và chia các

thành tố của hệ thống văn hóa Có cách chia văn hóa thành hai thành tố gồm Văn hóa

Vật chất và Văn hóa Tinh thần, có cách chia ba thành tố như Văn hóa Vật chất, Văn

hóa Tinh thần và Văn hóa Xã hội của PGS Chu Xuân Diên, hay cách chia của L.White văn hóa gồm ba tiểu hệ như: Công nghệ, Xã hội và Tư tưởng, hay cách chia của GS Trần Ngọc Thêm bao gồm: Văn hóa Nhận thức, Văn hóa Tổ chức, Văn hóa Ứng xử

v.v…

Đề cập đến phương diện văn hóa tổ chức cộng đồng, GS Trần Ngọc Thêm đã xem xét trên hai bình diện: nguyên tắc tổ chức cộng đồng và cách thức tổ chức cộng đồng Theo ông, văn hóa tổ chức là một trong những thành tố quan trọng của văn hóa, bao gồm tổ chức đời sống cộng đồng và tổ chức đời sống cá nhân Tổ chức đời sống cộng đồng bao gồm những vấn đề tổ chức xã hội ở qui mô rộng lớn như tổ chức nông thôn, quốc gia, đô thị Tổ chức đời sống cá nhân bao gồm những vấn đề liên quan đến đời sống của cá nhân trong cộng đồng như tín ngưỡng, phong tục, đạo đức, văn hóa giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ [62, tr 197]

Văn hóa tổ chức cộng đồng là sản phẩm được sáng tạo bởi con người thông qua quá trình sinh sống trong cộng đồng Văn hóa tổ chức cộng đồng đã xác lập một hệ thống các giá trị được mọi người trong cộng đồng cùng chia sẻ và chấp nhận, góp phần tạo nên sự khác biệt giữa các tộc người khác nhau

1.1.1.4 Không gian văn hóa tộc người

Không gian văn hóa tộc người “chính là không gian sinh tồn của tộc người đó,

Trang 23

nó gắn với vùng lãnh thổ mà cộng đồng dân cư của tộc người đó sinh sống Trong xã hội nguyên thủy hay một số trường hợp xã hội hiện nay, lãnh thổ tộc người vẫn còn tồn tại, thì chính lãnh thổ tộc người là không gian văn hóa của tộc người đó Tuy nhiên, cùng với sự phát triển xã hội và sự di chuyển dân cư thì phần lớn các trường hợp lãnh thổ tộc người bị phá vỡ, tạo nên tình trạng cư trú xen cài giữa các tộc người trên cùng một lãnh thổ, do vậy, không gian văn hóa tộc người không còn nguyên vẹn, tạo nên tình trạng đan xen Đó cũng chính là một trong những xung lực tạo nên sự tiếp biến, hỗn dung văn hóa, một hiện tượng phổ biến trong bức tranh chung văn hóa nhân loại hiện nay” [63; tr 6].

Chúng tôi vận dụng các khái niệm được trình bày ở trên để làm cơ sở lí luận trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn này

1.1.2 Các lí thuyết tiếp cận

1.1.2.1 Lí thuyết về vùng văn hoá

“Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặt hoàn cảnh tự

nhiên, dân cư sinh sống ở đó đã từ lâu có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác” [63; tr 64]

Chúng tôi vận dụng lí thuyết này trong quá trình nghiên cứu nhằm tìm ra những nét tương đồng văn hóa do cộng cư trong cùng điều kiện tự nhiên một vùng, những mối liên hệ về nguồn gốc lịch sử tộc người Mạ với các tộc người khác cùng sinh sống trên địa bàn, những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, sự giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa các tộc người cộng cư trên địa bàn huyện Đạtẻh, nơi chúng tôi khảo sát nghiên cứu

1.1.2.2 Biến đổi (thay đổi) xã hội

Thay đổi xã hội dùng để “chỉ những trạng thái vận động khác nhau: tiến bộ hoặc thoái bộ, tiến bộ hoặc cách mạng, bộ phận hoặc toàn bộ v.v… Những thay đổi xã hội thường gắn với điều kiện khách quan của tồn tại xã hội và những chủ quan của ý thức

Trang 24

xã hội hoặc với sự kết hợp của hai điều kiện đó Những thay đổi xã hội thường diễn ra khi những trật tự xã hội cũ tỏ ra lỗi thời và trong lòng xã hội xuất hiện những nhân tố mới đến một mức độ nào đó Thay đổi xã hội có thể diễn ra từ từ hoặc nhảy vọt, có hay không có bạo lực Thuật ngữ này cũng áp dụng cho những thay đổi văn hóa do hai nguyên nhân chính: tiếp xúc văn hóa (thích nghi văn hóa) và phát minh Thay đổi xã hội với các phát minh thường diễn ra theo những chu kì lớn (đồ đá mới, phục hưng, cách mạng công nghiệp v.v…) Trong các xã hội công nghiệp, thay đổi xã hội gần như diễn ra liên tục và những thay đổi kĩ thuật thường dẫn tới những thay đổi văn hóa phi vật thể” [78; tr 25]

Chúng tôi mong muốn tìm hiểu những thay đổi về đời sống xã hội của người

Mạ trước và sau năm 1975 Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội của người Mạ Những biến đổi đó tiến bộ hay thoái bộ so với trước đây, những biến đổi tác động tích cực hay tiêu cực đến đời sống của người Mạ hiện nay

1.1.2.3 Lí thuyết về giao lưu tiếp biến văn hóa

“Giao lưu và tiếp biến văn hóa là quá trình các cộng đồng tộc người “gặp

nhau”, tiếp xúc với nhau trên cơ sở đó “tiếp nhận” những giá trị văn hóa là động lực làm cho nhiều yếu tố văn hóa truyền thống luôn được điều chỉnh và biến đổi cho phù hợp

Đó là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người (cộng đồng, dân tộc) có văn hóa khác nhau giao lưu tiếp xúc với nhau tạo nên sự biến đổi về văn hóa của một hoặc cả hai nhóm Giao lưu tiếp biến văn hóa tạo nên sự dung hợp, tổng hợp và tích hợp văn hóa ở các cộng đồng” [75]

Mỗi tộc người đều có những nét văn hóa riêng biệt khi sinh sống trong những điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội khác nhau v.v… Những nét văn hóa riêng của các tộc người cộng cư sẽ cùng giao thoa và ảnh hưởng lẫn nhau Trong quá trình cộng

cư các tộc người sẽ trao đổi, học hỏi văn hóa lẫn nhau tạo ra sự giao lưu văn hóa.Trong quá trình giao lưu đó sự tiếp biến văn hoá diễn ra tạo nên những khác biệt nhất định về văn hóa các tộc người, hình thành nên những nét văn hóa đặc sắc

Trang 25

1.1.2.4 Lí thuyết về văn hóa sinh thái - tộc người

Văn hóa sinh thái là các dạng thức văn hóa hình thành và phát triển tương ứng với những môi trường sinh thái nhất định như sinh thái biển đảo, sinh thái đồng bằng châu thổ, sinh thái thung lũng, sinh thái cao nguyên v.v… Ở nước ta có rất nhiều loại hình sinh thái tương ứng với vùng cư trú của các tộc người Những tộc người sinh sống lâu đời tại một môi trường sinh thái nhất định sẽ hình thành một dạng thức văn hóa gọi

văn hóa sinh thái - tộc người Văn hóa sinh thái - tộc người theo Ngô Đức Thịnh:

“Sinh sống lâu đời trong một môi trường sinh thái quen thuộc nên mỗi tộc người đã hình thành những kiểu thích ứng với môi trường nhất định, tạo nên những truyền thống sinh hoạt kinh tế, xã hội, văn hóa riêng” [64, tr 33]

Người Mạ sinh sống trong môi trường sinh thái rừng, núi, sông, suối v.v… Canh tác nương rẫy của người Mạ phụ thuộc vào môi trường tự nhiên Sự thay đổi về môi trường sinh thái có làm biến đổi đời sống văn hóa - kinh tế - xã hội của tộc người

Mạ là vấn đề chúng tôi quan tâm nghiên cứu

1.1.2.5 Sự chấp nhận xã hội

Chấp nhận xã hội : “đây là một quá trình thay đổi xã hội, trong đó có việc học hỏi cách tân, chấp nhận cách tân như là giá trị và sửa đổi kiến thức văn hóa của một người để tiếp cận cách tân đó” [101]

Trong luận văn này, chúng tôi muốn tìm hiểu sự thay đổi về môi trường xã hội của người Mạ do nhiều yếu tố như: sự biến đổi của môi trường, Kinh tế - Văn hóa - Xã hội, v.v Người Mạ đã chấp nhập sự thay đổi của xã hội, họ đã học hỏi, cách tân và thích nghi như thế nào để phù hợp với những thay đổi đó?

1.1.2.6 Lí thuyết về đặc thù luận lịch sử

Theo F Boas và A Kroeber: “Văn hóa của mỗi dân tộc được hình thành trong quá trình lịch sử, nó gắn liền với môi trường xã hội nhất định và trong điều kiện địa lí

cụ thể” [70]

Người Mạ đã biến đổi về văn hóa do những thay đổi về chính sách, xã hội, kinh

tế đặc thù của địa phương Đây là một quá trình tất yếu của sự phát triển xã hội thông qua những biến đổi do xu thế hiện nay Điều kiện tự nhiên và xã hội là những yếu tố đã

Trang 26

làm biến đổi văn hóa người Mạ hiện nay

Các lí thuyết chúng tôi đưa ra trên đây là những định hướng cơ sở lí luận cho chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này

1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

1.2.1.Tỉnh Lâm Đồng

1.2.1.1 Vị trí địa lý

Lâm Đồng là tỉnh miền núi phía nam Tây Nguyên có độ cao trung bình từ 800 - 1.000 m so với mặt nước biển (trừ cao nguyên Liangbiang - Đà Lạt, cao 2.167 m) với diện tích tự nhiên 9.772,19 km2; địa hình chủ yếu là bình sơn nguyên, núi cao đồng thời cũng có những thung lũng nhỏ bằng phẳng đã tạo nên những yếu tố tự nhiên khác nhau về khí hậu, thổ nhưỡng, động vật, thảm thực vật v.v

Giới hạn tỉnh Lâm Đồng: phía đông giáp các tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận, phía tây - nam giáp tỉnh Đồng Nai, phía nam - đông nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía bắc giáp tỉnh Đắk Lắk

Lâm Đồng nằm trên ba cao nguyên Lang Bian, Di Linh và B’Lao, là khu vực đầu nguồn của ba hệ thống sông lớn Đạ Đâng (Đồng Nai), La Ngà và Đa Nhim, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là khu vực năng động, có tốc độ tăng trưởng

kinh tế cao và là thị trường có nhiều tiềm năng lớn

1.2.1.2 Địa hình

Lâm Đồng có địa hình cao nguyên tương đối phức tạp, chủ yếu là bình sơn nguyên Núi cao đồng thời cũng có những thung lũng nhỏ bằng phẳng đã tạo nên những yếu tố tự nhiên khác nhau về khí hậu, thổ nhưỡng, động vật, thảm thực vật v.v và những cảnh quan kỳ thú

Đặc điểm nổi bật của tỉnh Lâm Đồng là sự phân bậc địa hình khá rõ ràng từ bắc xuống nam Phía bắc tỉnh là vùng núi cao, vùng cao nguyên Lang Bian với những đỉnh núi cao từ 1.300m đến hơn 2.000m như: Bi Đúp (2.287m), Lang Bian (2.167m); phía đông và tây có dạng địa hình núi thấp (độ cao 500 – 1.000m); phía nam là vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên Di Linh-Bảo Lộc và bán bình nguyên

Trang 27

1.2.1.3 Địa chất

Cấu trúc địa chất tỉnh Lâm Đồng bao gồm các đá trầm tích, phun trào, xâm nhập có tuổi từ Jura giữa đến Đệ Tứ Các trầm tích, phun trào được phân ra 14 phân vị địa tầng có tuổi và thành phần đá khác nhau

Lâm Đồng có diện tích đất 977.219,6 ha, chiếm 98% diện tích tự nhiên, bao gồm tám nhóm đất và 45 đơn vị đất: nhóm đất phù sa, nhóm đất glây, nhóm đất mới biến đổi, nhóm đất đen, nhóm đất đỏ bazan, nhóm đất xám, nhóm đất mùn alit trên núi cao và nhóm đất xói mòn mạnh

Đất có độ dốc dưới 250 chiếm trên 50%, đất dốc trên 250 chiếm gần 50% Chất lượng đất đai của Lâm Đồng rất tốt, khá màu mỡ, toàn tỉnh có khoảng 255.400 ha đất

có khả năng sản xuất nông nghiệp, trong đó có 200.000 ha đất bazan tập trung ở cao nguyên Bảo Lộc - Di Linh thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao như: cà phê, chè, dâu tằm v.v… Diện tích trồng chè và cà phê ở Lâm Đồng khoảng 145.000 ha, tập trung chủ yếu ở Bảo Lâm, Bảo Lộc, Di Linh, Lâm Hà; diện tích trồng rau, hoa khoảng 23.800 ha, tập trung tại Đà Lạt, Đơn Dương, Đức Trọng Nông sản ở Lâm Đồng đa dạng về chủng loại và có giá trị cao

1.2.1.4 Khí hậu

Lâm Đồng có khí hậu ôn đới ngay trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình Nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa biến thiên theo độ cao Trong một năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng

12 đến tháng 4 năm sau (Dương lịch)

Nhiệt độ ở Lâm Đồng thay đổi rõ rệt giữa các khu vực Càng lên cao nhiệt độ càng giảm Nhiệt độ trung bình trong năm dao động từ 18 - 250 C Khí hậu nơi đây ôn hòa, mát mẻ quanh năm và ít có những biến động lớn trong chu kì năm

Lâm Đồng có lượng mưa trung bình 1.750 - 3.150 mm/năm, độ ẩm tương đối trung bình cả năm là 85 - 87%, số giờ nắng trung bình cả năm 1.890 - 2.500 giờ, rất thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng và phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có nguồn gốc ôn đới

1.2.1.5 Thủy văn

Trang 28

Lâm Đồng là một tỉnh nằm trong hệ thống sông Đồng Nai Lâm Đồng có mạng lưới sông, suối, hồ v.v… khá dày đặc gồm 73 hồ chứa nước, 92 đập dâng Vì vậy, Lâm Đồng có tiềm năng thủy điện rất lớn

Sông suối trên địa bàn Lâm Đồng phân bố khá đồng đều, mật độ trung bình 0,6km/km2, với độ dốc đáy nhỏ hơn 1% Phần lớn sông suối chảy từ hướng đông - bắc xuống tây - nam

Do đặc điểm địa hình đồi núi và chia cắt mà hầu hết các sông suối ở đây đều có lưu vực khá nhỏ và có nhiều ghềnh thác ở thượng nguồn

Tên gọi của ba con sông chính chảy qua địa phận tỉnh Lâm Đồng là: Đạ Đâng (Đồng Nai), La Ngà và Đa Nhim

1.2.1.6 Dân số - dân cư

Theo công bố của trang thông tin điện tử Lâm Đồng, dân số toàn tỉnh tính đến 31/12/2005 là 1.169.851 người, mật độ dân số 118 người/km2, dân số ở nông thôn 649.412 người, chiếm 61,47% Lâm Đồng là vùng đất hội tụ nhiều tộc người anh em trong cả nước với trên 40 dân tộc khác nhau, đông nhất là người Kinh chiếm 77%, kế đến là người K’Ho chiếm 12%, người Mạ chiếm 2,5%, người Nùng chiếm gần 2%, người Tày chiếm 2%, người Hoa chiếm 1,5%, người Chu-ru 1,5% v.v , còn lại các tộc người khác có tỉ lệ dưới 1% sinh sống thưa thớt ở các vùng xa, vùng sâu của tỉnh

1.2.2 Địa bàn khảo sát nghiên cứu-huyện Đạtẻh

Huyện Đạtẻh nằm ở phía nam của tỉnh Lâm Đồng Tổng diện tích tự nhiên 52,34 km2 Dân số tính đến cuối năm 2008 là 48.478 người, gồm 13 tộc người sinh sống, trong đó các tộc người thiểu số nói chung chiếm 23,75%, tộc người thiểu số gốc Tây Nguyên chiếm 5,3% dân số

Đạtẻh nằm trên phần chuyển tiếp giữa cao nguyên Di Linh, Bảo Lộc với vùng Đông Nam Bộ, địa hình thấp dần về phía tây và tây - nam, từ độ cao 600m xuống còn dưới 120m ở hạ lưu sông Đạ Nha, Đạtẻh

Địa hình thuộc vùng núi cao bị chia cắt mạnh chiếm diện tích tương đối lớn, phân bổ ở thượng lưu các sông Đạtẻh, Đạ Lây, Đạ Kho, Đạ Bộ nằm trong vùng thuộc địa phận xã ĐạPal, Quảng Trị, Mỹ Đức, Quốc Oai và một phần các xã Đạ Lây, Hương

Trang 29

Lâm, An Nhơn Địa hình vùng núi thấp xen kẽ với các thung lũng hẹp, có độ cao trung bình 200m, tập trung ở phía nam và tây - nam của huyện, địa hình này nằm ở hạ lưu các sông nói trên và hình thành nên một vùng đất tương đối bằng phẳng thuộc xã Hà Đông, thị trấn Đạtẻh và một phần các xã Mỹ Đức, Quốc Oai, An Nhơn, Hương Lâm,

Đạ Lây, Đạ Kho

Đạtẻh có khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên Nhiệt độ trung bình hàng năm

là 24,60C Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 tháng 11, lượng mưa trung bình 2.200mm đến 2.400 mm, độ ẩm trung bình 82%, thấp nhất 75% (tháng 2 và tháng 3), cao nhất 88% (tháng 8)

Giao thông: Trên địa bàn huyện có hai tuyến tỉnh lộ chính là: tỉnh lộ 721 nối Đạ Huoai - Đạtẻh - Cát Tiên và thông sang tỉnh Bình Phước; tỉnh lộ 725 từ trung tâm huyện qua xã Mỹ Đức thông sang huyện Bảo Lâm

Điện: Tất cả các xã, thị trấn đều đã có điện lưới quốc gia và đã có 93% số thôn

có điện, trên 80% hộ dân đã sử dụng điện cho sinh hoạt và sản xuất

Thủy lợi: Toàn huyện có sáu công trình thủy lợi vừa và nhỏ Trong đó, hai công trình thủy lợi Hồ Đạtẻh và Hồ Đạ Hàm có công suất tưới trên 2.600 ha phục vụ cho sáu xã và thị trấn Đạtẻh Trong năm 2009, huyện đã triển khai xây dựng công trình thủy lợi hồ thôn 5 xã Quốc Oai phục vụ tưới cho nước cho 400 ha gồm lúa và hoa màu Đặc biệt, trong thời gian tới, huyện sẽ đầu tư xây dựng cộng trình thủy lợi Đạ Lây phục vụ sản xuất trên 1.200 ha ở địa bàn Hương Lâm và Đạ Lây

Mạng lưới trường học và y tế: Số trường học trên địa bàn huyện hiện nay cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu dạy và học, không còn các lớp học ca ba, có 2/25 trường đạt trường chuẩn quốc gia Mạng lưới y tế cơ sở đến nay đã có 11/11 đơn vị hành chính có trạm y tế phục vụ chăm sóc sức khỏe người dân, 7/11 trạm y tế đã có bác sĩ

Thế mạnh huyện Đạtẻh

Nông nghiệp: Đạtẻh là huyện trọng điểm về lương thực của tỉnh Với diện tích đất nông nghiệp chuyên trồng lúa 2.500 ha, hàng năm sản xuất ra trên 30.000 tấn lương thực, trong đó hiện có 1.250 ha chuyên sản xuất lúa chất lượng cao theo dự án

Trang 30

của tỉnh Lâm Đồng Ngoài ra, diện tích trồng cây nguyên liệu cũng khá lớn: điều (trên 3.000 ha), mía (750ha), dâu (350 ha) Riêng cây cao su hiện đang được tập trung đầu

tư để phát triển mạnh

Lâm nghiệp: huyện Đạtẻh có tiềm năng lâm nghiệp lớn với tổng diện tích đất lâm nghiệp là 36.017 ha (gồm 48 tiểu khu), chiếm 68,71% trên tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó có 30.849 ha rừng sản xuất

Du lịch: huyện Đạtẻh có tiềm năng về du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng Ngoài hồ

Đạtẻh đã được công nhận là danh thắng quốc gia, Đạtẻh còn có ba thác nước đẹp ở các

xã Triệu Hải và Đạ Pal, trong đó thác nước DaKaLa đã được các nhà đầu tư tiến hành các bước cần thiết để xây dựng du lịch sinh thái

Tài nguyên khoáng sản: tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện chủ yếu là nguyên liệu phục vụ ngành xây dựng, gồm: đất, đá, cát

cũ cho đến thời đại kim khí” và tiếp theo sau là nền văn hóa Óc Eo và hậu Óc Eo nổi tiếng với địa bàn phân bố từ Đồng bằng Sông Cửu Long đến vùng Đông Nam Bộ”

[52]

Hàng loạt những phát hiện khảo cổ là bằng chứng xác minh sự phát triển mạnh

mẽ và tiến bộ rực rỡ của các cư dân cổ vùng Đông Nam Bộ, trong đó có người Mạ

“Giả thuyết thứ nhất cho rằng, các tộc người thiểu số (cư dân Môn Khmer) ở khu vực Đông Nam Bộ, trong đó người Mạ có mối liên hệ với vương quốc Phù Nam Vương quốc Phù Nam hình thành và tồn tại trong vòng sáu - bảy thế kỷ, tương ứng với thời kỳ hưng thịnh và suy vong của vương quốc này là nền văn hóa Óc Eo nổi tiếng

Trang 31

Trên cơ sở các Bộ sưu tập hiện vật khảo cổ, nghiên cứu về Nhân chủng, Ngôn ngữ, Sử học, Dân tộc học, các nhà khoa học giả định rằng: vào thời kỳ vương quốc Phù Nam tại vùng Đông Nam Bộ vốn đã có cư dân cổ bản địa với các tộc người từ các nơi khác đến quần cư, ở đây đã có sự thu phục và dung nạp, hòa hợp và đấu tranh để sinh tồn và phát triển Đến đầu TK VIII, vương quốc này xảy ra nội chiến loạn lạc và đi vào thời

kì suy kiệt Đồng thời lại bị nạn “hồng thủy” khủng khiếp đã cuốn trôi người, của cải

đổ ra biển, hủy hoại và chôn vùi nhiều cơ sở vật chất Số cư dân sống sót li tán, kéo nhau chạy lên miền đất cao, rừng cổ vùng Đông Nam Bộ Phải chăng hậu duệ Phù Nam còn lưu đến ngày nay cư trú ở phía đông và vùng trung tâm Đông Nam Bộ gồm các tộc người thiểu số Môn - Khmer như: Chơ Ro, Châu Mạ, K’Ho cùng một số nhóm nhỏ khác, phía tây của vùng Đông Nam Bộ có các tộc người Stiêng, M’Nông” [40; tr 19]

Một giả thuyết khác cho rằng: “vùng đất Đồng Nai - Nam Tây Nguyên vào đầu Công nguyên thuộc lãnh địa của vương quốc Phù Nam Cộng đồng cư dân vùng này đã

có sự pha tạp giữa lớp nhân chủng Indonesien bản địa (nguyên Đông Dương) với lớp nhân chủng đã “Ấn Độ hóa” [55; tr 199]

Năm 1986, với việc phát hiện di tích Cát Tiên và tiếp theo sau là bốn cuộc khai quật lớn đã diễn ra, làm xuất lộ một cụm di tích đền tháp kiến trúc gạch mà các nhà khoa học gọi là “Thánh địa của Bà La Môn giáo trên vùng đất phương Nam” Hàng loạt các giả thuyết khoa học cho rằng: “Chủ nhân của khu di tích này là của người Mạ

Họ là một bộ phận họ hàng của người miền núi như M’Nông, PeNông, Bnom” “Họ có những mối quan hệ khá mật thiết với những người láng giềng Khmer, Chăm như thăm hỏi, kết hôn, trao đổi sản phẩm, có nhờ vả đôi khi, nhưng giữ một khoảng cách biệt với người Kur, cũng như với người Prom v.v sự khác biệt lâu dài dần dần đẩy họ vào tình trạng bị cô lập, vẫn giữ mãi trình độ kinh tế xã hội và văn hóa từ nghìn năm trước Lâu dài hàng thế kỉ, đã qua hàng chục thế hệ, khiến người ngày nay không hay biết, không ai còn nhớ họ một thời có đền tháp, cung điện nguy nga rực rỡ v.v… Có lẽ họ

đã đứng lại, thoái hóa, đến nay vẫn thế, quan hệ láng giềng bình thường với người Kur, Prom, nhưng đứng riêng lặng lẽ giữ mãi cơ sở cố hữu của mình” [42; tr 37-38]

Thuyết thứ tư với luận điểm: vùng đất Đông Nam Bộ và một phần Nam Tây Nguyên

Trang 32

bấy giờ, từ lâu đời đã là địa bàn cư trú của các tộc người Mạ, Stiêng, Chơ Ro, M’Nông

và K’Ho Nơi ấy cũng là địa bàn cư trú của người tiền sử Đồng Nai Dựa vào những đặc điểm sinh hoạt văn hóa, hoạt động kinh tế, kết hợp với những câu chuyện nối tiếp lịch sử, nhiều nhà khoa học đã nêu ra giả thuyết: “Các dân tộc bản địa hiện nay ở Đồng Nai và vùng phụ cận gồm người Mạ, Stiêng, Chơ Ro, v.v… là hậu duệ của chủ nhân nền văn hóa Đồng Nai thời kim khí xa xưa Có thể họ là chủ nhân của “vương quốc Mạ” được nhắc đến trong lịch sử” [9; tr 34]

Quả là không dễ dàng để tìm ra một đáp số cho những giả thuyết nêu trên Việc truy tìm nguồn gốc các tộc người thiểu số ở khu vực Nam Tây Nguyên - Đông Nam

Bộ, trong đó có người Mạ chắc hẳn cần phải có nhiều dữ liệu khoa học hơn nữa, nhất

là các kiến thức liên ngành Nhân chủng học, Dân tộc học, v.v và cả về tri thức văn hóa dân gian nữa Nhưng qua các công trình nghiên cứu trước đây có thể khẳng định người Mạ là cư dân bản địa cư trú lâu đời trên vùng Nam Tây Nguyên - Đông Nam

Bộ

Địa bàn cư trú

Người Mạ là một trong những tộc người có mặt ở khu vực Nam Tây Nguyên

và Đông Nam Bộ khá sớm mà địa bàn cư trú của họ vào các thế kỉ trước có thể rộng hơn hiện nay, có thể họ đã cư trú giáp biển Đông và các khu vực giáp đồng bằng sông

Cửu Long Sách Gia Định Thành thông chí của Trịnh Hoài Đức [27; tr 9], Phủ biên

Tạp lục của Lê Quý Đôn [25; tr 345], Đại Nam Nhất thống chí của Quốc sử quán triều

Nguyễn (tập 5) [19; tr 17] khi ghi chép về vùng Đông Nam Bộ có đề cập đến các tộc người thiểu số mà họ gọi là “Mọi”, “Man Sách”, “Máu”, có thể trong nhóm cộng đồng

“Mọi”, “Man Sách”, “Máu” có tộc người Mạ Tác giả Bình Nguyên Lộc có bài khảo

luận dựa trên ngôn ngữ Dân tộc học đã đưa ra nhận xét: “Nam Bộ, đặc biệt là từ Mỹ

Tho lên hết miền Đông xưa kia là địa bàn sinh sống của dân tộc Mạ[34; tr 249-258]

Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh tập 1 với những luận điểm khoa học cho rằng: “Sài Gòn xưa và vùng Đông Nam Bộ là không gian văn hóa xã hội của tộc người

Stiêng, Mạ, Ch’ru” [24; tr 200] Học giả Nguyễn Đình Đầu trong bài thảo luận Địa

danh Bà Rịa đất đỏ và dân tộc Mạ, trích lại những chú giải về thư tịch cổ của Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Siêu, Châu Đạt Quan, Mã Đoan Lâm, v.v Theo ông, hai nước Bà

Trang 33

Lợi và Xích Thổ trong thư tịch chính là địa bàn của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay

và là địa bàn cư trú trước đây của người Mạ [22; tr 17-19] Trong các công trình địa phương chí về vùng Biên Hòa, Long Khánh đầu thế kỉ XX còn liệt kê và chụp ảnh những vùng đất mà người dân tộc thiểu số cư trú trong đó có đề cập nhóm người Mạ ở vùng đất Chứa Chan (nay thuộc địa phận huyện Xuân Lộc), vùng Gia Canh (thuộc huyện Định Quán) tỉnh Đồng Nai [38]

Người Mạ là một cộng đồng người có tính thống nhất tộc người khá rõ nét về mặt tâm lí xã hội Họ đã từng có một nền văn minh khá phát triển so với các tộc người khác ở miền Nam Tây Nguyên Chính vì điều nay đã gợi ý một số nhà nghiên cứu gọi đây là “tiểu vương quốc Mạ” [34; tr 249] [80; tr 14.]hay “xứ Mạ” [92; tr 21]

Vào cuối thiên niên kỉ thứ nhất sau công nguyên, với sự hình thành và phát triển của các vương quốc Phù Nam và Chăm Pa, khi nước Phù Nam chấp nhận văn minh Ấn

Độ khởi xướng từ vùng Thất Sơn tới đồi Ba Nam thì các dân tộc Stiêng, Mạ, M’Nông, K’Ho đã cư trú ở đồng bằng Nam Bộ Trong một thời gian khá dài, dân tộc Stiêng và

Mạ trở thành vùng đệm giữa hai nước Chiêm Thành và Chân Lạp Hai dân tộc đó chiếm một địa bàn cư trú khá lớn và là những “vương quốc” còn giữ lại hình tích cho đến gần đây, đó là nước Stiêng và nước Châu Mạ hay “Mọi Bà Rịa” [23; tr 207] Phù Nam đã từng tiến công chiếm đóng vùng đất Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Vương quốc Chăm Pa Trong hai vương quốc này cũng có lúc kiểm soát các tộc người Mạ, Chơ ro, Stiêng, buộc thủ lãnh của các tộc người này phải cống nạp

“Tuy phải triều cống Cao Miên, Mạ vẫn là một tiểu quốc tự do, tiểu vương quốc Châu Mạ cai trị khắp vùng Tây Nam trên lưu vực sông La Ngà và về mạn bắc trên cao nguyên Di Linh và Lâm Đồng nay ” [92]

Như vậy, trong hàng thế kỉ, kể từ khi Phù Nam xuất hiện đến lúc người Việt tới khẩn hoang lập ấp thì khu vực Nam Tây Nguyên - Đông Nam Bộ là lãnh địa của các tộc người, các tiểu quốc, trong đó có tiểu quốc Mạ chia nhau cai trị

“Và khi chúa Nguyễn đã chiếm hết đất Chiêm Thành và bắt đầu chiếm đất Biên Hòa - Gia Định thì nước Sơ Mạ không thể tồn tại độc lập được nữa vì ở ngay trên đường giao thông của người Việt từ Khánh Hòa - Bình Thuận vào Biên Hòa - Gia Định Thế là nước suy tàn và các bộ lạc tản cư lên miền tây Bình Thuận và miền đông

Trang 34

nước Cao Miên Sau đầu thời Nguyễn thì những Sơ Mạ ở miền nam tỉnh Bình Thuận

và miền đông tỉnh Biên Hòa trở thành những sách “thuộc man” của hai tỉnh ấy , cao nguyên Sơ Mạ ở thượng lưu sông Đồng Nai được tổ chức thành tỉnh Đồng Nai Thượng, tỉnh lỵ là Di Linh với một sở đại lí ở Đà Lạt…”[2; tr.165-166]

Thế kỉ XIX, với việc người Pháp đặt chân lên vùng đất Đông Nam Bộ mở đầu công cuộc khai thác thuộc địa thì địa bàn cư trú của người Mạ bị xáo trộn Đất rừng bị tước đoạt, họ bị dồn vào những vùng núi hiểm trở Từ sau năm 1954, chính quyền tay sai của Mỹ với những chính sách gom dân vào ấp chiến lược, các cuộc hành quân bình định hủy diệt môi tường sống đã làm biến động mạnh địa bàn cư trú và cuộc sống của người Mạ thêm một lần nữa

Trải qua nhiều biến cố lịch sử, người Mạ ngày nay cư trú chủ yếu ở các huyện Bảo Lâm, Đạ Huoai, Đạtẻh và Cát Tiên thuộc tỉnh Lâm Đồng, một số cư trú ở các huyện Định Quán và Tân Phú tỉnh Đồng Nai và một số ít cư trú ở tỉnh Bình Phước, Đăk Nông v.v

Về mặt ngôn ngữ, người Mạ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, dòng Nam Á, chưa có chữ viết riêng Tiếng nói của người Mạ và người K’Ho căn bản giống nhau Người Mạ có thể đọc và viết chữ K’Ho đã được Latin hóa trước đây do công cuộc truyền bá tôn giáo của các hệ phái Tin lành, Thiên Chúa thời kỳ trước năm 1975

thống nhất, có tên gọi chung, ngôn ngữ chung và ý thức chung về tộc người mình, họ

tự phân biệt mình với các tộc người láng giềng Trong quá trình tồn tại và phát triển, tộc người Mạ đã phân chia thành các nhóm địa phương như: Mạ Ngăn, Mạ Xốp, Mạ

Tô và Mạ Krung

- Mạ Ngăn, được cho là nhóm chính tông, cư trú ở vùng lưu vực sông Đạ Đâng

Trang 35

(sông lớn - sông cái, tức sông Đồng Nai), nằm về phía Bắc B’Lao thuộc địa vực các xã: Lộc Bắc, Lộc Lâm và các thị trấn huyện Bảo Lâm, Đạtẻh tỉnh Lâm Đồng

- Mạ Tô, cư trú ở vùng thượng lưu sông La Ngà (Đạ Rnga), nằm trên cao

nguyên Bảo Lộc và gần gũi với người K’Ho hơn cả

- Mạ Krung là nhóm ở vùng bình sơn nguyên, địa bàn cư trú từ tây - nam Bảo

Lộc, tỉnh Lâm Đồng đến vùng Định Quán, tỉnh Đồng Nai

- Mạ Xốp là nhóm người Mạ cư trú ở vùng đất phiến (xốp có nghĩa là đất phiến)

thuộc địa phận các xã Lộc Bắc và một phần của huyện Đạtẻh” [69]

Trang 36

Tiểu kết chương 1

Văn hóa của một cộng đồng được xác định với ba chiều kích: khách thể, không gian và thời gian Cộng đồng Mạ ở huyện Đạtẻh cũng được chúng tôi khảo sát với tiêu chí này để làm cơ sở cho việc nghiên cứu cách thức tổ chức đời sống của họ

Người Mạ là cư dân bản địa vùng Nam Tây Nguyên - Đông Nam Bộ đã cư trú trên vùng đất này từ rất lâu Trải qua nhiều biến cố lịch sử, cho đến nay cộng đồng Mạ vẫn là một cộng đồng tương đối ổn định, sinh sống và phát triển ở vùng Đạtẻh, B’Lao tỉnh Lâm Đồng và một số vùng lân cận

Đó là những cơ sở thực tiễn tác động đến việc hình thành và phát triển các dạng thức văn hóa của người Mạ sẽ được chúng tôi trình bày trong hai chương tiếp theo

Trang 37

Chương 2 VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MẠ

Địa bàn sinh sống của đồng bào Mạ nói chung, của người Mạ ở huyện Đạtẻh, tỉnh Lâm Đồng nói riêng thuộc khu vực Nam Tây Nguyên gắn liền với những yếu tố môi trường tự nhiên đặc trưng của vùng rừng núi Trong văn hóa tổ chức đời sống của người Mạ, bên cạnh những nét tương đồng với các tộc người thiểu số Nam Tây Nguyên, Văn hoá tổ chức đời sống cộng đồng của họ còn có những nét riêng thể hiện qua các hình thái như: Tổ chức cư trú, Tổ chức hoạt động mưu sinh v.v… Các hình thái này đã phản ánh kết quả của sự ứng xử của người Mạ với môi trường cảnh quan vùng Nam Tây Nguyên qua nhiều thế kỉ

2.1 Tổ chức cư trú

2.1.1 Theo huyết thống

Tổ chức cư trú theo quan hệ huyết thống là một trong những nét đặc trưng cơ

bản của văn hóa tổ chức đời sống, trong đó thể hiện rõ nét hai khía cạnh chính là gia đình và dòng họ

2.1.1.1 Gia đình

Gia đình là một thiết chế xã hội trong đó các thành viên đều có những mối liên

hệ hôn nhân, huyết thống với nhau

-Về mặt cấu trúc, có thể chia gia đình làm hai loại: Gia đình hạt nhân (gồm cha, mẹ và con cái) hay Gia đình hạt nhân mở rộng (gồm ông, bà, cha, mẹ, cháu) và

Gia đình lớn (đại gia đình - gồm có hai cặp hôn nhân trở lên)

-Về mặt qui mô, có thể chia làm hai loại: Gia đình nhỏ (gồm gia đình hạt nhân

và gia đình hạt nhân mở rộng), Gia đình lớn (gồm nhiều gia đình hạt nhân)

Trong truyền thống, gia đình lớn phụ quyền và gia đình nhỏ phụ quyền là các hình thức gia đình cơ bản của người Mạ Hiện nay chúng vẫn tồn tại ở Đạtẻh, Lâm Đồng

Trong sản xuất, người Mạ luôn có sự phân công lao động rõ rệt Trong truyền thống, đất rừng là tư liệu sản xuất chung của cả dòng họ Tuy nhiên, sau khi rừng được

Trang 38

khai phá thành rẫy thì là tài sản riêng của từng gia đình, diện tích rẫy khai thác phụ thuộc vào nhu cầu canh tác và khả năng khai phá của mỗi gia đình Lao động sản xuất

là việc riêng của mỗi gia đình nhỏ Mỗi gia đình chỉ được canh tác trên phần rẫy của mình Việc phân công các thành viên trong gia đình mình giúp đỡ các gia đình khác trong lao động sản xuất là một tập quán phổ biến trong cộng đồng Mạ

Mỗi gia đình có một bếp vừa để sưởi ấm vừa để nấu ăn Các đồ dùng và các vật quí như: chiêng, ché v.v… thuộc quyền sở hữu chung của cả gia đình lớn Trách nhiệm bảo quản thuộc về những người đàn ông chủ gia đình này

Gia đình nhỏ của người Mạ hiện nay bao gồm cha mẹ và con cái (gia đình hạt nhân) Để giải quyết việc quan trọng trong gia đình thì luôn có sự bàn bạc giữa hai vợ chồng, tuy nhiên, quyết định cuối cùng thuộc về người chồng Các việc quan trọng của các gia đình nhỏ vẫn phụ thuộc vào gia đình lớn “Bên cạnh hình thức gia đình lớn đang dần dần tan rã xã hội người Mạ đã xuất hiện ngày càng phổ biến hình thức gia đình nhỏ phụ quyền Trong gia đình này, quyền hành vẫn thuộc về người đàn ông là chủ yếu Tuy vậy, mọi việc thường được bàn bạc chung giữa hai vợ chồng Gia đình nhỏ thực sự là một đơn vị kinh tế cá thể Tuy vậy vẫn còn lưu giữ được nhiều dấu vết của gia đình lớn phụ hệ” [29]

Tàn dư mẫu hệ vẫn còn đậm nét trong cộng đồng Mạ Sau đám cưới, người chồng sẽ về sinh sống bên nhà vợ một thời gian, sau đó mới về nhà của mình Thời gian cư trú tùy thuộc vào sự thỏa thuận của hai bên gia đình Thông thường số năm là

số chẵn, hai năm, bốn năm, sáu năm, v.v… nhưng cũng có trường hợp chỉ một năm

Phân chia thành quả lao động trong thời gian cư trú bên vợ là một đặc trưng văn hóa Mạ Trong thời gian cư trú bên nhà vợ, người chồng phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình vợ, của cải do mình làm ra đều thuộc gia đình vợ, anh ta chỉ được nhà vợ chia lại một phần để lo cho gia đình nhỏ của mình và để dành trả nợ của hồi môn đã thách cưới trước đó cho nhà vợ

Sau khi trả hết nợ (của hồi môn) thì hai vợ chồng mới được phép dọn về cư trú bên nhà chồng, nếu trong thời hạn thỏa thuận mà chàng rể chưa trả hết nợ thì vẫn có thể được cho phép về ở bên nhà chồng nhưng vẫn phải tiếp tục trả nợ, hoặc sẽ phải để lại một hoặc hai đứa con cho bên ngoại, tùy theo số nợ còn lại nhiều hay ít Trường

Trang 39

hợp nếu chưa trả hết nợ mà mất thì con cái của họ phải tiếp tục trả nợ thay cho họ Theo nghiên cứu của chúng tôi vẫn có một vài trường hợp phải ở lại bên vợ đến hết đời vì không trả hết được nợ

Ngược lại, nếu ngay khi đám cưới gia đình chồng có đủ khả năng nạp đủ của cải mà bên nhà gái đã thách cưới thì sau đám cưới bảy ngày đôi vợ chồng sẽ được dọn về cư trú bên nhà chồng Nhưng thực tế ít người đáp ứng được điều kiện này và theo khảo sát chúng tôi thì cũng có rất ít có trường hợp này

Người Mạ không có tên họ giống như người Kinh, chỉ có phân biệt nam, nữ thông qua tên gọi Ví dụ: tên K’Vinh, Ka Hồng K’ chỉ giới tính là đàn ông và Ka phụ

nữ Người Mạ đặt tên cho con bằng chữ cái đầu tiên theo tên của ông bà tổ tiên đã khuất nhằm tưởng nhớ các bậc tổ tiên và cũng để cho dễ xác định dòng họ sau này Ví dụ: đứa trẻ có tổ tiên tên là K’Vinh thì đứa trẻ sẽ được đặt tên lấy theo chữ “V”, K’Vũ chẳng hạn Với tên này người Mạ biết rằng K’Vũ có họ hàng với K’Vinh

Hiện nay ở Đạtẻh các gia đình người Mạ vẫn cư trú gần nhau, hình thành nên

những nhóm thân thuộc mà mọi người thường gọi là dòng họ Trong mỗi gia đình, ông

bà cư trú trong ngôi nhà chính, gia đình con cái cư trú nối ra hai bên Các gia đình

trong cùng dòng họ thờ chung một nao (ông bà tổ tiên) Mặc dù các gia đình Mạ đều

độc lập về kinh tế, tuy nhiên, họ luôn giúp đỡ nhau về mặt tình cảm cũng như vật chất khi cần thiết

Hiện nay đã có những biến đổi đời sống cộng đồng Mạ Nhà của người Mạ được xây theo kiểu dáng nhà của người Kinh Hình thức cư trú cũng rất giống với người Kinh nhưng về bản chất nó vẫn không khác biệt nhiều so với truyền thống của người Mạ Việc nối dài các nhà ra hai bên vẫn giống như hình thức cư trú trong nhà sàn dài trước đây, những gia đình sống liền kề với nhau đều cùng dòng họ và thờ

Trang 40

người cùng một nao sống chung với nhau trong một nhà sàn dài Dòng họ rất quan

trọng, nó thể hiện sự cố kết cộng đồng của người Mạ Dòng họ Mạ như một xã hội thu nhỏ, mọi thành viên trong dòng họ đều có những mối liên hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau

Trong khi hầu hết các tộc người ở Lâm Đồng như K,Ho, Chil v.v… còn tồn tại hình thức hôn nhân gia đình của thời kì chế độ mẫu hệ thì người Mạ là một tộc người tồn tại hình thức hôn nhân gia đình theo chế độ phụ hệ

“Con gái để dành cho người khác

Con trai ở lại với dòng họ của mình” [92; tr.56]

Trong các dòng họ Mạ, vai trò của người đàn ông rất quan trọng Do những đặc thù về hình thể, sức khoẻ, tinh thần của mình nên những người đàn ông Mạ đảm nhiệm tốt những công việc như làm rẫy, rèn công cụ lao động, vũ khí, săn bắn, chiến đấu bảo

vệ dòng họ mình v.v Mỗi dòng họ Mạ sẽ chọn một người đàn ông lớn tuổi và có uy

tín trong cộng đồng mình để làm Tộc trưởng Tộc trưởng là người gánh vác trọng trách

lo liệu mọi việc của dòng họ như: tổ chức các lễ cúng của dòng họ, các lễ hội nông nghiệp, cúng giải hạn, cầu khấn thần linh, cưới, hỏi, tang ma v.v… Ông cũng có quyền hạn và trách nhiệm phân xử các sự việc xảy ra trong dòng họ mình

Đất rừng là sở hữu chung của các dòng họ Mạ trong cùng một bon Diện tích rừng và diện tích đất canh tác thể hiện qui mô của một dòng họ Khi các dòng họ phát triển đến một mức nhất định, tùy theo diện tích đất canh tác hiện có mà họ sẽ chia tách

ra “Người ta không thể nối dài thêm hoài một cái nhà sàn cho những gia đình mới ở, mặc dù có những dòng họ trứ danh với một căn nhà rất dài chứa đến 10 gia đình chồng

vợ và cả nhiều hơn nữa” “ Người ta không thể sống với số lượng vô hạn định trên một khoảng rừng và rất bất tiện nếu không nói là nguy hiểm, nếu sống gần sát nhau quá vì việc này sẽ tăng thêm các điều kiêng cữ và cấm kị” [92; tr 57-58]

Dòng họ là một thiết chế xã hội Nó bao gồm nhiều gia đình cùng sinh sống, trong đó, sự phân công lao động được thể hiện rõ rệt

Phân công lao động trong lao động sản xuất Đàn ông làm những công việc nặng nhọc như phát rẫy, đốt rẫy, chọc lỗ (để gieo hạt giống), săn bắn thú rừng, v.v…

Ngày đăng: 07/05/2021, 17:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan An (1992), Hệ thống xã hội tộc người của người Xtiêng, Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Lịch sử, Viện KHXH tại Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: H"ệ" th"ố"ng xã h"ộ"i t"ộ"c ng"ườ"i c"ủ"a ng"ườ"i Xtiêng
Tác giả: Phan An
Năm: 1992
2. Đào Duy Anh (1994), Đất nước Việt Nam qua các đời, Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: t n"ướ"c Vi"ệ"t Nam qua các "đờ"i
Tác giả: Đào Duy Anh
Năm: 1994
3. Đào Duy Anh (2000), Việt Nam văn hóa sử cương, Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi"ệ"t Nam v"ă"n hóa s"ử" c"ươ"ng
Tác giả: Đào Duy Anh
Năm: 2000
4. Trần Tuấn Anh, Hiện tượng giải thể nhà dài của người Mạ, Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, số 10-2-12, trang 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hi"ệ"n t"ượ"ng gi"ả"i th"ể" nhà dài c"ủ"a ng"ườ"i M
5. Ban dân vận tỉnh ủy Đồng Nai (1987), Các dân tộc thiểu số ở Đồng Nai, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân t"ộ"c thi"ể"u s"ố ở Đồ"ng Nai
Tác giả: Ban dân vận tỉnh ủy Đồng Nai
Năm: 1987
6. Phan Xuân Biên (1977), Một số ý kiến về thành phần dân tộc của cư dân bản địa Lâm Đồng, Tạp chí Dân tộc học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: M"ộ"t s"ố" ý ki"ế"n v"ề" thành ph"ầ"n dân t"ộ"c c"ủ"a c"ư" dân b"ả"n "đị"a Lâm "Đồ"ng
Tác giả: Phan Xuân Biên
Năm: 1977
7. Phan Xuân Biên (1979), Những vấn đề dân tộc học vùng Lâm Đồng, Tạp chí Dân tộc học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nh"ữ"ng v"ấ"n "đề" dân t"ộ"c h"ọ"c vùng Lâm "Đồ"ng
Tác giả: Phan Xuân Biên
Năm: 1979
8. Phan Xuân Biên (1985), Những khái niệm cơ bản của dân tộc học, Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nh"ữ"ng khái ni"ệ"m c"ơ" b"ả"n c"ủ"a dân t"ộ"c h"ọ"c
Tác giả: Phan Xuân Biên
Năm: 1985
9. Phan Xuân Biên (1998), Cư dân bản địa vùng Đồng Nai, Kỷ yếu Hội thảo 300 năm Biên Hòa - Đồng Nai, Sở VHTT Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: C"ư" dân b"ả"n "đị"a vùng "Đồ"ng Nai
Tác giả: Phan Xuân Biên
Năm: 1998
10. Trần Viết Bính (1998), Dân ca Châu Mạ, Tập I và II, Tài liệu Nhà bảo tàng Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Châu M
Tác giả: Trần Viết Bính
Năm: 1998
12. Đoàn Văn Chúc (1997), Xã hội học văn hóa, Văn hóa thông tin, Hà Nội. [12] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã h"ộ"i h"ọ"c v"ă"n hóa
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Năm: 1997
13. Đoàn Văn Chúc (2004), Văn hóa học, Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n hóa h"ọ"c
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Năm: 2004
14. Phan Hữu Dật (2004), Góp phần nghiên cứu dân tộc học Việt Nam, Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp ph"ầ"n nghiên c"ứ"u dân t"ộ"c h"ọ"c Vi"ệ"t Nam
Tác giả: Phan Hữu Dật
Năm: 2004
15. Lê Xuân Diệm cùng các cộng sự (1991), Khảo cổ ở Đồng Nai thời tiền sử, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kh"ả"o c"ổ ở Đồ"ng Nai th"ờ"i ti"ề"n s
Tác giả: Lê Xuân Diệm cùng các cộng sự
Năm: 1991
16. Chu Xuân Diên (1999), Cơ sở Văn hóa Việt Nam, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: C"ơ" s"ở" V"ă"n hóa Vi"ệ"t Nam
Tác giả: Chu Xuân Diên
Năm: 1999
17. Trương Minh Dục (2006), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên, Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: M"ộ"t s"ố" v"ấ"n "đề" lý lu"ậ"n và th"ự"c ti"ễ"n v"ề" dân t"ộ"c và quan h"ệ" dân t"ộ"c "ở" Tây Nguyên
Tác giả: Trương Minh Dục
Năm: 2006
18. Nguyễn Đăng Duy (2001), Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình thái tín ng"ưỡ"ng tôn giáo "ở" Vi"ệ"t Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Năm: 2001
19. Đại nam nhất thống chí tỉnh Biên Hòa (1973), Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: i nam nh"ấ"t th"ố"ng chí t"ỉ"nh Biên Hòa
Tác giả: Đại nam nhất thống chí tỉnh Biên Hòa
Năm: 1973
20. Nguyễn Tấn Đắc (2005), Văn hóa xã hội con người Tây Nguyên, Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n hóa xã h"ộ"i con ng"ườ"i Tây Nguyên
Tác giả: Nguyễn Tấn Đắc
Năm: 2005
21. Bế Viết Đẳng và các tác giả (1984), Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía nam), Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân t"ộ"c ít ng"ườ"i "ở" Vi"ệ"t Nam (các t"ỉ"nh phía nam)
Tác giả: Bế Viết Đẳng và các tác giả
Năm: 1984

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w