1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc trưng cú pháp ngữ nghĩa của kết cấu vị từ chuyển động do tác động trong tiếng việt (có so sánh với tiếng anh)

98 69 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Trưng Cú Pháp - Ngữ Nghĩa Của Kết Cấu Vị Từ Chuyển Động Do Tác Động Trong Tiếng Việt (Có So Sánh Với Tiếng Anh)
Tác giả Phan Thanh Tâm
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hoàng Trung
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh - Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN Act : Action hành động Ag : Agent tác thể Cau : Cause nguyên nhân gây chuyển động CP : The Correspondence Principle Nguyên tắc Phù ứng DN : Danh ngữ DO : Dire

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHAN THANH TÂM

ĐẶC TRƯNG CÚ PHÁP - NGỮ NGHĨA CỦA KẾT CẤU VỊ TỪ CHUYỂN ĐỘNG

DO TÁC ĐỘNG TRONG TIẾNG VIỆT

(có so sánh với tiếng Anh)

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC

MÃ SỐ: 60.22 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN HOÀNG TRUNG

TP.HỒ CHÍ MINH - 2013

Trang 2

   

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc nhất đến Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Trung, người đã tận tình hướng dẫn tôi chọn hướng nghiên cứu và cho tôi những kiến thức về ngôn ngữ quý báu để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Qua luận văn này, tôi cũng xin được gửi lời cám ơn chân thành tới tất

cả Thầy, Cô đã hướng dẫn tôi qua các môn học của khóa Cao học 2011 Những kiến thức được các Thầy, Cô trang bị đã giúp tôi rất nhiều trong việc thực hiện luận văn cũng như sẽ giúp cho tôi trong công tác sau này

Trong quá trình làm luận văn, tôi nhận được sự giúp đỡ của Thạc sĩ Võ Duy Minh với những kiến thức về ngôn ngữ liên quan đến tiếng Anh Tôi xin cảm ơn sự khích lệ, động viên của người thân, các đồng nghiệp và bạn bè, những người luôn ủng hộ tôi trong suốt thời gian qua

Trang 3

MỤC LỤC

Lời cảm ơn

Mục lục

Chữ viết tắt trong luận văn

PHẦN DẪN NHẬP 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9

2.1 Trên thế giới 9

2.2 Ở Việt Nam 10

3 Phạm vi và mục đích nghiên cứu 13

3.1 Phạm vi nghiên cứu 13

3.2 Mục đích nghiên cứu 14

4 Phương pháp nghiên cứu 15

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 16

6 Bố cục của Luận văn 17

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn này gồm có 3 chương 17

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 18

MỘT SỐ KHÁI NIỆM HỮU QUAN 18

1.1 Khái niệm chuyển động 19

1.1.1 Chuyển động tịnh tiến (Translational motion) 21

1.1.2 Chuyển động hướng thân (self-contained motion) 23

1.2 Các yếu tố cấu thành chuyển động theo Leonard Talmy 24

1.2.1.Thành tố nội tại của sự tình chuyển động 25

1.2.1.1 Đối tượng chuyển động (Figure) 25

1.2.1.2 Điểm quy chiếu chuyển động (Ground) 26

1.2.1.3 Hướng chuyển động (path) 27

1.2.1.4 Chuyển động (Motion) 27

1.2.2 Thành tố bên ngoài của sự tình chuyển động 28

Trang 4

1.2.2.1 Phương thức chuyển động (Manner) 28

1.2.2.2 Nguyên nhân chuyển động (Cause) 29

1.3 Mô hình từ vựng hóa các thành tố của sự tình chuyển động 30

1.3.1 Ngôn ngữ mã hóa đồng sự tình trong cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ

(Satellite-framed Languages - SFL) 31

1.3.2 Ngôn ngữ mã hóa hướng chuyển động trong cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ (Verb-framed Languages -VFL) 33

1.3.3 Ngôn ngữ mã hóa đồng sự tình và hướng chuyển động trong cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ chuyển động (Equipollently-framed Languages - EFL) 35

1.4 Kết cấu vị từ chuyển động do tác động 37

1.4.1 Khái niệm kết cấu 37

1.4.2 Kết cấu vị từ chuyển động do tác động trong tiếng Việt 39

CHƯƠNG 2 ĐẶC TRƯNG CÚ PHÁP - NGỮ NGHĨA CỦA KẾT CẤU VỊ TỪ CHUYỂN ĐỘNG DO TÁC ĐỘNG TRONG TIẾNG VIỆT 41

2.1 Các tham tố ngữ nghĩa của kết cấu 43

2.1.1 Tham tố kẻ gây khiến (Causer) 45

2.1.2 Tham tố bị thể hay đối tượng chuyển động (Theme) 48

2.1.3 Nguyên nhân gây chuyển động (Cause) 50

2.1.4 Hướng chuyển động (Path of motion) 51

2.1.5 Tham tố “điểm quy chiếu” trong kết cấu chuyển động do tác động 52

2.2 Kết cấu chuyển động do tác động có nghĩa chuyển di (transfer) 53

2.3 Kết cấu chuyển động do tác động với vị từ làm/khiến 54

2.4 Sự tương tác giữa cấu trúc ngữ nghĩa và cấu trúc cú pháp của kết cấu 55

2.5 Tiểu kết 59

CHƯƠNG 3 SO SÁNH KẾT CẤU VỊ TỪ CHUYỂN ĐỘNG DO TÁC ĐỘNG TRONG TIẾNG VIỆT VỚI CÁC KẾT CẤU TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG ANH 60

3.1 Kết cấu vị từ chuyển động do tác động trong tiếng Anh 60

3.1.1 Khái quát sự tình chuyển động trong tiếng Anh 60

3.1.2 Kết cấu chuyển động do tác động trong tiếng Anh 61

3.1.3 Kết cấu chuyển động do tác động có nghĩa chuyển di 64

Trang 5

3.2 Đối chiếu kết cấu chuyển động do tác động tiếng Việt với tiếng Anh 66

3.2.1 Sự khác biệt về loại hình 67

3.2.2 Sự khác biệt về cú pháp 67

3.2.3 Sự khác biệt trong cách biểu đạt kết cấu chuyển động do tác động 68

3.3 Những hệ lụy trong việc dịch thuật và giảng dạy kết cấu chuyển động và kết cấu chuyển động do tác động 74

3.3.1 Chuyển dịch kết cấu chuyển động từ tiếng Anh sang tiếng Việt 74

3.3.2 Những chú ý trong việc giảng dạy các kết cấu chuyển động do tác động trong tiếng Anh 79

3.4 Tiểu kết 80

KẾT LUẬN 81

1 Kết luận 81

2 Đề nghị 83

2.1 Cho phương thức giảng dạy tiếng Anh 83

2.2 Cho các hướng nghiên cứu mở rộng 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt: 87

Tài liệu tham khảo bằng tiếng Anh 90

Tài liệu tải từ Internet 96

Trang 6

CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Act : Action (hành động)

Ag : Agent (tác thể)

Cau : Cause (nguyên nhân gây chuyển động)

CP : The Correspondence Principle (Nguyên tắc Phù ứng)

DN : Danh ngữ

DO : Direct Object (bổ ngữ trực tiếp)

EFL : Equipollently-framed Languages (ngôn ngữ mã hoá đồng sự tình trong cấu

trúc ngữ nghĩa của vị từ)

Fi : Figure (đối tượng chuyển động)

Gr : Ground (điểm quy chiếu của chuyển động)

Obj : Object (tân ngữ)

Obl : Oblique (bổ ngữ gián tiếp)

Pa : Path (hướng chuyển động)

SCP : The Semantic Coherence Principle (Nguyên tắc Mạch lạc Ngữ nghĩa) Subj : Subject (chủ ngữ)

SFL : Satellite-framed Languages (ngôn ngữ mã hoá đồng sự tình trong cấu trúc

Trang 7

PHẦN DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Từ khi Leonard Talmy (1972) và Ray Jackendoff (1976) nêu lên vấn đề về mối quan hệ giữa cú pháp và ngữ nghĩa về kết cấu vị từ chuyển động cũng như vị từ chuyển động do tác động thì vấn đề này đã trở thành đề tài được rất nhiều học giả quan tâm Trong các thập kỷ qua đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện về vị từ chuyển động cùng vị từ chuyển động do tác động và sự khác biệt trong nhận thức về cách sử dụng vị từ chuyển động giữa các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới (Berman & Slobin, 1994; Hoiting & Slobin, 1994; Ozcaliskan & Slobin, 1999, 2000a, 2000b, 2003; Slobin, 1996, 1997, 2000, 2003, 2004, 2005a, 2005b, 2005c; trong Slobin, 2006) cũng như việc lĩnh hội vị từ chuyển động của người học ngôn ngữ thứ hai (Gabriele, 2008; Gavruseva, 2003; Huang, 2006; Inagaki, 2001; Jeschull, 2007; Nagan, 2012; Nossalik, 2009; Ohara, 2012; Papfragou & Selimis, 2007; Peng, 2011; Tsimpli và đồng sự, 2012, v.v…)

Từ những cơ sở dữ liệu liên quan đến quá trình nghiên cứu vấn đề vị từ chuyển động và vị từ chuyển động do tác động cho thấy có hai trường phái liên quan đến cấu trúc chuyển động Trường phái thứ nhất gồm có Ray Jackendoff (1990), Rappaport-Hovav & Beth Levin (1999), Wechsler (2005) Trường phái này cho rằng cấu trúc gây chuyển động chủ yếu là do từ vựng (Raffaella Folli & Heidi Harley, 2006, trang 122) Những tác giả theo trường phái này cho rằng cấu trúc khái niệm từ vựng (Lexical-conceptual Structure – LCS) giải thích cho những hạn chế về

cú pháp trên cấu trúc Trường phái thứ hai chủ trương rằng cấu trúc gây chuyển động được dựa trên cú pháp của ngôn ngữ Trường phái này có hai nhánh Một nhánh của trường phái này cho rằng sự ánh xạ của một chính tố chức năng (functional projection) sẽ xác định đối tượng nhận hành động trong cấu trúc và từ

đó suy diễn ra đó là những đối tượng phải nhận một sự thay đổi về trạng thái hay thay đổi vể không gian Nhánh này cho rằng sự ánh xạ của một chính tố chức năng (functional projection) là điều cần thiết cho yếu tố chuyển động xuất hiện Các tác giả theo nhánh này có thể kể là Tenny (1987), Travis (1994), van Hout (1996), Ritter & Rosen (1998), Borer (1998), Sanz (2000) Cùng theo trường phái nghiêng

Trang 8

về cú pháp, một nhánh khác cho rằng cấu trúc gây chuyển động được hình thành khi

có một bổ ngữ phụ gây khiến (resultative secondary predicate) xuất hiện trong cấu trúc cú pháp Sự thay đổi về mặt cấu trúc theo logic này tạo ra một sự suy diễn bổ sung cho rằng một tham tố nào đó của động từ chính như là một vị từ ở bậc thấp hơn (lower predication), và khi đó một sự thay đổi trạng thái hay không gian được hình thành Nhiều tác giả theo trường phái này gồm có Chomsky (1981), Stowell (1983), Hoekstra (1984), Kayne (1985)

Nhìn chung, với những nhà nghiên cứu theo hướng cú pháp cho mối quan hệ tác động – chuyển động thì họ cho rằng điểm kết của các sự việc cấp dưới được tiêu biểu trực tiếp bởi sự phát khởi của một kiến trúc thượng tầng chức năng cụ thể (a particular functional superstructure) (theo Travis, 1994, Van Hout, 1996, Borer,

1998, Ritter & Rosen, 1998, và các tác giả khác) Với các nhà nghiên cứu theo hướng từ vựng ngữ nghĩa (Lexical-semantic perspective), mối quan hệ giữa điểm kết và cú pháp là kết quả của sự xác định về từ vựng của ngữ nghĩa động từ được hiểu trong cú pháp theo những quy luật nối kết mà chúng cho phép các liên kết giữa những yếu tố ngữ nghĩa cụ thể và cấu trúc cú pháp cụ thể (theo Levin & Rappaport-Hovav, 1995) Trong luận văn này, tác giả sẽ dựa vào quan điểm liên kết giữa những yếu tố ngữ nghĩa và cấu trúc cú pháp để xem xét chuỗi vị từ chuyển động do tác động trong tiếng Việt

Vị từ chuyển động, cùng với đó là vị từ gây chuyển động và vị từ chuyển động do tác động, là nhóm vị từ quan trọng trong từng ngôn ngữ Leonard Talmy (1972, 1883, 1985, 1988, 1991, 1996, 2000) đã chỉ rõ nhóm vị từ này xác định loại hình đặc trưng cho ngôn ngữ của các dân tộc Công trình nghiên cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới cho thấy cách diễn đạt vị từ chuyển động cũng như vị từ chuyển động do tác động trong bất kỳ ngôn ngữ nào cũng phụ thuộc vào hai khía cạnh từ vựng và cú pháp trong ngôn ngữ đó (Leonard Talmy, 1985; Levin, 1993; Levin & Rappartport, 1995; Rappartport & Levin, 1998; Leonard Talmy, 2000; Mateu, 2002; Ramchand, 2003; Folli & Ramchand, 2005; Zubizarreta & Oh, 2007; Ramchand, 2008; Beavers và đồng sự, 2010; den Dikken, 2010, và các tác giả khác theo Dragan, 2012) Vì thế, tác giả cho rằng việc nghiên cứu về nhóm vị từ này sẽ

Trang 9

giúp cho chúng ta có một cái nhìn sắc nét hơn vào chính ngôn ngữ đang sử dụng của chúng ta, tiếng Việt

Tuy nhiên, trong nhiều nghiên cứu trước đây của chúng ta, nhóm vị từ này chưa được nghiên cứu sâu sắc, phần lớn đưa chúng vào nhóm vị từ gây khiến – kết quả Điều này sẽ làm sai lệch ít nhiều đặc trưng ngữ nghĩa cũng như kết cấu cú pháp của nhóm từ này Trong nghiên cứu này, tác giả luận văn sẽ xem xét vị từ chuyển động do tác động trong tiếng Việt dưới góc nhìn cả ngữ nghĩa và cú pháp, đồng thời

so sánh với tiếng Anh trong góc độ liên quan để ghi nhận những nét tương đồng và khác biệt trong vấn đề giữa hai ngôn ngữ này Tác giả luận văn không có tham vọng đưa ra một hệ thống phân loại vị từ chuyển động do tác động, tuy nhiên tác giả mong được đóng góp nghiên cứu của mình vào công trình chung của tiếng Việt trong vấn đề, đặc biệt với việc giảng dạy và chuyển dịch giữa tiếng Việt và tiếng Anh Trong tình hình hội nhập toàn cầu hiện nay, việc đối chiếu giữa tiếng Việt và một ngôn ngữ có tính quốc tế như tiếng Anh là điều cần thiết để chúng ta có thể vừa hoà nhập tốt và vừa có thể duy trì bản sắc văn hoá ngôn ngữ của chúng ta

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Trên thế giới

Trên thế giới, vị từ chuyển động, nói chung, và vị từ chuyển động do tác động đã được nhiều nhà ngôn ngữ tập trung nghiên cứu từ những năm 1970 Leonard Talmy, với công trình xuất bản năm 1972, được coi là người đi tiên phong trong việc nghiên cứu về vị từ chuyển động và vị từ chuyển động do tác động Từ những nghiên cứu của mình, nhà ngôn ngữ này đã đưa ra ba hình thức chung mà các ngôn ngữ trên thế giới tích hợp vào vị từ chuyển động để có ba hình thức ngôn ngữ

theo cách mà phương thức/nguyên nhân chuyển động, hướng chuyển động và chủ

thể chuyển động tích hợp vào vị từ chuyển động

Dựa trên ba hình thức tích hợp chung đó và đồng thời dựa trên số lượng các ngôn ngữ sử dụng các hình thức đó trên thế giới, Leonard Talmy đã đưa ra hai loại hình ngôn ngữ phổ biến trên thế giới là ngôn ngữ khung vị từ và ngôn ngữ khung phụ từ Tiếp theo Leonard Talmy, Jackendoff (1976) và nhiều nhà ngôn ngữ khác

Trang 10

đã tập trung nghiên cứu vào lĩnh vực này như Berman & Slobin (1994), Hoiting & Slobin (1994) Ozcaliskan & Slobin, (1999, 2000a, 2000b, 2003), Slobin (1996,

1997, 2000, 2003, 2004, 2005a, 2005b, 2005c) (theo Slobin, 2006) Trong các nghiên cứu của mình, Slobin (2004) bổ sung thêm loại hình ngôn ngữ khung đồng

bộ vị - phụ từ và các tiểu loại hình khác được sử dụng trên thế giới Đóng góp này của Slobin giúp cho việc xem xét các ngôn ngữ trên thế giới được sâu sắc hơn rất nhiều mặc dù số lượng các ngôn ngữ theo loại hình ngôn ngữ khung đồng bộ vị - phụ từ này không nhiều trên thế giới

Một đóng góp rất quan trọng vào vấn đề vị từ chuyển động được Goldberg công bố năm 1995 Trong các nghiên cứu của mình, nhà ngôn ngữ này đã đưa ra những danh sách khá cụ thể cũng như các kết cấu cú pháp cụ thể của từng nhóm vị

từ gây chuyển động trong tiếng Anh Chúng ta không thể phủ nhận thực tế tiếng Anh là một ngôn ngữ “mạnh”, có tính quốc tế và ảnh hưởng đến các ngôn ngữ khác (theo Bùi Khánh Thế, 2005, trong Tiếp xúc Ngôn ngữ tại Việt Nam), vì thế công trình nghiên cứu của Goldberg xứng đáng để chúng ta căn cứ và xem xét các ngôn ngữ khác, nói chung, và tiếng Việt, nói riêng

Lý do quan trọng để vị từ chuyển động và vị từ chuyển động do tác động được tập trung nghiên cứu vì, thứ nhất, các diễn đạt vị từ chuyển động trong bất kỳ ngôn ngữ nào cũng phụ thuộc vào cơ sở từ vựng, hình thái và cú pháp của các từ có sẵn trong ngôn ngữ đó (Drăgan, 2012, trg 01) và thứ hai, nó ảnh hưởng sâu sắc đến việc lĩnh hội ngôn ngữ thứ hai của người học (theo Inagaki, 2001; Gavruseva, 2003; Huang, 2006; Jeschull, 2007; Papfragou & Selimis, 2007; Gabriele, 2008; Nossalik, 2009; Peng, 2011; Nagan, 2012; Ohara, 2012; Tsimpli và đồng sự, 2012) Trong một thế giới ngày càng nhỏ do quá trình giao thoa giữa các ngôn ngữ, thì lý do thứ hai này rất quan trọng

2.2 Ở Việt Nam

Trong một chừng mực nào đó, vị từ chuyển động và vị từ chuyển động do tác động trong tiếng Việt chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của các nhà ngôn ngữ

Phần lớn các nhà Việt ngữ học tập trung vào vị từ “gây chuyển động” hơn là vị từ

chuyển động Một số nhà nghiên cứu thì đưa nhóm vị từ này vào vị từ hành động

Trang 11

bởi thực chất chuyển động cũng là “động” từ Với thuộc tính “gây chuyển động” thì

nhóm vị từ này lại được đưa vào nhóm vị từ gây khiến

Tuy nhiên, đối với các nhà Việt ngữ học, trong lịch sử nghiên cứu vấn đề vị

từ gây khiến, các tác giả cũng thường không nhất trí với nhau về việc xác định vị từ gây khiến Một số tác giả trong quá trình phân loại động từ đã không đề cập đến yếu

tố gây khiến của động từ như Trần Trọng Kim, Bùi Ký, Phạm Duy Khiêm Các tác giả Lê Biên, Nguyễn Kim Thản, Đinh Văn Đức, Hoàng Văn Thung – Lê A & Lê Cận – Phan Thiều, Nguyễn Thị Quy có đề cập đến vị từ gây khiến Tuy nhiên các tác giả này không thống nhất cao với nhau trong việc xác định vị từ gây khiến trong tiếng Việt

Trong “Động từ trong tiếng Việt” (1977), tác giả Nguyễn Kim Thản đã dành

sự quan tâm khá lớn cho động từ gây khiến Theo ông, động từ gây khiến biểu thị những hoạt động thúc đẩy, cho phép, giúp đỡ hay cản trở sự thực hiện của những

hành động khác Nhóm động từ này gồm các từ sau bảo, bắt, buộc, bắt buộc, cản

trở, cho phép, cổ vũ, cưỡng bức, cưỡng ép, dạy, dẫn, dắt, dìu, dìu dắt, đề nghị, đòi hỏi, cần, giục, gọi, giúp đỡ, khuyên nhủ, khuyên răn, khuyên bảo, khuyến khích, lãnh đạo, mời, nài nỉ, nài ép, thuyết phục, yêu cầu, ra lệnh… Chúng ta có thể nhận

thấy trong danh sách khá dài được Nguyễn Kim Thản (1977) đưa ra bao gồm trong

đó những động từ gây chuyển động lẫn động từ gây khiến và cả động từ cầu khiến Điều này ít nhiều là mất đi tính đặc thù của các loại động từ này

Nguyễn Lai (1977, 1989) có lẽ là nhà Việt ngữ học đầu tiên ở Việt Nam quan tâm đến chuyển động, đặc biệt là hướng chuyển động Trong các nghiên cứu của

mình, nhà Việt ngữ học này đã đưa ra vấn đề các tiểu từ chỉ hướng đi, đến, vào, lên,

xuống, về, qua, tới, sang và lại trở thành động từ trong tiếng Việt Tuy nhiên, ông

cho rằng cấu trúc như Tàu về Hà Nội, Rắn về hang, Chim về tổ chỉ là hình thức rút gọn của Tàu chạy về Hà Nội, Rắn bò về hang, Chim bay về tổ mà không giải quyết được vấn đề cấu trúc vị từ chạy về, bò về, bay về

Tương tự Nguyễn Kim Thản (1977), Lê Cận và Phan Thiều (1983) vẫn xếp các động từ gây khiến và động từ cầu khiến vào cùng nhóm động từ gây khiến cho

dù trong việc phân tích hai tác giả đã đưa ra nhiều tính chất riêng của hai nhóm vị từ

Trang 12

này Một lần nữa, vị từ chuyển động và vị từ chuyển động do tác động đã không nhận được sự quan tâm từ hai nhà Việt ngữ học này mặc dù cả hai ông đã viết

“động từ gây khiến là lớp nhỏ của động từ, biểu thị những hoạt động cho phép, thúc

đẩy, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện những hoạt động khác nhau (Lê Cận

– Phan Thiều, 1983), một định nghĩa ít nhiều tiếp cận với vị từ gây chuyển động Hai nhà ngôn ngữ này, từ đó, đưa ra một số động từ mang tính chất gây khiến như

cấm, cho phép, ép, mời, khuyên, bảo, Những động từ được hai nhà Việt ngữ học

này đưa ra, dù vậy, chỉ cho thấy sự thay đổi về trạng thái của bị thể nếu như các động từ này tác động đến bị thể Nét chung của các động từ này là bị thể của hành động cần phải thực hiện một quyết định lý trí trước khi thực hiện một hành vi đáp lại tác động của các động từ trên Bên cạnh các tiểu loại động từ liên quan tính chất gây khiến trên, hai nhà Việt ngữ học này cũng đưa ra một tiểu loại động từ, được

gọi là động từ chuyển động như lăn, bò, bay, chạy, v.v… Như thế, có thể nói Lê

Cận & Phan Thiều cũng tiếp cận phạm trù chuyển động trong ngôn ngữ tiếng Việt

Tiếp theo Lê Cận & Phan Thiều, Diệp Quang Ban (1996), trong Ngữ pháp

tiếng Việt, cũng xếp vào, ra, lên, đến là động từ chuyển động Tuy nhiên trong

nhóm động từ chuyển động với nhà Việt ngữ học này cũng xuất hiện động từ lăn

Như thế tính chỉ hướng của vị từ đã không được xem xét mà chỉ xem xét đến tính chuyển động

Tác giả Đinh Văn Đức trong Ngữ pháp tiếng Việt – Từ loại (1986) cũng tiếp

tục theo quan điểm của Nguyễn Kim Thản và xếp vị từ gây khiến cùng với vị từ cầu

khiến cùng vào một nhóm động từ Nhà Việt ngữ học cũng gọi các động từ ra, vào,

lên, xuống là các động từ chuyển động Tuy nhiên tính chất của các động từ này liên

quan đến hướng và phương thức chuyển động đã không được thảo luận xa hơn Với nhà ngôn ngữ này, cũng như với Diệp Quang Ban và các nhà Việt ngữ học khác, tính tác động của động từ gây khiến và tính chuyển động của động từ chuyển động không được thảo luận

Hoàng Văn Thung & Lê A trong Ngữ pháp tiếng Việt (1995) đã quan tâm lớn

đến vị từ gây khiến Tuy nhiên hai tác giả này vẫn chưa phân nhóm vị từ này thành các nhóm động từ riêng biệt với những tính chất đặc thù của chúng Trong các tiểu

Trang 13

loại động từ được hai tác giả này phân biệt thì có bao gồm tiểu loại các động từ

chuyển động có hướng gồm các từ ra, vào, lên, xuống, Nhìn chung, hai nhà Việt

ngữ học này không khác gì với quan điểm của các nhà Việt ngữ học khác

Lê Biên trong Từ loại tiếng Việt hiện đại (1999) đã đi sâu vào đặc trưng của

các động từ gây khiến dựa theo định nghĩa của ông Theo đó, động từ gây khiến là

những động từ vận động có tác động gây khiến, chi phối hoạt động của đối tượng

(Lê Biên, 1999) Tuy nhiên, trong tài liệu nêu trên, Lê Biên đã không xác định tác động “gây khiến” lên bị thể thế nào cũng như không xác định sự đối lập giữa vị từ gây khiến và vị từ cầu khiến vì thế, một lần nữa, sự tách biệt giữa hai nhóm vị từ này chưa được xác định rõ ràng

Nguyễn Thị Quy (1994) với luận án “Vị từ hành động tiếng Việt và các tham

tố của nó” đã nghiên cứu khá sâu sắc về vị từ hành động trong tiếng Việt Tác giả

đã vận dụng quan điểm Ngữ pháp chức năng để nghiên cứu vị từ trong tiếng Việt và

đi đến kết luận vị từ gây khiến là một tiểu loại của vị từ hành động Nhóm vị từ này

biểu thị những hành động làm cho đối tượng thay đổi trạng thái vật chất Tuy nhiên, trong nghiên cứu này vị từ chuyển động do tác động một phần nào đó cũng là vị từ chuyển động

Nhìn chung, qua các công trình nghiên cứu của các nhà Việt ngữ học ở Việt Nam, vị từ tác động gây chuyển động vẫn được xem là vị từ gây khiến, đồng thời vị

từ chuyển động với tính cách “động” của chúng vẫn được xếp vào lớp vị từ hành động hay động từ chuyển động

3 Phạm vi và mục đích nghiên cứu

3.1 Phạm vi nghiên cứu

Tác giả luận văn hoàn toàn nhận thức rằng bên cạnh yếu tố cú pháp và ngữ nghĩa, yếu tố ngữ dụng cũng góp phần rất lớn cho việc sử dụng các vị từ gây chuyển động và vị từ chuyển động do tác động trong tiếng Việt cũng như với bất kỳ ngôn ngữ nào khác Tuy nhiên, do hạn chế trong phạm vi nghiên cứu, yếu tố ngữ dụng không được xét đến trong luận văn này

Trang 14

Như tên đề tài đã nêu rõ, Đặc trưng cú pháp - ngữ nghĩa kết cấu của vị từ

chuyển động do tác động trong tiếng Việt (có so sánh với tiếng Anh), luận văn này

tập trung nghiên cứu về ngữ nghĩa và kết cấu cú pháp của vị từ chuyển động do tác động Tuy nhiên, vị từ chuyển động do tác động một phần nào đó cũng là vị từ chuyển động, và yếu tố tác động luôn có nguyên nhân từ một vị từ gây chuyển động nào đó Vì thế, trong luận văn này các vấn đề liên quan đến vị từ chuyển động, vị từ gây chuyển động sẽ được thảo luận trước để làm cơ sở cho việc phân tích vị từ chuyển động do tác động trong Chương 3

Chuyển động – theo quan niệm chung của nhiều nhà ngôn ngữ - có hai hình

thức, một là chuyển động về trạng thái và hai là chuyển động về không gian Tuy

nhiên, với khuôn khổ một luận văn và với năng lực hạn chế của tác giả luận văn,

trong luận văn này phạm trù chuyển động chỉ được hiểu là sự thay đổi vị trí về mặt

không gian của chủ thể chuyển động Như thế, sự chuyển động về trạng thái sẽ

không được thảo luận trong luận văn này Tác giả luận văn rất mong các luận văn khác sẽ tập trung vào hướng chuyển động này

Tác động – theo khái niệm chung của nhiều nhà ngôn ngữ - là tác động của nhiều loại hành động ngôn từ (speech act) khác nhau như hành động ngôn từ trần

thuật (declarative speech act) liên quan đến việc làm thay đổi một tình trạng, hành

động ngôn từ cầu khiến (directive speech act) liên quan đến việc người nghe tiến hành thực hiện một việc gì, v.v… (Searl, 1975) Như thế, tác động – theo quan điểm

chung – cũng liên quan đến các hành động ngôn từ này như ra lịnh, yêu cầu, mời,

thúc giục, cho phép, ngăn cản, v.v… Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn này, vấn

đề tác động được xem xét trên góc độ một tác động về thể chất để gây chuyển động

mà không thảo luận các phạm trù gây khiến mà bị thể cần thực hiện một quyết định

lý trí trước khi tiến hành việc chuyển động (về trạng thái hay về không gian)

3.2 Mục đích nghiên cứu

Luận văn này nhằm xem xét đặc trưng ngữ nghĩa và kết cấu cú pháp của vị

từ chuyển động do tác động trong tiếng Việt Nghiên cứu này nhằm đưa ra những nét đặc trưng của ngôn ngữ tiếng Việt trong cấu trúc các vị từ thuộc nhóm này Những đặc trưng ít nhiều thể hiện tính dân tộc của người Việt Nam, một dân tộc

Trang 15

hướng về bên ngoài (bị thể trong cấu trúc ngôn ngữ) hơn là chỉ co cụm với bản thân (tác thể trong ngôn ngữ) Việc so sánh đặc trưng, đặc biệt về kết cấu cú pháp của nhóm vị từ này, với tiếng Anh, một ngôn ngữ “mạnh”, có tính quốc tế cũng nhằm giúp các giáo viên giảng dạy tiếng Anh, cũng như việc chuyển dịch duy trì được đặc trưng ngôn ngữ của tiếng Việt Việc so sánh với cú pháp và ngữ nghĩa của vị từ chuyển động do tác động với tiếng Anh trong Chương 3 hướng đến việc hệ thống những nét tương đồng và khác biệt về kết cấu cú pháp của nhóm vị từ này trong hai ngôn ngữ nhằm thể hiện mục tiêu của luận văn vừa được trình bày

Ngoài ra, luận văn cũng mong muốn trong một chừng mực nào đó xác định một ranh giới giữa vị từ gây chuyển động, vị từ cầu khiến, và vị từ gây khiến Một vấn đề mà không ít người vẫn còn mơ hồ

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, các phương pháp nghiên cứu sau được thực hiện

- Phương pháp nghiên cứu miêu tả: Phương pháp miêu tả được sử dụng để

trình bày các vấn đề liên quan đến vị từ chuyển động, vị từ gây chuyển động và vị

từ chuyển động do tác động Trước tiên, tác giả luận văn đã khái quát qua các lý thuyết về ngôn ngữ liên quan đến các vị từ này với các phân tích về ngữ nghĩa và kết cấu cú pháp của các loại hình ngôn ngữ trên thế giới trước khi liên hệ đến tiếng Việt đối với nhóm vị từ này

- Phương pháp nghiên cứu phân tích: Phương pháp phân tích được sử

dụng để đưa ra các kết cấu cú pháp đặc thù của vị từ chuyển động do tác động trong tiếng Việt

- Phương pháp nghiên cứu so sánh: Phương pháp này được thực hiện với

việc chuyển dịch các cấu trúc vị từ chuyển động do tác động từ tiếng Việt với tác

phẩm Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh sang tiếng Anh The Sorrow of War của

Võ Băng Thanh, Phan Thanh Hào và Katerina Pierce và ở hướng ngược lại từ tác

phẩm The Thorn Birds của Colleen McCullough sang Tiếng chim hót trong bụi mận

gai với dịch giả Phạm Mạnh Hùng

Trang 16

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Về mặt lý luận, việc nghiên cứu đặc trưng vị từ chuyển động do tác động đồng thời trên cả hai hướng cú pháp và ngữ nghĩa là cần thiết Hướng nghiên cứu này phù hợp với cả xu thế chung của thế giới (Leonard Talmy, 1985; Levin, 1993; Levin & Rapppartport, 1995; Rappartport & Levin, 1998; Leonard Talmy, 2000; Mateu, 2002; Ramchand, 2003; Folli & Ramchand, 2005; Zubizarreta & Oh, 2007; Ramchand, 2008; Beavers và đồng sự, 2010; den Dikken, 2010, và các tác giả khác theo Dragan, 2012) và của chính bản thân ngôn ngữ Theo Talmy (1975) và Jackendoff (1976), mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và cú pháp trong kết cấu vị từ chuyển động rất quan trọng trong việc xem xét ngôn ngữ liên quan do chúng sẽ quy định loại hình của ngôn ngữ Luận văn tin rằng nghiên cứu này sẽ giúp làm rõ một

số khía cạnh của vị từ chuyển động do tác động trong việc miêu tả và phân tích cấu trúc cú pháp trên ngữ nghĩa của chúng

Về mặt thực tiễn, trước mắt luận văn hy vọng đóng góp một phần vào việc chuyển dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh, như thế cũng góp phần vào việc giảng dạy tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai cho các sinh viên Việt Nam Nhiều nhà ngôn ngữ

đã khẳng định vai trò quan trọng của vị từ chuyển động và vị từ gây chuyển động trong việc lĩnh hội ngôn ngữ thứ hai do số lượng lớn của các vị từ này trong ngôn ngữ được lĩnh hội Từ những đặc thù cú pháp của kết cấu vị từ được nghiên cứu, tác giả luận văn đưa ra một vài phương pháp chuyển dịch tiếng Việt sang tiếng Anh giúp cho việc chuyển dịch nắm được vấn đề chuyển động của chủ thể chuyển động trong cấu trúc câu Ngoài ra, việc nghiên cứu này sẽ đóng góp vào việc duy trì bản

sắc của tiếng Việt trong quá trình hội nhập với tiếng Anh Trong Bàn về khả năng

so sánh các ngôn ngữ (Solnsev, 1976, bản tiếng Việt dịch bởi Bùi Khánh Thế,

1981), Solnsev đã nêu lên một vấn đề lớn trong việc so sánh đối chiếu các ngôn ngữ khác nhau là “thước đo” cho việc so sánh đối chiếu Luận văn hy vọng việc nghiên cứu này góp phần vào việc thiết lập “thước đo” cho việc chuyển dịch giữa hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh Trong tình hình hiện nay của việc hoà nhập thế giới, tiếng Anh đang từng bước tác động lên các ngôn ngữ “yếu”, chỉ dùng trong một cộng đồng dân tộc như tiếng Việt, việc xác định ranh giới cho đặc trưng của tiếng

Trang 17

Việt, nói chung, và vị từ chuyển động do tác động, nói riêng, là một việc làm cần thiết để duy trì bản sắc trong sáng của tiếng Việt như nguyên Thủ tướng Phạm Văn

Đồng đã phát biểu “Tiếng ta phải phát triển Tất cả vấn đề là làm sao đảm bảo sự

phát triển này diễn ra một cách vững chắc trên cơ sở vốn cũ của tiếng ta, làm cho tiếng ta ngày thêm giàu, nhưng vẫn giữ được phong cách, bản sắc tinh hoa của nó Như vậy tức là giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt’’

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn này gồm có 3 chương

Chương 1: Giới thiệu các cơ sở lý luận mà tác giả luận văn ứng dụng trong

việc miêu tả và phân tích ngữ nghĩa và kết cấu cú pháp của vị từ chuyển động do tác

động

Chương 2: Phân tích các đặc trưng cú pháp-ngữ nghĩa của kết cấu vị từ

chuyển động do tác động dựa trên Ngữ pháp kết cấu của Adele.E.Goldberg Trình

bày kết cấu cú pháp đặc trưng của vị từ chuyển động do tác động trong tiếng Việt qua các nhóm vị từ khác nhau thể hiện chuyển động của tác thể khác nhau khi thực

hiện vị từ gây chuyển động

Chương 3: So sánh những nét khác biệt và tương đồng kết cấu cú pháp của vị

từ chuyển động do tác động giữa tiếng Việt và tiếng Anh cùng với việc xem xét cách chuyển dịch được thực hiện khi các dịch giả Võ Băng Thanh, Phan Thanh Hào

và Katerina Pierce chuyển dịch tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh sang tiếng Anh với The Sorrow of War và dịch giả Phạm Mạnh Hùng chuyển dịch tác phẩm The Thorn Birds sang tiếng Việt với Tiếng chim hót trong bụi mận gai Phần

cuối của chương này sẽ được dành cho các đề nghị của tác giả luận văn dựa trên những gì được nghiên cứu Trước tiên, tác giả luận văn đề xuất một vài phương hướng liên quan đến vị từ chuyển động do tác động trong việc chuyển dịch tiếng Việt sang tiếng Anh Cuối cùng, tác giả luận văn mong muốn những hướng nghiên cứu mở rộng được thực hiện để vấn đề được nghiên cứu sâu sắc hơn

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

™ MỘT SỐ KHÁI NIỆM HỮU QUAN

Trong luận văn này, các thuật ngữ sau đây cần được hiểu theo nghĩa mà luận văn tập trung nghiên cứu:

o Vị từ chuyển động: là vị từ thể hiện sự chuyển động chung của một chủ thể

chuyển động

o Vị từ gây chuyển động: là vị từ mà khi nó được thực hiện sẽ gây một chuyển

động nhất định lên chủ thể về mặt không gian

o Vị từ chuyển động do tác động: nói chung đây cũng là vị từ chuyển động, tuy

nhiên sự chuyển động xuất phát từ vị từ này do tác động từ một vị từ gây chuyển động Chương 3, phần 3.1 sẽ trình bày chi tiết khác biệt giữa vị từ chuyển động do tác động và vị từ chuyển động thông thường

o Tác động: như trình bày trong phần Phạm vi nghiên cứu, phạm trù tác động

trong đề tài này được hiểu là tác động về mặt thể chất hoặc tác động của

những sức mạnh thiên nhiên có thể tạo chuyển động cho bị thể như: mưa, bão, giông, gió, v.v…

Ngoài ra, trước khi có được sự thống nhất giữa các nhà Việt ngữ học về thuật ngữ vị từ cầu khiến, vị từ gây khiến và vị từ gây chuyển động được tác giả luận văn

sử dụng trong nghiên cứu này, tác giả luận văn xem xét các thuật ngữ trên theo góc nhìn chủ quan như sau:

o Vị từ cầu khiến: là các vị từ mà nó mang thuộc tính trường từ vựng (semantic

field property) [± người nghe thực hiện hành vi ngôn từ của người nói] Nói cách khác, người nghe có thể thực hiện hành vi được vị từ cầu khiến đưa ra hoặc có thể không thực hiện

Thí dụ:

Tôi đề nghị cô nộp luận văn đúng hạn

Tôi yêu cầu anh ta đến đây lúc 10:00 hôm nay

Trang 19

Vị từ đề nghị, yêu cầu khi đó là một vị từ cầu khiến vì người nghe có thể nộp luận

văn đúng hạn và cả có thể nộp luận văn không đúng hạn, cũng như có thể đến đây lúc 10g hôm nay và cả có thể không đến

o Vị từ gây khiến: là các vị từ mang thuộc tính trường từ vựng [+ thay đổi trạng

thái, tình trạng hoặc vị trí về không gian của người nghe] Như thế, vị từ gây chuyển động là một tiểu loại của vị từ gây khiến

Thí dụ:

a) Cái cổng làng khiến tôi nhớ lại những ngày vui buồn ở quê cũ (thay đổi trạng

thái)

b) Nó bắn vỡ tan cái ly (thay đổi tình trạng bị thể từ nguyên vẹn sang vỡ tan)

c) Anh ta đẩy cái ly ngã xuống đất (thay đổi vị trí bị thể về mặt không gian)

d) Con mèo rượt con chuột chạy ra đồng (thay đổi vị trí bị thể về mặt không gian)

Trong các thí dụ trên, (c) và (d) là đối tượng nghiên cứu của luận văn này khi

tác động đẩy, rượt được thực hiện về mặt thể chất

Các thuật ngữ khác được hiểu theo nghĩa thông thường của thuật ngữ hoặc được giải thích và minh hoạ trong luận văn

1.1 Khái niệm chuyển động

Chuyển động là một lĩnh vực liên quan chặt chẽ với nhận thức của con người Vì vậy, cấu trúc của một sự tình chuyển động cũng như các biểu hiện ngữ nghĩa của nó được xem được phóng chiếu từ cấu trúc nhận thức về chuyển động (Jackendoff, 1986, 1990; Talmy, 1983, 1985) Sự tình chuyển động được mã hóa trong ngôn ngữ theo cách thức nó được mã hóa trong nhận thức của con người Các yếu tố cấu tạo nên chuyển động cũng được mã hóa trong ngôn ngữ theo cùng cơ chế

mà con người tri nhận chuyển động trong không gian

Theo Leonard Talmy (1985), sự tình chuyển động là sự di chuyển hoặc một quá trình định vị trong không gian của một thực thể (motion event as it pertains to both motion and location) Những kiểu chuyển động này có thể là sự thay đổi vị trí hoặc sự chuyển động tại chỗ của thực thể trong không gian

Trang 20

1 a Một thiên thạch đang tiến về phía trái đất

b Trái đất quay chung quanh mặt trời

Hai sự tình miêu tả trong (1a) và (1b) đều là những sự tình chuyển động, song tính chất của chuyển động hoàn toàn khác nhau Sự tình (1a) là sự tình chuyển động tịnh tiến, nghĩa là ở một thời điểm t thì thực thể X sẽ ở một vị trí y nào đó khác với vị trí y’ ở thời điểm t’, còn sự tình trong (1b) lại là một sự chuyển động mà các vị trí của thực thể được tái lập liên tục, nghĩa là ở những thời điểm t, t’ hay t”, thực thể có thể ở cùng một vị trí

Chuyển động trong không gian, nói một cách khái quát, đó là sự chuyển đổi

từ một vị trí này đến một vị trí khác trong không gian của một thực thể Sự chuyển

động đó có thể được thực hiện với bất kỳ hướng nào, như tới, lui, lên, xuống, v.v

Nội hàm của khái niệm chuyển động là sự thay đổi vị trí trong không gian của một thực thể được tri nhận trong quá trình ngôn ngữ được sử dụng để miêu tả chuyển động liên quan Lakoff (1987) cho rằng chuyển động của một thực thể từ vị trí này sang vị trí khác được biểu thị qua biểu đồ Nguồn – Con đường – Đích Biểu đồ chuyển động này bao gồm một điểm xuất phát (nguồn); một chuỗi liên tục các vị trí kết nối điểm xuất phát và điểm kết thúc (con đường) và một điểm kết thúc của quá trình chuyển động (đích) Tuy nhiên, việc mã hóa trong từng ngôn ngữ đối với chuyển động lại không giống nhau, sự khác biệt này là kết quả của việc chọn góc nhìn của từng ngôn ngữ đối với các thành tố cấu tạo nên chuyển động, đặc biệt là

đối với yếu tố hướng chuyển động (Path) và phương thức chuyển động (Manner) Chẳng hạn, tiếng Anh biểu thị phương thức chuyển động ngay trong cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ chính, vì vậy, không thể đồng thời mã hóa con đường, trong khi tiếng Pháp lại mã hóa hướng chuyển động hay con đường trong cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ chính, còn phương thức chuyển động được đánh dấu bằng những yếu tố vệ

tinh như động danh từ (gerund), ngữ giới từ và phó từ:

2 a She ran out of the room

Cô ấy chạy ra khỏi căn phòng

(Ma) (Pa)

Trang 21

b Elle est sortie de la chambre en courant

Cô ta ra khỏi phòng chạy

này có thể biểu thị phương thức hoặc nguyên nhân chuyển động Leonard Talmy

(2008a:79) cho rằng một vị từ chuyển động bao gồm trong cấu trúc ngữ nghĩa của

nó hai khái niệm khác nhau này (sự tình chuyển động tịnh tiến và đồng sự tình) Liên quan đến quá trình nhận thức hóa sự hòa kết sự tình chuyển động, như vậy Talmy giả định cả hai sự tình cấu thành sự tình chuyển động được nhận thức một cách riêng biệt (Talmy 2008a:81) Đồng sự tình miêu tả phương thức và nguyên

nhân của chuyển động được Talmy gọi là Self-contained motion (từ đây về sau chúng tôi dịch chuyển động hướng thân) Chuyển động hướng thân được trích xuất

với tư cách là đồng sự tình từ phức thể chuyển động (Talmy 2008a:79) Đồng sự tình miêu tả phương thức sẽ cùng diễn ra với sự tình chuyển động tịnh tiến hay sự tình chính, đồng sự tình miêu tả nguyên nhân có thể diễn ra trước hoặc đồng thời với sự tình chính Dưới đây chúng tôi sẽ trình bày một cách tóm lược hai loại sự tình cấu thành phức thể chuyển động

1.1.1 Chuyển động tịnh tiến (Translational motion)

Chuyển động tịnh tiến được định nghĩa là một sự thay đổi vị trí liên tục của

một đối tượng trong tương quan với khung quy chiếu không gian Xét các sự tình

chuyển động trong ví dụ (3):

3 a John ran to the park (John chạy đến công viên)

Trang 22

b John ran in the park (John chạy trong công viên)

c John ran on the treadmill (John chạy trên máy)

Dựa theo định nghĩa trên, chỉ có sự tình chuyển động trong (3a) là thỏa mãn

điều kiện “sự thay đổi vị trí liên tục của một đối tượng trong tương quan với khung

quy chiếu không gian”, hai sự tình còn lại không được xem là chuyển động tịnh tiến

Như vậy, chuyển động tịnh tiến là chuyển động tạo ra sự thay đổi vị trí liên tục trong không gian, hay nói chính xác hơn là đối tượng chuyển động ở tại một thời

điểm t sẽ có vị trí l, ở thời điểm t 0 sẽ ở tại vị trí l 0 và tại thời điểm t n sẽ ứng với vị trí

l n Trong đó, l 0 được xem là nguồn, l n là đích, còn khoảng cách từ l 0 đến l n là con

đường hoặc hướng chuyển động Các vị trí trên hướng chuyển động của đối tượng

không trùng lắp nhau trong quá trình chuyển động tịnh tiến Có thể miêu tả loại chuyển động này qua biểu đồ sau:

Chuyển động tịnh tiến được tri nhận như một sự thay đổi vị trí của chủ thể chuyển động trong không gian Nét chính của các chuyển động theo loại này là chỉ

ra một sự thay đổi về không gian của chủ thể chuyển động để từ một điểm quy

chiếu là nguồn (Source) hướng đến một điểm quy chiếu khác là đích (Goal) Do tính

chất chuyển vị nên người ta cũng có thể chuyển động tịnh tiến là chuyển hướng đến một cái đích (Directed motion) cụ thể trong không gian, và từ đó, chuyển động loại này cũng được xem là có tính hạn định

      Biểu đồ 1: Chuyển động tịnh tiến trong không gian

Trang 23

4 a A man was crawling away from the burning wreckage

(Một người đàn ông đang bò ra khỏi đám cháy)

b He is going to the top of the hill

(Anh ta đang đi lên đỉnh đồi)

Các giới ngữ from the burning wreckage và to the top of the hill đều hành

chức như khung tham chiếu trong không gian hạn định các chuyển động liên quan

do các vị từ chuyển động biểu thị

1.1.2 Chuyển động hướng thân (self-contained motion)

Trong chuyển động khép kín, đối tượng duy trì vị trí cơ bản Nói chung, loại

chuyển động thường là sự dao động, quay tròn, giãn nở hay lắc lư…Như trên đã

nói, sự tình chuyển động hướng thân với tư cách là đồng sự tình (co-event) sự tình được trích xuất từ phức thể chuyển động (Talmy 2008a:79) Đồng sự tình miêu tả phương thức sẽ cùng diễn ra với sự tình chuyển động tịnh tiến hay sự tình chính, đồng sự tình miêu tả nguyên nhân có thể diễn ra trước hoặc đồng thời với sự tình chính Như vậy, phức thể chuyển động biểu thị trong (5a) có thể được phân tích thành chuyển động tịnh tiến trong (5b) và sự tình phương thức biểu thị sự dao động

hay quay tròn trong (5c)

5. a The ball bounced down the step →phức thể chuyển động (Trái bóng nảy xuống cầu thang)

b [The ball moved down the step.] →chuyển động tịnh tiến (Trái bóng dịch chuyển xuống cầu thang)

c [The ball bounced] → phương thức

(Trái bóng nảy)

Chuyển động hướng thân hay sự tình phương thức như trong (5c) có thể miêu

tả qua biểu đồ sau:

Trang 24

Biểu đồ 2: Phức thể chuyển động

Sự tình hướng thân cũng biểu thị nguyên nhân của chuyển động như trong ví

dụ (6) dưới đây:

6 a The napkin blew off the table →phức thể chuyển động

(Khăn phủ bay khỏi bàn)

b [The napkin is out off the table] →chuyển động tịnh tiến

(Khăn phủ không nằm trên bàn nữa)

c [The wind blew the napkin] →nguyên nhân

(Gió thổi khăn phủ bàn)

1.2 Các yếu tố cấu thành chuyển động theo Leonard Talmy

Theo Leonard Talmy (1983, 1985), điều kiện tất yếu để cấu thành một

chuyển động là bốn thành tố nội tại gồm: đối tượng chuyển động (Figure), điểm quy

chiếu chuyển động (Ground), hướng chuyển động (Path) và chuyển động (Motion)

Bên cạnh bốn thành tố nội tại đó, Talmy cũng đưa ra hai thành tố bên ngoài được gọi là đồng sự tình chuyển động (như đã nói trong phần 1.1.) Đồng sự tình miêu tả phương thức và nguyên nhân của chuyển động Thành tố phương thức đề cập đến cách mà chủ thể chuyển động thực hiện việc chuyển động, thành tố nguyên nhân đề

cập đến cách mà một tác nhân (Agent) tác động lên một bị thể (Theme hay Patient)

để khiến cho bị thể này chuyển động hoặc đề cập đến cách một bị thể chuyển động

do một tác nhân nào đó không được đề cập trực tiếp Những thành tố trong cách nhận thức về chuyển động sẽ làm cở sở xác lập cấu trúc ngôn ngữ nói chung, cấu trúc ngữ nghĩa-cú pháp nói riêng để miêu tả sự tình chuyển động, và do cấu trúc ngôn ngữ có thể thay đổi xuyên ngôn ngữ dù cho cấu trúc nhận thức về chuyển

= chuyển động hướng thân

= chuyển động tịnh tiến 

Trang 25

động giống nhau Do vậy, chúng tôi sẽ lần lượt miêu tả những thành tố chuyển động này một cách chi tiết ở những phần dưới đây của luận văn

1.2.1 Thành tố nội tại của sự tình chuyển động

Các yếu tố cấu thành cấu trúc nhận thức trong cách tri nhận sự tình chuyển động của con người vận hành như những thành tố ngữ nghĩa để miêu tả những nét nghĩa mang tính khu biệt của một sự tình chuyển động Những thành tố này thường gắn với những từ ngữ cụ thể, tuy nhiên chúng cũng được chuyển tải ở cấp độ cú pháp cao hơn như ngữ hoặc câu

1.2.1.1 Đối tượng chuyển động (Figure)

Đối tượng chuyển động (Fi) là thực thể thực hiện chuyển động trong không

gian do vị từ chuyển động biểu thị Đối tượng chuyển động có thể là tác nhân của chuyển động của chính mình hoặc là đối tượng chuyển động do chịu tác động Xét các ví dụ trong (7) dưới đây:

7 a Mary ran to the school

Mary chạy đến trường

(Fi)

b Mary kicked the ball into the room

Mary đá quả bóng vào phòng

Việc đối tượng chuyển động được dánh dấu hay không tùy thuộc vào cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ liên quan Thường sự tình do những vị từ tích hợp chuyển động và đối tượng chuyển động có đối tượng chuyển động không được đánh dấu hay nói chính xác hơn là không hiển ngôn như trong các ví dụ trong (8)

Trang 26

8 a He spitted into the cuspidor

1.2.1.2 Điểm quy chiếu chuyển động (Ground)

Điểm quy chiếu (Gr) là một thực thể quy chiếu, được định vị và có liên quan

đến khung quy chiếu và hướng chuyển động của đối tượng chuyển động được xác định trong tương quan với thực thể quy chiếu này (Talmy 2000a:312)

Thực thể quy chiếu có thể được xem là gồm nhiều thành tố nằm trên hướng

di chuyển gồm nguồn (Source), đích đến (Goal) và các điểm mốc (Milestones) trên

đường di chuyển (Gutiérrez, 2001:5)

Điểm quy chiếu nguồn là điểm xuất phát của chuyển động, điểm quy chiếu

đích là điểm kết thúc của chuyển động, và các điểm mốc trên đường di chuyển là các điểm quy chiếu về không gian từ điểm xuất phát đến điểm kết thúc của chuyển động

9 a The bottle moved into the cave

(Fi) (Mo) (Gr = đích)

b Jean and Ann drove from Paris to Roma

(Fi) (Mo) (Gr=nguồn) (Gr=đích)

Trong rất nhiều trường hợp, điểm quy chiếu của một sự tình chuyển động được bỏ qua do được tiền giả định là người nghe đã biết được hoặc đó là yếu tố mặc định bằng ngữ cảnh trong phát ngôn hay trong câu

Trang 27

10 Hoa đi Mỹ về φ

(Fi) (Mo) (Gr=đích/nguồn) (Gr=đích)

1.2.1.3 Hướng chuyển động (path)

Hướng chuyển động (Pa) có thể biểu thị hướng chuyển động của đối tượng

hoặc khoảng không gian do đối tượng chiếm giữ trong tương quan với đối tượng

quy chiếu (Ground) (Talmy 2000b:25) - có nghĩa là nó có thể miêu tả mối quan hệ

chuyển động hoặc quan hệ tĩnh tại của đối tượng Hướng chuyển động chỉ chiều chuyển động trong không gian của đối tượng Hướng chuyển động có thể hướng lên, hướng xuống, hướng tới, hướng lui, dọc, vòng quanh, v.v trong tương quan với một điểm quy chiếu nào đó của chuyển động Hướng chuyển động có thể được diễn đạt bằng một giới từ chỉ hướng hoặc được tích hợp trong vị từ chuyển động tùy theo ngôn ngữ (nội dung này chúng tôi sẽ trình bày ở những phần dưới đây)

11 a He scrambled up the cliff

Anh ta leo lên vách đá

(Fi) (Mo) (Pa) (Gr)

b Il a grimpé sur la falaise

Anh ta leo lên vách đá

(Fi) (Mo+Pa) (Gr)

Trong (11a), hướng chuyển động trong tiếng Anh được biểu thị bằng giới từ,

trong khi (11b) tiếng Pháp hướng chuyển động được tích hợp trong cấu trúc ngữ

nghĩa của vị từ grimper (leo lên)

1.2.1.4 Chuyển động (Motion)

Chuyển động (Mo) đơn thuần hàm nghĩa đối tượng (Fi) đang chuyển động

Tuy nhiên, yếu tố chuyển động không nêu rõ hướng mà chuyển động hướng đến và

không nêu rõ bản chất của chuyển động

12 a Joe is walking (Joe đang đi)

b Joe is moving (Joe đang đi chuyển)

Trang 28

Các ví dụ trong (12) đều miêu tả chuyển động, tuy nhiên không cho biết chuyển động hướng đến đâu Khía cạnh này sẽ được chúng tôi trình bày trong phần sau

Chuyển động (Mo) là thành tố quan trọng nhất trong phức thể chuyển động

Trong một câu hay một phát ngôn, chuyển động liên quan đến đối tượng chuyển

động (Fi), yếu tố này được đánh dấu bằng danh ngữ chủ ngữ hoặc danh ngữ bổ ngữ

Chuyển động thực chất chính là thông báo căn bản của một thông báo về chuyển động, vì thế vị từ chuyển động không thể không hiện diện trong một thông báo trong khi đối tượng chuyển động, trong một số ít trường hợp, có thể vắng mặt, hoặc hướng chuyển động, điểm quy chiếu nguồn, đích có thể vắng mặt khi đã được tiền giả định

Bốn yếu tố ngữ nghĩa nội tại của một sự tình chuyển động được miêu tả ở trên là những thành tố cấu thành chuyển động tịnh tiến trong phức thể chuyển động (Motion complex), vốn được hình thành từ sự tình chuyển động tịnh tiến và đồng sự tình như đã miêu tả ở phần đầu của chương này Talmy (2000b:152) phân đồng sự

tình thành hai loại phương thức và nguyên nhân Hai thành tố này được xem hai

thành tố bên ngoài của một phức thể chuyển động

1.2.2 Thành tố bên ngoài của sự tình chuyển động

1.2.2.1 Phương thức chuyển động (Manner)

Phương thức chuyển động (Ma) chỉ một hành động phụ trợ hoặc trạng thái

mà một bị thể (patient) biểu thị đồng thời với hành động hoặc trạng thái chính Trong một số ngôn ngữ như tiếng Anh, phương thức chuyển động là một trong những nét nghĩa quan trọng của các vị từ chuyển động tiếng Anh, chẳng hạn,

vị từ run trong cấu trúc ngữ nghĩa của nó bao gồm một chuyển động chính và một

chuyển động phụ chỉ hoạt động liên tục của chân hay còn gọi là phương thức chuyển động

13 a The pencil rolled off the table

Cây bút chì lăn ra khỏi cái bàn

(Fi) (Mo+Ma) (Pa) (Gr)

Trang 29

b Nam chạy vào nhà

(Fi) (Mo+Ma) (Pa) (Gr)

Các vị từ chuyển động được tích hợp theo cách này được gọi là vị từ chuyển

động phương thức (Manner verbs)

1.2.2.2 Nguyên nhân chuyển động (Cause)

Nguyên nhân chuyển động (Cau) chỉ các loại sự tình tác động khác nhau về

bản chất, nó được đánh dấu bằng các giới ngữ from hoặc by Nó cũng khác với sự

tình gây khiến (Causativity), loại này thường được biểu thị bằng một cú kiểu như

“DN khiến VN" (Talmy 2000b:152)

14 a The pencil blew off the table

Cây bút chì {bị} thổi ra khỏi cái bàn

(Fi) (Ma+Cau) (Pa) (Gr)

{Cau = gió thổi}

b I flicked the ant off my plate Tôi búng con kiến ra khỏi cái dĩa của tôi (Ag) (Ma+Cau) (Fi) (Pa) (Gr)

{Cau = búng}

Trong hai ví dụ trên, blew (thổi) (14a) có nghĩa do gió thổi đi và đó là nguyên nhân của sự tình chuyển động và flicked (búng) (14b) là nguyên nhân sự tình chuyển động của đối tượng the ant (con kiến), khiến cho đối tượng di chuyển

off my plate (ra khỏi cái dĩa của tôi)

Hai thành tố phương thức và nguyên nhân được phân biệt qua việc đối tượng

chuyển động (Fi) thực hiện chuyển động do vị từ chuyển động liên quan miêu tả hay

do các tham tố tác thể (Agent) hay công cụ (Instrument) gây ra So sánh các sự tình

chuyển động có đồng sự tình phương thức và nguyên nhân trong (15):

15 a The rock slid/rolled/bounced down the hill

Hòn đá trượt/lăn/nẩy xuống đồi

(Fi) (Mo+Ma) (Pa) (Gr)

Trang 30

b Mark slid/rolled/bounced the keg down the hill

Mark trượt/lăn/nẩy cái thùng con xuống đồi

(Ag) (Mo+Cau) (Fi/theme) (Pa) (Gr)

c The paper blew off the table

Tờ giấy {bị} thổi ra khỏi cái bàn

(Fi/theme) (Mo+Cau) (Pa) (Gr)

Trong (15a), đối tượng chuyển động the rock được xem là thực hiện chuyển động trượt/lăn/nảy do vị từ biểu thị, (15b) miêu tả sự tình chuyển động nhưng đối tượng chuyển động không phải chủ ngữ của câu mà là danh ngữ bổ ngữ the keg (thùng chứa) Trong câu này, tham tố Mark là tác thể (Agent), còn tham tố the keg

là đối tượng chịu tác động (Theme) Trong (15c) tình hình có hơi khác so với (15b),

ngữ nghĩa của vị từ blew (thổi) đã triệt tiêu khả năng trở thành tham tố tác thể của danh ngữ the paper (tờ giấy), vị từ này chỉ hoạt động của gió, nên nó hàm ý là gió

thổi Vì vậy, the paper hành chức như đối tượng chuyển động do chịu tác động

1.3 Mô hình từ vựng hóa các thành tố của sự tình chuyển động

Leonard Talmy (1985, 2000) đề xuất các mô hình mang tính loại hình và các nguyên tắc phổ quát làm cơ sở cho việc miêu tả các sự tình chuyển động Ông đặc biệt quan tâm đến vấn đề là những yếu tố ngữ nghĩa nào (Chuyển động, Hướng chuyển động, Đối tượng chuyển động, Điểm quy chiếu của chuyển động, Phương thức hay Nguyên nhân chuyển động) được biểu thị bằng những yếu tố bề mặt nào như vị từ, giới từ, cú phụ hay những thành phần phụ khác Talmy (1985, 2000) cho rằng trên quan điểm xuyên ngôn ngữ có ba kiểu loại từ vựng hóa cấu trúc hay khung ngữ nghĩa của vị từ liên quan đến việc biểu thị các sự tình chuyển động

Theo Leonard Talmy, sự khác biệt trong quá trình từ vựng hóa quan hệ giữa

sự tình chuyển động và đồng sự tình giữa các ngôn ngữ sẽ đưa đến khác biệt về cấu trúc bề mặt hay cấu trúc cú pháp dùng để miêu tả sự tình chuyển động Thử so sánh hai câu cùng miêu tả một sự tình chuyển động trong tiếng Anh trong (16)

16 a Sam went to Hawaii by plane last year Sam đi Hawaii bằng máy bay năm ngoái (Fi) (Mo) (Go) (Ma)

Trang 31

b Sam flew to Hawaii last year

Sam bay đi Hawaii năm ngoái

(Fi) (Mo+Ma) (Go)

Thông tin được cung cấp trong thông báo của hai câu trên thì hoàn toàn tương đương với nhau, tuy nhiên trong (16a) thì phương thức chuyển động đánh dấu

bằng một giới ngữ chỉ phương tiện, còn trong (16b) thì phương thức chuyển động được mã hóa trong khung ngữ nghĩa của vị từ chuyển động flew

Xuất phát trên quan điểm cho rằng một trong các thành tố cấu thành phức thể chuyển động được mã hóa trong cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ chuyển động, Talmy

(1985, 2000) phân các ngôn ngữ trên thế giới thành hai loại: (1) Verb-framed

languages (VFL) và (2) Satellite-framed Languages (SFL) (Chúng tôi tạm diễn

nghĩa như sau: (1) các ngôn ngữ mã hóa hướng chuyển động trong cấu trúc ngữ

nghĩa của vị từ; (2) các ngôn ngữ mã hóa đồng sự tình trong cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ) Do sự phức tạp và không nhất quán về thuật ngữ, đặc biệt là với thuật

ngữ Satellite nên một số nhà ngữ học như Levin (1993), Levin & Rappaport-Hovav (1995), Wienold (1995) gọi (VFL) là “ngôn ngữ phương thức chuyển động” (manner languages) và (SFL) là “ngôn ngữ hướng chuyển động” (path languages)

Như đã nói ở trên, sự khác biệt trong việc mã hóa các thành tố chuyển động sẽ dẫn đến sự khác biệt về cấu trúc bề mặt giữa các ngôn ngữ Slobin (2004) bổ sung kiểu

mã hóa hay từ vựng hóa thứ ba, bao gồm các ngôn ngữ mã hóa cả phương thức lẫn hướng chuyển động (Equipollently-framed Languages) Talmy (trong Ibarretxe-Antuñano, 2005, trg 331) cho rằng việc bổ sung loại hình ngôn ngữ thứ ba này của Slobin sẽ giúp việc xem xét các biến thể của ngôn ngữ sâu sắc hơn Tuy nhiên, theo Talmy, số lượng các ngôn ngữ theo loại hình này không nhiều và các ngôn ngữ theo loại hình này cũng không được phổ biến trên thế giới

1.3.1 Ngôn ngữ mã hóa đồng sự tình trong cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ (Satellite-framed Languages - SFL)

Các ngôn ngữ mã hóa đồng sự tình (co-event) trong cấu trúc ngữ nghĩa của

vị từ (SFL, từ đây luận văn sẽ dùng SFL để chỉ những ngôn ngữ loại này) Nhóm ngôn ngữ SFL gồm các ngôn ngữ Ấn Âu ( trừ phần lớn các ngôn ngữ Romance),

Trang 32

tiếng Trung Quốc, các ngôn ngữ Finno - Ugric, Ojibwa, Warlpiri được xem là nhóm ngôn ngữ điển hình tích hợp sự tình chuyển động và đồng sự tình vào trong cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ Mô hình mã hóa đồng sự tình (phương thức và nguyên nhân) trong cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ được trình bày như sau:

• Figure Motion Path Ground

Trong mô hình này, hoặc phương thức hoặc nguyên nhân được tích hợp ngữ nghĩa

trong cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ “bề mặt” như trong ví dụ (17)

17 a Tảng đá trượt/ lăn/ nảy xuống đồi

(Fi) (Mo+Ma) (Pa) (Gr)

b Tôi thổi/ búng con kiến ra khỏi dĩa

(Ag) (Mo+Cau) (Fi /Theme) (Pa) (Gr)

Cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ chuyển động (trượt/ lăn/ nảy) trong (17a), có

thể được phân thành hai sự tình bộ phận như sau: sự tình chuyển động (tảng đá dịch

chuyển) và sự tình phương thức (tảng đá trượt/ lăn/ nảy), còn trong (17b), vị từ hoạt

động (thổi/ búng) tích hợp hoạt động do tác cách “tôi” thực hiện và nguyên nhân khiến bị thể “con kiến” dịch chuyển ra khỏi khung quy chiếu “cái dĩa”

Nhóm ngôn ngữ SFL là những ngôn ngữ có một số lượng lớn vị từ chuyển

động tích hợp phương thức hoặc nguyên nhân vào trong khung ngữ nghĩa của vị từ

trong câu hay phát ngôn, nhưng không tích hợp hướng chuyển động (Path) Vì vậy, nhưng ngôn ngữ SFL sử dụng nhiều giới từ hay các tiểu từ (Particles) để chỉ hướng

chuyển động

Trong tiếng Anh, một ngôn ngữ trong nhóm SFL có hơn 50 giới từ/tiểu từ

thường được ghi nhận là “vệ tinh” trong cấu trúc ngữ nghĩa-cú pháp của vị từ chuyển động

18 a The bottle floated into/out of the cave

Cái chai trôi vào/ra khỏi cái hang (Fi) (Mo+Ma) (Pa) (Gr)

   Surface verbs 

Trang 33

b The bottle floated down/up/put/away

Cái chai trôi ……

(Fi) (Mo+Ma) (Pa)

c The ant blew off my plate

Con kiến {bị} thổi khỏi cái dĩa

(Fi) (Mo+Cau) (Pa) (Gr)

1.3.2 Ngôn ngữ mã hóa hướng chuyển động trong cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ (Verb-framed Languages -VFL)

Các ngôn ngữ điển hình cho hiện tượng tích hợp chuyển động và hướng

chuyển động vào cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ, và đồng sự tình (phương thức và

nguyên nhân) được biểu thị ngoài khung vị từ bằng một cú phụ hoặc không được đánh dấu Các ngôn ngữ thuộc nhóm VFL gồm các ngôn ngữ Romance (trừ tiếng Latinh), các ngôn ngữ Semitic, Polynesian, Nhật, Hàn Trong số này, theo Talmy, tiếng Tây Ban Nha là một điển hình hoàn hảo cho loại hình ngôn ngữ có loại hình VFL

19 a La botella entró a la cueva flotando

Cái chai chuyển vào trong hang trôi

(Fi) (Mo+Pa) (Gr) (Ma)

(Leonard Talmy, 2000:49) Tình hình diễn ra tương tự với tiếng Pháp:

19 b La bouteille est entré dans la cave en flottant

Cái chai chuyển vào trong hang trôi

(Fi) (Mo+Pa) (Gr) (Ma)

Talmy (2000) cũng ghi nhận một số vị từ trong tiếng Anh, một ngôn ngữ SFL, cũng tích hợp hướng chuyển động theo cách của ngôn ngữ khung vị từ Những

vị từ này có thể kể như: enter (vào), exit (ra), pass (qua), rise (lên), descend

(xuống), return (trở lại), circle (xoay tròn), cross (vượt qua), separate (chia ra), join (nhập vào) Cách sử dụng các vị từ này trong tiếng Anh cũng theo cách sử dụng

tương tự như tiếng Tây Ban Nha và tiếng Pháp Tuy nhiên, những vị từ này không

Trang 34

thể hiện tính chất đặc trưng nổi trội của tiếng Anh và thực sự thì hầu hết trong số đó được vay mượn từ tiếng Latinh Tương tự, một số vị từ chuyển động trong tiếng

Việt cũng tích hợp hướng chuyển động để có cách sử dụng tương tự như về, qua,

tới, v.v… Trong chương sau, luận văn sẽ đi sâu vào số vị từ mang tính chất này

trong tiếng Việt

Những ngôn ngữ VFL có một số lượng lớn vị từ chuyển động tích hợp

hướng chuyển động trong cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ như trong tiếng Pháp entrer,

sortir, monter, descendre Talmy cho rằng, phương thức của vị từ chuyển động

trong những ngôn ngữ này không kết hợp với các ngữ giới từ chỉ hướng, các ngữ

giới từ khác kết hợp với những vị từ chuyển động này đơn thuần là để xác định vị trí

của toàn bộ sự tình, chứ không phải hướng chuyển động như trong SFL So sánh hai

câu tiếng Anh và tiếng Pháp trong ví dụ (20) dưới đây:

20 a The bottle floated into the cave

Cái chai trôi vào hang

(Fi) (Mo+Ma) (Pa) (Gr)

b *La boteille a flotté dans la cave

Cái chai trôi trong hang

c La bouteille est entré dans la cave en flottant

Cái chai đi vào trong hang trôi

(Fi) (Mo+Pa) (Gr) (Ma)

Giới từ into trong (20a) hành chức như một chỉ tố đánh dấu hướng chuyển động của đối tượng the bottle Câu tiếng Pháp trong (20b) hoàn toàn không đồng nghĩa với câu tiếng Anh (20a), nó cho biết cái chai đang bồng bềnh trong hang chứ không hề có nghĩa cái chai trôi vào trong hang như câu tiếng Anh Câu (20c) là câu chuyển dịch đồng nghĩa với câu (20a), giới từ dans không đánh dấu hướng chuyển

động mà đơn thuần biểu thị vị trí diễn ra của sự tình chuyển động

Trang 35

1.3.3 Ngôn ngữ mã hóa đồng sự tình và hướng chuyển động trong cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ chuyển động (Equipollently-framed Languages - EFL)

Xuất phát từ hệ thống lưỡng phân của Leonard Talmy, Dan I Slobin (1996a, 2004) khảo sát cách biểu đạt chuyển động trong 21 ngôn ngữ Kết quả mà Dan I Slobin có được: (1) những thứ tiếng VFL biểu thị hướng chuyển động trong cấu trúc của vị từ, những chi tiết về phương thức chuyển động ít được đề cập đến, trong khi những thứ tiếng SFL sử dụng khá nhiều vị từ chuyển động tích hợp phương thức kết hợp với một hoặc nhiều hơn một “vệ tinh” biểu thị hướng chuyển động Ngoài ra, Slobin (1996a) khảo sát tác động về nhận thức của những khác biệt như vậy và ông

đưa ra giả thuyết “nghĩ rồi nói” (Thingking for speaking hypothesis) Theo giả

thuyết này, những người nói các ngôn ngữ khác nhau có lẽ không chú ý đến những

thành tố khác nhau của sự tình chuyển động (Hướng, Phương thức, Đối tượng,

Điểm quy chiếu) với cùng mức độ vì ngôn ngữ của họ không xem những thành tố

đó quan trọng như nhau

Leonard Talmy tập trung chủ yếu cái cách mà những khía cạnh “khách

quan”của một sự tình chuyển động được mã hóa (từ vựng hóa hướng chuyển động)

Còn khía cạnh “chủ quan” liên quan đến những phạm trù được đánh dấu một cách bắt buộc trong ngôn ngữ nhưng có thể không đạt được trong các biểu hiện phi ngôn ngữ của chúng ta cũng như không phải là chức năng của tiếng mẹ đẻ của chúng ta vì khi giao tiếp chúng xây dựng những tình huống dựa theo những gì ưu tiên sử dụng nhất trong ngôn ngữ của riêng chúng ta

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã khẳng định có sự khác biệt trong việc mã

hóa các thành tố Phương thức và Hướng của sự tình chuyển động trong các ngôn

ngữ khác nhau (Choi & Bowerman, 1991; Slobin, 1991, 1996a, b, 2004, 2006; Hickmann, và các tác giả khác, 2009) và những nghiên cứu này cũng cho rằng những khác biệt xuyên ngôn ngữ này đã hiện hữu trong những giai đoạn đầu tiên của quá trình thụ đắc ngôn ngữ (Berman & Slobin, 1994; Naigles et al., 1998; Bowerman & Choi, 2003; Allen et al., 2007)

Trang 36

Những nghiên cứu trước đó cũng đã cho thấy các ngôn ngữ khác nhau ở nhiều tham số: (a) cách thức thể hiện biểu đồ của chuyển động, (b) có hay không có các ngữ trạng từ biểu thị đồng sự tình, (c) sự phổ biến của các vị từ chỉ phương thức, (d) xác định điểm quy chiếu, (e) sự phân nhỏ sự tình trong các cú… Dựa trên những khác biệt này, Slobin (2004) đã bổ sung một kiểu loại ngôn ngữ khác ngoài VFL và SFL của Talmy, các ngôn ngữ mã hóa cả phương thức và hướng chuyển

động trong cấu trúc của vị từ (Equipollently-framed Languages) Nhóm ngôn ngữ

EFL bao gồm nhiều ngôn ngữ có kết cấu chuỗi vị từ (Tiếng Thái, Tiếng Mandarin…), trong những ngôn ngữ này vị từ phương thức thường xuất hiện cùng với vị từ chỉ hướng Kết cấu chuỗi vị từ là điều kiện thuận lợi hàng đầu để các ngôn ngữ SVC được xem là những ngôn ngữ EFL Kết cấu chuỗi vị từ cho phép hai, ba vị

từ cùng xuất hiện trong một cú, một vị từ biểu thị phương thức, một vị từ biểu thị hướng

21 a Phong bước ra khỏi phòng

(Fi) (Mo+Ma) (Mo+Pa) (Gr)

b Chán dǝǝn paj

Tôi bước đi

(Fi) (Mo+Ma) (Mo+Pa)

(Ví dụ của Zlatev và Yangklang 2004:165)

Trong (21a), phương thức chuyển động được mã hóa trong vị từ bước, còn hướng chuyển động được biểu thị bằng vị từ ra Tương tự, trong câu tiếng Thái (21b), phương thức được biểu thị bằng vị từ d əə n (bước), còn hướng chuyển động

được đánh dấu bằng vị từ paj (đi)

Trong tiếng Việt, việc mã hóa đồng sự tình (co-event) hay hướng chuyển động trong cấu trúc của vị từ chuyển động hay việc hình thành chuỗi SVC chuyển động tùy thuộc hoàn toàn vào sự quan tâm của người nói đối với thành tố nào của

sự tình chuyển động

22 a Quang bơi vào bờ

(Fi) (Mo+Ma) (Mo+Pa) (Gr)

Trang 37

b Quang vào bờ

(Fi) (Mo+Pa) (Gr)

Khi muốn nhấn đến thành tố phương thức, người Việt mới sử dụng vị từ biểu thị sự tình phương thức (bơi), còn nếu chỉ nhấn mạnh đến chuyển động định hướng như trong (22b), người Việt chỉ dùng một vị từ chuyển đơn chỉ hướng, và điều này

triệt tiêu kết chuỗi của các vị từ chuyển động Như vậy, việc mã hóa phương thức/nguyên nhân hay hướng chuyển động tùy thuộc cái chúng tôi gọi là góc đặt

“camera” của người Việt trong quá trình nhận thức và miêu tả một sự tình chuyển động trong thực tế

1.4 Kết cấu vị từ chuyển động do tác động

1.4.1 Khái niệm kết cấu

Các lý thuyết ngữ nghĩa truyền thống cũng như các lý thuyết mới hơn sau

này như lý thuyết vai nghĩa (semantic role labelling) đều cho rằng nghĩa của một kết

cấu lớn hơn đều được hình thành trên cơ sở nghĩa của các đơn vị từ vựng cấu thành kết cấu đó Các đơn vị từ vựng có chung ít nhất một nét nghĩa và có cùng thuộc tính

cú pháp thường được kết nhóm Beth Levin (1993) phân nhóm các vị từ chuyển động dựa trên những thuộc tính cú pháp giống nhau, hay còn gọi là khung cú pháp, mỗi khung cú pháp này gắn với một nét nghĩa Nhóm vị từ chuyển động mà Beth

Levin (1993) đưa ra bounce, drift, drop, float, glide, move, roll, slide, swing…là

những vị từ có chung nét nghĩa liên quan đến phương thức chuyển động (manner of

motion) của những thực thể [-hữu sinh] Với lý thuyết vai nghĩa, các tham tố trong

câu hoặc phát ngôn đều phải được gắn nhãn vai nghĩa, qua việc gắn nhãn này mối quan hệ giữa tham tố và vị từ được xác lập, và trên cơ sở này nghĩa của câu liên quan được trích xuất Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là nếu nghĩa của một kết cấu hay một câu do các đơn vị từ vựng kết hợp cấu thành, chúng sẽ lý giải như thế nào những thành tố nghĩa không được biểu đạt trên bề mặt của kết cấu hay câu?

Nhằm lý giải rõ ràng về mặt khoa học hơn, (Fillmore, 1988; Goldberg, 1995;

Kay, 2002; Goldberg, 2006) đã đưa ra lý thuyết Ngữ pháp kết cấu (Construction

Grammar) nhằm thiết lập mối quan hệ chặt chẽ hơn, trực tiếp hơn giữa ngữ nghĩa và

cú pháp

Trang 38

“C is a CONSTRUCTION iff C is a form-meaning pair < F i , S i > such that some aspect of F i ,

or some aspect of S i is not strictly predictable from C’s component parts or from other previously established constructions.”

“C được xem là một KẾT CẤU nếu và chỉ nếu C bao gộp cả hình thức-ngữ nghĩa < F i , S i > sao cho một thuộc tính nào đó thuộc F i , hoặc thuộc S i không hoàn toàn có thể dự đoán từ các thành tố cấu thành C hoặc từ những kết cấu sẵn có.”

Kết cấu được xem là những đơn vị ngôn ngữ cơ bản Các mô hình ngữ đoạn cũng được xem là kết cấu nếu thông tin liên quan đến hình thức hoặc ngữ nghĩa không hoàn toàn được dự đoán từ các thành tố bộ phận của ngữ đoạn đó hoặc từ các kết cấu sẵn có khác

Như vậy, theo Ngữ pháp kết cấu (NPKC), nghĩa của một câu hình thành không chỉ từ các đơn vị từ vựng mà còn từ các cấu trúc được mô hình hóa hay kết

cấu mà các đơn vị từ vựng liên quan được đặt khớp vào đó Do vậy, nghĩa của một

ngữ, một câu hay một phát ngôn cụ thể được hình thành trên cơ sở kết hợp giữa các đơn vị từ vựng và khung cú pháp tập hợp những đơn vị từ vựng này Nói cách khác, NPKC, thay vì chỉ dựa trên nhãn ngữ nghĩa của từ như trong lý thuyết vai nghĩa và nhiều lý thuyết ngữ học truyền thống khác, xem sự tác động lẫn nhau giữa các đơn

vị từ vựng và các hình thức cú pháp hay các mô hình cấu trúc là cơ sở xác định nghĩa của ngữ, câu hay phát ngôn

23. a Jim sneezed

Jim hắt hơi

b Jim sneezed the tissue off the table

Jim hắt hơi văng miếng khăn giấy khỏi cái bàn

24 a Jack laughed

Jack cười lớn

b Jack laughed his son out of the room

Jack cười ngạo làm con anh ta bỏ ra khỏi phòng

Trang 39

Trong câu (23) và (24), hai vị từ sneeze và laugh vốn dĩ là những vị từ phi

chuyển tác (intransitives), chỉ có một tham tố, nhưng trong (23b) và (24b) việc chuyển tác hóa của hai vị từ này đã làm xuất hiện thêm hai tham tố mới và hình

thành mối quan hệ ngữ nghĩa mới giữa các tham tố và vị từ Các tham tố mới trong

(23b) và (24b) đối tượng chịu tác động (Theme) và tham tố nguồn (Source), hay nói theo Talmy đó là đối tượng chuyển động (Figure) và đối tượng quy chiếu (Ground) Goldberg (1996) cho rằng hai vị từ trên chuyển tải ý nghĩa đặc thù, nhưng kết cấu

đã bổ sung nét nghĩa {X làm/khiến Y di chuyển Z} (X causes Y to move Z), và

trong trường hợp của (23) và (24), chính kết cấu bổ sung hai vai nghĩa mới chứ

không phải bản thân các đơn vị từ vựng

1.4.2 Kết cấu vị từ chuyển động do tác động trong tiếng Việt

Goldberg (1995) cho rằng ngữ nghĩa “chuyển động do tác động” không nằm

trong bất kỳ đơn vị từ vựng nào thuộc kết cấu, mà nằm trong chính bản thân kết cấu

Nói cách khác, ý nghĩa này là do chính kết cấu tạo lập Ngoài một số vị từ gây khiến chuyển động, rất nhiều vị từ khác không có các tham tố để cấu thành ý nghĩa

chuyển động như tham tố hướng chuyển động (Path), tham tố nguyên nhân (Cause)

và tham tố đối tượng chuyển động (Theme) vẫn có thể hành chức trong cái gọi là

kết cấu chuyển động do gây khiến hay do tác động

25 a Nó chọc Hoa chạy ra khỏi phòng

b Gió thổi bay hàng chục mái nhà

Các vị từ chính trong ví dụ (25), về mặt ngữ nghĩa, đều không có các tham tố

như hướng, đối tượng chuyển động hoặc nguyên nhân…Trong (25a) vị từ chọc tự thân là vị từ có hai tham tố tác thể và bị thể, còn vị từ thổi trong (25b) vốn chỉ có một tham tố công cụ (instrument) Tuy nhiên, khi vận hành trong một kết cấu, những vị từ này mang thêm nét nghĩa do kết cấu gán định, đó là nét nghĩa tác động,

và theo như Talmy (2000), đó là những đồng sự tình (co-event) biểu thị nguyên nhân chuyển động của một đối tượng do danh ngữ xuất hiện sau vị từ hay chuỗi vị

từ biểu thị

Trang 40

Kết cấu chuyển động do tác động trong tiếng Việt có thể được xem là một phức thể cú pháp-ngữ nghĩa, nó bao gồm một chuỗi sự tình diễn ra theo trật tự tuyến

tính Tác thể X tác động đến bị thể Y và khiến bị thể Y thay đổi vị trí

26 a Lan cắm hoa vào bình

(Ag) (Act) (Fi/Theme) (Pa) (Gr)

b Nam ném trái bóng qua Hải

(Ag) (Act) (Fi/Theme) (Pa) (Gr) Như vậy, có thể miêu tả kết cấu chuyển động do tác động như sau:

27 a {X khiến Y ở vào vị trí Z}

b {X khiến Y di chuyển đến/khỏi/vào…Z}

Về mặt cấu trúc, sự tình chuyển động do tác động bao gồm hai sự tình bộ phận (subevents)/ Sự tình tác động (causing subevent) diễn ra là điều kiện bắt buộc phải có để sự tình chuyển động (caused motion subevent) diễn ra

Trong chương 2, luận văn sẽ tập trung phân tích các đặc trưng ngữ nghĩa-cú

pháp của kết cấu chuyển động do tác động dựa trên Ngữ pháp kết cấu của Goldberg

nhằm chỉ rõ vai trò của các tham tố cũng như quan hệ tương tác giữa các tham tố thông qua việc xác định ý nghĩa của kết cấu Nói cách khác, ý nghĩa kết cấu cú pháp miêu tả sự tình chuyển động do tác động chính là cơ sở để xác định nghĩa của sự tình chuyển động do tác động

Ngày đăng: 07/05/2021, 17:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w